Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
mày đừng so sánh tao với nó\n_vì nó là chó còn tao là người\n_Mày đừng bật cười khi nghe điều đó\n_vì cả mày và nó đều chó như nhau
Phần I
Câu 1:
Văn bản tập trung vào vấn đề nghị luận bàn về niềm tin vào bản thân, nỗ lực phấn đấu không bỏ cuộc để vượt qua những khó khăn, thác ghềnh bằng tự lực để chinh phục thành công.
Câu 2:
Biện pháp ẩn dụ:"thác ghềnh, chông gai trên đường" vì tác giả so sánh những chướng ngại vật trên đường đi hàng ngày của mỗi người cũng giống như những khó khăn, gian nan trên đường đời mỗi người phải trải qua để thành công.
Câu 3:
Tác giả đưa hai dẫn chứng về Walt Disney và Helen Keller là để làm dẫn chứng thuyết phục cho vấn đề cần nghị luận của mình đó là đã có những tấm gương gặp muôn vàn khó khăn trắc trở trong cuộc sống nhưng họ không buông xuôi hay dựa dẫm vào người khác mà biết cách đứng dậy sau vấp ngã và thành công.
Câu 4:
Em đồng ý với quan điểm:"Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ là học từ người khác". Những người đi trước và câu chuyện xoay quanh sự thành bại của họ chính là những bài học quý báu cho người sau. Những con người đi trước và thành công sau 1 quá trình gian nan đó chính là những bằng chứng sống để người đời sau tin tưởng vào mình dù có trải qua bao thác ghềnh, chông gai.
Phần II
Có một câu chuyện ngụ ngôn mà hồi bé chúng ta hay được nghe kể về cuộc đua của rùa và thỏ, con thỏ nhanh nhẹn nhưng lại tự phụ, xem thường đối thủ,tuy con rùa chậm chạp nhưng lại nỗ lực không ngừng, kết quả ai cũng biết, con rùa đã thắng con thỏ. Xuyên suốt câu truyện Rùa và Thỏ là ý chí của con rùa, nó không đầu hàng trước những thất bại. Rõ ràng, con thỏ có năng lực nhưng ý chí lại không tốt bằng con rùa, nó vẫn có thể về đến được vách đích nhưng con rùa vẫn chiến thắng nó,đó cũng là sự biểu trưng cho quyết tâm và ý chí của con rùa . Cũng có người từng nói “ Không phải đời người quá khó khăn, mà là do bạn nỗ lực chưa đủ”. Từ câu chuyện trên và câu nói trên, chúng ta có thể thấy được ý chí đóng 1 vai trò cực kì quan trọng trong mỗi bước tiến đến con đường thành công của mỗi con người.
Sức mạnh, trí tuệ hay thiên phú chỉ góp phần nào cho sự khác biệt giữa những người thành công và những người thất bại, nhưng hơn thế nữa quyết định chủ yếu là ở ý chí. Vậy ý chí hay sự quyết tâm là gì mà nó lại đóng góp không nhỏ vào chính cuộc đời chúng ta? Ý chí, nghị lực là ý thức, tính tự giác, mạnh mẽ, quyết tâm dồn nén sức lực, trí tuệ để đạt được tiêu chí, mục đích. Ý chí cũng là phẩm chất tâm lí đặc trưng của con người, thể hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có nỗ lực khắc phục khó khăn.Ngay từ những điều đơn giản nhất trong cuộc sống, bạn được giao một công việc trong nhiều ngày, nhưng bạn đã cố gắng, tập trung để hoàn thành trước thời hạn và nhận thêm một việc làm mới, từ đó năng suất làm việc, hiệu quả công việc và sự tin tưởng từ người giao việc cũng từ đó tăng theo. Chỉ từ một sự quyết tâm nhỏ ấy thôi mà cũng kéo theo được vô cùng nhiều giá trị và lợi ích không chỉ đối với bản than mà còn đối với những người xung quanh chúng ta. Ý chí như thôi thúc bản thân mỗi chúng ta, như tiếp thêm cho ta phần nào sức mạnh để ngày càng tới gần hơn mục tiêu đã đề ra. Câu chuyện được minh chứng bởi Thomas Edison – nhà phát minh tài ba của thế kỉ XX, hơn 10.000 lần thất bại để đem được ánh sáng đến với nhân loại, nếu không có ông thì dường như việc bóng đèn xuất hiện với thế giới sẽ bị đẩy lùi đi mười mấy năm, rõ ràng, chính ý chí quyết tâm của Edison đã khiến con đường của nền văn minh hiện đại của con người trở nên ngắn lại.
