K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4,0 điểm) Đọc văn bản:

NHỮNG VÙNG TRỜI KHÁC NHAU

Tóm tắt bối cảnh: Lê và Sơn là pháo thủ trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Lần đầu gặp gỡ, Lê không có cảm tình với Sơn – một công tử Hà Nội trắng trẻo. Sau ba năm, những ấn tượng đầu tiên về Sơn đã thay đổi. Lê và Sơn trở thành đôi bạn thân. Họ cùng về Nghệ An đóng quân cạnh làng của Lê. Trong một trận chiến đấu, Sơn bị thương nặng phải vào Quân y viện. Khi Sơn trở lại đơn vị, anh được phân công tiếp tục ở lại Nghệ An, còn Lê được điều ra Hà Nội. Phần văn bản sau kể về cảnh hai người bạn chia tay để chuyển đến chiến đấu ở những vùng trời khác nhau.

Một đêm, Lê và Sơn đứng bên nhau rất lâu trên cái gò đất xung quanh ì ầm tiếng sấm và tiếng nước lũ đổ về. Trước mặt hai người chỉ huy, những pháo thủ của đại đội pháo cũ gặp nhau trên mảnh đất miền Tây Quảng Bình đang từ biệt nhau. Đại đội pháo của họ như một gốc cây đã lớn, nhựa cây ứ đầy tỏa ra thành hai nhánh.

Đại đội của Lê đã dàn xe pháo sẵn sàng trên mặt đất theo đội hình hành quân.

Lê ngửng lên ngắm một lần cuối cùng vùng trời quê hương mình, nói với Sơn:

– Mấy hôm nay ngày nào chúng cũng cho máy bay trinh sát…

– Cậu cứ yên tâm. Chúng mình sẽ bảo vệ cái đập nước và vùng trời quê hương của cậu bằng mọi giá…

– Tớ rất tin… Tớ rất tin cậu!

Sau ba năm sống với nhau từ ngày hai người còn ngồi trên hai chiếc ghế sắt của một khẩu 37 cũ kỹ, lần này Lê và Sơn mỗi người nhận một nhiệm vụ. Họ chia nhau tấm giát nằm, vài tấm áo sặc mùi thuốc đạn và chia nhau bầu trời Tổ quốc trên đầu. Tận trong những ý nghĩ sâu kín nhất của Lê, anh đã coi Sơn như một đồng chí thân thiết nhất trong đời lính – “Đi nhá!”. Họ bắt tay nhau, từ biệt nhau chỉ có hai tiếng ấy.

Lê bắt đầu một cuộc hành quân dài. Những thùng xe chất đầy đồ đạc. Bên những nòng pháo chênh chếch chĩa lên trời lại bày ra trước mắt thiên hạ cả cuộc sống bình thường của con nhà lính. Hãy nhìn những người chiến sĩ cao xạ ngồi ngất ngưởng hai bên thành xe; có một trăm người lính thì có một trăm cuộc đời và vùng trời quê khác nhau. Họ đi qua cầu Bùng, cầu Hổ, Hàm Rồng và Nam Định, Phủ Lý, để lại phía sau rất xa những đèo Ngang, Quán Hầu[1], Bãi Hà… Những vùng trời họ đã để lại một nửa tâm hồn ở đấy.

[…] Thế là hôm nay Lê đã đứng dưới bầu trời Hà Nội, cạnh những người đồng đội mới và cũ. Trời gần sáng. Sau lưng Lê, Thủ đô đầy tiếng động như một cái tổ ong vừa thức giấc. Lê tựa lưng vào vách ụ pháo và nhớ lại giấc mơ vừa qua[2]. Phải rồi, Sơn có ra ngoài này đâu? Sơn đang chiến đấu trong vùng trời quê hương của Lê. Ngày nào hai người mới từ biệt nhau trên gò đất trận địa của đại đội Sơn, những ụ pháo ở đấy đắp bằng phù sa sông Lam vàng tươi như nghệ, giữa một bãi sông trồng toàn lạc.

Đất phù sa sông Hồng truyền[3] sang người Lê một cảm giác mát lạnh – “Như thể là mình đã đứng ở đây – Lê chợt nghĩ một cách thú vị – bên cạnh Hà Nội, cái thành phố Thủ đô mà Sơn từng thân thuộc từng gốc cây, từng mảnh tường và cả từng sắc mây trên nóc phố”.

(Nguyễn Minh Châu, Tuyển tập truyện ngắn hay nhất của Nguyễn Minh Châu,
NXB Văn học, 2022, tr.33 - 35)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản.

Câu 2. Trong văn bản, quê hương của Lê và quê hương của Sơn gắn với hai dòng sông nào?

Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn sau: Đại đội pháo của họ như một gốc cây đa lớn, nhựa cây ứ đầy toả ra thành hai nhánh.

Câu 4. Nêu vai trò của chi tiết Họ chia nhau tấm giát nằm, vài tấm áo sặc mùi thuốc đạn và chia nhau bầu trời Tổ quốc trên đầu trong việc thể hiện nội dung văn bản.

Câu 5. Hai ngữ liệu sau đây có sự tương đồng nào về ý nghĩa?

– Họ đi qua cầu Bùng, cầu Hổ, Hàm Rồng và Nam Định, Phủ Lý, để lại phía sau rất xa những đèo Ngang, Quán Hầu, Bãi Hà… Những vùng trời họ đã để lại một nửa tâm hồn ở đấy.

(Những vùng trời khác nhau – Nguyễn Minh Châu)

– Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn!

(Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)

Chú thích:

[1] Ngữ liệu nguồn ghi là Hầu.

[2] Giấc mơ Lê gặp lại Sơn tại Hà Nội được nói đến ở phần đầu tác phẩm.

[3] Ngữ liệu nguồn ghi là chuyền.

44
2 tháng 7 2025

Chịu!

16 tháng 12 2025

🥺😌👮😌🌹😌🌹😌💌🥲🥲😡😁🌹😀👮🤗👮🤗💯🤗🌹😀🌹👋😁🌹🥲🌹🥲🌹🥲🌹🌹🥲🥲🌹🥲💌🥲💌🤗💯🤗👮🤗🏸😀🥱🏸🏸🏸🏸🏸🏸🏸🏸🏸🏸👮👮👮🏋️👮🏋️👮🏋️👮🏋️🏋️👮🏋️👮🏋️👮🏋️👮🏋️🏋️👮🏋️👮🏋️👮🏋️🏸🏋️🏸🏋️👮🏋️🏋️👮🏋️🏸🏋️🏸🏸🏋️🏸🏋️🏋️🏸🏋️🏸🏋️🏸🏋️🏸🏋️🏸🏋️🏸🏋️🏋️🏸🏋️🏸🏋️👮🏋️👮🏋️👮🏋️👮🏋️👮🏋️👮🏋️👮🏋️🤷🛌🛀🛀🏃💇🏌️💇🧜🏇🏋️🏋️🤾🤾🧍🙋🧍💆⛹️💆🏃🏃🧑‍🦽🏌️🧑‍🦼🏌️🧗🤽🤽🪂🤽🪂🏇🧗⛹️🧑‍🦼🧘💮🪴🌿🍄🌱🥀🌿🏵️🍂💮🌷❄️🌾🌹🪵🏜️🍁🌀🌀❄️🪨❄️🍃❄️🌿⛄🏖️🏜️⛄🏜️🌵🌋🍀💇🥷🍑🍍🍐🍌🥜🥚🥑🍉🥥🥒🥖🥚🥯🍳🥔🍈🍍🍐🍍🥒🥥🌰🥑🥜🥜🥑🍐🍎🍑🍌🛴🦽🦼🚲🛵🚙🏍️🚗🛻🗿🗿🗿🗿🗿🗿🏎️🏍️🏍️🏍️🏍️🏍️🚅🚝🏍️🏎️🏎️🏎️🏎️🏎️🏎️🏎️🏎️🏎️🏎️🏎️🏎️🏍️🏍️🏍️🏍️🏆🏆🏆🏆🏆🥇🥈🥉🏅🥇🥇🏆🏆🥇🏆🥇🏆🥇🏆🥇🏆🥇🏆🥇🏆🥇🏆🥇🏆🥇🏆🥇🏆🥇🏆🎗️🏆🏆🎗️🏆🥇🏆🥇🏆🥇🏆🥈🏆🥈🏆🥈🥈🏆🏆🥈🏆🥈🎖️🥈🎖️🥈🎖️🥈🎖️🥈🎖️🥉🏅🏅🏅🏅🥉🥉🏅🏅🥉🥉🎖️🥇🎖️🥈🎖️🥈🏅📲📲🔽⏺️▶️⏏️⏩◀️⏩◀️

ngôi kể thứ ba

8 tháng 1

câu 1

ngôi kể: ngôi thứ ba

Câu 1

Ngoi kể thứ 3

Câu 1 Ngôi thứ ba

Câu 2 -Quê hương của Sơn gắn với sông Lam và quê hương của Lê gắn với sông Hồng

Câu 3- Tác dụng giúp cho việc biểu đạt thêm sinh động hấp dẫn gửi hình gợi cảm tác giả đã khéo léo sử dụng biện pháp tu từ để khắc họa hình ảnh đại đội pháo làm nổi bật tình đồng chí sâu nặng, sự gắn kết thống nhất của đại đội trong quá khứ.

Câu 4 Khắc họa sâu sắc tình đồng đội, đồng chí keo sơn, gắn bó cả trong đời sống vật chất lẫn tinh thần

Thể hiện: Sự chia sẻ gian khổ của người lính. Lý tưởng chiến đấu chung vì Tổ quốc (“bầu trời Tổ quốc trên đầu”). Làm nổi bật vẻ đẹp cao cả của người lính thời chống Mỹ và tăng chiều sâu cảm xúc cho cảnh chia tay.

Câu 5 Điểm tương đồng: Cả hai ngữ liệu đều thể hiện tư tưởng: Con người gắn bó sâu nặng với mảnh đất mình từng sống và đi qua. Khi rời xa, mảnh đất không chỉ là không gian địa lí mà đã trở thành một phần tâm hồn, ký ức. Đều nhấn mạnh: Sự hóa thân của con người vào không gian sống Tình cảm lưu luyến, gắn bó giữa con người và quê hương, đất nước.

ngôi thứ 3

sông hồng

biện pháp so sánh

tác dụng :

15 tháng 1

Câu 1 ngôi kể thứ 3

Câu 2 Hai dòng sông: sông Lam và sông HồngDòng sông quê hương Lê:sông Lam và dòng sông quê hương Sơn: sông hồng

Câu 3 biện pháp tu từ So sánh , Đại đội pháo được ví như gốc cây đã lớn, nhựa ứ đầy, tỏa thành hai nhánh.

- Tác dụng + Khắc họa sự trưởng thành, vững chãi, tràn đầy sức sống của đại đội pháo và thể hiện cảm hứng ngợi ca, tự hào của người kể chuyện.

+ Giúp cho việc diễn đạt trở nên sống động, gợi hình, gợi cảm.

Câu 4 - Góp phần tô đậm tình đồng đội, đồng chí của những người lính: chia sẻ, yêu thương, cùng nhau vượt qua gian khó;

- Đề cao ý thức trách nhiệm của người lính trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

Câu 5





Câu 1: Ngôi kể thứ ba (người kể giấu mặt, gọi tên nhân vật).

Câu 2: * Quê của Lê gắn với sông Lam (Nghệ An).

• Quê của Sơn gắn với sông Hồng (Hà Nội).

Câu 3: * Tác dụng: Hình ảnh so sánh giúp cụ thể hóa sự gắn kết khăng khít của tình đồng chí. Dù chia làm "hai nhánh" đi về hai hướng thực hiện nhiệm vụ khác nhau, nhưng họ vẫn chung một "gốc" (lý tưởng, đơn vị) và chung một nguồn "nhựa sống" (tình yêu nước), làm câu văn giàu hình ảnh và ý nghĩa biểu cảm hơn.

Câu 4: * Vai trò: Chi tiết này khắc họa sự đồng cam cộng khổ của người lính. Việc "chia nhau bầu trời" cho thấy sự gắn kết giữa cái riêng (vật dụng cá nhân) và cái chung (trách nhiệm với Tổ quốc), khẳng định tình đồng chí bền chặt, vượt lên trên mọi sự chia ly về địa lý.

Câu 5: * Sự tương đồng: Cả hai ngữ liệu đều khẳng định mối quan hệ máu thịt giữa con người và vùng đất. Đất không chỉ là nơi ở vật lý mà đã trở thành một phần của đời sống tinh thần ("để lại một nửa tâm hồn", "đất đã hóa tâm hồn"). Qua đó ca ngợi lối sống tình nghĩa, gắn bó sâu nặng của con người Việt Nam với mọi miền đất nước.

