K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

9 tháng 4 2025

Các đặc tính của lò xo

Lò xo, một trong những vật dụng phổ biến trong cơ học, có nhiều đặc tính quan trọng. Dưới đây là mô tả chi tiết các đặc tính cơ bản của lò xo:

1. Tính đàn hồi:

  • Khái niệm: Tính đàn hồi của lò xo là khả năng trở lại hình dạng và kích thước ban đầu sau khi bị nén hoặc kéo dãn do tác dụng của một lực bên ngoài.
  • Nguyên lý: Lò xo có tính đàn hồi là do cấu trúc vật liệu cũng như sắp xếp phân tử của nó. Khi lò xo bị biến dạng, các lực nội tại trong vật liệu phản ứng để đưa lò xo trở lại trạng thái ban đầu.
  • Định luật Hooke: Trong giới hạn đàn hồi, độ lớn của lực đàn hồi \(F_{d h}\) tỉ lệ thuận với độ biến dạng \(\Delta l\):
    \(F_{d h} = k \cdot \mid \Delta l \mid\)
    Trong đó \(k\) là hệ số đàn hồi (độ cứng) của lò xo.

2. Độ cứng:

  • Khái niệm: Độ cứng (hay hệ số đàn hồi) của lò xo là đại lượng thể hiện khả năng chống lại sự biến dạng của lò xo khi có lực tác dụng vào. Độ cứng lớn hơn đồng nghĩa với việc lò xo cần một lực lớn hơn để gây ra sự biến dạng.
  • Đơn vị: Độ cứng được đo bằng Newton trên mét (N/m).
  • Công thức tính độ cứng: Khi một lực \(F\) tác dụng khiến lò xo biến dạng một độ dài \(\Delta l\), độ cứng \(k\) có thể tính bằng công thức:
    \(k = \frac{F}{\Delta l}\)

3. Độ biến dạng:

  • Khái niệm: Độ biến dạng là sự thay đổi về kích thước hoặc hình dạng của lò xo khi bị tác động bởi lực. Nó được tính bằng hiệu số giữa chiều dài khi bị biến dạng và chiều dài tự nhiên của lò xo.
  • Công thức: Được biểu thị bằng:
    \(\Delta l = l - l_{0}\)
    Trong đó \(l\) là chiều dài của lò xo khi bị biến dạng, \(l_{0}\) là chiều dài tự nhiên của lò xo.
  • Phân loại: Độ biến dạng có thể theo phương nén (chiều dài giảm) hoặc kéo (chiều dài tăng).

4. Giới hạn đàn hồi:

  • Khái niệm: Giới hạn đàn hồi là giá trị lớn nhất của lực mà lò xo có thể chịu đựng mà không bị biến dạng vĩnh viễn. Khi vượt qua giới hạn này, lò xo sẽ không trở lại hình dạng ban đầu.
  • Đặc điểm: Giới hạn đàn hồi khác nhau tùy thuộc vào loại vật liệu của lò xo và cách sử dụng. Nếu lò xo bị biến dạng nhiều hơn giới hạn đàn hồi, nó sẽ có thể bị hư hỏng hoặc không còn khả năng đàn hồi.
  • Ý nghĩa: Việc xác định giới hạn đàn hồi của lò xo rất quan trọng trong thiết kế và ứng dụng thực tiễn, đảm bảo rằng các lò xo có thể hoạt động hiệu quả trong các điều kiện khác nhau mà không bị hư hỏng.

Kết luận

Các đặc tính của lò xo như tính đàn hồi, độ cứng, độ biến dạng và giới hạn đàn hồi không chỉ quan trọng cho cơ học mà còn có ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực kỹ thuật và công nghiệp. Hiểu rõ về những đặc tính này giúp các kỹ sư thiết kế và sử dụng lò xo một cách hiệu quả và an toàn hơn.

29 tháng 3

Tính đàn hồi: Đây là khả năng của lò xo (hoặc bất kỳ vật liệu nào) quay trở lại hình dạng ban đầu sau khi lực tác dụng lên nó bị loại bỏ. Lò xo được làm từ vật liệu có tính đàn hồi để có thể co giãn và trở lại trạng thái ban đầu.

Độ cứng (k): Độ cứng của lò xo là một đại lượng đặc trưng cho sự chống lại biến dạng của lò xo khi có lực tác dụng. Nó được đo bằng tỉ số giữa độ lớn của lực đàn hồi và độ biến dạng tương ứng. Độ cứng càng lớn thì lò xo càng cứng, nghĩa là cần một lực lớn hơn để làm biến dạng nó.

Độ biến dạng (Δl): Độ biến dạng là sự thay đổi về chiều dài của lò xo so với chiều dài ban đầu khi có lực tác dụng. Độ biến dạng có thể là sự co lại (nén) hoặc sự dãn ra (kéo) của lò xo.

Giới hạn đàn hồi: Giới hạn đàn hồi là giá trị độ biến dạng lớn nhất mà lò xo có thể chịu được mà vẫn giữ được tính đàn hồi. Nếu lò xo bị biến dạng vượt quá giới hạn này, nó sẽ bị biến dạng vĩnh viễn và không còn khả năng quay trở lại hình dạng ban đầu.

