K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

3 tháng 3 2025
1. Brunei:

Tái thiết và phát triển: Sau khi giành độc lập từ Anh vào năm 1984, Brunei tập trung vào phát triển kinh tế dựa vào dầu mỏ và khí đốt. Quản lý tốt nguồn tài nguyên thiên nhiên giúp Brunei trở thành một trong những quốc gia giàu có nhất thế giới. Chính phủ Brunei duy trì sự ổn định chính trị và đầu tư mạnh mẽ vào các cơ sở hạ tầng và phúc lợi xã hội.

2. Myanmar (Mi-an-ma):

Tái thiết và phát triển: Sau khi giành độc lập từ Anh vào năm 1948, Mi-an-ma đối mặt với nhiều khó khăn do các cuộc xung đột nội bộ và quân sự. Năm 1962, quân đội đảo chính và thiết lập chế độ độc tài. Quá trình phát triển bị đình trệ và nền kinh tế gặp nhiều khó khăn. Mặc dù đã có những cải cách dân chủ vào cuối những năm 2000, nhưng Mi-an-ma vẫn phải đối mặt với các vấn đề chính trị và xung đột sắc tộc.

3. Timor-Leste (Đông Ti-mo):

Tái thiết và phát triển: Sau khi giành độc lập từ Bồ Đào Nha vào năm 1975 và sau đó là sự chiếm đóng của Indonesia, Đông Ti-mo đã giành lại độc lập vào năm 2002. Tái thiết đất nước gặp rất nhiều khó khăn do chiến tranh kéo dài. Tuy nhiên, với sự hỗ trợ quốc tế, đất nước đã tiến hành các cải cách và xây dựng lại nền kinh tế dựa vào dầu mỏ và khí đốt. Tình hình chính trị đã ổn định hơn nhưng vẫn cần tiếp tục phát triển cơ sở hạ tầng và cải thiện đời sống nhân dân.

Sau khi giành được độc Brunei năm 19 84 xây dựng nhà nước quân chủ Hồi giáo và phát triển kinh tế dựa vào dầu mỏ khí tự nhiên nhờ nguồn tài nguyên dồi dào Brunei có thu nhập cao và đời sống nhân dân ổn định Myanmar năm 1948 ban đầu xây dựng chính quyền dân sự nhưng sau đó quân đội nắm quyền do bất ổn chính trị và chính sách kinh tế khép kín đất nước phát triển chậm dù gần đây đã có xu hướng cải cách và mở cửa Đông Timor năm 2002 là quốc gia trẻ phải xây dựng bộ máy nhà nước từ đầu kinh tế chủ yếu dựa vào dầu khí và nông nghiệp còn nhiều khó khăn nhưng đang từng bước ổn định và hội nhập khu vực

1 tháng 3

• Quá trình tái thiết và phats triển của các nước:

- Bru-nây:

+ Là một trong những nước có thu nhập đầu người vào hàng cao nhất thế giới nhờ có trữ lượng đáng kể về dầu mỏ và khí tự nhiên. 

+ Từ giữa thập niên 80 của thế kỉ XX, Chính phủ Brunây thi hành chính sách đa dạng hoá nền kinh tế, gia tăng sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu.

- Mianma:

+ Sau khi được Anh trao trả độc lập đã thực hiện chính sách tự lực hướng nội, kinh tế tăng trưởng chậm chạp. 

+ Từ cuối năm 1988, chính phủ Mianma tiến hành cải cách kinh tế và “mở cửa”, kinh tế có phần khởi sắc. Tuy nhiên, đời sống của nhân dân vẫn còn rất nhiều khó khăn.

- Đông Ti-mo:

+ Tuyên bố độc lập vào ngày 28/11/1975, sau khi Bồ Đào Nha rút khỏi nước này. Tuy nhiên, nhân dân Đông Ti-mo đã phải trải qua một thời gian dài đấu tranh chống lại sự chiếm đóng của các lực lượng Inđônêxia. 

+ Ngày 20/5/2002, Đông Ti-mo đã được quốc tế công nhận là một quốc gia độc lập.


1 tháng 3

1,Brunei (Độc lập: 1984) Về Kinh tế: Dựa vào dầu mỏ và khí đốt (chiếm 90% thu nhập quốc gia). Về Chính sách: Đẩy mạnh đa dạng hóa kinh tế để giảm lệ thuộc vào dầu mỏ (phát triển du lịch, dịch vụ). Kết quả: Là quốc gia có thu nhập bình quân đầu người và phúc lợi xã hội cao nhất khu vực.

2. Myanmar (Độc lập: 1948) Chính sách: Chuyển từ kinh tế kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường (từ năm 1988). Phát triển: Mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài, cải cách hành chính và dân chủ hóa. Thách thức: Quá trình phát triển đôi khi bị gián đoạn do bất ổn chính trị nội bộ.

3. Đông Ti-mo (Độc lập: 2002) Xuất phát điểm: Là quốc gia trẻ nhất, đi lên từ đổ nát sau xung đột. Kinh tế: Khai thác dầu mỏ, khí tự nhiên và xuất khẩu cà phê. Mục tiêu: Tập trung tái thiết cơ sở hạ tầng và nỗ lực gia nhập ASEAN.

