Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
- Tự vấn bản thân: Trong những khoảnh khắc yên tĩnh, con người có cơ hội nhìn lại hành động, suy nghĩ, sai lầm và cả những ước mơ của mình. Sự thinh lặng giúp ta trung thực hơn với chính mình.
- Thấu hiểu thế giới xung quanh: Như cái cây của Lovelock, vạn vật trong tự nhiên vận hành trong sự thinh lặng tuyệt đối. Lắng nghe sự thinh lặng giúp ta cảm nhận được nhịp đập của sự sống, sự biến đổi tinh tế của thiên nhiên mà những âm thanh huyên náo thường che lấp.
- Tăng cường sự tập trung và sáng tạo: Khi không bị phân tán bởi tiếng ồn, trí óc con người hoạt động hiệu quả hơn, ý tưởng mới mẻ dễ dàng nảy sinh.
- Văn học hiện thực phê phán: Các nhà văn như Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Ngô Tất Tố (Tắt đèn) đã sử dụng ngòi bút sắc bén để phơi bày những thói hư tật xấu, sự bất công của xã hội, nhằm thức tỉnh cộng đồng. Cái đẹp trong tác phẩm của họ là cái đẹp của sự thật trần trụi, có sức lay động mạnh mẽ.
- Văn học cách mạng: Các nhà thơ như Tố Hữu (Việt Bắc) đã gắn thơ ca với sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Thơ của ông vừa giàu tính trữ tình, vừa mang tính chính trị sâu sắc, là tiếng nói chung của cộng đồng trong công cuộc giải phóng dân tộc.
Câu 1: Nghị luận xã hội (8 điểm)
Chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng
Bài làm:
Con người thường bị cuốn vào những ồn ào, náo nhiệt của cuộc sống, đến mức quên mất rằng sự thinh lặng cũng có thể nói lên rất nhiều điều quan trọng. Trong đoạn văn của James Lovelock, Trái Đất được ví như một cái cây lặng lẽ tồn tại và phát triển một cách âm thầm. Điều đó khiến ta nhận ra: có những thay đổi lớn lao, những câu chuyện sâu sắc không cần lời nói vẫn đang diễn ra ngay bên cạnh chúng ta, trong sự yên tĩnh và tĩnh lặng.
Lắng nghe sự thinh lặng chính là một cách để ta thấu hiểu, cảm nhận sâu sắc hơn về thế giới xung quanh. Sự thinh lặng không phải là khoảng trống, không phải là sự vắng mặt của âm thanh, mà là một trạng thái tích cực, chứa đựng sự sống động và những thông điệp mà tiếng ồn không thể mang lại. Khi ta biết dừng lại, lắng nghe thinh lặng, ta sẽ nhận ra những vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, sự biến đổi của cuộc sống và cả tiếng nói của chính tâm hồn mình.
Trong cuộc sống hiện đại, con người dễ bị cuốn vào guồng quay công việc, công nghệ, xã hội mà quên mất việc dành thời gian để yên tĩnh suy ngẫm, tĩnh tâm. Việc lắng nghe sự thinh lặng không chỉ giúp ta lấy lại cân bằng tinh thần mà còn giúp ta hiểu rõ hơn về bản thân và những giá trị cuộc sống. Sự thinh lặng là nguồn sức mạnh để ta đối diện với khó khăn, là không gian để nuôi dưỡng trí tuệ và lòng nhân ái.
Thực tế, nhiều bậc vĩ nhân, nhà sáng tạo nghệ thuật, nhà tư tưởng đều trân trọng khoảng lặng để sáng tạo và suy nghĩ sâu sắc. Thiên nhiên cũng dạy chúng ta bài học quý giá về sự kiên nhẫn và phát triển bền vững qua sự thinh lặng của cây cối, đất trời. Lắng nghe sự thinh lặng là học cách quan sát, trân trọng những điều nhỏ bé mà bền vững.
Như vậy, trong cuộc sống bộn bề ngày nay, mỗi người cần biết tôn trọng và dành thời gian lắng nghe sự thinh lặng. Đó là con đường dẫn ta đến sự thấu hiểu, cảm thông và yêu thương. Sự thinh lặng không phải là khoảng cách, mà là kết nối sâu sắc với thế giới và chính bản thân mình.
Kết luận:
Lắng nghe sự thinh lặng là nghệ thuật sống, là cách để ta khám phá những giá trị chân thật và trường tồn. Hãy học cách dừng lại, lắng nghe và cảm nhận, để cuộc sống thêm ý nghĩa và sâu sắc hơn.
Câu 2: Nghị luận văn học (12 điểm)
Bàn luận câu nói của A. Camus:
“Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”
Bài làm:
Albert Camus – nhà văn, triết gia lỗi lạc của thế kỷ XX đã đưa ra một quan điểm sâu sắc về người nghệ sĩ và vị trí của họ trong xã hội. Theo ông, người nghệ sĩ không tồn tại tách biệt mà luôn vận động trong mối quan hệ hai chiều: giữa cá nhân với cái đẹp và giữa cá nhân với cộng đồng.
Thứ nhất, cái đẹp không thể bỏ qua là mục tiêu, là lý tưởng mà người nghệ sĩ theo đuổi. Người nghệ sĩ luôn không ngừng tìm kiếm, sáng tạo ra cái đẹp qua tác phẩm của mình – đó có thể là vẻ đẹp thẩm mỹ, vẻ đẹp tư tưởng hay vẻ đẹp nhân văn. Cái đẹp ấy vượt lên trên sự tầm thường, cái đẹp là nguồn cảm hứng và là tiếng nói riêng của người nghệ sĩ, giúp họ khẳng định giá trị và bản sắc cá nhân.
Tuy nhiên, người nghệ sĩ cũng không thể tách rời cộng đồng – nơi họ sinh sống và làm việc. Cộng đồng là nơi cung cấp chất liệu sáng tạo, là đối tượng truyền tải thông điệp, là nguồn cảm hứng và cũng là nơi tác phẩm được đón nhận. Người nghệ sĩ có trách nhiệm phản ánh, phê phán xã hội, góp phần định hướng những giá trị tích cực, đồng thời thấu hiểu, đồng cảm với cuộc sống con người. Nghệ thuật vì thế luôn mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc.
Mối tương quan liên tục giữa cái đẹp và cộng đồng tạo nên một con đường mà người nghệ sĩ phải đi – đó là quãng đường tôi luyện bản thân không ngừng nghỉ. Họ vừa phải giữ vững lý tưởng sáng tạo, vừa phải lắng nghe, giao tiếp và đồng hành với con người và xã hội. Nếu chỉ theo đuổi cái đẹp mà quên cộng đồng, nghệ thuật sẽ trở nên hời hợt, xa rời thực tế; ngược lại, nếu chỉ chú trọng cộng đồng mà thiếu cái đẹp, nghệ thuật sẽ mất đi giá trị thẩm mỹ và chiều sâu nhân văn.
Thực tế trong văn học Việt Nam và thế giới đã có nhiều nghệ sĩ tiêu biểu sống và sáng tạo theo tinh thần này. Họ luôn hướng tới cái đẹp – cái đẹp của sự chân thực, nhân hậu và tự do; đồng thời luôn giữ mối liên hệ mật thiết với đời sống nhân dân, phản ánh những vấn đề xã hội, con người một cách sâu sắc và thuyết phục.
Như vậy, câu nói của A. Camus đã nhấn mạnh sự cân bằng cần thiết trong đời sống nghệ sĩ, giữa cá nhân và xã hội, giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng. Người nghệ sĩ không chỉ là người sáng tạo mà còn là người đồng hành, người truyền cảm hứng và người bảo vệ những giá trị cao đẹp của nhân loại.