1, Tên báo cáo nghiên cứu: HỘI GIÓNG-SỨC SỐNG CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN TRONG CÁC LỄ HỘI VĂN HOÁ CỦA DÂN TỘC2, Em chọn đề tài là: Sức sống của văn học dân gian trong các lễ hội văn hóa truyền thống của dân tộc. Vì:- Vấn đề tôi chọn: gần gũi với thực tế đời sống hiện nay.- Khi tìm hiểu thông tin về vấn đề này, nó giúp tôi dễ dàng hơn trong việc tiếp cận các văn bản dân gian và giúp...
Đọc tiếp

1, Tên báo cáo nghiên cứu: HỘI GIÓNG-SỨC SỐNG CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN TRONG CÁC LỄ HỘI VĂN HOÁ CỦA DÂN TỘC

2, Em chọn đề tài là: Sức sống của văn học dân gian trong các lễ hội văn hóa truyền thống của dân tộc. Vì:

- Vấn đề tôi chọn: gần gũi với thực tế đời sống hiện nay.

- Khi tìm hiểu thông tin về vấn đề này, nó giúp tôi dễ dàng hơn trong việc tiếp cận các văn bản dân gian và giúp tôi hình dung dễ dàng hơn khi tìm hiểu các giá trị văn hóa được truyền tải thông qua các văn bản văn học dân gian.

- Đa số ở mỗi vùng miền/ địa phương sẽ có các lễ hội truyền thống khác nhau, nên việc tìm hiểu vấn đề sẽ không gây quá nhiều khó khăn; tôi/ chúng tôi có thể tìm hiểu các lễ hội truyền thống tại địa phương để giúp tuyên truyền và quảng bá vẻ đẹp truyền thống này.

- Việc tìm hiểu vấn đề này giúp chúng tôi được mở rộng vốn kiến thức của mình, phát huy các điểm mạnh cá nhân như: chọn lọc thông tin, giao tiếp xã hội, thuyết trình và lí giải về các vấn đề đã tìm hiểu và lựa chọn…

3, -Mục tiêu nghiên cứu của đề tài, vấn đề: Sức sống của văn học dân gian trong các lễ hội văn hóa truyền thống của dân tộc.

+ Nhằm phát triển năng lực nghiên cứu một đề tài/ vấn đề văn học dân gian qua trải nghiệm thực tiễn, qua đó mở rộng hiểu biết về sức sống và giá trị của văn học dân gian trong đời sống hiện nay.

+ Bồi dưỡng tình yêu đối với các giá trị của văn hóa dân tộc.

-Đối tượng nghiên cứu: truyền thuyết “Thánh Gióng” và hội Gióng.

-Các phương pháp nghiên cứu:

+ Tìm hiểu truyền thuyết “Thánh Gióng” và lễ hội Gióng qua tài liệu, sách, báo, internet,..

+ Tham khảo ý kiến chuyên gia.

+ Ghi chép lại những thông tin thu thập được.

+ Viết báo cáo.

 

 

 

0
10 tháng 3 2020

Vì R1nối tiếp R2⇒UAB=U1+U2

Mà UAB=I.Rtđ

U1=I.R1 , U2=I.R2

⇒I.Rtđ=I.R1+I.R2 

⇔Rtđ=R1+R2

Trong mạch nối tiếp ta có U = U1 + U2 = IR1 + IR2 = I(R1 + R2).

Mặt khác, U = IR. Từ đó suy ra: R = R1 + R2.

nhớ k ~

꧁༺мιин❖đứ¢༻꧂

20 tháng 12 2023

Bài làm tham khảo

Xin chào các bạn, chào mừng các bạn đến với bài thuyết trình của nhóm 4. Ngay sau khi nhận được đề bài từ cô giáo nhóm mình đã cũng nhau trao đổi, thảo luận. Và hôm nay chúng mình xin phép trình bày bài thuyết trình: Giới thiệu, đánh giá về nhân vật dì Mây trong truyện “Người ở bến sông Châu” của Sương Nguyệt Minh.

Như các bạn đã biết chiến tranh qua đi, để lại biết bao mất mát tổn thương. Đó không chỉ là những nỗi đau về vật chất mà còn là nỗi đau về tinh thần. Như vết cứa rất sâu vào trái tim của con người, đặc biệt là những người phụ nữ. Truyện ngắn Người ở bến sông Châu là một truyện ngắn như thế, thấm đượm giá trị nhân văn và tình yêu thương, ca ngợi con người mà đặc biệt là những người phụ nữ.

Câu truyện xoay quanh về nhân vật dì Mây. Cô gái trẻ trung xinh đẹp, tóc dì đen dài, óng mượt "Dì đẹp gái nhất làng, có khối trai làng ra bến sông ngó trộm dì mày tắm”. Trước khi đi xung phong dì có mối tình đẹp đẽ, trong trẻo với chú San.  Nhưng phải chia tay nhau vì chú San đi học nghề ở nước ngoài. Còn dì thì xung phong làm cô y sĩ Trường Sơn. Hoàn cảnh trớ trêu đã đẩy chú dì vào cảnh người mỗi ngả chia li cách biệt. Có thể thấy chiến tranh, bom đạn thật tàn nhẫn khi đã đẩy họ vào hoàn cảnh tách biệt.