2 tháng 3

Quá trình tái thiết và phát triển của Brunei, Myanmar và Đông Timor sau độc lập diễn ra với đặc thù riêng: Brunei dựa vào tài nguyên, Myanmar cải cách từ kinh tế tập trung, và Đông Timor tái thiết sau xung đột. Cả ba điều thần tượng ổn định chính trị đa dạng hóa nền kinh tế và hội nhập quốc tế để phát triển bền vững.

2 tháng 3

Brunei tập trung đa dạng hóa kinh tế dựa trên nguồn thu dầu khí ổn định, Myanmar trải qua nhiều giai đoạn cải cách kinh tế - chính trị khó khăn, trong khi Đông Timor tập trung tái thiết sau xung đột và ổn định quốc gia.

1.Brunei. Tái thiết và Phát triển: Sau khi hoàn toàn độc lập từ Anh năm 1984, Brunei sở hữu nền kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên dầu mỏ và khí tự nhiên khổng lồ, giúp quốc gia này có thu nhập bình quân đầu người cao nhất thế giới. Chính sách: Từ giữa thập niên 80 của thế kỷ XX, chính phủ Brunei thi hành chính sách đa dạng hóa nền kinh tế, gia tăng sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu nhằm giảm sự phụ thuộc vào dầu mỏ.

2. Đông Timor. Tái thiết và Phát triển: Tuyên bố độc lập vào ngày 28/11/1975 nhưng sau đó bị Indonesia sáp nhập. Đông Timor phải trải qua cuộc đấu tranh gian khổ và tái thiết đất nước từ đống đổ nát sau khi giành độc lập hoàn toàn vào năm 2002. Chính sách: Tập trung vào việc xây dựng lại hạ tầng cơ sởổn định chính trị, phát triển nông nghiệp và khai thác tài nguyên (dầu khí) để phát triển kinh tế bền vững.

3. Myanmar.Tái thiết và Phát triển: Giành độc lập năm 1948, nhưng trải qua thời gian dài bất ổn chính trị và kinh tế tập trung. Từ cuối năm 1998, Myanmar bắt đầu tiến hành cải cách kinh tế, mở cửa hơn.

Chính sách: Myanmar chuyển hướng sang phát triển kinh tế thị trường đẩy mạnh hợp tác quốc tế đặc biệt là trong khu vực ASEAN (gia nhập năm 1997), nhằm cải thiện đời sống nhân dân và phát triển hạ tầng.

2 tháng 3

Quá trình tái thiết và phát triển sau khi giành độc lập của các quốc gia: Bru - nây, Mi - an - ma, Đông ti - mo là.

– Bru - nây sau khi giành độc lập:

+ Chính trị: Duy trì chế độ quân chủ chuyên chế tập quyền

+ Kinh tế: Xuất khẩu dầu thô và khí thiên nhiên, miễn thuế, y tế và giáo dục miến phí

– Mi - an - ma sau khi giành độc lập

+ Chính trị: Phải đối mặt với tình trạng bất ổn chính trị.

+ Kinh tế: Bị trì trệ kép dài.

– Đông ti - mo sau khi giành độc lập.

+ Chính trị: Xây dựng thể chế dân chủ cộng hòa dưới sự hố trợ của liên hợp quốc

+ Kinh tế: Xuất khẩu cà phê và khai thác dầu khí từ biển
















Câu 1: Sau khi giành độc lập, các nước Bru-nây, Mi-an-ma và Đông Ti-mo đã tiến hành tái thiết và phát triển đất nước:

Bru-nây: Sau khi độc lập (1984), dựa vào nguồn dầu mỏ và khí đốt để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện chính sách phúc lợi xã hội cao, giữ ổn định chính trị. Mi-an-ma: Sau khi giành độc lập (1948), tiến hành xây dựng đất nước nhưng gặp nhiều khó khăn do xung đột sắc tộc và bất ổn chính trị. Từ cuối thế kỉ XX, từng bước cải cách, mở cửa, phát triển kinh tế và hội nhập khu vực. Đông Ti-mo: Giành độc lập năm 2002, tập trung khôi phục kinh tế, xây dựng bộ máy nhà nước, phát triển cơ sở hạ tầng; kinh tế còn khó khăn nhưng từng bước ổn định và phát triển.

1. Bru-nây (Giành độc lập năm 1984)

Sau khi thoát khỏi sự bảo hộ của Anh, Bru-nây tập trung vào việc ổn định chính trị và làm giàu dựa trên nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có.

Kinh tế: Dựa trọng tâm vào khai thác dầu mỏ và khí đốt tự nhiên. Đây là nguồn thu nhập chính giúp Bru-nây có thu nhập bình quân đầu người thuộc hàng cao nhất thế giới.

Chính sách: Chính phủ thực hiện chiến lược đa dạng hóa nền kinh tế (giảm bớt sự lệ thuộc vào dầu mỏ), chú trọng phát triển dịch vụ, tài chính và du lịch.

Xã hội: Áp dụng hệ thống phúc lợi xã hội cao (miễn phí y tế, giáo dục) nhờ nguồn thu từ dầu mỏ.

2. Mi-an-ma (Giành độc lập năm 1948)

Quá trình phát triển của Mi-an-ma phức tạp hơn do tình hình nội trị không ổn định kéo dài.

