Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
bài thơ đợi mẹ, em như được sống lại trong một không gian đầy yêu thương và chờ mong. Hình ảnh em bé ngồi trông ngóng mẹ về vừa hồn nhiên, trong sáng, vừa gợi lên nỗi nhớ thương tha thiết. Những vần thơ giản dị mà chân thật đã khắc họa rõ tình cảm gắn bó thiêng liêng giữa mẹ và con.Em cảm nhận được nỗi khát khao có mẹ ở bên,đc nghe giọng nói ấm áp, được vòng tay mẹ ôm ấp vỗ về. Đằng sau lời thơ còn là sự hy sinh thầm lặng, vất vả của mẹ cho con có cuộc sống đầy đủ, bình yên.Bài thơ khiến em càng thêm trân trọng những khoảnh khắc gần gũi bên mẹ, đồng thời nhắc nhở em phải biết yêu thương, kính trọng và báo đáp công lao to lớn của mẹ bằng sự ngoan ngoãn, học tập chăm chỉ và những việc làm tốt nhỏ bé mỗi ngày
Trong tất cả những bài thơ tự do nổi tiếng như “Sóng” – Xuân Quỳnh; “Những cánh buồm” – Hoàng Trung Thông; “Đất nước” (trích Trường ca Mặt đường khát vọng) – Nguyễn Khoa Điềm; “Mùa xuân nho nhỏ” – Thanh Hải; “Ánh trăng” – Nguyễn Duy thì bài thơ Tre Việt Nam của Nguyễn Duy đã để lại trong em nhiều ấn tượng sâu lắng. Qua thể thơ tự do giản dị, nhà thơ đã khắc họa hình ảnh cây tre xanh quen thuộc của làng quê Việt Nam. Tre hiện lên không chỉ là loài cây mọc thẳng, dẻo dai, gắn bó với đồng ruộng, với mái nhà tranh mà còn là biểu tượng cho phẩm chất con người Việt Nam: cần cù, đoàn kết, kiên cường, cần cù, chịu thương chịu khó, lối sống ngay thẳng, chính trực. Đọc những câu thơ ấy, em cảm thấy như nghe tiếng nói chân thành của nhà thơ về dân tộc mình, vừa tự hào, vừa yêu thương. Đất nước ta đã phải trải qua 1000 năm Bắc thuộc và phải đi trên con đường cách mạng - đường mà dân tộc ta phải đi trong lịch sử, tre như là lũy thành, hàng rào kiên cố bảo vệ con đường cách mạng chi đất nước ta. Tre cùng dân ta trải qua bao gian khổ, cùng ra trận, giữ làng, giữ nước, như bức tường thành kiên cố - một chứng minh của lịch sử và còn là người bạn đồng hành trung thành của ông cha ta nói chung và Việt Nam nói riêng. Hình ảnh tre trong bài thơ gợi cho em tình yêu sâu sắc với quê hương, đất nước, và nhắc nhở em phải cố gắng học tập để mai sau này xây dựng cho quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh hơn.
Câu 1. bài thơ lá đỏ gợi cho em nhiều cảm xúc sâu lắng về thiên nhiên và con người trong chiến tranh, hình ảnh lá đỏ không chỉ tả cảnh mà còn gợi lên sự khốc liệt nhưng cũng rất đẹp của chiến trường, em cảm nhận được tinh thần lạc quan, yêu đời và ý chí kiên cường của người lính, qua đó em càng thêm trân trọng những hi sinh thầm lặng của họ để bảo vệ đất nước, đồng thời thấy được vẻ đẹp giản dị mà xúc động của thiên nhiên gắn liền với con người trong hoàn cảnh khó khăn
Tớ làm cho cậu nì:
“Trăng sáng trăng soi rừng núi
Trăng lên trăng tỏ trên trời.”
Khi đọc bài thơ này, mình cảm nhận được vẻ đẹp yên bình và thơ mộng của ánh trăng đêm. Trăng không chỉ là ánh sáng chiếu rọi mọi vật mà còn như người bạn đồng hành, dịu dàng và tinh khiết giữa bầu trời rộng lớn. Đêm trăng làm cho tâm hồn mình thấy nhẹ nhàng, thanh thản, như được rửa sạch những muộn phiền thường ngày. Mình tưởng tượng ánh trăng vàng dịu dàng chiếu xuống, tỏa sáng từng ngọn cây, từng ngọn núi xa xa, tạo nên một khung cảnh nên thơ, đầy chất thi ca. Bài thơ gợi cho mình niềm tin vào vẻ đẹp tự nhiên và sự yên bình trong cuộc sống. Cảm giác ấy làm mình muốn ngồi lại, tận hưởng từng phút giây lặng lẽ bên ánh trăng sáng.
