Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:
Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời của mình. Ba mẹ yêu thương con không phải vì con mà vì con là con của ba mẹ, bởi vậy kể cả khi con trở thành một người xấu, một kẻ dối trá hay thậm chí trộm cắp, thì tình yêu của ba mẹ dành cho con vẫn không thay đổi. Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”
Đó chính là lí do đầu tiên để tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương. Thậm chí, tôi chỉ cần một lí do đó mà thôi.
Kinh Talmud viết: “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” Bởi thế, hiển nhiên là tôi cũng sẽ nói với con tôi những lời ba tôi đã nói.
[…] Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.
(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn – Phạm Lữ Ân)
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
- PTBĐ: Nghị luận.
Câu 2: Vì sao nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương.
- Lý do đầu tiên để nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương đó là lời nói của ba nhân vật: “Nhưng ba
muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”
Câu 3: Theo em, việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud
có ý nghĩa gì?
- Câu kinh đó ý nói: khi chúng ta dạy cho con cái mình những điều tốt đẹp, chúng sẽ mang những điều tốt đẹp đó để cư xử với tất cả
mọi người xung quanh và dạy dỗ những thế hệ sau này. Những điều tốt đẹp ấy sẽ như một hạt giống tốt tươi được lan xa, lan rộng.
Câu 4: Em rút ra được thông điệp gì từ những câu văn sau: “Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình?
- Đó là điều đặc biệt. Vì khi chính cha mình – bằng tất cả tình yêu thương và tấm lòng bao la của tình phụ tử thiêng liêng, chúng ta sẽ
cảm thấy ấm áp và có nhiều kỉ niệm để nhớ về trên những chặng đường sau này hơn là được học từ một người khác.





II. VIẾT
Câu 1:
Bảo vệ môi trường là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của con người hiện nay. Môi trường không chỉ là nơi cung cấp tài nguyên mà còn là không gian sống, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tinh thần của mỗi người. Khi môi trường bị ô nhiễm hay tàn phá, con người không chỉ đối mặt với thiên tai, dịch bệnh mà còn chịu những tổn thương về mặt cảm xúc, như hiện tượng “tiếc thương sinh thái”. Vì vậy, mỗi cá nhân cần có ý thức bảo vệ môi trường bằng những hành động nhỏ như không xả rác bừa bãi, tiết kiệm điện nước, trồng cây xanh. Bên cạnh đó, nhà nước và các tổ chức cũng cần có biện pháp mạnh mẽ để giảm thiểu ô nhiễm và ứng phó với biến đổi khí hậu. Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ cuộc sống của chúng ta hôm nay và tương lai của thế hệ mai sau.
Câu 2:
Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ thường gắn với lối sống thanh cao, tránh xa danh lợi và tìm về với thiên nhiên. Qua hai bài thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến, hình ảnh ấy hiện lên vừa có nét tương đồng, vừa mang những sắc thái riêng biệt, thể hiện quan niệm sống và tâm trạng của mỗi tác giả.
Trước hết, điểm gặp gỡ giữa hai nhà thơ là ở lối sống ẩn dật, hòa hợp với thiên nhiên. Trong bài “Nhàn”, Nguyễn Bỉnh Khiêm khắc họa cuộc sống giản dị với “một mai, một cuốc, một cần câu”, tự do, ung dung giữa cảnh quê thanh bình. Ông tìm thấy niềm vui trong lao động và thiên nhiên, không bị ràng buộc bởi danh lợi. Tương tự, trong bài thơ của Nguyễn Khuyến, thiên nhiên hiện lên với bầu trời thu xanh, làn nước trong và không gian tĩnh lặng. Cả hai đều thể hiện một tâm hồn yêu thiên nhiên, coi thiên nhiên là nơi nương náu tâm hồn, tránh xa sự xô bồ của cuộc sống. Điều đó cho thấy vẻ đẹp chung của người ẩn sĩ: sống thanh cao, giữ gìn nhân cách và không bị cuốn theo vòng xoáy danh lợi.
