Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Tôi ngưỡng mộ tác giả Đinh Vũ Ngọc (ĐVN) từ khi nhà thơ Hương Thu (Phó Chủ nhiệm Câu lạc bộ UNESCO Thơ Đường Việt Nam) đọc bài thơ “MỜI” của ông trong buổi lễ Họp mặt các Chi nhánh CLB UNESCO Thơ Đường các tỉnh phía Nam lần đầu tiên năm 2006. Giọng thơ toát lên sự trẻ trung, khỏe khoắn. Đây là một trong những nét mới ít thấy ở thể thơ Luật Đường. Chưa biết ông trước khó có thể hình dung ra được sự “cổ lai hy” đó chính là ở một tác giả không chuyên nghiệp và đã bước vào lớp người “cổ lai hy”. Khi nhà thơ Thành Nhân, Chủ nhiệm chi nhánh CLB UNESCO Thơ Đường thành phố Cao Lãnh ghé chơi và đọc cho nghe bài thơ “CHIẾC ÁO DÀI VIỆT NAM”, tôi hoàn toàn bị chinh phục và đã khẩn khoản nhờ anh đọc cho tôi chép lại nguyên tác và đây cũng chỉ là bài thơ thứ hai của tác giả ĐVN mà tôi vinh hạnh được đọc. Thế là tôi cứ thế mà nghiền ngẫm, đọc đi đọc lại cả chục lần vẫn cứ say sưa.
Hãy lắng nghe tác giả mở đề:
Chiếc áo quê hương dáng thướt tha
Non sông gấm vóc mở đôi tà
Câu “phá đề” giới thiệu trực khởi về chiếc áo quê hương mang dáng vóc dịu dàng, xinh xắn rất phù hợp với phụ nữ Việt Nam. Câu “thừa đề” nâng cao lên, dẫn người đọc liên tưởng tới “non sông gấm vóc”. Cách mở đề thành công, mang tính truyền thống thường thấy, chưa sử dụng bất cứ nghệ thuật gì khác biệt. Điều tôi khâm phục chính là sự khéo léo của tác giả trong việc lồng ghép, lựa chọn từ ngữ để diễn tả một cách khái quát hết những ý chính mà bài thơ sẽ nói đến đó là: chiếc áo dài quê hương, phù hợp với vẻ đẹp hình thể kết hợp với nét thùy mị, duyên dáng, nết na, thanh thoát của chị em phụ nữ Việt Nam, không những chỉ mang phong thái cốt cách văn hóa của người Việt Nam mà còn nhắc nhở mỗi người về tình yêu đất nước.
Tà bên Đông Hải lung linh sóng
Tà phía Trường Sơn rực rỡ hoa
Cặp câu “thực” cũng là một sự thăng hoa hoa của cảm hứng nghệ thuật. Hai câu giống như hai vết kéo của người thợ may, đã cắt xong hai vạt áo; giống như hai nét sổ của người họa sĩ, vừa chấm phá nét phác thảo bản họa đồ đất nước; giống như những tiết tấu mở đầu hai dòng nhạc hứa hẹn cho những giai điệu du dương. Chỉ hai câu thôi cũng đã thấy biển bạc, rừng vàng, thấy cả dãy Trường Sơn hùng vĩ. Chỉ hai câu mà thấy hiện lên cả âm thanh, màu sắc. Ta tưởng như nghe tiếng sóng vỗ dạt dào. Ta tưởng như thấy trăm hoa đua nở. Tác giả không ngần ngại việc sử dụng “điệp tự”. Chữ “tà” níu từ câu “phá” được lặp lại hai lần trong cặp “thực” không hề phá vỡ bố cục mà càng làm cho tứ thơ liền lạc, dẫn người đọc phải đọc tiếp, chiêm ngưỡng tiếp. Đọc tới đây ta có cảm giác như đang trong chuyến hành hương tìm về cội nguồn, vừa lắng nghe chăm chú, vừa nhìn theo cánh tay chỉ, vừa khâm phục sự am tường của người hướng dẫn viên du lịch.
Vạt rộng Nam phần chao cánh gió
Vòng eo Trung bộ thắt lưng ngà
Một “vạt áo” nhỏ nhoi, sao như lột tả cả miền Nam thân thiết. Những cánh rừng miền Đông bát ngát; những cánh rừng ngập mặn bạt ngàn; những bãi biển phương Nam hiền hòa, ấm nắng; những dòng sông chở nặng phù sa; những đồng lúa bao la xanh ngắt đương thì con gái… đang vươn ra đón ngọn gió lành. Kỳ diệu hơn là “vòng eo” thắt đáy lưng ong, niềm tự hào của vẻ đẹp phụ nữ phương Đông truyền thống lại được tác giả nhuần nhị ẩn dụ vào dải đất miền Trung điệp trùng đồi núi và nổi tiếng với những eo vịnh biển đẹp tầm cỡ quốc tế, những khu du lịch sầm uất, mỗi năm níu gót hàng triệu bước chân du khách. Nghệ thuật đối ở cả hai cặp “thực” và “luận” đều rất nhuần nhuyễn. Tác giả hình như không chỉ là nhà thơ! Tác giả là họa sĩ, là kiến trúc sư? Tác giả là nhà khoa học viễn tưởng hay là một nghệ nhân điêu khắc? Không thể nào? Phải có sự phối hợp nghệ thuật hài hòa lắm giữa các bộ môn ấy mới có thể có được sự quan sát tinh tường dường ấy, sự miêu tả tinh tế dường ấy.
Nhịp tim Hà Nội nhô gò ngực
Hương lúa ba miền thơm thịt da.