Nếu cậu thấy cách xưng hô ko đúng thì cậu sửa lại nhe.Tớ mới học ý nên là nếu cậu thấy hợp lí thì cậu cho mình 2 coin nha !! =3
Bài thơ Mẹ tôi của Từ Dạ Linh như một khúc ca giản dị mà sâu lắng về tình mẫu tử, khiến lòng người đọc nhói lên từng nhịp vừa trìu mến vừa da diết. Tác giả dùng hình ảnh rất mộc mạc — mẹ gánh nặng đồng áng, mẹ là lời ru ầu ơ, mẹ là hương lúa trên đồng — để dựng lên chân dung một người mẹ lao động, tảo tần với đôi chân vẹt mòn bàn chân vì nắng mưa. Đọc tới những câu “Mẹ thơm hương lúa” và “Mẹ là dịu mát dòng sông cuộc đời”, mình cảm nhận rõ hơi thở của đất đai quê hương, cảm giác ấm áp bình yên khi được trở về bên mẹ. Trong những lúc lòng rã rời, chỉ cần nghĩ tới mẹ cũng đủ cho hồn mình được xoa dịu, được chở che như dòng sông mát lành giữa mùa hè oi ả. Bài thơ khiến mình nhớ rằng, người mẹ không chỉ là nơi bắt đầu của mỗi cuộc đời, mà còn là nơi trở về để thấy mình được yêu thương, được trân trọng, bất kể đi bao xa. Khi đọc Mẹ tôi, mình vừa cảm phục nỗi vất vả, lại vừa trân quý sự hy sinh thầm lặng ấy — hy sinh không cầu tiếng vỗ tay, chỉ để con cái yên lòng, phát triển trong tình yêu và trong ký ức quê nhà.
Bài thơ "Mẹ tôi" của Từ Dạ Linh là một lời tự tình ngắn gọn nhưng sâu nặng về tình mẫu tử, gieo vào lòng người đọc những cảm nhận chân thật nhất. Hình ảnh người mẹ trong thơ hiện lên giản dị và cao cả: một bóng hình tảo tần, gánh gồng mọi vất vả mà vẫn giữ trọn nụ cười và hy vọng cho con. Từng câu chữ của tác giả như một lời thủ thỉ, thấm đẫm sự biết ơn và thấu hiểu sâu sắc trước những hy sinh thầm lặng của mẹ. Đọc thơ, ta không chỉ xúc động trước tình yêu thương vô bờ bến ấy mà còn tự thấy lòng mình bồi hồi, chợt muốn về nhà ôm lấy mẹ và trân trọng mọi khoảnh khắc. Đây thực sự là một bài thơ ngọt ngào, một lời nhắc nhở thiêng liêng về lòng hiếu thảo.
Bài thơ Những cánh buồm của Hoàng Trung Thông đã để lại trong em nhiều ấn tượng sâu sắc. Qua hình ảnh cánh buồm trắng trên biển khơi, tác giả đã gợi lên ước mơ, khát vọng vươn tới chân trời mới của tuổi thơ. Cánh buồm không chỉ là kỉ niệm gắn với người cha lam lũ, mà còn là biểu tượng của niềm tin và hi vọng mà cha muốn gửi gắm cho con. Đọc bài thơ, em cảm nhận được tình phụ tử thiêng liêng, giản dị mà vô cùng ấm áp. Đồng thời, em cũng thấy được ước mơ lớn lao của thế hệ trẻ: muốn đi xa, muốn khám phá, muốn cống hiến. Bài thơ giúp em thêm yêu cha mẹ, biết trân trọng những tình cảm thân thương và nuôi dưỡng cho mình những khát vọng tươi đẹp trong cuộc sống.
