K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

Người cắt dây thép gai

I

Dây thép gai con cò không đậu được
Nghe tiếng ru hời, sao cò cứ bay xa.
Anh cắt chúng đi cho con cò bay lại
Trong đêm khuya, tiếng cánh vỗ trên đầu.

Thương cây cùng thương đất như nhau.
Nên anh khóc khi nhìn cây nhựa chảy.
Con sông gãy và nhịp cầu cũng gãy,
Đâu bóng em anh chải tóc hàng ngày.

Cánh cò bay... cánh trắng... con cò bay
Gió từ cánh con cò nào thổi dậy.
Đất nước mình bao năm chia cắt đấy
Anh nói gì trong hai bàn tay.

II

Và rơi xuống hàng rào thứ nhất!
Cỏ lại hát những lời riêng của đất
Nhựa lại về nối lại những cành cây
Cò ơi... về đây!... Đừng bay, đừng bay.

Anh đã cắt đến hàng rào thứ hai
Nhịp cầu gãy bây giờ như liền lại
Đấy là nhịp cầu sang nhà bạn gái
Có bóng em anh soi xuống hiền hoà.

Anh đã cắt sang hàng rào thứ ba
Con sông đứt khúc bây giờ lại chảy
Bong bóng mưa và những con cá nhảy
Tôm búng càng kỷ niệm mãi ngân rung...

Đã cắt đến hàng rào cuối cùng
Các đồng chí ơi, xung phong!
Người cắt dây thép gai đã cắt xong
Đứng dậy nghe đất nước sông núi mình
             bao năm cắt chia đang liền lại.

1971

        (Hoàng Nhuận Cầm, Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến, 2007)

* Chú thích: Hoàng Nhuận Cầm (7/2/1952 - 20/4/2021) sinh tại Hà Nội, là con đầu lòng của nhạc sĩ Hoàng Giác. Đang học dở khoa Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội, năm 1971, ông nhập ngũ, đã từng chiến đấu trong Sư đoàn 325B ở mặt trận Quảng Trị. Năm 1975, ông trở lại học nốt chương trình đại học và đến năm 1981 làm việc tại Hãng Phim truyện Việt Nam. Ông chuyển sang làm việc cho Đài Truyền hình Việt Nam trong một thời gian ngắn rồi quay trở lại Hãng Phim truyện Việt Nam năm 2005. Ông sống tại Hà Nội, là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, và cùng vợ lập hãng phim tư nhân Điệp Vân. Nhiều bài thơ của Hoàng Nhuận Cầm mà phần lớn là thơ tình các được bạn đọc trẻ tuổi, đặc biệt là học sinh, sinh viên yêu thích vì nó gắn với những kỷ niệm của tuổi trẻ, tình yêu với một giọng thơ trẻ trung, sôi nổi.

Câu 1 (0,5 điểm). Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản.

Câu 2 (0,5 điểm). Nhân vật trữ tình trong văn bản là ai?

Câu 3 (1,0 điểm). Nhận xét về hình thức của văn bản.

Câu 4 (1,0 điểm). Phân tích mạch cảm xúc của văn bản.

Câu 5 (1,0 điểm). Anh/chị hãy rút ra một thông điệp ý nghĩa nhất đối với bản thân từ văn bản trên?  

65
25 tháng 12 2025

Câu1:Tự sự

Câu2: Hoàng Nhuận Cầm

Câu 3:

Văn bản được viết dưới dạng đoạn văn xuôi, với ngôn ngữ trong sáng, dễ hiểu, cung cấp thông tin một cách mạch lạc. 


Câu4:Mạch cảm xúc của văn bản là sự trân trọng, ngưỡng mộ đối với tài năng và đóng góp của Hoàng Nhuận Cầm trong lĩnh vực điện ảnh và văn học nghệ thuật

-

Cảm xúc này được thể hiện qua việc nêu bật những thành tựu của ông, đặc biệt là sự yêu mến của độc giả trẻ tuổi đối với thơ tình của ông. 


Câu5 : Thông điệp ý nghĩa nhất với em là hãy theo đuổi đam mê và cống hiến hết mình cho nghệ thuật.

25 tháng 12 2025

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính Biểu cảm Câu 2: Nhân vật trữ tình trong văn bản Nhân vật trữ tình là anh Câu 3: Nhận xét về hình thức của văn bản Thể thơ: Thơ tự do Bố cục: Chia làm 2 phần rõ rệt từ nỗi đau chia cắt đến niềm vui kết nối, hồi sinh. Ngôn ngữ: giản dị nhưng giàu cảm xúc và tính biểu tượng cao. Câu 4: Phân tích mạch cảm xúc của văn bản Mạch cảm xúc vận động theo hành trình của người chiến sĩ "cắt dây thép gai": Phần I: Cảm xúc đau xót, nghẹn ngào trước cảnh đất nước bị chia cắt .Hình ảnh dây thép gai ngăn cản sự sống và những mất mát tạo nên nỗi buồn sâu sắc. Phần II: Cảm xúc chuyển sang hy vọng, quyết tâm và niềm vui vỡ òa. Mỗi hàng rào thép gai bị cắt đi là một nhịp cầu được nối lại, một dòng sông được chảy tiếp. Kết thúc: Là niềm tự hào, sự thanh thản khi nhiệm vụ hoàn thành, mở ra viễn cảnh đất nước thống nhất, liền một dải. Câu 5: Thông điệp ý nghĩa nhất đối với bản thân Thông điệp về sự hy sinh và trách nhiệm: Trân trọng nền hòa bình, độc lập hôm nay vì nó được đổi bằng sự hy sinh, thầm lặng của những người lính đi "cắt dây thép gai" năm xưa

25 tháng 12 2025

C1: Phương thức biểu đạt chính của văn bản là: biểu cảm

Câu 2:

Nhân vật trữ tình trong văn bản là: "Anh" – người chiến sĩ trực tiếp tham gia chiến đấu, thực hiện nhiệm vụ cắt dây thép gai để mở đường cho đồng đội xung phong.

g cho đồng đội xung phong.

Câu 3: Nhận xét về hình thức của văn bản

Về mặt hình thức, bài thơ có các đặc điểm đáng chú ý:

Thể thơ: Tự do (các dòng thơ có độ dài ngắn khác nhau, linh hoạt theo mạch cảm xúc).

Cấu trúc: Chia làm 2 phần rõ rệt (I và II), đánh dấu sự chuyển biến từ hiện thực đau thương, chia cắt sang hành động quyết liệt và niềm tin vào sự gắn liền, thống nhất.

Hình ảnh: Giàu sức gợi, sử dụng nhiều hình ảnh đối lập (dây thép gai - con cò, sông gãy - nhịp cầu liền, chia cắt - liền lại).

Ngôn ngữ: Giản dị nhưng hàm súc, giàu nhạc điệu và cảm xúc.

Câu 4: Phân tích mạch cảm xúc của văn bản

Mạch cảm xúc của bài thơ vận động theo hành trình của người chiến sĩ và niềm hy vọng về hòa bình:

Mở đầu (Phần I): Cảm xúc đau xót trước cảnh quê hương bị chia cắt ("Đất nước mình bao năm chia cắt đấy"). Hình ảnh dây thép gai ngăn cản cả cánh cò, khiến con người đau đớn ("anh khóc khi nhìn cây nhựa chảy"). Đó là nỗi đau của sự chia lìa giữa "anh" và "em", giữa hai miền đất nước.

Phát triển (Phần II): Sự quyết tâm và hành động quyết liệt. Mỗi hàng rào dây thép gai bị cắt đi là một bước tiến gần hơn đến sự kết nối. Cảm xúc chuyển từ đau thương sang niềm vui hé mở khi những "nhịp cầu gãy" bắt đầu "liền lại".

Kết thúc: Niềm hạnh phúc vỡ òa và niềm tin chiến thắng. Khi hàng rào cuối cùng bị cắt xong, cảm xúc dâng trào trước viễn cảnh đất nước sông núi "đang liền lại" sau bao năm xa cách.

Câu 5: Thông điệp ý nghĩa nhất

Bạn có thể chọn một trong các thông điệp sau và trình bày theo suy nghĩ cá nhân:

Thông điệp về sự gắn kết và thống nhất: Chiến tranh có thể chia cắt địa lý nhưng không thể chia cắt tâm hồn và khát vọng đoàn tụ của con người Việt Nam.

Thông điệp về sự hy sinh và trách nhiệm: Để có được sự "liền lại" của đất nước, cần có những bàn tay sẵn sàng đối mặt với hiểm nguy (cắt dây thép gai), vượt qua đau thương để kiến tạo tương lai.

Ý nghĩa: Nhắc nhở thế hệ trẻ về giá trị của hòa bình, sự toàn vẹn lãnh thổ và lòng biết ơn đối với những người đã hy sinh tuổi trẻ để xóa bỏ những "hàng rào" ngăn cách dân tộc.




25 tháng 12 2025

Câu 1 Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm. Câu 2 Nhân vật trữ tình: Người lính cách mạng làm nhiệm vụ cắt dây thép gai. Câu 3 Nhận xét về hình thức của văn bản: – Thể thơ: Tự do, không bị gò bó về thi luật, cách ngắt nhịp linh hoạt, đa dạng giúp mạch cảm xúc của văn bản được thể hiện một cách linh hoạt, tự nhiên. – Cấu trúc hai phần rõ rệt

=>Hình thức văn bản mới lạ, độc đáo góp phần thể hiện mạch cảm xúc, chủ đề, ý nghĩa của văn

Câu 4

Mạch cảm xúc của văn bản được triển khai theo mạch sau: – Mở đầu bằng nỗi đau và khát vọng thống nhất: + Người lính cảm nhận sâu sắc nỗi chia cắt của đất nước qua những hình ảnh giàu cảm xúc: "dây thép gai", "sông gãy", "cầu gãy", "cánh cò bay xa",... + Khao khát hàn gắn đất nước, đưa "con cò" – biểu tượng của hòa bình, lời ru – trở về. – Chuyển sang hành động cụ thể để giành chiến thắng: Người lính cắt hàng rào dây thép gai bốn lần, mỗi lần cắt là một sự vật được nối lại, có những thứ vốn chỉ có trong quá khứ lại một lần được hồi sinh. – Cao trào, niềm vui, niềm mong mỏi về tương lai: Khi hàng rào cuối cùng bị cắt, đất nước như hoàn toàn được hồi sinh. Tiếng gọi “Các đồng chí ơi, xung phong!” là lời kêu gọi những người chiến sĩ tiến về phía trước. Người lính làm nhiệm vụ cắt dây thép gai cũng đã hoàn thành nhiệm vụ, đứng lên với niềm vui mừng khôn tả và niềm hi vọng về tương lai đất nước khi “nghe đất nước sông núi mình bao năm chia cắt đang liền lại.”. => Mạch cảm xúc được triển khai theo mạch: Nỗi đau => Hành động => Niềm vui, niềm hi vọng vào tương lai của dân tộc. Câu 5 (1,0 điểm) -Bài học: + Cần biết trân trọng độc lập – tự do mà chúng ta đang có ngày hôm nay. + Biết sống có lí tưởng, trách nhiệm với đất nước. + Biết ghi nhớ công ơn của những người lính đã hiến dâng thân mình cho Tổ quốc.

14 tháng 1

Câu 1

Phương thức biểu đạt chính trong văn bản là tự sự .

Câu 2

Nhân vật trữ tình trong văn bản là Hoàng Nhuận Cầm.

Câu 3

Văn bản có hình thức là một đoạn văn với các câu được viết liền mạch sử dụng ngôn ngữ thông thường văn xuôi .

Câu 4

Mạch cảm xúc của văn bản là tập trung vào sự nghiệp và tình yêu nghệ thuật của nhân vật .