15 tháng 1

Câu 1: ngôi kể được dùng trong bài là ngôi kể thứ 3

Câu 2: trong văn bản:

•quê hương của Lê gắn với sông Lam

•quê hương của Sơn gắn với sông Hồng

Câu 3: “đại đội pháo của họ như 1 gốc cây đã lớn, nhựa cây ứ đầy toả ra thành 2 nhánh”

Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh:

• gợi hình ảnh đại đội pháo như 1 tập thể thống nhất, vững chắc

• làm nổi bật sự chia rẽ của Lê và Sơn giống như 2 nhánh cây được tách ra từ 1 gốc

• thể hiện tình đồng đội sâu nặng gắn bó khi mỗi người chiến đấu ở 1 vùng trời khác

Câu 4: “họ chia nhau tấm giát nằm, vài tấm áo sặc mùi thuốc đạn và chia nhau bầu trời tổ quốc trên đầu” có vai trò:

• khắc họa sâu sắc đồng chí, tình đồng đội gắn bó

• cùng chung 1 lý tưởng có trách nhiệm bảo vệ đất nước

• làm nổi bật chủ đề ca ngợi tình đồng đội trong chiến tranh

Câu 5: 2 ngữ liệu có sự tương đồng về ý nghĩa ở:

• đều thể hiện tình cảm gắn bó sâu nặng của con người với những mảnh đất đã đi qua

• nơi mà đã từng sinh sống, từng chiến đấu không chỉ là không gian địa lí mà còn trở thành 1 phần kí ức và tâm hồn của con người




15 tháng 1

Câu 1

Ngôi kể được sử dụng trong văn bản là ngôi kể thứ ba.

-> Người kể chuyện giấu mình, gọi tên nhân vật “Lê”, “Sơn”, giúp câu chuyện có tính khách quan nhưng vẫn đi sâu vào nội tâm nhân vật.

Câu 2.

Trong văn bản:

- Quê hương của Lê gắn với sông Lam (Nghệ An).

- Quê hương của Sơn gắn với sông Hồng (Hà Nội).

Câu 3.

Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn:

“Đại đội pháo của họ như một gốc cây đã lớn, nhựa cây ứ đầy tỏa ra thành hai nhánh.”

- Làm cho hình ảnh đại đội pháo trở nên cụ thể, sinh động, giàu sức gợi.

- Thể hiện mối quan hệ gắn bó bền chặt giữa những người lính: cùng chung một cội nguồn, nay tỏa đi hai hướng nhưng vẫn chung lý tưởng.

- Gợi cảm xúc xúc động, lưu luyến trước cuộc chia tay của những người đồng đội.

Câu 4.

Vai trò của chi tiết:

“Họ chia nhau tấm giát nằm, vài tấm áo sặc mùi thuốc đạn và chia nhau bầu trời Tổ quốc trên đầu”

- Khắc họa sâu sắc tình đồng chí, đồng đội gắn bó máu thịt của những người lính.

- Thể hiện sự sẻ chia gian khổ và lý tưởng chung trong chiến tranh.

- Góp phần làm nổi bật chủ đề ca ngợi tình người, tình đồng đội và tình yêu Tổ quốc trong văn bản.

Câu 5.

Điểm tương đồng về ý nghĩa của hai ngữ liệu:

- Cả hai đều thể hiện:

+ Sự gắn bó sâu nặng giữa con người với vùng đất đã đi qua.

+ Khi con người rời xa, không chỉ rời khỏi một không gian địa lí mà để lại một phần tâm hồn, ký ức, tình cảm ở nơi ấy.

- Đều khẳng định: đất đai không vô tri, mà thấm đẫm tình người và kỷ niệm sống.

câu 1

Ngôi kể được sử dụng trong văn bản là ngôi kể thứ ba.

câu 2:

Trong văn bản:

- Quê hương của Lê gắn với sông Lam (Nghệ An).

- Quê hương của Sơn gắn với sông Hồng (Hà Nội).

câu 3:

Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn:

“Đại đội pháo của họ như một gốc cây đã lớn, nhựa cây ứ đầy tỏa ra thành hai nhánh.”


- Làm cho hình ảnh đại đội pháo trở nên cụ thể, sinh động, giàu sức gợi.

- Thể hiện mối quan hệ gắn bó bền chặt giữa những người lính: cùng chung một cội nguồn, nay tỏa đi hai hướng nhưng vẫn chung lý tưởng.

- Gợi cảm xúc xúc động, lưu luyến trước cuộc chia tay của những người đồng đội.

câu 4:

Vai trò của chi tiết: “Họ chia nhau tấm giát nằm, vài tấm áo sặc mùi thuốc đạn và chia nhau bầu trời Tổ quốc trên đầu”

- Khắc họa sâu sắc tình đồng chí, đồng đội gắn bó máu thịt của những người lính.

- Thể hiện sự sẻ chia gian khổ và lý tưởng chung trong chiến tranh.

- Góp phần làm nổi bật chủ đề ca ngợi tình người, tình đồng đội và tình yêu Tổ quốc trong văn bản.

câu 5:

Điểm tương đồng về ý nghĩa của hai ngữ liệu:

* Cả hai đều thể hiện:

- Sự gắn bó sâu nặng giữa con người với vùng đất đã đi qua.

- Khi con người rời xa, không chỉ rời khỏi một không gian địa lí mà để lại một phần tâm hồn, ký ức, tình cảm ở nơi ấy.

- Đều khẳng định: đất đai không vô tri, mà thấm đẫm tình người và kỷ niệm sống.

15 tháng 1

Câu 1: ngôi kể thứ 3 Câu2:quê hương của Lê và Sơn gắn với sông lam và sông hồng 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh:  Hình ảnh so sánh: "Đại đội pháo của họ như một gốc cây đã lớn, nhựa cây ứ đầy tỏa ra thành hai nhánh". Tác dụng: Giúp người đọc hình dung một cách cụ thể, sinh động về sự lớn mạnh, phát triển nhanh chóng của đại đội pháo, từ một lực lượng nhỏ bé ban đầu đã phát triển thành hai nhánh lớn mạnh. Nhấn mạnh sức sống mãnh liệt, tiềm tàng và sự đoàn kết chặt chẽ của các chiến sĩ trong đại đội, giống như nhựa sống căng đầy trong thân cây. Gợi liên tưởng đến sự vững chắc, bám rễ sâu, thể hiện tinh thần sẵn sàng chiến đấu và cống hiến vì Tổ quốc của những người lính. 4. Nêu vai trò của chi tiết Vai trò của chi tiết "Họ chia nhau tấm giát nằm, vài tấm áo sặc mùi thuốc đạn và chia nhau bầu trời Tổ quốc trên đầu":  Thể hiện tình đồng đội: Chi tiết làm nổi bật tình cảm gắn bó, sẻ chia sâu sắc giữa các chiến sĩ nơi chiến trường ác liệt. Họ không chỉ chia sẻ những thiếu thốn vật chất mà còn chia sẻ cả những điều thiêng liêng như "bầu trời Tổ quốc". Nhấn mạnh hiện thực chiến tranh: Gợi lên sự gian khổ, thiếu thốn, hiểm nguy mà những người lính phải đối mặt hàng ngày. Khẳng định lý tưởng cao đẹp: Thông qua việc chia sẻ "bầu trời Tổ quốc", chi tiết đề cao tinh thần yêu nước, lý tưởng chiến đấu chung vì độc lập, tự do của dân tộc, vượt lên trên mọi khó khăn cá nhân.5. So sánh sự tương đồng về ý nghĩa của hai ngữ liệu Sự tương đồng về ý nghĩa của hai ngữ liệu: Hai ngữ liệu đều thể hiện sự tương đồng sâu sắc về ý nghĩa: Tình yêu quê hương, đất nước gắn liền với sự gắn bó về mặt tinh thần, tư tưởng và lý tưởng sống cao đẹp.  Ngữ liệu 1 (Nguyễn Minh Châu): Nhấn mạnh việc những người lính đi qua nhiều vùng đất khác nhau, để lại một phần tâm hồn ở đó, cho thấy sự gắn bó máu thịt của con người với từng tấc đất của Tổ quốc.  Ngữ liệu 2 (Chế Lan Viên): Khái quát một triết lý sâu sắc rằng quê hương không chỉ là nơi chốn vật lý, mà khi con người có sự gắn bó, cống hiến, địa lý đó sẽ hóa thành tâm hồn, trở thành một phần không thể tách rời của mỗi cá nhân.  Kết luận: Cả hai đều khẳng định: Dù ở đâu, làm gì, con người Việt Nam vẫn luôn hướng về Tổ quốc với tình yêu thiêng liêng, sâu đậm. "Vùng trời quê hương nào cũng là bầu trời Tổ quốc".  5. So sánh sự tương đồng về ý nghĩa của hai ngữ liệu Answer: Sự tương đồng về ý nghĩa của hai ngữ liệu: Hai ngữ liệu đều thể hiện sự tương đồng sâu sắc về ý nghĩa: Tình yêu quê hương, đất nước gắn liền với sự gắn bó về mặt tinh thần, tư tưởng và lý tưởng sống cao đẹp.  Ngữ liệu 1 (Nguyễn Minh Châu): Nhấn mạnh việc những người lính đi qua nhiều vùng đất khác nhau, để lại một phần tâm hồn ở đó, cho thấy sự gắn bó máu thịt của con người với từng tấc đất của Tổ quốc.  Ngữ liệu 2 (Chế Lan Viên): Khái quát một triết lý sâu sắc rằng quê hương không chỉ là nơi chốn vật lý, mà khi con người có sự gắn bó, cống hiến, địa lý đó sẽ hóa thành tâm hồn, trở thành một phần không thể tách rời của mỗi cá nhân.  Kết luận: Cả hai đều khẳng định: Dù ở đâu, làm gì, con người Việt Nam vẫn luôn hướng về Tổ quốc với tình yêu thiêng liêng, sâu đậm. "Vùng trời quê hương nào cũng là bầu trời Tổ quốc

Phần hai

Câu1:Trong văn bản ở phần Đọc hiểu, tình cảm của Lê dành cho Sơn được thể hiện một cách chân thành, sâu sắc và giàu tính nhân văn. Đó trước hết là sự gắn bó thân thiết của tình bạn, được hình thành và bền chặt qua những chặng đường đời mà hai người đã cùng trải qua. Lê không chỉ quan tâm đến Sơn như một người bạn đồng hành, mà còn thấu hiểu và trân trọng những miền đất, những “vùng trời” mà Sơn đã đi qua. Bởi lẽ, với Lê, mỗi nơi Sơn từng sống và gắn bó đều mang theo một phần tâm hồn của bạn. Tình cảm ấy vượt lên trên khoảng cách không gian, không bị giới hạn bởi sự khác biệt về quê hương hay xuất thân, mà trở thành sự đồng điệu sâu xa trong tâm hồn. Qua cách nhìn của Lê dành cho Sơn, tác giả đã khẳng định vẻ đẹp của tình người: con người có thể khác nhau về nơi sinh ra, nhưng vẫn có thể gặp nhau ở sự yêu thương, sẻ chia và trân trọng lẫn nhau. Đây chính là giá trị nhân văn bền vững mà văn bản muốn gửi gắm.

16 tháng 1

Câu 1 : ngôi kể được sữ dụng trong băn bản là ngôi kể thứ ba

Câu 2 : sông Lam và sông Hồng

Câu 3 : tác dụng của biện pháp tu từ so sánh nhầm nhấn mạnh sức mạnh của đại đội pháo , tăng sự hào hùng dũng mãnh nhầm khẳng định tinh thần đoàn kết của đại đội

Câu 4 : làm nổi bậc sự đồng lòng , đồng cam cộng khổ của người chiến sĩ yêu nước , thể hiện tinh thần đồng đội yêu thương nhau trong hoàn cảnh khốn khó

Câu 5 : sự tương đồng về ý nghĩa là đã rời đi nơi mình gắn bó bao ngày nhưng vẫn để lại sự nhớ thương về những kỷ niệm khó quên

19 tháng 1

Câu 1: Văn bản được viết theo ngôi kể thứ ba, theo góc nhìn của một nhân vật ẩn danh.

Câu 2: Dòng sông gắn với quê hương Lê và Sơn là sông Lam, sông Hồng.

Câu 3: Đoạn trích trên sử dụng biện pháp so sánh "đại đội pháo" với "gốc cây đa" làm cho câu văn trở nên mềm mại nhưng cũng nêu bật lên hình ảnh đoàn kết của những người lính trẻ. Cây đa là hình ảnh tượng trưng cho những gốc cây ở đầu làng, là quê hương là nhà điều đó cho thấy đối với Lê và Sơn, đại đội pháo chính là nhà.

Câu 4: Ca ngợi tình đồng chí sâu sắc của Lê và Sơn cũng như tinh thần hăng say của tuổi trẻ, khát khao được cống hiến cho đất nước nhưng đó cũng là những khó khăn khi sinh hoạt ở nơi núi rừng khỉ ho cò gáy. Nhưng Lê và Sơn vẫn không bị yếu tố ngoại cảnh làm nản lòng mà ngày một càng yêu nước hơn, gắn kết với nhau hơn.