Đành rằng rất thích, thích đến mê đắm bài thơ này, tôi vẫn mạnh dạn chân thành phát biểu quan điểm riêng của mình là: cặp câu “kết” chưa cân xứng với tầm cỡ của bài thơ. Tác giả đã có sự khám phá khi phát hiện và lựa Hà Nội làm điểm nhấn cho “vạt trước của chiếc áo”. Tuy nhiên, “trái tim Hà Nội” có lẽ vẫn đắt hơn là “nhịp tim”. Các cụm từ “nhô gò ngực” và “thơm thịt da” dẫu rất hình tượng nhưng lại quá cụ thể đã làm giảm tính tế nhị và đánh mất chất thơ. Cụm từ “Hương lúa ba miền” thật đắt đã góp phần làm mờ nhạt bớt hạn chế nhỏ vừa kể trên.
Trong những năm gần đây, giới yêu thích thơ luật Đường đã có sân chơi riêng, có điều kiện giao lưu rộng rãi hơn, đặc biệt là từ khi Câu lạc bộ UNESCO Thơ Đưởng Việt Nam ra đời và liên tục cho ra mắt các chi nhánh ở các tỉnh thành trong cả nước. Tuy vậy, vẫn còn không ít người cho rằng đó là hình thức cổ điển, ngoại lai, gò bó, kém sáng tạo thì việc sáng tác, phát hiện và giới thiệu những bài thơ hay ở thể thơ này càng trở nên là một trong những việc đáng làm. Có thể những suy nghĩ của tôi chưa thật sự xác đáng, song tự đáy lòng tôi vừa rất kính trọng vừa nể phục tác giả ĐVN. Qua bài thơ của mình ông đã cho thấy “bình xưa” chưa hẳn đã xưa. Đặc biệt sự tìm tòi, ý tưởng sáng tạo đã vượt lên hẳn những bài thơ luật Đường đương thời. Tính trí tuệ được toát ra từ mỗi từ, mỗi chữ, mỗi câu. Đúng là một tuyệt tác, một trong những bài thơ hay nhất về chiếc áo dài Việt Nam mà tôi đã từng đọc! Chúc tác giả ĐVN khỏe mạnh, sống lâu và say mê sáng tác để ngày càng có thêm nhiều tác phẩm hay gửi đến bạn yêu thơ cả nước.
Bạn tham khảo nhé! Chúc bạn học tốt!
Chiếc áo quê hương dáng thướt tha
Non sông gấm vóc mở đôi tà
Tà bên Đông Hải lung linh sóng
Tà phía Trường Sơn rực rỡ hoa
Vạt rộng Nam phần chao cánh gió
Vòng eo Trung bộ thắt lưng ngà
Nhịp tim Hà Nội nhô gò ngực
Hương lúa ba miền thơm thịt da.
Đinh Vũ Ngọc
Các đồng chí đã quen thuộc với hình ảnh của những nữ quân nhân với các bộ quân phục trông mạnh mẽ, gọn gàng thể hiện nét đẹp chính quy. Nhưng chúng tôi cũng muốn thể hiện mình thướt tha trong bộ áo dài truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Đến với hội thi hôm nay, các nữ quân nhân đơn vị rất phấn khởi và tự tin trong tà áo làm nên nét đẹp quê hương mình…
Hình ảnh người con gái Việt Nam dịu dàng tha thướt trong chiếc áo dài, với chiếc nón bài thơ e ấp trong tay, nghiêng nghiêng vành nón lá như cố giấu nụ cười ánh mắt là một hình ảnh duyên dáng, dễ thương và gợi cảm nhất của người con gái Việt Nam .
"Tà áo dài trong trắng nhẹ nhàng bay
Nón bài thơ e lệ nép trong tay"
BíchLan
Chiếc áo dài và chiếc nón là trang phục làm nổi bật và tăng thêm nét duyên dáng, e ấp, dịu dàng, trang nhã, đài các, kiêu sa ... của người phụ nữ Việt. Áo dài như dòng nước uốn lượn theo từng đường nét cơ thể mềm mại thướt tha của người phụ nữ . Hai vạt áo dài như đôi cánh và những bước chân chim của nàng làm dao động cả cảnh vật và không khí chung quanh. Thân hình thấp thoáng sau tà áo, khuôn mặt mờ tỏ sau vành nón, ẩn hiện như hư như thực
Tấm áo lụa mỏng thướt tha với nhiều màu sắc kín đáo trang nhã trở thành tâm điểm chú ý và là bông hoa sáng tôn lên vẻ yêu kiều thanh lịch cho người phụ nữ.
Đã hàng thế kỉ trôi qua, trang phục áo dài trắng trinh nguyên như là biểu tượng cho vẻ đẹp thanh khiết cao quý của tâm hồn người thiếu nữ đất Việt,
Văn hóa áo dài Việt Nam đã trải qua nhiều tiếp biến, giao lưu và có đời sống lịch sử qua nhiều triều đại. Mỗi triều đại, chiếc áo dài phản ánh một sự phát triển mới về cảm quan thẩm mỹ của một đất nước đa dân tộc. Mỗi dân tộc người trên đất Việt có thể sáng tạo mãi trên chiếc áo dài của mình mà không hề lẫn lộn với các tộc người khác. Sự sáng tạo thể hiện không chỉ ở các kiểu cách, các màu sắc mà còn ở các tiết họa, kết cấu trang trí trên áo dài. Mỗi bước tiến của văn hóa, văn minh, chiếc áo dài của mỗi tộc người càng gắn liền với bản sắc dân tộc - hiện đại hơn
Chiếc áo dài là thể hiện sự thống nhất giữa cái đúng, cái tốt và cái đẹp trong văn hóa Việt Nam. Chiếc áo dài Việt đã từng được trần bông để mặc trong lúc hàn giá, đã từng được may bằng lụa mỏng để mặc trong những ngày nóng nực. Mùa Xuân, mùa Thu, chiếc áo dài Việt có thể được may bằng những chất liệu phù hợp với thời tiết.
