K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

10 tháng 2 2025

Vai trò

​-Cung cấp hàng hóa và dịch vụ thiết yếu: DNNN đã đóng góp quan trọng vào việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ cơ bản cho xã hội, đặc biệt trong các lĩnh vực như điện, nước, giao thông vận tải và viễn thông.

-Thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn: DNNN thường đóng vai trò chủ lực trong các ngành công nghiệp chiến lược như dầu khí, điện lực, và ngân hàng. 

-Đảm bảo an ninh kinh tế: DNNN góp phần quan trọng vào việc bảo đảm an ninh kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt. 

-Tạo công ăn việc làm: DNNN là một trong những nguồn tạo ra việc làm lớn nhất trong nền kinh tế, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp và tăng thu nhập cho người lao động.

-Thực hiện các chính sách xã hội: DNNN thường tham gia vào việc thực hiện các chương trình an sinh xã hội, như hỗ trợ người nghèo, phát triển hạ tầng.

Cần điều chỉnh:

-Tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình: Cần có những quy định rõ ràng về quản lý và giám sát hoạt động của DNNN.

-Thúc đẩy cổ phần hóa và chuyển đổi mô hình quản lý: Cần tiếp tục đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa DNNN để nâng cao hiệu quả hoạt động. 

-Tăng cường năng lực cạnh tranh: DNNN cần cải thiện năng lực cạnh tranh thông qua việc áp dụng công nghệ mới, cải tiến quy trình sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm.

-Định hướng phát triển bền vững: Cần có các chính sách khuyến khích DNNN thực hiện các hoạt động sản xuất và kinh doanh bền vững, chú trọng đến bảo vệ môi trường 

-Hợp tác và liên kết với khu vực tư nhân: Khuyến khích DNNN hợp tác với các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt trong các dự án lớn và các lĩnh vực cần đầu tư mạnh mẽ. 

-Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: DNNN cần chú trọng vào việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng cho người lao động

10 tháng 2 2025

Uầy ghê v cô


10 tháng 2 2025

Phân tích dài hay ngắn hả bản


30 tháng 8 2025

* Vai trò của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong quá trình Đổi mới kinh tế từ năm 1986 đến nay

- Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

+ Trong giai đoạn đầu của Đổi mới, Doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, đặc biệt trong các lĩnh vực quan trọng như năng lượng, tài chính, giao thông, viễn thông và hạ tầng.

+ Nhiều tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước lớn như Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT)… đã góp phần tạo nền tảng cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

- Ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội

+ Doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò điều tiết thị trường, đặc biệt trong các lĩnh vực chiến lược như xăng dầu, điện, than, thép, lương thực…, giúp ổn định giá cả, tránh tình trạng độc quyền tư nhân và bảo vệ người tiêu dùng.

+ Ngoài ra, Doanh nghiệp nhà nước có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ xã hội như tạo việc làm, duy trì các ngành sản xuất thiết yếu dù lợi nhuận không cao.

- Đóng góp vào ngân sách nhà nước

+ Nhiều Doanh nghiệp nhà nước có tỷ lệ đóng góp lớn vào ngân sách nhà nước, ví dụ như Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex), Viettel…

+ Giai đoạn 2011-2020, các Doanh nghiệp nhà nước đóng góp khoảng 29% GDP cả nước, cho thấy vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn thu cho Chính phủ.

- Chuyển đổi và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

+ Kể từ những năm 2000, Việt Nam đã tiến hành cổ phần hóa hàng loạt Doanh nghiệp nhà nước để nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng cường cạnh tranh.

+ Nhiều Doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa đã hoạt động hiệu quả hơn, như Vietcombank, Vinamilk, Sabeco…, nhưng vẫn có nhiều doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, gây thất thoát tài sản nhà nước.

Đề xuất chính sách:

+ Cần tiếp tục cổ phần hóa và giảm sự phụ thuộc vào Doanh nghiệp nhà nước, chuyển dịch vai trò của nhà nước từ quản lý trực tiếp sang giám sát và điều tiết.

+ Áp dụng cơ chế quản trị hiện đại và minh bạch hơn cho các Doanh nghiệp nhà nước để đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh và hiệu quả kinh doanh.

+ Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, Doanh nghiệp nhà nước cần tái cấu trúc để nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế, đặc biệt là trong các ngành then chốt mà Việt Nam có thế mạnh.

15 tháng 2

Vai trò của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong quá trình Đổi mới (từ 1986 đến nay):


  • DNNN giữ vai trò chủ đạo trong một số ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế (năng lượng, viễn thông, hạ tầng…).
  • Là công cụ để Nhà nước điều tiết kinh tế vĩ mô, góp phần ổn định thị trường và bảo đảm an sinh xã hội.
  • Đóng góp vào ngân sách nhà nước, tạo việc làm và thúc đẩy phát triển các vùng kinh tế.
  • Tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng và các dự án lớn, tạo nền tảng cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.



Tuy nhiên, một số DNNN còn hiệu quả chưa cao, quản lý chưa thật sự linh hoạt, nên cần tiếp tục đổi mới.




Việt Nam nên điều chỉnh chính sách phát triển trong bối cảnh hội nhập hiện nay:


  • Tiếp tục cải cách và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN, đẩy mạnh cổ phần hóa phù hợp.
  • Phát triển kinh tế thị trường hiện đại, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.
  • Đẩy mạnh khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.
  • Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để tăng sức cạnh tranh quốc tế.
  • Mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tận dụng cơ hội từ hội nhập toàn cầu.



