K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

ĐỀ 2

Câu 1: Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thông tin

Câu 2: Đề tài chính của văn bản là tình hình tai nạn giao thông ở Việt Nam năm 2023 và giải pháp giảm thiểu

Câu 3. Nội dung bao quát của văn bản là phản ánh thực trạng tai nạn giao thông nghiêm trọng tại Việt Nam trong năm 2023, nguyên nhân chủ yếu là do ý thức người tham gia giao thông còn kém, và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng văn hóa giao thông an toàn, văn minh để giảm thiểu tai nạn.

Câu 4: Văn bản nêu rõ các hành vi thiếu ý thức như: không đội mũ bảo hiểm, vượt đèn đỏ, sử dụng rượu bia khi điều khiển phương tiện là nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn giao thông. Những hành vi này xuất phát từ cá nhân nhưng lại để lại hậu quả nghiêm trọng cho cả bản thân và xã hội, như hơn 6.000 người tử vong trong năm 2023. Điều đó cho thấy mỗi hành vi nhỏ của cá nhân nếu thiếu ý thức đều có thể gây ra hậu quả lớn.

Câu 5. Bài học rút ra từ thông điệp của văn bản là mỗi người dân cần nâng cao ý thức chấp hành luật giao thông, xây dựng văn hóa giao thông văn minh, an toàn. Chỉ khi mỗi cá nhân có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng thì mới có thể giảm thiểu tai nạn giao thông, bảo đảm an toàn tính mạng và tài sản.

Câu 6: Em hoàn toàn đồng tình với quan điểm “văn hóa giao thông bắt đầu từ mỗi người” vì:

+Văn hóa giao thông không tự nhiên mà có, mà được hình thành từ hành vi và ý thức của từng cá nhân trong xã hội. Như văn bản đã chỉ rõ, phần lớn tai nạn là do người dân vi phạm luật giao thông, thiếu ý thức khi điều khiển phương tiện.

+Nếu mỗi người tự giác chấp hành luật, cư xử văn minh khi tham gia giao thông thì sẽ tạo nên một môi trường giao thông an toàn, trật tự, góp phần bảo vệ chính mình và người khác.

II.VIẾT

Trong kho tàng văn học trung đại Việt Nam, Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ là một tác phẩm đặc sắc, để lại dư âm sâu lắng trong lòng người đọc. Không chỉ là một câu chuyện cảm động về người phụ nữ hiền thục, tác phẩm còn là bản cáo trạng đanh thép lên án những bất công của xã hội phong kiến và thể hiện khát vọng nhân đạo, công lý của con người.

Tác phẩm kể về Vũ Nương – một người phụ nữ xinh đẹp, nết na, sống thủy chung và giàu đức hy sinh. Khi chồng ra trận, nàng một mình gánh vác gia đình, chăm sóc mẹ chồng đau yếu, nuôi con thơ trong cảnh cô đơn, khổ cực. Nhưng cũng chính vì một lời nói ngây thơ của con trẻ và tính đa nghi, độc đoán của chồng – Trương Sinh – mà nàng bị nghi oan, bị đẩy đến bước đường cùng, phải trẫm mình xuống sông để minh chứng cho tấm lòng trong sạch.

Bi kịch của Vũ Nương không chỉ là câu chuyện của riêng nàng, mà là hình ảnh điển hình cho số phận hàng nghìn người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Dù sống đức hạnh, tận tụy đến đâu, họ vẫn dễ dàng bị tổn thương, chà đạp bởi định kiến và quyền lực nam giới. Thông qua nhân vật Trương Sinh – người đàn ông gia trưởng, thiếu học thức, luôn coi trọng danh dự cá nhân hơn tình nghĩa vợ chồng – tác giả đã phơi bày rõ mặt trái của xã hội đương thời, nơi mà giá trị con người không được bảo vệ.

Tuy nhiên, điều làm nên chiều sâu nghệ thuật cho tác phẩm chính là sự kết hợp tài tình giữa yếu tố hiện thực và kỳ ảo. Việc Vũ Nương được Linh Phi cứu sống và hiện hồn về giải oan không chỉ giúp câu chuyện thêm phần lôi cuốn mà còn thể hiện khát vọng công lý và sự công bằng. Chi tiết kỳ ảo ấy như một giấc mơ đẹp – nơi người tốt được bảo vệ, oan ức được hóa giải – nhưng lại kết thúc bằng sự chia lìa mãi mãi giữa Vũ Nương và gia đình. Điều đó khiến người đọc không khỏi xót xa, day dứt và suy ngẫm về một xã hội thiếu vắng sự thấu hiểu và cảm thông.

Về nghệ thuật, Nguyễn Dữ đã sử dụng ngôn ngữ bình dị, gần gũi nhưng giàu tính biểu cảm. Việc xây dựng nhân vật với chiều sâu tâm lý, cách dẫn dắt câu chuyện theo trình tự lô-gic xen lẫn yếu tố hoang đường đã tạo nên một truyện ngắn trọn vẹn cả về nội dung lẫn hình thức. Tác phẩm còn mang đậm màu sắc truyền kỳ – đặc trưng của thể loại truyện truyền kỳ trung đại – với sự kết hợp hài hòa giữa thực và ảo, giữa cái bi và cái đẹp.

Tóm lại, Chuyện người con gái Nam Xương không chỉ là khúc bi ca thấm đẫm nước mắt về số phận người phụ nữ mà còn là lời nhắn nhủ sâu sắc về sự cảm thông, thấu hiểu và trân trọng lẫn nhau trong cuộc sống. Đó là tác phẩm vượt thời gian, vẫn còn nguyên giá trị nhân văn cho đến tận hôm nay.

1
21 tháng 4 2025
ĐỀ 1
Câu 1. Văn bản trên thuộc kiểu văn bản trình bày. Văn bản cung cấp thông tin về vấn đề ô nhiễm nhựa, đặc biệt là vi nhựa, dựa trên báo cáo của UNEP.