Đời sống thẩm mỹ phong phú của chiếc áo dài Việt biểu hiện tập trung ở sự thể hiện khác nhau của cái đẹp. Áo dài có thể biểu hiện trong cái đẹp kiêu sa, lộng lẫy, choáng ngợp, lại cũng có thể biểu hiện trong cái đẹp dịu dàng đoan trang thùy mị, trong cái đẹp giản dị, thường nhật. Áo dài Việt có thể đẹp khi mang lại sự ấm áp trong mùa Đông, mát mẻ trong mùa hè, dịu dàng trong mùa Xuân, kiều diễm trong mùa Thu. Những gam màu, những kiểu dáng vô tận được thể hiện thông qua chiếc áo dài Việt không chỉ tạo nguồn cảm xúc thẩm mỹ bất tận cho các nhà sáng tạo mà còn làm rung động hàng triệu trái tim về sự xuất hiện của nó trong những tình huống nhất định của cuộc sống.
Cảm xúc về chiếc áo dài Việt Nam cũng đã làm nên những ca khúc bất từ, đi vào thơ ca, phảng phất được cái riêng, cái giản dị của cuộc sống:
Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong
Hôm xưa em đến mắt như lòng
Nở bừng ánh sáng em đi đến
Gót ngọc dồn hương bước tỏa hồng
Do tính đa dạng kỳ diệu trong đời sống thẩm mỹ của xã hội, chiếc áo dài có thể là hình ảnh tạo dựng về cái đẹp của người phụ nữ khi sử dụng nó. Khoác chiếc áo dài lên mình, bước ra đường phố, đến nơi công sở người phụ nữ đã tự cảm thấy mình đẹp hơn và đối diện cũng như hòa chung vào với cái đẹp khác của xã hội. Người phụ nữ mặc chiếc áo dài để nâng cao giá trị của mình và hy vọng được
- Tự vấn bản thân: Trong những khoảnh khắc yên tĩnh, con người có cơ hội nhìn lại hành động, suy nghĩ, sai lầm và cả những ước mơ của mình. Sự thinh lặng giúp ta trung thực hơn với chính mình.
- Thấu hiểu thế giới xung quanh: Như cái cây của Lovelock, vạn vật trong tự nhiên vận hành trong sự thinh lặng tuyệt đối. Lắng nghe sự thinh lặng giúp ta cảm nhận được nhịp đập của sự sống, sự biến đổi tinh tế của thiên nhiên mà những âm thanh huyên náo thường che lấp.
- Tăng cường sự tập trung và sáng tạo: Khi không bị phân tán bởi tiếng ồn, trí óc con người hoạt động hiệu quả hơn, ý tưởng mới mẻ dễ dàng nảy sinh.
- Văn học hiện thực phê phán: Các nhà văn như Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Ngô Tất Tố (Tắt đèn) đã sử dụng ngòi bút sắc bén để phơi bày những thói hư tật xấu, sự bất công của xã hội, nhằm thức tỉnh cộng đồng. Cái đẹp trong tác phẩm của họ là cái đẹp của sự thật trần trụi, có sức lay động mạnh mẽ.
- Văn học cách mạng: Các nhà thơ như Tố Hữu (Việt Bắc) đã gắn thơ ca với sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Thơ của ông vừa giàu tính trữ tình, vừa mang tính chính trị sâu sắc, là tiếng nói chung của cộng đồng trong công cuộc giải phóng dân tộc.
Câu 1: Nghị luận xã hội (8 điểm)
Chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng
Bài làm:
Con người thường bị cuốn vào những ồn ào, náo nhiệt của cuộc sống, đến mức quên mất rằng sự thinh lặng cũng có thể nói lên rất nhiều điều quan trọng. Trong đoạn văn của James Lovelock, Trái Đất được ví như một cái cây lặng lẽ tồn tại và phát triển một cách âm thầm. Điều đó khiến ta nhận ra: có những thay đổi lớn lao, những câu chuyện sâu sắc không cần lời nói vẫn đang diễn ra ngay bên cạnh chúng ta, trong sự yên tĩnh và tĩnh lặng.
Lắng nghe sự thinh lặng chính là một cách để ta thấu hiểu, cảm nhận sâu sắc hơn về thế giới xung quanh. Sự thinh lặng không phải là khoảng trống, không phải là sự vắng mặt của âm thanh, mà là một trạng thái tích cực, chứa đựng sự sống động và những thông điệp mà tiếng ồn không thể mang lại. Khi ta biết dừng lại, lắng nghe thinh lặng, ta sẽ nhận ra những vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, sự biến đổi của cuộc sống và cả tiếng nói của chính tâm hồn mình.
Trong cuộc sống hiện đại, con người dễ bị cuốn vào guồng quay công việc, công nghệ, xã hội mà quên mất việc dành thời gian để yên tĩnh suy ngẫm, tĩnh tâm. Việc lắng nghe sự thinh lặng không chỉ giúp ta lấy lại cân bằng tinh thần mà còn giúp ta hiểu rõ hơn về bản thân và những giá trị cuộc sống. Sự thinh lặng là nguồn sức mạnh để ta đối diện với khó khăn, là không gian để nuôi dưỡng trí tuệ và lòng nhân ái.
Thực tế, nhiều bậc vĩ nhân, nhà sáng tạo nghệ thuật, nhà tư tưởng đều trân trọng khoảng lặng để sáng tạo và suy nghĩ sâu sắc. Thiên nhiên cũng dạy chúng ta bài học quý giá về sự kiên nhẫn và phát triển bền vững qua sự thinh lặng của cây cối, đất trời. Lắng nghe sự thinh lặng là học cách quan sát, trân trọng những điều nhỏ bé mà bền vững.
Như vậy, trong cuộc sống bộn bề ngày nay, mỗi người cần biết tôn trọng và dành thời gian lắng nghe sự thinh lặng. Đó là con đường dẫn ta đến sự thấu hiểu, cảm thông và yêu thương. Sự thinh lặng không phải là khoảng cách, mà là kết nối sâu sắc với thế giới và chính bản thân mình.
Kết luận:
Lắng nghe sự thinh lặng là nghệ thuật sống, là cách để ta khám phá những giá trị chân thật và trường tồn. Hãy học cách dừng lại, lắng nghe và cảm nhận, để cuộc sống thêm ý nghĩa và sâu sắc hơn.