1. Vai trò của Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) từ năm 1986 đến nay ​Kể từ khi công cuộc Đổi mới (1986) bắt đầu, vai trò của DNNN đã có những chuyển biến quan trọng, từ việc nắm giữ toàn bộ nền kinh tế sang đóng vai trò chủ đạo: ​Công cụ điều tiết vĩ mô: DNNN là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và ứng phó với các biến động lớn (như khủng hoảng tài chính hay đại dịch). ​Dẫn dắt các ngành then chốt: Tập trung vào các lĩnh vực hạ tầng thiết yếu, an ninh quốc phòng, và các ngành mà tư nhân chưa muốn hoặc chưa thể làm (năng lượng, viễn thông, khai khoáng). ​Đóng góp ngân sách: Dù số lượng doanh nghiệp giảm mạnh qua quá trình cổ phần hóa, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước vẫn đóng góp tỷ trọng lớn vào GDP và ngân sách quốc gia. ​Thực hiện chính sách xã hội: Gánh vác các nhiệm vụ công ích, cung cấp dịch vụ tại các vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo nơi không có lợi nhuận cao. ​2. Điều chỉnh chính sách trong bối cảnh hội nhập hiện nay ​Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế gay gắt (EVFTA, CPTPP...), Việt Nam cần điều chỉnh chính sách theo các hướng sau: ​Thay đổi tư duy quản lý ​Tách biệt quản lý và sở hữu: Phân định rõ chức năng quản lý nhà nước và chức năng chủ sở hữu vốn. Đẩy mạnh vai trò của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp (CMSC). ​Cạnh tranh bình đẳng: Xóa bỏ cơ chế "xin - cho" và các ưu đãi đặc quyền, tạo môi trường kinh doanh công bằng với doanh nghiệp tư nhân và FDI theo quy luật thị trường. ​Đẩy mạnh cấu trúc và hiệu quả ​Cổ phần hóa thực chất: Không chỉ bán vốn lấy tiền mà cần thu hút quản trị hiện đại, công nghệ mới từ các nhà đầu tư chiến lược. ​Tập trung vào "lõi": Thoái vốn khỏi các ngành kinh doanh không thiết yếu, dồn lực vào các lĩnh vực công nghệ cao, hạ tầng số và các ngành có khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị toàn cầu. ​Quản trị và Minh bạch ​Áp dụng tiêu chuẩn quốc tế: Áp dụng các chuẩn mực quản trị của OECD. Công khai, minh bạch thông tin tài chính để hạn chế thất thoát, tham nhũng. ​Cơ chế tuyển dụng: Thuê CEO và quản lý cấp cao theo năng lực thị trường thay vì chỉ bổ nhiệm cán bộ theo quy trình hành chính.

17 tháng 2

Vai trò ​-Cung cấp hàng hóa và dịch vụ thiết yếu: DNNN đã đóng góp quan trọng vào việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ cơ bản cho xã hội, đặc biệt trong các lĩnh vực như điện, nước, giao thông vận tải và viễn thông. -Thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn: DNNN thường đóng vai trò chủ lực trong các ngành công nghiệp chiến lược như dầu khí, điện lực, và ngân hàng. -Đảm bảo an ninh kinh tế: DNNN góp phần quan trọng vào việc bảo đảm an ninh kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt. -Tạo công ăn việc làm: DNNN là một trong những nguồn tạo ra việc làm lớn nhất trong nền kinh tế, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp và tăng thu nhập cho người lao động. -Thực hiện các chính sách xã hội: DNNN thường tham gia vào việc thực hiện các chương trình an sinh xã hội, như hỗ trợ người nghèo, phát triển hạ tầng. Cần điều chỉnh: -Tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình: Cần có những quy định rõ ràng về quản lý và giám sát hoạt động của DNNN. -Thúc đẩy cổ phần hóa và chuyển đổi mô hình quản lý: Cần tiếp tục đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa DNNN để nâng cao hiệu quả hoạt động. -Tăng cường năng lực cạnh tranh: DNNN cần cải thiện năng lực cạnh tranh thông qua việc áp dụng công nghệ mới, cải tiến quy trình sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm. -Định hướng phát triển bền vững: Cần có các chính sách khuyến khích DNNN thực hiện các hoạt động sản xuất và kinh doanh bền vững, chú trọng đến bảo vệ môi trường -Hợp tác và liên kết với khu vực tư nhân: Khuyến khích DNNN hợp tác với các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt trong các dự án lớn và các lĩnh vực cần đầu tư mạnh mẽ. -Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: DNNN cần chú trọng vào việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng cho người lao động

Phân tích vai trò của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong Đổi mới (từ 1986 đến nay): - DNNN giữ vai trò lực lượng kinh tế chủ đạo, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. -Làm nòng cốt trong những ngành, lĩnh vực then chốt như năng lượng, tài chính – ngân hàng, viễn thông, giao thông, quốc phòng – an ninh. - Góp phần xây dựng kết cấu hạ tầng, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. - Tạo nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước, giữ vai trò dẫn dắt, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển. - Tuy nhiên, một số DNNN còn hiệu quả chưa cao, quản trị chậm đổi mới, sức cạnh tranh hạn chế, còn xảy ra thất thoát, lãng phí. Việt Nam cần điều chỉnh chính sách phát triển trong bối cảnh hội nhập hiện nay: - Tiếp tục sắp xếp, cổ phần hóa, nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN; tập trung vào lĩnh vực then chốt. - Đổi mới quản trị theo cơ chế thị trường, minh bạch tài chính, nâng cao trách nhiệm giải trình. - Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. - Đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế. - Tăng cường hội nhập kinh tế, thu hút đầu tư, phát triển kinh tế bền vững gắn với bảo đảm an sinh xã hội và quốc phòng – an ninh.

18 tháng 2

+Vai trò:

​-Cung cấp hàng hóa và dịch vụ thiết yếu: DNNN đã đóng góp quan trọng vào việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ cơ bản cho xã hội, đặc biệt trong các lĩnh vực như điện, nước, giao thông vận tải và viễn thông.

-Thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn: DNNN thường đóng vai trò chủ lực trong các ngành công nghiệp chiến lược như dầu khí, điện lực, và ngân hàng. 

-Đảm bảo an ninh kinh tế: DNNN góp phần quan trọng vào việc bảo đảm an ninh kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt. 

-Tạo công ăn việc làm: DNNN là một trong những nguồn tạo ra việc làm lớn nhất trong nền kinh tế, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp và tăng thu nhập cho người lao động.

-Thực hiện các chính sách xã hội: DNNN thường tham gia vào việc thực hiện các chương trình an sinh xã hội, như hỗ trợ người nghèo, phát triển hạ tầng.

+Cần điều chỉnh:

-Tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình: Cần có những quy định rõ ràng về quản lý và giám sát hoạt động của DNNN.

-Thúc đẩy cổ phần hóa và chuyển đổi mô hình quản lý: Cần tiếp tục đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa DNNN để nâng cao hiệu quả hoạt động. 

-Tăng cường năng lực cạnh tranh: DNNN cần cải thiện năng lực cạnh tranh thông qua việc áp dụng công nghệ mới, cải tiến quy trình sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm.

-Định hướng phát triển bền vững: Cần có các chính sách khuyến khích DNNN thực hiện các hoạt động sản xuất và kinh doanh bền vững, chú trọng đến bảo vệ môi trường 

-Hợp tác và liên kết với khu vực tư nhân: Khuyến khích DNNN hợp tác với các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt trong các dự án lớn và các lĩnh vực cần đầu tư mạnh mẽ. 

-Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: DNNN cần chú trọng vào việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng cho người lao động.