Kết luận:
Người nghệ sĩ thực sự là người tôi luyện trong hành trình kết nối giữa chính mình và cộng đồng, giữa cái đẹp không thể bỏ qua và trách nhiệm đối với xã hội. Chỉ khi đó, nghệ thuật mới phát huy được sức mạnh và giá trị đích thực của nó.
1, nghị luận
2, Tác dụng: nhấn mạnh thông điệp mà văn bản muốn truyền đạt đó là vai trò của hy vọng đối với đời sống tinh thần của mỗi con người.
3,
Tác giả cho rằng "hy vọng duy trì cuộc sống của chúng ta mà không có gì có thể thay thế được" bởi vì hy vọng chính là những niềm tin vào những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, là những niềm tin vững chắc vào những điều tuyệt vời sẽ xảy ra. Chính vì vậy, nhờ có hy vọng mà con người dù trong hoàn cảnh tồi tệ và tối tăm nhất vẫn sẽ luôn vững tin và có sức mạnh để tiếp tục nỗ lực và vượt qua được những thử thách chông gai. Nói cách khác, hy vọng chính là nguồn sức mạnh tinh thần của mỗi người trong cuộc sống.
4,
Thông điệp mà em tâm đắc nhất chính là "đừng bao giờ đánh mất hy vọng". Bởi vì hy vọng chính là nguồn sức mạnh giúp mỗi cá nhân vượt qua những thử thách, chông gai và mở ra con đường cho mỗi người định hướng trong tương lai. Nhờ có hy vọng mà con người vẫn tích cực và hạnh phúc sống dù trong hoàn cảnh bế tắc vì còn hy vọng là còn sức mạnh tinh thần để đạt được điều mà mình mong muốn.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.
Câu 2: Lí do để nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương đó là lời nói của ba: Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”
Câu 3: Việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa:
- Khi chúng ta dạy cho con cái mình những điều tốt đẹp, chúng sẽ mang những điều tốt đẹp đó để cư xử với tất cả mọi người xung quanh và dạy dỗ thế hệ sau.
- Những điều tốt đẹp ấy sẽ lan tỏa, có sức ảnh hưởng tích cực đến muôn đời sau.
- Làm tăng ý nghĩa, tính triết lí cho văn bản.
- Làm tăng sức thuyết phục, tin cậy cho nội dung mà tác giả muốn gửi gắm.
Câu 4:
- Trong cuộc đời mỗi người luôn có nhiều người thầy nhưng cha mẹ luôn là người thầy đầu tiên của con.
- Mỗi chúng ta sẽ cảm thấy ấm áp và hạnh phúc vô cùng khi được học những điều bình dị từ chính người cha yêu quý của mình. Cha luôn là người dành cả tình yêu thương và tấm lòng bao la của tình phụ tử thiêng liêng để chỉ bảo ta trên đường đời.
- Bài học từ người thầy đầu tiên ấy là điều vô cùng quý giá, sẽ để lại dấu ấn sâu sắc và gợi nhiều kỉ niệm để nhớ về trên chặng đường sau này.
Dưới đây là gợi ý trả lời cho các câu hỏi đọc hiểu dựa trên đoạn trích từ tác phẩm Nếu biết trăm năm là hữu hạn của Phạm Lữ Ân:
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
- Phương thức biểu đạt chính: Tự sự kết hợp với nghị luận.
- Đoạn trích kể lại câu chuyện về lời dạy của ba dành cho nhân vật "tôi" (tự sự), đồng thời thể hiện quan điểm, suy nghĩ về giá trị của sự chính trực và tình yêu thương (nghị luận).
Câu 2: Vì sao nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương?
- Nhân vật "tôi" muốn trở thành người chính trực và biết yêu thương vì ba mẹ đã dạy rằng dù con có sai lầm, ba mẹ vẫn yêu thương con vô điều kiện.
- Nhưng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành người chính trực và biết yêu thương.
- Lời dạy đó là động lực và lí do duy nhất để nhân vật "tôi" quyết tâm trở thành người như vậy.
Câu 3: Theo em, việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa gì?
- Câu trích nhấn mạnh tính liên tục của việc giáo dục và truyền lại giá trị đạo đức qua các thế hệ.
- Việc dạy con không chỉ ảnh hưởng đến con cái mà còn ảnh hưởng đến cả các thế hệ tiếp theo (cháu chắt).
- Điều này thể hiện trách nhiệm và tầm quan trọng của việc giáo dục con cái trong gia đình.
Câu 4: Em rút ra được thông điệp gì từ những câu văn sau:
“Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.”
- Thông điệp:
- Sự học hỏi từ người thân, đặc biệt là từ cha mẹ, có ý nghĩa sâu sắc và đặc biệt hơn so với việc học từ người khác.
- Những bài học đời thường, kỹ năng sống khi được truyền đạt từ người thân yêu mang giá trị tinh thần và tình cảm lớn lao.
- Mối quan hệ gắn bó, sự tin tưởng và tình cảm gia đình làm cho việc học trở nên ý nghĩa và đáng trân trọng hơn.
Nếu bạn cần mình giải thích thêm hoặc hỗ trợ làm bài tập khác, cứ hỏi nhé!
câu1
Biển đảo – Nơi mà hàng triệu người đang luôn bảo vệ. Biển đảo là một phần máu thịt của Tổ quốc, vì vậy có muôn vàn trái tim ngày đêm hướng về biển đảo, dành tình yêu cho những người lính biển cùng các chiến sĩ, các lực lượng ngày đêm bảo vệ chủ quyền biển đảo nước nhà. Những tưởng biển đảo bình yên với những con sóng nhẹ xô bờ, thế nhưng những ngày tháng này cả nước vẫn đang chống chịu với cơn sóng ngầm, bão giông, sóng gió chưa bao giờ lặng im trên mảnh đất xanh của Tổ quốc … Là một học sinh, bản thân em luôn mang trong tim tình yêu biển đảo, tình yêu và lòng khâm phục tới những người lính biển, những ngư dân chân chất nơi đảo xa. Có chút chạnh lòng, xót xa, lo lắng khi biển xanh dậy sóng,… em mong rằng biển đảo sẽ bình yên, rạng rỡ nụ cuoiw
Để bảo vệ chủ quyền biển đảo, trước hết thanh niên và thanh niên học sinh nói riêng phải xác định phải giữ biển đảo bằng tri thức về chủ quyền biển đảo. Chúng ta cần nghiên cứu và nhận thức sâu sắc về ý nghĩa thiêng liêng chủ quyền biển đảo và giá trị to lớn chủ quyền mà ông cha ta đã đổ xương máu để xây dựng; về lịch sử Việt Nam đặc biệt là lịch sử địa lý liên quan đến chủ quyền biển đảo, về lịch sử hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa… tìm hiểu rõ chính sách ngoại giao nhất quán của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề biển Đông. Thanh niên cần hưởng ứng và tích cực tham gia các diễn đàn hợp pháp trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên internet, khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên các diễn đàn, đồng thời kịch liệt lên án và đấu tranh tham gia ngăn chặn các hành vi xâm phạm phạm chủ quyền biển đảo Việt Nam. Thanh niên là hậu phương chỗ dựa tình cảm vững chắc đối với các lính biển đảo, bằng những việc làm thiết thực như gửi thư đến các lính hải đảo để chia sẻ động viên và tiếp sức cho các anh thêm nghị lực để trông giữ biển đảo. Điều quan trọng, thanh niên cần không ngừng tu dưỡng phẩm chất người Việt Nam mới, tích cực tham gia xây dựng đất nước giàu mạnh, có định hướng lý tưởng yêu nước và đoàn kết để tạo nên sức mạnh bảo vệ chủ quyền biển đảo. Bên cạnh đó, mỗi người chúng ta cần sẵn sàng chuẩn bị tinh thần tham gia trực tiếp vào công cuộc giữ gìn biển đảo quê hương bằng tất cả những gì mình có thể.
