I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

...">

K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản sau:

                  CHIM THÊU

    Chiều chủ nhật ba thường đi dạo,
    Các cửa hàng bày áo trẻ con.
       Lòng ba không khỏi riêng buồn,
Ngắm từng kiểu áo, nhớ con vô cùng!

    Lũ chúng nó ngăn sông cản núi,
    Áo ba mua khôn gửi về Nam.
       Nhìn đàn trẻ nhỏ xênh xang,
Áo thêu chim trắng, ba càng thương con.

    Con trong đó sớm hôm nức nở,
    Nghẹn lời ca dưới mỏ quạ đen.
       Mẹ con chẳng vụng đường kim,
Áo con chẳng dám thêu chim hoà bình.

    Ba ôm tấm áo xanh giữa ngực
    Tưởng chừng nghe thổn thức tim con.
       Bâng khuâng cặp mắt đen tròn,
Chắt chiu vẳng tiếng chim non gọi đàn...

     Treo áo con bên bàn làm việc,
    Nhìn chim thêu, ba viết thơ này.
       Áo không gửi được hôm nay,
Thì ba giữ lấy, mai ngày cho con.

    Ngày mai ấy, nước non một khối,
    Giở áo này, thấu nỗi niềm xưa,
       Đàn em con đó, bây giờ,
Áo thêu chim trắng, tha hồ vui chơi.

                             Mùa xuân 1957

        (Theo Nguyễn Bính toàn tập, Tập 2, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2007)

* Chú thích:

1. Tác giả: Nguyễn Bính (1918 - 1966) tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính, quê ở làng Thiện Vịnh, xã Đồng Đội (nay là xã Cộng Hòa), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của thi ca Việt Nam hiện đại. Ông được coi là nhà thơ của làng quê Việt Nam với những bài thơ mang sắc thái dân dã, mộc mạc như Mưa xuân, Chân quê, Tương tư,...

2. Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ Chim thêu trích trong tập thơ Mùa xuân (1957), tập thơ được sáng tác vào thời kỳ người dân miền Bắc tập trung xây dựng đất nước trong hòa bình, trong khi miền Nam vẫn đang chịu sự chia cắt bởi chiến tranh. Bài thơ ra đời trong bối cảnh mang nặng tâm tư về tình cảm gia đình, nỗi nhớ thương và hy vọng vào ngày mai hòa bình.

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2 (0,5 điểm). Nhân vật trữ tình trong văn bản là ai?

Câu 3 (1,0 điểm). Nêu đề tài, chủ đề của văn bản.

Câu 4 (1,0 điểm). Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong hai dòng thơ: “Bâng khuâng cặp mắt đen tròn,/ Chắt chiu vẳng tiếng chim non gọi đàn…”.

Câu 5 (1,0 điểm). Văn bản trên cho gợi cho em những ấn tượng gì về tình cảm mà người cha dành cho người con của mình?

8

Càng khổ


29 tháng 1

câu1: thơ song thất lục bát

2 tháng 3

Câu 1 (0,5 điểm): Thể thơ của văn bản Thể thơ: Lục bát (Cặp câu 6 chữ và 8 chữ xen kẽ, hiệp vần theo quy luật thơ lục bát truyền thống). Câu 2 (0,5 điểm): Nhân vật trữ tình Nhân vật trữ tình là: Người cha (Xưng "ba", đang sống ở miền Bắc, gửi gắm tình cảm và nỗi nhớ thương về người con ở miền Nam bị chia cắt). Câu 3 (1,0 điểm): Đề tài và chủ đề Đề tài: Tình cảm gia đình trong cảnh chia cắt đất nước (Bắc - Nam). Chủ đề: Bài thơ thể hiện tình yêu thương sâu nặng, nỗi nhớ thương da diết của người cha dành cho con, đồng thời gửi gắm khát vọng thống nhất non sông để gia đình được đoàn tụ, trẻ em được sống trong hòa bình, hạnh phúc. Câu 4 (1,0 điểm): Tác dụng của biện pháp tu từ Trong hai dòng thơ: “Bâng khuâng cặp mắt đen tròn,/ Chắt chiu vẳng tiếng chim non gọi đàn..." Biện pháp tu từ: Ẩn dụ (hình ảnh "chim non gọi đàn" ẩn dụ cho tiếng lòng của đứa con đang khao khát tình cha, khao khát sự đoàn tụ) và Từ láy (bâng khuâng, chắt chiu). Tác dụng: Về nội dung: Khắc họa sinh động vẻ ngoài ngây thơ (mắt đen tròn) và thế giới nội tâm đầy khao khát của đứa con. Hình ảnh "chim non gọi đàn" gợi lên sự lẻ loi, đáng thương của con trong cảnh chia cắt, khiến nỗi đau xót của người cha trở nên chân thực hơn. Về nghệ thuật: Làm cho câu thơ giàu nhạc điệu, giàu sức gợi hình, gợi cảm, thể hiện sự tinh tế trong cảm xúc của người cha dành cho con. Câu 5 (1,0 điểm): Ấn tượng về tình cảm người cha dành cho con Văn bản gợi cho em những ấn tượng sâu sắc về một tình cha bao la, ấm áp và đầy hy sinh: Đó là sự quan tâm tỉ mỉ, kiên nhẫn: Ba đi dạo phố, ngắm từng kiểu áo trẻ con, mua áo và treo bên bàn làm việc như để luôn cảm thấy con hiện diện bên mình. Đó là sự thấu cảm đau đớn: Dù ở xa, ba vẫn thấu hiểu nỗi khổ cực, sự kìm kẹp mà con phải chịu đựng ở miền Nam ("nghẹn lời ca dưới mỏ quạ đen"). Đó là một niềm tin và hy vọng mãnh liệt: Người cha không chỉ nhớ thương mà còn giữ gìn tấm áo làm "kỷ vật" cho ngày mai thống nhất. Tình cảm ấy gắn liền với tình yêu đất nước, biến nỗi đau riêng thành sức mạnh tin tưởng vào tương lai hòa bình. Gợi ý cho bạn: Với văn bản này, nếu có phần viết đoạn văn, bạn có thể tập trung phân tích hình ảnh "chiếc áo thêu chim trắng" như một biểu tượng của hòa bình và sự đoàn kết. Bạn có cần tôi giúp lập dàn ý cho một đoạn văn phân tích hình ảnh này không? Câu trả lời của AI có thể chứa thông tin không chính xác. Tìm hiểu thêm