Giai đoạn đầu: Sau khi độc lập từ Anh, nước này trải qua thời kỳ dài dưới sự quản lý của chính quyền quân sự và thực hiện chính sách "bế quan tỏa cảng", khiến kinh tế chậm phát triển.

Cải cách (từ 2011): Mi-an-ma bắt đầu thực hiện tiến trình dân chủ hóa và mở cửa kinh tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI).

Thách thức: Hiện nay, nước này vẫn đang đối mặt với những bất ổn về chính trị và xung đột sắc tộc, gây ảnh hưởng đáng kể đến tốc độ tăng trưởng kinh tế.

3. Đông Ti-mo (Giành độc lập năm 2002)

Là quốc gia trẻ nhất Đông Nam Á, Đông Ti-mo bắt đầu công cuộc tái thiết từ con số không sau nhiều năm xung đột.

Tái thiết: Tập trung xây dựng bộ máy nhà nước, hệ thống luật pháp và cơ sở hạ tầng cơ bản vốn bị phá hủy nặng nề sau cuộc trưng cầu dân ý năm 1999.

Kinh tế: Phụ thuộc lớn vào xuất khẩu dầu khí và cà phê. Quỹ Dầu khí đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì ngân sách quốc gia.

Hội nhập: Đang nỗ lực cải thiện đời sống nhân dân, giảm nghèo và tích cực vận động để sớm trở thành thành viên chính thức của ASEAN.


6 tháng 3

1. Brunei Giành độc lập: Ngày 1 tháng 1 năm 1984. Quá trình phát triển: Nền tảng kinh tế: Dựa chủ yếu vào nguồn tài nguyên dầu mỏ và khí đốt tự nhiên phong phú. Chính sách: Tập trung vào việc duy trì sự ổn định chính trị dưới chế độ quân chủ chuyên chế. Quốc gia này đẩy mạnh đầu tư vào hạ tầng, y tế, và giáo dục miễn phí cho người dân nhờ nguồn thu từ dầu mỏ. Định hướng: Chú trọng phát triển bền vững và đa dạng hóa nền kinh tế để giảm sự phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch trong tương lai. 2. Myanmar Giành độc lập: Ngày 4 tháng 1 năm 1948 (thoát khỏi sự cai trị của thực dân Anh). Quá trình phát triển: Thách thức: Sau độc lập, Myanmar trải qua thời kỳ dài bất ổn chính trị, xung đột sắc tộc và sự cầm quyền của chính quyền quân sự. Kinh tế: Nền kinh tế từng bị cô lập và chịu nhiều lệnh trừng phạt quốc tế. Cải cách: Đã có những giai đoạn nỗ lực chuyển đổi sang dân chủ và mở cửa kinh tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tuy nhiên quá trình phát triển vẫn gặp nhiều khó khăn do những biến động chính trị phức tạp và kéo dài. 3. Đông Timor (Timor-Leste) Giành độc lập: Ngày 20 tháng 5 năm 2002 (sau giai đoạn chịu sự quản lý của Liên Hợp Quốc). Quá trình phát triển: Xuất phát điểm: Gặp nhiều khó khăn lớn về cơ sở hạ tầng, kinh tế và nhân lực do ảnh hưởng của chiến tranh kéo dài. Nỗ lực: Nhận được sự hỗ trợ lớn từ cộng đồng quốc tế để xây dựng lại bộ máy nhà nước, ổn định xã hội và hệ thống pháp luật. Kinh tế: Đang nỗ lực phát triển nông nghiệp, khai thác dầu khí ở Biển Timor và xây dựng ngành du lịch để tạo việc làm, đồng thời đối mặt với thách thức về đói nghèo và phát triển nguồn nhân lực.

1. Bru-nây (Độc lập năm 1984): Quá trình tái thiết:khi giành độc lập từ Anh (/1/1984), chính phủ thực hiện các chính sách thoát khỏi sự lệ thuộc vào Anh, xây dựng hệ thống luật pháp hiện đại và củng cố quyền lực quốc gia. Phát triển: Tập trung phát triển công nghiệp dầu mỏ và khí đốt, đa dạng hóa nền kinh tế, nhờ đó đạt mức GDP bình quân đầu người rất cao (31.723 USD năm 2021).

2. Mi-an-ma (Độc lập năm 1948): Quá trình tái thiết: Sau khi giành độc lập, quốc gia này chủ yếu thực hiện chính sách tự lực cánh sinh, hướng nội, dẫn đến kinh tế tăng trưởng chậm chạp trong một thời gian dài. Phát triển: Từ cuối thập niên 1990, đặc biệt là từ năm 2011, Mi-an-ma bắt đầu tiến hành cải cách kinh tế, chính trị theo hướng dân chủ hóa, mở cửa kinh tế dù vẫn đối mặt với nhiều bất ổn nội bộ .

3. Đông Ti-mo (Độc lập năm 2002): Quá trình tái thiết: Sau khi giành độc lập (2002), chính phủ mới tập trung ổn định tình hình chính trị, xã hội, xây dựng lại cơ sở hạ tầng sau chiến tranh. Phát triển: Đối mặt với nhiều khó khăn, xung đột phe nhóm và đảo chính quân sự, quá trình phát triển kinh tế diễn ra chậm chạp và cần nhiều nỗ lực để ổn định và phát triển bền. Nhìn chung, cả 3 nước đều nỗ lực xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và tham gia vào quá trình hội nhập khu vực Đông Nam Á.