19 tháng 2

Vai trò của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong quá trình Đổi mới kinh tế từ năm 1986 đến nay đã chuyển từ vai trò chủ đạo tuyệt đối sang vai trò dẫn dắt, tạo động lực và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, đồng thời Việt Nam cần điều chỉnh chính sách theo hướng nâng cao hiệu quả quản trị, cạnh tranh bình đẳng và đẩy mạnh chuyển đổi số. Giai đoạn đầu Đổi mới: DNNN đóng vai trò chủ đạo, là công cụ để Đảng và Nhà nước thực hiện các chủ trương, chính sách kinh tế. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động thấp, gây ra nhiều lãng phí nguồn lực. Giai đoạn sau: Vai trò của DNNN được định vị lại, hướng tới vai trò dẫn dắt, tạo nền tảng cho các ngành công nghiệp cốt lõi, bảo đảm an ninh kinh tế và an sinh xã hội, đặc biệt ở các lĩnh vực mà khu vực tư nhân không muốn hoặc chưa đủ điều kiện tham gia. Hiện nay: DNNN hoạt động theo cơ chế thị trường, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí đánh giá chủ yếu.

Việt Nam cần điều chỉnh chính sách phát triển DNNN theo các hướng sau: Nâng cao năng lực quản trị: Áp dụng các phương pháp quản trị hiện đại, nâng cao tính tự chủ, công khai, minh bạch trong hoạt động và tài chính. Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng: Đảm bảo quyền tự chủ của DNNN trong cơ chế thị trường, áp đặt kỷ luật thị trường và nguyên tắc tự vay, tự trả, tự chịu trách nhiệm. Đẩy mạnh chuyển đổi số: DNNN có trách nhiệm đi đầu trong thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh. Tập trung vào lĩnh vực trọng điểm: Lựa chọn các ngành, lĩnh vực thực sự là "mạch máu" của nền kinh tế, có vai trò bảo đảm an ninh quốc gia và có khả năng dẫn dắt chuỗi công nghiệp. Xử lý tồn đọng và yếu kém: Tập trung xử lý các dự án, công trình chậm tiến độ, đầu tư kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh chung.

Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong quá trình Đổi mới


Từ năm 1986, Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo, trong đó DNNN giữ vai trò quan trọng:

– Giữ vị trí chủ đạo trong nền kinh tế: DNNN hoạt động ở các lĩnh vực then chốt như năng lượng, viễn thông, tài chính, giao thông, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an ninh kinh tế quốc gia.

– Dẫn dắt và điều tiết thị trường: Trong những giai đoạn khó khăn (khủng hoảng tài chính, dịch bệnh…), DNNN giúp ổn định giá cả, cung ứng hàng hóa, dịch vụ thiết yếu, góp phần kiềm chế lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng.

– Tạo nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước: DNNN đóng góp đáng kể vào ngân sách, đầu tư phát triển hạ tầng, thúc đẩy công nghiệp hóa – hiện đại hóa.

– Thực hiện các nhiệm vụ chính trị – xã hội: DNNN tham gia các chương trình phát triển vùng sâu, vùng xa, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội.

– Mở đường cho hội nhập kinh tế quốc tế: Nhiều tập đoàn, tổng công ty nhà nước tham gia thị trường quốc tế, góp phần nâng cao vị thế Việt Nam.

Tuy nhiên, DNNN vẫn còn hạn chế như: hiệu quả chưa cao, quản trị còn yếu, cạnh tranh chưa mạnh, còn tình trạng thua lỗ, lãng phí, chưa theo kịp yêu cầu hội nhập


Việt Nam cần điều chỉnh chính sách phát triển trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh quốc tế

– Tiếp tục đổi mới, cơ cấu lại DNNN: Đẩy mạnh cổ phần hóa, nâng cao hiệu quả và minh bạch trong quản trị.

– Tập trung vào lĩnh vực then chốt: DNNN chỉ giữ vai trò chủ đạo ở ngành quan trọng (quốc phòng, năng lượng, hạ tầng…), giảm dần ở lĩnh vực không cần thiết.

– Nâng cao năng lực cạnh tranh: Ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

– Tăng cường minh bạch, phòng chống tham nhũng, lãng phí.

– Phát triển đồng bộ các thành phần kinh tế: Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa DNNN, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

– Chủ động hội nhập sâu rộng: Tham gia các hiệp định thương mại, nâng cao tiêu chuẩn quản trị theo thông lệ quốc tế.

– Khuyến khích đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế xanh, bền vững.



19 tháng 2


1. Vai trò của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong quá trình Đổi mới (từ 1986 đến nay)



Các DNNN giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam:


  • Giữ vai trò chủ đạo trong những ngành, lĩnh vực then chốt: năng lượng, giao thông, tài chính, viễn thông, quốc phòng – an ninh.
  • Ổn định kinh tế vĩ mô, điều tiết thị trường khi có khủng hoảng hoặc biến động lớn.
  • Làm lực lượng vật chất quan trọng của Nhà nước để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.
  • Dẫn dắt, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển.
  • Tuy nhiên, một số DNNN còn hiệu quả thấp, quản lý chưa tốt, cạnh tranh yếu.






2. Việt Nam cần điều chỉnh chính sách phát triển trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh quốc tế



Việt Nam cần:


  • Tiếp tục đổi mới, cơ cấu lại DNNN: tinh gọn, nâng cao hiệu quả, minh bạch quản lý.
  • Phát triển kinh tế thị trường hiện đại, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.
  • Đẩy mạnh khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.
  • Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu cạnh tranh quốc tế.
  • Mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế, tận dụng các hiệp định thương mại tự do (FTA).
  • Phát triển bền vững, gắn tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường và an sinh xã hội.



20 tháng 2

1. Vai trò của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong quá trình Đổi mới kinh tế (từ 1986 đến nay) a) DNNN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế DNNN nắm giữ các ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế như: năng lượng, tài chính – ngân hàng, viễn thông, giao thông vận tải, quốc phòng – an ninh. Góp phần bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, an ninh năng lượng, an ninh lương thực và chủ quyền quốc gia. b) Là lực lượng quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế DNNN đóng góp lớn vào GDP, ngân sách nhà nước, tạo việc làm cho hàng triệu lao động. Đi đầu trong đầu tư các dự án lớn, hạ tầng trọng điểm, những lĩnh vực tư nhân khó hoặc không muốn đầu tư do rủi ro cao, vốn lớn, thu hồi chậm. c) Công cụ điều tiết và định hướng phát triển của Nhà nước Thông qua DNNN, Nhà nước điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, bảo đảm cân đối cung – cầu trong các thời điểm khó khăn. Góp phần thực hiện các mục tiêu xã hội như xóa đói giảm nghèo, phát triển vùng sâu, vùng xa. d) Hạn chế Một bộ phận DNNN hiệu quả kinh doanh chưa cao, còn tình trạng thua lỗ, thất thoát vốn. Quản trị doanh nghiệp chậm đổi mới, chưa theo kịp cơ chế thị trường và yêu cầu hội nhập quốc tế. 2. Việt Nam cần điều chỉnh chính sách phát triển như thế nào trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh quốc tế hiện nay a) Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả DNNN Cơ cấu lại, cổ phần hóa DNNN theo hướng tinh gọn, minh bạch, chỉ giữ DNNN ở lĩnh vực then chốt. Áp dụng quản trị doanh nghiệp hiện đại, tách bạch chức năng quản lý nhà nước và chức năng kinh doanh. b) Phát triển đồng bộ các thành phần kinh tế Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa kinh tế nhà nước, tư nhân và FDI. Khuyến khích kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế. c) Đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế Chủ động tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới. Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phát triển khoa học – công nghệ, chuyển đổi số. d) Phát triển bền vững Gắn tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, an sinh xã hội. Chú trọng nguồn nhân lực chất lượng cao, đổi mới sáng tạo để thích ứng với toàn cầu hóa.