Câu 5

Hoàng Nhuận Cầm đã cống hiến cho nghệ thuật và tình yêu những vần thơ của ông chạm đến trái tim của nhiều thế hệ trẻ điều này cho chúng ta thấy sự chân thành và đam mê là chìa khoá để tạo nên những giá trị bền vững và ý nghĩa trong cuộc sống hãy sống với đam mê và tình yêu chân thành .






15 tháng 1

Câu 1 Xác định phương thức biểu đạt chính Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là tự sự và nghị luận. Câu 2 Nhân vật trữ tình trong văn bản là ai? Nhân vật trữ tình trong văn bản là nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm. Câu 3 Nhận xét về hình thức của văn bản. 

Văn bản có hình thức đoạn văn, không phải thơ, được viết dưới dạng tóm tắt hoặc giới thiệu về tác giả và tác phẩm.

Câu 4 Phân tích mạch cảm xúc của văn bản. Mạch cảm xúc của văn bản tập trung vào việc giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Hoàng Nhuận Cầm, đặc biệt là tình yêu tuổi trẻ, với giọng văn trẻ trung, sôi nổi. Câu 5 Anh/chị hãy rút ra một thông điệp ý nghĩa nhất đối với bản thân từ văn bản trên? Thông điệp ý nghĩa nhất có thể là trân trọng những kỷ niệm tuổi trẻ và tình yêu, đồng thời nhận thấy giá trị của văn học trong việc lưu giữ những cảm xúc đó.

14 tháng 1

Câu 1: phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là biểu cảm

Câu 2: nhân vật trữ tình trong văn bản trên là "Anh"

Câu 3:

+Văn bản được viết theo thể thơ tự do .Chia thành hai phần rõ ràng. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhiều biểu tượng (con cò, dây thép gai, nhịp cầu, dòng sông) .Giọng thơ vừa thiết tha, vừa mạnh mẽ, giàu cảm xúc.

Câu 4:

Mạch cảm xúc của văn bản, ở phần một cảm xúc trăn trở, xót xa trước sự chia cắt đất nước, những cuộc chiến tranh gây đau thương, mất mát cho thiên nhiên, con người. Phần hai cảm xúc chuyển sang quyết liệt, mạnh mẽ, đầy niềm tin khi người lính cắt dây thép gai, biểu tượng cho hành động xoá bỏ sự chia cắt đất nước, hướng tới sự đoàn tụ của dân tộc, thống nhất đất nước.

Câu 5:

Từ văn bản trên là một người trẻ em rút ra được một thông điệp ý nghĩa đó là mỗi người trẻ hôm nay cần trân trọng hoà bình , sống có trách nhiệm đặc biệt với bản thân và gia đình. Biết giữ gìn và xây dựng đất nước, không ngừng nỗ lực học tập để có thể gió một phần sức trẻ vào sự nghiệp xây dựng đất nước phát triển bền vững. Luôn nhớ đến những công lao của những thế hệ đi trước, giữ gìn những giá trị tốt đẹp mà họ để lại. Vì hoà bình, thống nhất không tự nhiên mà có , mà nó được đánh đổi bằng sự hy sinh, máu xương và lòng dũng cảm của bao thế hệ .


14 tháng 1

câu 1: phương thức biểu đạt: tự do

câu 1: phương thức biểu đạt chính của văn bản: Biểu cảm

câu 2 nhân vật trữ tình trong bài thơ trên là: người con gái

câu 3 : hình thức thơ hiện đại

câu 4: mạch cảm xúc của văn bản nhẹ nhàng giọng thơ giàu tính biểu cảm

câu 5

Qua văn bản trên em rút ra một thông điệp ý nghĩa nhất đối với bản thân là mỗi chúng ta ai cũng cần phải có một điều tốt đẹp đối với bản thân mình

14 tháng 1

Câu 1

Biểu cảm

Câu 2

Nhân vật trữ tình“anh”

Câu 3

Hình thức của văn banlà một bài thơ tự do

Câu 4

Mạch cảm xúc của bài thơ chuyển từ sự chia cắt , đau buồn đến niềm hy vọng và sự đoàn tụ.

Câu 5

Văn bản là một đoạn thơ giàu hình ảnh tượng trưng,truyền tải nhiều thông điệp sâu sắc.Thông điệp ý nghĩa nhất có thể rút cho bản thân là về sự hàn gắn những chia cắt,kết nối lại những đổ vỡ và dũng cảm vượt qua mọi rào cản để hướng tới thành công và những điều tốt đẹp nhất.



14 tháng 1

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là biểu cảm


Câu 2: Nhân vật trữ tình trong văn bản là người lính (hoặc người cắt dây thép gai).


Câu 3: Hình thức của văn bản là thơ tự do, với các câu thơ ngắn dài không đều, không theo một khuôn mẫu nhất định, thể hiện cảm xúc tự nhiên, mãnh liệt của nhân vật trữ tình.


Câu 4: Mạch cảm xúc của văn bản diễn biến từ buồn đau, nhớ nhung đến hy vọng và quyết tâm:

- Ban đầu, nhân vật trữ tình nhớ về người yêu, cảm thấy đau đớn khi nhìn thấy cảnh đất nước bị chia cắt (dây thép gai, sông gãy, cầu gãy).

- Khi cắt dây thép gai, anh cảm thấy hy vọng, tưởng tượng về người yêu và tương lai tốt đẹp.

- Cuối cùng, anh quyết tâm cắt xong dây thép gai, tượng trưng cho việc vượt qua khó khăn, thống nhất đất nước.


Câu 5: Thông điệp ý nghĩa nhất đối với bản thân từ văn bản trên là về tình yêu đất nước, tình yêu đôi lứa và sự hy sinh, quyết tâm vì hòa bình, thống nhất.

Câu 1

Tự sự kết hợp trữ tình: Bài thơ kể lại câu chuyện về người chiến sĩ cắt dây thép gai (tự sự), nhưng đồng thời bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng của nhân vật trữ tình (trữ tình), với những hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng sâu sắc.

Câu 2

Nhân vật trữ tình là người chiến sĩ xung phong cắt dây thép gai, người mang trong mình tình yêu nước, tình yêu quê hương và nỗi nhớ người yêu da diết, được thể hiện qua những hành động, suy nghĩ, cảm xúc cụ thể.

Câu 3

- Ngôn ngữ thơ: Giàu hình ảnh, sử dụng nhiều ẩn dụ, biểu tượng (dây thép gai, con cò, nhịp cầu, dòng sông, nhựa cây), ngôn ngữ gần gũi, chân thành nhưng đầy cảm xúc, có chất liệu đời sống và giọng điệu trẻ trung, sôi nổi. - Cấu trúc: Theo trình tự hành động "cắt" qua các hàng rào, từ hàng rào thứ nhất đến hàng rào cuối cùng, thể hiện rõ quá trình "liền lại" của đất nước. - Thể thơ: Tự do, có sự kết hợp giữa các khổ thơ ngắn và dài, tạo nhịp điệu riêng, vừa có chất tự sự, vừa có chất trữ tình, nhạc điệu.

Câu 4

Khổ 1: Nỗi day dứt, đau xót trước sự chia cắt của đất nước, thể hiện qua hình ảnh "con cò bay xa", "cây nhựa chảy", "sông gãy", "nhịp cầu gãy". Khổ 2: Tình yêu cá nhân gắn bó với tình yêu đất nước, sự hy sinh thầm lặng, qua hình ảnh người chiến sĩ nhớ em (bóng em soi xuống hiền hòa) trong khi thực hiện nhiệm vụ. Khổ 3: Niềm tin vào sự phục hồi, hàn gắn, khi mỗi lần cắt dây, dòng sông lại chảy, tôm cá nhảy, kỷ niệm ùa về, cho thấy sự liền mạch của cuộc sống và tình yêu. Khổ 4: Lời hiệu triệu, niềm tin chiến thắng, cảm giác đất nước đang "liền lại" khi nhiệm vụ hoàn thành, hướng tới tương lai tươi sáng.

Câu 5

Thông điệp quan trọng nhất: Tình yêu đất nước, ý chí thống nhất và khát vọng hòa bình. Để có được sự "liền lại" của dân tộc, cần có sự hy sinh, dũng cảm của mỗi cá nhân, những người sẵn sàng xé tan mọi rào cản để đưa đất nước về với sự trọn vẹn, đoàn viên. Bài thơ nhắc nhở thế hệ trẻ về giá trị của hòa bình, sự toàn vẹn lãnh thổ, và lòng biết ơn sâu sắc đối với những người đã hy sinh vì Tổ quốc.

Câu 1 Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm Câu 2 Nhân vật trữ tình trong văn bản là: "anh" Câu 3 Nhận xét về hình thức văn bản: Văn bản được viết theo thể thơ tự do Ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc. Nhịp thơ biến đổi phù hợp với mạch cảm xúc, tạo giọng điệu vừa trữ tình vừa hào hùng. Câu 4 Mạch cảm xúc của văn bản: Xót thương trước sự chia cắt, đau đớn của chiến tranh. Chuyển sang hành động quyết liệt cắt dây thép gai, khát vọng nối liền đôi bờ, nối liền đất nước. Kết thúc ở niềm tin, niềm vui và hi vọng về sự đoàn tụ, thống nhất. Câu 5 → Chiến tranh có thể chia cắt không gian, con người, nhưng không thể chia cắt tình yêu, khát vọng hòa bình và ý chí thống nhất của dân tộc. → Mỗi con người, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần sống có trách nhiệm với đất nước, trân trọng hòa bình hôm nay.

14 tháng 1

Câu 1

Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là biểu cảm 

Câu 2

Nhân vật trữ tình trong văn bản là “anh” – người chiến sĩ trực tiếp cắt dây thép gai, đại diện cho người lính trong thời kì đất nước bị chia cắt.

Câu 3

Văn bản có hình thức là một bài thơ tự do, chia làm hai phần (I, II), câu thơ dài ngắn không đều, giàu hình ảnh, ngôn ngữ giàu tính biểu tượng và cảm xúc. Nhịp thơ linh hoạt, phù hợp với diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật trữ tình.

Câu 4

Mạch cảm xúc của văn bản phát triển theo hành trình cắt dây thép gai của người lính:

-Ở phần I: cảm xúc khởi đầu từ nỗi đau xót, thương cảm trước cảnh đất nước bị chia cắt, thiên nhiên và con người bị tổn thương; xen lẫn nỗi nhớ người yêu, khát vọng sum họp, liền nối.

-Ở phần II: cảm xúc chuyển dần sang niềm tin, hy vọng và hân hoan khi từng hàng rào được cắt bỏ, thiên nhiên hồi sinh, dòng sông, nhịp cầu liền lại; cao trào là niềm xúc động, tự hào khi đất nước “bao năm cắt chia đang liền lại”.

Câu 5

Thông điệp ý nghĩa nhất em rút ra từ văn bản là: tình yêu đất nước, khát vọng hòa bình và thống nhất có sức mạnh lớn lao, giúp con người vượt qua gian khổ, hy sinh để hàn gắn những chia cắt, đau thương. Mỗi cá nhân cần trân trọng hòa bình hôm nay và sống có trách nhiệm với Tổ quốc.