Ý chí giúp chúng ta toàn sức tập trung vào mục tiêu bằng cách ngăn cản các suy nghĩ không liên quan khác xảy đến. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ hoàn thành công việc một cách nhanh chóng và hiểu quả. Chủ tịch Hồ chí đã nói:
“Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên”
Câu nói này càng như khẳng định vai trò quan trọng và to lớn của sức mạnh ý chỉ và quyết tâm, đáng sợ nhất không phải là những người có tài năng thiên bẩm mà là những người có nghị lực vươn lên. Ý chí rèn luyện bản thân sự quyết đoán và nhạy bén trong mọi vấn đề cuộc sống từ đó thúc đẩy hành trình của bản thân trở nên tinh gọn. Nghị lực là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với bản thân mỗi người, tuy nhiên không phải ai cũng nhận ra được giá trị cốt lõi của nó. Trái ngược với những người có ý chí là những người thờ ơ, không đủ quyết tâm, nhụt trí trước những thử thách cuộc sống. Giới trẻ bây giờ không ít người chưa làm đã vội bỏ cuộc, thấy khó khăn đã nản chí, gặp thất bại thì hủy hoại và sống bất cần đời. Những người như thế thật đáng chê trách. Là học sinh, chúng ta cần khẳng định tư cách, ý chí, nghị lực vượt qua những khó khăn thử thách .Tài năng của con người được tạo bởi nhiều yếu tố. Trong đó yếu tố tự rèn là yếu tố quan trọng nhất để đi đến thành công. Để thấy mình không thấp hơn người khác, bản thân phải có sự lao động chăm chỉ, cần cù, không chùn bước trước gian nguy, phải biết tự tin vào chính bản thân trên bước đường đời.
Nhìn chung, một lần nữa cần phải khẳng định lại giá trị của câu nói “ Ý chí tốt làm con đường ngắn lại”. Ý chí mang đến thành công và giúp ta chinh phục mọi khó khăn trên con đường gập ghềnh phía trước. Những con người thành công và nổi tiếng nhất đều là những người có ý chí rất mạnh mẽ.Vậy nên việc rèn luyện và giữ vững một ý chí kiên cường luôn là điều tất yếu trên chặng đường của cuộc đời
câu hỏi: Cách đơn giản nhất để thoát khỏi cái hoàn cảnh này là không tưởng tượng nữa
câu hỏi: mình ko biết![]()
câu hỏi: Chỉ cần bác tài xuống xe và đi qua cầu
Thuyên mắc bệnh lao, nâng niu chiếc bánh bao (thuốc chữa bệnh) như cầm tính mệnh của chính mình trong tay.
Đáp án cần chọn là: C
Lão Hoa để hết tinh thần vào gói bánh như nâng niu đứa con của gia đình mười đời độc đinh.
Đáp án cần chọn là: B
Hãy kể ra 2 từ láy 3 từ tả tính chất của sự vật
long lanh, mỏng manh, lung linh,...(cái cây này thật là lung linh huyền ảo, đôi mắt này thật long lanh,...)
Hãy kể ra 2 từ láy 4 từ tả thái độ của con người
nhí nhảnh, nhóp nhép, nhũn nhặn, hồng hộc,hờ hững, minh mẫn,....( con bé kia thật nhí nhảnh, em tồi làm việc rất hờ hững,...)
Hãy kể ra 2 từ láy 4 từ tả cảnh thiên nhiên
mênh mông, mịn màng, mịt mờ, mù mịt,....( Nước biển mênh mông đại hải, cát chạy dọc theo bờ biển đến nỗi mịn màng luôn cả nước,....)



Với H0=2μCi𝐻0=2𝜇Ci, T=15gi𝑇=15gi, t=7,5gi𝑡=7,5gi. H=2⋅2−7,515=2⋅2-0,5=2⋅12=2μCi𝐻=2⋅2−7,515=2⋅2−0,5=2⋅12√=2√𝜇Ci Step 2: Chuyển đổi đơn vị độ phóng xạ Độ phóng xạ ban đầu H0=2μCi=2⋅3,7⋅104Bq=7,4⋅104Bq𝐻0=2𝜇Ci=2⋅3,7⋅104Bq=7,4⋅104Bq(phân rã/giây).