21 tháng 2

Từ năm 1986 đến nay, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) giữ vai trò quan trọng trong quá trình Đổi mới kinh tế. DNNN là lực lượng nòng cốt trong các ngành then chốt như năng lượng, viễn thông, tài chính, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và thực hiện các mục tiêu chiến lược của Nhà nước. Tuy nhiên, nhiều DNNN còn hoạt động kém hiệu quả, chậm đổi mới và sức cạnh tranh chưa cao.


Trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh quốc tế hiện nay, Việt Nam cần tiếp tục tái cơ cấu, cổ phần hóa DNNN, nâng cao hiệu quả quản trị, minh bạch tài chính và ứng dụng khoa học – công nghệ. Đồng thời, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, khuyến khích đổi mới sáng tạo để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.


Vai trò của doanh nghiệp nhà nước là: - Cung cấp hàng hóa, dịch vụ thiết yếu - Là lực lượng chủ lực trong các ngành kinh tế chiến lược - Góp phần bảo đảm an ninh kinh tế trong bối cảnh hội nhập. - Tạo nhiều việc làm, giảm thất nghiệp, tăng thu nhập. - Tham gia thực hiện chính sách an sinh xã hội. Cần điều chỉnh: - Tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình. - Đẩy mạnh cổ phần hóa, đổi mới mô hình quản lý. - Nâng cao năng lực cạnh tranh (công nghệ, chất lượng sản phẩm). - Hướng tới phát triển bền vững, bảo vệ môi trường. - Hợp tác với khu vực tư nhân trong các dự án lớn. - Chú trọng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.

1. Vai trò của DNNN trong quá trình Đổi mới từ năm 1986 đến nay

Sau Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986, Việt Nam khởi xướng công cuộc Đổi Mới, chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong tiến trình đó, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) giữ nhiều vai trò khác nhau qua từng giai đoạn:

a) Giai đoạn 1986 – giữa thập niên 1990: Ổn định và chuyển đổi

  • DNNN là lực lượng sản xuất chủ yếu trong nền kinh tế, nắm giữ các ngành then chốt như năng lượng, giao thông, tài chính, viễn thông.
  • Đóng vai trò bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, cung ứng hàng hóa thiết yếu khi khu vực tư nhân còn yếu.
  • Tuy nhiên, nhiều DNNN hoạt động kém hiệu quả do cơ chế bao cấp, quản trị hành chính và thiếu động lực cạnh tranh.

b) Giai đoạn cổ phần hóa và tái cơ cấu (từ cuối thập niên 1990 đến 2010)

  • Nhà nước đẩy mạnh cổ phần hóa (equitization) nhằm nâng cao hiệu quả, minh bạch và thu hút vốn xã hội.
  • Hình thành các tập đoàn, tổng công ty lớn trong các lĩnh vực chiến lược như:
    • PetroVietnam (dầu khí)
    • EVN (điện lực)
    • Viettel (viễn thông)
  • DNNN đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước và đầu tư hạ tầng.

Tuy nhiên, cũng xuất hiện các vấn đề:

  • Đầu tư dàn trải, thua lỗ lớn ở một số tập đoàn.
  • Quản trị yếu kém, thiếu minh bạch.
  • Hiệu quả sử dụng vốn chưa tương xứng với nguồn lực được phân bổ.

c) Giai đoạn hội nhập sâu rộng (2010 đến nay)

Sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 và tham gia nhiều FTA thế hệ mới, môi trường cạnh tranh trở nên khốc liệt hơn.

Vai trò của DNNN chuyển dần:

  • Tập trung vào lĩnh vực thiết yếu, an ninh – quốc phòng, hạ tầng chiến lược.
  • Giảm dần sự hiện diện ở những ngành mà khu vực tư nhân có thể đảm nhiệm tốt.
  • Thực hiện nhiệm vụ điều tiết thị trường trong các tình huống khủng hoảng (ví dụ: ổn định giá điện, xăng dầu).

Hiện nay, DNNN không còn chiếm tỷ trọng lớn về số lượng nhưng vẫn nắm giữ phần lớn tài sản và nguồn lực trong các ngành then chốt.

2. Đánh giá tổng quát vai trò của DNNN

Tích cực

  • Giữ vai trò chủ đạo trong các ngành chiến lược.
  • Bảo đảm an sinh xã hội và ổn định kinh tế vĩ mô.
  • Tạo nền tảng hạ tầng cho khu vực tư nhân và FDI phát triển.

Hạn chế

  • Hiệu quả kinh doanh trung bình thấp hơn khu vực tư nhân và FDI.
  • Quản trị doanh nghiệp chưa theo chuẩn quốc tế.
  • Còn tồn tại tình trạng độc quyền hoặc ưu đãi bất bình đẳng.
  • Chậm đổi mới công nghệ và chuyển đổi số.

3. Việt Nam nên điều chỉnh chính sách phát triển DNNN như thế nào?

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu, chuyển đổi số, kinh tế xanh và chuỗi cung ứng tái cấu trúc, Việt Nam cần:

1) Thu hẹp phạm vi DNNN, tập trung lĩnh vực cốt lõi

  • Chỉ giữ 100% vốn nhà nước ở ngành:
    • Quốc phòng – an ninh
    • Hạ tầng độc quyền tự nhiên (truyền tải điện, đường sắt quốc gia…)
    • Tài nguyên chiến lược
  • Thoái vốn khỏi lĩnh vực thương mại thông thường.

2) Nâng cao quản trị theo chuẩn quốc tế

  • Tách bạch chức năng chủ sở hữu và chức năng quản lý nhà nước.
  • Áp dụng chuẩn mực quản trị theo OECD.
  • Minh bạch tài chính, công khai thông tin như doanh nghiệp niêm yết.

3) Thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng

  • Xóa bỏ ưu đãi ngầm.
  • Bảo đảm môi trường cạnh tranh công bằng giữa DNNN – tư nhân – FDI.
  • Tăng cường giám sát chống độc quyền.

4) Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

  • DNNN cần dẫn dắt trong:
    • Năng lượng tái tạo
    • Hạ tầng số
    • Công nghiệp công nghệ cao
  • Gắn đầu tư công với chiến lược phát triển dài hạn (AI, bán dẫn, kinh tế xanh).

5) Đẩy nhanh cổ phần hóa và xử lý doanh nghiệp yếu kém

  • Thực hiện quyết liệt, tránh trì hoãn.
  • Minh bạch hóa định giá tài sản.
  • Có cơ chế phá sản hoặc giải thể nếu cần.

4. Kết luận

Trong 40 năm kể từ Đổi Mới, DNNN đã góp phần quan trọng vào ổn định kinh tế và xây dựng nền tảng công nghiệp – hạ tầng của Việt Nam. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và cạnh tranh quốc tế gay gắt, vai trò của DNNN cần được tái định nghĩa theo hướng tinh gọn, hiệu quả và minh bạch hơn.

Chiến lược phù hợp không phải là mở rộng DNNN, mà là:

Tập trung vào lĩnh vực chiến lược – nâng cao hiệu quả – tạo sân chơi bình đẳng – và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.


21 tháng 2

Doanh nghiệp nhà nước đã giữ vai trò nòng cốt trong các ngành, lĩnh vực then chốt, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và dẫn dắt tăng trưởng trong quá trình đổi mới từ sau đại hội VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam, và hiện nay Việt Nam cần tiếp tục cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, nâng cao hiệu quả quản trị, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế tư nhân và tăng cường năng lực cạnh tranh để thích ứng với hội nhập quốc tế

21 tháng 2

câu 1

Vai trò

​-Cung cấp hàng hóa và dịch vụ thiết yếu: DNNN đã đóng góp quan trọng vào việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ cơ bản cho xã hội, đặc biệt trong các lĩnh vực như điện, nước, giao thông vận tải và viễn thông.

-Thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn: DNNN thường đóng vai trò chủ lực trong các ngành công nghiệp chiến lược như dầu khí, điện lực, và ngân hàng.

-Đảm bảo an ninh kinh tế: DNNN góp phần quan trọng vào việc bảo đảm an ninh kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt.

-Tạo công ăn việc làm: DNNN là một trong những nguồn tạo ra việc làm lớn nhất trong nền kinh tế, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp và tăng thu nhập cho người lao động.

-Thực hiện các chính sách xã hội: DNNN thường tham gia vào việc thực hiện các chương trình an sinh xã hội, như hỗ trợ người nghèo, phát triển hạ tầng.

Cần điều chỉnh:

-Tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình: Cần có những quy định rõ ràng về quản lý và giám sát hoạt động của DNNN.

-Thúc đẩy cổ phần hóa và chuyển đổi mô hình quản lý: Cần tiếp tục đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa DNNN để nâng cao hiệu quả hoạt động.

-Tăng cường năng lực cạnh tranh: DNNN cần cải thiện năng lực cạnh tranh thông qua việc áp dụng công nghệ mới, cải tiến quy trình sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm.

-Định hướng phát triển bền vững: Cần có các chính sách khuyến khích DNNN thực hiện các hoạt động sản xuất và kinh doanh bền vững, chú trọng đến bảo vệ môi trường

-Hợp tác và liên kết với khu vực tư nhân: Khuyến khích DNNN hợp tác với các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt trong các dự án lớn và các lĩnh vực cần đầu tư mạnh mẽ.

-Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: DNNN cần chú trọng vào việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng cho người lao động

21 tháng 2

Từ khi tiến hành công cuộc Đổi mới năm 1986, nền kinh tế Việt Nam đã chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong tiến trình đó, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng, vừa là lực lượng kinh tế nòng cốt, vừa là công cụ để Nhà nước điều tiết và ổn định nền kinh tế.



1. Vai trò của DNNN trong quá trình Đổi mới kinh tế (từ 1986 đến nay)



Trước hết, DNNN đóng vai trò chủ đạo trong những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Sau Đổi mới, Nhà nước không xóa bỏ DNNN mà tiến hành sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động. Các DNNN tập trung vào những lĩnh vực quan trọng như năng lượng, tài chính – ngân hàng, viễn thông, giao thông vận tải, khai thác tài nguyên… Đây là những ngành có ảnh hưởng lớn đến an ninh kinh tế và sự ổn định xã hội, mà khu vực tư nhân khó hoặc không muốn đầu tư do vốn lớn, lợi nhuận chậm, rủi ro cao.


Thứ hai, DNNN là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Trong bối cảnh kinh tế biến động, DNNN góp phần bình ổn thị trường, kiềm chế lạm phát, đảm bảo cung ứng các mặt hàng thiết yếu, từ đó giữ ổn định kinh tế – xã hội. Vai trò này đặc biệt rõ nét trong các giai đoạn khủng hoảng kinh tế khu vực và toàn cầu.


Thứ ba, DNNN có vai trò dẫn dắt, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển. Thông qua đầu tư vào hạ tầng, công nghiệp nền tảng và các chuỗi sản xuất lớn, DNNN tạo điều kiện cho khu vực tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia sâu hơn vào nền kinh tế.


Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực, khu vực DNNN cũng bộc lộ nhiều hạn chế như: hiệu quả kinh doanh chưa cao, quản trị còn yếu, tình trạng đầu tư dàn trải, thất thoát vốn, chậm đổi mới công nghệ. Điều này đặt ra yêu cầu phải tiếp tục cải cách mạnh mẽ khu vực DNNN trong giai đoạn mới.





2. Việt Nam nên điều chỉnh chính sách phát triển DNNN như thế nào trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh quốc tế?



Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh ngày càng gay gắt, Việt Nam cần có những điều chỉnh chính sách phù hợp đối với DNNN:


Thứ nhất, tái cơ cấu DNNN theo hướng tinh gọn và hiệu quả, tập trung vào các ngành, lĩnh vực thiết yếu, có tính chiến lược. Nhà nước không nên duy trì DNNN trong những lĩnh vực mà khu vực tư nhân làm tốt hơn.


Thứ hai, đẩy mạnh cổ phần hóa gắn với nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp, bảo đảm công khai, minh bạch và chống thất thoát tài sản nhà nước. Việc cổ phần hóa không chỉ nhằm giảm gánh nặng cho ngân sách mà còn tạo động lực đổi mới quản lý, nâng cao năng lực cạnh tranh.