Biển đảo Việt Nam là một phần lãnh thổ thiêng liêng không thể tách rời của Tổ quốc được cha ông truyền lại. Trách nhiệm của tuổi trẻ nói riêng là ra sức gìn giữ toàn vẹn phần lãnh thổ này như lời Bác Hồ năm xưa đã dặn “các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước
Câu 2
Truyện ngắn “ Vợ nhặt” của Kim Lân được sáng tác sau cách mạng tháng Tám nhưng lấy bối cảnh là nạn đói năm 1945. Đặt trong bối cảnh ra đời của tác phẩm, nhà văn đã làm toát lên tấm long yêu thương, đùm bọc lẫn nhau và khát vọng hạnh phúc của những người người khổ. Vẻ đẹp nhân bản ấy được tác giả xây dựng thành công ở hình tượng nhân vật “bà cụ Tứ” – mẹ anh Tràng- người “nhặt vợ”.Bà cụ Tứ trước hết là người mẹ nghèo khổ đã già yếu với cái lưng “long khòng”, khẽ mắt “lèm nhèm “,”khuôn mặt bủng beo, u ám “. Những hành động cử chỉ của cụ “nhấp nháy hai con mắt”,”chậm chạp hỏi”, “lập cập bước đi”, “lật đật:, “lễ mễ” cũng thể hiện cụ là một người đã già, không còn khỏe mạnh. Hơn nữa người phụ nữ ấy còn bị đặt trong hoàn cảnh nghèo nàn, đói khổ mà cụ nói “ cuộc đời cực khổ dài đằng đẵng”.
Trong tác phẩm, bà cụ Tứ chỉ xuất hiện ở giữa truyện khi anh Tràng đưa vợ về nhà, nhưng nhân vật này vẫn thu hút được sự quan tâm của người đọc bởi những vẻ đẹp tâm hồn, tính cách.
Trong người mẹ già nua, đói khổ ấy có một tình yêu thương dành cho con cái sâu sắc. Cụ thương người con trai của mình “cảm thấy ai oán xót thương cho số phận đứa con mình”. Trong kẽ mắt kèm nhàm của cụ rỉ ra hai dòng nước mắt. Cụ đã sớm lo lắng cho cuộc sống tương lai của đứa con mình” không biết chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua cơn đói này không”. Bà còn dành tình yêu thương cho người con dâu mới của mình. Bà nhìn thị nghĩ :”Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này người ta mới lấy con mình, con mình mới có vợ được”. Đó là tấm lòng người mẹ không khinh rẻ mà tỏ ra thông cảm thấu hiểu hoàn cảnh con dâu, thậm chí bà còn cho đó là may mắn của con trai mình, gia đình mình khi có con dâu mới. Điều đo chứng tỏ bà cụ Tứ rất hiểu mình, hiểu người. Tình yêu thương còn thể hiên qua những lời nói của bà cụ dành cho con “Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi may ra ông giời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời?…". Bà nói với con dâu bằng lời của một người từng trải – vừa lo lắng, vừa thương xót, đồng thời động viên con bằng triết lý dân gian”ai giàu ba họ ai khó ba đời, hướng con tới tương lai tươi sáng. "… Năm nay thì đói to đấy. Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá…". Câu nói thể hiện tấm long thương xót cho số phận của những đứa con. Và để ngày vui của các con thêm trọn vẹn, sáng hôm sau cụ” xăm xắn quét tước nhà cửa”. Hành động giản dị thôi nhưng thể hiện tấm lòng người mẹ tuy nghèo nhưng hết lòng thương yêu con. Và thế là đám cưới không nghi lễ, không đón đưa của đôi vợ chồng trẻ được chan đầy bằng tình yêu thương và tấm long lo lắng của người mẹ nghèo.
Nhân vật bà cụ Tứ bị đặt trong hoàn cảnh éo le, qua đó ta thấy được tinh thần lạc quan của người mẹ già yếu, tuy sắp đến độ gần đất xa trời nhưng luôn hướng về tương lai thể hiện qua những hành động và lời nói. Cụ tin vào triết lý dân gian: ai giàu ba họ ai khó ba đời- lạc quan về một ngày mai tươi sáng.Cụ đồng tình khi thấy Tràng thắp đèn mặc dù cụ biết lúc đó dầu rất đắt, dầu là thứ xa xỉ. Nếu để ý ta sẽ thấy chính bà lão “gần đất xa trời”này lại là người nói về tương lai nhiều nhất” cụ nói toàn chuyện vui, chuyện sung sướng về sau. Đó không đơn thuần chỉ là niềm lạc quan của người lao động mà còn là ước mơ về cuộc sống có phần tươi sáng hơn cho các con. Bà cụ trông cũng” tươi tỉnh khác hẳn ngày thường”. Chính tâm trạng vui tươi phấn khởi của người mẹ già đã làm sáng lên cái không gian u ám và góp phần vào ngày vui trọng đại của cuộc đời người con trai. Sáng hôm sau cụ xăm xắn quét dọn nhà cửa, đó là những công việc sinh hoạt thường ngày nhưng đặt trong hoàn cảnh này, hành động quét dọn làm nhà cửa trông sạch sẽ, tinh tươm hơn giống như cụ đang muốn tự tay quét đi những tăm tối của ngày cũ và đón chờ những điều tươi sáng hơn. Và hình ảnh người mẹ già, cười đon đả: “Cám đây mày ạ, hì. Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem. Xóm ta khối nhà chả có cám mà ăn đấy", cứ quẩn quanh, ám ảnh tâm chí người đọc. Cái lạc quan không những không bị mất đi mà lại càng trở nên mãnh liệt hơn trong mưa nắng cuộc đời. Trong buổi sáng đầu tiên đón tiếp nang dâu mới, nồi cháo cám “ chát xít, nghẹn bứ trong miệng” mà ngon ngọt trong long, ngọt bởi tâm lòng người mẹ nghèo đang cố xua đi cái không khí ảm đạm bằng thái độ lạc quan và sự tươi tỉnh động viên con cố gắng vượt qua hoàn cảnh. Nhưng sự thật là vị đắng ngắt của cháo cám và tiếng thúc thuế từ xa vọng lại đã không làm niềm vui nhỏ của những con người nghèo khổ cất cánh lên được.