Câu 5:

Điểm tương đồng về nghĩa: Đều viết về đoạn đường hành quân của những người lính trẻ tràn đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ và tinh thần yêu nước. Mang trong mình dòng máu của người Việt Nam dù có ngã xuống đất thì đất này vẫn còn hồn của mình, trời này vẫn còn hồn của ta.

25 tháng 1

câu 1 : ngôi kể được sử dụng trong văn bản là ngôi kể thứ ba

câu 2: – Trong văn bản, quê hương của Lê và quê hương của Sơn gắn với hai dòng sông là sông Lam và sông Hồng. Quê hương của của Lê gắn với sông Lam, quê hương của Sơn gắn với sông Hồng.

câu 3: biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn là :” đại đội pháp của họ” với một gốc cây đã lớn “ nhựa cây ứ đầy toả ra thành hai nhánh ”

+ giúp câu văn trở nên sinh động , gợi hình , gợi cảm , giàu giá trị biểu đạt

+ nhấn mạnh , cho thấy sự trưởng thành và sức mạnh chiến đấu của đại đội pháo

+ tác giar thể hiện niềm tự hào trước sự lớn mạnh của đại đội pháo nói riêng và lực lượng cách mạng nói chung

câu 4 : nội dung căn bản là trách nhiệm , tinh thần đồng đội , sự sẻ chia những người lính khi cùng tham gia bảo vệ những vùng trời khác nhau của tổ quốc.

+ nội dung chi tiết là làm rõ tình cảm chia sẻ của người lính trong cuộc sống chiến đấu khắc nghiệt gian nan.

+ Vai trò chi tiết: chi tiết có vai trò then chốt , làm nổi bật sự gắn bó , sẻ chia của những người lính trong cuộc chiến đấu đầy gian khổ; tạo sự sinh động hấp dẫn và góp phần làm tăng tính biểu cảm trong văn bản, góp phần làm rõ chủ đề , thông điệp của đoạn trích, tình yêu đất nước của những người lính

câu 5 : sự tương đồng của hai ngữ liệu : cùng khẳng định tình cảm , gắn bó sâu sắc của con người với mảnh đất họ đã đi qua. trên mảnh đất đã đi qua ấy, mỗi con người không chỉ gửi gắm kỷ niệm, ký ức mà còn gửi lại bao thương nhớ , yêu mến

27 tháng 1

Câu 1

Văn bản trên được viết theo ngôi kể thứ ba

Câu 2

Quê hương của Lê gắn với sông Lam (Nghệ An)

Quê hương của Sơn gắn với sông Hồng (Hà Nội).

Câu 3

Biện pháp tu từ so sánh trong câu:

“Đại đội pháo của họ như một gốc cây đa lớn, nhựa cây ứ đầy tỏa ra thành hai nhánh.”

Tác dụng:

Làm nổi bật sự gắn bó, trưởng thành của đại đội pháo qua thời gian.Hình ảnh “gốc cây đa” gợi sự bền chặt, chung cội nguồn“Tỏa ra thành hai nhánh” thể hiện sự chia tay, mỗi người một nhiệm vụ nhưng vẫn chung lý tưởng, chung Tổ quốc.


Câu 4

Họ chia nhau tấm giát năm, vài tấm áo sặc mùi thuốc đạn và chia nhau bầu trời Tổ quốc trên đầu”

Vai trò:Thể hiện tình đồng đội sâu nặng, gắn bó keo sơn của những người lính.Làm nổi bật sự hy sinh thầm lặng: chia tay nhưng vẫn cùng chung trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc.Góp phần thể hiện chủ đề ca ngợi tình đồng chí và tinh thần yêu nước.

Câu 5

Sự tương đồng về ý nghĩa của hai ngữ liệu:

Đều khẳng định: quê hương không chỉ là nơi chốn địa lý mà đã trở thành một phần tâm hồn con người.Khi con người rời xa, quê hương vẫn sống mãi trong ký ức, tình cảm sâu nặng.Thể hiện tình yêu quê hương, đất nước tha thiết, bền chặt.





27 tháng 1

Câu 1 ngôi kể thứ 3

Câu 2 Quê hương của lê gắn với dòng sông lam ( nghệ an), quê hương của sơn gắn với dòng sông hồng ( hà nội)

Câu 3

-tác dụng của biệm pháp so sánh là:

+hình ảnh hóa đại đội pháo thành một thực thể sống, phát triển vững chãi

+Nhấn mạnh sự gắn bó chặt chẽ, tình đồng chí keo sơn của các pháo thủ.

+Thể hiện sự chia tách nhưng vẫn cùng chung nguồn gốc, mục đích chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

Câu 4

Chi tiết vai trò

+Khắc họa sự chia sẻ khó khăn, thiếu thốn, đồng cam cộng khổ của người lính.

+Thể hiện tình đồng chí thân thiết, gắn bó sâu sắc, cùng chung lý tưởng chiến đấu

+Nâng tầm tình bạn cá nhân thành sự sẻ chia trách nhiệm thiêng liêng đối với đất nước.

Câu 5

Sự tương đồng: cả hai ngữ liệu đều thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, sự gắn bó sâu nặng của con người với mảnh đất nơi mình đã sống, chiến đấu, nơi tâm hồn đã gửi gắn lại. Mảnh đất ấy đã trở thành một phần tâm hồn, máu thịt của họ

31 tháng 1

Câu 1: ngôi kể thứ ba

Câu 2: trong văn bản, quê hương của lê gắn với sông lan ( nghệ An), sơn gắn với sông Hồng ( Hà Nội)

Câu 3: tác giả Nguyễn Minh Châu sử dụng thành công biện pháp tu từ so sánh trong câu văn "Đại hội pháo hoa của họ như 1 gốc cây đa lớn, nhựa cây ứ đầy toả ra thành 2 nhánh" nhằm khắc hoạ sự trưởng thành, vững chãi, tràn đầy sức sống của đại hội pháo. Qua đó, thể hiện cảm hứng ca ngợi, tự hào của người kể chuyện , giúp giúp cho việc diễn đạt trở nên sinh động .

Câu 4: chi tiết: họ chia nhau tấm giát nằm... bầu trời tổ quốc trên đầu . Thể hiện tình đồng đội sâu nặng, gắn bó, chia sẻ gian khổ "tấm giát nằm, áo sặc mùi thuốc đạn" là hình ảnh thực tế của chiến trường, sự khắc nhiệt, thiếu thốn, khắc họa người lính sẵn sàng hy sinh, cống hiến, để bảo vệ tổ quốc .

Câu 5: "Nhưng vùng trời khác nhau của Nguyễn Minh Châu và Tiếng hát con tàu của chế lan viên" . Sự tương đồng về ý nghĩa nằm ở việc khẳng định mỗi quan hệ thiêng liêng giữa con người và quê hương, đất nước , gắn bó sâu sắc giữa không gian và tình cảm. Cả 2 điều cho thấy quê hương là 1 vùng đất hay là ý niệm, cả 2 điều ngầm chỉ ra giá trị của quê hương, nhận thức được đầy đủ và sâu sắc nhất khi con người đặt mình vào hoàn cảnh phải chia ly, phải xa cách.

28 tháng 1

Câu 1 ngôi kể thứ ba

Câu 2 sông Lam và sông hồng

Câu3 biện pháp tự từ so sánh " đại đội pháo của họ như một gốc cây đa lớn ,nhựa cây ứ đầy toả ra thành hai nhóm" có tác dụng

Tạo hình ảnh gợi cảm ,cụ thể và sinh động về sức mạnh ,sự vững chắc và khả năng lẫn tỏa phát triển của đại đội pháo

Nhấn mạnh tình đồng đội thân thiết, gắn bó keo sơn giữa những người lính, cùng chúng một nguồn cội một lý tưởng chiến đấu

Gợi lên sự đoàn kết,sức sống mãnh liệt của tập thể, dù trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt vẫn tràn đầy nhựa sống và niềm tin

Câu4 "họ chia nhau tấm giát nằm vài tấm áo sắc mùi thuốc đạn và chia nhau bầu trời tổ quốc trên đầu" có vài trò quan trọng trong việc thực hiện nội đứng văn bản :

thể hiện tình đồng đội sâu sắc ,sự sẻ chia mọi khó khăn, gian lận trong cuộc sống chiến trường ác liệt.

Nhấn mạnh sự gắn bó mật thiết về vật chất lẫn tinh thần giữa những người lính, cùng chung chiến hào,Trung Lý tưởng

Biểu hiện cho sự chia sẻ trách nhiệm, nghĩa vụ bảo vệ tổ quốc ,dù chiến đấu ở vùng trời khác nhau (sông lam,sông hồng)

Khẳng định tình yêu quê hương, đất nước được bồi đắp từ những tình cảm giản dị ,chân thành đối với chiến hữu và những vùng đất cụ thể.

Câu5 sự tương đồng về ý nghĩa của hai ngữ liệu là đều thể hiện tình yêu quê hương, đất nước sâu sắc và gắn bó máu thịt của con người với những vùng đất đã đi qua.



28 tháng 1

câu 1: ngôi kể thứ 3

Câu 2: quê hương của lê gắn với sông Hồng

Quê hương của sơn gắn với sông lam

Câu 3: tác dụng biện pháp tu từ trong câu

" Đại đội pháo của họ như một gốc cây đa lớn,nhựa cây ứ đầy toả ra thành hai nhánh "

Câu 4: vai trò chi tiết " họ chia nhau tấm giát nằm vài tấm áo sặc mùi thuốc đạn và chia nhau bầu trời tổ quốc trên đầu "

Khắc họa đời sống chiến tranh gian khổ nhưng ấm áp tình đồng đội

Thể hiện sự chia sẻ gắn bó đồng cam cộng khổ giữa những người lính

Làm nổi bật ý nghĩa thiêng liêng của bầu trời Tổ quốc biểu tượng cho lý tưởng trách nhiệm và tình yêu đất nước

Câu 5: sự tương đồng về ý nghĩa của hai ngữ liệu

Cả 2 đều khẳng định : con người luôn có gắn bó sâu nặng với quê hương dù đi xa vẫn để lại một phần tam hồn nơi đã từng sống tung yêu thương

Quê hương không chỉ là không gian địa lý mà còn là tinh thần ký ức và tình cảm thiêng liêng trong mỗi con người

28 tháng 1

Câu 1

Ngô kẻ thứ ba

28 tháng 1

Câu 1: ngôi kể thứ 3

Câu 2 sông lam và sông hồng

28 tháng 1

Câu 1: ngôi kể trong văn bản ngôi kể thứ ba

Câu 2 ;

Quê hương của Lê gắn với sông Lam

Quê hương của Sơn gắn với sông Hồng

Câu 3: Biện pháp tu từ so sánh “Đại đội pháo của họ như một gốc cây đã lớn, nhựa cây ứ đầy tỏa ra thành hai nhánh” hình ảnh được nói lên với sự sinh động về sự chia tách của đơn vị pháo binh. với sự gắn bó, : dù chia hai hướng chiến đấu nhưng cùng chung cội nguồn, Và chung một lý tưởng.Làm nổi bật tình đồng đội sâu nặng, và sự trưởng thành của người lính trong chiến tranh.

Câu 4: “Họ chia nhau tấm giát nằm, vài tấm áo sặc mùi thuốc đạn và chia nhau bầu trời Tổ quốc trên đầu” Khắc họa tình đồng chí, đồng đội gắn bó, sẻ chia gian khổ được nói lên với lý tưởng chung: cùng chung bầu trời Tổ quốc, đều là nhiệm vụ bảo vệ đất nước, làm nổi bật chủ đề tình người trong chiến tranh, vừa khốc liệt vừa giàu tình đồng đội của cắc chiến sỹ

Câu 5: hai ngữ liệu có sự tuông đồng về .Đều khẳng định sự gắn bó sâu nặng giữa con người và nơi đã đi qua khi rời xa, đất không chỉ là những nơi đã đi qua mà đã hoà vào tâm hồn của mỗi người cùng với những ký ức, tình cảm của mỗi con người để lại cho họ những khí ức không thể nào quyên được








28 tháng 1

Câu 1: Ngôi kể trong văn bản là : ngôi thứ ba.

Câu 2: Trong văn bản, quê hương của Lê gắn với dòng sông Mã, còn quê hương của Sơn gắn với dòng sông Cửu Lon.

Caau 3: Biện pháp so sánh giúp gợi hình ảnh sinh động, tăng tính biểu cảm và nhấn mạnh sự gắn bó, sức mạnh của đơn vị pháo binh.

Câu 4: Chi tiết “Họ chia nhau tấm giắt nằm, vài tấm áo sặc mùi thuốc đạn và chia nhau bầu trời Tổ quốc trên đầu” có vai trò quan trọng trong việc thể hiện nội dung văn bản:

Thể hiện tình đồng chí, đồng đội keo sơ, gắn bó: Trong chiến tranh ác liệt, những người lính chia sẻ với nhau những vật chất đơn sơ, giản dị nhất, thể hiện sự quan tâm, yêu thương lẫn nhau.