Thứ ba, xây dựng môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa DNNN và các thành phần kinh tế khác. DNNN phải hoạt động theo nguyên tắc thị trường, không dựa vào bao cấp hay đặc quyền để tồn tại.


Thứ tư, đầu tư cho đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, giúp DNNN đủ sức cạnh tranh trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.





Kết luận



Trong hơn ba thập kỉ Đổi mới, DNNN đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển và ổn định của nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng, DNNN cần được tiếp tục đổi mới mạnh mẽ về cơ cấu, quản trị và phương thức hoạt động. Chỉ khi phát huy đúng vai trò chủ đạo, đồng thời khắc phục triệt để những hạn chế, DNNN mới thực sự trở thành động lực quan trọng cho sự phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.


21 tháng 2

Câu 1

Những bài học cơ bản của các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc từ năm 1945 đến nay

- Thứ nhất, không ngừng phát huy tinh thần yêu nước của các tầng lớp nhân dân

+ Tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam đã tạo thành sức mạnh tổng hợp của dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và bảo vệ Tổ quốc.

+ Ngày nay, đất nước đang tiến hành đổi mới và hội nhập sâu rộng trong bối cảnh toàn cầu hoá. Vì vậy, cần đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống để mỗi người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ nhận thức rõ vai trò của tinh thần và phát huy tinh thần đó trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

- Thứ hai, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân

+ Thực tiễn cách mạng từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã chứng minh: Một dân tộc nhỏ, nghèo nàn, lạc hậu như Việt Nam nhưng lại có thể chiến thắng những kẻ thù hùng mạnh,... là nhờ sự đoàn kết một lòng của cả dân tộc. Các tổ chức mặt trận đã giữ vai trò to lớn trong xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.

+ Ngày nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần phát huy vai trò trong việc củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.

- Thứ 3, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

+ Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là một trong những bài học lớn, xuyên suốt trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ và xây dựng đất nước, trong đó, sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định.

+ Trong bối cảnh hiện nay, việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại góp phần tăng cường sức mạnh tổng hợp để tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, tạo ra thế và lực để đất nước ổn định và phát triển.

+ Các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc cũng cho thấy cần kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng đất nước vững mạnh, đời sống của các tầng lớp nhân dân ngày càng nâng cao... là tạo điều kiện vững chắc cho bảo vệ Tổ quốc. Ngược lại, tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc gia sẽ tạo sức mạnh cần thiết cho công cuộc xây dựng đất nước.

- Thứ 4, phát triển sáng tạo nghệ thuật chiến tranh nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân

+ Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp tục xây dựng và phát triển sáng tạo nghệ thuật quân sự Việt Nam. Đó là nghệ thuật toàn dân đánh giặc, nghệ thuật tiến công chủ động, kiên quyết, mưu trí, sáng tạo,..

+ Trong bối cảnh sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học-công nghệ hiện nay, nghệ thuật quân sự Việt Nam cần tiếp tục phát triển ở trình độ khoa học cao, đồng thời xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và có chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa

Câu 2



21 tháng 2

-Vai trò +Cung cấp hàng hóa và dịch vụ thiết yếu: DNNN đã đóng góp quan trọng vào việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ cơ bản cho xã hội, đặc biệt trong các lĩnh vực như điện, nước, giao thông vận tải và viễn thông. +Thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn: DNNN thường đóng vai trò chủ lực trong các ngành công nghiệp chiến lược như dầu khí, điện lực, và ngân hàng. +Đảm bảo an ninh kinh tế: DNNN góp phần quan trọng vào việc bảo đảm an ninh kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt. +Tạo công ăn việc làm: DNNN là một trong những nguồn tạo ra việc làm lớn nhất trong nền kinh tế, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp và tăng thu nhập cho người lao động. -Cần điều chỉnh: +Tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình: Cần có những quy định rõ ràng về quản lý và giám sát hoạt động của DNNN. +Thúc đẩy cổ phần hóa và chuyển đổi mô hình quản lý: Cần tiếp tục đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa DNNN để nâng cao hiệu quả hoạt động. +Tăng cường năng lực cạnh tranh: DNNN cần cải thiện năng lực cạnh tranh thông qua việc áp dụng công nghệ mới, cải tiến quy trình sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm. +Định hướng phát triển bền vững: Cần có các chính sách khuyến khích DNNN thực hiện các hoạt động sản xuất và kinh doanh bền vững, chú trọng đến bảo vệ môi trường +Hợp tác và liên kết với khu vực tư nhân: Khuyến khích DNNN hợp tác với các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt trong các dự án lớn và các lĩnh vực cần đầu tư mạnh mẽ. +Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: DNNN cần chú trọng vào việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng cho người lao động

22 tháng 2

Phân tích vai trò của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong quá trình Đổi mới kinh tế từ năm 1986 đến nay:


Từ khi thực hiện công cuộc Đổi mới (1986), DNNN giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Trước hết, DNNN là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước điều tiết, ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt trong các lĩnh vực then chốt như năng lượng, viễn thông, tài chính, giao thông vận tải. Nhiều tập đoàn, tổng công ty nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong những ngành có ý nghĩa chiến lược, góp phần bảo đảm an ninh kinh tế và quốc phòng.


Thứ hai, DNNN đóng góp lớn vào ngân sách nhà nước, tạo việc làm cho người lao động và tham gia thực hiện các mục tiêu an sinh xã hội. Trong giai đoạn đầu Đổi mới, DNNN là lực lượng nòng cốt thúc đẩy tăng trưởng, xây dựng cơ sở hạ tầng và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển.


Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp, khu vực DNNN cũng bộc lộ hạn chế như hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao, quản trị còn bất cập, sức cạnh tranh còn yếu so với khu vực tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Vì vậy, Nhà nước đã tiến hành sắp xếp, cổ phần hóa và đổi mới quản lý để nâng cao hiệu quả hoạt động.


Trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh quốc tế hiện nay, Việt Nam cần điều chỉnh chính sách phát triển theo hướng:


  • Tiếp tục cơ cấu lại DNNN, tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu; đẩy mạnh cổ phần hóa, minh bạch hóa hoạt động.
  • Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.
  • Tăng cường ứng dụng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số, nâng cao năng suất và chất lượng nguồn nhân lực.
  • Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tận dụng các hiệp định thương mại tự do để mở rộng thị trường.
  • Phát triển kinh tế gắn với tăng trưởng xanh, bền vững và bảo đảm an sinh xã hội.