Câu 2. Đề tài chính của văn bản là ô nhiễm nhựa và tác hại của nó đối với môi trường và sức khỏe con người.

Câu 3. Nội dung bao quát của văn bản là cảnh báo về thực trạng ô nhiễm nhựa nghiêm trọng trên toàn cầu, đặc biệt là sự nguy hiểm của vi nhựa đối với sức khỏe con người, đồng thời đề xuất các giải pháp như cấm hoặc hạn chế sản phẩm nhựa dùng một lần, khuyến khích tái chế và sử dụng vật liệu thân thiện với môi trường.

Câu 4. Chi tiết “vi nhựa được phát hiện trong cơ thể con người” có tác dụng nhấn mạnh tính nghiêm trọng và mức độ ảnh hưởng trực tiếp của ô nhiễm nhựa đến sức khỏe con người.
Chi tiết này gây ấn tượng mạnh, tạo sự lo ngại và thúc đẩy người đọc nhận thức rõ hơn về vấn đề. Nó chuyển thông tin từ mức độ môi trường sang mức độ sức khỏe cá nhân, làm tăng tính thuyết phục của văn bản.

Câu 5. Bài học rút ra từ thông điệp của văn bản là cần có ý thức bảo vệ môi trường, hạn chế sử dụng nhựa dùng một lần và tích cực tham gia các hoạt động tái chế, sử dụng vật liệu thân thiện với môi trường. Ô nhiễm nhựa là vấn đề toàn cầu đòi hỏi sự chung tay của mỗi cá nhân và cộng đồng. Sự thờ ơ sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường.

Câu 6. Tôi hoàn toàn đồng tình với giải pháp “cấm hoặc hạn chế nhựa dùng một lần”. Việc này là cần thiết để giảm thiểu lượng rác thải nhựa, bảo vệ môi trường và sức khỏe con người. Mặc dù có thể gây ra một số khó khăn ban đầu về kinh tế và thói quen sinh hoạt, nhưng lợi ích lâu dài về môi trường và sức khỏe là vô cùng to lớn. Cấm hoặc hạn chế chỉ là bước đầu, cần có các giải pháp đồng bộ hơn như phát triển các sản phẩm thay thế thân thiện môi trường, nâng cao nhận thức cộng đồng và đầu tư vào hệ thống tái chế hiệu quả.


ĐỀ 2

Câu 1. Văn bản trên thuộc kiểu văn bản truyền thông.

Câu 2. Đề tài chính của văn bản là thực trạng và giải pháp giảm thiểu tai nạn giao thông ở Việt Nam năm 2023.

Câu 3. Nội dung bao quát của văn bản là thống kê số liệu về tai nạn giao thông năm 2023 tại Việt Nam, nguyên nhân chủ yếu là do thiếu ý thức của người tham gia giao thông, và đề xuất giải pháp xây dựng văn hóa giao thông văn minh, an toàn, có trách nhiệm để giảm thiểu tai nạn.

Câu 4. Hành vi cá nhân thiếu ý thức như không đội mũ bảo hiểm, vượt đèn đỏ, sử dụng rượu bia khi lái xe là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tai nạn giao thông. Những hành vi này làm tăng nguy cơ xảy ra tai nạn và tăng mức độ nghiêm trọng của hậu quả, gây ra thương vong về người và tài sản. Vì vậy, ý thức và trách nhiệm của mỗi người tham gia giao thông có mối liên hệ mật thiết với việc giảm thiểu tai nạn.

Câu 5. Bài học rút ra từ thông điệp của văn bản là mỗi người cần có ý thức và trách nhiệm cao trong việc tham gia giao thông, tuân thủ luật lệ, không vi phạm các quy định để đảm bảo an toàn cho bản thân và cộng đồng. Việc xây dựng văn hóa giao thông là trách nhiệm của mỗi cá nhân, góp phần tạo nên một môi trường giao thông an toàn và văn minh.

Câu 6. Tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm “văn hóa giao thông bắt đầu từ mỗi người”. Bởi vì văn hóa giao thông không chỉ là luật lệ, quy định mà còn là ý thức, trách nhiệm và hành vi của mỗi cá nhân khi tham gia giao thông. Nếu mỗi người đều có ý thức chấp hành luật lệ, tôn trọng người khác, thì văn hóa giao thông sẽ được xây dựng và tai nạn giao thông sẽ giảm thiểu đáng kể. Ngược lại, nếu chỉ dựa vào luật lệ và xử phạt mà không thay đổi ý thức của người dân thì tình trạng tai nạn giao thông vẫn sẽ tiếp diễn. Vì vậy, sự thay đổi bắt đầu từ mỗi cá nhân là điều kiện tiên quyết để xây dựng một nền văn hóa giao thông văn minh và an toàn.

