Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
- Trong đoạn chỉ có một lời dẫn trực tiếp là phần lời thoại (được thể hiện bằng những gạch đầu dòng)
- Lời dẫn gián tiếp đặt sau dấu hai chấm
- Các phần in đậm còn lại là lời kể, không phải lời dẫn
- Nhân vật “thằng lớn” phải dùng từ có lẽ để thông báo cho người đọc biết những ý nghĩ, suy đoán khi không chắc chắn
Ngôn ngữ là linh hồn của dân tộc, phản ánh rõ nét bản sắc văn hóa và truyền thống của mỗi quốc gia. Giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc không chỉ là bảo vệ sự phong phú, đa dạng của từ vựng mà còn là một cách duy trì bản sắc và truyền thống dân tộc. Khi xã hội phát triển, ngôn ngữ không thể tránh khỏi những ảnh hưởng từ ngoại lai, đặc biệt là tiếng Anh. Tuy nhiên, nếu sử dụng quá nhiều từ ngữ nước ngoài, chúng ta dễ dàng làm suy yếu ngôn ngữ mẹ đẻ, khiến cho thế hệ trẻ không hiểu rõ nguồn gốc, ý nghĩa của từ ngữ trong tiếng Việt. Vì vậy, mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần ý thức được tầm quan trọng của việc sử dụng tiếng Việt trong sáng, đúng đắn trong giao tiếp hằng ngày. Các cơ quan, trường học cũng cần có những hoạt động khuyến khích học và sử dụng tiếng Việt, đồng thời bảo vệ những giá trị tinh hoa của ngôn ngữ, tránh tình trạng lai tạp, làm nghèo ngôn ngữ. Khi chúng ta giữ gìn tiếng Việt, chính là bảo vệ một phần không thể thiếu của di sản văn hóa dân tộc.
Câu 2: Phân tích nội dung và nghệ thuật của bài thơ "Tiếng Việt của chúng mình trẻ lại trước mùa xuân"
Bài thơ "Tiếng Việt của chúng mình trẻ lại trước mùa xuân" của Phạm Văn Tình là một tác phẩm thể hiện tình yêu sâu sắc đối với tiếng Việt, đồng thời cũng là lời nhắc nhở về việc bảo vệ và phát huy vẻ đẹp của ngôn ngữ dân tộc. Nội dung bài thơ được thể hiện qua hình ảnh tiếng Việt từ quá khứ đến hiện tại, luôn gắn liền với những giá trị văn hóa, lịch sử của dân tộc.
Bài thơ mở đầu bằng cách khắc họa sự trường tồn của tiếng Việt từ những ngày đầu dựng nước, qua những hình ảnh mang đậm dấu ấn lịch sử như "mang gươm mở cõi dựng kinh thành", "vó ngựa hãm Cổ Loa". Tiếng Việt đã đồng hành cùng dân tộc qua bao thế hệ, từ những trận chiến oai hùng đến những giai thoại văn học như bài Hịch, hay những tác phẩm bất hủ như "Truyện Kiều". Tác giả không chỉ nhắc lại những hình ảnh của quá khứ mà còn gợi nhớ về những giá trị văn hóa lâu dài, xuyên suốt của tiếng Việt trong việc truyền bá những lời dạy của Bác Hồ.
Đến phần giữa bài, tiếng Việt được miêu tả như là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân, là "tiếng mẹ", "tiếng em thơ", là âm thanh của những lời ru, câu hát dân ca thân thuộc. Tiếng Việt trở thành biểu tượng của sự gắn bó, tình yêu thương giữa các thế hệ. Tác giả cũng nhấn mạnh rằng tiếng Việt không chỉ mang trong mình một quá khứ vĩ đại mà còn có thể “trẻ lại” trong những dịp Tết, qua lời chúc mừng, thiệp thăm thầy mẹ, như một sự tái sinh, tiếp nối qua thời gian.
Phần cuối bài thơ, Phạm Văn Tình sử dụng hình ảnh thiên nhiên rất sinh động: "Bánh chưng xanh, xanh đến tận bây giờ", "Bóng chim Lạc bay ngang trời". Đây là những biểu tượng mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng là hình ảnh ẩn dụ cho sự sống mãnh liệt của tiếng Việt qua từng giai đoạn lịch sử, dù có biến đổi nhưng vẫn giữ nguyên được những giá trị cốt lõi, đậm đà bản sắc.