14 tháng 1

Câu 1:

PTBD:Tự Sự

Câu2:

Nhân vật chữ tình:anh

Câu3:

Thể thơ: Bài thơ được viết theo thể thơ tự do, không bị ràng buộc bởi số câu, số chữ hay niêm luật chặt chẽ của các thể thơ truyền thống. Bố cục: Văn bản gồm hai phần rõ rệt, được ngăn cách bằng dấu // (trong bản gốc) hoặc dòng trống, thể hiện sự chuyển biến trong tâm trạng và hành động của nhân vật trữ tình. Nhịp điệu: Nhịp điệu thơ linh hoạt, thay đổi tùy theo mạch cảm xúc, có những câu thơ dài, ngắn khác nhau, tạo nên giọng điệu tự sự, tâm tình. Ngôn ngữ: Ngôn ngữ thơ mộc mạc, giàu hình ảnh biểu tượng (con cò, dây thép gai, cây nhựa chảy, con sông gãy, nhịp cầu gãy), mang tính biểu cảm cao, truyền tải sâu sắc nội dung và chủ đề của tác phẩm

Câu4:

Giai đoạn 1 (Khổ 1): Nỗi đau và sự xót xa trước cảnh chia cắt, tàn phá. Cảm xúc xuất phát từ hình ảnh "dây thép gai" ngăn cản sự sống, biểu tượng cho sự chia lìa của đất nước. Tâm trạng buồn bã, xót thương được bộc lộ qua hình ảnh "cò không đậu được", "cây nhựa chảy", "sông gãy và nhịp cầu cũng gãy". Nỗi đau lên đến đỉnh điểm khi nhân vật trữ tình "khóc" và cảm nhận sự mất mát lớn lao trong cảnh "đất nước mình bao năm chia cắt đấy". Giai đoạn 2 (Các khổ tiếp theo): Sự chuyển biến từ hành động cắt dây thép gai đến niềm vui, hy vọng. Cảm xúc bắt đầu thay đổi khi hành động "cắt" được thực hiện, mở ra những viễn cảnh mới. Mỗi hàng rào bị cắt là một lần niềm vui, hy vọng được nhen nhóm và lớn dần: Cắt hàng rào thứ nhất: "Cỏ lại hát", "Nhựa lại về nối lại những cành cây". Cắt hàng rào thứ hai: "Nhịp cầu gãy bây giờ như liền lại", có hình bóng người yêu hiền hòa. Cắt hàng rào thứ ba: "Con sông đứt khúc bây giờ lại chảy", sự sống sinh sôi trở lại. Giai đoạn 3 (Khổ cuối): Niềm vui sướng, hạnh phúc vỡ òa và khát vọng hòa bình thống nhất. Khi "hàng rào cuối cùng" bị cắt, cảm xúc bùng nổ thành tiếng reo vui, lời kêu gọi "xung phong!". Niềm hạnh phúc tột cùng khi chứng kiến "đất nước sông núi mình bao năm cắt chia đang liền lại". Cảm xúc chủ đạo đọng lại là niềm tin mãnh liệt vào tương lai thống nhất, hòa bình của dân tộc. Sự vận động của mạch cảm xúc trong bài thơ rất logic, liền mạch, đi từ đau thương đến hy vọng, từ hiện thực chiến tranh tàn khốc đến khát vọng hòa bình mãnh liệt, thể hiện tư tưởng sâu sắc của tác giả.

Câu5:

Thông điệp khát vọng mãnh liệt về sự thống nhất đất nước, hàn gắn những vết thương chiến tranh và chia cắt, hướng tới hòa bình, đoàn tụ. Bài thơ sử dụng hình ảnh ẩn dụ "dây thép gai" tượng trưng cho sự chia cắt, rào cản giữa các vùng miền. Hành động "cắt chúng đi" thể hiện quyết tâm loại bỏ những rào cản đó. Các hình ảnh "cò bay lại", "nhịp cầu liền lại", "con sông chảy" tượng trưng cho sự đoàn tụ, hòa bình và cuộc sống tươi đẹp trở lại sau chiến tranh, khi đất nước không còn bị chia cắt.


14 tháng 1

Câu 1 (0,5 điểm): Phương thức biểu đạt chính của văn bản là: Biểu cảm. Câu 2 (0,5 điểm): Nhân vật trữ tình trong văn bản là người chiến sĩ (hiện thân qua đại từ "anh"). Đó là người lính đang trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cắt hàng rào dây thép gai của địch để mở đường cho quân ta tiến công. Câu 3 (1,0 điểm): Nhận xét về hình thức của văn bản: Thể thơ: Thơ tự do (các dòng thơ có độ dài ngắn khác nhau, linh hoạt theo cảm xúc). Cấu trúc: Văn bản được chia làm hai phần đánh số I và II rõ rệt, tương ứng với sự chuyển biến từ trạng thái quan sát, suy tưởng sang hành động cụ thể. Hình ảnh: Sử dụng những hình ảnh biểu tượng, giàu sức gợi (dây thép gai, cánh cò, dòng sông, nhịp cầu) tạo nên sự đối lập giữa chiến tranh tàn phá và khát vọng hòa bình. Ngôn ngữ: Giọng điệu thiết tha, tâm tình nhưng cũng đầy mạnh mẽ, quyết liệt ở đoạn kết. Câu 4 (1,0 điểm): Mạch cảm xúc của văn bản phát triển theo trình tự hành động và tâm trạng của người chiến sĩ: Khởi đầu: Là nỗi đau xót, nhức nhối trước cảnh quê hương bị chia cắt, tàn phá bởi chiến tranh (hình ảnh dây thép gai ngăn cản cánh cò, dòng sông gãy, nhịp cầu gãy). Phát triển: Sự thôi thúc của tình yêu quê hương và tình yêu đôi lứa đã biến thành hành động cụ thể. Mỗi hàng rào dây thép gai được cắt đi là một bước hồi sinh của sự sống (cỏ hát, nhựa chảy, cầu liền, sông chảy). Kết thúc: Cảm xúc bùng nổ thành niềm say mê, hào hùng khi hàng rào cuối cùng bị phá bỏ, mở đường cho sự thống nhất đất nước và khát vọng tự do. Câu 5 (1,0 điểm): Thông điệp ý nghĩa nhất: Khát vọng về sự hòa bình, thống nhất và sức mạnh của tình yêu thương trong việc hàn gắn những vết thương chiến tranh. Giải thích: Văn bản cho thấy hành động cầm súng, cắt dây thép gai không chỉ là nhiệm vụ chiến đấu mà còn là sứ mệnh nối lại những đứt gãy của tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa và sự sống của thiên nhiên. Nó nhắc nhở chúng ta rằng cái giá của hòa bình hôm nay được đổi bằng ý chí và sự hy sinh của những người đi trước để "đất nước sông núi mình... liền lại".

14 tháng 1

Câu 1 biểu cảm

Câu 2 nhân vật trữ tình: anh

Câu 3 hình thức của văn bản là 1 bài thơ tự do

Câu 4 mạch cảm xúc của bài thơ chuyển từ sự chia cắt, đau buồn đến niềm hi vọng và sự đoàn tụ.

Câu 5 văn bản là 1 đoạn thơ giàu hình ảnh tượng trưng, truyền tải nhiều thông điệp sâu sắc. Thông điệp ý nghĩa nhất có thể cho bản thân là về sự hàn gắn những chia cắt, kết nối lại những đổ vỡ và dũng cảm vượt qua mọi rào cản để hướng tới thành công và những điều tốt đẹp nhất

14 tháng 1

Câu 1: Tự sự

Câu 2:Nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm

Câu 3: Văn bản có hình thức là một đoạn văn xuôi, được trình bày liền mạch.

Câu 4 Mạch cảm xúc của văn bản là sự trân trọng, ngưỡng mộ đối với sự nghiệp và những vần thơ của Hoàng Nhuận Cầm.

Câu 5 : Thông điệp ý nghĩa nhất là hãy sống và cống hiến hết mình cho nghệ thuật, để lại những giá trị tinh thần tốt đẹp cho đời.

14 tháng 1

Câu: 1

-Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là trữ tình.

Cau 2

-Nhân vật trữ tình trong văn bản là người lính, người cắt dây thép gai

Câu: 3

Văn bản được viết theo thể thơ tự do, với các câu thơ ngắn, dài không đều, tạo cảm giác tự nhiên, gần gũi. Hình thức của văn bản thể hiện sự tự do, phóng khoáng, phù hợp với nội dung cảm xúc của người lính.

Câu:4

Mạch cảm xúc của văn bản bắt đầu từ sự thương cảm với con cò không đậu được trên dây thép gai, sau đó chuyển sang nỗi nhớ nhà, nhớ em, nhớ cuộc sống bình yên. Khi cắt dây thép gai, người lính cảm thấy nhịp cầu được nối lại, bóng em hiện về, và cuối cùng là cảm giác hạnh phúc, tự hào khi đất nước được thống nhất.

Câu: 5

Thông điệp ý nghĩa nhất mà tôi rút ra từ văn bản trên là về sự hy sinh, cống hiến của người lính cho đất nước, và về tình yêu, sự đoàn tụ, thống nhất của dân tộc. Hành động cắt dây thép gai của người lính không chỉ là một hành động quân sự, mà còn là một biểu tượng cho sự giải phóng, cho tình yêu và sự thống nhất của đất nước.

14 tháng 1

Câu 4

Sự vận động từ nỗi đau, chia cắt của đất nước đến ý chí quyết tâm, hành động dũng cảm và cuối cùng là niềm hạnh phúc vỡ òa, hy vọng thống nhất, phản ánh hành trình của người lính Việt Nam trong khát vọng hòa bình, hàn gắn Tổ quốc, thể hiện sự chuyển biến từ đau thương sang niềm tin chiến thắng.

Câu 5

.Bài thơ dạy em về ý chí kiên cường, tinh thần đoàn kết và lòng yêu nước sâu sắc trong công cuộc bảo vệ đất nước. Sự hy sinh thầm lặng của những người lính, sự nỗ lực hàn gắn vết thương chiến tranh để xây dựng một đất nước hòa bình, thống nhất là bài học quý giá về trách nhiệm công dân và tình yêu Tổ quốc. Chúng ta cần luôn ghi nhớ công lao của các thế hệ đi trước và tiếp tục xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, vững bền.

Câu 1

Biểu cảm

Câu 2

Người anh

Câu 3

Thể thơ tự do nhịp điệu linh hoạt,cấu trúc hai phần rõ rệt sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh để bộc lộ cảm xúc và khát vọng thống nhất đất nước tạo nên nét độc đáo mới lạ


14 tháng 1

Câu 1

PTBĐ chính: biểu cảm

Câu 2

Nv trữ tình: nv anh người chiến sĩ làn nhiệm vụ cắt dây thép gai

Câu 3

Thể thơ : tự do

Bố cục 2p

Ngôn ngữ mang đậm tính biểu tượng( con cò, dây thép gai)

Giọng điệu: mạnh mẽ, hào hùng

Câu 5

Thông điệp ý nghĩa nhất là khát vọng hoà bình, chiến tranh có thể cắt địa lí nhưng không thể cắt đi tâm hồn và ý chí con người

14 tháng 1

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính Phương thức biểu đạt chính của văn bản là Biểu cảm.

Câu 2: Nhân vật trữ tình Nhân vật trữ tình trong văn bản thường là "tôi" hoặc "anh" — chính là người chiến sĩ, người trí thức trẻ lên đường ra trận

Câu 3: Nhận xét về hình thức của văn bản Thể thơ: Thường là thơ tự do hoặc thơ 8 chữ Ngôn ngữ: Trẻ trung, giàu hình ảnh, mang hơi thở của thời đại và nhiệt huyết tuổi trẻ. Bố cục: Chặt chẽ, có sự kết hợp giữa cái tôi cá nhân và cái ta chung của đất nước.

Câu 4: Phân tích mạch cảm xúc của văn bản Mạch cảm xúc của bài thơ thường vận động theo trình tự: Bắt đầu từ những kỷ niệm, cảm xúc cá nhân về tình yêu, tuổi trẻ hoặc mái trường. Chuyển sang nhận thức về trách nhiệm với đất nước trong bối cảnh chiến tranh Kết thúc bằng niềm tin, hy vọng về sự thống nhất, sum họp. Cảm xúc đi từ riêng đến chung, từ trăn trở đến lạc quan, tin tưởng.