Câu 2: Nghị luận văn học (12 điểm)
Bàn luận câu nói của A. Camus:
“Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”
Bài làm:
Albert Camus – nhà văn, triết gia lỗi lạc của thế kỷ XX đã đưa ra một quan điểm sâu sắc về người nghệ sĩ và vị trí của họ trong xã hội. Theo ông, người nghệ sĩ không tồn tại tách biệt mà luôn vận động trong mối quan hệ hai chiều: giữa cá nhân với cái đẹp và giữa cá nhân với cộng đồng.
Thứ nhất, cái đẹp không thể bỏ qua là mục tiêu, là lý tưởng mà người nghệ sĩ theo đuổi. Người nghệ sĩ luôn không ngừng tìm kiếm, sáng tạo ra cái đẹp qua tác phẩm của mình – đó có thể là vẻ đẹp thẩm mỹ, vẻ đẹp tư tưởng hay vẻ đẹp nhân văn. Cái đẹp ấy vượt lên trên sự tầm thường, cái đẹp là nguồn cảm hứng và là tiếng nói riêng của người nghệ sĩ, giúp họ khẳng định giá trị và bản sắc cá nhân.
Tuy nhiên, người nghệ sĩ cũng không thể tách rời cộng đồng – nơi họ sinh sống và làm việc. Cộng đồng là nơi cung cấp chất liệu sáng tạo, là đối tượng truyền tải thông điệp, là nguồn cảm hứng và cũng là nơi tác phẩm được đón nhận. Người nghệ sĩ có trách nhiệm phản ánh, phê phán xã hội, góp phần định hướng những giá trị tích cực, đồng thời thấu hiểu, đồng cảm với cuộc sống con người. Nghệ thuật vì thế luôn mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc.
Mối tương quan liên tục giữa cái đẹp và cộng đồng tạo nên một con đường mà người nghệ sĩ phải đi – đó là quãng đường tôi luyện bản thân không ngừng nghỉ. Họ vừa phải giữ vững lý tưởng sáng tạo, vừa phải lắng nghe, giao tiếp và đồng hành với con người và xã hội. Nếu chỉ theo đuổi cái đẹp mà quên cộng đồng, nghệ thuật sẽ trở nên hời hợt, xa rời thực tế; ngược lại, nếu chỉ chú trọng cộng đồng mà thiếu cái đẹp, nghệ thuật sẽ mất đi giá trị thẩm mỹ và chiều sâu nhân văn.
Thực tế trong văn học Việt Nam và thế giới đã có nhiều nghệ sĩ tiêu biểu sống và sáng tạo theo tinh thần này. Họ luôn hướng tới cái đẹp – cái đẹp của sự chân thực, nhân hậu và tự do; đồng thời luôn giữ mối liên hệ mật thiết với đời sống nhân dân, phản ánh những vấn đề xã hội, con người một cách sâu sắc và thuyết phục.
Như vậy, câu nói của A. Camus đã nhấn mạnh sự cân bằng cần thiết trong đời sống nghệ sĩ, giữa cá nhân và xã hội, giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng. Người nghệ sĩ không chỉ là người sáng tạo mà còn là người đồng hành, người truyền cảm hứng và người bảo vệ những giá trị cao đẹp của nhân loại.
Kết luận:
Người nghệ sĩ thực sự là người tôi luyện trong hành trình kết nối giữa chính mình và cộng đồng, giữa cái đẹp không thể bỏ qua và trách nhiệm đối với xã hội. Chỉ khi đó, nghệ thuật mới phát huy được sức mạnh và giá trị đích thực của nó.
Câu 4:
Đã có một thời gian xã hội chúng ta quan niệm một cách đơn giản rằng quê hương chỉ gắn với tình cảm công dân. Thế nhưng có thật như thế không khi quê hương còn là sự gắn bó thân thương, máu thịt; là hình ảnh đọng mãi trong tim mỗi con người khi xa quê. Bấy giờ, chúng ta mới thật sự nhận ra quê hương còn đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với cuộc sống tâm hồn con người. Vậy chúng ta hiểu quê hương có vai trò quan trọng như thế nào?
Quả đúng như vậy, quê hương là nơi ta sinh ra và lớn lên, nơi mà ta có nhiều kỉ niệm gắn liền với kí ức và tâm hồn của mỗi con người, là một thứ vô hình, vô dạng nhưng đã in sâu vào trong tâm trí chúng ta để khi đi xa ta vẫn nhớ về nó. Cho nên quê hương là một cái gì đó không thể thiếu trong cuộc sống tâm hồn mỗi con người.
Vậy quê hương có vai trò quan trọng như thế nào đối với cuộc sống tâm hồn mỗi con người? Ta phải hiểu rằng yêu quê hương trước hết phải yêu thương gắn bó với mảnh đất, con người quê hương, biết rung động trước những vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước. Quê hương còn bắt đầu từ những điều nhỏ nhặt hàng ngày, những tình cảm đôi lứa, sự gắn bó gia đình, làng quê, đó là tình cảm trong sáng nhất, cao cả và góp phần thanh lọc tâm hồn con người. Tôi sinh ra và lớn lên ở Đà Lạt, một thành phố của những bông hoa thơm ngào ngạt. Khi tôi học cấp 2, gia đình chuyển lên sống ở Tp. Hồ Chí Minh. Những hình ảnh về quê hương Đà Lạt sương mù vẫn khắc sâu vào tâm hồn của tôi.
Ngược lại với những điều đó, có những kẻ hô hào khẩu hiệu, nhưng thực tế lại sống giả tạo. Không thể yêu quê hương mà không xuất phát từ tình cảm, gắn bó với nơi chôn nhau cắt rốn, gia đình, làng xóm, yêu những con người gần gũi quanh ta với những kẻ không nhớ về quê hương, cuội nguồn thì đó là những kẻ vô tâm, vô cảm, không một chút quan tâm về sự thay đổi của chính nơi mình sinh ra.