Khi từ chiến trường bom đạn chờ về. Dì Mây bị đạn phạt vào chân, phải đi tập tễnh, bằng chân giả. Tuy nhiên nỗi đau thể chất đó không thấm vào đâu khi ngày dì trở về cũng là ngày dì phải chứng kiến người đàn ông mình yêu thương, nghĩ tới nhiều nhất, người đàn ông mà dì viết tên hằng ngày vào cuốn nhật kí ở Trường Sơn đã đi lấy người phụ nữ khác. Thử hỏi làm sao dì có thể chịu đựng được cú sốc tinh thần dã man tới vậy, lòng người con gái giờ đây là sự hụt hẫng, bàng hoàng, trớ trêu và đầy tuyệt vọng. Nhưng trong hoàn cảnh tuyệt vọng đó ta vẫn thấy được sự kiên cường, mạnh mẽ của dì Mây. Thái độ của dì rất cương quyết, thể hiện sự bản lĩnh kiên cường của người phụ nữ. Dì nhất quyết không đồng ý trước lời đề nghị “Mây, chúng ta sẽ làm lại” của chú San. Trước sự thể đã rồi dì nhận phần thiệt thòi về mình, dì chỉ muốn một người đàn bà khổ. Có thể thấy dù đau đớn, tuyệt vọng nhưng dì vẫn nén vào trong, dì là đại diện cho phẩm chất kiên cường của những người phụ nữ bước ra từ chiến tranh và bom đạn 

Ở dì Mây còn nổi bật lên phẩm chất tốt bụng, vị tha và bao dung. Khi dì Mây nghe tin cô Thanh vợ chú San khó sinh cô Thanh đẻ thiếu tháng lại tràng hoa quấn cổ dì đã ngay lập tức giúp đỡ không hề suy nghĩa, đắn đo điều gì. Mặc dù ở vào hoàn cảnh của dì việc làm đó chẳng hề dễ dàng, nhưng dì vẫn không chút e ngại, chần chừ, suy nghĩ gì mà lập tức tới giúp đỡ cô Thanh vượt qua cơn nguy hiểm, để mẹ tròn con vuông.

Có thể thấy dì Mây hiện lên với rất nhiều những phẩm chất cao thượng, tốt đẹp, dì đại diện cho những người con gái Việt Nam sẵn sàng hi sinh thầm lặng, đánh đổi cả thanh xuân tuổi trẻ và hạnh phúc của cá nhân mình vì những điều lớn lao khác.

         Trên đây là bài trình bày của nhóm mình cảm ơn cô giáo và các bạn đã lắng nghe. Rất mong nhận được những góp ý, nhận xét từ mọi người.

4 tháng 3 2023

Dàn ý

1. Mở bài

- Lời chào và giới thiệu bản thân.

- Giới thiệu vấn đề chính trong bài nói: đánh giá nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật Trương Phi và Quan Công trong đoạn trích Hồi trống Cổ Thành của La Quán Trung.

2. Thân bài

- Sử dụng ngôn ngữ liên kết để chuyển sang phần thân bài trong bài nói.

- Tóm tắt nội dung đoạn trích.

- Giới thiệu lần lượt về tính cách của hai nhân vật Trương Phi và Quan Công. Chú ý đặt các nhân vật vào hoàn cảnh cụ thể để làm nổi bật cách xây dựng nhân vật của tác giả.

- Đưa ra sự so sánh giữa hai nhân vật

3. Kết bài

- Nêu lên suy nghĩ của bản thân về nghệ thuật xây dựng nhân vật Trương Phi và Quan Công của tác giả.

- Gửi lời cảm ơn tới người nghe.

Bài làm

     Trương Phi và Quan Công là hai trong số các nhân vật chính trong tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa nổi tiếng, về đức độ của hai nhân vật này, ở bài thơ Tức cảnh, Hồ Chí Minh đã ngợi ca: Thụ sao xảo họa Trương Phi tượng - Xích nhật trường minh Quan Vũ tâm (Cành lá khéo in hỉnh Dực Đức - vầng hồng sáng mãi dạ Quan Công). Nhưng tính cách của họ thế nào? Đoạn trích Hồi trống cổ Thành đã phần nào cho người đọc cảm nhận được những nét tính cách có phần đối lập của hai nhân vật này.