Tham khảo nhé: Mẫu 1: Bài thơ "Những cánh buồm" của Hoàng Trung Thông đã để lại trong em nhiều cảm xúc sâu sắc. Tác phẩm không chỉ khắc họa hình ảnh những cánh buồm căng gió trên biển cả mà còn gợi lên những ước mơ, khát vọng vươn ra khơi xa của con người. Qua từng câu thơ, em cảm nhận được sự mạnh mẽ, tự do và khát khao chinh phục những chân trời mới. Hình ảnh những cánh buồm như biểu tượng cho sức sống mãnh liệt, cho tinh thần dũng cảm và ý chí không ngừng vươn lên. Bài thơ đã truyền tải một thông điệp tích cực về cuộc sống, khuyến khích mỗi người hãy luôn theo đuổi ước mơ của mình, bất chấp những khó khăn, thử thách. Em cảm thấy rất tự hào khi được học và cảm nhận vẻ đẹp của tác phẩm này. Mẫu 2: Bài thơ "Những cánh buồm" của Hoàng Trung Thông đã gửi gắm nhiều thông điệp giá trị về tình cảm cha con. Mở đầu, tác giả đã vẽ nên một bức tranh rất đẹp đẽ. Trong tranh, cha đang dắt con đi dạo trên bãi biển. Ánh mặt trời chiếu xuống, phản chiếu bóng của cha và con. Bóng cha dài lênh khênh còn bóng con lại tròn chắc nịch. Hình ảnh này gợi ra sự khác biệt giữa hai thế hệ. Người cha mang dáng vẻ trưởng thành, còn đứa con thì nhỏ bé. Cha và con bước đi trong một khung cảnh thiên nhiên đầy thơ mộng. Bãi cát trải dài mịn màng, nước biển thì trong xanh. Ánh nắng của buổi sớm mai mang sắc hồng rực rỡ. Lắng nghe tiếng bước chân của con, lòng cha cảm thấy vui vẻ, sung sướng. Thế rồi, đứa con bỗng chỉ về phía xa và hỏi người cha. Câu hỏi chứa đựng sự tò mò của trẻ thơ, khao khát được chinh phục, khám phá thế giới. Tiếng “Cha ơi!” vang lên có chút trìu mến, thân thương. Cha mong rằng con có được khám phá thế giới rộng lớn ngoài kia. Đến những câu thơ cuối, hình ảnh người cha dắt con đi được lặp lại. Người cha dường như bắt gặp bản thân ở trong đứa con. Và người cha gửi gắm mong muốn đó vào đứa con thân yêu của mình. Hoàng Trung Thông đã sử dụng hình ảnh gần gũi, giản dị cùng với giọng điệu hồn nhiên, trong sáng. “Những cánh buồm” là một bài thơ có thông điệp giá trị về tình cảm cha con. Tôi rất yêu thích bài thơ Những cánh buồm.
Làm giúp nì,tick cho tui nhe:
Bài thơ Mẹ tôi của tác giả Từ Dạ Linh đã để lại trong em một ấn tượng sâu sắc về tình cảm thiêng liêng và sự hy sinh vô bờ của mẹ. Qua từng câu chữ, tác giả đã vẽ nên hình ảnh người mẹ với vẻ đẹp giản dị, mộc mạc nhưng lại vô cùng vĩ đại. Những hình ảnh của mẹ trong bài thơ như "mẹ là ngọn lửa cháy âm thầm" hay "mẹ là mảnh đất quê hương" khiến em cảm nhận rõ ràng sự nuôi dưỡng và bảo vệ vô điều kiện mà mẹ dành cho con cái. Mẹ không chỉ là người sinh thành, mà còn là người truyền cảm hứng, là nơi con tìm về khi mệt mỏi hay lạc lối. Cảm xúc trong bài thơ nhẹ nhàng nhưng đầy chất chứa, như một lời nhắc nhở về lòng biết ơn, sự kính trọng đối với những hy sinh thầm lặng của mẹ. Em thấy mình như được gợi nhắc lại những kỷ niệm bên mẹ, càng thêm trân quý những gì mẹ đã làm cho mình. Mẹ là tất cả, là niềm tin và là nguồn động lực vô giá trong cuộc đời mỗi người.
- Biểu tượng của sự hi sinh: Tác giả khắc họa mẹ là người chịu đựng "đắng cay ngang trái", giấu đi "đớn đau" để dành cho con sự sống và che chở, dõi theo con suốt cuộc đời.
- Biểu hiện của tình thương: Tình mẹ được thể hiện qua những hành động cụ thể như chăm sóc con, là chỗ dựa tinh thần, hay qua nỗi mong nhớ con da diết trong câu hát ru "À ơi... Sáng trông/Trưa đợi/Tối chờ".
- Sự lớn lao, vĩ đại: Dù cuộc sống có khó khăn đến đâu, mẹ vẫn là người vĩ đại và thiêng liêng nhất, là nguồn sức mạnh, tình yêu thương vô bờ bến dành cho con.
- Giọng điệu mộc mạc, tha thiết: Tác giả sử dụng giọng điệu chân thành, giản dị, kết hợp với hình ảnh ẩn dụ và so sánh độc đáo, tạo nên sức lay động mạnh mẽ.