Bản thân mỗi học sinh chúng ta phải luôn xác định quan niệm đúng đắn về vai trò của quê hương, đất nước, bằng cách trau dồi tu dưỡng những tình cảm nhân văn, phải biết rung động trước cái đẹp của cuộc sống quanh ta. Khi còn là học sinh ta phải biết yêu mến con người và mảnh đất mà ta đang sống, tiếp xúc hàng ngày, biến tình cảm ấy thành mục đích, hoài bão để sau này cống hiến cho đất nước.
#Walker

Câu 1: thể thơ tự do
Câu2: hai hình ảnh thể hiện sự khắc nghiệt cuar thiên nhiên miền Trung là
-“ trên nắng và dưới cát” diễn tả cái nóng và sộ khô cằn
-“gió bão là tốt tươi như cỏ” so sánh ngược để nhấn mạnh thiên tai xảy ra thường xuyên và dữ dội
Câu 1. Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do. Câu 2. Hai hình ảnh cho thấy sự khắc nghiệt của thiên nhiên miền Trung: “Trên nắng và dưới cát” → nắng nóng, khô hạn. “Sao lụt tai rồi vẫn dày dứt quanh năm” → bão lũ, thiên tai triền miên. Câu 3. Những dòng thơ giúp hiểu rằng: Miền Trung là mảnh đất nghèo khó, khắc nghiệt. Con người miền Trung chịu thương chịu khó, giàu tình nghĩa, gắn bó sâu nặng với quê hương. Câu 4. Việc vận dụng thành ngữ trong câu “Mảnh đất nghèo mỏng tới không kịp rớt” có tác dụng: Nhấn mạnh sự nghèo nàn, khô cằn của đất đai miền Trung. Tăng tính hình ảnh, biểu cảm, làm câu thơ gần gũi với đời sống. Câu 5. Qua đoạn trích, tác giả thể hiện tình cảm yêu thương, xót xa, gắn bó sâu nặng với miền Trung; vừa cảm thông trước những gian khó, vừa trân trọng vẻ đẹp tâm hồn con người nơi đây.
Câu 1. Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do. Câu 2. Hai hình ảnh cho thấy sự khắc nghiệt của thiên nhiên miền Trung: “Trên nắng và dưới cát” → nắng nóng, khô hạn. “Sao lụt tai rồi vẫn dày dứt quanh năm” → bão lũ, thiên tai triền miên. Câu 3. Những dòng thơ giúp hiểu rằng: Miền Trung là mảnh đất nghèo khó, khắc nghiệt. Con người miền Trung chịu thương chịu khó, giàu tình nghĩa, gắn bó sâu nặng với quê hương. Câu 4. Việc vận dụng thành ngữ trong câu “Mảnh đất nghèo mỏng tới không kịp rớt” có tác dụng: Nhấn mạnh sự nghèo nàn, khô cằn của đất đai miền Trung. Tăng tính hình ảnh, biểu cảm, làm câu thơ gần gũi với đời sống. Câu 5. Qua đoạn trích, tác giả thể hiện tình cảm yêu thương, xót xa, gắn bó sâu nặng với miền Trung; vừa cảm thông trước những gian khó, vừa trân trọng vẻ đẹp tâm hồn con người nơi đây.
Câu 1: Thể thơ: Tự do.
Câu 2: Hai hình ảnh cho thấy sự khắc nghiệt:
• "Nắng và cát": Gợi cái nóng cháy và sự khô cằn.
• "Gió bão": Thiên tai triền miên, dữ dội ("tốt tươi như cỏ").
(Hoặc bạn có thể chọn: "Lúa con gái mà gầy còm úa đỏ").
Câu 3: Hai dòng thơ giúp ta hiểu:
• Về mảnh đất: Miền Trung có địa hình đặc trưng là dải đất hẹp, nhỏ nhắn ("thắt đáy lưng ong").
• Về con người: Dù sống trong gian khó, thiếu thốn về vật chất nhưng tâm hồn người dân nơi đây lại vô cùng ngọt ngào, nghĩa tình và đong đầy yêu thương ("đọng mật").
Câu 4: Tác dụng của thành ngữ "Nghèo mồng tơi không kịp rớt":
• Về nghệ thuật: Giúp lời thơ trở nên gần gũi, giàu sức gợi hình và đậm chất dân gian.
• Về nội dung: Nhấn mạnh cái nghèo xơ xác, sự thiếu thốn đến cùng cực của mảnh đất này. Bên cạnh đó, nó còn làm nổi bật sức sống mãnh liệt của con người khi đối mặt với nghịch cảnh.
Câu 5: Nhận xét tình cảm tác giả:
Tình cảm của tác giả là sự tổng hòa giữa niềm thương cảm sâu sắc trước những khó khăn của quê hương và sự trân trọng, tự hào trước vẻ đẹp tâm hồn của con người miền Trung. Thông qua đó, ta thấy được một tấm lòng gắn bó máu thịt, luôn đau đáu nỗi niềm hướng về nguồn cội và mong mỏi sự sẻ chia.
Câu 1 Thể thơ tự do.
Câu 2
-"Lúa con gái mà gầy còm úa đỏ": Cho thấy sự thiếu hụt dinh dưỡng, khô hạn khiến cây cối khó phát triển.
-"Chỉ gió bão là tốt tươi như cỏ": Hình ảnh ẩn dụ cho việc thiên tai, gió bão xảy ra thường xuyên và dữ dội tại mảnh đất này.
Câu 3
-Về mảnh đất: Gợi hình dáng địa lý hẹp, dài và gian khó của miền Trung
-Về con người: Dù sống trong nghèo khó, khắc nghiệt nhưng con người nơi đây vẫn giữ được sự ngọt ngào, nồng hậu và giàu tình thương.
Câu 4 Tác dụng:
-Nhấn mạnh cái nghèo xơ xác, cùng cực của mảnh đất miền Trung một cách cụ thể, sinh động.