Bằng tài năng và tấm lòng đồng cảm sâu sắc, Kim Lân đã dựng lên “hình ảnh chân thật và cảm động về người mẹ nông dân nghèo khổ trong trận đói khủng khiếp năm 1945". Nhân vật bà cụ Tứ được khắc họa chủ yếu qua sự vận động trong nội tâm nhân vật. Ngoài ra, qua những lời nói, cử chủ, hành động của nhân vật ta cũng có thể cảm nhận được tấm lòng yêu thương con sâu sắc. Ở bà cụ Tứ thấp thoáng hình ảnh của nhân vật lão Hạc, của mẹ Dần, vợ chồng Dần ( Nam Cao) những người nông dân nghèo nhưng chỉ sống vì con, hết lòng yêu thương con. Dẫu chỉ là một nhân vật phụ nhưng bằng tài năng, và tình cảm thiết tha trừu mến đối với tấm lòng người mẹ nghèo, Kim Lân đã khắc họa được chân dung nhân vật vừa sinh động, chân thực, vừa cảm động, day dứt với người đọc. Chính những hành động, lời nói của cụ, nụ cười trên khuôn mặt bủng beo u ám đã làm sáng bừng thiên truyện sau cái tối tăm, cái bế tắc của đói nghèo. Ý nghĩa nhân bản mà nhà văn muốn gửi gắm qua nhân vật này là con người dù có đặt vào hoàn cảnh khốn cùng, cận kề cái chết nhưng vẫn không mất đi những giá trị tinh thần và phẩm chất tốt đẹp: lòng yêu thương con người và thái độ lạc quan hi vọng vào tương lai tươi sáng dù cho chỉ có một tia hi vọng mỏng manh. Kim Lân đã khám phá và thể hiện thành công điều đó ở nhân vật bà cụ Tứ. qua đó thể hiện rõ tấm lòng nhân hậu , bao dung, tình yêu thương con của bà cụ Tứ
Vợ nhặt của Kim Lân là một trong những tác phẩm xuất sắc và tiêu biểu nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại khi viết về chủ đề người nông dân dưới xã hội cũ, đặc biệt là trong giai đoạn đau thương nhất của đất nước. Tuy nhiên trong tác phẩm nội dung chính mà tác giả muốn đề cập đến không phải là phản ánh, tố cáo hiện thực mà là tấm lòng trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp trong tâm hồn con người, cùng với sức mạnh của tình người, tình thân trong gia định đã trở thành cơ sở cho những khát vọng sống, niềm hy vọng và tin tưởng vào tương lai mãnh liệt ngay trong những hoàn cảnh khốn cùng nhất. Bên cạnh hai nhân vật là Tràng và thị với những nét phẩm chất riêng, thì nhân vật cụ Tứ lại hiện lên với vẻ đẹp của tình mẫu tử, thương con sâu sắc.
Giữa nạn đói hoành hành năm 1945, hàng triệu đồng bào ta phải chịu chết đói, nhiều người phải lìa xa quê cha đất tổ đi tha hương cầu thực nơi xứ người, mẹ con bà cụ Tứ là một trong số đó. Bà cụ là một phụ nữ nông dân nghèo khổ, có lẽ rằng cả cuộc đời bà đã phải chịu nhiều đắng cay vất vả, bởi lẽ cả cuộc đời bà nằm trọn trong những ngày tháng đất nước chất chứa nhiều đau thương, lầm than dưới chế độ thực dân nửa phong kiến. Cả cuộc đời bà dành để kiếm từng đồng, từng hào chắt bóp nuôi con khôn lớn, cho đến khi tuổi đã gần đất xa trời, bà cụ tội nghiệp vẫn không được hưởng những ngày tháng sung sướng. Thay vào đó cụ vì già cả, ốm yếu phải sống dựa vào đứa con trai là anh Tràng với một công việc bấp bênh, bữa đói bữa no, và bên ngoài kia thần chết đang chực chờ những con người khốn khổ, cùng đường vì cái đói, trong đó có cả hai mẹ con bà cụ Tứ. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt như vậy tình mẫu tử của bà cụ lại càng hiện lên rõ rệt, cả đời làm lụng nuôi con khôn lớn, đến khi Tràng đã lớn khôn thì bà cụ lại sầu khổ vì không kiếm nổi cho con một tấm vợ, một người đàn bà đỡ đần hôm sớm. Tất cả chỉ tại bà nghèo quá, người ta cưới vợ khi có của ăn của để, khi ăn nên làm ra, còn bà lại chẳng có gì trong tay thành thử phải tội con bà cô đơn lẻ bóng. Mà có khi đến lúc mà mất đi thì đứa con trai tội nghiệp lại phải chịu cảnh côi cút một mình trên đời. Điều ấy làm bà cụ Tứ tủi phận nhiều lắm.
Cho đến một hôm thấy Tràng dẫn một người phụ nữ lạ mặt về nhà, trong lòng bà cụ nổi lên biết bao nhiêu là cớ sự thắc mắc, thế nhưng bà không hề tỏ ra bối rối mà quay sang nhìn con tỏ ý không hiểu, để chờ Tràng giải thích, để cho Tràng có cơ hội được phân trần câu chuyện, chứ không lên tiếng trách móc. Đó là tấm lòng của một người mẹ trải đời, thương con bằng một tình thương dịu dàng, săn sóc. Rồi đến khi đã rõ sự mười mươi, bà cụ "hiểu ra bao nhiêu là cớ sự" rồi thì bà im lặng, những dòng suy nghĩ chảy trôi, quẩn quanh liên tục bên ngoài cái sự việc con bà lấy vợ, một người vợ theo không. Nhưng không chần chừ quá lâu, bà cụ Tứ đã sống trên cuộc đời này ngót nghét vài chục năm trời đằng đẵng, có cái khổ, cái sự lạ nào mà bà không hiểu thấu. Đứng trên vai trò là một người mẹ có tấm lòng thương con sâu sắc, bà hiểu được chuyện anh Tràng lấy vợ âu cũng là chuyện hợp tình hợp lý, bởi Tràng đã đến cái tuổi ấy lâu lắm rồi. Thế nhưng vừa nghĩ thông chuyện này thì bà cụ lại chợt nghĩ đến chuyện khác, bao nhiêu mối lo toan bỗng đổ dồn về lòng người mẹ già tội nghiệp, bà thương con "ai oán xót thương cho số kiếp con trai mình", cũng lại tủi cho phận người làm mẹ, nhưng không thể lo nổi cho con một cái đám cưới, dựng vợ gả chồng tử tế cho con, để nó phải tự thân đi kiếm về một người vợ. Càng nghĩ bà lại càng lấy làm buồn lòng, xúc động "trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai hàng nước mắt". Ấy rồi ăn ở với nhau như thế "biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau qua cơn đói khát này không", là những suy nghĩ quẩn quanh trong lòng bà cụ Tứ. Một người mẹ thương con không nề hà, trách mắng con mình tự tiện cưới gả, bởi bà hiểu phận mình và phận con, bà chỉ lo lắng mãi chuyện cuộc sống tương lai của hai vợ chồng Tràng, sợ con chịu khổ cực, rồi đương không lại liên lụy cả người khác nữa. Cái đám cưới chớp nhoáng khác thường này đem đến cho cụ niềm vui có dâu con, nhưng cũng lại mang đến cho bà biết bao nhiêu trăn trở, rối rắm. u cũng là lòng người mẹ yêu thương và suy nghĩ cho con trăm bề. Cuối cùng sau khi đã đi qua những xúc động, buồn tủi, bà cụ Tứ đã nhanh chóng vực lại tinh thần, thông suốt mọi vấn đề rằng "Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này, người ta mấy lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được. Thôi bổn phận bà là mẹ, bà đã chẳng lo lắng được cho con...Chẳng may ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế nào mà lo cho hết được?". Bà nhanh chóng thấu hiểu và thông cảm cho hoàn cảnh đáng thương của thị, đồng thời lòng bà đã dấy lên những tình cảm thương yêu người con dâu mới về. Bà nhẹ nhàng giục thị ngồi xuống, rồi nhỏ nhẹ khuyên giải, nhắc nhở động viên, vun vén vào cho hai vợ chồng Tràng, dặn dò họ cách ăn ở với nhau bằng những lời phấn khởi "Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời?". Mặc dầu rằng trong lòng bà vẫn còn trăm mối tơ vò cảm xúc, nhưng không vì thế mà bà làm các con bối rối, mất vui, bà quyết giữ cho riêng bà những lo lắng, những buồn tủi để cho đôi tân nhân một sự động viên trước khi bước vào cuộc đời mới.