II Viết
Trong dòng chảy văn học Việt Nam, hiếm có bài thơ vừa giản dị, mộc mạc lại vừa sâu sắc và đầy sức gợi như bài thơ mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải. Bài thơ được ra đời trong những ngày cuối đời của tác giả, ông đã sáng tác bài thơ này ngay trên giường bệnh. Bài thơ là sự chiêm nghiệm của ông là về cuộc sống cũng như ước mơ được dâng hiến cho cuộc đời.
         Tác phẩm mùa xuân nho nhỏ là kết tinh nghệ thuật trong đời thơ của ông. Bài thơ thể hiện tình yêu cuộc sốn, gắn bó với đất nước, với cuộc đời và nguyện ước chân thành của tác giả muốn được cống hiến cho đời, góp một mùa xuân nho nhỏ vào mùa xuân lớn của dân tộc. 
        Ngay từ nhan đề tác phẩm đã thể hiện tài năng sáng tạo độc đáo của Thanh Hải Đồng thời cũng như bộc lộ tư tưởng, chủ đề của tác phẩm. Danh từ mùa xuân vốn là một khái niệm chỉ thời gian vô hình, không đong đếm, đo lường được nhưng dưới con mắt của thi nhân với trường liên tưởng độc đáo kết hợp với từ nho nhỏ đã khiến cho một khái niệm vốn trừu tượng trở nên hữu hình. Hình ảnh ẩn dụ này còn tượng trưng cho những gì tinh túy nhất, đẹp đẽ nhất trong cuộc đời của mỗi con người. Qua đó tác giả bộc lộ quan điểm, sự thống nhất giữa cái riêng với cái chung, giữa cá nhân với cộng đồng. Ngoài ra, nhan đề còn thể hiện ước muốn chân thành, tha thiết của tác giả Thanh Hải: muốn làm một mùa xuân nho nhỏ, có ý nghĩa và giúp ích cho đời, cho đất nước. 
            Cách đặt nhan đề đã làm sâu sắc thêm chủ đề, tư tưởng của tác phẩm. Khổ thơ đầu mở ra khung cảnh mùa xuân vô cùng đẹp đẽ, đặc trưng nhất của không gian xứ Huế mơ mộng.  
           "Mọc giữa dòng sông xanh 
                Một bông hoa tím biếc"
   Không gian mùa xuân cao rộng, bao la của dòng sông-mặt đất-bầu trời gợi ra trước mắt người đọc, không gian ấy cho thấy sự thanh bình, yên ả. Cùng với đó là sự phối hợp hài hòa của sắc màu thiên nhiên: màu xanh mênh mông của dòng sông làm cho màu hoa tím biết thơm mộng-một màu sắc tươi sáng, dịu dàng rất đặc trưng của xứ Huế. Thanh Hải cũng thật tinh tế và tài tình khi đảo động từ " mọc" lên đầu câu, việc bảo trật tự như vậy càng nhấn mạnh vào sự xuất hiện của những bông hoa trên nền xanh biếc của dòng sông và bầu trời, khiến bông hoa trở nên đẹp đẽ hơn. 
      Hòa trong không gian ấy là tiếng chim chiền chiện náo nức, vui tươi hot vang trời. Đứng trước vẻ đẹp mùa xuân tác giả không thể kìm nén cảm xúc của bản thân mà cất lên tiếng gọi đầy tha thiết: 
           "Ơi con chim chiền chiện 
              Hót chi mà vang trời"
Chỉ một chữ "ơi" thôi đã cho thấy niềm xúc động, vui sướng mãnh liệt của nhà thơ trước thiên nhiên vạn vật, bởi vậy ngay lúc đó đã diễn ra một cuộc trò chuyện thật gần gũi và thân mật giữa con người và thiên nhiên.
Cảm xúc của nhà thơ không chỉ dừng lại ở đó, sự say sưa, yêu mến còn được thể hiện trong động tác đầy trân trọng, nâng niu:
‘’Từng hạt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng’’
Hình ảnh “giọt” là hình ảnh đa nghĩa, ta có thể hiểu đó là giọt mưa xuân, cũng có thể hiểu là giọt âm thanh của tiếng chim chiền chiện. Câu thơ mang đến những hình ảnh mới lạ, đầy tính tạo hình. Có thể thấy rằng chỉ bằng vài nét phác họa rất đơn sơ nhưng Thanh Hải đã vẽ ra bức tranh xứ Huế đầy mơ mộng, tươi đẹp và tràn đầy nhựa sống.
Từ mùa xuân của thiên nhiên tác giả dâng trào của xúc trước của xuân của đất nước. Hai câu thơ đầu tạo ra những hình ảnh sóng đôi đặc sắc: “người cầm súng” “người ra đồng” tượng trưng cho hai nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng đất nước. Cùng với đó là hình ảnh “lộc”, mỗi chữ “lộc” lại mang những ý nghĩa khác nhau. “Lộc giắt đầy trên lưng” trước hết mang ý nghĩa tả thực là chồi non, ngoài ra còn biểu tượng cho sức sống mùa xuân, cho những thành quả tốt đẹp.
Cũng bởi vậy, khi những người chiến sĩ khi ra trận khoác trên mình chiếc lá ngụy trang như mang sức sống của toàn dân tộc trên vai với một niềm tin, niềm lạc quan vào tương lai chiến thắng của toàn dân tộc. Hình ảnh “lộc” phía sau lại tượng trưng cho sự ấm no, hạnh phúc, được mùa dưới bàn tay của những người nông dân. Tất cả những yếu tố đó đã cho thấy khí thế, nghị lực của con người trên mặt trận bảo vệ tổ quốc và xây dựng của cuộc sống mới.
Hai câu thơ cuối diễn tả cái náo nức, xôn xao của con người. Ấy là không khí lên đường nhộn nhịp, khẩn trương, liên tục không ngừng cùng với đó là tâm trạng háo hức, hăng say. Cả khổ thơ dạt dào niềm vui, như lời cổ vũ, động viên con người lên đường, hòa vào nhịp chung của dân tộc.
Sang đến khổ thơ thứ ba, ta không còn thấy niềm vui trước mùa xuân dân tộc mà thay vào đó là những cảm nhận, suy tư của tác giả về lịch sử đất nước mình.
‘’Đất nước bốn nghìn năm
Vất vả và gian lao’’
cho thấy những thử thách, khó khăn mà dân tộc ta phải trải qua trong mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước.
Thế nhưng trước những khó khăn chồng chất ấy ta vẫn “đi lên” một cách bản lĩnh, kiên cường.
‘’Đất nước như vì sao
Cứ tiến về phía trước’’
là hình ảnh so sánh đẹp đẽ đem đến cho người đọc những ý nghĩa khác nhau. Câu thơ là lời khẳng định về sự trường tồn mãi mãi của dân tộc ta trước mọi khó khăn, thử thách. Ở câu thơ tiếp, ba chữ “cứ đi lên” như một lời khẳng định chắc nịch về tương lai tươi sáng của toàn dân tộc. Khổ thơ bộc lộ niềm tự hào, tin tưởng vào sự bền bỉ của đất nước và khí thế đi lên của dân tộc.
Những k...
31 tháng 8 2023

Lỗi chung của các câu trên là ngắt câu sai và thiết lập quan hệ ngữ nghĩa không phù hợp giữa chủ ngữ và trạng ngữ.