Câu 5: Thông điệp ý nghĩa nhất đối với bản thân Bạn có thể chọn một trong các thông điệp sau và trình bày suy nghĩ của mình: Sống có lý tưởng: Tuổi trẻ cần gắn bó vận mệnh cá nhân với vận mệnh đất nước. Sự lạc quan: Luôn tin tưởng vào tương lai tươi sáng và sự đoàn kết, hàn gắn sau những mất mát. Sự cống hiến: Sẵn sàng gác lại những riêng tư để lên đường khi Tổ quốc cần.

14 tháng 1

Câu 1: Bài thơ trên sử dụng phương thức biểu đạt : Biểu cảm .

Câu 2: Nhân vật trữ tình trong bài là người "Anh".

Câu 3: Văn bản "Người cắt dây thép gai" có hình thức trình bày được chia các khổ thơ rõ ràng sử dụng các biện pháp tu từ và ngôn ngữ giàu hình ảnh.

Câu 4: Mạch cảm xúc của bài thơ "Người cắt dây thép gai" vẫn động từ nỗi đau đớn xót xa trước hiện thực chia cắt đến niềm tin hy vọng mãnh liệt vào sự đoàn tụ, thống nhất.

Câu 5:

Từ văn bản " Người cắt dây thép gai" đã truyền tải rất nhiều thông điệp ý nghĩ đến với bản thân em trong đó thông điệp sâu sắc nhất đó là nhắc nhở bản thân về việc luôn nỗ lực, loại bỏ những rào cản hiều lầm, định kiến trong các mối quan hệ, chủ động xây dựng hòa hợp, kết nối với mọi người và môi trường xung quanh bằng tình yêu thương và lòng trắc ẩn .


14 tháng 1

Câu1

phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là:Biểu cảm

Câu 2

Nhân vật trữ tình trong văn bản trên là nhân vật "Anh"

Câu 3

Hình thức , thơ tự do , ngôn ngữ giàu hình ảnh biểu tượng

Ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản gị nhưng rất giàu hình ảnh biểu tượng ( dây thép gai tượng trưng cho sự chia cắt,chiến tranh, con cò , dòng sông , nhịp cầu tượng trưng cho hoà bình , sự sống , tình yêu, sự thống nhất.

Câu 4

Mạch cảm xúc vận động từ nỗi đau chia cắt đến niềm vui, hi vọng thống nhất đau đớn bởi đất nước bị chia cắt bởi chiến tranh

Cảm xúc chuyển biến mạnh mẽ sang niềm vui niềm hi vọng khi nhân vật "anh" hành động cắt bỏ rào cản. Niềm vui vỡ oà khi chứng kiến sự hồi sinh của quê hương.

Câu 5

Bài thơ thể hiện sâu sắc khát vọng mãnh liệt về một đất nước hoà bình , thống nhất không còn chiến tranh , chia cắt.Thông điệp về khát vọng hoà bình thống nhất và hành động thiết thực để hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn.

14 tháng 1

câu 1

Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là tự sự (kể chuyện/trình bày sự việc). Văn bản kể về cuộc đời, sự nghiệp và quá trình hoạt động nghệ thuật của nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm, từ việc tham gia quân ngũ, học đại học, làm việc tại Hãng Phim truyện Việt Nam đến việc sáng tác thơ ca được nhiều người yêu thích. 

câu 2

Nhân vật trữ tình trong văn bản là Hoàng Nhuận Cầm, người được nói đến xuyên suốt trong đoạn văn, bộc lộ tình cảm, suy nghĩ và những kỷ niệm của mình qua các bài thơ, đặc biệt là thơ tình. 

câu 3

Hình thức của văn bản không phải là một bài thơ hay một tác phẩm trữ tình thuần túy mà là một đoạn văn xuôi cung cấp thông tin tiểu sử và nhận định về sự nghiệp của Hoàng Nhuận Cầm. Đoạn văn được tổ chức thành các câu văn, đoạn văn rõ ràng, sử dụng ngôn ngữ tường thuật và miêu tả để trình bày thông tin một cách mạch lạc. 

câu 4

Mạch cảm xúc của văn bản xoay quanh sự nghiệp và cuộc đời của nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm, đặc biệt là tình cảm của ông đối với tuổi trẻ, tình yêu và cuộc sống. Cảm xúc chủ đạo là sự trân trọng, ngưỡng mộ đối với một tâm hồn thi sĩ nhiệt huyết, trải qua nhiều thăng trầm từ chiến trường Quảng Trị đến cuộc sống đời thường, và cuối cùng đọng lại là những vần thơ trẻ trung, sôi nổi, chạm đến trái tim độc giả trẻ tuổi. 

câu 5


14 tháng 1

Câu 1 Tự Sự

Câu 2 Hoàng Nhuận Cầm

Câu 3 Văn bản có bố cục rõ ràng, trình bày theo dòng thời gian (từ năm 1975, 1981 đến 2005). Ngôn ngữ khách quan, trang trọng, cung cấp đầy đủ thông tin về tiểu sử, đơn vị công tác và đặc điểm phong cách nghệ thuật của tác giả.

câu 4 Mạch cảm xúc của văn bản đi từ sự trân trọng đối với những đóng góp của nhà thơ trong quá khứ (chiến đấu tại mặt trận Quảng Trị) đến sự ngưỡng mộ về sức sáng tạo bền bỉ trong nghệ thuật. Cuối cùng là sự thấu hiểu và đồng cảm với tâm hồn trẻ trung, sôi nổi của ông qua những vần thơ tình dành cho thế hệ trẻ.

Câu 5 Sống và cống hiến hết mình với đam mê". Dù trải qua chiến tranh khốc liệt hay làm việc trong các môi trường khác nhau, Hoàng Nhuận Cầm vẫn giữ được sự trẻ trung trong tâm hồn và niềm say mê với thi ca. Điều này nhắc nhở chúng ta cần giữ vững nhiệt huyết và cái nhìn lạc quan trước cuộc đời.



14 tháng 1

Câu 1

PTBĐC :Biểu cảm

Câu 5

Ca ngợi ý chí, lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam, khẳng định sức mạnh của con người trong việc hàn gắn vết thương chiến tranh và xây dựng đất nước thống nhất.các anh hùng đã dũng cảm đứng lên chiến đấu thì chúng ta không được quên những người đã hy sinh vì tổ quốc , chúng ta hãy biết ơn những anh hùng dũng cảm như họ. cha ong ta đã để lại nhiều bài học quý giá cho chúng ta cho nên chúng ta phải biết dữ nước và phát triển đất nước ngày một văn minh giàu mạnh.

Câu 4


14 tháng 1

Câu 1 : Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là tự sự và nghị luận.

Câu 2 :Nhân vật trữ tình trong văn bản là nhà thơ

Hoàng Nhuận Cầm.

Câu 3 : Văn bản có hình thức đoạn văn, không phải thơ, được viết dưới dạng tóm tắt hoặc giới thiệu về tác giả và tác phẩm.

Câu 4 : Phân tích mạch cảm xúc của văn bản.

Mạch cảm xúc của văn bản tập trung vào việc giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của

Hoàng Nhuận Cầm, đặc biệt là tình yêu tuổi trẻ,với giọng văn trer trung sôi nổi

Câu 5 :

14 tháng 1

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính

Phương thức biểu đạt chính của văn bản là: Biểu cảm (kết hợp với tự sự và miêu tả để bộc lộ cảm xúc, tâm trạng của nhân vật trữ tình).

Câu 2: Nhân vật trữ tình

Nhân vật trữ tình trong bài thơ là:

"Anh" (người lính/người chiến sĩ đang thực hiện nhiệm vụ cắt dây thép gai trên chiến trường).

Câu 3: Nhận xét về hình thức của văn bản

• Thể thơ: Thơ tự do (không gò bó về số chữ trong một câu, giúp mach cảm xúc đươc tuôn chảy tự nhiên)Bài thơ được chia thành các khổ thơ ngắn, nhịp điệu linh hoạt, có lúc dồn dập như bước chân hành quân, có lúc lắng đọng như lời tự tình.

Câu 4: Phân tích mạch cảm xúc của văn bản

Mạch cảm xúc của bài thơ phát triển theo hành trình của người lính khi vượt qua từng hàng rào dây

Sự xót xa, trăn trở: Bắt đầu bằng nỗi đau trước cảnh đất nước bị chia cắt ("con cò không đậu được", "cây cùng thương đất", "dòng sông gãy").

Sự quyết tâm và niềm hy vọng: Khi người lính cắt từng hàng rào (thứ nhất, thứ hai, thứ
ba...), cảm xúc chuyển từ đau đớn sang niềm tin

Cau 5: Ihong diẹp y nghia nhat đối với bản thân

Bạn có thể chọn một trong các ý sau hoặc kết hợp lại:

Khát vọng hòa bình và thống nhất: Bài thơ nhắc nhở chúng ta về giá trị của sự hòa bình và cái giá mà cha ông đã trả để "nối liền" đất nước.

Sức mạnh của sự hàn gắn:
Hành động cắt dây thép gai không chỉ là phá bỏ rào cản quân sự mà còn là biểu tượng cho việc xóa bỏ hận thù, hàn gắn những vết thương chiến tranh để mang lại sự sống


15 tháng 1

Câu 1: biểu cảm

Câu 2: anh

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng...
Đọc tiếp

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)

“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng chất dinh dưỡng để lớn lên và thay đổi. Song, tất cả sự thay đổi đó lặng lẽ tới mức, với tôi, cây sồi già trong sân trông vẫn như khi tôi nhìn thấy nó thuở ấu thơ.” (James Lovelock) (1)

Từ văn bản trên, anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận về chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng.

Câu 2. Nghị luận văn học (12,0 điểm)

Trong diễn văn đọc tại lễ bế mạc các hoạt động vinh danh giải Nobel ngày 10 tháng 12 năm 1957 ở Stockholm, A. Camus cho rằng: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”(2)

Bằng trải nghiệm văn học, anh/ chị hãy bàn luận ý kiến trên.