6 tháng 3

Brunei :Sau khi giành độc lập (1984), Brunei tập trung phát triển kinh tế dựa vào khai thác dầu mỏ và khí đốt, nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng hệ thống phúc lợi xã hội và giữ vững ổn định chính trị.


Myanmar (Mi-an-ma):

Sau khi độc lập (1948), Myanmar tiến hành xây dựng và phát triển đất nước, cải cách kinh tế, từng bước mở cửa, thúc đẩy phát triển nông nghiệp, công nghiệp và hội nhập khu vực.


Timor‑Leste (Đông Ti-mo):

Sau khi giành độc lập (2002), nước này tập trung khôi phục kinh tế, xây dựng bộ máy nhà nước, ổn định chính trị, phát triển cơ sở hạ tầng và tranh thủ sự hỗ trợ của quốc tế.


7 tháng 3
Quá trình tái thiết và phát triển của Brunei, Myanmar, và Timor-Leste diễn ra trong các bối cảnh lịch sử khác nhau, từ việc dựa vào tài nguyên đến việc đối mặt với xung đột nội bộ và xây dựng quốc gia từ con số không.


7 tháng 3

Brunei nhờ tài nguyên và sự ổn định chính trị đã phát triển nhanh chóng về kinh tế theo mô hình phúc lợi,Myanmar bị kìm hãm bởi xung đột và chế độ chính trị kéo dài,còn Đông Timor phải bắt đầu từ con số không với sự tàn phá nặng nề và sự phụ thuộc lớn vào viện trợ quốc tế.

8 tháng 3

Sau khi giành được độc lập, Bru-nây, Mi-an-ma và Đông Ti-mo đã tiến hành tái thiết đất nước, ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội và mở rộng quan hệ đối ngoại để hội nhập với khu vực và thế giới.

Bru-nây (Brunei) Bru-nây giành độc lập từ Anh vào ngày 1/1/1984. Quá trình phát triển của nước này có những đặc điểm nổi bật sau: Kinh tế: Chính phủ thực hiện chính sách đa dạng hóa nền kinh tế để giảm bớt sự lệ thuộc vào dầu mỏ và khí đốt (vốn chiếm tỉ trọng rất lớn trong GDP). Xã hội: Nhờ nguồn thu nhập lớn từ dầu mỏ, Bru-nây là một trong những quốc gia có thu nhập bình quân đầu người cao nhất thế giới và thực hiện các chính sách phúc lợi xã hội rất tốt (miễn phí giáo dục, y tế...). Đối ngoại: Tham gia ASEAN năm 1984 và đóng vai trò tích cực trong các hoạt động của khu vực. 2. Mi-an-ma (Myanmar) Mi-an-ma giành độc lập vào năm 1948 và trải qua một quá trình phát triển khá thăng trầm: Giai đoạn 1948 - 1962: Xây dựng đất nước theo con đường dân chủ nghị viện nhưng gặp nhiều khó khăn do mâu thuẫn sắc tộc và nội chiến. Giai đoạn 1962 - 1988: Thực hiện "Con đường Mi-an-ma tiến lên chủ nghĩa xã hội", nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp khiến đất nước rơi vào tình trạng trì trệ. Giai đoạn từ 1988 đến nay: Chuyển sang nền kinh tế thị trường, mở cửa và thực hiện các cải cách dân chủ. Năm 1997, Mi-an-ma chính thức gia nhập ASEAN. Tuy nhiên, quốc gia này vẫn đối mặt với những thách thức về ổn định chính trị nội bộ. 3. Đông Ti-mo (Timor-Leste) Đây là quốc gia trẻ nhất Đông Nam Á, giành độc lập hoàn toàn vào ngày 20/5/2002: Tái thiết: Sau nhiều năm xung đột, Đông Ti-mo bắt đầu quá trình tái thiết đất nước từ con số không với sự hỗ trợ của Liên Hợp Quốc. Tập trung xây dựng bộ máy nhà nước, hệ thống luật pháp và hạ tầng cơ sở. Kinh tế: Dựa chủ yếu vào việc khai thác dầu mỏ và khí đốt ở vùng biển Timor. Nông nghiệp (đặc biệt là cà phê) cũng đóng vai trò quan trọng. Đối ngoại: Đang nỗ lực hội nhập khu vực và đã được chấp nhận về mặt nguyên tắc để trở thành thành viên thứ 11 của ASEAN (hiện đang là quan sát viên và hoàn tất các lộ trình gia nhập).

9 tháng 3


  • Brunei: Sau khi giành độc lập (1984), Brunei tập trung khai thác dầu mỏ và khí đốt, phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của người dân, trở thành quốc gia có thu nhập cao ở Đông Nam Á.
  • Myanmar: Sau khi giành độc lập (1948), Myanmar tiến hành xây dựng đất nước nhưng gặp nhiều khó khăn do xung đột sắc tộc, bất ổn chính trị; kinh tế phát triển chậm và trải qua nhiều giai đoạn cải cách.
  • Timor-Leste: Sau khi giành độc lập (2002), nước này tập trung tái thiết đất nước, ổn định chính trị, khôi phục kinh tế và phát triển cơ sở hạ tầng với sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế.