Như vậy, DNNN vẫn giữ vai trò quan trọng, nhưng cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ để thích ứng với yêu cầu phát triển và hội nhập trong giai đoạn mới



1. Vai trò của DNNN trong quá trình Đổi mới (từ 1986 đến nay)



a) Giai đoạn đầu Đổi mới (1986–2000)


  • DNNN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, đặc biệt ở các ngành then chốt: năng lượng, viễn thông, tài chính, giao thông vận tải.
  • Góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo cung ứng hàng hóa thiết yếu.
  • Tuy nhiên, nhiều DNNN hoạt động kém hiệu quả, bao cấp, thua lỗ, nợ nần lớn.



b) Giai đoạn đẩy mạnh hội nhập (2000–2015)


  • Thực hiện cổ phần hóa, sắp xếp lại DNNN để nâng cao hiệu quả.
  • DNNN tập trung hơn vào lĩnh vực then chốt, quốc phòng – an ninh, hạ tầng chiến lược.
  • Một số tập đoàn kinh tế nhà nước hình thành, đóng góp lớn cho ngân sách.
  • Tuy nhiên vẫn tồn tại hạn chế: quản trị yếu, đầu tư dàn trải, thất thoát vốn.



c) Giai đoạn gần đây (2015 đến nay)


  • Tiếp tục tái cơ cấu, thoái vốn ở lĩnh vực Nhà nước không cần nắm giữ.
  • Nhấn mạnh yêu cầu minh bạch, quản trị theo cơ chế thị trường.
  • DNNN giữ vai trò ổn định kinh tế trong khủng hoảng (ví dụ: dịch COVID-19).



Tổng kết vai trò:


  • Là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước.
  • Giữ các ngành, lĩnh vực trọng yếu.
  • Đóng góp ngân sách, tạo việc làm.
  • Nhưng hiệu quả chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ.






2. Việt Nam nên điều chỉnh chính sách như thế nào trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh quốc tế?



a) Tiếp tục tái cơ cấu DNNN


  • Chỉ giữ lại DNNN ở lĩnh vực then chốt, an ninh – quốc phòng, độc quyền tự nhiên.
  • Đẩy mạnh cổ phần hóa, minh bạch tài chính.



b) Nâng cao quản trị theo chuẩn quốc tế


  • Áp dụng mô hình quản trị hiện đại.
  • Tách chức năng quản lý nhà nước và chức năng chủ sở hữu vốn.



c) Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng


  • Không ưu ái DNNN quá mức.
  • Bảo đảm công bằng giữa DNNN, doanh nghiệp tư nhân và FDI.



d) Đầu tư vào đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số


  • Tăng năng suất lao động.
  • Tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.



e) Phát triển khu vực kinh tế tư nhân


  • Xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế.
  • Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao năng lực cạnh tranh.






3. Kết luận



Trong quá trình Đổi mới, DNNN đã góp phần quan trọng vào ổn định và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, Việt Nam cần tiếp tục cải cách mạnh mẽ DNNN, nâng cao hiệu quả hoạt động và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng để thúc đẩy tăng trưởng bền vững.


Từ khi thực hiện công cuộc Đổi mới năm 1986, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. DNNN là lực lượng nòng cốt trong các ngành then chốt như năng lượng, tài chính, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an ninh kinh tế quốc gia. Trong giai đoạn đầu, khi khu vực tư nhân chưa phát triển, DNNN đóng vai trò chủ đạo, tạo nền tảng cho sự chuyển đổi sang kinh tế thị trường. Ngoài ra, DNNN còn góp phần thực hiện các mục tiêu xã hội như tạo việc làm và phát triển vùng khó khăn.

Tuy nhiên, khu vực này vẫn tồn tại nhiều hạn chế như hiệu quả chưa cao, quản trị còn yếu và thiếu sức cạnh tranh. Vì vậy, trong thời gian tới, cần tiếp tục tái cơ cấu DNNN theo hướng tinh gọn, tập trung vào lĩnh vực thiết yếu; đồng thời đẩy mạnh cổ phần hóa, nâng cao tính minh bạch và hiệu quả quản lý.

Như vậy, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN là yêu cầu cần thiết để Việt Nam phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập.


22 tháng 2

Giai đoạn đầu đổi mới

Giai đoạn hội nhập

Hiện nay

22 tháng 2

Vai trò

​-Cung cấp hàng hóa và dịch vụ thiết yếu: DNNN đã đóng góp quan trọng vào việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ cơ bản cho xã hội, đặc biệt trong các lĩnh vực như điện, nước, giao thông vận tải và viễn thông.

-Thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn: DNNN thường đóng vai trò chủ lực trong các ngành công nghiệp chiến lược như dầu khí, điện lực, và ngân hàng. 

-Đảm bảo an ninh kinh tế: DNNN góp phần quan trọng vào việc bảo đảm an ninh kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt. 

-Tạo công ăn việc làm: DNNN là một trong những nguồn tạo ra việc làm lớn nhất trong nền kinh tế, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp và tăng thu nhập cho người lao động.

-Thực hiện các chính sách xã hội: DNNN thường tham gia vào việc thực hiện các chương trình an sinh xã hội, như hỗ trợ người nghèo, phát triển hạ tầng.

Cần điều chỉnh:

-Tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình: Cần có những quy định rõ ràng về quản lý và giám sát hoạt động của DNNN.

-Thúc đẩy cổ phần hóa và chuyển đổi mô hình quản lý: Cần tiếp tục đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa DNNN để nâng cao hiệu quả hoạt động. 

-Tăng cường năng lực cạnh tranh: DNNN cần cải thiện năng lực cạnh tranh thông qua việc áp dụng công nghệ mới, cải tiến quy trình sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm.

-Định hướng phát triển bền vững: Cần có các chính sách khuyến khích DNNN thực hiện các hoạt động sản xuất và kinh doanh bền vững, chú trọng đến bảo vệ môi trường 

-Hợp tác và liên kết với khu vực tư nhân: Khuyến khích DNNN hợp tác với các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt trong các dự án lớn và các lĩnh vực cần đầu tư mạnh mẽ. 

-Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: DNNN cần chú trọng vào việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng cho người lao động

22 tháng 2


1. Vai trò của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong quá trình Đổi mới kinh tế (từ 1986 đến nay)

Sau công cuộc Đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng năm 1986, khu vực doanh nghiệp nhà nước giữ nhiều vai trò quan trọng:

a) Lực lượng nòng cốt của nền kinh tế

- DNNN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

- Nắm giữ các ngành, lĩnh vực then chốt: năng lượng, tài chính – ngân hàng, viễn thông, giao thông, quốc phòng…

b) Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô

- Góp phần điều tiết thị trường, ổn định giá cả, bảo đảm an ninh năng lượng, lương thực.

- Giữ vai trò quan trọng trong những giai đoạn khủng hoảng kinh tế hoặc biến động quốc tế.

c) Thúc đẩy công nghiệp hóa – hiện đại hóa

- Đầu tư vào các dự án hạ tầng lớn mà khu vực tư nhân khó thực hiện.