- Lời ru quen thuộc: Câu hát ru "À ơi..." mang âm hưởng của quê hương, làm cho bài thơ trở thành một khúc hát tri ân bất tận, gợi cảm xúc sâu lắng.
- Lòng biết ơn sâu nặng: Bài thơ khơi gợi trong em niềm xúc động, biết ơn sâu sắc đối với tình mẹ, hiểu được giá trị của những hy sinh thầm lặng mà mẹ dành cho con.
- Trân trọng phút giây bên mẹ: Tác giả muốn gửi gắm thông điệp hãy trân trọng những khoảnh khắc được ở bên cạnh mẹ, yêu thương và đền đáp công ơn của mẹ.
- Tình yêu thương là hạnh phúc: Tình yêu thương của cha mẹ là món quà vô giá, giúp ta vững bước trên đường đời.
bài 1:
Y Phương, một nhà thơ mang tiếng nói riêng rất đặc trưng của dân tộc Tày, thơ của ông rất bình dị, tự nhiên và trong sáng. Những tác phẩm của ông thể hiện cái nhìn tích cực tốt đẹp với các khía cạnh của cuộc sống. "Con là…" là một trong những tác phẩm của nhà thơ, bài thơ nói về tâm sự của người cha dành cho con và thể hiện tình phụ tử tha thiết. Bài thơ ca ngợi tình cảm gia đình và khẳng định tầm quan trọng của người con đối với cha, với mẹ và với mỗi ngôi nhà nói chung. “Con là…” không chỉ là tình cảm yêu thương dành cho đứa con yêu quý của mình, mà đây cũng chính là lời khẳng định về vai trò và ý nghĩa thiêng liêng của con cái trong cuộc đời của mẹ cha. Thể thơ tự do, bài thơ giản dị, với những hình ảnh vừa cụ thể vừa mang ý nghĩa biểu tượng, giàu sắc thái biểu đạt và biểu cảm. Cách nói tự nhiên như ngôn ngữ đời thường tạo nên một giọng điệu riêng cho lời tâm tình mộc mạc mà sâu sắc của người cha đối với đứa con. Bài thơ thể hiện tình cảm gia đình ấm cúng, ca ngợi ý nghĩa của những đứa trẻ nói riêng và ý nghĩa của mỗi người nói chung trong cuộc sống. Bài thơ giúp ta hiểu thêm về tình cảm gia đình thiêng liêng, về tình yêu thương trời bể của mẹ cha đối với mỗi chúng ta và chúng ta nên biết trân trọng nó
Với bài thơ Ngắm trăng, Hồ Chí Minh đã thể hiện tình yêu say đắm với ánh trăng trong đêm vắng dù Người đang trong hoàn cảnh lao tù tăm tối, cực khổ Từ bao đời nay, trăng đến với nhà thơ như một người bạn tâm giao, cùng sẻ chia bao nỗi niềm khó nói của thi nhân. Bài thơ mở ra với không gian chật hẹp, tù túng là nhà tù – nơi giam cầm những chiến sĩ cách mạng yêu nước. Bằng biện pháp liệt kê, Người đã khắc họa cuộc sống thiếu thốn nơi đây: không rượu, không hoa. Hoa là biểu tượng của cái đẹp, rượu là chất men say ru hồn ta trong đêm khuya yên tĩnh. Thiếu sự góp mặt của cái đẹp kiêu sa, trang trọng ấy trong buổi ngắm trăng quả là một sự thiếu hụt lớn. Nhưng với Bác, được tận hưởng vẻ đẹp của trăng đêm nay cũng đã là một điều quý giá. Câu thơ cho thấy tinh thần lạc quan, dù đang đối mặt với hiểm nguy nhưng tâm hồn Bác vẫn say sưa với cái đẹp, hướng thân thể ra ngoài lao với ánh trắng tự do trên bầu trời cao rộng. Vượt lên sự thiếu thốn về vật chất, Bác đã thưởng ngoạn ánh trăng bằng một phong thái ung dung đón nhận và sự lạc quan, tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Trăng và Người ở tư thế đối diện: người ngắm trăng, trăng “nhòm” khe cửa, tuy hai mà một. Ánh trăng phải “nhòm” qua song sắt chật hẹp để ngắm được rõ nét hơn khuôn mặt thi sĩ, để đồng cảm, sẻ chia với hoàn cảnh khó khăn hiện tại của người chiến sĩ. Người đã vượt lên trên bao gông cùm, xiềng xích, dây trói để hòa mình vào thiên nhiên. Trăng không còn là vật vô trí mà như hóa thân, có tâm hồn và tình yêu như con người.Bác hướng đến ánh trăng cũng là hướng đến ánh sáng của tự do, của lí tưởng cộng sản. Bài thơ không chỉ thể hiện tình yêu, lòng say đắm thiên nhiên mà còn thể hiện một tinh thần “thép” trong hoàn cảnh vô cùng gian khổ. Như vậy, song sắt và xiềng xích nhà tù chỉ có thể giam cầm thân thể chứ không thể ngăn cấm được tâm hồn và lí tưởng cộng sản bừng cháy trong con người ấy.