1
1. Lắng nghe sự thinh lặng Answer: Bài văn mẫu về chủ đề lắng nghe sự thinh lặng. Mở bài Trong cuộc sống ồn ào, vội vã, con người thường mải mê chạy theo những thanh âm, những tiếng nói từ bên ngoài mà quên mất đi một điều vô cùng quan trọng: lắng nghe sự thinh lặng. Sự thinh lặng không phải là sự im bặt, trống rỗng, mà là một không gian để tâm hồn nghỉ ngơi, để trí não soi chiếu những suy tư sâu sắc. James Lovelock từng ví Trái Đất như một cái cây tồn tại thầm lặng, trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai, cho thấy sự vận động và biến đổi kỳ diệu diễn ra trong im lặng. Chủ đề "Lắng nghe sự thinh lặng" mời gọi mỗi chúng ta nhìn nhận lại cách sống, cách cảm nhận thế giới và thấu hiểu chính mình. Thân bài 1. Giải thích và ý nghĩa của sự thinh lặng Sự thinh lặng là trạng thái không có tiếng động hoặc âm thanh. Tuy nhiên, trong ngữ cảnh nghị luận xã hội, thinh lặng mang ý nghĩa sâu sắc hơn: đó là sự tĩnh tâm, là khoảng không gian nội tâm để con người suy ngẫm, chiêm nghiệm. Lắng nghe sự thinh lặng là khả năng tạm gác lại những xô bồ, náo nhiệt của cuộc sống, để tâm trí được thanh lọc và tập trung vào những giá trị cốt lõi. 2. Biểu hiện của việc lắng nghe sự thinh lặng Việc lắng nghe sự thinh lặng được thể hiện qua nhiều khía cạnh:
  • Tự vấn bản thân: Trong những khoảnh khắc yên tĩnh, con người có cơ hội nhìn lại hành động, suy nghĩ, sai lầm và cả những ước mơ của mình. Sự thinh lặng giúp ta trung thực hơn với chính mình.
  • Thấu hiểu thế giới xung quanh: Như cái cây của Lovelock, vạn vật trong tự nhiên vận hành trong sự thinh lặng tuyệt đối. Lắng nghe sự thinh lặng giúp ta cảm nhận được nhịp đập của sự sống, sự biến đổi tinh tế của thiên nhiên mà những âm thanh huyên náo thường che lấp.
  • Tăng cường sự tập trung và sáng tạo: Khi không bị phân tán bởi tiếng ồn, trí óc con người hoạt động hiệu quả hơn, ý tưởng mới mẻ dễ dàng nảy sinh.
3. Bàn luận mở rộng Trong xã hội hiện đại, con người ngày càng khó tìm thấy sự thinh lặng. Mạng xã hội, thông tin liên tục, công việc áp lực khiến chúng ta luôn trong trạng thái "bận rộn". Điều này dẫn đến sự căng thẳng, lo âu và mất kết nối với chính mình. Do đó, việc chủ động tìm kiếm và lắng nghe sự thinh lặng là vô cùng cần thiết. Nó là liều thuốc chữa lành tâm hồn, giúp cân bằng cảm xúc và sống chậm lại. Kết bài "Lắng nghe sự thinh lặng" không phải là một hành động thụ động mà là một nghệ thuật sống, một sự chủ động tìm kiếm bình yên trong tâm hồn. Giống như cây sồi già vẫn giữ nguyên dáng vẻ qua bao năm tháng dù có nhiều sự thay đổi lặng lẽ, sự thinh lặng giúp chúng ta giữ vững bản ngã giữa dòng đời vạn biến. Hãy dành cho mình những khoảng lặng cần thiết để thấu hiểu bản thân, yêu thương cuộc sống và cảm nhận thế giới một cách trọn vẹn hơn. 2. Bàn luận về ý kiến của A. Camus Answer: Bài văn mẫu bàn luận về ý kiến của A. Camus về người nghệ sĩ. Mở bài Albert Camus, trong diễn văn nhận giải Nobel năm 1957, đã đưa ra một nhận định sâu sắc về vai trò và sứ mệnh của người nghệ sĩ: "Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi." (2) Ý kiến này khẳng định mối quan hệ biện chứng, không thể tách rời giữa cá nhân người nghệ sĩ, cái đẹp trong nghệ thuật và trách nhiệm với cộng đồng. Bằng trải nghiệm văn học, ta thấy nhận định của Camus là kim chỉ nam cho mọi hoạt động sáng tạo chân chính. Thân bài 1. Mối tương quan giữa người nghệ sĩ và cộng đồng Người nghệ sĩ không tồn tại biệt lập mà luôn trong mối tương quan với xã hội, với "người khác". Cuộc sống, con người là chất liệu vô tận cho sáng tạo. Các tác phẩm văn học lớn đều phản ánh hiện thực, số phận con người, và những vấn đề của thời đại. Ví dụ, Nam Cao với tác phẩm Chí Phèo, đã phơi bày bi kịch của người nông dân bị bần cùng hóa, bị xã hội vùi dập, qua đó thể hiện sự gắn bó sâu sắc với cộng đồng, lên tiếng bênh vực những số phận bất hạnh. 2. Cân bằng giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng "Cái đẹp không thể bỏ qua" là mục tiêu hướng tới của nghệ thuật. Văn chương phải là cái đẹp, là sự tinh tế trong ngôn từ, cấu trúc, hình ảnh. Tuy nhiên, cái đẹp đó không phải là sự phù phiếm, thoát ly thực tế mà phải gắn liền với "cộng đồng không thể tách khỏi". Tác phẩm đạt đến cái đẹp chân chính khi nó vừa mang giá trị thẩm mỹ cao, vừa chứa đựng thông điệp nhân văn sâu sắc, phục vụ con người, thức tỉnh lương tri. 3. Trải nghiệm văn học chứng minh Qua các tác phẩm văn học, ta thấy rõ sự tôi luyện của người nghệ sĩ trong mối tương quan này.
  • Văn học hiện thực phê phán: Các nhà văn như Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Ngô Tất Tố (Tắt đèn) đã sử dụng ngòi bút sắc bén để phơi bày những thói hư tật xấu, sự bất công của xã hội, nhằm thức tỉnh cộng đồng. Cái đẹp trong tác phẩm của họ là cái đẹp của sự thật trần trụi, có sức lay động mạnh mẽ.
  • Văn học cách mạng: Các nhà thơ như Tố Hữu (Việt Bắc) đã gắn thơ ca với sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Thơ của ông vừa giàu tính trữ tình, vừa mang tính chính trị sâu sắc, là tiếng nói chung của cộng đồng trong công cuộc giải phóng dân tộc.
4. Bàn luận mở rộng Nhận định của Camus vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay. Người nghệ sĩ hiện đại cần tránh hai khuynh hướng: hoặc quá chú trọng vào cái tôi cá nhân, cái đẹp thuần túy mà xa rời thực tế cuộc sống; hoặc biến nghệ thuật thành công cụ tuyên truyền khô khan, thiếu tính thẩm mỹ. Con đường chân chính của nghệ thuật là sự dung hòa giữa cái đẹp và trách nhiệm xã hội. Kết bài Tóm lại, ý kiến của Albert Camus là một triết lý sâu sắc về nghệ thuật và người nghệ sĩ. Sứ mệnh của người nghệ sĩ không chỉ là sáng tạo ra cái đẹp mà còn là gắn bó mật thiết với cộng đồng, dùng nghệ thuật để phục vụ con người. Sự tôi luyện bản thân trên "quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi" chính là con đường dẫn đến những tác phẩm văn học vĩ đại, có giá trị vượt thời gian.
Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng...
Đọc tiếp

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)

“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng chất dinh dưỡng để lớn lên và thay đổi. Song, tất cả sự thay đổi đó lặng lẽ tới mức, với tôi, cây sồi già trong sân trông vẫn như khi tôi nhìn thấy nó thuở ấu thơ.” (James Lovelock) (1)

Từ văn bản trên, anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận về chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng.

Câu 2. Nghị luận văn học (12,0 điểm)

Trong diễn văn đọc tại lễ bế mạc các hoạt động vinh danh giải Nobel ngày 10 tháng 12 năm 1957 ở Stockholm, A. Camus cho rằng: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”(2)

Bằng trải nghiệm văn học, anh/ chị hãy bàn luận ý kiến trên.

1
2 tháng 10 2025

Câu 1: Nghị luận xã hội (8 điểm)

Chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng


Bài làm:

Con người thường bị cuốn vào những ồn ào, náo nhiệt của cuộc sống, đến mức quên mất rằng sự thinh lặng cũng có thể nói lên rất nhiều điều quan trọng. Trong đoạn văn của James Lovelock, Trái Đất được ví như một cái cây lặng lẽ tồn tại và phát triển một cách âm thầm. Điều đó khiến ta nhận ra: có những thay đổi lớn lao, những câu chuyện sâu sắc không cần lời nói vẫn đang diễn ra ngay bên cạnh chúng ta, trong sự yên tĩnh và tĩnh lặng.

Lắng nghe sự thinh lặng chính là một cách để ta thấu hiểu, cảm nhận sâu sắc hơn về thế giới xung quanh. Sự thinh lặng không phải là khoảng trống, không phải là sự vắng mặt của âm thanh, mà là một trạng thái tích cực, chứa đựng sự sống động và những thông điệp mà tiếng ồn không thể mang lại. Khi ta biết dừng lại, lắng nghe thinh lặng, ta sẽ nhận ra những vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, sự biến đổi của cuộc sống và cả tiếng nói của chính tâm hồn mình.

Trong cuộc sống hiện đại, con người dễ bị cuốn vào guồng quay công việc, công nghệ, xã hội mà quên mất việc dành thời gian để yên tĩnh suy ngẫm, tĩnh tâm. Việc lắng nghe sự thinh lặng không chỉ giúp ta lấy lại cân bằng tinh thần mà còn giúp ta hiểu rõ hơn về bản thân và những giá trị cuộc sống. Sự thinh lặng là nguồn sức mạnh để ta đối diện với khó khăn, là không gian để nuôi dưỡng trí tuệ và lòng nhân ái.

Thực tế, nhiều bậc vĩ nhân, nhà sáng tạo nghệ thuật, nhà tư tưởng đều trân trọng khoảng lặng để sáng tạo và suy nghĩ sâu sắc. Thiên nhiên cũng dạy chúng ta bài học quý giá về sự kiên nhẫn và phát triển bền vững qua sự thinh lặng của cây cối, đất trời. Lắng nghe sự thinh lặng là học cách quan sát, trân trọng những điều nhỏ bé mà bền vững.

Như vậy, trong cuộc sống bộn bề ngày nay, mỗi người cần biết tôn trọng và dành thời gian lắng nghe sự thinh lặng. Đó là con đường dẫn ta đến sự thấu hiểu, cảm thông và yêu thương. Sự thinh lặng không phải là khoảng cách, mà là kết nối sâu sắc với thế giới và chính bản thân mình.


Kết luận:

Lắng nghe sự thinh lặng là nghệ thuật sống, là cách để ta khám phá những giá trị chân thật và trường tồn. Hãy học cách dừng lại, lắng nghe và cảm nhận, để cuộc sống thêm ý nghĩa và sâu sắc hơn.


Câu 2: Nghị luận văn học (12 điểm)

Bàn luận câu nói của A. Camus:
“Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”


Bài làm:

Albert Camus – nhà văn, triết gia lỗi lạc của thế kỷ XX đã đưa ra một quan điểm sâu sắc về người nghệ sĩ và vị trí của họ trong xã hội. Theo ông, người nghệ sĩ không tồn tại tách biệt mà luôn vận động trong mối quan hệ hai chiều: giữa cá nhân với cái đẹp và giữa cá nhân với cộng đồng.

Thứ nhất, cái đẹp không thể bỏ qua là mục tiêu, là lý tưởng mà người nghệ sĩ theo đuổi. Người nghệ sĩ luôn không ngừng tìm kiếm, sáng tạo ra cái đẹp qua tác phẩm của mình – đó có thể là vẻ đẹp thẩm mỹ, vẻ đẹp tư tưởng hay vẻ đẹp nhân văn. Cái đẹp ấy vượt lên trên sự tầm thường, cái đẹp là nguồn cảm hứng và là tiếng nói riêng của người nghệ sĩ, giúp họ khẳng định giá trị và bản sắc cá nhân.

Tuy nhiên, người nghệ sĩ cũng không thể tách rời cộng đồng – nơi họ sinh sống và làm việc. Cộng đồng là nơi cung cấp chất liệu sáng tạo, là đối tượng truyền tải thông điệp, là nguồn cảm hứng và cũng là nơi tác phẩm được đón nhận. Người nghệ sĩ có trách nhiệm phản ánh, phê phán xã hội, góp phần định hướng những giá trị tích cực, đồng thời thấu hiểu, đồng cảm với cuộc sống con người. Nghệ thuật vì thế luôn mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc.

Mối tương quan liên tục giữa cái đẹp và cộng đồng tạo nên một con đường mà người nghệ sĩ phải đi – đó là quãng đường tôi luyện bản thân không ngừng nghỉ. Họ vừa phải giữ vững lý tưởng sáng tạo, vừa phải lắng nghe, giao tiếp và đồng hành với con người và xã hội. Nếu chỉ theo đuổi cái đẹp mà quên cộng đồng, nghệ thuật sẽ trở nên hời hợt, xa rời thực tế; ngược lại, nếu chỉ chú trọng cộng đồng mà thiếu cái đẹp, nghệ thuật sẽ mất đi giá trị thẩm mỹ và chiều sâu nhân văn.