Tuy nhiên, đằng sau sự tương đồng ấy lại là những khác biệt rõ nét. Với Nguyễn Bỉnh Khiêm, việc lựa chọn cuộc sống “nhàn” là một sự chủ động và đầy bản lĩnh. Ông tự nhận mình là “dại” nhưng thực chất đó là cái “dại” của người khôn, biết tránh xa danh lợi để giữ trọn khí tiết. Giọng thơ của ông vì thế mang vẻ ung dung, nhẹ nhàng và có phần triết lí. Ngược lại, ở Nguyễn Khuyến, ẩn dật lại gắn với tâm trạng buồn bã, bất lực trước thời cuộc. Là một người từng làm quan nhưng chứng kiến xã hội rối ren, ông lui về quê sống ẩn dật, nhưng trong lòng vẫn nặng trĩu nỗi niềm. Cảnh thu trong thơ ông tuy đẹp nhưng phảng phất nỗi buồn, sự cô đơn và tiếc nuối. Nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm tìm thấy sự an nhiên thực sự trong cuộc sống ẩn dật, thì Nguyễn Khuyến lại mang theo nỗi đau thời thế vào trong từng vần thơ.
Về nghệ thuật, cả hai bài thơ đều sử dụng ngôn ngữ giản dị, gần gũi, hình ảnh thiên nhiên quen thuộc của làng quê Việt Nam. Tuy nhiên, giọng điệu thơ có sự khác biệt: thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang tính triết lí, nhẹ nhàng; còn thơ Nguyễn Khuyến lại giàu cảm xúc, sâu lắng và man mác buồn.
Tóm lại, qua hai bài thơ, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên với vẻ đẹp thanh cao, biết giữ mình trước danh lợi, đồng thời cũng phản ánh những tâm trạng khác nhau của các nhà nho trước thời cuộc. Điều đó không chỉ giúp người đọc hiểu hơn về con người và tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến, mà còn gợi nhắc về giá trị của một lối sống giản dị, thanh sạch và giàu ý nghĩa trong cuộc sống hôm nay.
C1:
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, bảo vệ môi trường đã trở thành một vấn đề vô cùng quan trọng và cấp thiết đối với toàn nhân loại. Môi trường là không gian sống của con người và muôn loài sinh vật, cung cấp không khí, nước, đất và các nguồn tài nguyên thiết yếu để duy trì sự sống. Khi môi trường bị ô nhiễm hoặc tàn phá, không chỉ thiên nhiên bị tổn hại mà sức khỏe và đời sống tinh thần của con người cũng chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực. Những hiện tượng như biến đổi khí hậu, băng tan, cháy rừng hay ô nhiễm nguồn nước ngày càng gia tăng đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về hậu quả nghiêm trọng của việc khai thác và sử dụng tài nguyên thiếu ý thức. Bảo vệ môi trường không phải là trách nhiệm của riêng một cá nhân hay tổ chức nào mà là nghĩa vụ chung của toàn xã hội. Mỗi người có thể bắt đầu từ những hành động nhỏ nhưng thiết thực như tiết kiệm điện, hạn chế sử dụng túi ni-lông, trồng thêm cây xanh, phân loại rác thải hay nâng cao ý thức giữ gìn vệ sinh nơi công cộng. Khi mỗi cá nhân thay đổi nhận thức và hành động tích cực, môi trường sống sẽ dần được cải thiện. Như vậy, bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sự sống của chính con người hôm nay và cả các thế hệ mai sau, vì thế mỗi chúng ta cần có ý thức và trách nhiệm hơn trong việc giữ gìn môi trường xanh – sạch – đẹp.
C2:
Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ là một hình tượng quen thuộc, thể hiện nhân cách thanh cao và thái độ sống của các nhà nho trước những biến động của xã hội. Khi con đường công danh không còn phù hợp với lý tưởng đạo đức, nhiều trí thức đã lựa chọn lối sống ẩn dật, tìm về với thiên nhiên để giữ gìn nhân cách. Điều đó được thể hiện rõ nét qua hai bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ thu của Nguyễn Khuyến. Qua hai tác phẩm, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên vừa có những điểm tương đồng về lối sống và nhân cách, vừa có những nét khác biệt về tâm trạng và cảm xúc, góp phần làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của các trí thức xưa.
Trước hết, trong bài thơ “Nhàn”, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khắc họa hình tượng người ẩn sĩ với lối sống giản dị, thanh thản và chủ động lựa chọn cuộc sống xa rời danh lợi. Ngay từ những câu thơ mở đầu:
“Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.”