     Nội dung của câu chuyện Hồi trống Cổ Thành được tóm tắt trong câu: “Chém Sái Dương anh em hoà giải; Hồi Cổ Thành tôi chúa đoàn viên”. Đoạn trích này đã thể hiện khá rõ những đặc sắc nghệ thuật trần thuật và nghệ thuật xây dựng nhân vật của Tam quốc diễn nghĩa. Những nét tính cách không thường nổi bật trong tác phẩm của hai nhân vật Quan Công và Trương Phi đã được thể hiện trong đoạn trích. Quan Công vốn rất tự phụ, ít khi nhún nhường ai, nhưng trong trường hợp đặc biệt này, trước cơn giận của Trương Phi, lại rất nhũn nhặn, mềm mỏng. Ở đây hiện lên một Quan Công oai hùng trong tư thế chém đầu tướng giặc nhưng cũng lại là một người anh chín chắn, đúng mực. Còn Trương Phi tính tình vốn xốc nổi, đơn giản nhưng mối nghi ngờ đã làm cho vị anh hùng này thận trọng hơn. Đó là những nét tính cách khác tạo nên sự đa chiều trong nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật của tác giả. Dù thế nào thì mỗi nhân vật của Tam quốc diễn nghĩa vẫn có một tính cách đặc trưng rất cá tính, không thể trộn lẫn vào đâu được. Đoạn trích này ca ngợi tài năng phi thường của Quan Công, lòng dạ thẳng ngay của Trương Phi và trên hết là lòng trung nghĩa sắt son của cả hai người.

 

     Trương Phi nổi tiếng là người ngay thẳng, nóng nảy và trung thực. Nên mọi lí lẽ với Trương Phi đều không có sức thuyết phục. Người như Trương Phi không bao giờ chấp nhận và cũng khó có thể hiểu được những uẩn khúc trong việc Quan Công về ở với Tào Tháo. Vì thế khi nghe tin Quan Công đến Cổ Thành, Trương Phi đã phản ứng rất quyết liệt: “Phi nghe xong, chẳng nói chẳng rằng, lập tức mặc áo giáp, vác mâu lên ngựa…”. Nhìn thấy Quan Công thì không thèm nói một lời, “Trương Phi mắt trợn tròn xoe, râu hùm vểnh ngược, hò hét như sấm, múa xà mâu chạy lại đâm Quan Công”.

     Không có lời bình luận, không miêu tả tâm lí nhân vật nhưng tính nóng nảy và sự tức giận của Trương Phi được thể hiện rất rõ qua hành động, nét mặt, lời nói. Phản ứng của Trương Phi thể hiện tính trung thực, yêu ghét rõ ràng. Lời thanh minh của Quan Công, lời giải thích của Cam phu nhân, Mi phu nhân đều chỉ như dầu đổ vào lửa. Trương Phi không thích nghe lí lẽ, chỉ tin vào những điều mắt trông thấy. Cơn giận đang ngùn ngụt lại trông thấy quân mã kéo tới. Cơn giận của Trương Phi được đẩy lên đỉnh điểm “múa bát xà mâu hăm hở xông lại đâm Quan Công”. Nhân vật của tiểu thuyết cổ điển tuy có tính cách rất rõ nét nhưng vẫn mang tính ước lệ của văn học trung đại. Vì vậy, hành động của nhân vật bao giờ cũng minh hoạ cho tính cách và tư tưởng giai cấp chứ không nhất thiết tuân theo lôgic tâm lí. Tình nghĩa anh em thuở hàn vi sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu ai đó bị nghi ngờ là phản bội. Chỉ có lí tưởng trung nghĩa là nguyên tắc ứng xử duy nhất. Và mọi mâu thuẫn chỉ được giải quyết trên cơ sở lợi ích cộng đồng.

 

     Anh em Quan, Trương đoàn tụ khi đầu Sái Dương rơi xuống đất. Trương Phi thẳng tay đánh trống giục giã Quan Vũ và “rỏ nước mắt thụp lạy Vân Trường” khi nỗi nghi ngờ được giải toả. Việc Trương Phi buộc Quan Công phải chém đầu Sái Dương trong ba hồi trống thể hiện một thái độ dứt khoát và cương quyết, đây cũng là chi tiết đậm màu sắc Tam quốc nhất. Trương Phi biết rõ tài năng của Quan Công, Quan Công từng chém rơi đầu Hoa Hùng, một viên tướng giỏi và trở về doanh trại mà chén rượu vẫn còn nóng. Việc Quan Công chém được Sái Dương không phải là việc khó nhưng lại rất có ý nghĩa bởi đó là cách duy nhất để Quan Công minh oan. Sự minh oan cũng không mấy khó khăn nhưng nó thể hiện thái độ dứt khoát và trắng đen rõ ràng của Trương Phi. Tác giả đã tạo nên một tình huống rất đặc sắc để vừa ngợi ca tình cảm anh em gắn bó nghĩa tình của Lưu, Quan, Trương vừa bộc lộ rõ tính cách thẳng ngay của Trương Phi và đức độ của Quan Công.

     Trương Phi và Quan Công là những tướng tài của nhà Thục, tiêu biểu cho nhà Thục. Lưu Bị và nhà Thục là nơi tác giả gửi gắm ước mơ của quần chúng nhân dân về một ông vua hiền, một triều đình chính nghĩa và nhân đạo.