Thực tế trong văn học Việt Nam và thế giới đã có nhiều nghệ sĩ tiêu biểu sống và sáng tạo theo tinh thần này. Họ luôn hướng tới cái đẹp – cái đẹp của sự chân thực, nhân hậu và tự do; đồng thời luôn giữ mối liên hệ mật thiết với đời sống nhân dân, phản ánh những vấn đề xã hội, con người một cách sâu sắc và thuyết phục.

Như vậy, câu nói của A. Camus đã nhấn mạnh sự cân bằng cần thiết trong đời sống nghệ sĩ, giữa cá nhân và xã hội, giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng. Người nghệ sĩ không chỉ là người sáng tạo mà còn là người đồng hành, người truyền cảm hứng và người bảo vệ những giá trị cao đẹp của nhân loại.


Kết luận:

Người nghệ sĩ thực sự là người tôi luyện trong hành trình kết nối giữa chính mình và cộng đồng, giữa cái đẹp không thể bỏ qua và trách nhiệm đối với xã hội. Chỉ khi đó, nghệ thuật mới phát huy được sức mạnh và giá trị đích thực của nó.

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: Đá san hô kê lên thành sân khấu Vài tấm tôn chôn mấy cánh gà Em đừng trách bọn chúng anh tạm bợ Chẳng phông màn nào chịu nổi gió Trường Sa   Gió rát mặt, đảo luôn thay hình dạng Đá củ đậu bay như lũ chim hoang Cứ mặc nó! Nào hỡi các chiến hữu Ta bắt đầu thôi. Mây nước đã mở...
Đọc tiếp

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

Đá san hô kê lên thành sân khấu

Vài tấm tôn chôn mấy cánh gà

Em đừng trách bọn chúng anh tạm bợ

Chẳng phông màn nào chịu nổi gió Trường Sa

 

Gió rát mặt, đảo luôn thay hình dạng

Đá củ đậu bay như lũ chim hoang

Cứ mặc nó! Nào hỡi các chiến hữu

Ta bắt đầu thôi. Mây nước đã mở màn…

 

Sân khấu lô nhô mấy chàng đầu trọc

Người xem ngổn ngang cũng… rặt lính trọc đầu

Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc

Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau

 

[…] Nào hát lên cho đêm tối biết

Rằng tình yêu sáng trong ngực ta đây

Ta đứng vững trên đảo xa sóng gió

Tổ quốc Việt Nam bắt đầu ở nơi này.

 

(Trích Lính đảo hát tình ca trên đảo, Trần Đăng Khoa,

Bên cửa sổ máy bay, NXB Tác phẩm mới, 1985)

Câu 1: Đoạn  trích trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2: Chỉ ra hai hình ảnh trong đoạn trích diễn tả sự khắc nghiệt của thiên nhiên nơi biển đảo.

Câu 3: Những dòng thơ sau giúp anh/chị hiểu gì về cuộc sống của người lính nơi đảo xa?

Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc

 Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau.

Câu 4: Anh/chị hãy nhận xét về tình cảm của tác giả đối với người lính đảo trong đoạn trích.

49
14 tháng 5 2021

1

Thể thơ: tự do

2

Hai hình ảnh nói đến sự khắc nghiệt của thiên nhiên nơi biển đảo:

- Gió rát mặt, Đá củ đậu bay, Nước ngọt hiếm…

(Thí sinh chỉ ra đúng 2 hình ảnh được 0.5 điểm).

3

Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc

  Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau.

Hai dòng thơ trên cho thấy cuộc sống của người lính nơi đảo xa:

- Đó là cuộc sống vô cùng khó khăn, gian khổ, mà người lính thường xuyên phải đối diện (gió bão, thiếu thốn…)

- Tuy nhiên những người lính vẫn lạc quan, yêu đời.

4

- Tác giả thể hiện sự đồng cảm, chia sẻ với cuộc sống của những người lính đảo.

- Đồng thời cho thấy sự trân trọng những phẩm chất đáng quý: tinh thần lạc quan, ý chí nghị lực phi thường và tình yêu tổ quốc.

-> Nhận xét về tình cảm:

- Đây là những tình cảm chân thành, thể hiện trái tim yêu thương tinh tế, sâu sắc của tác giả.

- Tình cảm của tác giả cũng là đại diện cho tất cả những người dân Việt Nam dành tình yêu thương, sự cảm phục gửi đến những người lính nơi đảo xa.

Câu 1 :thể thơ tự do

Câu 2: Những hình ảnh thể hiện cho sự gian khó ở Trường Sa: đá san hô kê lên thành sân khấu, vài tấm tôn chôn mấy cánh gà, gió rát mặt, đảo thay hình dáng, sỏi cát bay như lũ chim hoang.

Câu 3:

Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc

  Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau.

Hai dòng thơ trên cho thấy cuộc sống của người lính nơi đảo xa:

- Đó là cuộc sống vô cùng khó khăn, gian khổ, mà người lính thường xuyên phải đối diện (gió bão, thiếu thốn…)

- Tuy nhiên những người lính vẫn lạc quan, yêu đời.

Câu 4 :Đoạn thơ trích trong bài "Lính đảo hát tình ca trên đảo" của tác giả Trần Đăng Khoa đã khẳng định được tinh thần lạc quan, tươi trẻ của những người lính hải đảo nơi Trường Sa khắc nghiệt cùng tinh thần yêu nước, hướng về tổ quốc của họ. Thật vậy, hình ảnh những người lính hải đảo hiện lên với tầm vóc vĩ đại và tình yêu bất biến dành cho tổ quốc. Đầu tiên, họ là những người lính bất chấp những khó khăn gian khổ để hoàn thành tốt công việc. Điều kiện ở Trường Sa vô cùng khó khăn và khắc nghiệt: gió rát mặt, đảo thay đổi hình dạng, sỏi cát bay như lũ chim hoang. Ở nơi biển đảo hẻo lánh ấy, những người lính hải quân vẫn hiên ngang và cất lên bài hát của tuổi trẻ. Không những có phẩm chất kiên cường mà ta còn thấy được tinh thần tươi trẻ và yêu đời của những người lính ấy. Thứ hai, họ là những người lính khát khao cống hiến cho tổ quốc. Tình yêu của họ được gửi gắm vào lời hát và tiếng lòng của trái tim "Nào hát lên". Tình yêu ấy là động lực để họ "đứng vững" trước những khó khăn và họ còn muốn hát lên cho trời đất, mây nước biết. Tổ quốc đối với những người lính trẻ là thiêng liêng và vĩnh hằng biết nhường nào. Tóm lại, đoạn thơ cho ta thấy được phong thái yêu đời cùng tình yêu tổ quốc của những người lính hải đảo ấy.

18 tháng 3 2016

DÀN Ý

1. Đất nước nằm ngay trong bản thân của mỗi người, là một phần trong đời sống của mỗi người.

- Trong anh và em hôm nay

Đều có một phần đất nước

- Em ơi em! Đất nước là máu xương của mình

2. Tác giả biện chứng về tinh thần đoàn kết gắn với sự trưởng thành của đất nước.

Khi hai đứa cầm tay

Đất nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm

Khi chúng ta cầm tay mọi người

Đất nước vẹn tròn to lớn

- Chú ý khai thác khái niệm cầm tay, mối quan hệ tỉ lệ thuận giữa đoàn kết và sự phát triển của đất nước 

3. Sự trường tồn của đất nước gắn liền với sự tiếp nối của các thế hệ công dân.

Mai này con ta lớn lên

Con sẽ mang đất nước đi xa

Đến những tháng ngày mơ mộng

- Chú ý khai thác mối quan hệ giữa Con ta - đất nước mơ mộng trong tương lai => Chứa đựng niềm tin vào sự trường tồn và tươi đẹp của Đất nước

4. Ý thức trách nhiệm công dân đối với đất nước

Phải biết gắn bó và san sẽ

Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở

Làm nên đất nước muôn đời.”

- chú ý khai thác giọng điệu tự nhủ - nhắn nhủ và nghệ thuật điều kiểu câu cầu khiến “Phải biết...”, giả thích khái niệm “hóa thân” 

5. Đánh giá chung:

            - Đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm : Trữ tình - chính luận.

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: Ngày mai con hãy yên lòng đến những miền xa Có thể còn những điều con quên Nhưng có điều này con phải nhớ Rằng biển quê mình Dẫu còn lắm phong ba bão tố Bao đợt sóng chồm lên như hổ dữ Những cơn bão có tên và không tên Nhưng như phép mầu của đức tin Người dân nơi xóm chài mỗi sớm mặt...
Đọc tiếp

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

Ngày mai con hãy yên lòng đến những miền xa

Có thể còn những điều con quên

Nhưng có điều này con phải nhớ

Rằng biển quê mình

Dẫu còn lắm phong ba bão tố

Bao đợt sóng chồm lên như hổ dữ

Những cơn bão có tên và không tên

Nhưng như phép mầu của đức tin

Người dân nơi xóm chài mỗi sớm mặt trời lên

Vẫn hiên ngang ngẩng mặt chào biển rộng

Đất quê cằn, nhọc nhằn gió cát

Phải bắt đầu từ biển, đi lên từ biển

Ông cha nghìn đời

Bắp tay cuộn dưới mặt trời

Da nhuộm hồng nước biển

Lẽ nào cháu con quên lưới vây, lưới cản

Lẽ nào bỏ nghề đi lộng đi khơi

Bão giông là việc của Trời

Nén tiếng khóc, dằn lòng sau bão

Vững bước lên thuyền mặt biển chiều hôm

Lạy trời cho cả gió nồm

Ghe ra biển lớn mươi hôm ghe về

(Trích Vọng Hải Đài, Bùi Công Minh, baodanang.vn,

Chủ nhật, 22/04/2021,21:27{GMT+7})

Câu 1: Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2: Chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng trong dòng thơ:

Bao đợt sóng chồm lên như hổ dữ

Câu 3: Những dòng thơ sau giúp anh/chị hiểu gì về hình ảnh con người trước biển?

Bão giông là việc của Trời

            Nén tiếng khóc, dằn lòng sau bão

                           Vững bước lên thuyền mặt biển chiều hôm

Câu 4: Anh/chị hãy nhận xét tình cảm của tác giả đối với biển cả quê hương được thể hiện trong đoạn trích?

23

câu 1: Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do

Câu 2: Biện pháp nghệ thuật là so sánh

Câu 3: Những câu thơ trên miêu tả rõ hình ảnh con người trước biển: dù bão dông, thiên nhiên khắc nghiệt như nào thì con người vẫn luôn lạc quan hướng về phía trước, con người vẫn bình thản, chịu đựng những đau thương, khó khăn thử thách 

Câu 4: tình yêu quê hương biển cả được tác giả thể hiện qua đoạn trích: tác giả đã dành tình yêu tha thiết với que hương mình, dù có bão giông, gió lốc thì biển vẫn là nơi tìm về của những đứa con làng chài. Biển còn là nơi ông cha ta làm lên tất cả vì vậy tình yêu biển vả còn là sự biết ơn, chân trọng quá khứ.

17 tháng 5 2021

Câu 1 : Đoạn trính trên được viết theo thể thơ : Tự do

Câu 2: Biện pháp tu từ được sử dụng : So sánh

Câu3 : 

- Hình tượng biển ( thiên nhiên ) dù bão giông,khắc nghiệt thì những con người lao động không vì thế mà sợ hãi - đó là cách con người làm chủ được thiên nhiên,coi đó chỉ như một thử thách,một lẽ thường tình của mẹ thiên nhiên,họ vẫn bình thản,bản lĩnh,kiên cường trước những đau thương mà thiiên nhiên gây ra.