Những hình ảnh “mai”, “cuốc”, “cần câu” gợi lên cuộc sống lao động giản dị nơi thôn quê. Điệp từ “một” được lặp lại ba lần không chỉ tạo nhịp điệu khoan thai mà còn nhấn mạnh sự đơn sơ trong cuộc sống của người ẩn sĩ. Từ “thơ thẩn” thể hiện tâm trạng ung dung, tự tại, không bị ràng buộc bởi những bon chen nơi chốn quan trường. Đặc biệt, quan niệm sống của tác giả được thể hiện sâu sắc qua hai câu thơ:
“Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.”
Ở đây, cách nói “ta dại” là một lối nói ngược, thể hiện sự tự ý thức của tác giả. Người đời cho rằng tìm nơi vắng vẻ là “dại”, nhưng thực chất đó lại là lựa chọn khôn ngoan của người hiểu rõ giá trị của sự thanh thản. Hình tượng người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm vì thế hiện lên với tư thế chủ động, coi thường danh lợi và hướng đến đời sống tinh thần trong sạch.
Cuộc sống của người ẩn sĩ trong bài thơ còn gắn bó mật thiết với thiên nhiên bốn mùa:
“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.”
Những hình ảnh mộc mạc, gần gũi đã khắc họa cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên, giản dị mà thanh cao. Người ẩn sĩ tìm niềm vui trong những sinh hoạt bình thường, không bị chi phối bởi vật chất hay danh vọng. Điều này được khẳng định rõ hơn trong hai câu thơ cuối:
“Rượu đến cội cây ta sẽ uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.”
Qua hình ảnh “phú quý tựa chiêm bao”, tác giả thể hiện thái độ coi nhẹ danh lợi, xem giàu sang chỉ là điều phù phiếm, không đáng để đánh đổi sự bình yên của tâm hồn. Như vậy, hình tượng người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang vẻ đẹp của sự ung dung, tự tại và lạc quan.
Nếu người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang vẻ ung dung và thanh thản thì trong bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, hình tượng người ẩn sĩ lại gắn liền với tâm trạng sâu lắng và nỗi niềm riêng. Bức tranh thiên nhiên mùa thu hiện lên với vẻ đẹp tĩnh lặng và trong trẻo:
“Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.”
Không gian mùa thu được mở ra với màu sắc trong trẻo nhưng lại gợi cảm giác vắng lặng. Những từ ngữ như “lơ phơ”, “hắt hiu” đã tạo nên không khí buồn nhẹ, gợi lên tâm trạng cô đơn của người ẩn sĩ. Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Khuyến không chỉ là nơi để sống mà còn là nơi gửi gắm tâm trạng của con người.
Những câu thơ tiếp theo tiếp tục khắc họa vẻ đẹp tĩnh lặng của cảnh vật:
“Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.”
Cảnh vật hiện lên mờ ảo, yên tĩnh, mang vẻ đẹp tinh tế và giàu chất trữ tình. Tuy nhiên, đằng sau vẻ đẹp ấy là tâm trạng suy tư của tác giả. Đặc biệt, ở những câu thơ cuối:
“Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.”
Hình ảnh “thẹn với ông Đào” (Đào Tiềm – nhà thơ nổi tiếng với lối sống ẩn dật) cho thấy sự tự ý thức về nhân cách và lý tưởng sống. Người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Khuyến không chỉ thưởng thức thiên nhiên mà còn suy ngẫm về bản thân, mang trong lòng nỗi niềm trăn trở trước cuộc đời.
So sánh hai bài thơ, có thể thấy hình tượng người ẩn sĩ trong cả hai tác phẩm đều có những điểm tương đồng đáng chú ý. Trước hết, cả hai đều lựa chọn lối sống xa rời danh lợi, tìm về với thiên nhiên để giữ gìn nhân cách thanh cao. Thiên nhiên trong hai bài thơ đều trở thành không gian sống lý tưởng, giúp con người tìm thấy sự bình yên và thanh thản trong tâm hồn. Đồng thời, cả hai tác giả đều thể hiện thái độ coi thường danh lợi và đề cao giá trị của đời sống tinh thần.
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tương đồng, hình tượng người ẩn sĩ trong hai bài thơ cũng có những nét khác biệt rõ rệt. Người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang vẻ ung dung, lạc quan và chủ động lựa chọn cuộc sống nhàn. Ông tìm thấy niềm vui trong lao động và sinh hoạt hằng ngày, thể hiện thái độ sống tích cực và bình thản. Trong khi đó, người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Khuyến lại mang tâm trạng trầm lắng, có phần cô đơn và suy tư. Cảnh vật thiên nhiên trong thơ Nguyễn Khuyến nhuốm màu tâm trạng, thể hiện nỗi buồn trước thời cuộc và sự bất lực trước thực tại.
Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng hình tượng người ẩn sĩ trong hai bài thơ đều mang vẻ đẹp của nhân cách cao quý và tâm hồn thanh sạch. Qua đó, các tác giả đã thể hiện quan niệm sống đề cao sự thanh cao, giản dị và hòa hợp với thiên nhiên. Đồng thời, hai tác phẩm cũng góp phần làm phong phú thêm hình tượng người ẩn sĩ trong văn học trung đại Việt Nam.
Nhìn chung, hai bài thơ không chỉ thể hiện vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn khắc họa sâu sắc vẻ đẹp tâm hồn của con người. Hình tượng người ẩn sĩ qua thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến đã để lại những giá trị tư tưởng và nghệ thuật sâu sắc, giúp người đọc hiểu rõ hơn về lối sống và nhân cách của các nhà nho xưa. Qua đó, ta càng thêm trân trọng những giá trị tinh thần cao đẹp mà cha ông đã để lại cho nền văn học dân tộc.
Câu 1
Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề cấp thiết nhất của nhân loại hiện nay. Môi trường không chỉ là không gian sống mà còn là điều kiện đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của con người. Khi môi trường bị ô nhiễm, tài nguyên bị cạn kiệt, con người không chỉ đối mặt với những hậu quả về sức khỏe mà còn chịu những tổn thương sâu sắc về tinh thần, như hiện tượng “tiếc thương sinh thái” đã chỉ ra. Thiên nhiên bị tàn phá đồng nghĩa với việc những giá trị quen thuộc, gắn bó trong đời sống cũng dần biến mất, khiến con người rơi vào trạng thái lo âu, mất mát. Vì vậy, bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm mà còn là nghĩa vụ của mỗi cá nhân. Mỗi người cần bắt đầu từ những hành động nhỏ như tiết kiệm tài nguyên, hạn chế rác thải nhựa, trồng cây xanh, nâng cao ý thức giữ gìn môi trường sống. Đồng thời, xã hội cần có những chính sách và biện pháp mạnh mẽ hơn để giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. Chỉ khi con người biết trân trọng và bảo vệ thiên nhiên, chúng ta mới có thể xây dựng một tương lai bền vững.
Câu 2
Trong dòng chảy của văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ là một vẻ đẹp đặc sắc, thể hiện quan niệm sống và nhân cách của các nhà nho trước thời cuộc. Qua hai bài thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến, hình ảnh người ẩn sĩ hiện lên vừa có những điểm tương đồng, vừa mang những nét riêng biệt sâu sắc.
Trước hết, ở bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm, người ẩn sĩ hiện lên với lối sống thanh đạm, hòa hợp với thiên nhiên. Những hình ảnh “một mai, một cuốc, một cần câu” gợi nên cuộc sống lao động giản dị, tự cung tự cấp. Nhà thơ chủ động lựa chọn lối sống “ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ”, đối lập với “người khôn” nơi “chốn lao xao”. Đó không phải là sự trốn tránh mà là cách giữ gìn nhân cách, tránh xa danh lợi tầm thường. Cuộc sống của ông gắn bó với thiên nhiên: “thu ăn măng trúc, đông ăn giá”, “xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”. Nhịp sống thuận theo tự nhiên, ung dung, tự tại. Đặc biệt, thái độ coi nhẹ phú quý “nhìn xem phú quý tựa chiêm bao” thể hiện rõ triết lí sống an nhiên, thoát tục của người ẩn sĩ. Ở đây, ẩn dật là một lựa chọn tích cực, thể hiện bản lĩnh và trí tuệ của một bậc hiền triết.
Trong khi đó, ở bài thơ của Nguyễn Khuyến, hình tượng người ẩn sĩ lại mang màu sắc khác. Bức tranh thiên nhiên hiện lên trong trẻo, tĩnh lặng với “trời thu xanh ngắt”, “nước biếc”, “song thưa”, “bóng trăng”. Không gian ấy vừa đẹp, vừa gợi cảm giác cô tịch. Người ẩn sĩ ở đây không hoàn toàn thanh thản mà ẩn chứa nỗi niềm tâm sự. Âm thanh “một tiếng trên không” càng làm nổi bật sự vắng lặng và gợi nỗi buồn man mác. Đặc biệt, câu thơ “nhân hứng cũng vừa toan cất bút / nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” cho thấy tâm trạng day dứt, tự vấn. Nhà thơ muốn sống ẩn dật nhưng vẫn còn nặng lòng với thời cuộc, chưa đạt đến sự thanh thản tuyệt đối. Như vậy, ẩn sĩ ở Nguyễn Khuyến mang vẻ đẹp của một tâm hồn nhạy cảm, nhưng cũng chất chứa nỗi buồn thời thế.