Nhà văn Hoài Thanh có nói: “Thơ Bác đầy trăng”. Thật vậy, Bác đã viết nhiều bài thơ trăng. Trong số đó, bài “Ngắm trăng” là bài thơ tuyệt tác, mang phong vị Đường thi, được nhiều người ưa thích.
Nguyên tác bằng chữ Hán, đây là bản dịch bài thơ:
“Trong tù không rượu cũng không hoa
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ.
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.
Bài thơ rút trong “Nhật kí trong tù”; tập nhật kí bằng thợ được viết trong một hoàn cảnh đọa đày đau khổ, từ tháng 8 - 1942 đến tháng 9 - 1943 khi Bác Hồ bị bọn Tưởng Giới Thạch bắt giam một cách vô cớ. Bài thơ ghi lại một cảnh ngắm trăng trong nhà tù, qua đó nói lên một tình yêu trăng, yêu thiên nhiên tha thiết.
Hai câu thơ đầu ẩn chứa một nụ cười thoáng hiện. Đang sống trong nghịch cảnh, và đó cũng là sự thật “Trong tù không rượu cũng không hoa” thế mà Bác vẫn thấy lòng mình bối rối, vô cùng xúc động khi vầng trăng xuất hiện trước cửa ngục đêm nay. Ánh trăng mang đến cho thi nhân bao cảm xúc, bồi hồi.
Trăng, hoa, rượu là ba thú vui tao nhã của khách tài tử văn chương. Đêm nay trong tù, Bác thiếu hẳn rượu và hoa, nhưng tâm hồn Bác vẫn dạt dào trước vẻ đẹp hữu tình của thiên nhiên. Câu thơ bình dị mà dồi dào cảm xúc. Bác vừa băn khoăn, vừa bối rối tự hỏi mình trước nghịch cảnh: Tâm hồn thì thơ mộng mà chân tay lại bị cùm trói, trăng đẹp thế mà chẳng có rượu, có hoa để thưởng trăng?
“Trong tù không rượu cũng không hoa,
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ”.
Sự tự ý thức về cảnh ngộ đã tạo cho tư thế ngắm trăng của người tù một ý nghĩa sâu sắc hơn các cuộc ngắm trăng, thưởng trăng thường tình. Qua song sắt nhà tù, Bác ngắm vầng trăng đẹp. Người tù ngắm trăng với tất cả tình yêu trăng, với một tâm thế “vượt ngục” đích thực? Song sắt nhà tù không thể nào giam hãm được tinh thần người tù có bản lĩnh phi thường như Bác:
“Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ”…
Từ phòng giam tăm tối, Bác hướng tới vầng trăng, nhìn về ánh sáng, tâm hồn thêm thư thái. Song sắt nhà tù tỉnh Quảng Tây không thể nào ngăn cách được người tù và vầng trăng! Máu và bạo lực không thể nào dìm được chân lí, vì người tù là một thi nhân, một chiến sĩ vĩ đại tuy “thân thể ở trong lao” nhưng “tinh thần ở ngoài lao”.
Câu thứ tư nói về vầng trăng. Trăng có nét mặt, có ánh mắt và tâm tư. Trăng được nhân hóa như một người bạn tri âm, tri kỉ từ viễn xứ đến chốn ngục tù tăm tối thăm Bác. Trăng ái ngại nhìn Bác, cảm động không nói nên lời, Trăng và Bác tri ngộ “đối diện đàm tâm”, cảm thông nhau qua ánh mắt. Hai câu 3 và 4 được cấu trúc đăng đối tạo nên sự cân xứng hài hòa giữa người và trăng, giữa ngôn từ, hình ảnh và ý thơ:
“Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.