-Tạo nhịp điệu gợi hình, gợi cảm, giúp người đọc dễ hình dung và cảm thông sâu sắc với hoàn cảnh của người dân nơi đây.
-Làm cho lời thơ trở nên gần gũi, mang đậm hơi thở dân gian.
Câu 5
-Đó là niềm trân trọng, tự hào về vẻ đẹp tâm hồn, sự kiên cường và nghĩa tình của con người miền Trung.
-Đó là sự thấu hiểu và xót xa trước những gian truân, vất vả mà mảnh đất quê hương phải gánh chịu.
-Lời nhắn nhủ "Em gắng về/ Đừng để mẹ già mong..." thể hiện sự gắn bó thiết tha, luôn hướng về nguồn cội với tình yêu thương đau đáu.
=> Tình cảm của tác giả đối với miền Trung vô cùng sâu nặng, chân thành.
Câu 1.
Thể thơ tự do. Câu 2.
Học sinh có thể chọn hai trong các hình ảnh sau: "Trắng mặt người" (nắng cháy, cát bụi). "Gió bão là tốt tươi như cỏ" (thiên tai xảy ra thường xuyên). "Lúa con gái mà gầy còm úa đỏ" (sự khắc nghiệt khiến cây cối khó phát triển). Câu 3. Về mảnh đất: Gợi hình dáng địa lý đặc thù của miền Trung — hẹp và nhỏ, thắt lại ở giữa như dáng vẻ "thắt đáy lưng ong". Về con người: Khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của người dân nơi đây. Dù sống trong gian khó, thiếu thốn nhưng họ vẫn giữ được sự ngọt ngào, nồng hậu và tình nghĩa ("đọng mật"). Câu 4.
Tác dụng: Sử dụng sáng tạo thành ngữ "nghèo rớt mồng tơi" để nhấn mạnh cái nghèo cùng cực, sự thiếu thốn về vật chất của mảnh đất miền Trung. Đồng thời, cách diễn đạt "không kịp rớt" làm tăng sức biểu cảm, cho thấy sự khắc nghiệt của hoàn cảnh đã tôi luyện nên sức chịu đựng của con người. Câu 5.
Tác giả thể hiện lòng yêu quê hương tha thiết, sâu nặng. Đó là sự thấu hiểu, đồng cảm sâu sắc với những gian khổ, nhọc nhằn mà người dân miền Trung phải gánh chịu. Là niềm tự hào, trân trọng trước vẻ đẹp tâm hồn và bản lĩnh kiên cường của con người nơi "eo đất" này.
Câu 1:
Thể thơ tự do.
Câu 2:
Hai hình ảnh thể hiện sự khắc nghiệt của thiên nhiên miền Trung: “trên nắng và dưới cát”, “chỉ gió bão là tốt tươi như cỏ”.
Câu 3:
Những dòng thơ cho thấy miền Trung là mảnh đất nghèo, khắc nghiệt nhưng con người giàu tình cảm, thủy chung và nghĩa tình.
Câu 4:
Việc vận dụng thành ngữ “mồng tơi không kịp rớt” giúp nhấn mạnh sự nghèo khó của mảnh đất miền Trung và làm câu thơ gần gũi, giàu sức gợi.
Câu 5:
Đoạn thơ thể hiện tình cảm yêu thương, gắn bó và sự cảm thông sâu sắc của tác giả đối với mảnh đất và con người miền Trung.
Câu 1: Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do. Câu 2: Hai hình ảnh cho thấy sự khắc nghiệt của thiên nhiên miền Trung: “Trên nắng và dưới cát”. “Chỉ gió bão là tốt tươi như cỏ”. Câu 3: Những dòng thơ cho thấy miền Trung là dải đất hẹp, điều kiện tự nhiên khó khăn nhưng con người nơi đây rất giàu tình cảm, nghĩa tình và đậm đà tình người. Câu 4: Việc vận dụng thành ngữ “mồng tơi không kịp rớt” nhằm nhấn mạnh sự nghèo khó, đất đai khô cằn và cuộc sống vất vả của người dân miền Trung, đồng thời làm cho câu thơ sinh động và giàu sức gợi. Câu 5: Đoạn thơ thể hiện tình cảm yêu thương, trân trọng, đồng cảm và gắn bó sâu sắc của tác giả đối với mảnh đất và con người miền Trung.
Câu 1.
Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2.
Hai hình ảnh cho thấy sự khắc nghiệt của thiên nhiên miền Trung:
Câu 3.
Những dòng thơ cho thấy miền Trung tuy đất đai nghèo, khắc nghiệt nhưng con người giàu tình nghĩa, gắn bó và chân thành.
Câu 4.
Việc vận dụng thành ngữ “mỏng tới không kịp rớt” giúp nhấn mạnh sự nghèo khó của mảnh đất miền Trung, đồng thời làm câu thơ gợi hình, sinh động và giàu sức biểu cảm.
Câu 5.
Đoạn thơ thể hiện tình cảm yêu thương, gắn bó và xót xa của tác giả đối với mảnh đất và con người miền Trung.
Câu 1. - Thể thơ: thơ tự do. Câu 2. - Hai hình ảnh thể hiện sự khắc nghiệt của thiên nhiên miền Trung: “Trên nắng và dưới cát” “Chỉ gió bão là tốt tươi như cỏ” - Gợi cái nắng gắt, cát nóng và bão tố khắc nghiệt. Câu 3. - Những dòng thơ cho thấy: + Mảnh đất miền Trung nhỏ hẹp, khắc nghiệt (“eo đất thắt đáy lưng ong”) Nhưng con người lại đậm nghĩa tình, thủy chung, giàu tình cảm (“cho tình người đọng mật”). Câu 4. Thành ngữ “không kịp rớt” có tác dụng: - Nhấn mạnh sự khó khăn, thiếu thốn, nghèo đói - Làm câu thơ sinh động, gần gũi, giàu tính biểu cảm.