10 tháng 3

Quá trình tái thiết và phát triển của các nước này diễn ra khác nhau: Bru-nây tập trung vào khai thác dầu khí, Mi-an-ma trải qua cải cách chính trị, và Đông Ti-mo chú trọng xây dựng lại cơ sở hạ tầng và ổn định đất nước.

2 tháng 8 2023

*Nhóm năm nước sáng lập ASEAN: Quá trình tái thiết và phát triển của nhóm năm nước sáng lập ASEAN (Inđônêxia, Malaixia, Philíppin, Xingapo và Thái Lan) trải qua ba giai đoạn chính với những nội dung cụ thể, như sau:

- Giai đoạn 1: từ sau khi giành độc lập đến năm 1967

+ Tiến hành chiến lược Công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu nhằm: đẩy mạnh phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng thay thế hàng nhập khẩu, nhanh chóng xóa bỏ nghèo nàn, lạc hậu.

+ Hạn chế: thiếu vốn, nguyên liệu, chi phí cao; chưa giải quyết được mối quan hệ giữa tăng trưởng với công bằng xã hội.

- Giai đoạn 2: từ năm 1967 đến cuối thập niên 1980

+ Chuyển sang chiến lược Công nghiệp hóa lấy xuất khẩu làm chủ đạo, mở cửa nền kinh tế, thu hút vốn đầu tư và kĩ thuật của nước ngoài, tập trung sản xuất hàng hóa để xuất khẩu, phát triển kinh tế đối ngoại.

+ Kết quả: kinh tế, xã hội biến đổi to lớn, tỉ trọng công nghiệp cao hơn nông nghiệp, kinh tế đối ngoại tăng trưởng nhanh.

- Giai đoạn 3: từ những năm 1990 đến nay

+ Chủ động hội nhập kinh tế thế giới, tăng tác khu vực; tập khai nền kinh tế 4.0.

+ Kết quả: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của nhóm nước này khá cao. Xingapo trở thành một trong bốn "con rồng” kinh tế của châu Á.
+ Bước sang thế kỉ XXI, các nước này đang tích cực triển khai trong khuôn khổ ASEAN về Phát triển Kinh tế đồng đều (AFEED).

*Nhóm các nước Đông Dương

- Campuchia:

+ Từ năm 1975 đến năm 1991, tình hình chính trị bất ổn, kinh tế khủng hoảng do chế độ Pôn Pốt gây ra.

+ Từ năm 1991 đến nay, Campuchia hồi sinh, kinh tế tăng trưởng; thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác với Trung Quốc trong sáng kiến “Vành đai và Con đường”.

- Lào:

+ Từ năm 1975 - 1986, xây dựng nền kinh tế tập trung, kế hoạch hoá và đạt được một số thành tựu nhưng còn gặp nhiều khó khăn.

+ Từ cuối năm 1986 đến nay, thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế có sự khởi sắc, đời sống nhân dân các bộ tộc Lào được cải thiện.

- Việt Nam:

+ Từ năm 1986, Việt Nam thực hiện đường lối đổi mới, hình thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

+ Giai đoạn 1996 - 2000, Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu lúa gạo lớn nhất thế giới và có nền kinh tế tăng trưởng nhanh.

+ Bước sang thế kỉ XXI, Việt Nam chủ động hội nhập khu vực và quốc tế ngày càng sâu rộng.

*Các nước khác ở Đông Nam Á

- Bru-nây:

+ Là một trong những nước có thu nhập đầu người vào hàng cao nhất thế giới nhờ có trữ lượng đáng kể về dầu mỏ và khí tự nhiên.

+ Từ giữa thập niên 80 của thế kỉ XX, Chính phủ Brunây thi hành chính sách đa dạng hoá nền kinh tế, gia tăng sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu.

- Mianma:

+ Sau khi được Anh trao trả độc lập đã thực hiện chính sách tự lực hướng nội, kinh tế tăng trưởng chậm chạp.

+ Từ cuối năm 1988, chính phủ Mianma tiến hành cải cách kinh tế và “mở cửa”, kinh tế có phần khởi sắc. Tuy nhiên, đời sống của nhân dân vẫn còn rất nhiều khó khăn.

- Đông Ti-mo:

+ Tuyên bố độc lập vào ngày 28/11/1975, sau khi Bồ Đào Nha rút khỏi nước này. Tuy nhiên, nhân dân Đông Ti-mo đã phải trải qua một thời gian dài đấu tranh chống lại sự chiếm đóng của các lực lượng Inđônêxia.

+ Ngày 20/5/2002, Đông Ti-mo đã được quốc tế công nhận là một quốc gia độc lập.

5 tháng 8 2023

Tham khảo:

- Để thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu sau khi giành độc lập, nhóm 5 nước sáng lập ASEAN (Inđônêxia, Malaixia, Philíppin, Xingapo) tiến hành chiến lược công nghiệp hoá từ giữa những năm 50 của thế kỉ XX, sớm hơn so với các nước còn lại trong khu vực.

+ Trong giai đoạn đầu, các nước thực hiện chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu với mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, nhằm giải quyết những vấn đề cấp bách đặt ra cho nền kinh tế.