So sánh hai hình tượng, có thể thấy điểm chung là cả hai đều hướng tới lối sống hòa hợp với thiên nhiên, tránh xa danh lợi, đề cao sự thanh cao trong tâm hồn. Tuy nhiên, điểm khác biệt nằm ở thái độ và trạng thái tinh thần. Nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện sự chủ động, ung dung, triết lí sống rõ ràng thì Nguyễn Khuyến lại bộc lộ sự trăn trở, chưa hoàn toàn dứt bỏ. Sự khác biệt này bắt nguồn từ hoàn cảnh lịch sử và tâm thế cá nhân: một bên là bậc hiền triết chủ động “ở ẩn”, một bên là nhà nho yêu nước bất lực trước thời cuộc.
Qua hai bài thơ, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên đa dạng, phong phú. Dù ở trạng thái ung dung hay trăn trở, họ đều thể hiện nhân cách cao đẹp, lòng tự trọng và khát vọng giữ gìn giá trị tinh thần trước những biến động của xã hội. Điều đó làm nên sức sống lâu bền của hình tượng người ẩn sĩ trong văn học Việt Nam.
✅ *Câu 1: Phương thức biểu đạt chính*
Biểu cảm, kết hợp nghị luận.
✅ *Câu 2: Thể thơ*
Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
✅ *Câu 3: Biện pháp tu từ*
Phép đối: "đông hàn" vs "xuân noãn", "tiêu tụy" vs "huy hoàng". Nhấn mạnh quy luật: có gian khổ mới có thành công ¹.
✅ *Câu 4: Ý nghĩa của "tai ương"*
Tai ương là thử thách rèn luyện con người, giúp tinh thần vững vàng, hăng hái.
✅ *Câu 5: Bài học ý nghĩa*
Cần có thái độ sống tích cực, kiên cường trước khó khăn, xem thử thách là cơ hội rèn luyện bản thân ¹.
Văn bản của tác giả Nguyễn Bình đã mở ra một góc nhìn đầy nhân văn và mới mẻ về biến đổi khí hậu khi tiếp cận dưới lăng kính tâm lý học thông qua khái niệm "tiếc thương sinh thái" (ecological grief). Đây không đơn thuần là sự biến đổi của thời tiết mà là nỗi đau khổ hiện sinh sâu sắc trước những mất mát về hệ sinh thái đã, đang và sẽ xảy ra. Với trình tự triển khai chặt chẽ từ những dẫn chứng cụ thể tại các điểm nóng khí hậu như Bắc Canada, Australia hay vùng Amazon cháy rực, tác giả đã khéo léo mở rộng phạm vi ra toàn cầu, chạm đến nỗi lo âu của 10.000 trẻ em và thanh thiếu niên trên khắp thế giới. Bằng việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa định nghĩa khoa học của Cunsolo, Ellis và những con số thống kê thực tế đầy sức nặng, bài viết đã chứng minh rằng thiên nhiên không phải là một thực thể tách rời; khi môi trường bị hủy hoại, căn tính văn hóa và sức khỏe tâm thần của con người cũng bị tổn thương nghiêm trọng. Thông điệp sâu sắc nhất đọng lại chính là lời cảnh báo về sự kết nối vô hình nhưng bền chặt giữa con người và Trái Đất: bảo vệ hành tinh xanh giờ đây không chỉ là cứu lấy môi trường lý tính, mà còn là cứu chuộc những tâm hồn đang rơi vào khủng hoảng trước ngưỡng cửa tận thế.