     Với lối kể chuyện dân gian, đơn giản hoá tình tiết trong sự đa dạng của sự kiện, Tam quốc diễn nghĩa đã đạt đến chuẩn mực của nghệ thuật kể chuyện. Tam quốc diễn nghĩa là tiểu thuyết cổ điển tiêu biểu ở cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Thành công của tác phẩm không chỉ bởi giá trị lớn của tác phẩm về quân sự, lịch sử và về đạo đức mà còn bởi thế giới nhân vật được xây dựng rất thành công. Những nhân vật tiêu biểu của Tam quốc diễn nghĩa đã trở nên rất quen thuộc đối với văn hoá và người đọc phương Đông. Không đi sâu khai thác tính cách bằng diễn biến tâm lí nhân vật như tiểu thuyết hiện đại mà xây dựng tính cách nhân vật bằng những hành động, cử chỉ có ý nghĩa khái quát, La Quán Trung vẫn xây dựng được một thế giới nhân vật đa dạng có khả năng bao quát và tái hiện sinh động một thời kì lịch sử dài gần một trăm năm với rất nhiều biến động. Qua đây tác giả đã gửi gắm những suy nghĩ và thể hiện cái nhìn của mình về xã hội Minh Thanh.

 

     Chỉ với một đoạn trích Hồi trống cổ thành nhưng hai nhân vật Quan Công và Trương Phi đã nổi lên vẻ đẹp sáng ngời về lòng nhân nghĩa, sự trung thực và chân thành của tình anh em, tôi chúa. Là tiểu thuyết khai thác đề tài trận mạc nhưng Tam quốc đã để lại rất nhiều những câu chuyện giáo dục nghĩa tình, giáo dục lối sống, lối ứng xử theo tiêu chuẩn Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín của người quân tử phương Đông.

  
CHUYÊN ĐỀ 1:Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tấm cám là một tác phẩm tiêu biểu phản ánh sinh động cuộc sống, tinh thần, đạo lý và niềm tin của người Việt. Chuyện xoay quanh hành trình của nhân vật tấm từ cô gái mồ côi bị áp bức đến người chiến thắng, cuối cùng vượt qua nhiều tai ương, bất công. Tuy nhiên, chuyện tấm cám không chỉ đơn thuần là cuộc đối đầu giữa thiện...
Đọc tiếp

CHUYÊN ĐỀ 1:

Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tấm cám là một tác phẩm tiêu biểu phản ánh sinh động cuộc sống, tinh thần, đạo lý và niềm tin của người Việt. Chuyện xoay quanh hành trình của nhân vật tấm từ cô gái mồ côi bị áp bức đến người chiến thắng, cuối cùng vượt qua nhiều tai ương, bất công. Tuy nhiên, chuyện tấm cám không chỉ đơn thuần là cuộc đối đầu giữa thiện và ác mà còn ẩn chứa nhiều chiều sâu văn hóa và tư tưởng. Báo cáo này tập trung khai thác vấn đề về cuộc đấu tranh giữa thiện và ác dưới góc nhìn nhân học và nữ quyền học. Tấm cám là một chuyện cổ tích thần kỳ thuộc loại hình người mồ côi gặp hoạn nạn nhưng sau cùng được hạnh phúc. Nhân vật chính là tấm, cô gái hiền lành bị mẹ con cám hãm hại nhiều lần nhưng được thần linh giúp đỡ và cuối cùng giành lại công lý. Cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác trong truyện đại diện bởi tấm tấm là hình ảnh tiêu biểu của người phụ nữ hiền lành, chăm chỉ, lương thiện. Dù bị hãm hại nhiều lần, tấm vẫn kiên cường vươn lên, thể hiện khát vọng hạnh phúc và công bằng. Cái ác đại diện bởi mẹ ghẻ và cám sự ghen ghét, mưu mô, sẵn sàng giết tấm nhiều lần để giành lấy địa vị, là biểu tượng cho sự tàn nhẫn của xã hội phong kiến, đặc biệt là trong quan hệ mẹ kế con chồng. Diễn biến cuộc đấu tranh, ban đầu, tấm bị áp bức, giết hại hóa thân nhiều lần, chim vàng, anh, cây xoan đào, khung cửi quả thị cuối cùng về làm người thắng lợi và xử phạt cái ác. Cuộc đấu tranh gay gắt và kéo dài cho thấy quá trình tự khẳng định, tự tái sinh của cải thiện trong xã hội đầy bất công. Góc nhìn nhân học văn hóa, chuyện phản ánh thực tế khắc nghiệt của xã hội phong kiến cũ, bất công giai cấp định kiến đi dân gian về sự tồn tại của thế lực siêu nhiên hỗ trợ người hiền. Quan niệm luôn hồi tái sinh gắn với niềm tin ở hiền gặp lành. Góc nhìn nữ quyền, tấm không chỉ là người hiền lành, cam chịu mà còn là người biết vúng lên, vùng lên trả thù, giành lại hạnh phúc. Các hình thức hóa thân của tấm cho thấy sự đấu tranh dai dẳng, bản lĩnh của người phụ nữ. Hành động xử lý cám ở cuối truyện nếu cám thành mắm gây tranh cãi, nhưng có thể hiểu sử nội nổi dậy của nữ giới bị áp bức trong xã hội nam quyền. Chuyện tấm cám trong không chỉ là cuộc đối đầu giữa thiện và ác, mà còn là biểu tượng của hành trình khẳng định giá trị sống của người phụ nữ trong xã hội xưa. Qua lăng kính nhân học và nữ quyền, ta thấy được chiều sâu văn học và tư tưởng phản kháng Khát vọng công lý ẩn trong truyện cổ tích. Việc nghiên cứu vấn đề này không chỉ giúp hiểu hơn về giá trị văn học dân gian mà còn gợi mở nhiều suy nghĩ về các vấn đề đương đại như bất bình đẳng giới, quyền sống và sự công bằng trong xã hội.