Độ phóng xạ sau 7,5 giờ: H=2μCi≈1,414μCi𝐻=2√𝜇Ci≈1,414𝜇Ci.
Độ phóng xạ của mẫu máu lấy ra: H′=502phân rã/phút=50260Bq𝐻′=502phânrã/phút=50260Bq(phân rã/giây). Step 3: Tính thể tích máu Giả sử chất phóng xạ phân bố đều trong toàn bộ thể tích máu V𝑉.
Độ phóng xạ H′𝐻′đo được từ thể tích mẫu V′=1cm3𝑉′=1cm3phải tương ứng với độ phóng xạ H𝐻trong toàn bộ thể tích V𝑉.
Ta có tỉ lệ: HV=H′V′𝐻𝑉=𝐻′𝑉′ V=H⋅V′H′=2μCi⋅1cm3502phân rã/phút𝑉=𝐻⋅𝑉′𝐻′=2√𝜇Ci⋅1cm3502phânrã/phút Để tính toán, sử dụng đơn vị Bq cho độ phóng xạ: V=7,4⋅104Bq⋅1cm350260Bq≈7,4⋅10450260cm3≈8844,6cm3𝑉=7,4⋅104Bq⋅1cm350260Bq≈7,4⋅10450260cm3≈8844,6cm3 Hoặc sử dụng đơn vị μCi𝜇Cicho độ phóng xạ: H′=502phân rã/phút=50260⋅3,7⋅104μCi≈0,000226μCi𝐻′=502phânrã/phút=50260⋅3,7⋅104𝜇Ci≈0,000226𝜇Ci
H0=7,4×104×60=4,44×106𝐻0=7,4×104×60=4,44×106phân rã/phút. Step 2: Tính độ phóng xạ còn lại của toàn bộ lượng máu sau 7,5 giờ Sử dụng công thức độ phóng xạ: H=H0×2−tT𝐻=𝐻0×2−𝑡𝑇.
Với H0=4,44×106𝐻0=4,44×106phân rã/phút, t=7,5𝑡=7,5giờ, T=15𝑇=15giờ:
H=4,44×106×2−7,515=4,44×106×2-0,5=4,44×1062≈3,1397×106𝐻=4,44×106×2−7,515=4,44×106×2−0,5=4,44×1062√≈3,1397×106phân rã/phút. Step 3: Tính thể tích máu của người đó Độ phóng xạ của 1cm31cm3máu sau 7,5 giờ là h=502ℎ=502phân rã/phút.
Giả sử chất phóng xạ phân bố đều trong toàn bộ thể tích máu V𝑉.
Ta có tỉ lệ: HV=h1cm3𝐻𝑉=ℎ1cm3 V=Hh×1cm3𝑉=𝐻ℎ×1cm3 V=3,1397×106502≈6254,4cm3𝑉=3,1397×106502≈6254,4cm3 V≈6,25L𝑉≈6,25L
Thể tích máu ≈ 6,25 lít.
H0 = 2uCi =2*10^(-6 )*3,7*10^(10) =7,4*10^4 phân rã/giây
=4440000phân rã/phút
Ht = H0*2^(- t/T)
=4,44*10^(6)*2 ^ (- 7.5/15)
=3139554 phân rã/phút
Ht/V= h/⛰️V
=> V=Ht*⛰️V/ h
=3139554*1/502= 6254 cm³ = 6,254 lít
6,25 lít
6,25 lít
Hải Hí xinh dep
haihi
Hai hi deth
tôi yêu vật lí 12
Hải Hí xinh đẹp
Hai Hi cute
Thể tích máu người đó là 6,25 lít
Hải Hí Xinh Đẹp
Hai hi xinh dep
2H số 1
2H cute
6254cm³
6,25 lít
6,25
6254cm3 tương đương 6,25 lit
H0=2μCi=2⋅10-6⋅3,7⋅1010⋅60=4.440.000phân rã/phút𝐻0=2𝜇Ci=2⋅10−6⋅3,7⋅1010⋅60=4.440.000phânrã/phút 2. Tính tổng độ phóng xạ của toàn bộ máu tại thời điểm 𝑡 =7 , 5 gi:
Áp dụng công thức định luật phóng xạ: 𝐻 =𝐻0 ⋅2−𝑡𝑇
H=4.440.000⋅2−7,515=4.440.000⋅2-0,5≈3.139.554phân rã/phút𝐻=4.440.000⋅2−7,515=4.440.000⋅2−0,5≈3.139.554phânrã/phút 3. Tính thể tích máu của bệnh nhân:
Vì 1 cm3 máu có độ phóng xạ ℎ =502 phânrã/phút, nên tổng thể tích máu V𝑉 là:
V=Hh=3.139.554502≈6254cm3𝑉=𝐻ℎ=3.139.554502≈6254cm3 Kết quả: Thể tích máu của người đó khoảng 6 , 25 lít.