Câu 5
Tác giả thể hiện tình cảm yêu thương và gắn bó sâu sắc với miền Trung. Qua những hình ảnh thiên nhiên khắc nghiệt, tác giả bộc lộ niềm xót xa, cảm thông với cuộc sống khó khăn của con người nơi đây. Đồng thời, tác giả cũng trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp nghĩa tình, đậm đà của con người miền Trung.
Câu 1
Thể thơ: Tự do
Câu 2
2 hình ảnh cho thấy sự khắc nghiệt của miền Trung:
+ "Lúa con gái mà gầy còm úa đỏ"
+ "Chỉ gió bão là tốt tươi như cỏ"
Câu 3
3 dòng thơ trên giúp em hiểu được:
“Miền Trung
Eo đất này thắt đáy lưng ong
Cho tình người đọng mật”
Đã miêu tả đặc điểm địa lý thực tế của miền Trung là dải đất hẹp nhất bản đồ Việt Nam, trông giống như cái "thắt lưng ong" của cơ thể Tổ quốc. Hình ảnh "thắt đáy lưng ong" vốn là nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam chăm chỉ, đảm đang. Qua đó, tác giả ngợi ca vẻ đẹp của con người miền Trung dù sống trên mảnh đất gian khó, khắc nghiệt nhưng vẫn giữ được sự tinh tế, bền bỉ, chịu thương chịu khó và tràn đầy tình nghĩa.
Câu 4
Tác giả thể hiện sự sáng tạo qua việc sử dụng thành ngữ dân gian "Nghèo rớt mồng tơi" nhằm nhấn mạnh cái nghèo, cái khó đến mức cùng cực. Cách nói "không kịp rớt" gợi lên sự khắc nghiệt của thời tiết khiến sự sống trở nên mong manh. Qua đó, thể hiện niềm thương cảm, xót xa sâu sắc của nhà thơ trước cảnh đời cơ cực của người dân quê hương.
Câu 5
Tình cảm của nhà thơ đối với miền Trung trong đoạn trích là sự tổng hòa của nhiều cung bậc cảm xúc. Đó là sự thấu hiểu và xót xa đến nhói lòng trước những gian truân, nghèo khó mà mảnh đất này phải gánh chịu, cũng là niềm trân trọng, tự hào về sức sống bền bỉ và tình người gắn kết của người dân miền Trung. Tình cảm ấy xuất phát từ một người con luôn hướng về cội nguồn với sự gắn bó máu thịt và biết ơn.
Câu 1
- Thể thơ : Tự do
Câu 2
- Hai hình ảnh trong đoạn trích cho thấy sự khắc nghiệt của thiên nhiên miền Trung:
+ “ Mảnh đất nghèo mùng tơi không kịp rớt ”
+ “ Chỉ gió bão là tốt tươi như cỏ ”
Câu 3
Dòng thơ “ Miền Trung/eo đất này thắt đáy lưng ong/Cho tình người đọng mật ”. Đã giúp ta hiểu được về mảnh đất Miền Trung qua hình ảnh ấn dụ “ thắt đáy lưng ong ” vừa gợi tả hình dáng địa lý hẹp, dài, nhỏ nhắn của dải đất miền Trung, vừa gợi lên sự vất vả gian lao của vùng đất này. Bên cạnh đó, hình ảnh con người miền Trung hiện lên giữa cái nghèo khổ khắc nghiệt của thiên nhiên. Tình người nơi đây vẫn ngọt ngào đậm đà và sâu nặng, con người miền Trung chịu thương chịu khó, giàu tình nghĩa và luôn bền bỉ trước thử thách
Câu 4
- Thành ngữ: “ Mảnh đất nghèo mùng tơi không kịp rớt ”
- Tác dụng :
+ Việc vận dụng sáng tạo thành ngữ “ Nghèo rớt mồng tơi ” nhằm nhấn mạnh và làm nổi bật cái nghèo tận cùng, sự thiếu thốn vật chất tột độ của mảnh đất miền Trung do thiên tai khắc nghiệt gây ra.
+ Thành ngữ còn giúp câu thơ trở nên gần gũi, sinh động, giàu hình ảnh và tăng sức gợi cảm, gợi sự xót thương cho người đọc.
Câu 5
Qua đoạn trích ngắn của bài thơ ” Miền Trung “ tác giả Hoàng Trần Cương - Ông đã bày tỏ sự trân trọng và tự hào vượt lên trên cái nghèo để ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn tình người nồng hậu của người dân quê hương, nhà thơ còn thể hiện sự thấu hiểu và chia sẻ sâu sắc về những gian khổ nhọc nhằn mà người dân miền Trung phải gánh chịu qua những hình ảnh miêu tả trần trụi, đau đớn. Sau cùng toàn bộ đoạn trích đã chọn con chữ để diễn tả 1 tình yêu đau đáu, máu thịt, đó là sự gắn bó sâu sắc với mảnh đất nơi mình sinh ra và lớn lên.
Câu 1: Thể thơ: tự do
Câu 2: Hai hình ảnh cho thấy sự khắc nghiệt của miền Trung:
- Mảnh đất nghèo mồng tơi không kịp rớt
- Gió bão là tối tươi như cỏ
Câu 3: Những dòng thơ giúp em hiểu thêm về con người, mảnh đất miền Trung:
- Mảnh đất miền Trung địa hình hẹp ngang, khô cằn thường phải gánh chịu nhiều thiên tai
- Con người miền Trung chân thành, đôn hậu, chịu thương chịu khó, giàu lòng nhân ái
Câu 4: Thành ngữ được vận dụng trong dòng thơ là: "nghèo rớt mồng tơi"
- Tác dụng: làm nổi bật sự nghèo khó, thiếu thốn, cùng cuộc sống vật vả, gian khổ của người miền Trung. Qua đó giúp tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt trong câu thơ, giúp người đọc dễ hình dung và thêm đồng cảm với những vất vả, khó khăn của mảnh đất và con người nơi đây. Đồng thời tạo sự gần gũi qua việc sử dụng chất liệu dân gian giúp lời thơ trở nên tự nhiên, đậm đà phong vị quê hương.