0
. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)Đọc I đoạn trích:           Thế rồi Gióng mặc giáp sắt, đội nón sắt, tay cầm gươm múa quanh mấy vòng. Đoạn từ biệt mẹ và dân làng, nhảy lên lưng ngựa. Ngựa sắt bỗng chồm lên, phun thẳng ra đằng trước một luồng lửa đỏ rực. Gióng thúc chân, ngựa phi như bay, sải từng bước dài hàng chục con sào. Chỉ trong chớp mắt, ngựa đã xông đến đồn trại giặc...
Đọc tiếp

. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc I đoạn trích:

           Thế rồi Gióng mặc giáp sắt, đội nón sắt, tay cầm gươm múa quanh mấy vòng. Đoạn từ biệt mẹ và dân làng, nhảy lên lưng ngựa. Ngựa sắt bỗng chồm lên, phun thẳng ra đằng trước một luồng lửa đỏ rực. Gióng thúc chân, ngựa phi như bay, sải từng bước dài hàng chục con sào. Chỉ trong chớp mắt, ngựa đã xông đến đồn trại giặc đang đóng la liệt cả mấy khu rừng. Lưỡi gươm của Gióng vung lên loang loáng như chớp giật. Quân giặc xông ra chừng nào chết chừng ấy. Ngựa thét ra lửa thiêu cháy từng dãy đồn trại, lửa thiêu luôn cả mấy khu rừng.

            Nhưng tướng giặc Ân vương vẫn còn cố gào thét hô quân xáp tới, Gióng càng đánh càng khỏe, thây giặc nằm ngổn ngang. Bỗng chốc gươm gãy, Gióng không chút bối rối, thuận tay nhổ những bụi tre hai bên đường quật tới tấp vào các toán giặc đang cố gắng trụ lại theo lệnh chủ tướng. Chẳng mấy chốc quân giặc đã tẩu tán bỏ chạy khắp nơi, Ân vương bị quật chết tan xác. Bọn tàn binh giặc lạy lục xin hàng. Quân đội của Hùng Vương cũng như dân các làng chỉ còn việc xông ra trói chúng lại. Không đầy một buổi, Gióng đã trừ xong nạn cho nước nhà. Lúc bấy giờ ngựa Gióng đã tiến đến chân núi Sóc Sơn. Đến đây, Gióng bèn cởi giáp bỏ nón lại, rồi cả người lẫn ngựa bay thẳng lên trời.

                                                                                                                                         (Trích Thánh Gióng)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Xác định PTBĐ chính của đoạn trích.

Câu 2. Nêu  những sự việc tiêu biểu được kể lại trong đoạn trích trên?

Câu 3. Liệt kê các chi tiết miêu tảsự thất bại của quân giặc được nói đến trong đoạn trích?

Câu 4. Nêu hiệu quả của phép so sánh được sử dụng trong câu văn: Gióng thúc chân, ngựa phi như bay, sải từng bước dài hàng chục con sào?

Câu 5. Anh/Chị hiểu như thế nào về chi tiết:  Lúc bấy giờ ngựa Gióng đã tiến đến chân núi Sóc Sơn. Đến đây, Gióng bèn cởi giáp bỏ nón lại, rồi cả người lẫn ngựa bay thẳng lên trời?

Câu 6. Anh/chị hãy nhận xét thông điệp của tác giả được thể hiện qua đoạn trích?

 

2
23 tháng 10 2021

Định cho người ta làm hộ luôn bài kiểm tra à

23 tháng 10 2021
Ừ đúng là bài kiểm tra nhưng được ra về nhà
Nguyễn Dữ là một trong những tác giả nổi tiếng về truyện truyền kỳ. Trong những tác phẩm của ông, có lẽ “Chuyện người con gái Nam Xương” là câu chuyện đặc sắc nhất. Tác phẩm viết về số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa, ca ngợi phẩm chất cao đẹp của họ. Đồng thời, qua đó ta thấy được sự đồng cảm sâu sắc của tác giả với hoàn cảnh của họ.Vũ Nương...
Đọc tiếp

Nguyễn Dữ là một trong những tác giả nổi tiếng về truyện truyền kỳ. Trong những tác phẩm của ông, có lẽ “Chuyện người con gái Nam Xương” là câu chuyện đặc sắc nhất. Tác phẩm viết về số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa, ca ngợi phẩm chất cao đẹp của họ. Đồng thời, qua đó ta thấy được sự đồng cảm sâu sắc của tác giả với hoàn cảnh của họ.