- Độ phóng xạ ban đầu tiêm vào: \(H_0 = 2\ \mu\text{Ci}\).
- Chu kì bán rã của \(^{24}\text{Na}\): \(T = 15\) giờ.
- Thời gian sau khi tiêm: \(t = 7,5\) giờ.
- Độ phóng xạ của \(1\text{ cm}^3\) máu lấy ra: \(h = 502\) phân rã/phút.
2. Các bước tính toán Bước 1: Tính độ phóng xạ của toàn bộ lượng Na đã tiêm sau 7,5 giờ (\(H_{t}\)):Dùng công thức: \(H_t = H_0 \cdot 2^{-\frac{t}{T}}\)
\(H_{t}=2\cdot 2^{-\frac{7,5}{15}}=2\cdot 2^{-0,5}\approx 1,4142\ \mu \text{Ci}\)
...
Độ phóng xạ ban đầu của dung dịch tiêm: \(H_0 = 2 \mu\text{Ci} = 2 \times 3,7 \times 10^4\) phân rã/giây (vì \(1 \mu\text{Ci} = 3,7 \times 10^4 \text{ Bq}\)).
Chu kì bán rã: \(T = 15\) giờ.
Thời gian sau khi tiêm: \(t = 7,5\) giờ.
Thể tích mẫu máu lấy ra: \(V_m = 1 \text{ cm}^3\).
Độ phóng xạ của mẫu máu tại thời điểm \(t\): \(H_m = 502\) phân rã/phút \(=\frac{502}{60}\) phân rã/giây.
Bài giải:
Đề: Tiêm $^{24}Na$ có $H0 = 2 \, \mu Ci$, $T = 15$ giờ. Sau $t = 7,5$ giờ lấy $V1 = 1 \, cm^3$ máu có độ phóng xạ $H_1 = 502$ phân rã/phút. Tính thể tích máu $V$.
Bước 1: Tính độ phóng xạ còn lại sau 7,5h
H = H_0 \cdot 2^{-\frac{t}{T}} = 2 \cdot 2^{-\frac{7,5}{15}} = 2 \cdot 2^{-0,5} = \frac{2}{\sqrt{2}} = \sqrt{2} \approx 1,414 \, \mu Ci
Đổi ra phân rã/phút: $1 \, Ci = 3,7 \times 10^{10}$ phân rã/s
1 \, \mu Ci = 3,7 \times 10^4 \text{ phân rã/s} = 3,7 \times 10^4 \times 60 = 2,22 \times 10^6 \text{ phân rã/phút}
H = 1,414 \times 2,22 \times 10^6 \approx 3,14 \times 10^6 \text{ phân rã/phút}
Đây là độ phóng xạ trong toàn bộ thể tích máu $V$.
Bước 2: Dùng tỉ lệ
Độ phóng xạ tỉ lệ với thể tích:
\frac{H}{V} = \frac{H_1}{V_1}
V = \frac{H \cdot V_1}{H_1} = \frac{3,14 \times 10^6 \times 1}{502} \approx 6255 \, cm^3
V \approx 6255 \, cm^3 = 6,255 \, \text{lít}
Đáp án: $V \approx 6,26$ lít hay 6255 $cm^3$
Thể tích máu người trưởng thành thường 4-6 lít, kết quả này hợp lý.