Sửa:

a. Trong tai nạn giao thông này, chúng ta đã thấy rõ tác hại của rượu bia.

b. Mới đây, điều tra chiều cao của học sinh trung học phổ thông cho thấy: nam cao 1,63 – 1,67 mét; nữ cao 1,53 – 1,55 mét.

c. Qua bài viết “Tôi có một giấc mơ”, Mác-tin Lu-thơ Kinh đã góp thêm một tiếng nói về quyền bình đẳng của các dân tộc trên thế giới.

d. Nhìn căn phòng ước chưa đầy 16 mét vuông nhưng được chia làm ba chỗ, một chỗ tôi đang ngồi có hai chiếc bàn dài dùng làm nơi nghỉ của giáo viên trong giờ ra chơi.

31 tháng 8 2023

a) Lỗi: Câu "Trong tai nạn giao thông này đã cho ta thấy rõ tác hại của rượu bia" thiếu một từ.

   Sửa: "Trong tai nạn giao thông này đã cho chúng ta thấy rõ tác hại của rượu bia."

   

b) Lỗi: Câu "Mới đây, qua điều tra chiều cao của học sinh trung học phổ thông cho thấy: nam cao 1,63 – 1,67 mét; nữ cao: 1,53 – 1,55 mét" thiếu hai dấu chấm câu.

   Sửa: "Mới đây, qua điều tra chiều cao của học sinh trung học phổ thông cho thấy: nam cao 1,63 – 1,67 mét; nữ cao: 1,53 – 1,55 mét."

   

c) Lỗi: Tên tác giả "Mác-tin Lu-thơ Kinh" viết sai chính tả, và không cần dấu gạch nối.

   Sửa: "Qua bài viết “Tôi có một giấc mơ” của Mạc Tín Lu-thơ Kinh đã góp thêm một tiếng nói về quyền bình đẳng của các dân tộc trên thế giới."

   

d) Lỗi: Câu "Nhìn căn phòng ước chưa đầy 16 mét vuông nhưng được chia làm ba phần, nơi tôi đang ngồi có hai chiếc bàn dài dùng làm nơi nghỉ của giáo viên trong giờ ra chơi" không rõ ràng và viết dài dòng.

   Sửa: "Nhìn căn phòng rộng chưa đầy 16 mét vuông, được chia làm ba phần. Nơi tôi đang ngồi có hai chiếc bàn dài, dùng làm nơi nghỉ của giáo viên trong giờ ra chơi."

- Xem lại phần Kiến thức ngữ văn để vận dụng vào đọc hiểu văn bản này.- Khi đọc hiểu văn bản thông tin, các em cần chú ý…(…)+ Văn bản viết về vấn đề (đề tài) gì? Vấn đề ấy gần gũi và thiết thực với cuộc sống của mỗi người như thế nào?+ Mục đích của văn bản là gì? Nội dung và hình thức của văn bản được trình bày như thế nào?+ Nội dung văn bản mang lại cho em...
Đọc tiếp

- Xem lại phần Kiến thức ngữ văn để vận dụng vào đọc hiểu văn bản này.

- Khi đọc hiểu văn bản thông tin, các em cần chú ý…(…)

+ Văn bản viết về vấn đề (đề tài) gì? Vấn đề ấy gần gũi và thiết thực với cuộc sống của mỗi người như thế nào?

+ Mục đích của văn bản là gì? Nội dung và hình thức của văn bản được trình bày như thế nào?

+ Nội dung văn bản mang lại cho em những thông tin bổ ích gì?

+ Đặc điểm văn bản thông tin được thể hiện ở yếu tố nào?

+ Tình cảm và thái độ của người viết thể hiện trong văn bản như thế nào?

- Đọc trước văn bản Phải coi luật pháp như khi trời để thở và tìm hiểu thêm các bài viết về vấn đề tôn trọng, chấp hành pháp luật trong cuộc sống.

- Văn bản Phải coi luật pháp như khí trời để thở được in trong cuốn sách Người Việt: Phẩm chất và thói hư tật xấu. Từ nhan đề cuốn sách, hãy dự đoán nội dung chính của văn bản này.

1
31 tháng 1 2024

- Văn bản viết về những hiện tượng vi phạm pháp luật, coi nhẹ luật pháp của người Việt. Đây là môt vấn đề gần gũi, cần thiết trong cuộc sống.

- Mục đích của văn bản: cho người đọc thấy được tầm quan trọng của pháp luật.

Hình thức của văn bản được trình bày thành các đề mục lớn, rõ ràng.

- Để làm rõ mục đích ấy, nội dung bài viết đã được trình bày theo cách lần lượt nêu lên các hiện tượng vi phạm pháp luật của người Việt rất cụ thể, sinh động và hậu quả của sự vi phạm đó.

- Thái độ của người viết thể hiện rõ sự phê phán nghiêm túc với các hành vi vi phạm pháp luật và khẩn thiết kêu gọi mọi người chấp hành luật pháp.

- Các bài viết về vấn đề tôn trọng và chấp hành pháp luật trong cuộc sống:

+ Pháp luật với vấn đề thực hiện dân chủ ở nông thôn Việt Nam hiện nay.

+ Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông.

+ Mấy vấn đề về phổ biến, giáo dục pháp luật nhìn từ góc độ quốc phòng - an ninh.

- Dự đoán nội dung chính của văn bản này: bàn về phẩm chất và những thói hư tật xấu của người Việt đó chính là việc coi thường pháp luật, không chấp hành pháp luật cần phải thay đổi. Khẳng định tậm quan trọng của luật pháp với cuộc sống con người.