Vũ Nương là người con gái “tính tình thùy mị nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp”. Chồng nàng là Trương Sinh, một người đa nghi và hay ghen. Mặc dù vậy, với tính cách dung hòa của mình, “nàng luôn giữ gìn khuôn phép”, cuộc sống gia đình của hai người luôn ổn định, không hề xảy ra bất hòa. Khi Trương Sinh phải sung binh, nàng lại là người vợ chung thủy, một lòng một dạ với chồng, chỉ mong chàng lên đường bình an trở về, không mong đeo được ấn phong hầu. Tình yêu và ước mơ của nàng thật giản dị và ý nghĩa. Chồng đi xa, nàng sinh con và chăm sóc mẹ chồng một cách chu đáo. Khi mẹ ốm, “nàng hết sức thuốc thang, lễ Phật cầu thần”, câu nói “Sau này trời giúp người lành, ban cho phúc trạch, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, mong ông xanh kia chẳng phụ con cũng như con đã chẳng nỡ phụ mẹ.” của mẹ chồng nàng đã cho ta thấy Vũ Nương là một người vợ chu đáo, một người con hiếu thảo biết chừng nào. Khi mẹ chồng mất, nàng đau xót, lo liệu ma chay như với cha mẹ đẻ của mình.

Tuy nhiên, người phụ nữ đức hạnh ấy lại phải chịu đựng một nỗi oan và dẫn đến cái chết thương tâm của nàng. Trong thời gian chồng đi tòng quân, nàng thường hay đùa với con bằng cách trỏ vào bóng mình trên tường và nói đó là cha Đản. Khi bị Trương Sinh nghi ngờ, nàng vẫn cố gắng hỏi rõ sự tình và thanh minh với chàng: “Thiếp vốn nhà nghèo, được vào cửa tía. Sum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh. Cách biệt ba năm, giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn, từng đã nguội lòng, ngõ liễu đường hoa chưa hề bén gót. Đâu có sự mất nết hư thân như lời chàng nói.” Tuy nhiên, khi Trương Sinh một mực không tin, nàng đã gieo mình xuống bến Hoàng Giang mà chết. Chi tiết này đã nói lên nét đẹp con người Vũ Nương, nàng sẵn sàng lấy cái chết để chứng minh sự trong sạch của mình. Hành động mà Vũ Nương nhờ Phan Lang về nói với Trương Sinh yêu cầu của nàng cũng một lần nữa nói nên tấm lòng chung thủy, một lòng son sắt của nàng. Khi hiểu ra sự tình, Trương Sinh đã vô cùng ân hận, đàn giải oan đã khiến cho Vũ Nương được trả lại sự trong sạch, yên lòng, nàng đã được đức Linh Phi cho hiện về, dẫu không thể trở lại cõi trần được nữa.

Tác phẩm của Nguyễn Dữ, một tác phẩm truyền kỳ có sử dụng những yếu tố hoang đường kỳ ảo. Nhưng từ đó lại thấy được cái nhìn, sự trân trọng và cảm thông của tác giả đối với số phận người phụ nữ xưa, ca ngợi phẩm chất cao đẹp của họ.

0
22 tháng 1 2019

Chọn đáp án: B

- Đọc phần Kiến thức ngữ văn để vận dụng vào bài đọc hiểu này.- Cần lưu ý: Tiểu thuyết chương hồi xuất hiện đầu tiên và thịnh hành ở Trung Quốc khoảng từ thế kỉ XIV đến cuối thế kỉ XVIII. Đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết chương hồi là sự phân chia tác phẩm thành những hồi khác nhau. Mỗi hồi đều có tiêu đề khái quá nội dung được trình bày trong hồi. Kết thúc mỗi...
Đọc tiếp

- Đọc phần Kiến thức ngữ văn để vận dụng vào bài đọc hiểu này.

- Cần lưu ý: Tiểu thuyết chương hồi xuất hiện đầu tiên và thịnh hành ở Trung Quốc khoảng từ thế kỉ XIV đến cuối thế kỉ XVIII. Đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết chương hồi là sự phân chia tác phẩm thành những hồi khác nhau. Mỗi hồi đều có tiêu đề khái quá nội dung được trình bày trong hồi. Kết thúc mỗi hồi thường có câu thơ mang tính chất bình luận. Sau những câu thơ là những lời gắn kết hồi trước với hồi sau, kích thích sự quan tâm, chú ý của người đọc. Tiểu thuyết chương hồi thường chú ý đến các sự kiện, tình huống bất ngờ, hồi hộp, căng thẳng, thú vị. Trong tiểu thuyết chương hồi, tính cách nhân vật được thể hiện tương đối nhất quán, rõ ràng thông qua đối thoại và hành động.

- Khi đọc văn bản Kiêu binh nổi loạn, em cần chú ý:

+ Đoạn trích có những nhân vật và sự kiện nào nổi bật? Các nhân vật và sự kiện đó có liên quan đến lịch sử hay được tác giả hư cấu?