- Người lao động Việt Nam mạnh mẽ,cần cù,luôn lạc quan,kiên cường vượt qua khó khăn vững bước trên mặt biển

Câu 4 : 

 Qua đoạn trích,có thể thấy được rõ nét nhất 2 thứ : Tình cảm sâu nặng mà tác giả dành cho  biển cả quê hương và sư trân trọng công lao của ông cha ta trong quá khứ.Tình cảm của tác giả dành cho biển cả quê hương rất sâu sắc,dẫu có khắc nghiệt, khó khăn nhưng biển vẫn là nơi nuôi sống những con người Việt Nam,là nhà,là nơi ta tìm về.Đặc biệt,tình yêu không chỉ thể hiện qua sự trân trọng quá khứ, biết ơn công lao cha ông ta,phát huy lại truyền thống dân tộc,tao nên sức mạnh đoàn kết giữa người với người

Báo cáo về phòng, chống bạo lực gia đìnhMở đầu: Bạo lực gia đình xuất hiện trên toàn cầu. Vì thế, những công cuộc đòi lại quyền bình đẳng cho phụ nữ đã diễn ra không ít. Vấn đề này gây ra tổn thất thể thể chất và tinh thần với nạn nhân. Thậm chí, việc này cản trở cơ hội phát triển của nạn nhân như phụ nữ, em gái.Mục đích của nghiên cứu: Tìm hiểu thực trạng và tác...
Đọc tiếp


Báo cáo về phòng, chống bạo lực gia đình

Mở đầu: 

Bạo lực gia đình xuất hiện trên toàn cầu. Vì thế, những công cuộc đòi lại quyền bình đẳng cho phụ nữ đã diễn ra không ít. Vấn đề này gây ra tổn thất thể thể chất và tinh thần với nạn nhân. Thậm chí, việc này cản trở cơ hội phát triển của nạn nhân như phụ nữ, em gái.

Mục đích của nghiên cứu: Tìm hiểu thực trạng và tác động của bạo lực gia đình

Đối tượng nghiên cứu: Các hành vi bạo lực gia đình

Phạm vi nghiên cứu: Một bộ phận người dân ở năm tỉnh thành:

  • Ninh Bình
  • Lào Cai
  • Thừa Thiên Huế
  • Đăk Lăk
  • An Giang

Phương pháp nghiên cứu: So sánh, đối chiếu, tổng hợp, hệ thống.

Nội dung: 

Vào năm 2017, Viện Nghiên cứu gia đình đã có khảo sát tại năm tỉnh về bạo lực gia đình. Năm tỉnh đó là Ninh Bình, Lào Cai, Thừa Thiên Huế, Đăk Lăk, An Giang. Kết quả cho thấy 47% phản hồi từng một lần bị bạo lực từ khi sinh ra. Trong 12 tháng qua, 31,9% nạn nhân bị ít nhất một hành động bạo lực từ người thân.

Hành vi bạo lực tinh thần chiếm chủ yếu. Những hành vi đó là chửi, mắng, cấm tiếp xúc, thăm nom người thân, gặp gỡ bạn bè. Ngoài ra, nạn nhân còn bị cấm tham gia hoạt động trong cộng đồng. Các hành động như kiểm soát sinh hoạt thường ngày, ghen cũng thường xuất hiện. Hành vi bạo lực thể chất kể đến như đánh, nắm tóc, trói, tát, đập phá đồ đạc…

Nguyên nhân chủ yếu gây ra bạo lực với phụ nữ là chồng uống rượu bia. Ngoài ra, định kiến thấp về vai trò của phụ nữ từ khuôn mẫu văn hóa cũng là nguồn cơn. Người chồng có trải nghiệm bạo lực thuở bé cũng tác động một phần đến bạo lực gia đình. Hiện nay, xuất hiện các nguyên nhân khác như thiếu việc làm, kinh tế khó khăn, con cái ăn chơi..

Hậu quả của bạo lực gia đình là ly thân, ly hôn. Bạo lực gia đình ảnh hưởng lớn đến sức khỏe tinh thần của nạn nhân. Họ có thể mất tự trọng, thậm chí coi bạo lực là hiển nhiên và nhận lỗi về phần mình. Bạo lực gia đình còn ảnh hưởng đến những đứa trẻ chứng kiến điều đó. Trẻ có thể lớn lên với sự tổn thương, nhút nhát, sợ hãi thế giới xung quanh.

Kết luận 

Mặc dù đã có những biện pháp phòng, chống bạo lực gia đình, vấn đề vẫn còn tiếp diễn. Tình trạng này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của các thành viên trong gia đình. Chúng ta cần nâng cao ý thức phòng, chống bạo lực gia đình. Ngoài ra, xã hội cần quyết tâm đẩy lùi tình trạng này càng sớm càng tốt.

0
Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm Đất Nước là nơi ta hò hẹn Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm Đất là nơi "con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc" Nước là nơi "con cá ngư ông móng nước biển khơi" Thời gian đằng đẵng Không gian mênh mông Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ Đất là nơi Chim về Nước là nơi Rồng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ Đẻ...
Đọc tiếp

Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm
Đất là nơi "con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc"
Nước là nơi "con cá ngư ông móng nước biển khơi"
Thời gian đằng đẵng
Không gian mênh mông
Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ
Đất là nơi Chim về
Nước là nơi Rồng ở
Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng
Những ai đã khuất
Những ai bây giờ
Yêu nhau và sinh con đẻ cái
Gánh vác phần người đi trước để lại
Dặn dò con cháu chuyện mai sau
Hằng năm ăn đâu làm đâu
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ.

(Trích Đất nước, trường ca Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016, tr.118-119

Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ trên. Từ đó, bình luận quan niệm về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm.

(Đề thi THPT Quốc gia 2017 môn Ngữ văn)

5
22 tháng 6 2017

1.Mở bài:

+Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm.

+Dẫn vào yêu cầu của đề: trích câu đầu câu cuối đoạn thơ và nội dung đoạn trích.

2.Thân bài:

a.Khái quát:

-Vị trí xuất xứ đoạn thơ: Nằm ở phần đầu (những cảm nhận chung về Đất Nước), đoạn thơ nói về những định nghĩa mới mẻ về Đất Nước và lí giải nguồn gốc của người Việt.

b.Cụ thể:

(Chú ý kết hợp phân tích nội dung và nghệ thuật:)

*Quan điểm mới mẻ của tác giả về đất nước là được nhìn trong cái nhìn của bề rộng không gian địa lí và được nhìn trong chiều dài lịch sử:

- Đất Nước được cảm nhận gắn liền với không gian:

+ Không gian riêng: Nơi anh đến trường, nơi em tắm, nơi ta hò hẹn.

+Không gian chung: Dân ta đoàn tụ

+ Không gian hiện thực: Bờ sông nơi hò hẹn, con đường anh đến trường.

+ Không gian thần thoại: Chim về, Rồng ở, chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc, cá ngư ông móng nước biển khơi…

=>định nghĩa về đất nước không chỉ gắn với không gian gần gũi thân thuộc (là nơi anh đến trường, em tắm, hẹn hò, nhung nhớ) mà còn gắn với không gian từ trong tiềm thức của con người (những câu chuyện thần thoại)

=>Cách định nghĩa Đất nước hết sức sáng tạo: được tạo nên từ hai thành tố Đất - Nước, rồi có sự gắn kết hòa hợp. việc sử dụng các biện pháp điệp từ, liệt kê, những chất liệu dân gian...)

- Chiều dài thời gian lịch sử: “ đằng đẵng”, từ thời Lạc Long Quân và Âu Cơ đến nay, thậm chí thế hệ con cháu sau này

+Lí giải cội nguồn của người dân Việt Nam: Nhắc lại truyền thuyết Lạc Long Quân – Âu Cơ.

+ Ý thức sâu sắc và sứ mệnh của mỗi người dân Việt Nam: “Những ai đã khuất… nhớ ngày giỗ Tổ”.

22 tháng 6 2017

BÀI LÀM

Nguyễn Khoa Điềm là nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Ông từng là Bộ trưởng Bộ văn hóa thông tin nay đã nghỉ hưu. Các tác phẩm tiêu biểu: Đất ngoại ô, Trường ca Mặt đường khát vọng. Đất nước là bài thơ được trích từ chương V trường ca Mặt đường khát vọng được hoàn thành ở chiến trường Bình Trị Thiên năm 1971, viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ miền Nam xuống đường tranh đấu hòa hợp với cuộc kháng chiến của dân tộc. Đoạn thơ ta sắp phân tích sau đây là đoạn thơ để lại dấu ấn về nội dung và nghệ thuật sâu sắc nhất:

Đất là nơi anh đến trường

Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ tổ

Như đã nói ở lúc đầu, Đất Nước không ở đâu xa mà ở ngay xung quanh chúng ta, gần gũi, thân thương quanh ta là cái kèo cái cột, hạt gạo ta ăn hằng ngày, câu truyện mẹ kể, miếng trầu bà ăn... Và để làm rõ hơn về Đất Nước, Nguyễn Khoa Điềm đã tách Đất Nước thành hai thành tố Đất và Nước – một yếu tố thuộc âm, một yếu tố thuộc dương, để giải thích một cách đơn giản nhưng cụ thể về Đất Nước.

Bốn câu thơ đầu nhà thơ giải thích về Đất Nước theo lối chiết tự đi từ cái riêng đến cái chung.

Đất là nơi anh đến trường

Nước là nơi em tắm

Đất nước là nơi ta hò hẹn

Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm.

Khi Đất Nước được tách ra thành hai thành tố nó gắn với kỉ niệm đáng yêu, đáng nhớ, thân thuộc của một đời người. Tách thành tố ĐẤT – để chỉ con đường hằng ngày anh tới trường, là ngôi trường cung cấp hành trang tri thức cho mỗi chúng ta tự tin để làm chủ cuộc sống. Tách thành tố NƯỚC – Là dòng sông nơi em tắm mát, dòng sông chở nặng phù sa làm tốt xanh những cánh đồng, bãi mía, nương dâu. Cách diễn giải ấy giúp ta hình dung cụ thể: Đất Nước là nơi ta lớn lên, học tập và sinh hoạt. Khi tách ra thì Đất Nước gắn với kỷ niệm riêng tư của mỗi người còn khi gộp lại Đất Nước lại sống trong cái ta chung. “Khi ta hò hẹn, Đất Nước hòa nhập vào một, trở thành không gian hẹn hò, nâng bước và minh chứng cho tình yêu của hai đứa. Nơi trai gái hẹn hò gợi nên những không gian làng quê thanh bình yên ả: mái đình, hàng cau, lũy tre làng, chiếc cầu tre nho nhỏ… tất cả đều đẹp đều hài hòa và nồng đượm làm sao. Và khi hai đứa yêu nhau thì Đất Nước như cũng sống trong nỗi nhớ thầm của hai đứa “Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” . Câu thơ đậm đà chất dân ca ca dao, đặc trưng của văn hóa Việt xưa xa, gợi nhắc cho ta bài ca dao nổi tiếng:

“Khăn thương nhớ ai

Khăn rơi xuống đất

Khăn thương nhớ ai

Khăn vắt lên vai

Khăn thương nhớ ai

Khăn chùi nước mắt”.