+ Trong giai đoạn tiếp theo, các nước Đông Nam Á lần lượt chuyển sang thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu, tập trung phát triển khu vực sản xuất hàng hoá xuất khẩu, lấy đó làm động lực chủ yếu để phát triển toàn bộ nền kinh tế.

- Các nước Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia) từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường, tiến hành công nghiệp hóa từ cuối thập kỉ 80 - 90 của thế kỉ XX.

- Sau khi giành độc lập năm 1984, Brunây tiến hành điều chỉnh chính sách nhằm đa dạng hóa nền kinh tế. Mianma bắt đầu tiến hành cải cách kinh tế từ cuối năm 1998.

=> Trải qua quá trình phát triển, bằng những chính sách năng động và linh hoạt, các nước Đông Nam Á đã đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng hằng năm đạt mức cao. Đời sống xã hội có những chuyển biến về căn bản.

5 tháng 8 2023

Tham khảo:

Từ cuối thế kỉ XIX, sau khi chủ nghĩa thực dân áp đặt được ách cai trị đối với các nước Đông Nam Á, cuộc đấu tranh của nhân dân các nước này chuyển sang một thời kì mới - thời kì đấu tranh giành lại độc lập dân tộc và trải qua ba giai đoạn phát triển chính.

- Giai đoạn 1: từ cuối thế kỉ XIX đến năm 1920

+ Đây là giai đoạn chuyển tiếp từ đấu tranh tự vệ sang đấu tranh giành độc lập dân tộc. Phong trào đấu tranh theo ý thức hệ phong kiến được thay thế bằng phong trào theo khuynh hướng tư sản, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa chống thực dân Tây Ban Nha của nhân dân Philíppin năm 1896.

+ Cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, sự ra đời và phát triển của giai cấp vô sản ở các nước Đông Nam Á đã tạo nền tảng cho sự hình thành khuynh hướng mới trong phong trào đấu tranh.

- Giai đoạn 2: từ năm 1920 - 1945:

+ Giai cấp vô sản bắt đầu bước lên vũ đài chính trị trong khu vực.

+ Các đảng cộng sản được thành lập ở một số nước: Inđônêxia (1920), Việt Nam, Mã Lai, Xiêm và Philíppin (trong những năm 30 của thế kỉ XX), mở ra khuynh hướng vô sản trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc.

- Giai đoạn 3: từ năm 1945 - 1975:

+ Thắng lợi của lực lượng Đồng minh trong Chiến tranh thế giới thứ hai đã tạo thời cơ thuận lợi cho phong trào. Trong 10 năm đầu sau Chiến tranh (1945 - 1954), làn sóng đấu tranh dâng cao. Inđônêxia tuyên bố độc lập, Việt Nam và Lào tiến hành cách mạng giành chính quyền và tuyên bố độc lập trong năm 1945. Một số nước được trao trả độc lập như: Philíppin (1946) và Miến Điện (1948).

+ Từ năm 1954 đến năm 1975, các nước Đông Nam Á đã lần lượt hoàn thành cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc (riêng Brunây được trao trả độc lập năm 1984).

22 tháng 8 2023

Cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân Đông Nam Á trải qua 3 giai đoạn chính:

- Giai đoạn 1: từ cuối thế kỉ XIX đến năm 1920:

+ Phong trào chống thực dân mang ý thức hệ phong kiến do giai cấp phong kiến hoặc nông dân lãnh đạo, diễn ra chủ yếu ở Việt Nam, Lào, Campuchia.

+ Phong trào giải phóng dân tộc theo xu hướng tư sản diễn ra sớm nhất ở Philíppin, Inđônêxia, Mianma,… dưới sự dẫn dắt của các trí thức cấp tiến.

- Giai đoạn 2: từ năm 1920 đến năm 1945:

+ Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc phát triển đồng thời theo hai khuynh hướng: tư sản (do giai cấp tư sản lãnh đạo) và vô sản (do giai cấp vô sản lãnh đạo). Nhiều đảng phái tiến bộ đã ra đời, lãnh đạo cuộc đấu tranh của nhân dân bằng cả phương pháp hòa bình và đấu tranh vũ trang.

+ Sau khi quân phiệt Nhật đầu hàng Đồng minh (1945), nhân dân một số nước như: Inđônêxia, Việt Nam, Lào,.. đã tiến hành cách mạng giành độc lập dân tộc.

- Giai đoạn 3: từ năm 1945 đến năm 1975:

+ Tại Philíppin, Mianma, Malaixia, Inđônêxia diễn ra đấu tranh yêu cầu các nước thực dân phương Tây trao trả độc lập.

+ Trên bán đảo Đông Dương, nhân dân Việt Nam, Lào, Campuchia tiến hành cuộc kháng chiến chống xâm lược của Pháp và Mỹ cho đến năm 1975.

+ Năm 1984, Brunây giành được độc lập.