\(H_0 = 2 \mu\text{Ci} = 2 \times 3,7 \times 10^4 \text{ phân rã/s} = 74000 \text{ phân rã/s}\).Đổi ra phân rã/phút: \(H_0 = 74000 \times 60 = 4.440.000 \text{ phân rã/phút}\).Tính độ phóng xạ còn lại sau \(t = 7,5\) giờ:Chu kỳ bán rã \(T = 15\) giờ. Số lần phân rã: \(\frac{t}{T} = \frac{7,5}{15} = 0,5\).Độ phóng xạ sau 7,5 giờ: \(H = H_0 \times 2^{-\frac{t}{T}} = 4.440.000 \times 2^{-0,5} \approx 3.139.544 \text{ phân rã/phút}\).Tính thể tích máu:Độ phóng xạ của \(1 \text{ cm}^3\) máu là \(H_1 = 502 \text{ phân rã/phút}\).Thể tích máu \(V = \frac{H}{H_1} = \frac{3.139.544}{502} \approx 6254 \text{ cm}^3\).
- Độ phóng xạ ban đầu của \(^{24}\text{Na}\): \(H_0 = 2 \mu\text{Ci}\)
- Chu kì bán rã: \(T = 15 \text{ giờ}\)
- Thời gian sau khi tiêm: \(t = 7,5 \text{ giờ}\)
- Độ phóng xạ của \(1 \text{ cm}^3\) máu tại thời điểm \(t\): \(h = 502 \text{ phân rã/phút}\)
2. Các bước giải: Bước 1: Tính độ phóng xạ tổng cộng (\(H\)) của lượng Na sau 7,5 giờCông thức tính độ phóng xạ tại thời điểm \(t\):
\(H=H_{0}\cdot 2^{-\frac{t}{T}}\)Thay số:
\(H=2\cdot 2^{-\frac{7,5}{15}}=2\cdot 2^{-0,5}=\frac{2}{\sqrt{2}}=\sqrt{2}\approx 1,414\mu \text{Ci}\) Bước 2: Đổi đơn vị \(H\) sang phân rã/phút
Biết \(1 \text{ Ci} = 3,7 \cdot 10^{10} \text{ phân rã/giây}\).
\(1\mu \text{Ci}=10^{-6}\cdot 3,7\cdot 10^{10}=3,7\cdot 10^{4}\text{\ phân\ rã/giây}\)Đổi sang phút:
\(1\mu \text{Ci}=3,7\cdot 10^{4}\cdot 60=2,22\cdot 10^{6}\text{\ phân\ rã/phút}\)Vậy tổng độ phóng xạ \(H\) là:
\(H\approx 1,414\cdot 2,22\cdot 10^{6}\approx 3.139.080\text{\ phân\ rã/phút}\) Bước 3: Tính thể tích máu (\(V\))
Vì chất phóng xạ đã hòa tan đều vào máu, thể tích máu được tính bằng tỉ số giữa tổng độ phóng xạ và độ phóng xạ trên mỗi đơn vị thể tích:
\(V=\frac{H}{h}=\frac{3.139.080}{502}\approx 6.253\text{\ cm}^{3}\)
H0= 2 . 3,7 . 10mũ4 = 7,4 . 10mũ4 Bq
T=15 gi
t=7,5 gi
ht= 502/69=8,367 Bq/cm3
Ht= H0 . 2 mũ -t/T = 7,4 . 10mũ4 . 2mũ -7,5/15= 52325,9 Bq
Biết \(1\ \text{Ci} = 3,7 \cdot 10^{10}\ \text{phân rã/giây}\).
\(H_{0}=2\cdot 10^{-6}\cdot 3,7\cdot 10^{10}\cdot 60=4.440.000\ \text{phân\ rã/phút}\) Bước 2: Tính tổng độ phóng xạ của toàn bộ lượng máu sau 7,5 giờ
Độ phóng xạ của lượng thuốc đã tiêm sau thời gian \(t\) là:
\(H=H_{0}\cdot 2^{-\frac{t}{T}}=4.440.000\cdot 2^{-\frac{7,5}{15}}=4.440.000\cdot 2^{-0,5}\approx 3.139.554\ \text{phân\ rã/phút}\) Bước 3: Tính thể tích máu của bệnh nhân
Gọi \(V\) là thể tích máu cần tìm. Vì lượng phóng xạ này đã hòa tan đều trong toàn bộ máu, ta có tỉ lệ:
\(V=\frac{H}{h}=\frac{3.139.554}{502}\approx 6.254\ \text{cm}^{3}\)
A0 = 2uCi =7,4x104 Bq
Sau 7,5h = T/2
A = A0/căn2 = 5,23x10mũ4 Bq
Mẫu 1cm3
520 phnr/pht = 8,37 Bq
V = 5,23x10mũ4/8,37= 6,25x10mũ3 cm3 =6,26 L