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC NAM CAO      (1) Người ta còn gọi Nam Cao là nhà văn của một chủ nghĩa hiện thực tâm lí. Ông chú ý đến nội tâm hơn là ngoại hình nhân vật − trừ những trường hợp có dụng ý đặc biệt (những bộ mặt ghê sợ hay đặc biệt xấu xí của Trương Rự trong "Nửa đêm", của Chí Phèo, thị Nở trong "Chí Phèo",... có lẽ đã...
Đọc tiếp

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5. 

CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC NAM CAO

      (1) Người ta còn gọi Nam Cao là nhà văn của một chủ nghĩa hiện thực tâm lí. Ông chú ý đến nội tâm hơn là ngoại hình nhân vật − trừ những trường hợp có dụng ý đặc biệt (những bộ mặt ghê sợ hay đặc biệt xấu xí của Trương Rự trong "Nửa đêm", của Chí Phèo, thị Nở trong "Chí Phèo",... có lẽ đã được vẽ ra như là một cách tố cáo cái xã hội tàn bạo đã huỷ hoại cả đến nhân hình, nhân dạng của con người). Dường như mọi đặc sắc nghệ thuật của ông đều gắn với sở trường ấy. Trong "Chí Phèo", có những đoạn tả ánh trăng rất thú vị: ánh trăng in cái bóng thằng Chí Phèo trên đường làng "Nó xệch xạc về phía bên phải, nó xệch xạc về bên trái, thu gọn vào rồi lại dài loang ra, xé rách ra vài chỗ. Nó cứ quần quật dưới chân Chí Phèo"; ánh trăng chiếu trên "những tàu lá chuối nằm ngửa, ưỡn cong lên hứng lấy trăng xanh rời rợi như là ướt nước thỉnh thoảng bị gió lay lại giãy đành đạch như là hứng tình". Đó là nghệ thuật diễn tả tâm lí hơn là vẽ cảnh thiên nhiên: tâm lí thằng say rượu sắp sửa gặp thị Nở. Ở truyện này, ông ghép nên những cặp nhân vật tâm sự (Lão Hạc − ông giáo hàng xóm; Chí Phèo − thị Nở; Lang Rận − mụ Lợi,...), ở truyện kia, ông lại tạo những nhân vật gây sự (vợ chồng anh trí thức nghèo chẳng hạn). Xét ở một phương diện nào đấy, đó cũng là một cách sắp đặt tình huống độc đáo để bộc lộ những tâm sự sâu kín của các vai truyện. Nếu so sánh Nam Cao với Ngô Tất Tố, thì dễ dàng nhận thấy Ngô Tất Tố chủ yếu dùng bút pháp ngoại hiện để diễn tả tâm lí nhân vật hơn là trực tiếp quan sát và phân tích thế giới nội tâm của chúng. Nếu so sánh với Nguyễn Công Hoan thì thấy nhà văn trào phúng thường chỉ thành công khi diễn tả những khoảnh khắc tâm lí đơn giản, giới hạn trong một truyện ngắn có một chủ để hết sức rõ ràng. Còn Nam Cao thì có khả năng "du lịch" triền miên trong thế giới nội tâm của nhân vật để theo dõi những quá trình tâm lí phức tạp, quanh co, nhiều khi thật khó phân biệt là vui hay buồn, cười hay khóc, say hay tỉnh, ghét hay thương,...

      Chính vì thông thuộc tâm lí con người mà Nam Cao có lối kể chuyện rất biến hoá, cứ nhập thẳng vào đời sống bên trong của nhân vật mà dẫn dắt mạch tự sự theo dòng độc thoại nội tâm. Lối kể chuyện theo quan điểm nhân vật như thế tạo ra ở nhiều tác phẩm Nam Cao một lối kết cấu bề ngoài có vẻ rất phóng túng, tuỳ tiện, xáo trộn trật tự tự nhiên của không gian, thời gian, mà thực ra rất chặt chẽ như không thể nào phá vỡ nổi. Đây cũng là lối trần thuật nhiều giọng điệu rất độc đáo và hấp dẫn của Nam Cao.

      (2) Như đã nói, Nam Cao luôn băn khoăn về vấn đề nhân phẩm, về thái độ khinh trọng đối với con người, ông dễ bất bình trước tình trạng con người bị lăng nhục vì nghèo đói cùng đường. Nam Cao đặt vấn đề này ra là để minh oan chiêu tuyết cho những con người bị miệt thị một cách bất công: "Chí Phèo", "Một bữa no", "Lang Rận",... Để giải quyết vấn đề này, nhiều khi ông phải đặt nhân vật của mình vào tình thế cheo leo nơi ranh giới giữa con người và thú vật. Và như thế thì ngòi bút của nhà văn cũng thật cheo leo. Người đọc lắm lúc có cảm giác như đứa trẻ trong rạp xiếc lo lắng nhìn bước chân người tài tử đang diễn trò leo dây giữa khoảng không. Nam Cao không làm xiếc ngôn từ, không làm trò kĩ thuật, ông tự thử thách mình về tư tưởng, về cái tâm đối với con người. Nhiều cây bút khác, đi trên đất bằng mà có lúc cũng vấp ngã, Nam Cao đi trên dây làm sao tránh khỏi có lúc ngả nghiêng. Nhưng người đọc, sau những giây phút hồi hộp, căng thẳng, càng cảm thấy khoan khoái khi thấy nhà văn đã đạt tới đích mà không hề sa chân hụt bước.

      Một cái tâm vững vàng, đằm thắm, đó là nền tảng của mọi tác phẩm của Nam Cao. Cho nên dù ông nhiều khi có cố tình làm ra vẻ lạnh lùng, cố tình dùng những từ vô cảm, thậm chí có sắc thái miệt thị và châm biếm nữa đối với các nhân vật của mình (như những đại từ nhân xưng: hắn, y, thị...), thì người ta vẫn thấy có biết bao đau xót, biết bao nước mắt trong đó.