22 tháng 8 2023

- Ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai, một số nước Đông Nam Á đã bắt đầu quá trình tái thiết đất nước, tập trung khắc phục hậu quả chiến tranh và các tàn dư của thời kì thuộc địa. Cụ thể:

- Nhóm 5 nước sáng lập ASEAN:

+ Từ những năm 60 của thế kỉ XX, nhóm các nước sáng lập ASEAN (Thái Lan, Xingapo, Philíppin, Malaixia, Inđônêxia) triển khai chính sách công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu với mục tiêu nhanh chóng xóa bỏ nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng nền kinh tế tự chủ. Trong vòng một thập kỉ, các nước này đẩy mạnh phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nội địa thay thế hàng nhập khẩu, lấy thị trường trong nước làm chỗ dựa để phát triển kinh tế.

+ Những năm 70 của thế kỉ XX, nhóm nước sáng lập ASEAN bắt đầu thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hướng tới xuất khẩu. Chính sách công nghiệp hoá hướng ngoại đã tạo ra bước phát triển kinh tế, xã hội mới, thay đổi bộ mặt của nhiều nước trong khu vực.

Đối với ba nước Đông Dương: trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, đến cuối những năm 80 của thế kỉ XX, Việt Nam, Lào, Campuchia mới bắt đầu đẩy mạnh phát triển kinh tế bằng cách từng bước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường.

- Các nước Đông Nam Á khác:

+ Tại Mianma: dưới sự cầm quyền của chính phủ quân sự từ những năm 60 của thế kỉ XX, quá trình tái thiết và phát triển đất nước gặp nhiều khó khăn. Từ năm 2011, một số chính sách cải cách kinh tế, chính trị được tiến hành theo hướng dân chủ hoá, tuy nhiên tình hình Mianma hiện tại vẫn còn nhiều bất ổn.

Tại Brunây, sau khi tuyên bố độc lập vào ngày 1/1/1984, chính phủ đã thi hành nhiều chính sách nhằm thoát khỏi sự lệ thuộc vào nước Anh. Hệ thống luật pháp hiện đại được xác lập. Nền kinh tế độc lập từng bước được phát triển, đặc biệt là ngành chế biến dầu mỏ. GDP bình quân đầu người của Brunây năm 2021 đạt 31723 USD.

Tại Đông Timo, sau khi tuyên bố độc lập năm 2002, chính phủ mới đã thi hành nhiều chính sách nhằm ổn định tình hình chính trị, phát triển kinh tế, xã hội. Tuy nhiên xung đột phe nhóm và các cuộc đảo chính quân sự đang gây ra nhiều vấn đề bất ổn.

5 tháng 8 2023

Tham khảo:

Một số cuộc đấu tranh giành độc lập tiêu biểu ở các quốc gia Đông Nam Á:

Cuộc khởi nghĩa của Hoàng tử Đi-pô-nê-gô-rô (In-đô-nê-xi-a);
Cuộc khởi nghĩa Đa-ga-hô (Phi-lip-pin);
Cuộc khởi nghĩa của Hoàng thân Si-vô-tha, A-cha Xoa, Pu-côm-bô (Cam-pu-chia);
Phong trào Cần Vương (Việt Nam);

5 tháng 8 2023

Tham khảo:

♦ Quá trình tái thiết và phát triển ở Đông Nam Á

- Để thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu sau khi giành độc lập, các nước Đông Nam Á như Inđônêxia, Malaixia, Philíppin, Xingapo tiến hành chiến lược công nghiệp hoá từ giữa những năm 50 của thế kỉ XX, sớm hơn so với các nước còn lại trong khu vực.

- Các nước Việt Nam, Lào, Campuchia từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường, tiến hành công nghiệp hoá từ cuối thập kỉ 80 - 90 của thế kỉ XX.
- Sau khi giành độc lập năm 1984, Brunây tiến hành điều chỉnh chính sách nhằm đa dạng hoá nền kinh tế. Mianma bắt đầu tiến hành cải cách kinh tế từ cuối năm 1998.

5 tháng 8 2023

Tham khảo

♦ Tại Mianma:

- Thực dân Anh tiến hành ba cuộc xâm lược vào các năm 1824 - 1826, 1852, 1885 và biến Mianma thành thuộc địa.

- Sau khi hoàn thành quá trình xâm lược, thực dân Anh đã tổ chức hệ thống cai trị trực tiếp, đồng thời tước đoạt các vùng lúa gạo, rừng gỗ tếch và các mỏ đá quý của Mianma.

♦ Tại 3 nước Đông Dương:

- Ở Việt Nam:

+ Ngày 1/9/1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha lấy cớ triều Nguyễn cấm đạo, hạn chế giao thương, đã nổ súng tấn công Đà Nẵng, mở đầu quá trình xâm lược Việt Nam.

+ Năm 1862, thực dân Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Bộ và đến năm 1867 hoàn thành xong việc đánh chiếm cả vùng Nam Bộ Việt Nam.

+ Năm 1884, với Hiệp ước Patơnốt, thực dân Pháp đã cơ bản hoàn thành quá trình xâm lược Việt Nam.

- Ở Campuchia:

+ Năm 1863, thực dân Pháp ép chính quyền Campuchia kí hiệp ước công nhận sự bảo hộ của Pháp đối với Campuchia, biến vương quốc này thành thuộc địa của Pháp.

+ Năm 1884, một hiệp ước mới được kí kết giữa thực dân Pháp và chính quyền Campuchia với những điều khoản có lợi cho thực dân Pháp.