Sau đêm tân hôn của vợ chồng Tràng, căn nhà tàn tạ dưới đôi bàn tay của mẹ chồng nàng dâu bỗng trở nên sáng sủa lạ thường, thấy được những đức tính tốt đẹp, sự cẩn thận chu đáo của thị và cụ mừng lắm "cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên". Trong bữa cơm sáng, dẫu rằng mâm cơm ngày đói kém trông thật thảm hại với mớ rau chuối thái mỏng và cháo loãng thế nhưng không khí trong nhà vẫn rất vui vẻ đầm ấm. Bà cụ thương con, thương dâu, thành thử bà cố xua đi cái nghèo đói đang hiện hữu trước mắt cặp tân nhân bằng cách liên tục kể những chuyện vui, kế hoạch làm ăn, nuôi gà, mở ra trước mắt những tương lai tốt đẹp đầy hy vọng. Đặc biệt người mẹ nghèo khó còn chiêu đãi con trai và con dâu bằng một nồi "chè khoán", mà thực tế đó là là cháo cám để mừng tân hôn. Dù vị của món ăn này vô cùng cùng khó ăn thế nhưng đó là cả tấm lòng của một người mẹ thương con, bà cụ tội nghiệp vì nghèo xác xơ không lấy gì để làm cỗ làm bàn, thế nên chỉ còn cách cố kiếm cho được ít cám về nấu làm món ăn đổi bữa. Ở một nét suy diễn sâu xa nào đó thì nồi cháo cám còn mang ý nghĩa là lời nhắc nhở của cụ Tứ dành cho các con về những ngày gian khó đang chờ đợi trước mắt, hy vọng rằng vợ chồng Tràng vẫn được vững lòng như ngày hôm nay, ăn nồi cháo cám đắng ghét, nghẹn ứ nơi cổ họng mà vẫn cảm thấy vui vẻ hạnh phúc.
Nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt là một hình tượng tiêu biểu cho những bà mẹ Việt Nam xưa, cả cuộc đời hy sinh sinh vì con cái, yêu thương con sâu sắc bằng những tình cảm thấu hiểu, bao dung và vị tha. Dù rằng bà sống trong cảnh nghèo khó tột cùng, thế nhưng với sự từng trải của mình bà vẫn giành lấy được những sự lạc quan, vui vẻ trong cuộc sống, trở thành kim chỉ nam hướng vợ chồng Tràng đến một tương lai tươi sáng, tốt đẹp hơn.
mày đừng so sánh tao với nó\n_vì nó là chó còn tao là người\n_Mày đừng bật cười khi nghe điều đó\n_vì cả mày và nó đều chó như nhau
Phần I
Câu 1:
Văn bản tập trung vào vấn đề nghị luận bàn về niềm tin vào bản thân, nỗ lực phấn đấu không bỏ cuộc để vượt qua những khó khăn, thác ghềnh bằng tự lực để chinh phục thành công.
Câu 2:
Biện pháp ẩn dụ:"thác ghềnh, chông gai trên đường" vì tác giả so sánh những chướng ngại vật trên đường đi hàng ngày của mỗi người cũng giống như những khó khăn, gian nan trên đường đời mỗi người phải trải qua để thành công.
Câu 3:
Tác giả đưa hai dẫn chứng về Walt Disney và Helen Keller là để làm dẫn chứng thuyết phục cho vấn đề cần nghị luận của mình đó là đã có những tấm gương gặp muôn vàn khó khăn trắc trở trong cuộc sống nhưng họ không buông xuôi hay dựa dẫm vào người khác mà biết cách đứng dậy sau vấp ngã và thành công.
Câu 4:
Em đồng ý với quan điểm:"Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ là học từ người khác". Những người đi trước và câu chuyện xoay quanh sự thành bại của họ chính là những bài học quý báu cho người sau. Những con người đi trước và thành công sau 1 quá trình gian nan đó chính là những bằng chứng sống để người đời sau tin tưởng vào mình dù có trải qua bao thác ghềnh, chông gai.
Phần II
Có một câu chuyện ngụ ngôn mà hồi bé chúng ta hay được nghe kể về cuộc đua của rùa và thỏ, con thỏ nhanh nhẹn nhưng lại tự phụ, xem thường đối thủ,tuy con rùa chậm chạp nhưng lại nỗ lực không ngừng, kết quả ai cũng biết, con rùa đã thắng con thỏ. Xuyên suốt câu truyện Rùa và Thỏ là ý chí của con rùa, nó không đầu hàng trước những thất bại. Rõ ràng, con thỏ có năng lực nhưng ý chí lại không tốt bằng con rùa, nó vẫn có thể về đến được vách đích nhưng con rùa vẫn chiến thắng nó,đó cũng là sự biểu trưng cho quyết tâm và ý chí của con rùa . Cũng có người từng nói “ Không phải đời người quá khó khăn, mà là do bạn nỗ lực chưa đủ”. Từ câu chuyện trên và câu nói trên, chúng ta có thể thấy được ý chí đóng 1 vai trò cực kì quan trọng trong mỗi bước tiến đến con đường thành công của mỗi con người.
Sức mạnh, trí tuệ hay thiên phú chỉ góp phần nào cho sự khác biệt giữa những người thành công và những người thất bại, nhưng hơn thế nữa quyết định chủ yếu là ở ý chí. Vậy ý chí hay sự quyết tâm là gì mà nó lại đóng góp không nhỏ vào chính cuộc đời chúng ta? Ý chí, nghị lực là ý thức, tính tự giác, mạnh mẽ, quyết tâm dồn nén sức lực, trí tuệ để đạt được tiêu chí, mục đích. Ý chí cũng là phẩm chất tâm lí đặc trưng của con người, thể hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có nỗ lực khắc phục khó khăn.Ngay từ những điều đơn giản nhất trong cuộc sống, bạn được giao một công việc trong nhiều ngày, nhưng bạn đã cố gắng, tập trung để hoàn thành trước thời hạn và nhận thêm một việc làm mới, từ đó năng suất làm việc, hiệu quả công việc và sự tin tưởng từ người giao việc cũng từ đó tăng theo. Chỉ từ một sự quyết tâm nhỏ ấy thôi mà cũng kéo theo được vô cùng nhiều giá trị và lợi ích không chỉ đối với bản than mà còn đối với những người xung quanh chúng ta. Ý chí như thôi thúc bản thân mỗi chúng ta, như tiếp thêm cho ta phần nào sức mạnh để ngày càng tới gần hơn mục tiêu đã đề ra. Câu chuyện được minh chứng bởi Thomas Edison – nhà phát minh tài ba của thế kỉ XX, hơn 10.000 lần thất bại để đem được ánh sáng đến với nhân loại, nếu không có ông thì dường như việc bóng đèn xuất hiện với thế giới sẽ bị đẩy lùi đi mười mấy năm, rõ ràng, chính ý chí quyết tâm của Edison đã khiến con đường của nền văn minh hiện đại của con người trở nên ngắn lại.
Ý chí giúp chúng ta toàn sức tập trung vào mục tiêu bằng cách ngăn cản các suy nghĩ không liên quan khác xảy đến. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ hoàn thành công việc một cách nhanh chóng và hiểu quả. Chủ tịch Hồ chí đã nói:
“Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên”
Câu nói này càng như khẳng định vai trò quan trọng và to lớn của sức mạnh ý chỉ và quyết tâm, đáng sợ nhất không phải là những người có tài năng thiên bẩm mà là những người có nghị lực vươn lên. Ý chí rèn luyện bản thân sự quyết đoán và nhạy bén trong mọi vấn đề cuộc sống từ đó thúc đẩy hành trình của bản thân trở nên tinh gọn. Nghị lực là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với bản thân mỗi người, tuy nhiên không phải ai cũng nhận ra được giá trị cốt lõi của nó. Trái ngược với những người có ý chí là những người thờ ơ, không đủ quyết tâm, nhụt trí trước những thử thách cuộc sống. Giới trẻ bây giờ không ít người chưa làm đã vội bỏ cuộc, thấy khó khăn đã nản chí, gặp thất bại thì hủy hoại và sống bất cần đời. Những người như thế thật đáng chê trách. Là học sinh, chúng ta cần khẳng định tư cách, ý chí, nghị lực vượt qua những khó khăn thử thách .Tài năng của con người được tạo bởi nhiều yếu tố. Trong đó yếu tố tự rèn là yếu tố quan trọng nhất để đi đến thành công. Để thấy mình không thấp hơn người khác, bản thân phải có sự lao động chăm chỉ, cần cù, không chùn bước trước gian nguy, phải biết tự tin vào chính bản thân trên bước đường đời.