2 tháng 3

Câu 1 (0.5 điểm): Xác định thể thơ của văn bản. Thể thơ của văn bản là song thất lục bát.d9c87f Câu 2 (0.5 điểm): Nhân vật trữ tình trong văn bản là ai? Nhân vật trữ tình trong văn bản là người cha (ba), người đang sống ở miền Bắc và nhớ thương con gái đang ở miền Nam trong bối cảnh đất nước bị chia cắt. Câu 3 (1.0 điểm): Nêu đề tài, chủ đề của văn bản. Đề tài: Tình cảm cha con trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt (sau Hiệp định Genève 1954, miền Bắc và miền Nam tạm thời phân ly). Chủ đề: Bài thơ thể hiện nỗi nhớ thương da diết, tình yêu thương sâu sắc của người cha dành cho con gái, đồng thời gửi gắm khát vọng thống nhất đất nước, mong muốn hòa bình để gia đình đoàn tụ, qua hình ảnh chiếc áo thêu chim trắng tượng trưng cho sự tự do, vô tư của tuổi thơ. Câu 4 (1.0 điểm): Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong hai dòng thơ: "Bâng khuâng cắp mắt đen tròn,/Chất chứa vầng trán chim non gợi đàn." Trong hai dòng thơ "Bâng khuâng cắp mắt đen tròn,/Chất chứa vầng trán chim non gợi đàn" (lưu ý: văn bản chuẩn là "vầng trán", không phải "vầng tiên" như có thể bị lỗi trong hình ảnh), nhà thơ sử dụng biện pháp nhân hóa (gán cho chim non - hình ảnh thêu trên áo - những đặc tính của con người như "chất chứa vầng trán gợi đàn") kết hợp với hoán dụ ("mắt đen tròn" chỉ đôi mắt ngây thơ, hồn nhiên của trẻ em). Tác dụng của các biện pháp này là làm nổi bật nỗi buồn man mác, bâng khuâng của người cha khi nhìn chiếc áo trẻ em, gợi lên hình ảnh con gái bé bỏng đang chịu đựng nỗi khổ sở ở miền Nam (dưới "mỏ quạ đen" tượng trưng cho kẻ thù). Chúng khắc họa sâu sắc nỗi nhớ thương, sự xót xa, đồng thời khơi gợi cảm xúc thương cảm ở người đọc về số phận trẻ thơ trong chiến tranh, nhấn mạnh giá trị nhân văn của bài thơ. Câu 5 (1.0 điểm): Văn bản trên cho gợi cho em những gì về tình cảm mà người cha dành cho người con của mình? Văn bản gợi cho em về tình cảm cha con thiêng liêng, sâu nặng, đầy nỗi nhớ thương da diết và hy vọng đoàn tụ. Người cha ở miền Bắc, dù không thể gửi áo cho con ở miền Nam do đất nước chia cắt, vẫn mua áo thêu chim trắng để treo bên bàn làm việc, ôm ấp như ôm con, tưởng tượng tiếng tim con thổn thức. Điều này thể hiện tình yêu thương vô bờ, sự xót xa trước hoàn cảnh con phải sống trong khổ sở ("nức nở", "nghẹn lời ca dưới mỏ quạ đen"), và khát khao hòa bình để con được vui chơi tự do. Qua đó, bài thơ nhắc nhở em trân trọng tình phụ tử, hiểu hơn về nỗi đau chia ly trong lịch sử dân tộc.