Ta thấy: “Nhân, Nguyệt” rồi lại “Nguyệt, Thi gia” ở hai đầu câu thơ và cái song sắt nhà tù chắn ở giữa. Trăng và người tù tâm sự với nhau qua cái song sắt nhà tù đáng sợ ấy. Khoảnh khắc giao cảm giữa thiên nhiên và con người xuất hiện một sự hóa thân kì diệu: “Tù nhân” đã biến thành thi gia. Lời thơ đẹp đầy ý vị. Nó biểu hiện một tư thế ngắm trăng hiếm thấy. Tư thế ấy chính là phong thái ung dung, tự tại, lạc quan yêu đời, yêu tự do. “Ngắm trăng” là một bài thơ trữ tình đặc sắc. Bài thơ không hề có một chữ “thép” nào mà vẫn sáng ngời chất “thép”. Trong gian khổ tù đày, tâm hồn Bác vẫn có những giây phút thảnh thơi, tự do ngắm trăng, thưởng trăng.
Bác không chỉ ngắm trăng trong tù. Bác còn có biết bao vần thơ đặc sắc nói về trăng và niềm vui ngắm trăng: Ngắm trăng trung thu, ngắm trăng ngàn Việt Bắc, đi thuyền ngắm trăng… Túi thơ của Bác đầy trăng: “Trăng vào cửa sổ đòi thơ…”, "… Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền…”, “Sao đưa thuyền chạy, thuyền chờ trăng lên…”. Trăng tròn, trăng sáng… xuất hiện trong thơ Bác vì Bác là một nhà thơ giàu tình yêu thiên nhiên, vì Bác là một chiến sĩ giàu tình yêu đất nước quê hương. Bác đã tô điểm cho nền thi ca dân tộc một số bài thơ trăng đẹp.
Đọc bài thơ tứ tuyệt “Ngắm trăng” này, ta được thưởng thức một thi phẩm mang vẻ đẹp cổ kính, hoa lệ. Bác đã kế thừa thơ ca dân tộc, những bài ca dao nói về trăng làng quê thôn dã, trăng thanh nơi Côn Sơn của Nguyễn Trãi; trăng thề nguyền, trăng chia li, trăng đoàn tụ, trăng Truyện Kiều; “Song thưa để mặc bóng trăng vào”… của Tam Nguyên Yên Đổ…
Uống rượu, ngắm trăng là cái thú thanh cao của các tao nhân mặc khách xưa, nay – “Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén” (Nguyễn Trãi). Ngắm trăng, thưởng trăng đối với Bác Hồ là một nét đẹp của tâm hồn rất yêu đời và khát khao tự do. Tự do cho con người. Tự do để tận hưởng mọi vẻ đẹp thiên nhiên của quê hương xứ sở. Đó là cảm nhận của nhiều người khi đọc bài thơ “Ngắm trăng” của Hồ Chí Minh.
Hai câu thơ mở bài như một lời giới thiệu của tác giả về làng quê miền biển của mình. Nó là một làng quê nằm ăn sát ra biển, bốn bề quanh năm sóng vỗ. Qua hai câu mở bài này, tác giả còn muốn giới thiệu với mọi người về nghề nghiệp chính ở quê mình, đó là nghề ngư nghiệp.
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá
Hai câu thơ tiếp theo như những dòng nhật kí tâm tình của Tế Hanh, nói về công việc thường nhật xảy ra ở ngôi làng ven biển này. Tiết trời ở đây thật trong lành: bầu trời trong xanh, gió biển nhẹ, bình minh rực rỡ sắc hồng. Lúc đó, những người thanh niên, trai tráng trong làng cùng nhau căng buồm, tiến ra biển cả.
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang
Trong hai câu thơ này, tác giả Tế Hanh đã sử dụng những động từ, tính từ mạnh: “hăng, phăng, vượt” và sử dụng nghệ thuật so sánh “chiếc thuyền nhẹ” với “con tuấn mã”, làm gợi lên vẻ đẹp, sự dũng mãnh của con thuyền.
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió
Ở hai câu tiếp theo này, nghệ thuật so sánh lại được sử dụng. “Cánh buồm” được so sánh với “mảnh hồn làng”, thể hiện tình yêu quê hương luôn tiềm tàng trong con người Tế Hanh.
Được sử dụng một lần nữa, động từ, tính từ mạnh: “giương, rướn, bao la” đã cho ta thấy một vẻ đẹp kiêu hãnh, đầy tự hào của cánh buồm vi vu trong gió biển.
Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ,
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.
“Nhờ ơn trời, biển lặng, cá đầy ghe”
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.
Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng,
Khắp thân mình nồng thở vị xa xăm.
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm,
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
Tám câu thơ tiếp theo này thể hiện hình ảnh làng chài khi những chiếc thuyền cá trở về sau những ngày chìm trong gió biển. Người dân làng chài vui sướng biết bao khi những người thân của họ đã mang về những thành quả tương xứng. Dân chài lưới mang một màu da thật riêng, có một mùi hương riêng biệt. Cái mùi này chỉ những người yêu quê hương tha thiết, nồng nàn như tác giả Tế Hanh mới có thể cảm nhận được. Chiếc thuyền cũng mệt mỏi sau những ngày đi biển, tựa như con người vậy. Cái chất muối thấm trong thớ vỏ cũng được tác giả cảm nhận bằng cách “nghe”, thật độc đáo!