      Ấy cũng là một đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao.

(Nguyễn Đăng Mạnh, Nhà văn Việt Nam hiện đại, chân dung và phong cách, NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 2000, trang 276 - 278)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. 

Câu 2. Văn bản trên đã làm sáng tỏ chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao trên những phương diện nào?

Câu 3. Biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: "Người đọc lắm lúc có cảm giác như đứa trẻ trong rạp xiếc lo lắng nhìn bước chân người tài tử đang diễn trò leo dây giữa khoảng không." có tác dụng gì?

Câu 4. Nhận xét về ngôn ngữ nghị luận được sử dụng trong phần (2).

Câu 5. Nhận xét về cách lập luận của tác giả. 

0
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: (1) Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), quê cha ở xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế, nhưng sinh tại quê mẹ ở làng Tân Thới, tỉnh Gia Định (nay là Thành phố Hồ Chí Minh). Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu gặp nhiều trắc gian truân: bị mù, công danh dang dở, sống trong những ngày tăm tối của quê hương đất nước... (2) Nhưng vượt lên nỗi đau,...
Đọc tiếp

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: (1) Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), quê cha ở xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế, nhưng sinh tại quê mẹ ở làng Tân Thới, tỉnh Gia Định (nay là Thành phố Hồ Chí Minh). Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu gặp nhiều trắc gian truân: bị mù, công danh dang dở, sống trong những ngày tăm tối của quê hương đất nước... (2) Nhưng vượt lên nỗi đau, cuộc đời ông là bài học lớn về nghị lực sống, sống để cống hiến cho đời. Bị mù đôi mắt, nhưng Nguyễn Đình Chiểu không chịu đầu hàng số phận, vẫn sống và làm nhiều việc có ích: dạy học, làm thuốc, sáng tác thơ văn. Là một thầy giáo, ông đặt việc dạy người cao hơn dạy chữ, được nhiều thế hệ học trò kính yêu. Là thầy thuốc, ông xem trọng y đức, lấy việc cứu người làm trọng. Là một nhà thơ, cụ Đồ Chiểu quan tâm đến việc dùng văn chương để hướng con người đến cái thiện, đến một lối sống cao đẹp, đúng đạo lí làm người. Khi quê hương bị thực dân Pháp xâm lược. Đồ Chiểu dùng thơ văn để khích lệ tinh thần chiến đấu của nhân dân. (3) Nguyễn Đình Chiểu còn là tấm gương sáng ngời lòng yêu nước và tinh thần bất khuất chống ngoại xâm. Ngay từ những ngày đầu giặc Pháp xâm lược Nam Bộ, Nguyễn Đình Chiểu đã nêu cao lập trường kháng chiến, cùng các lãnh tụ nghĩa quân bàn bạc việc chống giặc và sáng tác thơ văn để khích lệ tinh thần chiến đấu của các nghĩa sĩ. Khu triều đình nhà Nguyễn nhu nhược, bất lực đến phải dâng cả Nam Kì lục tỉnh cho giặc Pháp, Đồ Chiểu đã nêu cao khí tiết, giữ gìn lối sống trong sạch, cao cả, từ chối mọi cám dỗ của thực dân, không chịu hợp tác với kẻ thù. Câu 1: Văn bản trên có mấy ý chính? Đó là những ý nào? Câu 2: Tìm câu chủ đề trong đoạn văn (2),(3) Câu 3: Xác định thao tác lập luận trong đoạn văn (2),(3

2
4 tháng 12 2021

giJovhilhvgiyppuiviuipguugu

4 tháng 12 2021

kbufqsj kDn,  sd! J qsfoi j ckjb

erVhchvulwdyilgcqre

Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi:“Bạn có thể không thông minh bẩm sinh nhưng bạn luôn chuyên cần và vượt qua bản thân từng ngày một. Bạn có thể không hát hay nhưng bạn là người không bao giờ trễ hẹn. Bạn không là người giỏi thể thao nhưng bạn có nụ cười ấm áp. Bạn không có gương mặt xinh đẹp nhưng bạn rất giỏi thắt cà vạt cho bố và nấu ăn rất ngon. Chắc chắn, mỗi...
Đọc tiếp

Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi:

“Bạn có thể không thông minh bẩm sinh nhưng bạn luôn chuyên cần và vượt qua bản thân từng ngày một. Bạn có thể không hát hay nhưng bạn là người không bao giờ trễ hẹn. Bạn không là người giỏi thể thao nhưng bạn có nụ cười ấm áp. Bạn không có gương mặt xinh đẹp nhưng bạn rất giỏi thắt cà vạt cho bố và nấu ăn rất ngon. Chắc chắn, mỗi một người trong chúng ta đều được sinh ra với những giá trị có sẵn. Và chính bạn, hơn ai hết, trước ai hết, phải biết mình, phải nhận ra những giá trị đó.”

(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn...- Phạm Lữ Ân)

 

Gọi tên phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích và xác định câu văn nêu khái quát chủ đề của đoạn?