Khắc họa tinh thần lạc quan, yêu đời của người lính: Dù cuộc sống thiếu thốn, gian khổ, họ vẫn chưa sẻ với nhau “bầu trời tổ quốc trên đầu”, thể hiện niềm tin vào tương lai tươi sáng, vào chiến thắng của dân tộc.

Làm nổi bật ý chí chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc: chi tiết này cho thấy những người lính sẵn sàng hy sinh, cống hiến để bảo vệ “ bầu trời Tổ quốc”, thể hiện lòng yêu nước sâu sắc.

Câu 5: Sự gắn bó giữa con người và những vùng đã đi qua. Hai ngữ liệu trên đều thể hiện sự gắn bó sâu sắc giữa con người và những vùng đất họ đã đi qua, nhấn mạnh rằng những trải nghiệm và kỷ niệm ở những nơi đó đã trở thành một phần không thể thiếu trong tâm hồn họ.

29 tháng 1

Câu 1

Ngôi kể thứ nhất

Câu 2

Quê hương của lê gắn với sông lam

Quê hương của sơn gắn với sông hồng

Câu 3

Biện pháp tu từ được dùng trong văn bản rất xinh động và hài hòa làm cho người đọc suy nghĩ về quê hương mình rất hài hòa và gây cười

Câu 4

Chi tiết này đóng vai trò là nhãn tự giúp xinh động con mắt của văn bản giúp chuyển tải chủ đề của tác phẩm Chiến tranh có thể tàn khốc và gây ra sự chia cắt nhưng chính nó lại là thuốc thử làm sáng ngời lên tình đồng chí và tình yêu đất nước cao cả

Câu 5

Sự tương đồng giữa hai ngữ liệu này nằm ở quy luật tình cảm của con người đối với những vùng đất họ từng gắn bó. Cả Nguyễn Minh Châu và Chế Lan Viên đều gặp nhau ở một tư tưởng nhân văn sâu sắc Mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa con người và mảnh đất quê hương xứ sở


29 tháng 1

Câu 1: Ngôi kể được sử dụng trong văn bản là: Ngôi kể thứ ba

Câu 2 :

Quê hương của Sơn được gắn với dòng sông Lam (" ụ pháo ở đấy đắp bằng phù xa sông Lam vàng tươi như nghệ ") .

Quê hương của Lê được gắn với dòng Sông Hồng (" Đất phù xa sông Hồng truyền sang người Lê một cảm giác mát lạnh ") . 

Câu 3: Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn "Đại đội pháo của họ như một gốc cây đa lớn, nhựa cây ứ đầy tỏa ra thành hai nhánh" là:

Hình ảnh cụ thể, giàu sức gợi: Biện pháp so sánh giúp người đọc hình dung rõ nét về sự vững chãi, kiên cường, và sức sống mãnh liệt của đại đội pháo như một gốc đa lớn.

Sức mạnh và đoàn kết: Hình ảnh cây đa với "nhựa cây ứ đầy tỏa ra thành hai nhánh" tượng trưng cho sự gắn bó, đoàn kết chặt chẽ của các thành viên trong đại đội, cùng nhau một nguồn sức mạnh và lý tưởng bảo vệ Tổ quốc. Sức sống dồi dào (" nhựa cây ứ đầy ") thể hiện tinh thần chiến đấu bền bỉ, không ngại gian khổ, hi sinh của những người lính pháo binh, những người đã cống hiến tuổi trẻ và sức lực cho đất nước.

Câu 4: Vai trò của chi tiết họ chia nhau :

Phơi bày hiện thực chiến tranh khốc liệt: Chi tiết này miêu tải sự thiếu thốn, gian khổ của đời sống người lính trong chiến tranh, khi nơi nghỉ ngơi chỉ là tấm giát nằm tạm bợ, hơi ấm từ" vài tấm áo sặc mùi thuốc đạn”

Ca ngợi tình đồng chí, đồng đội: Việc" chia nhau” những vật dụng ít ỏi thể hiện tình cảm gắn bó sâu sắc, sự sẻ chia, nhường cơm sẻ áo của những người lính. Khẳng định lý tưởng chiến đấu trung của họ là bảo vệ từng tấc đất, từng khoảng trời của tổ quốc.  

Câu 5. Sự tương đồng về ý nghĩa :

Hai ngữ liệu từ tác phẩm Những vùng trời khác nhau của Nguyễn Minh Châu và Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên có sự tương đồng về ý nghĩa là cùng khẳng định một chân lý về tình yêu quê hương đất nước và sự gắn bó của con người với mảnh đất mình đi qua. Dù ở hay đã rời đi, hình ảnh quê hương, những nơi đã gắn bó với mình luôn in đậm trong ký ức và tâm hồn con người.         


Phần 2 : Viết

Câu 1: Phân tích tình cảm của Lê dành cho Sơn:

Tình cảm của Lê dành cho Sơn là biểu hiện sâu sắc của tình đồng chí, đòng đội trong hoàn cảnh chiến đấu ác liệt. Tình cảm này được thể hiện qua sự thấu hiểu, đòng cảm sâu sắc vượt qua những khác biệt về vùng miền, tính cách (Lê chất phác, Sơn hào hoa từ Hà Nội). Họ chia sẻ với nhau mọi thứ từ vật chất “tấm giát nằm, và tấm áo sặc mùi thuốc đạn” đến tinh thần như nỗi nhớ quê hương, ước mơ riêng tư. Lê thấu hiểu được vẻ đẹp tâm hồn của Sơn, trân trọng những “vùng trời ” riêng của bạn và cô đó như một phần máu thịt của Tổ quốc chung.

Câu 2

Đất nước Việt Nam là bản hòa ca của những vùng miền khác nhau, từ núi cao trùng điệp đến đồng bắng thẳng cánh cò bay, từ miền quê yên bình đến đo thị sầm uất. Nguyễn Minh Châu trong “những vùng trời khác nhau” đã gợi nhắc về những vùng đất gắn bó với cuộc đời mỗi con người. Câu nói “vùng trời quê hương quê hương nào cũng là bầu trời Tổ quốc” không chỉ là sự khẳng định tình yêu quê hương mà còn là thông điệp sâu sắc về sự gắn kết, thống nhất của Tổ quốc, đặc biệt trong bối cảnh đất nước đang thay đổi từng ngày. Trong bối cảnh đất nước đang trên đà hội nhập và phát triển mạnh mẽ, ý thức về “vùng trời quê hương” không hề phai nhạt mà càng trở nên ý nghĩa. Sự thay đổi lớn lao của đất nước đòi hỏi thế hệ trẻ không chỉ biết hướng tới sự phát triển chung mà còn phải giữ gìn bản sắc riêng của quê hương mình, tình yêu Tổ quốc được xây dựng trên tình yêu những điều giản dị, chân thành ở từng quê hương nhỏ bé. Lịch sử đã chứng minh, tình đòng chí, sự gắn kết giữa những con người từ các miền quê khác nhau đã tạo nên sức mạnh vững mạnh đẻ bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, hơn nữa câu nói còn nhắc nhở về sự đoàn kết dân tộc, mọi vùng miền dù khác biệt về địa lý hay văn hóa đều thuộc về một nước Việt Nam chung.

Tóm lại, câu nói trên là lời nhắc nhở về tình yêu quê hương đất nước cao đẹp, là kim chỉ nam cho thế hệ trẻ hôm nay. Hãy yêu quê hương bằng những hành động cụ thể, giữ gìn bản sắc riêng để góp phần làm cho “bầu trời Tổ quốc” thêm xanh, thêm rạng rỡ và vững bền.                                             

29 tháng 1

Câu 1.

Ngôi kể: Ngôi thứ ba (người kể giấu mình, gọi tên nhân vật Lê, Sơn).

Câu 2.

  • Quê hương Lê gắn với sông Lam.
  • Quê hương Sơn gắn với sông Hồng.

Câu 3.

Biện pháp so sánh "đại đội pháo như một gốc cây đã lớn.." làm nổi bật:

  • Sự gắn bó, đoàn kết của đồng đội.
  • Sự chia tách đau xót nhưng tất yếu của chiến tranh.
    → Tăng tính hình ảnh, cảm xúc cho đoạn văn.

Câu 4.

Chi tiết "họ chia nhau tấm giát năm... và chia nhau bầu trời Tổ quốc":

  • Thể hiện tình đồng đội sâu nặng, gắn bó, sẻ chia gian khổ.
  • Khắc họa lý tưởng chung: chiến đấu vì Tổ quốc, dù mỗi người ở một vùng trời.
  • Câu 5.

Điểm tương đồng về ý nghĩa:

Cả hai ngữ liệu đều khẳng định: khi con người rời xa một vùng đất, nơi ấy không chỉ là không gian địa lí mà đã trở thành một phần tâm hồn, ký ức, tình cảm s



29 tháng 1

Câu 1

Ngôi kể được sử dụng trong văn bản là ngôi kể thứ ba

Câu 2

Quê hương của Lê gắn với sông Lam

Quê hương của Sơn gắn với sông Hồng

Câu 3

Trong tác phẩm “ Những vùng trời khác nhau” tác giả Nguyên Minh Châu đã sử dụng biện pháp tu từ so sánh trong câu văn “ Đại đội pháo của họ như một gốc cây đa lớn , nhựa cây ứ đầy tỏa ra thành hai nhánh” so sánh những người lính như một gốc cây đa lớn . Nhằm làm rõ sự gắn bó , trưởng thành của đại đội pháo , gợi liên tưởng tập thể vững chắc , sức sống mãnh liệt của người lính , dù tách ra nhưng vẫn sống chung một gốc , một mục tiêu. Đồng thời làm cho câu văn thêm sinh động hấp dẫn, giàu sức sống . Qua đó tác giả muốn ca ngợi sự mạnh mẽ tinh thần chiến đấu , đoàn kết của người chiến sĩ . Đồng thời gọi một cảm xúc mạnh mẽ và ấn tượng cho người đọc

Câu 4

Chi tiết ” họ chia nhau tấm giát nằm , vài tấm áo sặc mùi thuốc đạn và chia nhau bầu trời Tổ quốc trên đầu” Nhằm khắc họa tình đồng chí, tình bạn sâu sắc khi đang làm nhiệm vụ trên chiến trường họ cùng nhau chia sẻ hoàn khổ những người lính ấy mang trong mình lý tưởng cao cả. Qua đó làm nổi bật sự chia ly nhưng lại mang chung nhiệm vụ và mục tiêu . Đồng thời làm tăng tính biểu cảm , giá trị của biểu tượng . Qua đó tác giả muốn nhấn mạnh đến người đọc về sự hy sinh cao cả của những người lính trên chiến trường

Câu 5

Hai ngữ liệu có sự tương đồng về ý nghĩa khi cùng thể hiện tình cảm gắn bó sâu nặng của con người với những vùng đất đã từng sống và đi qua. Cả hai ngữ liệu đều nhấn mạnh sự gắn bó thiêng liêng với vùng đất từng đi qua , để lại một phần tâm hồn ở nơi đó , những người chiến sĩ đó mang trong mình tình yêu quê hương, đất nước, sự hy sinh thầm lặng vì Tổ quốc. Những vùng trời đã đi qua hóa thành tâm hồn của những người lĩnh gắn bó máu thịt không thể phai mờ . Qua đó, cả hai ngữ liệu đều khẳng định rằng đất đai, quê hương không chỉ là không gian địa lí mà còn là nơi kết tinh ký ức, tình cảm và tâm hồn con người. 




tình yêu quê hương, đất nước, sự hy sinh thầm lặng vì Tổ quốc.

1. Đặt vấn đềSử thi "Đăm Săn" là pho sử thi nổi tiếng của người Ê-đê. Đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" là một trong những trích đoạn tiêu biểu kể lại hành trình chinh phục Nữ Thần Mặt Trời của người anh hùng Đăm Săn. Đồng thời, nó còn phản ánh diện mạo đời sống tinh thần, niềm tin cộng đồng người Ê-đê. Thông qua đoạn trích, không gian sinh hoạt của người...
Đọc tiếp

1. Đặt vấn đề

Sử thi "Đăm Săn" là pho sử thi nổi tiếng của người Ê-đê. Đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" là một trong những trích đoạn tiêu biểu kể lại hành trình chinh phục Nữ Thần Mặt Trời của người anh hùng Đăm Săn. Đồng thời, nó còn phản ánh diện mạo đời sống tinh thần, niềm tin cộng đồng người Ê-đê. Thông qua đoạn trích, không gian sinh hoạt của người Ê-đê được hiện lên rõ nét và trở thành một điểm nhấn thú vị, đáng để khám phá.