Nay xa cách, lòng tôi luôn tưởng nhớ:
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi,
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!
Khi viết bài thơ này, tác giả đang ở xa quê hương. Vậy mà, ông vẫn luôn nhớ về mảnh đất quê hương yêu dấu của mình. Nhớ màu nước biển xanh, nhớ những con cá bạc, nhớ cánh buồm trắng, nhớ con thuyền đang băng băng rẽ sóng ra khơi. Ông còn nhớ cả cái mùi muối mặn của biển quê nhà.
Kết lại, với những vần thơ bình dị mà gợi cảm, bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh đã vẽ ra một bức tranh tươi sáng, sinh động về một làng quê miền biển, trong đó nổi bật lên hình ảnh khoẻ khoắn, đầy sức sống của người dân làng chài và sinh hoạt lao động làng chài. Bài thơ còn cho thấy tình cảm quê hương trong sáng, tha thiết của tế hanh
Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ,
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.
“Nhờ ơn trời, biển lặng, cá đầy ghe”
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.
Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng,
Khắp thân mình nồng thở vị xa xăm.
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm,
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
Tám câu thơ tiếp theo này thể hiện hình ảnh làng chài khi những chiếc thuyền cá trở về sau những ngày chìm trong gió biển. Người dân làng chài
vui sướng biết bao khi những người thân của họ đã mang về những thành quả tương xứng. Dân chài lưới mang một màu da thật riêng, có một mùi
hương riêng biệt. Cái mùi này chỉ những người yêu quê hương tha thiết, nồng nàn như tác giả Tế Hanh mới có thể cảm nhận được. Chiếc thuyền
cũng mệt mỏi sau những ngày đi biển, tựa như con người vậy. Cái chất muối thấm trong thớ vỏ cũng được tác giả cảm nhận bằng cách “nghe”, thật
độc đáo!
Nay xa cách, lòng tôi luôn tưởng nhớ:
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi,
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!
Khi viết bài thơ này, tác giả đang ở xa quê hương. Vậy mà, ông vẫn luôn nhớ về mảnh đất quê hương yêu dấu của mình. Nhớ màu nước biển xanh,
nhớ những con cá bạc, nhớ cánh buồm trắng, nhớ con thuyền đang băng băng rẽ sóng ra khơi. Ông còn nhớ cả cái mùi muối mặn của biển quê
nhà.
Kết lại, với những vần thơ bình dị mà gợi cảm, bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh đã vẽ ra một bức tranh tươi sáng, sinh động về một làng quê miền
biển, trong đó nổi bật lên hình ảnh khoẻ khoắn, đầy sức sống của người dân làng chài và sinh hoạt lao động làng chài. Bài thơ còn cho thấy tình
cảm quê hương trong sáng, tha thiết của tế hanh
tham khảo đc ko
đc ạ
Bài thơ "Đồng chí" của nhà thơ Chính Hữu là một trong những tác phẩm tiêu biểu của nền văn học kháng chiến chống Pháp. Qua đó, tác giả đã khắc họa một cách sâu sắc và chân thực tình đồng chí, đồng đội trong thời chiến, đồng thời ca ngợi những phẩm chất cao đẹp của người lính Việt Nam. Đây là một bài thơ không chỉ đơn thuần kể lại những hình ảnh của chiến tranh mà còn là bức tranh đầy cảm động về tình người, về tình đồng đội thắm thiết trong hoàn cảnh gian khổ của cuộc chiến.
Mở đầu bài thơ, Chính Hữu đã vẽ nên một bức tranh về những người lính mới gặp nhau trong cảnh đất lạ, quê người. Dù xuất phát từ những miền quê khác nhau, họ vẫn gặp gỡ, chia sẻ và gắn kết với nhau trong cuộc sống chiến đấu. Những câu thơ đầu tiên của bài thơ đã tạo ra một không khí gần gũi và thân thuộc giữa những người đồng chí:
"Quê hương tôi, đất nước tôi,
Gặp nhau nơi đất lạ quê người."
Dù chiến tranh đã đưa họ xa quê hương, nhưng những người lính này vẫn luôn tìm thấy sự an ủi và động lực trong tình đồng chí. Họ là những người lính của một lý tưởng chung, đó là bảo vệ Tổ quốc, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc. Và chính tình đồng chí đã trở thành nguồn động viên mạnh mẽ giúp họ vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong cuộc sống gian khổ nơi chiến trường.