Dưới đây là bài làm cho văn bản “Chim thêu”:


Câu 1 (0,5 điểm):

Văn bản được viết theo thể thơ tự do.


Câu 2 (0,5 điểm):

Nhân vật trữ tình trong văn bản là người con (đứa con nhớ về cha và gia đình).


Câu 3 (1,0 điểm):

Đề tài: Tình cảm gia đình trong hoàn cảnh chiến tranh.

Chủ đề: Ca ngợi tình yêu thương sâu nặng của người cha dành cho con; thể hiện nỗi nhớ thương và niềm hi vọng về ngày mai hòa bình.


Câu 4 (1,0 điểm):

Hai dòng thơ: “Bâng khuâng cặp mắt đen tròn,/ Chất chiu vàng tiếng chim non gọi đàn…” sử dụng biện pháp ẩn dụ và nhân hóa. Hình ảnh “cặp mắt đen tròn” gợi vẻ hồn nhiên, trong trẻo của đứa con; “tiếng chim non gọi đàn” ẩn dụ cho khát khao sum họp, tình cảm gia đình. Những biện pháp này làm cho hình ảnh thơ trở nên sinh động, giàu cảm xúc, thể hiện sâu sắc nỗi nhớ thương và tình yêu cha con tha thiết.


Câu 5 (1,0 điểm):

Văn bản gợi cho em ấn tượng về tình cảm của người cha dành cho con vô cùng sâu nặng, âm thầm mà bền bỉ. Dù trong hoàn cảnh khó khăn, chiến tranh xa cách, người cha vẫn luôn hướng về con, mong con được bình yên, hạnh phúc. Đó là tình yêu thương giản dị nhưng thiêng liêng và cao đẹp.

4 tháng 3

Dưới đây là bài làm cho văn bản “Chim thêu”:


Câu 1 (0,5 điểm):

Văn bản được viết theo thể thơ tự do.


Câu 2 (0,5 điểm):

Nhân vật trữ tình trong văn bản là người con (đứa con nhớ về cha và gia đình).


Câu 3 (1,0 điểm):

Đề tài: Tình cảm gia đình trong hoàn cảnh chiến tranh.

Chủ đề: Ca ngợi tình yêu thương sâu nặng của người cha dành cho con; thể hiện nỗi nhớ thương và niềm hi vọng về ngày mai hòa bình.


Câu 4 (1,0 điểm):

Hai dòng thơ: “Bâng khuâng cặp mắt đen tròn,/ Chất chiu vàng tiếng chim non gọi đàn…” sử dụng biện pháp ẩn dụ và nhân hóa. Hình ảnh “cặp mắt đen tròn” gợi vẻ hồn nhiên, trong trẻo của đứa con; “tiếng chim non gọi đàn” ẩn dụ cho khát khao sum họp, tình cảm gia đình. Những biện pháp này làm cho hình ảnh thơ trở nên sinh động, giàu cảm xúc, thể hiện sâu sắc nỗi nhớ thương và tình yêu cha con tha thiết.


Câu 5 (1,0 điểm):

Văn bản gợi cho em ấn tượng về tình cảm của người cha dành cho con vô cùng sâu nặng, âm thầm mà bền bỉ. Dù trong hoàn cảnh khó khăn, chiến tranh xa cách, người cha vẫn luôn hướng về con, mong con được bình yên, hạnh phúc. Đó là tình yêu thương giản dị nhưng thiêng liêng và cao đẹp.



Câu 1

Thể thơ của văn bản: Thơ tự do.

Câu 2

Nhân vật trữ tình trong văn bản: Người cha (nhân vật “ba” trong bài thơ).

Câu 3

Đề tài:

Bài thơ viết về tình cảm gia đình, cụ thể là tình cha con trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt.

Chủ đề:

Bài thơ thể hiện nỗi nhớ thương sâu sắc của người cha dành cho đứa con ở miền Nam, qua đó ca ngợi tình phụ tử thiêng liêng và bộc lộ niềm hi vọng vào ngày mai đất nước hòa bình, gia đình được đoàn tụ.

Câu 4

Biện pháp tu từ:

Ẩn dụ (hình ảnh “tiếng chim non gọi đàn”).

Tác dụng:

  • Gợi lên hình ảnh đứa con nhỏ ngây thơ, đáng yêu.
  • Thể hiện khát vọng được sum họp gia đình.
  • Làm nổi bật nỗi nhớ thương con da diết của người cha.

Câu 5

Văn bản gợi cho em ấn tượng sâu sắc về tình cảm cha con thiêng liêng, sâu nặng. Người cha luôn nhớ thương con, nâng niu chiếc áo như ôm chính đứa con của mình. Tình yêu thương ấy vừa da diết, vừa chất chứa niềm hi vọng vào ngày mai đất nước hòa bình để cha con được đoàn tụ.