Câu 1
Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề cấp thiết nhất hiện nay, bởi môi trường chính là nền tảng cho sự sống của con người và mọi sinh vật trên Trái Đất. Khi môi trường bị ô nhiễm, không khí trở nên độc hại, nguồn nước bị suy giảm, đất đai cằn cỗi, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của chúng ta. Thực tế cho thấy, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh ngày càng gia tăng phần lớn đều bắt nguồn từ sự khai thác và tàn phá thiên nhiên của con người. Vì vậy, bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức mà còn là nghĩa vụ của mỗi cá nhân. Những hành động nhỏ như không xả rác bừa bãi, tiết kiệm điện nước, trồng cây xanh hay hạn chế sử dụng túi nilon đều góp phần tạo nên sự thay đổi lớn. Đặc biệt, đối với học sinh, việc nâng cao ý thức và lan tỏa thông điệp bảo vệ môi trường là vô cùng quan trọng. Chỉ khi con người sống hài hòa với thiên nhiên thì cuộc sống mới thực sự bền vững và tốt đẹp.
Câu 2
Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ thường gắn với lối sống thanh cao, thoát tục, thể hiện quan niệm sống của những trí thức trước thời cuộc. Qua hai đoạn thơ trong bài “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ của Nguyễn Khuyến**, người đọc có thể thấy được những nét tương đồng nhưng cũng có nhiều điểm khác biệt trong cách cảm nhận và thể hiện vẻ đẹp của người ẩn sĩ. Trước hết, ở bài “Nhàn”, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khắc họa hình ảnh người ẩn sĩ với lối sống giản dị, hòa hợp với thiên nhiên. Những hình ảnh “một mai, một cuốc, một cần câu” gợi lên cuộc sống lao động bình dị, tự cung tự cấp. Ông tìm thấy niềm vui trong sự thanh nhàn, tránh xa chốn “lao xao” của danh lợi. Quan niệm sống của ông thể hiện rõ qua câu “ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ / người khôn, người đến chốn lao xao”. Thực chất, cái “dại” ấy lại là sự tỉnh táo, là cách lựa chọn lối sống cao đẹp, giữ gìn nhân cách. Người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên với tâm thế ung dung, tự tại, sống thuận theo tự nhiên, coi nhẹ vật chất và danh vọng. Trong khi đó, thơ của Nguyễn Khuyến cũng vẽ nên hình ảnh người ẩn sĩ nhưng mang màu sắc trữ tình và sâu lắng hơn. Thiên nhiên trong thơ ông hiện lên thanh bình, trong trẻo với “trời thu xanh ngắt”, “cần trúc lơ phơ”, “nước biếc trông như tầng khói phủ”. Không gian ấy gợi cảm giác yên tĩnh, nhưng đồng thời cũng phảng phất nỗi cô đơn, man mác buồn. Người ẩn sĩ ở đây không chỉ tìm về thiên nhiên để lánh đời mà còn mang trong lòng những tâm sự, suy tư. Câu hỏi “một tiếng trên không ngẩn ngơ nào?” như một nỗi bâng khuâng trước cuộc đời. Đặc biệt, hai câu cuối “nhàn hứng cũng vừa toan cất bút / nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” cho thấy tâm trạng tự vấn, khiêm nhường của tác giả, đồng thời thể hiện lý tưởng sống cao đẹp nhưng cũng đầy trăn trở. Điểm giống nhau giữa hai hình tượng là đều đề cao lối sống thanh cao, hòa mình với thiên nhiên, tránh xa danh lợi. Cả hai nhà thơ đều tìm thấy giá trị sống trong sự giản dị, yên bình. Tuy nhiên, điểm khác biệt nằm ở sắc thái cảm xúc. Nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện sự dứt khoát, ung dung, mang tính triết lí rõ ràng thì Nguyễn Khuyến lại thiên về cảm xúc, với nỗi buồn nhẹ nhàng, kín đáo. Người ẩn sĩ của Nguyễn Bỉnh Khiêm là biểu tượng của sự chủ động lựa chọn, còn ở Nguyễn Khuyến lại mang dáng dấp của một con người vừa ẩn dật vừa day dứt với cuộc đời. Như vậy, qua hai bài thơ, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên vừa quen thuộc vừa đa dạng. Dù khác nhau về sắc thái biểu đạt, cả hai đều góp phần làm nổi bật vẻ đẹp nhân cách của người trí thức xưa: sống thanh cao, giữ gìn khí tiết và hướng tới sự hài hòa với thiên nhiên. Điều đó không chỉ có ý nghĩa trong bối cảnh lịch sử mà còn gợi cho con người hôm nay những suy ngẫm sâu sắc về cách sống và giá trị của bản thân.
A
A