1
11 tháng 4 2018

Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận/Phương thức nghị luận

Câu chủ đề: “Chắc chắn, mỗi một người trong chúng ta đều được sinh ra với những giá trị có sẵn”

Quan sát hai văn bản sau và trả lời các câu hỏi (Hình ảnh trong SGK – trang 79):a. Những thông tin chính nào được trình bày trong văn bản Ứng dụng của trí tuệ nhân tạo? Các thông tin được sắp xếp theo trình tự và bố cục như thế nào? Phân tích hiệu quả sử dụng phối hợp giữa phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong văn bản (đối chiếu với cách thể hiện thông tin của văn bản Trí...
Đọc tiếp

Quan sát hai văn bản sau và trả lời các câu hỏi (Hình ảnh trong SGK – trang 79):

a. Những thông tin chính nào được trình bày trong văn bản Ứng dụng của trí tuệ nhân tạo? Các thông tin được sắp xếp theo trình tự và bố cục như thế nào? Phân tích hiệu quả sử dụng phối hợp giữa phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong văn bản (đối chiếu với cách thể hiện thông tin của văn bản Trí thông minh nhân tạo).

b. Văn bản Huy Cận: Nhà thơ lớn của thơ Việt Nam hiện đại trình bày những thông tin chính nào về tác giả Huy Cận? So với nội dung trình bày về Huy Cận ở Bài 2 – Cấu tứ và hình ảnh trong thơ trữ tình (SGK Ngữ văn 11, tập 1), cách thể hiện thông tin của văn bản này có điểm gì khác biệt?

c. Hai văn bản trên được gọi là inforgraphic (đồ họa thông tin). Theo bạn, có thể sử dụng hình thức trình bày này vào những hoạt động nào trong học tập?

1
31 tháng 1 2024

a. – Về nội dung trình bày thông tin ở hai văn bản:

+ Ở văn bản “Trí thông minh nhân tạo” tác giả đã cung cấp thông tin về trí thông minh nhân tạo từ các phương diện: lịch sử phát triển, phân loại, các quan điểm trái chiều, tác động và dự đoán những cảnh có thể xảy ra, trình bày các ý chính, ý phụ bằng phương tiện ngôn ngữ và có minh họa bằng sơ đồ.

+ Ở văn bản “Ứng dụng của trí tuệ nhân tạo” tác giả đã tập trung giới thiệu khái niệm trí tuệ nhân tạo, ứng dụng của trí tuệ nhân tạo trong các lĩnh vực, với cách trình bày trực quan, ngắn gọn, có sự phối hợp màu sắc, hình ảnh, biểu tượng, ngôn ngữ.

- Như vậy, nêu văn bản “Trí thông minh nhân tạo” nghiêng về việc đưa ra thông tin đa dạng, toàn diện về vấn đề thì văn bản “Ứng dụng của trí tuệ nhân tạo” lại chú trọng làm nổi bật các thông tin cốt lõi nhất về đối tượng”.

b. Những thông tin chính về Huy Cận: vị thế của ông trong xã hội, tiểu sử cuộc đời, sự nghiệp sáng tác. Ở bài 2 - Cấu tứ và hình ảnh trong thơ trữ tình thì phần nội dung trình bày về Huy Cận có phần kĩ càng hơn. Cách thể hiện thông tin của 2 văn bản khác nhau bởi một bên dùng phương tiện phi ngôn ngữ là infographic còn một bên là dùng ngôn ngữ để trình bày. 

c. Trình bày infographic vào những hoạt động nhóm thuyết trình, poster cho những hoạt động ngoại khóa,...

30 tháng 1 2024
 

Sống hay không sống – đó là vấn đề

Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài

 

 

Tình huống

Hăm-lét được báo mộng về cái chết của cha, chàng quyết định giả điên để tìm ra sự thật và báo thù cho cha.

Vua Lê Tương Dực lệnh Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài gây nên sự oán hận trong lòng dân.

Nhân vật

Hăm-lét, Clo-đi-út, Ô-phê-li-a, Pô-lô-ni-út,…

Vũ Như Tô, Đan Thiềm, Nguyễn Hoàng,…

Xung đột

Xung đột về mặt nội tâm của nhân vật Hăm-lét, đó là sự mâu thuẫn giữa việc đấu tranh để bảo vệ chính mình trước hiện thực xấu xa hay cứ sống chịu đựng, sống với lý tưởng nhân văn.

Nhân dân, những người thợ xây đài >< tầng lớp vua chúa phong kiến, Vũ Như Tô >< những người thợ phu phen bị bắt bớ, phu dịch để xây Cửu Trùng Đài.

Thông điệp

Hãy giữ bản thân luôn tỉnh táo, sáng suốt để đưa ra những quyết định đúng đắn. Dù trước hoàn cảnh nào đi chăng nữa, dù bị vùi dập, dẫm đạp; con người vẫn phải giữ lấy lý trí và niềm tin của mình.

Thông điệp mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, giữa lí tưởng nghệ thuật cao siêu và lợi ích của nhân dân.

I. Đọc hiểu (3 điểm) Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu.      Cách mạng công nghiệp đầu tiên sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa sản xuất. Cuộc cách mạng lần hai diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt. Cuộc cách mạng lần ba sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất. Bây giờ, cuộc Cách mạng Công nghiệp...
Đọc tiếp

I. Đọc hiểu (3 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu.

     Cách mạng công nghiệp đầu tiên sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa sản xuất. Cuộc cách mạng lần hai diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt. Cuộc cách mạng lần ba sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất. Bây giờ, cuộc Cách mạng Công nghiệp Thứ tư (cách mạng công nghiệp 4.0) đang nảy nở từ cuộc cách mạng lần ba, nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học. Những yếu tố cốt lõi của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0  là trí tuệ nhân tạo (AI), vạn vật kết nối  và dữ liệu lớn (Big Data; robot thế hệ mới, máy in 3D, xe tự lái, và công nghệ nano.

     Hiện Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra tại các nước phát triển như Mỹ, châu Âu, một phần châu Á. Bên cạnh những cơ hội mới, cách mạng công nghiệp 4.0 cũng đặt ra cho nhân loại nhiều thách thức phải đối mặt.

     Mặt trái của Cách mạng công nghiệp 4.0 là có thể gây ra sự bất bình đẳng. Đặc biệt là có thể phá vỡ thị trường lao động. Khi tự động hóa thay thế lao động chân tay trong nền kinh tế, khi robot thay thế con người trong nhiều lĩnh vực, hàng triệu lao động trên thế giới có thể rơi vào cảnh thất nghiệp, nhất là những người làm trong lĩnh vực bảo hiểm, môi giới bất động sản, tư vấn tài chính, vận tải.