Trong những câu thơ tiếp theo, Chính Hữu đã miêu tả cuộc sống khắc nghiệt của những người lính qua hình ảnh "Áo rách vai, quần thủng gối" và "Tối đến, gục lên nhau ngủ". Những hình ảnh này không chỉ thể hiện sự nghèo khổ, thiếu thốn của chiến trường mà còn là minh chứng cho sự gian khổ mà những người lính phải chịu đựng. Tuy nhiên, dù trong hoàn cảnh khó khăn, họ vẫn có thể nương tựa vào nhau, tìm thấy sự an ủi, động viên trong tình đồng đội.
Đặc biệt, trong bài thơ, Chính Hữu đã khắc họa một hình ảnh rất đặc biệt về tình đồng chí. Tình cảm giữa những người lính không chỉ là sự chia sẻ về vật chất mà còn là sự sẻ chia về tinh thần. Tình đồng chí ở đây không phải chỉ là sự gắn bó đơn thuần mà còn là sự đồng lòng, hi sinh vì nhau trong chiến đấu. Những người lính đã phải chịu đựng những đêm mưa gió, những đêm tối tăm không trăng sao, nhưng chính trong những đêm tối đó, tình đồng chí đã sáng lên như một ngọn đuốc dẫn đường, giúp họ vững bước trên con đường chiến đấu.
"Chúng tôi quen nhau từ cái đêm đêm nở trong trời đất
Đêm không trăng, đêm mưa rơi"
Những lời thơ giản dị, chân thành nhưng đầy ắp tình cảm đã giúp người đọc cảm nhận được sự gắn bó sâu sắc giữa những người lính. Trong thời chiến, tình đồng chí chính là thứ tình cảm thiêng liêng, không gì có thể thay thế được. Chính tình cảm ấy đã giúp những người lính vượt qua được những nỗi đau mất mát, sự thiếu thốn về vật chất để cùng nhau chiến đấu vì một lý tưởng chung – bảo vệ sự toàn vẹn của Tổ quốc.
Bên cạnh đó, bài thơ cũng thể hiện sự hy sinh vô điều kiện của những người lính đối với đồng đội. Tình đồng chí ở đây không chỉ là sự đồng cảm, chia sẻ mà còn là sự sẵn sàng hi sinh cho nhau, cho lý tưởng cao đẹp của dân tộc. Những người lính trong bài thơ không chỉ đối mặt với gian khổ, chiến tranh mà còn là những con người biết hy sinh bản thân mình để bảo vệ đồng đội. Chính Hữu đã khắc họa một hình ảnh về tình đồng chí sâu sắc qua những câu thơ đầy ắp cảm xúc:
"Đồng chí, đồng chí ơi! Đừng quên nhé!
Đừng quên những đêm chia ly."
Trong những câu thơ này, chúng ta có thể cảm nhận được sự gắn bó, sự quý trọng đối với tình đồng đội. Đây không phải là những lời hứa suông mà là sự thể hiện sự khắc khoải, lo lắng, và mong muốn được gìn giữ mối quan hệ đồng chí ấy mãi mãi, dù chiến tranh có tàn khốc đến đâu.
Tình đồng chí trong bài thơ "Đồng chí" của Chính Hữu không chỉ là sự kết nối giữa những người lính trong hoàn cảnh chiến tranh mà còn là một giá trị nhân văn sâu sắc, gắn kết con người với nhau. Bài thơ đã làm nổi bật sự cao cả của tình đồng đội, sự gắn bó thắm thiết và những hy sinh vô điều kiện vì lý tưởng chung. Đọc bài thơ, tôi không chỉ hiểu hơn về cuộc sống của những người lính mà còn cảm nhận sâu sắc về tình đồng chí, đồng đội trong mỗi con người. Đây chính là tình cảm thiêng liêng và vô giá mà mọi thế hệ cần phải gìn giữ và phát huy.
Bài thơ "Đồng chí" không chỉ là một tác phẩm về chiến tranh mà còn là một thông điệp lớn lao về tình người, về tình đồng đội trong cuộc sống. Nó khiến tôi hiểu rằng, dù trong hoàn cảnh nào, tình đồng chí, sự gắn kết và hy sinh vì nhau luôn là thứ tình cảm quý báu nhất. Và qua bài thơ, tôi càng thêm trân trọng và yêu mến những người lính, những người đã góp phần làm nên lịch sử vẻ vang của dân tộc.