Nhìn chung, một lần nữa cần phải khẳng định lại giá trị của câu nói “ Ý chí tốt làm con đường ngắn lại”. Ý chí mang đến thành công và giúp ta chinh phục mọi khó khăn trên con đường gập ghềnh phía trước. Những con người thành công và nổi tiếng nhất đều là những người có ý chí rất mạnh mẽ.Vậy nên việc rèn luyện và giữ vững một ý chí kiên cường luôn là điều tất yếu trên chặng đường của cuộc đời


Dưới đây là gợi ý chi tiết trả lời từng câu hỏi trong phần Đọc hiểu:
Câu 1: Chỉ ra những lí lẽ tác giả sử dụng để lí giải cho quan điểm “Cuộc phiêu lưu để tự khám phá bản thân không những lâu dài, mà phải lâu dài.”
Câu 2: Tác giả khuyên chúng ta nên có thái độ sống như thế nào trong quá trình khám phá bản thân?
Câu 3: Nêu tác dụng của việc sử dụng kiểu câu phủ định ở hai câu văn:
“Mình sẽ không bao giờ tới được, không bao giờ đạt được, bạn ạ.”
“Có lẽ phải nghĩ rằng mình không bao giờ đạt được thì cuộc đời mới thực sự có ý nghĩa.”
Câu 4: Nhận xét cách sử dụng các bằng chứng của tác giả trong đoạn trích.
Câu 5: Từ sự khẳng định của tác giả về ý nghĩa cuộc đời, anh/chị hãy rút ra những bài học về lẽ sống cho bản thân (khoảng 7 – 8 dòng).
Cuộc sống là một hành trình dài không ngừng học hỏi và khám phá bản thân. Tôi nhận thấy rằng không nên tự mãn với những gì mình đạt được mà cần luôn giữ tinh thần cầu tiến, không ngừng hoàn thiện mình. Việc chấp nhận rằng không thể đạt tới giới hạn cuối cùng giúp tôi có thêm động lực để cố gắng hơn mỗi ngày. Dù gặp khó khăn, thử thách, tôi sẽ kiên trì và không ngừng học hỏi như những nhà khoa học và doanh nhân thành đạt đã làm. Hơn hết, tôi hiểu rằng ý nghĩa cuộc đời không nằm ở việc sở hữu vật chất mà ở chính quá trình phấn đấu và trau dồi bản thân. Vì vậy, tôi sẽ sống tích cực, biết quý trọng thời gian và không ngừng khám phá chính mình.
Bạn muốn mình giúp viết chi tiết câu trả lời nào không?
Câu 1: Con người không thể hiểu hết bản thân trong thời gian ngắn, vì bản thân luôn thay đổi theo trải nghiệm sống . Việc khám phá bản thân là một hành trình suốt đời, gắn với thử thách, thất bại và trưởng thành . Chỉ khi không ngừng tìm kiếm, trải nghiệm, con người mới dần nhận ra giá trị và ý nghĩa của cuộc sống
Câu 2: Tác giả khuyên chúng ta nên có thái độ kiên nhẫn, cởi mở và dũng cảm trong quá trình khám phá bản thân; chấp nhận việc chưa hoàn hảo, sẵn sàng trải nghiệm và không nản chí trước những giới hạn của chính mình
Câu 3: Việc sử dụng kiểu câu phủ định “không bao giờ tới được, không bao giờ đạt được” có tác dụng
Nhấn mạnh tính không giới hạn của hành trình khám phá bản thân. Tạo giọng điệu suy ngẫm, giàu tính triết lí. Khẳng định rằng chính quá trình không ngừng vươn tới, chứ không phải đích đến, mới làm nên ý nghĩa cuộc đời
Câu 5: em nhận ra rằng cuộc sống có ý nghĩa khi con người không ngừng khám phá chính mình. Hành trình ấy đòi hỏi sự kiên nhẫn và bền bỉ, không thể nóng vội hay bỏ cuộc giữa chừng. Mỗi trải nghiệm, dù thành công hay thất bại, đều giúp ta hiểu rõ hơn về bản thân. Việc không bao giờ đạt đến sự hoàn hảo khiến con người luôn có động lực vươn lên. Chính quá trình tìm kiếm ấy làm cho cuộc sống trở nên sâu sắc. Vì vậy, em sẽ sống tích cực và dám thử thách bản thân.
Câu 4: tác giả sử dụng bằng chưng hợp lí và giàu sức thuyết phục.
Câu 1:
Những lý lẽ tác giả dùng để lý giải cho quan điểm: cuộc phiêu lưu để tự khám phá bản thân không những lâu dài, mà phải lâu dài là : vì không bao giờ ta hiểu hết được chính mình, phiên bản nào cũng là duy nhất.
Câu 2:
Tác giả khuyên chúng ta nên có thái độ sống tích cực, không ngừng tiến lên, không ngừng học hỏi, dám thử thách bản thân và chấp nhận việc không bao giờ “đạt tới điểm cuối” trong hành trình khám phá chính mình.
Câu 3:
Tác dụng của việc sử dụng kiểu câu phủ định ở hai câu văn: Mình sẽ không bao giờ tới được, không bao giờ đạt được, bạn ạ. Có lẽ phải nghĩ rằng mình không bao giờ đạt được thì cuộc đời mới thực sự có ý nghĩa là nhấn mạnh mạnh mẽ tính vô hạn của hành trình khám phá bản thân. Cuộc đời nằm ở quá trình đi tới chứ không phải ở việc đạy được đích đến. Tác dụng làm cho câu văn thêm sinh động, tăng sức gợi hình gợi cảm, hấp dẫn, giúp người đọc hiểu được hành trình khám phá bản thân.
Câu 4:
Tác giả sử dụng bằng chứng cụ thể, tiêu biểu và thuyết phục, kết hợp với so sánh gần gũi giúp lập luận trở nên sinh động, dễ hiểu và tăng sức thuyết phục cho quan điểm.
Câu 5:
Từ khẳnh định của tác giả tôi rút ra được bài học về lẽ sống cho bản thân rằng là không ngừng học hỏi mọi thứ, tích cực trong cuộc sống và hoàn thiện bản thân. Ta không nên sống vội vàng để rồi đạt được thành công rồi lại dừng lại, mà ta hãy trân trọng mọi chặng đường ta đã đi qua. Mỗi trải nghiệm dù thành công hay thất bại nó cũng sẽ là một bài học để giúp ta sau này thành công hơn trong mọi việc và giúp ra hiểu mình hơn. Sống với tinh thần cầu tiến sẽ giúp con người trưởng thành hơn. Chính hành trình ấy tạo nên giá trị và ý nghĩa đích thực của cuộc sống.