      Bên cạnh đó, những thay đổi về cách thức giao tiếp trên Internet cũng đặt con người vào nhiều nguy hiểm về tài chính, sức khoẻ. Thông tin cá nhân nếu không được bảo vệ một cách an toàn sẽ dẫn đến những hệ luỵ khôn lường. Cách mạng công nghiệp lần 4 mang đến cơ hội, và cũng đầy thách thức với nhân loại. 

(Theo news.zing.vn 29/05/2017)

Câu 1. Đặt một nhan đề phù hợp với nội dung của văn bản. (0,5 điểm)

Câu 2. Nêu những đặc trưng của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0? Lấy một ví dụ ngoài văn bản về những biểu hiện của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. (1,5 điểm)

Câu 3. “Khi tự động hóa thay thế lao động chân tay trong nền kinh tế, khi robot thay thế con người trong nhiều lĩnh vực, hàng triệu lao động trên thế giới có thể rơi vào cảnh thất nghiệp”. Trước thực trạng ấy, anh/chị thấy mình cần phải làm như thế nào để chuẩn bị tốt nhất cho tương lai? (1 điểm)

32
18 tháng 5 2021

Câu 1. Đặt một nhan đề phù hợp với nội dung của văn bản. (0,5 điểm)

              Nhan đề: CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC

Câu 2. Nêu những đặc trưng của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0? Lấy một ví dụ ngoài văn bản về những biểu hiện của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. (1,5 điểm)

.-  Cuộc cách mạng lần hai diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt.

-  Cuộc cách mạng lần ba sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất.

- Bây giờ, cuộc Cách mạng Công nghiệp Thứ tư (cách mạng công nghiệp 4.0) đang nảy nở từ cuộc cách mạng lần ba, nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học. Những yếu tố cốt lõi của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0  là trí tuệ nhân tạo (AI), vạn vật kết nối  và dữ liệu lớn (Big Data; robot thế hệ mới, máy in 3D, xe tự lái, và công nghệ nano.

Ví dụ: thẻ CCCD gắn chíp điện tử có độ bảo mật cao, dung lượng lưu trữ lớn, cho phép tích hợp nhiều ứng dụng đi kèm như: Ứng dụng chữ ký số, ứng dụng sinh trắc học, ứng dụng mật khẩu một lần… có thể được sử dụng và kết nối rộng rãi cho các dịch vụ công cộng và tư nhân.

             Dùng năng lượng mặt trời để làm nóng nước

 

Câu 3. “Khi tự động hóa thay thế lao động chân tay trong nền kinh tế, khi robot thay thế con người trong nhiều lĩnh vực, hàng triệu lao động trên thế giới có thể rơi vào cảnh thất nghiệp”. Trước thực trạng ấy, anh/chị thấy mình cần phải làm như thế nào để chuẩn bị tốt nhất cho tương lai? (1 điểm)

Cần học tập  nhóm kỹ năng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) như năng lực giải quyết vấn đề dựa trên máy tính và các công cụ công nghệ.

Cần rèn nhóm các kỹ năng tư duy như sức sáng tạo, tư duy phản biện, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng ra quyết định, và khả năng tự học suốt đời.

Các  kỹ năng làm việc như khả năng giao tiếp và hợp tác làm việc theo nhóm.

Cuối cùng là kỹ năng sống (thích nghi) trong xã hội toàn cầu, bao gồm vấn đề ý thức công dân, cuộc sống và sự nghiệp, trách nhiệm cá nhân và xã hội, bao gồm cả vấn đề hiểu biết tính đa dạng văn hóa.

18 tháng 5 2021
Câu 1.     Nhan đề: CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC Câu 2.  -  Cuộc cách mạng lần hai diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt. -  Cuộc cách mạng lần ba sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất. - Bây giờ, cuộc Cách mạng Công nghiệp Thứ tư (cách mạng công nghiệp 4.0) đang nảy nở từ cuộc cách mạng lần ba, nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học. Những yếu tố cốt lõi của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0  là trí tuệ nhân tạo (AI), vạn vật kết nối  và dữ liệu lớn (Big Data; robot thế hệ mới, máy in 3D, xe tự lái, và công nghệ nano. Ví dụ: thẻ CCCD gắn chíp điện tử có độ bảo mật cao, dung lượng lưu trữ lớn, cho phép tích hợp nhiều ứng dụng đi kèm như: Ứng dụng chữ ký số, ứng dụng sinh trắc học, ứng dụng mật khẩu một lần… có thể được sử dụng và kết nối rộng rãi cho các dịch vụ công cộng và tư nhân. - Dùng năng lượng mặt trời để làm nóng nước Câu 3. Cần học tập  nhóm kỹ năng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) như năng lực giải quyết vấn đề dựa trên máy tính và các công cụ công nghệ. Cần rèn nhóm các kỹ năng tư duy như sức sáng tạo, tư duy phản biện, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng ra quyết định, và khả năng tự học suốt đời. Các  kỹ năng làm việc như khả năng giao tiếp và hợp tác làm việc theo nhóm. Cuối cùng là kỹ năng sống (thích nghi) trong xã hội toàn cầu, bao gồm vấn đề ý thức công dân, cuộc sống và sự nghiệp, trách nhiệm cá nhân và xã hội, bao gồm cả vấn đề hiểu biết tính đa dạng văn hóa.
30 tháng 1 2024

- Bài học kinh nghiệm: Quan sát hình ảnh, đọc kĩ chú thích, gắn với nội dung được nói đến trong văn bản.

- Điều cần chú ý:

+ Hình ảnh rõ ràng, có sự kết nối với nội dung

+ Chú thích đầy đủ, rõ ràng

+ Đưa ra những phương tiện ngay sau phần nội dung đã trình bày để làm rõ cho nội dung trình bày.