Câu 5: Tình cảm của tác giả đối với miền Trung:
Tác giả dành cho miền Trung thứ tình cảm sâu nặng. Ông thấu hiểu và mong muốn sẻ chia những gian khó, nhọc nhằn mà quê hương phải gánh chịu. Ông luôn tự hào và trân trọng vẻ đẹp tâm hồn của con người nơi đây, dù trải qua bao vất vả, khó khăn vẫn một tấm lòng thuần hậu, chất phác. Sự yêu thương tha thiết của tác giả dành cho con người, mảnh đất miền Trung chính là sự trân trọng với cội nguồn, quê hương, là tình yêu tuy mộc mạc mà mãnh liệt khôn nguôi.
thể thơ tự do.
Câu 2"Lúa con gái mà gầy còm úa đỏ"
"Chỉ gió bão là tốt tươi như cỏ"
Câu 3-Về mảnh đất: Hình ảnh "thắt đáy lưng ong" gợi tả hình dáng địa lý hẹp, dài và nhỏ nhắn của miền Trung trên bản đồ Việt Nam. Đó là vùng đất gian khó, chịu nhiều áp lực của thiên nhiên
-Về con người: Dù sống trong gian khó, thiếu thốn, nhưng tâm hồn con người nơi đây lại vô cùng ngọt ngào, đậm đà nghĩa tình. Sự khắc nghiệt của thiên nhiên càng làm ngời sáng vẻ đẹp bền bỉ và lòng nhân hậu của con người.
Câu 4-Tác dụng:
+Nhấn mạnh cái nghèo xơ xác, cùng cực của mảnh đất miền Trung
+Tạo cách diễn đạt sinh động, giàu hình ảnh và mang đậm phong vị dân gian.
+Gợi sự đồng cảm, xót xa của tác giả trước thực tế đời sống khó khăn của người dân nơi đây.
Câu 5-Sự thấu hiểu và xót xa: Tác giả nhìn thấu những gian truân, vất vả mà mảnh đất và con người miền Trung phải gánh chịu qua những hình ảnh chân thực.
-Lòng tự hào và trân trọng: Ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn, tình người ngọt ngào ẩn sau vẻ ngoài lam lũ.
-Tình yêu quê hương da diết: Lời nhắn nhủ "Em gắng về / Đừng để mẹ già mong" cho thấy sự gắn bó máu thịt, nỗi nhớ thương luôn đau đáu hướng về nguồn cội.
1. Đoạn trích trên được viết theo thể thơ tự do
2. Hai hình ảnh cho thấy sự khắc nghiệt của thiên nhiên miền Trung:
- "Trên nắng và dưới cát"
- "Chỉ gió bão là tốt tươi như cỏ"
3. Những dòng thơ: "Miền Trung/Eo đất này thắt đáy lưng ong/Cho tình người đọng mật" đã cho ta biết rằng Miến Trung là nơi có địa hình hẹp, dài và gian khó : "thắt đáy lưng ong". Những con người ở đó dù sống trong hoàn cảnh khắc nghiệt, thiếu thốn nhưng con người nơi đây vẫn luôn nồng hậu, giàu tình cảm và chắt chỉ những giá trị tốt đẹp: "đọng mật.". 4. Sử dụng sáng tạo thành ngữ "Nghèo rớt mồng tơi". Tác dụng: Nhấn mạnh cái nghèo xơ xác, cùng cực của mảnh đất miền Trung do thiên nhiên khắc nghiệt gây ra, đồng thời gợi sự xót xa, đồng cảm cho người đọc
5. Tác giả đã thể hiện một tình yêu thương sâu nặng, gắn bó máu thịt với quê hương. Đó là sự thấu hiểu, sẻ chia đau xót trước những gian truân của mảnh đất này, đồng thời là niềm tự hào về vẻ đẹp tâm hồn kiên cường, tình nghĩa của con người miền Trung Con người mảnh đất miền Trung hiện lên vừa gian khó, vừa đầy ắp nghĩa tình qua ngòi bút của Hoàng Trần Cương.
Câu 1.
- Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2.
- Hai hình ảnh cho thấy sự khắc nghiệt của thiên nhiên miền Trung:
+ “Trên nắng và dưới cát”
+ “Chỉ gió bão là tốt tươi như cỏ”
Câu 3.
- Những dòng thơ giúp ta hiểu rằng miền Trung là mảnh đất nghèo khó, khắc nghiệt, thường phải gánh chịu nhiều thiên tai, lũ lụt, gây khó khăn cho cuộc sống của người dân. Tuy vậy, con người nơi đây vẫn giàu tình nghĩa, chân chất, chịu thương chịu khó và luôn gắn bó sâu nặng với quê hương.
Câu 4
- Việc vận dụng thành ngữ: “Mảnh đất nghèo mồng tơi không kịp rớt” có tác dụng:
+ Nhấn mạnh sự nghèo khó, thiếu thốn đến cùng cực của mảnh đất miền Trung. Qua đó, góp phần bộc lộ niềm xót xa, thương cảm của tác giả đối với miền Trung.
+ Cách diễn đạt này làm tăng tính hình ảnh và sức biểu cảm cho câu thơ, giúp người đọc cảm nhận rõ hơn sự khắc nghiệt của thiên nhiên và cuộc sống nơi đây.
Câu 5.
Tác giả thể hiện tình cảm yêu thương, gắn bó sâu nặng với miền Trung. Đó là sự thấu hiểu, xót xa trước những khó khăn, khắc nghiệt của thiên nhiên và cuộc sống nơi đây. Đồng thời, tác giả còn trân trọng vẻ đẹp của con người miền Trung giàu tình nghĩa, thủy chung và kiên cường. Tình cảm ấy còn là nỗi nhớ, sự mong ngóng được trở về quê hương. Qua đó, thể hiện tình yêu quê hương tha thiết và chân thành của tác giả.