2. Giải quyết vấn đề

a. Kiến trúc nhà ở của người Ê-đê trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời"

Trước hết, kiến trúc nhà ở của người Ê-đê trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" gắn liền với hình ảnh nhà sàn dài. Nhà sàn dài là kiến trúc độc đáo và đặc biệt của người Ê-đê ở Tây Nguyên. Đặc trưng của nhà dài Tây Nguyên bao gồm: hình thức của thang, cột sàn và cách bố trí vật dụng trên mặt bằng sinh hoạt. Điều này được miêu tả rất rõ trong đoạn trích ở các chi tiết: "Chồm lên hai lần, chàng leo hết cầu thang. Chàng giậm chân trên sàn sân, hai lần sàn sân làm như vỗ cánh, bảy hàng cột nhà chao qua chao lại từ đông sang tây", "cầu thang trông như cái cầu vồng", "tòa nhà dài dằng dặc", "voi vây chặt sàn sân", "các xà ngang xà dọc đều thếp vàng". Hình ảnh nhà sàn dài dằng dặc, cầu thang, xà ngang xuất hiện nhiều lần và được lặp đi lặp lại cho thấy dấu ấn kiến trúc nhà ở đặc trưng của đồng bào người Ê-đê. Tuy kiến trúc nhà ở không được miêu tả một cách tỉ mỉ nhưng những hình ảnh tiêu biểu như vậy cũng đủ để làm đồng hiện nền văn hóa đặc sắc của vùng Tây Nguyên.

b. Sinh hoạt của người Ê-đê trong không gian nhà ở trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời"

Không gian nhà dài chính là nơi cư trú của người dân Ê-đê. Tại đây diễn ra rất nhiều hoạt động gắn liền với văn hóa của người Ê-đê như hội họp, ăn mừng, kể chuyện sử thi, tổ chức nghi lễ thờ cúng thần linh,... Đoạn văn trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" đã miêu tả lại khung cảnh của người dân như sau: "tôi tớ trải dưới một chiếu trắng, trải trên một chiếu đỏ làm chỗ ngồi cho nhà tù trưởng. Rồi họ đem thuốc sợi cả hòm đồng, thuốc lá cả sọt đại, trầu vỏ cả gùi to, không còn sợ thiếu thuốc thiếu trần cho Đăm Săn ăn, hút. Họ đốt một gà mái ấp, giết một gà mái đẻ, giã gạo trắng như hoa êpang, sáng như ánh mặt trời, nấu cơm mời khách. Họ đi lấy rượu, đem một ché tuk da lươn, một ché êbah Mnông, trên vẽ hoa kơ-ụ, dưới lượn hoa văn, tai ché hình mỏ vẹt xâu lỗ. Đó là những cái ché ngã giá phải ba voi. Ai đi lấy nước cứ đi lấy nước, ai đánh chiêng cứ đánh chiêng, ai cắm cần cứ cắm cần. Cần cắm rồi, người ta mời Đăm Săn vào uống.". Các vật dụng xuất hiện trong đoạn văn như: ché tuk, ché êbah, là những đồ vật được làm bằng gốm với hình hoa văn đa dạng, được xem là những đồ vật quý của người Ê-đê. Nó biểu thị cho sự sung túc, giàu có, phải "ngã giá bằng ba voi" mới có được.

Hơn nữa, đoạn văn còn làm nổi bật được hoạt động và tính cách của người dân Ê-đê. Để thiết đãi vị tù trưởng Đăm Săn - vị khách quý của buôn làng, người dân nô nức thi nhau mang ra những món ăn ngon nhất, những loại thuốc quý nhất để thiết đãi: thuốc sợi, thuốc lá, trầu vỏ, gà mái ấp, gà mái đẻ, gạo trắng. Người Ê-đê hiện lên với nét tính cách xởi lởi, hào phóng, nồng hậu. Những hoạt động thiết đãi tù trưởng Đăm Săn cũng chính là những hoạt động của dân làng khi tiếp đón những vị khách quý từ phương xa.

Bên cạnh đó, chi tiết "chiêng xếp đầy nhà ngoài", "cồng chất đầy nhà trong" và "ai đánh chiêng cứ đánh chiêng, ai cắm cần cứ cắm cần" đã phản ánh phong tục đánh cồng chiêng và uống rượu cần của người dân vùng Tây Nguyên. Cồng chiêng không chỉ là nhạc cụ mà nó còn chứa đựng giá trị văn hóa của cộng đồng người Ê-đê. Chính vì vậy, chi tiết Đăm Săn đến nhà Nữ Thần Mặt Trời thấy hình ảnh "chiêng xếp đầy nhà ngoài, cồng xếp đầy nhà trong" biểu thị cho sự quyền lực và giàu có. Người Ê-đê tin rằng: mỗi một chiếc cồng đều ẩn chứa một vị thần cho nên càng nhiều cồng, cồng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao. Ngoài ra, tục uống rượu cần cũng là một nét đẹp văn hóa trong đời sống của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Rượu cần trong đoạn trích chính là phương tiện để gắn kết tình cảm giữa người tù trưởng Đăm Săn và Đăm Par Kvây. Rượu không chỉ đóng vai trò trong các buổi thực hành nghi lễ để cầu xin đấng thần linh mà nó còn thể hiện đầy đủ tinh thần tập thể của cộng đồng, lòng mến khách của chủ nhà.

Có thể nói, những vật dụng trong căn nhà của người Ê-đê không chỉ gắn liền với hoạt động sống mà còn phản ánh được tính cách, sự giàu có, phồn vinh của cả một cộng đồng.

3. Kết luận

Đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" là đoạn trích quan trọng của sử thi "Đăm Săn". Đoạn trích không chỉ khắc họa vẻ đẹp phi thường, khát vọng mãnh liệt của người anh hùng Đăm Săn mà qua đó, chúng ta còn thấy được những nét đẹp văn hóa, đặc biệt là không gian sinh hoạt của người Ê-đê ở Tây Nguyên. Sử thi "Đăm Săn" cho thấy kiến trúc nhà dài, vật dụng gắn liền với sinh hoạt và lối sống, tính cách của đồng bào người Ê-đê. Các giá trị vật chất, tinh thần của người Ê-đê trong thời đại mới cần phải được bảo tồn và phát huy hơn nữa.

1
30 tháng 11 2025

Tài liệu tham khảo này tu đâu


I. ĐỌC HIỂU Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:             Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời của mình....
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

            Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời của mình. Ba mẹ yêu thương con không phải vì con mà vì con là con của ba mẹ, bởi vậy kể cả khi con trở thành một người xấu, một kẻ dối trá hay thậm chí trộm cắp, thì tình yêu của ba mẹ dành cho con vẫn không thay đổi. Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”

            Đó chính là lí do đầu tiên để tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương. Thậm chí, tôi chỉ cần một lí do đó mà thôi.

            Kinh Talmud viết: “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” Bởi thế, hiển nhiên là tôi cũng sẽ nói với con tôi những lời ba tôi đã nói.

            […] Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.

(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn – Phạm Lữ Ân)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.

Câu 2: Vì sao nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương.

Câu 3: Theo em, việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa gì?

Câu 4: Em rút ra được thông điệp gì từ những câu văn sau: “Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.”?

12
14 tháng 5 2021

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.

Câu 2: Lí do để nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương đó là lời nói của ba: Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”

Câu 3: Việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa:

- Khi chúng ta dạy cho con cái mình những điều tốt đẹp, chúng sẽ mang những điều tốt đẹp đó để cư xử với tất cả mọi người xung quanh và dạy dỗ thế hệ sau.

- Những điều tốt đẹp ấy sẽ lan tỏa, có sức ảnh hưởng tích cực đến muôn đời sau.

- Làm tăng ý nghĩa, tính triết lí cho văn bản.

- Làm tăng sức thuyết phục, tin cậy cho nội dung mà tác giả muốn gửi gắm.

Câu 4:

- Trong cuộc đời mỗi người luôn có nhiều người thầy nhưng cha mẹ luôn là người thầy đầu tiên của con.

- Mỗi chúng ta sẽ cảm thấy ấm áp và hạnh phúc vô cùng khi được học những điều bình dị từ chính người cha yêu quý của mình. Cha luôn là người dành cả tình yêu thương và tấm lòng bao la của tình phụ tử thiêng liêng để chỉ bảo ta trên đường đời.

- Bài học từ người thầy đầu tiên ấy là điều vô cùng quý giá, sẽ để lại dấu ấn sâu sắc và gợi nhiều kỉ niệm để nhớ về trên chặng đường sau này.

14 tháng 5 2021

ko biet

Mọi ng cho em ý kiến vs ạHiện tg: đừng đổ lỗi cho hoàn cảnhMỗi đứa trẻ sinh ra và trong quá trình lớn lên đều bị ảnh hưởng từ phía gia đình và xã hội. Trong đó gia đình đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành nhân cách. Hành động của cha và mẹ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến suy nghĩ, cách sống và hành động trong tương lai của trẻ. Và câu chuyện sau đây chính là minh...
Đọc tiếp

Mọi ng cho em ý kiến vs ạ

Hiện tg: đừng đổ lỗi cho hoàn cảnh

Mỗi đứa trẻ sinh ra và trong quá trình lớn lên đều bị ảnh hưởng từ phía gia đình và xã hội. Trong đó gia đình đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành nhân cách. Hành động của cha và mẹ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến suy nghĩ, cách sống và hành động trong tương lai của trẻ. Và câu chuyện sau đây chính là minh chứng của điều đó. Vậy bạn và tôi hãy cùng nhau phân tích để hiểu rõ hơn về vấn đề này. 

Câu chuyện kể về hai anh em song sinh có cùng một hoàn cảnh: có một người cha nghiện ngập nặng. Họ luôn phải chứng kiến những khung cảnh bạo lực của cha mẹ. Sau này người anh trưởng thành giống hoàn toàn người cha, còn người em thì trở thành người đi đầu trong phong trào phòng chống tệ nạn xã hội. Với câu hỏi được đặt ra là:" điều gì khiến anh trở nên như thế ? " Bất ngờ cả hai cùng một câu trả lời:" có một người cha như vậy đương nhiên tôi phải trở thành người như thế rồi. " Ta có thể thấy chỉ với một mẫu truyện nhỏ thôi nhưng đã lột trần ra bao hiện tượng như: bạo lực và tệ nạn xã hôi, sự ảnh hưởng của cha mẹ đến con cái hay là hiện tượng đừng đổ lỗi cho hoàn cảnh là nổi bật hơn cả. Hiện tượng trên muốn cho người đọc biết rằng hãy biết vươn lên, chống lại hoàn cảnh mà đừng để hoàn cảnh vùi dập để rồi chỉ biết đổ lỗi ngược lại. 

Vậy thì tại sao hiện tượng đổ lỗi cho hoàn cảnh lại xảy ra phổ biến như vậy? Liệu đây là một hiện tượng mới xảy ra hay là đã xảy ra từ trước đó? Và điều gì làm xuất hiện hiện tượng này? Trước đó ta hãy hiểu rõ về gia đình- một nhân tố quan trọng trong việc hình thành nên tính cách này. Con người sinh ra và trưởng thành trong một nơi gọi là "gia đình". Đó chính là nơi mà bạn được yêu thương, hạnh phúc, được chở che... Cho dù sau này bạn đã bước chân ra ngoài xã hội gặp phải nhiều khó khăn không thể tự mình vượt qua thì vẫn có gia đình là hậu phương vững chắc, luôn âm thành tạo điều kiện, bảo vệ và cùng bạn vượt qua. Thế nhưng lại có nhiều gia đình hoàn toàn ngược lại, đó không còn là một nơi ấm áp nữa mà đã trở thành nơi gieo rắt những hạt giống suy tàn, đồi bại tuy nhiên vẫn có những hạt giống vươn lên tìm được ánh sáng cho chính mình. Chính vì thế mà ta có thể nói gia đình rất quan trọng. 

Đổ lỗi cho hoàn cảnh là một hiện tượng khá phổ biến và xuất hiện từ xưa đến nay chưa bao giờ chấm dứt. Như trong trường học, học sình thường đổ lỗi cho việc chưa học bài hay làm bài tập bằng lí do bài quá khó, quá dài, giáo Viên giảng không hiểu. Khi ta đạt kết quả thi không như mong muốn thì lại có thêm hàng trăm lí do để đổ lỗi. Hay trong công việc khi mà bạn không hoàn thành các công việc được giao bạn lại viện cớ vì số lượng công việc, vì không đủ thời gian hay bất cứ điều gì mà bạn có thể nghĩ ra. Trong cuộc sống bạn cũng có thể lấy đổ lỗi cho hoàn cảnh để che dấu cho sự thật rằng bạn yếu đuối, gục ngã, không đủ sức mạnh lí trí để vượt qua như hoàn cảnh người anh trong câu chuyện. Thế đấy, con người hầu như dùng hoàn cảnh để làm lí do che dấu, vậy ai cũng như thế ư? Ai cũng trốn tránh không dám đối mặt, vươn lên ư? Song song với những người tiêu cực thì vẫn có những con người biết vươn lên, biết đấu tranh với nghịch cảnh, họ còn lấy hoàn cảnh để làm động lực cho bước tiến đầu tiên - bước đầu đến con đường trải hoa hồng. Nơi mà họ nhận được thành quả sau khi trải qua bao gian khổ, vượt qua bao chông gai, đối mặt với hàng thử thách. Vì vậy những người tiến lên phía trước là những người muốn tìm hoàn cảnh mà họ khao khát, nếu không thấy hãy tự tạo ra nó, đừng từ bỏ. 