Câu 1: Tác giả lí giải rằng cuộc phiêu lưu khám phá bản thân phải lâu dài vì con người không bao giờ hiểu hết chính mình. Mỗi người là một thế giới riêng, phong phú và phức tạp, không ai giống ai nên việc nhận thức bản thân luôn mở ra những điều mới. Chính vì vậy, con người cần không ngừng học hỏi, tiến lên và khám phá giới hạn của mình suốt cả cuộc đời.
Câu 2: Trong quá trình khám phá bản thân, tác giả khuyên con người cần có thái độ sống tích cực và chủ động. Mỗi người nên không ngừng tiến lên, học hỏi và hoàn thiện chính mình, không bằng lòng với những gì đã đạt được. Đồng thời, cần dám đối diện với giới hạn của bản thân, coi đó là động lực để tiếp tục cố gắng, bởi chính hành trình nỗ lực không ngừng ấy mới làm cho cuộc sống trở nên có ý nghĩa
Câu 3 “Mình sẽ không bao giờ tới được, không bao giờ đạt được, bạn ạ. Có lẽ phải nghĩ rằng mình không bao giờ đạt được thì cuộc đời mới thực sự có ý nghĩa.” Việc sử dụng kiểu câu phủ định trong hai câu văn có tác dụng nhấn mạnh quan niệm sống của tác giả rằng con người không bao giờ đạt tới sự hoàn hảo tuyệt đối. Cách diễn đạt này tạo ấn tượng mạnh, gợi suy ngẫm cho người đọc về ý nghĩa của hành trình sống. Từ đó, tác giả khẳng định chính việc không ngừng vươn lên, dù biết không bao giờ đạt đến đích cuối cùng, mới làm cho cuộc đời thực sự có giá trị.
Câu 4:Tác giả sử dụng dẫn chứng một cách tiêu biểu và thuyết phục khi nhắc đến những nhân vật nổi tiếng như Albert Einstein và Steve Jobs. Đây đều là những con người có trí tuệ và thành công lớn, nhưng vẫn không ngừng học hỏi và khám phá bản thân. Cách đưa dẫn chứng cụ thể, xác thực và phù hợp với nội dung nghị luận đã làm cho lập luận của tác giả trở nên rõ ràng, sinh động và tăng sức thuyết phục cho quan điểm được nêu ra.
câu 5:Từ đoạn trích, em rút ra bài học sâu sắc về lẽ sống của bản thân. Con người cần nhận thức rằng việc khám phá và hoàn thiện chính mình là một hành trình dài, không có điểm dừng. Vì vậy, mỗi người không nên tự mãn với những gì đã đạt được mà phải luôn giữ tinh thần học hỏi, cầu tiến và nỗ lực vươn lên. Đồng thời, cần dũng cảm đối diện với những hạn chế, thất bại của bản thân để biến chúng thành động lực phát triển. Và từ đó, em hiểu rằng ý nghĩa của cuộc sống không nằm ở việc đạt tới sự hoàn hảo tuyệt đối, mà ở quá trình không ngừng cố gắng sống tốt hơn, có trách nhiệm hơn với bản thân và xã hội mỗi ngày.
câu
C1 : -Tác giả cho rằng " Mỗi con người là một thế giới phong phú, phức tạp , chẳng có ai giống ai phiên bản nào cũng là duy nhất ". Điều này ngụ ý rằng việc hiểu hết được sự phong phú và phức tạp đó là một quá trình không ngừng nghỉ .
- Quan điểm " không bao giờ ta có thể hiểu hết được chính mình "trực tiếp chỉ ra rằng khám phá bản thân là một quá trình rất khó khăn .
C2 :- Không ngừng tiến lên:" Hãy đi tới và đi tới mãi hãy tiến lên và tiến lên mãi , hãy học hỏi và học hỏi mãi" ." Và hãy cố tìm hiểu giới hạn của chính mình "; "Có thể nghĩ rằng mình không bao giờ đạt được thì cuộc đời mới thật sự có ý nghĩa " thái độ này khuyến khích sự nỗ lực liên tục
C3 : -Nhấn mạnh tính vô hạn : Nó nhấn mạnh tính chất không có điểm dừng , không có đích đến trong hành trình khám phá bản thân và hoàn thiện bản thân mình
- Gây ấn tượng mạnh mẽ: Câu phủ định rất khoát tạo ra sự chú ý và bắt buộc người đọc phải suy ngẫm về ý nghĩa sâu xa mà tác giả muốn truyền tải .
C4:- Tính xác thực cao: Các bằng chứng đều là những sự kiện có thật khiến lập luận của tác giả trở nên đáng tin cậy và sức hấp dẫn.
C5: Lẽ sống đích thực không nằm ở việc tích lũy vật chất hay danh vọng cuối cùng mà còn nằm ở sự trải nghiệm và nỗ lực không ngừng của bản thân mình . Tuổi trẻ là giai đoạn vàng để ta dấn thân, dám thử thách , dám sai và học hỏi từ mỗi lần thất bại.Thay vì đặt mục tiêu phải "đạt được" một cách tuyệt đối,ạ cần trân trọng hành trình tìm tòi giới hạn của chính mình, luôn giữ ngọn lửa đam mê học tập và cống hiến . Ý nghĩa cuộc đời sẽ tự hiển lộ khi ta sống trọn vẹn trong từng khoảnh khắc nỗ lực vươn lên , chứ không phải khi ta đã dừng lại ở vạch đích.
Câu 1.
Tác giả cho rằng con người không bao giờ hiểu hết chính mình; mỗi người là một thế giới phong phú, phức tạp và luôn biến đổi, nên việc khám phá bản thân phải kéo dài suốt đời.
Câu 2.
Tác giả khuyên con người sống cầu tiến, không tự mãn, luôn học hỏi, tiến lên và không ngừng khám phá giới hạn của bản thân.
Câu 3.
Kiểu câu phủ định được dùng để nhấn mạnh rằng con người không bao giờ đạt đến điểm hoàn hảo, từ đó làm nổi bật ý nghĩa của hành trình sống và học hỏi không ngừng.
Câu 4.
Tác giả sử dụng dẫn chứng tiêu biểu, cụ thể (Einstein, Steve Jobs), giúp lập luận thuyết phục và tăng sức tin cậy cho quan điểm.
Câu 5.
Đoạn trích giúp tôi hiểu rằng cuộc sống chỉ thật sự có ý nghĩa khi ta luôn học hỏi và hoàn thiện bản thân. Không nên tự mãn với những gì đã đạt được. Mỗi ngày cần cố gắng tiến lên một chút. Khám phá bản thân là hành trình dài lâu. Biết trân trọng thời gian sống. Sống chủ động và có mục tiêu. Luôn nỗ lực để sống tốt hơn mỗi ngày. phải cố gắng từng ngày cho cuộc sống có ý nghĩa hơn .
Câu 1.
Những lí lẽ tác giả sử dụng để lí giải cho quan điểm “Cuộc phiêu lưu để tự khám phá bản thân không những lâu dài, mà phải lâu dài” là:
• Con người không bao giờ hiểu hết chính mình.
• Mỗi con người là một thế giới phong phú, phức tạp, không ai giống ai.
• Mỗi cá nhân là một phiên bản duy nhất, luôn biến đổi và phát triển theo thời gian.
Câu 2.
Tác giả khuyên chúng ta nên có thái độ sống:
• Không thỏa mãn với hiện tại, luôn tiến lên phía trước.
• Không ngừng học hỏi, khám phá và vượt qua giới hạn của bản thân.
• Sống chủ động, kiên trì và cởi mở trước những trải nghiệm mới trong hành trình khám phá chính mình
Câu 3.
Tác dụng của việc sử dụng kiểu câu phủ định trong hai câu văn là:
• Nhấn mạnh quan điểm sống không dừng lại ở đích đến hay thành công cuối cùng.