- Ở Lào: Pháp buộc Xiêm kí hiệp ước với Pháp thừa nhận nền bảo hộ của Pháp ở Lào (1893), biến vương quốc này thành thuộc địa của Pháp và nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc Pháp.

- Nền thống trị của thực dân Pháp ở Đông Dương:

+ Thực dân Pháp lập ra Liên bang Đông Dương, đặt phủ toàn quyền ở Hà Nội; xây dựng bộ máy cai trị chặt chẽ, bao gồm cả hoạt động cai trị trực tiếp và cai trị gián tiếp thông qua quan chức bản xứ.

+ Tiến hành công cuộc khai thác thuộc địa quy mô lớn trên toàn Đông Dương.

5 tháng 8 2023

Tham khảo:

Quá trình tái thiết và phát triển đất nước ở Việt Nam:

- Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước và hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước, Việt Nam chuyển sang giai đoạn đất nước độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội.

- Trong 10 năm đầu (1976 - 1986), nhân dân Việt Nam đã thực hiện hai kế hoạch Nhà nước 5 năm (1976 - 1980 và 1981 - 1985) do Đại hội IV (tháng 12/1976) và Đại hội V (tháng 3/1982) của Đảng đề ra, đồng thời đấu tranh bảo vệ vùng biên giới phía Tây Nam và phía Bắc của Tổ quốc. Trong thời gian thực hiện hai kế hoạch Nhà nước 5 năm (1976 - 1985), Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, song cũng gặp phải không ít khó khăn, khiến đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng về kinh tế - xã hội.


- Để khắc phục sai lầm, khuyết điểm, đưa đất nước vượt qua khủng hoảng và thúc đẩy cách mạng xã hội chủ nghĩa tiến lên, Đảng và nhà nước Việt Nam đã tiến hành đổi mới đất nước. Đường lối đổi mới của Đảng được đề ra lần đầu tiên tại Đại hội VI (tháng 12/1986) và được điều chỉnh, bổ sung và phát triển qua nhiều kì Đại hội Đảng sau đó.

- Đến nay, trải qua hơn 30 năm tiến hành đổi mới, Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu đáng tự hào trên nhiều lĩnh vực. Thắng lợi đó đã từng bước đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng, bước đi của công cuộc đổi mới là phù hợp.

22 tháng 8 2023

Sau gần 4 thế kỉ (từ đầu thế kỉ XVI đến đầu thế kỉ XX), thực dân phương Tây đã hoàn thành quá trình xâm lược các nước Đông Nam Á hải đảo. Năm 1511, Bồ Đào Nha đánh chiếm Ma-lắc-ca (Ma-lai-xi-a), mở đầu quá trình xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây ở khu vực Đông Nam Á.

- Phi-lip-pin: từ thế kỉ XVI, Tây Ban Nha bắt đầu quá trình xâm lược và tổ chức bộ máy cai trị, đặt ra hệ thống hành chính mới với trung tâm là Ma-ni-la, cùng với đó là sự mở rộng của Thiên Chúa giáo và nền văn hoá, giáo dục chịu ảnh hưởng của Tây Ban Nha. Năm 1898, Mỹ thay thế Tây Ban Nha cai trị Phi-lip-pin. Quân Mỹ đã đàn áp đẫm máu các cuộc khởi nghĩa khiến hàng trăm nghìn người Phi-lip-pin thiệt mạng.

- In-đô-nê-xi-a: từ thế kỉ XVII, Hà Lan bắt đầu xâm lược, đến đầu thế kỉ XIX, phần lớn quần đảo In-đô-nê-xi-a nằm dưới ách đô hộ của thực dân Hà Lan. Chính phủ Hà Lan trực tiếp cai trị In-đô-nê-xi-a và tiến hành công cuộc khai thác thuộc địa quy mô lớn với trung tâm chính trị đặt tại Ba-ta-vi-a (nay là Gia-các-ta). Chính quyền thực dân đã thi hành chế độ thuế khóa và áp bức nặng nề đối với người dân thuộc địa.

- Ma-lai-xi-a: quá trình thực dân Anh xâm lược các tiểu quốc Hồi giáo như Pê-rắc, Kê-đa, Kê-lan-tan, Pê-nang,... đã diễn ra trong giai đoạn từ cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX, đưa tới sự thành lập Mã Lai thuộc Anh. Tại đây, chính quyền thực dân cai trị gián tiếp qua các công sứ. Hoạt động khai thác kinh tế thuộc địa được đẩy mạnh, đặc biệt là khai thác thiếc và đồn điền cao su. Để phục vụ cho quá trình khai thác thuộc địa, thực dân Anh đã đưa nhiều lao động từ Trung Quốc và Ấn Độ đến làm việc tại đây.

- Xin-ga-po: năm 1819, thực dân Anh kí hiệp ước với các thủ lĩnh Hồi giáo địa phương để thiết lập cảng Xin-ga-po. Đến năm 1824, toàn bộ Xin-ga-po trở thành thuộc địa của Anh. Nước Anh xác lập chế độ cai trị trực tiếp tại Xin-ga-po, biến nơi đây thành hải cảng giao thương giữa châu  u và châu Á. Trong vòng bốn thập kỉ, Xin-ga-po phát triển từ một làng chài có dân số hơn 1000 người trở thành trung tâm thương mại khu vực.