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đổ lỗi cho hoàn cảnh, từ nguyên nhân nhỏ đến lớn. Như đã nhắc đến ở trên "gia đình" là một phần nguyên nhân tác động trực tiếp đến nhân cách con người. Gia đình tốt, có gia giáo, có đạo đức chuẩn mực có thể hình thành cho bạn một nhân cách tốt tuy nhiên điều đó chưa hẳn là đúng bởi vẫn có nhiều trường hợp trái ngược lại, nên nó còn phụ thuộc vào ý thức cá nhân của mỗi người. Tiếp đó là nhà trường- nơi mà bạn được dạy về đạo đức, lối sống... Và do chính bản thân bạn, khi mà sau những lần sai bạn lại viện cớ lí do, nếu bạn cứ lặp lại điều này thì nó sẽ dần trở thành một vũ khí hủy hoại chính bạn. Đừng để bản thân sa vào vùng lẫy do chính mình tạo ra. 

Nếu con người cứ tiếp tục tiếp diễn hiện tượng này thì một ngày không xa sẽ trở thành những người vô trách nhiệm chỉ biết trối bỏ mọi thứ, buông xuôi cho bản thân sống không có tương lai và sẽ tạo thành một thói quen nguy hiểm, nhân cách xấu xa. Nếu ai cũng như thế này thì xã hội sẽ trở nên thoái hoá, không phát triển, yếu kém

Để thay đổi tình trạng này thì đầu tiên mỗi người trong gia đình hãy là tấm gương sáng cho con noi theo, biết giáo dục con đúng cách, theo chiều hướng tốt, biết dạy trẻ nhận sai khi phạm sai lầm, biết tự đứng dậy sau mỗi lần gục ngã. Đồng thời cần có những buổi tuyên truyền, giáo dục hướng trẻ đến một lí tưởng. 

 

 

 

 

 

2
11 tháng 8 2021

còn cái nịt

20 tháng 10 2022

Hảo hán

    Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm) Mặc dù chúng ta đang có một cuộc sống đầy đam mê và có những mục tiêu rõ ràng để phấn đấu, nhưng chúng ta hẳn cũng khó lòng tránh được có lúc lâm vào nghịch cảnh. Liệu chúng ta sẽ đứng dậy sau cơn phong ba đó, hay hoàn toàn bị gục ngã. Điều này phụ thuộc vào cách chúng ta đối đầu với chúng. Trước những thác ghềnh, chông gai trên đường khiến...
Đọc tiếp

 

 

Phn I. Đọc hiu (3,0 đim)

Mặc dù chúng ta đang có một cuộc sống đầy đam mê và có những mục tiêu rõ ràng để phấn đấu, nhưng chúng ta hẳn cũng khó lòng tránh được có lúc lâm vào nghịch cảnh. Liệu chúng ta sẽ đứng dậy sau cơn phong ba đó, hay hoàn toàn bị gục ngã. Điều này phụ thuộc vào cách chúng ta đối đầu với chúng. Trước những thác ghềnh, chông gai trên đường khiến chúng ta cảm thấy nản lòng và hoài nghi, thì niềm tin mãnh liệt vào bản thân là điều cần thiết hơn bao giờ hết để chúng ta vượt qua những trắc trở đó.

Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ đơn giản là học được từ người khác. Tìm hiểu xem những người đi trước đã đối phó với khó khăn tương tự như thế nào giúp chúng ta tìm ra giải pháp cho mình. Những tấm gương về những con người đầy nghị lực và giàu lòng quả cảm, có khả năng trụ vững sau bao cơn giông tố của cuốc đời luôn là tâm điểm cho chúng ta noi theo.

Đó là nghị lực của Walt Disney trong việc thực hiện ước mơ của mình sau năm lần phá sản. Bất chấp số phận, Helen Keller đã không cam chịu để người đời thương hại. Ngược lại bà đã dũng cảm vượt qua nghịch cảnh, trở thành tấm gương sáng cho hàng triệu người noi theo…

Niềm tin vào bản thân là nội lực thúc đẩy thái độ tích cực, dẫn dắt chúng ta đạt được mục tiêu của mình. Thành công không bao giờ đến với những ai yếu đuối và có thái độ buông xuôi.

          ( Điều kì diệu của thái độ sống, Mac Anderson, NxbTổng hợp TP.Hồ Chí Minh năm 2008, tr14)

Đọc văn bản trên và thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Văn bản tập trung bàn về vấn đề gì?

Câu 2. Chỉ ra và nêu tác dụng biện pháp tu từ trong câu:"Trước những thác ghềnh, chông gai trên đường khiến chúng ta cảm thấy nản lòng và hoài nghi, thì niềm tin mãnh liệt vào bản thân là điều cần thiết hơn bao giờ hết để chúng ta vượt qua những trắc trở đó."

Câu 3. Theo anh/ chị, việc đưa ra dẫn chứng hai nhân vật Walt Disney Helen Keller có tác dụng gì?

Câu 4. Anh chị có đồng tình với quan điểm: Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ đơn giản là học được từ người khác hay không? Vì sao?

 Phn II. Làm văn (7,0 đim)

Câu 1. (2,0 đim)

Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/ chị hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ về sức mạnh nghị lực của con người trong cuộc sống.

41
19 tháng 8 2021

mày đừng so sánh tao với nó\n_vì nó là chó còn tao là người\n_Mày đừng bật cười khi nghe điều đó\n_vì cả mày và nó đều chó như nhau

19 tháng 8 2021

Phần I 

Câu 1:

Văn bản tập trung vào vấn đề nghị luận bàn về niềm tin vào bản thân, nỗ lực phấn đấu không bỏ cuộc để vượt qua những khó khăn, thác ghềnh bằng tự lực để chinh phục thành công.

Câu 2:

Biện pháp ẩn dụ:"thác ghềnh, chông gai trên đường" vì tác giả so sánh những chướng ngại vật trên đường đi hàng ngày của mỗi người cũng giống như những khó khăn, gian nan trên đường đời mỗi người phải trải qua để thành công.

Câu 3:

Tác giả đưa hai dẫn chứng về Walt Disney và Helen Keller là để làm dẫn chứng thuyết phục cho vấn đề cần nghị luận của mình đó là đã có những tấm gương gặp muôn vàn khó khăn trắc trở trong cuộc sống nhưng họ không buông xuôi hay dựa dẫm vào người khác mà biết cách đứng dậy sau vấp ngã và thành công.

Câu 4:

Em đồng ý với quan điểm:"Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ là học từ người khác". Những người đi trước và câu chuyện xoay quanh sự thành bại của họ chính là những bài học quý báu cho người sau. Những con người đi trước và thành công sau 1 quá trình gian nan đó chính là những bằng chứng sống để người đời sau tin tưởng vào mình dù có trải qua bao thác ghềnh, chông gai.

Phần II

Có một câu chuyện ngụ ngôn mà hồi bé chúng ta hay được nghe kể về cuộc đua của  rùa và thỏ, con thỏ nhanh nhẹn nhưng lại tự phụ, xem thường đối thủ,tuy con rùa chậm chạp nhưng lại nỗ lực không ngừng, kết quả ai cũng biết, con rùa đã thắng con thỏ. Xuyên suốt câu truyện Rùa và Thỏ là ý chí của con  rùa, nó  không đầu hàng trước những thất bại. Rõ ràng, con thỏ có năng lực nhưng ý chí lại không tốt bằng con rùa, nó vẫn có thể về đến được vách đích nhưng con rùa vẫn chiến thắng nó,đó cũng là sự biểu trưng cho quyết tâm và ý chí của con rùa . Cũng có người từng nói “ Không phải đời người quá khó khăn, mà là do bạn nỗ lực chưa đủ”. Từ câu chuyện trên và câu nói trên, chúng ta có thể thấy được ý chí đóng 1 vai trò cực kì quan trọng trong mỗi bước tiến đến con đường thành công của mỗi con người.

Sức mạnh, trí tuệ hay thiên phú chỉ góp phần nào cho sự khác biệt giữa những người thành công và những người thất bại, nhưng hơn thế nữa quyết định chủ yếu là ở ý chí. Vậy ý chí hay sự quyết tâm là gì mà nó lại đóng góp không nhỏ vào chính cuộc đời chúng ta? Ý chí, nghị lực là ý thức, tính tự giác, mạnh mẽ, quyết tâm dồn nén sức lực, trí tuệ để đạt được tiêu chí, mục đích. Ý chí cũng là phẩm chất tâm lí đặc trưng của con người, thể hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có nỗ lực khắc phục khó khăn.Ngay từ những điều đơn giản nhất trong cuộc sống, bạn được giao một công việc trong nhiều ngày, nhưng bạn đã cố gắng, tập trung để hoàn thành trước thời hạn và nhận thêm một việc làm mới, từ đó năng suất làm việc, hiệu quả công việc và sự tin tưởng từ người giao việc cũng từ đó tăng theo. Chỉ từ một sự quyết tâm nhỏ ấy thôi mà cũng kéo theo được vô cùng nhiều giá trị và lợi ích không chỉ đối với bản than mà còn đối với những người xung quanh chúng ta. Ý chí như thôi thúc bản thân mỗi chúng ta, như tiếp thêm cho ta phần nào sức mạnh để ngày càng tới gần hơn mục tiêu đã đề ra. Câu chuyện được minh chứng bởi Thomas Edison – nhà phát minh tài ba của thế kỉ XX, hơn 10.000 lần thất bại để đem được ánh sáng đến với nhân loại, nếu không có ông thì dường như việc bóng đèn xuất hiện với thế giới sẽ bị đẩy lùi đi mười mấy năm, rõ ràng, chính ý chí quyết tâm của Edison đã khiến con đường của nền văn minh hiện đại của con người trở nên ngắn lại.

Ý chí giúp chúng ta toàn sức tập trung vào mục tiêu bằng cách ngăn cản các suy nghĩ không liên quan khác xảy đến. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ hoàn thành công việc một cách nhanh chóng và hiểu quả. Chủ tịch Hồ chí đã nói:

“Không có việc gì khó

Chỉ sợ lòng không bền

Đào núi và lấp biển

Quyết chí ắt làm nên”

Câu nói này càng như khẳng định vai trò quan trọng và to lớn của sức mạnh ý chỉ và quyết tâm, đáng sợ nhất không phải là những người có tài năng thiên bẩm mà là những người có nghị lực vươn lên. Ý chí rèn luyện bản thân sự quyết đoán và nhạy bén trong mọi vấn đề cuộc sống từ đó thúc đẩy hành trình của bản thân trở nên tinh gọn. Nghị lực là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với bản thân mỗi người, tuy nhiên không phải ai cũng nhận ra được giá trị cốt lõi của nó. Trái ngược với những người có ý chí là những người thờ ơ, không đủ quyết tâm, nhụt trí trước những thử thách cuộc sống. Giới trẻ bây giờ không ít người chưa làm đã vội bỏ cuộc, thấy khó khăn đã nản chí, gặp thất bại thì hủy hoại và sống bất cần đời. Những người như thế thật đáng chê trách. Là học sinh, chúng ta cần khẳng định tư cách, ý chí, nghị lực vượt qua những khó khăn thử thách .Tài năng của con người được tạo bởi nhiều yếu tố. Trong đó yếu tố tự rèn là yếu tố quan trọng nhất để đi đến thành công. Để thấy mình không thấp hơn người khác, bản thân phải có sự lao động chăm chỉ, cần cù, không chùn bước trước gian nguy, phải biết tự tin vào chính bản thân trên bước đường đời.

           Nhìn chung, một lần nữa cần phải khẳng định lại giá trị của câu nói “ Ý chí tốt làm con đường ngắn lại”. Ý chí mang đến thành công và giúp ta chinh phục mọi khó khăn trên con đường gập ghềnh phía trước. Những con người thành công và nổi tiếng nhất đều là những người có ý chí rất mạnh mẽ.Vậy nên việc rèn luyện và giữ vững một ý chí kiên cường luôn là điều tất yếu trên chặng đường của cuộc đời

I. ĐỌC HIỂUĐọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:            Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời của mình. Ba...
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

            Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời của mình. Ba mẹ yêu thương con không phải vì con mà vì con là con của ba mẹ, bởi vậy kể cả khi con trở thành một người xấu, một kẻ dối trá hay thậm chí trộm cắp, thì tình yêu của ba mẹ dành cho con vẫn không thay đổi. Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”

            Đó chính là lí do đầu tiên để tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương. Thậm chí, tôi chỉ cần một lí do đó mà thôi.

            Kinh Talmud viết: “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” Bởi thế, hiển nhiên là tôi cũng sẽ nói với con tôi những lời ba tôi đã nói.

            […] Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.

(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn – Phạm Lữ Ân)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.

Câu 2: Vì sao nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương.

Câu 3: Theo em, việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa gì?