• Tạo ấn tượng mạnh, gây suy ngẫm cho người đọc.
• Khẳng định ý nghĩa của cuộc đời nằm ở quá trình nỗ lực, phấn đấu không ngừng chứ không phải ở việc “đạt được” một cách tuyệt đối
Câu 4.
Tác giả sử dụng bằng chứng đa dạng, cụ thể và thuyết phục:
• Dẫn chứng gần gũi từ đời sống (trận bóng đá).
• Dẫn chứng từ những nhân vật nổi tiếng (Albert Einstein, Steve Jobs).
→ Những bằng chứng này vừa thực tế vừa có sức gợi, giúp làm rõ và tăng tính thuyết phục cho quan điểm về ý nghĩa cuộc đời.
Câu 5
Từ suy ngẫm của tác giả, tôi nhận ra rằng ý nghĩa cuộc đời nằm ở quá trình nỗ lực không ngừng. Con người cần luôn học hỏi, khám phá và vượt qua giới hạn của bản thân. Không nên tự mãn với những gì đã đạt được mà phải tiếp tục tiến lên. Mỗi trải nghiệm đều giúp ta hiểu mình hơn và trưởng thành hơn. Vì vậy, hãy sống chủ động và trân trọng hành trình phấn đấu của chính mình
Câu 1: lí lẽ : con người không thể hiểu hết bản thân trong thời gian ngắn, việc khám phá bản thân là một hành trình gắn với cả cuộc đời, qua trình tìm kiếm mới tạo nên ý nghĩa sống chứ không phải điểm đến cuối cùng
Câu 2: Tác giả khuyên chúng ta nên có thái độ sống: Kiên nhẫn, bền bỉ trong hành trình khám phá chính mình. Khiêm nhường, không tự mãn hay vội cho rằng đã “hiểu hết” bản thân. Dám dấn thân, chấp nhận thử thách và cả những giới hạn của chính mình
Câu 3. Tác dụng của kiểu câu phủ định trong hai câu văn: Nhấn mạnh cảm giác không đạt tới điểm tận cùng, không có sự hoàn hảo tuyệt đối. Tạo giọng điệu trăn trở, suy tư, giúp lập luận sâu sắc hơn. Làm nổi bật quan điểm: ý nghĩa cuộc đời nằm ở quá trình nỗ lực, chứ không phải kết quả cuối cùng.
Cau 4. Bằng chứng mang tính trải nghiệm cá nhân, gần gũi và chân thực. Không cầu kỳ, không liệt kê, nhưng giàu sức gợi và thuyết phục. Phù hợp với kiểu văn bản nghị luận mang màu sắc triết lí suy ngẫm.
Câu 5. Từ quan điểm của tác giả, có thể thấy rằng con người cần sống kiên trì và không ngừng hoàn thiện chính mình. Cuộc đời không phải là hành trình để đạt đến sự hoàn hảo, mà là quá trình dấn thân, trải nghiệm và học hỏi. Ta không nên vội thất vọng khi chưa đạt được điều mong muốn, bởi chính những nỗ lực ấy đã làm nên ý nghĩa sống. Biết chấp nhận giới hạn của bản thân giúp ta sống khiêm nhường hơn và trân trọng từng bước đi trong cuộc đời. Quan trọng nhất là luôn giữ tinh thần khám phá và không ngừng tìm đường cho chính mình.
câu 1 : Tác giả sử dụng các lí lẽ
• Con người không bao giờ hiểu hết chính mình.
• Mỗi con người là một thế giới phong phú,phức tạp,độc nhất vô nhị .
• Nếu mọi thứ đạt được quá sớm thì cuộc đời sẽ trở nên nhàm chán, mất ý nghĩa.
Câu 2 :
Tác giả khuyên chúng ta nên có thái độ sống " luôn tiến lên, không tự mãn" , không ngừng học hỏi, khám phá giới hạn của bản thân để hoàn thiện chính mình.
Câu 3 :
Câu phủ định "không bao giờ tới được","không bao giờ đạt được" có tác dụng nhấn mạnh rằng con người không thể đạt đến sự hoàn hảo tuyệt đối, gợi suy nghĩ sâu sắc về ý nghĩa của hành trình sống và nỗ lực không ngừng, tăng sức thuyết phục, tạo ấn tượng mạnh với người đọc.
câu 4 :
Tác giả sử dụng các bằng chứng cụ thể, tiêu biểu và xác thực. Những dẫn chứng vừa gần gũi vừa nổi tiếng, giúp lập luận rõ ràng,sinh động và có tính thuyết phục cao.
câu 5:
Từ quan điểm của tác giả, em rút ra rằng cuộc sống có ý nghĩa khi con người không ngừng học hỏi và khám phá bản thân. Ta không nên tự mãn với những gì đã đạt được mà cần tiếp tục tiến lên. Việc chấp nhận rằng mình chưa hoàn hảo giúp ta có động lực để cố gắng mỗi ngày. Hành trình sống dài lâu chính là cơ hội để trưởng thành và hiểu rõ chính mình hơn. Cuộc đời chỉ thực sự có giá trị khi ta sống trọn vẹn với đam mê và nỗ lực không ngừng.
Câu 1.
Những lí lẽ tác giả dùng để lí giải cho quan điểm “Cuộc phiêu lưu để tự khám phá bản thân không những lâu dài mà phải lâu dài”:
Câu 2.
Thái độ sống tác giả khuyên chúng ta nên có trong quá trình khám phá bản thân:
Câu 3.
Tác dụng của việc sử dụng kiểu câu phủ định trong hai câu văn:
“Mình sẽ không bao giờ tới được, không bao giờ đạt được, bạn ạ…”
Câu 4.
Nhận xét cách sử dụng bằng chứng của tác giả:
Câu 5.
Từ quan niệm của tác giả về ý nghĩa cuộc đời, tôi nhận ra rằng con người cần không ngừng học hỏi và khám phá chính mình. Cuộc sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi ta luôn tiến về phía trước, dám thử thách và vượt qua giới hạn bản thân. Không nên tự mãn hay hài lòng với những gì đã đạt được, bởi mỗi chặng đường đều mở ra những cơ hội mới. Việc học hỏi suốt đời giúp con người trưởng thành hơn cả về tri thức lẫn nhân cách. Tôi hiểu rằng hành trình khám phá bản thân là hành trình dài lâu và đáng trân trọng. Vì thế, tôi sẽ sống chủ động, nỗ lực từng ngày để hoàn thiện chính mình.
câu1
tác giả
Câu 1 Những lí lẽ tác giả sử dụng là khẳng định việc khám phá bản thân
Câu 2 Tác giả khuyên chúng ta có thái độ sống tích cực , kiên nhẫn và bền bỉ trong quá trình khám phá bản thân
Câu 3 Tác dụng của kiểu câu phủ định ở hai câu văn trên là nhấn mạnh chúng ta không thể đat được mục tiêu chắc chắn, tạo ra sự tương phản giữa không đạt được mục tiêu và ý nghĩa trong cuộc sống
Câu 4 Tác giả sử dụng bằng cách chứng minh một cách linh hoạt và phù hợp với nội dung của đoạn trích
Câu 5 Từ sự , khẳng định của tác giả về ý nghĩa cuộc đời , chúng ta có thể rút ra bài học về lí lẽ sông cho bản thân và chúng ta cần kiên nhẫn và bền bỉ trong quá trình khám phá bản thân và tìm kiếm ý nghĩa của cuộc sống , cần có thái độ tích cực và lạc quan, tin tưởng và khả năng bản thân , cần suy nghĩ sâu sắc về ý nghĩa cuộc sống và quá trình khám phá bản thân