Về mặt nghệ thuật, bài thơ sử dụng nhiều biện pháp tu từ, đặc biệt là phép nhân hóa và ẩn dụ. Tiếng Việt được tác giả ví như một sinh thể sống, luôn thay đổi và phát triển nhưng không bao giờ mất đi bản chất. Các hình ảnh thơ phong phú, từ những chi tiết lịch sử đến những hình ảnh thiên nhiên, đều góp phần làm nổi bật chủ đề bài thơ, làm cho người đọc cảm nhận sâu sắc tình yêu và niềm tự hào đối với tiếng Việt.
Tóm lại, bài thơ "Tiếng Việt của chúng mình trẻ lại trước mùa xuân" không chỉ là một lời ca ngợi vẻ đẹp của ngôn ngữ mà còn là lời kêu gọi mọi người gìn giữ và phát huy tiếng Việt trong cuộc sống hiện đại, để tiếng Việt mãi vững vàng và trẻ trung trước mọi thử thách thời gian.
a.
- Câu (1), (2): sử dụng phép nối (từ "nhưng")
- Câu (2), (3): sử dụng phép liên tưởng
- Câu (3), (4): sử dụng phép lặp (từ "con đường")
- Câu (4), (5): sử dụng phép liên tưởng.
b.
- Phép thế: "Phù Đổng Thiên Vương", "tráng sĩ", "người trai làng Phù Đổng".
- Phép nối: "tuy thế".
c. Phép liên tưởng: Có khói lửa, hơi nóng là do cháy nổ.
d.
- Phép lặp: từ "y".
- Phép nối: từ "nhưng", "bởi vì".
a. /Những/ ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. /Nhưng/ mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đi đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã. /Buổi mai/ hôm ấy, một /buổi mai/ đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên /con đường/ làng dài và hẹp. /Con đường/ này tôi đã /quen/ đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên thấy /lạ/. Cảnh vật xung quanh tôi đều t/hay đổi/, vì chính lòng tôi đang có sự t/hay đổi/lớn: hôm nay, tôi đi học.
(Thanh Tịnh)
b. Nghe chuyện /Phù Đổng Thiên Vương/, tôi tưởng tượng đến một /trang nam nhi/ sức vóc khác người, nhưng tâm hồn còn thô sơ, giản dị, như tâm hồn tất cả mọi người thời xưa. /Tráng sĩ/ ấy gặp lúc quốc gia lâm nguy đã xông pha ra trận đem sức khỏe mà đánh tan giặc, nhưng bị thương nặng. Tuy thế người trai làng Phù Đổng vẫn còn ăn một bữa cơm...
(Nguyễn Đình Thi)
c. Đồn địch dưới thấp còn cách xa gần bốn trăm thước đang/cháy/ thật, tre nứa nổ lốp bốp như cả cái thung lũng đang nổ cháy. /Khói lửa /dày đặc không động đậy dưới, mà bốc ngọn mỗi lúc một cao, ngùn ngụt, gió tạt về phía đồi chỉ huy vàng rực, chói lòe trong nắng, hơi nóng bốc lên tận những đỉnh núi bố trí.
(Trần Đăng)
d. Mỗi tháng, y vẫn cho nó dăm hào. Khi sai nó trả tiền giặt hay mua thức gì, còn năm ba xu, một vài hào, y thường cho nốt nó luôn. Nhưng cho rồi, y vẫn thường tiếc ngấm ngầm. Bởi vì những số tiền cho lặt vặt ấy, góp lại, cho một tháng, có thể thành đến hàng đồng.
Câu 1
Văn bản sử dụng ngôi kể thứ nhất( người kể chuyện xưng tôi)
âu 1 (0,5 điểm):
Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất (xưng “tôi”).
→ Tác dụng: Giúp câu chuyện trở nên chân thực, gần gũi; người kể trực tiếp bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ, từ đó làm nổi bật ý nghĩa và bài học của câu chuyện.
Câu 2 (0,5 điểm):
Chi tiết thể hiện sự yêu quý dành cho con nhồng: Bà tôi quỳ xuống trước cái xác của nó, trong ánh đèn dầu tôi thấy hai giọt nước mắt của bà.
Câu 3 (1,0 điểm):
Câu văn sử dụng cách dẫn trực tiếp.
Dấu hiệu nhận biết: Lời nói được đặt trong dấu ngoặc kép: “Thôi, thôi thôi!”.
Câu 4 (1,0 điểm):
Qua câu chuyện về con nhồng, tác giả muốn gửi đến người đọc bài học: Không nên nghe theo lời đồn đại, phải tìm hiểu sự việc rõ ràng trước khi nói hay kết luận; đồng thời nhắc nhở con người biết yêu thương, trân trọng những sinh linh nhỏ bé.