Câu 4: Em rút ra được thông điệp gì từ những câu văn sau: “Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình

2
21 tháng 7 2021

đọc

nha

21 tháng 5 2025

Dưới đây là gợi ý trả lời cho các câu hỏi đọc hiểu dựa trên đoạn trích từ tác phẩm Nếu biết trăm năm là hữu hạn của Phạm Lữ Ân:


Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.

  • Phương thức biểu đạt chính: Tự sự kết hợp với nghị luận.
  • Đoạn trích kể lại câu chuyện về lời dạy của ba dành cho nhân vật "tôi" (tự sự), đồng thời thể hiện quan điểm, suy nghĩ về giá trị của sự chính trực và tình yêu thương (nghị luận).

Câu 2: Vì sao nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương?

  • Nhân vật "tôi" muốn trở thành người chính trực và biết yêu thương vì ba mẹ đã dạy rằng dù con có sai lầm, ba mẹ vẫn yêu thương con vô điều kiện.
  • Nhưng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành người chính trực và biết yêu thương.
  • Lời dạy đó là động lực và lí do duy nhất để nhân vật "tôi" quyết tâm trở thành người như vậy.

Câu 3: Theo em, việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa gì?

  • Câu trích nhấn mạnh tính liên tục của việc giáo dục và truyền lại giá trị đạo đức qua các thế hệ.
  • Việc dạy con không chỉ ảnh hưởng đến con cái mà còn ảnh hưởng đến cả các thế hệ tiếp theo (cháu chắt).
  • Điều này thể hiện trách nhiệm và tầm quan trọng của việc giáo dục con cái trong gia đình.

Câu 4: Em rút ra được thông điệp gì từ những câu văn sau:

“Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.”

  • Thông điệp:
    • Sự học hỏi từ người thân, đặc biệt là từ cha mẹ, có ý nghĩa sâu sắc và đặc biệt hơn so với việc học từ người khác.
    • Những bài học đời thường, kỹ năng sống khi được truyền đạt từ người thân yêu mang giá trị tinh thần và tình cảm lớn lao.
    • Mối quan hệ gắn bó, sự tin tưởng và tình cảm gia đình làm cho việc học trở nên ý nghĩa và đáng trân trọng hơn.

Nếu bạn cần mình giải thích thêm hoặc hỗ trợ làm bài tập khác, cứ hỏi nhé!



    “Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc. Chúng nó bắn đã thành lệ, mỗi ngày hai lần, hoặc buổi sáng và xế chiều, hoặc đứng bóng và sầm tối, hoặc nửa đêm và trở gà gáy. Hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi (…), cạnh con nước lớn. Cả rừng (…) hàng vạn cây không có cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một...
Đọc tiếp

    “Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc. Chúng nó bắn đã thành lệ, mỗi ngày hai lần, hoặc buổi sáng và xế chiều, hoặc đứng bóng và sầm tối, hoặc nửa đêm và trở gà gáy. Hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi (…), cạnh con nước lớn. Cả rừng (…) hàng vạn cây không có cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão. Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện lại thành từng cục máu lớn”.

 

Câu 1 (1 điểm): Điền từ còn thiếu vào chỗ trống và cho biết đoạn trích này  trích trong tác phẩm nào? Cho biết tên tác giả của tác phẩm đó?

Câu 2 (2 điểm): Nêu những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích?

Câu 3 (2 điểm): Nhà văn đã cảm nhận hình tượng trong đoạn trích trên bằng những giác quan nào?

Câu 4 (5 điểm); Viết một đoạn văn (Khoảng 200 chữ) nói lên cảm nhận của mình về hình tượng được nói đến trong đoạn trích trên.


 

1
8 tháng 4 2020

Ai làm hộ em với ạ

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng...
Đọc tiếp

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)

“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng chất dinh dưỡng để lớn lên và thay đổi. Song, tất cả sự thay đổi đó lặng lẽ tới mức, với tôi, cây sồi già trong sân trông vẫn như khi tôi nhìn thấy nó thuở ấu thơ.” (James Lovelock) (1)

Từ văn bản trên, anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận về chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng.

Câu 2. Nghị luận văn học (12,0 điểm)

Trong diễn văn đọc tại lễ bế mạc các hoạt động vinh danh giải Nobel ngày 10 tháng 12 năm 1957 ở Stockholm, A. Camus cho rằng: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”(2)

Bằng trải nghiệm văn học, anh/ chị hãy bàn luận ý kiến trên.

1
1. Lắng nghe sự thinh lặng Answer: Bài văn mẫu về chủ đề lắng nghe sự thinh lặng. Mở bài Trong cuộc sống ồn ào, vội vã, con người thường mải mê chạy theo những thanh âm, những tiếng nói từ bên ngoài mà quên mất đi một điều vô cùng quan trọng: lắng nghe sự thinh lặng. Sự thinh lặng không phải là sự im bặt, trống rỗng, mà là một không gian để tâm hồn nghỉ ngơi, để trí não soi chiếu những suy tư sâu sắc. James Lovelock từng ví Trái Đất như một cái cây tồn tại thầm lặng, trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai, cho thấy sự vận động và biến đổi kỳ diệu diễn ra trong im lặng. Chủ đề "Lắng nghe sự thinh lặng" mời gọi mỗi chúng ta nhìn nhận lại cách sống, cách cảm nhận thế giới và thấu hiểu chính mình. Thân bài 1. Giải thích và ý nghĩa của sự thinh lặng Sự thinh lặng là trạng thái không có tiếng động hoặc âm thanh. Tuy nhiên, trong ngữ cảnh nghị luận xã hội, thinh lặng mang ý nghĩa sâu sắc hơn: đó là sự tĩnh tâm, là khoảng không gian nội tâm để con người suy ngẫm, chiêm nghiệm. Lắng nghe sự thinh lặng là khả năng tạm gác lại những xô bồ, náo nhiệt của cuộc sống, để tâm trí được thanh lọc và tập trung vào những giá trị cốt lõi. 2. Biểu hiện của việc lắng nghe sự thinh lặng Việc lắng nghe sự thinh lặng được thể hiện qua nhiều khía cạnh:
  • Tự vấn bản thân: Trong những khoảnh khắc yên tĩnh, con người có cơ hội nhìn lại hành động, suy nghĩ, sai lầm và cả những ước mơ của mình. Sự thinh lặng giúp ta trung thực hơn với chính mình.
  • Thấu hiểu thế giới xung quanh: Như cái cây của Lovelock, vạn vật trong tự nhiên vận hành trong sự thinh lặng tuyệt đối. Lắng nghe sự thinh lặng giúp ta cảm nhận được nhịp đập của sự sống, sự biến đổi tinh tế của thiên nhiên mà những âm thanh huyên náo thường che lấp.
  • Tăng cường sự tập trung và sáng tạo: Khi không bị phân tán bởi tiếng ồn, trí óc con người hoạt động hiệu quả hơn, ý tưởng mới mẻ dễ dàng nảy sinh.
3. Bàn luận mở rộng Trong xã hội hiện đại, con người ngày càng khó tìm thấy sự thinh lặng. Mạng xã hội, thông tin liên tục, công việc áp lực khiến chúng ta luôn trong trạng thái "bận rộn". Điều này dẫn đến sự căng thẳng, lo âu và mất kết nối với chính mình. Do đó, việc chủ động tìm kiếm và lắng nghe sự thinh lặng là vô cùng cần thiết. Nó là liều thuốc chữa lành tâm hồn, giúp cân bằng cảm xúc và sống chậm lại. Kết bài "Lắng nghe sự thinh lặng" không phải là một hành động thụ động mà là một nghệ thuật sống, một sự chủ động tìm kiếm bình yên trong tâm hồn. Giống như cây sồi già vẫn giữ nguyên dáng vẻ qua bao năm tháng dù có nhiều sự thay đổi lặng lẽ, sự thinh lặng giúp chúng ta giữ vững bản ngã giữa dòng đời vạn biến. Hãy dành cho mình những khoảng lặng cần thiết để thấu hiểu bản thân, yêu thương cuộc sống và cảm nhận thế giới một cách trọn vẹn hơn. 2. Bàn luận về ý kiến của A. Camus Answer: Bài văn mẫu bàn luận về ý kiến của A. Camus về người nghệ sĩ. Mở bài Albert Camus, trong diễn văn nhận giải Nobel năm 1957, đã đưa ra một nhận định sâu sắc về vai trò và sứ mệnh của người nghệ sĩ: "Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi." (2) Ý kiến này khẳng định mối quan hệ biện chứng, không thể tách rời giữa cá nhân người nghệ sĩ, cái đẹp trong nghệ thuật và trách nhiệm với cộng đồng. Bằng trải nghiệm văn học, ta thấy nhận định của Camus là kim chỉ nam cho mọi hoạt động sáng tạo chân chính. Thân bài 1. Mối tương quan giữa người nghệ sĩ và cộng đồng Người nghệ sĩ không tồn tại biệt lập mà luôn trong mối tương quan với xã hội, với "người khác". Cuộc sống, con người là chất liệu vô tận cho sáng tạo. Các tác phẩm văn học lớn đều phản ánh hiện thực, số phận con người, và những vấn đề của thời đại. Ví dụ, Nam Cao với tác phẩm Chí Phèo, đã phơi bày bi kịch của người nông dân bị bần cùng hóa, bị xã hội vùi dập, qua đó thể hiện sự gắn bó sâu sắc với cộng đồng, lên tiếng bênh vực những số phận bất hạnh. 2. Cân bằng giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng "Cái đẹp không thể bỏ qua" là mục tiêu hướng tới của nghệ thuật. Văn chương phải là cái đẹp, là sự tinh tế trong ngôn từ, cấu trúc, hình ảnh. Tuy nhiên, cái đẹp đó không phải là sự phù phiếm, thoát ly thực tế mà phải gắn liền với "cộng đồng không thể tách khỏi". Tác phẩm đạt đến cái đẹp chân chính khi nó vừa mang giá trị thẩm mỹ cao, vừa chứa đựng thông điệp nhân văn sâu sắc, phục vụ con người, thức tỉnh lương tri. 3. Trải nghiệm văn học chứng minh Qua các tác phẩm văn học, ta thấy rõ sự tôi luyện của người nghệ sĩ trong mối tương quan này.
  • Văn học hiện thực phê phán: Các nhà văn như Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Ngô Tất Tố (Tắt đèn) đã sử dụng ngòi bút sắc bén để phơi bày những thói hư tật xấu, sự bất công của xã hội, nhằm thức tỉnh cộng đồng. Cái đẹp trong tác phẩm của họ là cái đẹp của sự thật trần trụi, có sức lay động mạnh mẽ.
  • Văn học cách mạng: Các nhà thơ như Tố Hữu (Việt Bắc) đã gắn thơ ca với sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Thơ của ông vừa giàu tính trữ tình, vừa mang tính chính trị sâu sắc, là tiếng nói chung của cộng đồng trong công cuộc giải phóng dân tộc.
4. Bàn luận mở rộng Nhận định của Camus vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay. Người nghệ sĩ hiện đại cần tránh hai khuynh hướng: hoặc quá chú trọng vào cái tôi cá nhân, cái đẹp thuần túy mà xa rời thực tế cuộc sống; hoặc biến nghệ thuật thành công cụ tuyên truyền khô khan, thiếu tính thẩm mỹ. Con đường chân chính của nghệ thuật là sự dung hòa giữa cái đẹp và trách nhiệm xã hội. Kết bài Tóm lại, ý kiến của Albert Camus là một triết lý sâu sắc về nghệ thuật và người nghệ sĩ. Sứ mệnh của người nghệ sĩ không chỉ là sáng tạo ra cái đẹp mà còn là gắn bó mật thiết với cộng đồng, dùng nghệ thuật để phục vụ con người. Sự tôi luyện bản thân trên "quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi" chính là con đường dẫn đến những tác phẩm văn học vĩ đại, có giá trị vượt thời gian.
Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng...
Đọc tiếp

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)

“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng chất dinh dưỡng để lớn lên và thay đổi. Song, tất cả sự thay đổi đó lặng lẽ tới mức, với tôi, cây sồi già trong sân trông vẫn như khi tôi nhìn thấy nó thuở ấu thơ.” (James Lovelock) (1)

Từ văn bản trên, anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận về chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng.

Câu 2. Nghị luận văn học (12,0 điểm)

Trong diễn văn đọc tại lễ bế mạc các hoạt động vinh danh giải Nobel ngày 10 tháng 12 năm 1957 ở Stockholm, A. Camus cho rằng: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”(2)

Bằng trải nghiệm văn học, anh/ chị hãy bàn luận ý kiến trên.

1
2 tháng 10 2025

Câu 1: Nghị luận xã hội (8 điểm)

Chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng


Bài làm:

Con người thường bị cuốn vào những ồn ào, náo nhiệt của cuộc sống, đến mức quên mất rằng sự thinh lặng cũng có thể nói lên rất nhiều điều quan trọng. Trong đoạn văn của James Lovelock, Trái Đất được ví như một cái cây lặng lẽ tồn tại và phát triển một cách âm thầm. Điều đó khiến ta nhận ra: có những thay đổi lớn lao, những câu chuyện sâu sắc không cần lời nói vẫn đang diễn ra ngay bên cạnh chúng ta, trong sự yên tĩnh và tĩnh lặng.