Chiếc khăn bé nhỏ, giản dị cũng thật đáng yêu và dễ thương làm sao, nó cũng là vật chứng cho tình yêu đôi lứa “Gói một chùm hoa/ Trong chiếc khăn tay/ Cô gái ngập ngừng/ Sang nhà hàng xóm” (Phan Thị Thanh Nhàn)

Tiếp tục tách hai thành tố Đất Nước, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm lại lí giải sâu sắc hơn nữa về Đất Nước: Vẻ đẹp quê hương đất nước được tái hiện trong những lời ca dao toát lên lòng tự hào về non sông gấm vóc, về Cha Rồng Mẹ Tiên, gắn với lòng biết ơn tổ tiên đã ăn sâu vào tiềm thức từng người Việt :

Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”

Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”

Thời gian đằng đẵng

Không gian mênh mông

Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ

Lạc Long Quân và Âu Cơ

Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng

Tác giả cảm nhận Đất Nước trên bình diện không gian địa lý. Đất Nước được cảm nhận là“không gian mênh mông”. Có thể hiểu đó là núi sông, bờ cõi, là Bắc – Trung – Nam một dải. Là đất nước rừng vàng biển bạc. Trong ấy, bao thế hệ nối tiếp nhau quản lí đất nước từ dãy Trường Sơn hùng vĩ - "Nơi con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc” cho đến biển bờ Thái Bình Dương vỗ sóng mênh mang - nơi "Con cá ngư ông móng nước biển khơi". Đó là nơi dân mình đoàn tụ, phát triển giống nòi và làm ăn sinh sống làm nên non sông gấm vóc Việt Nam.

Tác giả cảm nhận Đất Nước không chỉ gắn liền với biên cương, lãnh thổ, địa lý mà Đất Nước còn gắn với lịch sử: đất nước được cảm nhận bằng chiều sâu “thời gian đằng đẵng”. Nguyễn Khoa Điềm với một tình cảm tự hào, ông gợi lại huyền sử lung linh về dòng dõi con Rồng cháu Tiên của dân Lạc Việt. Đó là truyền thuyết:

“Lạc Long Quân và Âu Cơ

Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng”

Câu truyện cổ “Sự tích trăm trứng” đã ra đời từ lâu đời nhằm lý giải nguồn gốc của người Việt. Từ câu truyện ấy dân ta muôn đời ta tự hào mình là con rồng cháu tiên, con cháu Vua Hùng. Cho nên đất nước luôn tiềm tàng mối quan hệ giữa các thế hệ quá khứ, hiện tại và tương lai: “Những ai đã khuất / Những ai bây giờ. Những ai đã khuất là những người trong quá khứ - những con người sống giản dị chết bình tâm, những con người đã có công dựng nước và phát triển đất nước. Những ai bây giờ là những người trong hiện tại, đang sống và chiến đấu. Tất cả đều ý thức sâu sắc về sứ mệnh “Yêu nhau và sinh con đẻ cái” bảo tồn nòi giống con dân Việt để góp vào một nhiệm vụ to lớn và thiêng liêng “Gánh vác phần người đi trước để lại” . Tất cả đều ý thức về tổ tiên và nguồn gốc tổ tiên, không bao giờ được quên cội nguồn dân tộc “Hằng năm ăn đâu làm đâu/ Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ”. Câu thơ vận dụng sáng tạo câu ca dao “ Dù ai đi ngược về xuôi/ Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng Ba”. Cho nên tự trong bản thân nó đã bao hàm lời nhắc nhở về nguồn gốc, dòng giống Tổ tiên. Hai chữ “cúi đầu” thể hiện niềm thành kính thiêng liêng mà rất đỗi tự hào về nguồn gốc cha ông. Cúi đầu để hướng về lịch sử về những Tổ Hùng Vương đã góp công dựng nên nước nhà Âu Lạc mà nay là nước Việt Nam hùng cường sánh vai bốn bể năm châu. Người Việt mình dù đi khắp thế giới nhưng trong tâm linh của họ luôn có một ngôi nhà chung để quay về. Đó chính là Quê cha đất Tổ Vua Hùng.

Nguyễn Khoa Điềm, qua đoạn thơ trên, đã nêu những định nghĩa đa dạng, phong phú về đất nước, từ chiều sâu của văn hóa văn tộc, chiều dài của thời gian lịch sử đến chiều rộng của không gian đất nước. Nhà thơ cũng vận dụng rộng rãi các chất liêu văn hóa dân gian, từ truyền thuyết lịch sử, phong tục, tập quán đến sinh hoạt, lao động của dân tộc ta, kết hợp với những hình ảnh, ngôn ngữ nghệ thuật đậm đà tính dân tộc và giàu chất trí tuệ.

I. ĐỌC HIỂUĐọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:            Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời của mình. Ba...
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

            Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời của mình. Ba mẹ yêu thương con không phải vì con mà vì con là con của ba mẹ, bởi vậy kể cả khi con trở thành một người xấu, một kẻ dối trá hay thậm chí trộm cắp, thì tình yêu của ba mẹ dành cho con vẫn không thay đổi. Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”

            Đó chính là lí do đầu tiên để tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương. Thậm chí, tôi chỉ cần một lí do đó mà thôi.

            Kinh Talmud viết: “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” Bởi thế, hiển nhiên là tôi cũng sẽ nói với con tôi những lời ba tôi đã nói.

            […] Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.

(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn – Phạm Lữ Ân)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.

Câu 2: Vì sao nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương.

Câu 3: Theo em, việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa gì?

Câu 4: Em rút ra được thông điệp gì từ những câu văn sau: “Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình

2
21 tháng 7 2021

đọc

nha

21 tháng 5 2025

Dưới đây là gợi ý trả lời cho các câu hỏi đọc hiểu dựa trên đoạn trích từ tác phẩm Nếu biết trăm năm là hữu hạn của Phạm Lữ Ân:


Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.

  • Phương thức biểu đạt chính: Tự sự kết hợp với nghị luận.
  • Đoạn trích kể lại câu chuyện về lời dạy của ba dành cho nhân vật "tôi" (tự sự), đồng thời thể hiện quan điểm, suy nghĩ về giá trị của sự chính trực và tình yêu thương (nghị luận).

Câu 2: Vì sao nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương?

  • Nhân vật "tôi" muốn trở thành người chính trực và biết yêu thương vì ba mẹ đã dạy rằng dù con có sai lầm, ba mẹ vẫn yêu thương con vô điều kiện.
  • Nhưng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành người chính trực và biết yêu thương.
  • Lời dạy đó là động lực và lí do duy nhất để nhân vật "tôi" quyết tâm trở thành người như vậy.

Câu 3: Theo em, việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa gì?

  • Câu trích nhấn mạnh tính liên tục của việc giáo dục và truyền lại giá trị đạo đức qua các thế hệ.
  • Việc dạy con không chỉ ảnh hưởng đến con cái mà còn ảnh hưởng đến cả các thế hệ tiếp theo (cháu chắt).
  • Điều này thể hiện trách nhiệm và tầm quan trọng của việc giáo dục con cái trong gia đình.

Câu 4: Em rút ra được thông điệp gì từ những câu văn sau:

“Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.”

  • Thông điệp:
    • Sự học hỏi từ người thân, đặc biệt là từ cha mẹ, có ý nghĩa sâu sắc và đặc biệt hơn so với việc học từ người khác.
    • Những bài học đời thường, kỹ năng sống khi được truyền đạt từ người thân yêu mang giá trị tinh thần và tình cảm lớn lao.
    • Mối quan hệ gắn bó, sự tin tưởng và tình cảm gia đình làm cho việc học trở nên ý nghĩa và đáng trân trọng hơn.

Nếu bạn cần mình giải thích thêm hoặc hỗ trợ làm bài tập khác, cứ hỏi nhé!



I. ĐỌC HIỂU Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:             Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời của mình....
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

            Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời của mình. Ba mẹ yêu thương con không phải vì con mà vì con là con của ba mẹ, bởi vậy kể cả khi con trở thành một người xấu, một kẻ dối trá hay thậm chí trộm cắp, thì tình yêu của ba mẹ dành cho con vẫn không thay đổi. Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”

            Đó chính là lí do đầu tiên để tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương. Thậm chí, tôi chỉ cần một lí do đó mà thôi.

            Kinh Talmud viết: “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” Bởi thế, hiển nhiên là tôi cũng sẽ nói với con tôi những lời ba tôi đã nói.

            […] Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.

(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn – Phạm Lữ Ân)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.

Câu 2: Vì sao nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương.

Câu 3: Theo em, việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa gì?

Câu 4: Em rút ra được thông điệp gì từ những câu văn sau: “Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.”?

12
14 tháng 5 2021

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.

Câu 2: Lí do để nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương đó là lời nói của ba: Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”

Câu 3: Việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa:

- Khi chúng ta dạy cho con cái mình những điều tốt đẹp, chúng sẽ mang những điều tốt đẹp đó để cư xử với tất cả mọi người xung quanh và dạy dỗ thế hệ sau.

- Những điều tốt đẹp ấy sẽ lan tỏa, có sức ảnh hưởng tích cực đến muôn đời sau.

- Làm tăng ý nghĩa, tính triết lí cho văn bản.

- Làm tăng sức thuyết phục, tin cậy cho nội dung mà tác giả muốn gửi gắm.

Câu 4:

- Trong cuộc đời mỗi người luôn có nhiều người thầy nhưng cha mẹ luôn là người thầy đầu tiên của con.

- Mỗi chúng ta sẽ cảm thấy ấm áp và hạnh phúc vô cùng khi được học những điều bình dị từ chính người cha yêu quý của mình. Cha luôn là người dành cả tình yêu thương và tấm lòng bao la của tình phụ tử thiêng liêng để chỉ bảo ta trên đường đời.

- Bài học từ người thầy đầu tiên ấy là điều vô cùng quý giá, sẽ để lại dấu ấn sâu sắc và gợi nhiều kỉ niệm để nhớ về trên chặng đường sau này.

14 tháng 5 2021

ko biet

A. Nghịch ngữ: “ầm ầm mà quạnh hiu” đặt hai từ tưởng như đối lập trong cùng một trường hợp: “ầm ầm” → âm thanh dội vang, náo động; “quạnh hiu” → vắng lặng, cô tịch.Hiệu quả nghệ thuật:Khắc họa đặc trưng kì dị của sông Đà: vừa dữ dội, hung bạo, vừa lạnh lùng, cô độc.Tạo ấn tượng về sự đầy mâu thuẫn và bí ẩn của thiên nhiên Tây Bắc: cái náo động ghê gớm...
Đọc tiếp


  • A. Nghịch ngữ: “ầm ầm mà quạnh hiu” đặt hai từ tưởng như đối lập trong cùng một trường hợp: “ầm ầm” → âm thanh dội vang, náo động; “quạnh hiu” → vắng lặng, cô tịch.
  • Hiệu quả nghệ thuật:
    • Khắc họa đặc trưng kì dị của sông Đà: vừa dữ dội, hung bạo, vừa lạnh lùng, cô độc.
    • Tạo ấn tượng về sự đầy mâu thuẫn và bí ẩn của thiên nhiên Tây Bắc: cái náo động ghê gớm lại đi kèm một khoảng không thăm thẳm đến rợn ngợp.
    • Thể hiện bút pháp tài hoa, độc đáo của Nguyễn Tuân: dùng nghịch ngữ để làm bật lên vẻ vừa hùng vĩ vừa hiểm trở của con sông, khiến cảnh vật trở nên có hồn, giàu sức gợi cảm giác.


  • B. Nghịch ngữ: “cấp tiến với xã hội và bảo thủ với gia đình” → đặt hai thái cực trái ngược về tư tưởng và lối sống trong cùng một nhân vật.
  • Hiệu quả nghệ thuật:
    • Lột tả sự giả dối, mâu thuẫn nội tại trong tính cách ông nhà báo: cái gọi là “cấp tiến” chỉ là vỏ bọc ngoài xã hội để tỏ ra văn minh, còn thực chất vẫn ích kỷ, bảo thủ, cổ hủ trong đời sống riêng.
    • Vạch trần thói sĩ diện hão, rởm đời của tầng lớp trí thức rởm thời thuộc địa.
    • Tạo giọng văn trào phúng, mỉa mai, đúng đặc trưng phong cách Vũ Trọng Phụng.
1