Câu 5 (1,0 điểm):
Em đồng ý với lời dặn của người bà. Vì nếu không hiểu rõ sự việc mà nói theo người khác sẽ dễ gây hiểu lầm, làm tổn thương người khác, thậm chí gây ra hậu quả đáng tiếc. Mỗi người cần có chính kiến và trách nhiệm với lời nói của mình
…
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2.
Đề tài: Cảnh bến đò trong một ngày mưa.
Câu 3.
Biện pháp tu từ điệp từ “mưa” được lặp lại nhiều lần tạo âm hưởng trầm buồn, nhấn mạnh không gian ướt át, lạnh lẽo, góp phần làm nổi bật vẻ vắng vẻ, hiu quạnh của bến đò ngày mưa.
Câu 4.
Bức tranh bến đò ngày mưa được miêu tả qua các hình ảnh: tre rũ rượi, chuối bơ phờ, dòng sông trôi rào rạt, con thuyền đậu trơ vơ, bến vắng, quán hàng không khách, bác lái ghé buồm hút điếu, bà hàng ho sặc sụa, người đi chợ đội mưa… Những hình ảnh ấy gợi cảm giác ảm đạm, lạnh lẽo, buồn vắng nhưng rất chân thực và gần gũi.
Câu 5.
Qua bức tranh bến đò ngày mưa, bài thơ gợi lên tâm trạng buồn man mác, trầm lắng, một nỗi cô đơn, hiu quạnh trước cảnh vật thấm đẫm mưa.
⸻
II. PHẦN VIẾT
Câu 1 (khoảng 200 chữ):
Bài thơ “Bến đò ngày mưa” gợi lên một cảm hứng chủ đạo là nỗi buồn man mác trước cảnh vắng lặng của thiên nhiên và con người. Xuyên suốt bài thơ là không gian mưa bao phủ mọi cảnh vật: tre rũ rượi, chuối bơ phờ, dòng sông rào rạt, con thuyền trơ vơ. Những hình ảnh ấy không chỉ tả thực mà còn gợi cảm giác lạnh lẽo, hiu quạnh. Con người xuất hiện trong mưa với dáng vẻ lặng lẽ: bác lái ghé buồm hút điếu, bà hàng ho sặc sụa, người đi chợ đội mưa cúi đầu. Nhịp thơ chậm, đều càng làm nổi bật sự tĩnh lặng, trầm buồn của bến đò. Qua đó, bài thơ thể hiện sự đồng điệu giữa cảnh và tình: cảnh mưa buồn thấm vào lòng người, gợi nên nỗi cô đơn, suy tư. Chủ đề của bài thơ là khắc họa vẻ đẹp trầm lắng của một bến đò quê trong ngày mưa, qua đó bộc lộ tâm trạng buồn thương, da diết của tác giả trước cảnh đời giản dị.
⸻
Câu 2 (khoảng 400 chữ):
Quê hương có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cuộc đời mỗi con người. Đó không chỉ là nơi ta sinh ra và lớn lên mà còn là cội nguồn nuôi dưỡng tâm hồn, hình thành nhân cách và nâng đỡ ta trên suốt hành trình trưởng thành.
Trước hết, quê hương là nơi lưu giữ những kỉ niệm ấu thơ trong trẻo nhất. Những con đường làng, bến nước, cánh đồng hay tiếng ru của mẹ đều trở thành hành trang tinh thần quý giá. Chính từ môi trường sống đầu tiên ấy, mỗi người học được cách yêu thương, sẻ chia và biết trân trọng những điều giản dị. Quê hương vì thế góp phần hình thành bản sắc riêng của mỗi cá nhân.
Không chỉ vậy, quê hương còn là điểm tựa tinh thần vững chắc. Khi thành công, ta muốn trở về để chia sẻ niềm vui; khi thất bại, ta cũng tìm về nơi ấy để được chở che, an ủi. Tình yêu quê hương tiếp thêm động lực để con người nỗ lực học tập, lao động, mong muốn đóng góp cho nơi mình sinh ra ngày càng giàu đẹp hơn.
Tuy nhiên, trong nhịp sống hiện đại, có người dần thờ ơ với cội nguồn, chạy theo những giá trị vật chất mà quên đi nơi chôn rau cắt rốn. Điều đó khiến con người dễ đánh mất bản sắc và trở nên lạc lõng. Vì vậy, mỗi chúng ta cần ý thức gìn giữ và phát huy truyền thống quê hương bằng những hành động thiết thực như học tập tốt, sống có trách nhiệm và góp phần xây dựng cộng đồng.
Quê hương là gốc rễ của mỗi đời người. Dù đi đâu, về đâu, tình yêu quê hương vẫn luôn âm thầm chảy trong tim, trở thành nguồn sức mạnh bền bỉ nâng đỡ ta suốt cuộc đời.