+ Nội dung (đề tài, chủ đề) và những hình thức nghệ thuật đặc sắc của đoạn trích là gì?

+ Nội dung đoạn trích mang lại cho em những hiểu biết, suy nghĩ và tình cảm gì?

- Đọc trước văn bản Kiêu binh nổi loạn và tìm hiểu thêm thông tin về nhóm tác giả Ngô gia văn phái, tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí.

- Đọc nội dung giới thiệu sau đây để hiểu bối cảnh đoạn trích:

Hoàng Lê nhất thống chí là tác phẩm viết bằng chữ Hán theo hình thức tiểu thuyết chương hồi. Nội dung chính của Hoàng Lê nhất thống chí phản ánh thời kì lịch sử khoảng 30 năm, từ khi Trịnh Sâm lên ngôi chúa (1768) đến lúc Gia Long lên ngôi vua (1802). Tác phẩm tái hiện một cách phong phú, sinh động bức tranh xã hội trong thời kì khủng hoảng triền miên, dẫn đến sự sụp đổ của các tập đoàn phong kiến Lê -Trịnh và khí thế quật khởi, tinh thần quyết liệt chống thù trong giặc ngoài của phong trào khởi nghĩa Tây Sơn do Nguyễn Huệ đứng đầu.

Đoạn trích Kiêu binh nổi loạn dưới đây thuộc Hồi thứ hai của tác phẩm, kể chuyện kiêu binh nổi loạn, giết Quận Huy Hoàng Đinh Bảo, phế Trịnh Cạn, lập Trịnh Tông lên ngôi chúa. 

1
20 tháng 12 2023

- Khi đọc tùy bút các em cần chú ý

          + Đoạn trích có các nhân vật và sự kiện nổi bật như: Trịnh Tông – Thế tử bị phế truất xuống làm con út do tạo phản bất thành. Lính kiêu binh phần nhiều thuộc phe Trịnh Tông, Dự Vũ - đầu bếp của Tông; Gia Thọ là gia thần, Bằng Vũ là gia binh. Chúng căm ghét quận Huy như kẻ thù của chúng. Tình thế bất lực, thảm hại và cái chết bi tráng của anh em Quận Huy với sự không đề phòng, thiếu mưu lược của những kẻ nắm quyền quốc gia trong phủ. Các nhân vật và sự kiện này đều có thật và có liên quan mật thiết đến lịch sử Việt Nam

          + Đoạn trích mang chủ đề lịch sử, những hình thức nghệ thuật đặc sắc của đoạn trích tiêu biểu là bút pháp tả thực của lối chép sử biên niên, không che dấu một nụ cười mỉa mai và xót xa trước tình cảnh đất nước bị rữa nát từ chính quyền trung ương.
           + Nội dung đoạn trích mang lại cho em những hiểu biết về một tấn bi kịch lịch sử, nhưng chất hài của tấn kịch lịch sử này cũng rất rõ: Những nhân vật đã bị lịch sử lên án, đã hết vai trò lịch sử, vẫn cố khẳng định uy quyền của mình và trở thành những vai hề như quận Huy vẫn tin ở uy quyền của mình, biết trước âm mưu nổi loạn của đám kiêu binh vẫn không thèm phòng bị gì, một mình giữa đám loạn quân hung hãn vẫn quát tháo thị oai.

4 tháng 5 2017

Trong nguyên tác, hồi 28 có tiêu đề:

“Chém Sái Dương, anh em hoà giai

Hồi Cổ thành, tôi chúa đoàn viên”

Chữ uhồi” trong nhan đề đoạn trích (do người biên soạn đặt) có nghĩa là hồi trống (danh từ). Đây là hồi trống do Trương Phi gióng lên như một chi tiết có ý nghĩa nghệ thuật độc đáo. Đây trước hết cũng là hồi trống trận như tất cả những hồi trống trận thông thường khác, nhưng có điều là người đánh trống không phải thuộc quân bên này hay quân bên kia, và hơn nữa, mục đích của hổi trống cũng không phải chỉ thúc giục kẻ giao chiến. Có thể thấy, hồi trống như trút hết tất cả tâm trạng đang đầy mâu thuẫn, sự xúc động, căng thẳng đến tột cùng của Trương võ tướng, từ sau ngày anh em thất trận, bặt vô âm tín, cho đến nỗi oán hận vì nghe tin thất thiệt về Quan Công, những hi vọng được gặp lại nhau, và những thất vọng vì hiểu nhầm về nhau... tất cả những tâm trạng ấy như đã được dổn nén để bây giờ vang lên, bùng nổ ra trong hồi trống cổ thành. Cho nên. ta như nghe thấy trong hồi trống ấy có cả tiếng khóc, tiếng cười, tiếng eám thét vì giận dữ của Trương Phi. Nó như một khúc ca, ca ngợi tấm lòns trượng nghĩa, tình huynh đệ bất diệt giữa những người anh em kết nghĩa vườn đào.