Lắng nghe sự thinh lặng chính là một cách để ta thấu hiểu, cảm nhận sâu sắc hơn về thế giới xung quanh. Sự thinh lặng không phải là khoảng trống, không phải là sự vắng mặt của âm thanh, mà là một trạng thái tích cực, chứa đựng sự sống động và những thông điệp mà tiếng ồn không thể mang lại. Khi ta biết dừng lại, lắng nghe thinh lặng, ta sẽ nhận ra những vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, sự biến đổi của cuộc sống và cả tiếng nói của chính tâm hồn mình.

Trong cuộc sống hiện đại, con người dễ bị cuốn vào guồng quay công việc, công nghệ, xã hội mà quên mất việc dành thời gian để yên tĩnh suy ngẫm, tĩnh tâm. Việc lắng nghe sự thinh lặng không chỉ giúp ta lấy lại cân bằng tinh thần mà còn giúp ta hiểu rõ hơn về bản thân và những giá trị cuộc sống. Sự thinh lặng là nguồn sức mạnh để ta đối diện với khó khăn, là không gian để nuôi dưỡng trí tuệ và lòng nhân ái.

Thực tế, nhiều bậc vĩ nhân, nhà sáng tạo nghệ thuật, nhà tư tưởng đều trân trọng khoảng lặng để sáng tạo và suy nghĩ sâu sắc. Thiên nhiên cũng dạy chúng ta bài học quý giá về sự kiên nhẫn và phát triển bền vững qua sự thinh lặng của cây cối, đất trời. Lắng nghe sự thinh lặng là học cách quan sát, trân trọng những điều nhỏ bé mà bền vững.

Như vậy, trong cuộc sống bộn bề ngày nay, mỗi người cần biết tôn trọng và dành thời gian lắng nghe sự thinh lặng. Đó là con đường dẫn ta đến sự thấu hiểu, cảm thông và yêu thương. Sự thinh lặng không phải là khoảng cách, mà là kết nối sâu sắc với thế giới và chính bản thân mình.


Kết luận:

Lắng nghe sự thinh lặng là nghệ thuật sống, là cách để ta khám phá những giá trị chân thật và trường tồn. Hãy học cách dừng lại, lắng nghe và cảm nhận, để cuộc sống thêm ý nghĩa và sâu sắc hơn.


Câu 2: Nghị luận văn học (12 điểm)

Bàn luận câu nói của A. Camus:
“Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”


Bài làm:

Albert Camus – nhà văn, triết gia lỗi lạc của thế kỷ XX đã đưa ra một quan điểm sâu sắc về người nghệ sĩ và vị trí của họ trong xã hội. Theo ông, người nghệ sĩ không tồn tại tách biệt mà luôn vận động trong mối quan hệ hai chiều: giữa cá nhân với cái đẹp và giữa cá nhân với cộng đồng.

Thứ nhất, cái đẹp không thể bỏ qua là mục tiêu, là lý tưởng mà người nghệ sĩ theo đuổi. Người nghệ sĩ luôn không ngừng tìm kiếm, sáng tạo ra cái đẹp qua tác phẩm của mình – đó có thể là vẻ đẹp thẩm mỹ, vẻ đẹp tư tưởng hay vẻ đẹp nhân văn. Cái đẹp ấy vượt lên trên sự tầm thường, cái đẹp là nguồn cảm hứng và là tiếng nói riêng của người nghệ sĩ, giúp họ khẳng định giá trị và bản sắc cá nhân.

Tuy nhiên, người nghệ sĩ cũng không thể tách rời cộng đồng – nơi họ sinh sống và làm việc. Cộng đồng là nơi cung cấp chất liệu sáng tạo, là đối tượng truyền tải thông điệp, là nguồn cảm hứng và cũng là nơi tác phẩm được đón nhận. Người nghệ sĩ có trách nhiệm phản ánh, phê phán xã hội, góp phần định hướng những giá trị tích cực, đồng thời thấu hiểu, đồng cảm với cuộc sống con người. Nghệ thuật vì thế luôn mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc.

Mối tương quan liên tục giữa cái đẹp và cộng đồng tạo nên một con đường mà người nghệ sĩ phải đi – đó là quãng đường tôi luyện bản thân không ngừng nghỉ. Họ vừa phải giữ vững lý tưởng sáng tạo, vừa phải lắng nghe, giao tiếp và đồng hành với con người và xã hội. Nếu chỉ theo đuổi cái đẹp mà quên cộng đồng, nghệ thuật sẽ trở nên hời hợt, xa rời thực tế; ngược lại, nếu chỉ chú trọng cộng đồng mà thiếu cái đẹp, nghệ thuật sẽ mất đi giá trị thẩm mỹ và chiều sâu nhân văn.

Thực tế trong văn học Việt Nam và thế giới đã có nhiều nghệ sĩ tiêu biểu sống và sáng tạo theo tinh thần này. Họ luôn hướng tới cái đẹp – cái đẹp của sự chân thực, nhân hậu và tự do; đồng thời luôn giữ mối liên hệ mật thiết với đời sống nhân dân, phản ánh những vấn đề xã hội, con người một cách sâu sắc và thuyết phục.

Như vậy, câu nói của A. Camus đã nhấn mạnh sự cân bằng cần thiết trong đời sống nghệ sĩ, giữa cá nhân và xã hội, giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng. Người nghệ sĩ không chỉ là người sáng tạo mà còn là người đồng hành, người truyền cảm hứng và người bảo vệ những giá trị cao đẹp của nhân loại.


Kết luận:

Người nghệ sĩ thực sự là người tôi luyện trong hành trình kết nối giữa chính mình và cộng đồng, giữa cái đẹp không thể bỏ qua và trách nhiệm đối với xã hội. Chỉ khi đó, nghệ thuật mới phát huy được sức mạnh và giá trị đích thực của nó.

Câu 1:

Từ thuở xa xưa thanh niên Việt Nam đã ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình đối với đất nước. Trong thời chiến họ luôn là lực lượng tiên phong trong các phong trào đánh giặc cứu nước, luôn là lực lượng nòng cốt của cách mạng, xả thân vì tổ quốc mà không tiếc thời tuổi trẻ. Vậy chúng ta những thanh niên may mắn được sinh ra trong thời bình, chúng là phải có trách nhiệm như thế nào để gìn giữ và bảo vệ tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng đã được đổi bằng xương máu của biết bao thế hệ đi trước, phải làm gì để xứng đáng hưởng được những thành quả ngày hôm nay. Mỗi chúng ta phải xác định cho mình một lí tưởng sống cao đẹp, phải có ước mơ và hoạch định ra cho mình một kế hoạch cụ thể, phải rèn đức luyện tài, phải hiểu được vai trò đất nước đối với chúng ta, có như vậy chúng ta mới xác định được đúng đắn nhiệm vụ của mình đối với đất nước. Chúng ta ra sức học tập cũng là đang thực hiện nhiệm của của mình với đất nước, nó không phải là một cái gì đó sâu xa như các bạn nghĩ nó chỉ đơn giản là làm tốt bổn phận của mình để phấn đấu trở thành một công dân tốt góp phần xây dựng một đất nước giàu đẹp vững mạnh. Như vậy trách nhiệm của thanh niên ở thời chiến hay thời bình đều do ý thức mỗi con người tuy nhiên nó lại được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau.

Câu 2:

Bàn về kết thúc đoạn trích "Vợ chồng A Phủ"

– Ý kiến thứ nhất: hành động cắt nút dây mây cởi trói cứu A Phủ rồi chạy theo A Phủ của nhân vật Mị thật bất ngờ, đột ngột, không thể dự đoán trước: Đánh giá kết thúc của truyện Vợ chồng A Phủ là bất ngờ với mạch truyện, tâm trạng nhân vật Mị và cả người đọc.

– Ý kiến thứ hai: Đó là là một kết thúc tự nhiên, tất yếu:  ý kiến này nhìn nhận, đánh giá kết thúc của tác phẩm trong mối quan hệ với lô gíc diễn biến tâm trạng nhân vật Mị và mạch vận động tất yếu của đời sống con người: khi bị dồn đẩy đến bước đường cùng, con người sẽ vùng lên tìm ánh sáng cho mình.

Bình luận các ý kiến:

 Cả hai ý kiến đều đúng, không đối lập mà bổ sung cho nhau, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tài năng kể chuyện, miêu tả nội tâm nhân vật của nhà văn Tô Hoài. Đồng thời, ta càng trân trọng hơn .tấm lòng yêu thương, đồng cảm của tác giả đối với người dân nơi đây.

12 tháng 12 2021

-

                                                                               BÀI VĂN VỀ COVID-19   Hình dung hoàn cảnh của họ trong những ngày đối mặt với đại dịch toàn cầu này, em hãy nêu suy nghĩ của mình về những con người nơi tuyến đầu chống dịch ấy bằng một bài văn ngắn (khoảng 200 chữ).Có thể mọi người đã biết vào đầu năm Canh Tý 2020, người dân Trung...
Đọc tiếp

 

                                                                              BÀI VĂN VỀ COVID-19  


 

Hình dung hoàn cảnh của họ trong những ngày đối mặt với đại dịch toàn cầu này, em hãy nêu suy nghĩ của mình về những con người nơi tuyến đầu chống dịch ấy bằng một bài văn ngắn (khoảng 200 chữ).Có thể mọi người đã biết vào đầu năm Canh Tý 2020, người dân Trung Quốc và toàn thế giới đã phải đối mặt với một dịch bệnh vô cùng khủng khiếp mang tên \"Corona\" hay còn gọi là \"Covid-19\"Tính đến ngày hôm nay tức mười lăm tháng hai đã có chính xác một nghìn năm trăm hai mươi sáu ca tử vong, sáu mươi bảy nghìn một trăm ca nhiễm trên toàn thế giới.Đó thực sự là những con số đáng sợ mà chỉ cần nghe đến thôi cũng đã thấy rùng mình rồi.Với tốc độ lây lan nhanh như vậy đương nhiên Việt Nam cũng phải chịu ảnh hưởng không ít.Tất cả các tỉnh đã có tổng cộng mười sáu ca xác định dương tính với virus Covid-19 nhưng may mắn thay đã có 7 bệnh nhân được chữa khỏi.Từ đó, ta mới thấy được trình độ và tác phong làm việc vô cùng tuyệt vời của các bác sĩ Việt Nam khi phải đương đầu với dịch viêm phổi nguy hiểm có thể lây lan cho bất kỳ ai.Họ hi sinh quyền lợi của mình trong mùa dịch, cả ngày mặc đồ bảo hộ chăm sóc bệnh nhân trong khu vực cách ly.Thậm chí có những bác sĩ ở tuyến đầu chống dịch còn chẳng có đủ thời gian ăn uống và nghỉ ngơi, đầu tóc rối bù, mặt in vết khẩu trang.Dầu vậy họ vẫn không quản ngại nguy hiểm, dùng tất cả thời gian sức khoẻ và tâm huyết của mình để cứu giúp bệnh nhân và tuyên truyền những cách phòng dịch hiệu quả để cộng đồng tự bảo vệ sức khoẻ cho chính bản thân họ.Cũng giống với corona, cách đây mười bảy năm đã có một dịch bệnh cướp đi tính mạng của bảy trăm bảy mươi tư người khiến toàn thế giới hoảng loạn mang tên SARS.Chính lúc đó bộ trưởng bộ y tế Trần Thị Trung Chiến đã lập nên kì tích lớn khi chỉ đạo toàn ngành y tế xử lý thành công đại dịch SARS, đưa Việt Nam trở thành nước đầu tiên dập được dịch SARS trên toàn thế giới.Tuy chúng ta chịu một tổn thất lớn khi bốn bác sĩ bệnh viện Việt Pháp đã bị nhiễm trong thời gian chống dịch nhưng những cố gắng và nỗ lực của họ không phải là vô ích khi dịch SARS đã được khống chế hoàn toàn tại Việt Nam.Em thực sự ngưỡng mộ bản lĩnh và trình độ của các bác sĩ Việt Nam khi phải đương đầu với những hiểm hoạ loài người, họ không hề tỏ ra sợ hãi trước dịch bệnh và còn dũng cảm chiến đấu với nó.Lòng tin của em với các bác sĩ vô cùng mạnh mẽ, em tin rằng họ sẽ một lần nữa lập nên kì tích, một lần nữa đẩy lùi virus Covid-19 ra khỏi Việt Nam.

 
14
21 tháng 4 2020

em ko biết

21 tháng 4 2020

Bài văn của bạn rất hay.

( Nhưng chú ý nếu muốn chia sẻ ko liên quan đến những câu hỏi ko làm được thì bạn sẽ để ở trên phần giải trí nhé!! ).

#Học tốt.