- Tạo nền tảng phát triển cho các ngành công nghiệp trọng điểm.

d) Góp phần bảo đảm an sinh xã hội

- Tạo nhiều việc làm, đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước.

- Thực hiện nhiệm vụ chính trị – xã hội ở vùng khó khăn, biên giới, hải đảo.

e) Hạn chế còn tồn tại

- Hiệu quả kinh doanh chưa đồng đều.

- Quản trị doanh nghiệp còn bất cập, năng suất chưa cao.

- Một số DNNN phụ thuộc vốn nhà nước, chậm đổi mới công nghệ.

2. Việt Nam cần điều chỉnh chính sách phát triển trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh quốc tế

Trong quá trình hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới, Việt Nam cần:

a) Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN

- Chỉ duy trì DNNN ở lĩnh vực then chốt, thiết yếu

-Đẩy mạnh cổ phần hóa, minh bạch tài chính.

- Áp dụng quản trị hiện đại theo chuẩn quốc tế.

b) Phát triển kinh tế nhiều thành phần

- Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa DNNN, tư nhân và doanh nghiệp FDI.

- Khuyến khích kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng.

c) Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia

- Đẩy mạnh chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo.

-Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

- Đầu tư khoa học – công nghệ và công nghiệp xanh.

d) Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

- Tận dụng các hiệp định thương mại tự do

- Nâng cao tiêu chuẩn sản phẩm, chuỗi cung ứng và thương hiệu Việt Nam.

e) Phát triển bền vững

- Gắn tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường.

- Bảo đảm an sinh xã hội và thu hẹp khoảng cách phát triển.





I. Vai trò của Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) từ năm 1986 đến nay

Từ sau cột mốc Đổi mới (1986), vai trò của DNNN đã có sự chuyển dịch quan trọng từ "nắm giữ mọi thứ" sang "giữ vai trò chủ đạo" trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Công cụ điều tiết vĩ mô: DNNN là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước điều tiết nền kinh tế, ổn định thị trường mỗi khi có biến động lớn (như khủng hoảng tài chính hay đại dịch COVID-19).

Đầu tàu trong các ngành then chốt: Tập trung vào các lĩnh vực hạ tầng thiết yếu mà tư nhân khó hoặc không muốn làm: năng lượng (điện, dầu khí), viễn thông, hàng không, ngân hàng và quốc phòng - an ninh.

Dẫn dắt công nghệ và hạ tầng: Các tập đoàn lớn đóng vai trò tạo nền tảng hạ tầng kỹ thuật, giúp các thành phần kinh tế khác (như doanh nghiệp tư nhân, FDI) phát triển theo.

Đóng góp ngân sách: Dù số lượng doanh nghiệp giảm mạnh qua quá trình cổ phần hóa, các DNNN lớn vẫn đóng góp tỷ trọng đáng kể vào tổng thu ngân sách quốc gia và GDP.

II. Điều chỉnh chính sách phát triển trong bối cảnh hội nhập

Trong bối cảnh tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (như CPTPP, EVFTA) và sự cạnh tranh gay gắt từ các tập đoàn đa quốc gia, Việt Nam cần điều chỉnh theo các hướng sau:

1: Đổi mới quản trị và tư duy

Tách biệt quản lý và sở hữu: Phân định rõ chức năng quản lý nhà nước và chức năng chủ sở hữu vốn tại doanh nghiệp. Đẩy mạnh vai trò của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước (CMSC).

Quản trị theo chuẩn quốc tế: Áp dụng các chuẩn mực quản trị hiện đại (OECD) để tăng tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả hoạt động.

2. Tinh gọn và tập trung trọng điểm

Đẩy mạnh cổ phần hóa thực chất: Không nắm giữ vốn tại các ngành mà tư nhân có thể làm tốt. Chỉ tập trung nguồn lực vào những khâu then chốt, mang tính dẫn dắt hoặc liên quan đến an ninh quốc gia.

Xây dựng các "Sếu đầu đàn": Hình thành những tập đoàn kinh tế nhà nước có quy mô lớn, đủ sức cạnh tranh sòng phẳng trên thị trường quốc tế.

3. Thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Chuyển trọng tâm từ khai thác tài nguyên sang kinh tế số và kinh tế xanh.

Khuyến khích DNNN đầu tư mạnh vào R&D (Nghiên cứu và Phát triển) để nắm giữ các công nghệ lõi, tránh phụ thuộc quá lớn vào công nghệ nước ngoài.

4: tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng

Xóa bỏ các đặc quyền, ưu đãi phi thị trường để DNNN cạnh tranh lành mạnh với khu vực tư nhân, từ đó buộc doanh nghiệp phải tự nâng cao năng lực nội tại.

22 tháng 2

1.Vai trò của DNNN trong đổi mới kinh tế (1986 - nay)

Dẫn dắt nền kinh tế: DNNN nắm giữ các lĩnh vực xương sống như năng lượng, tài chính-ngân hàng, hạ tầng, viễn thông (VNPT, Viettel, PVN...), đảm bảo an ninh kinh tế và ổn định vĩ mô.

Nguồn thu ngân sách: Đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước, tạo nền tảng cho sự phát triển xã hội.

Công cụ điều tiết vĩ mô: Nhà nước sử dụng DNNN để khắc phục các "thất bại" của thị trường, đầu tư vào các dự án rủi ro cao hoặc lĩnh vực tư nhân không tham gia.

Chuyển đổi sang kinh tế thị trường: Thông qua cổ phần hoá, DNNN từng bước nâng cao hiệu quả, giảm sự phụ thuộc vào ngân sách

2.


* Vai trò của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong quá trình Đổi mới kinh tế từ năm 1986 đến nay


- Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế


+ Trong giai đoạn đầu của Đổi mới, Doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, đặc biệt trong các lĩnh vực quan trọng như năng lượng, tài chính, giao thông, viễn thông và hạ tầng.


+ Nhiều tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước lớn như Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT)… đã góp phần tạo nền tảng cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.


- Ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội


+ Doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò điều tiết thị trường, đặc biệt trong các lĩnh vực chiến lược như xăng dầu, điện, than, thép, lương thực…, giúp ổn định giá cả, tránh tình trạng độc quyền tư nhân và bảo vệ người tiêu dùng.


+ Ngoài ra, Doanh nghiệp nhà nước có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ xã hội như tạo việc làm, duy trì các ngành sản xuất thiết yếu dù lợi nhuận không cao.


- Đóng góp vào ngân sách nhà nước


+ Nhiều Doanh nghiệp nhà nước có tỷ lệ đóng góp lớn vào ngân sách nhà nước, ví dụ như Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex), Viettel…


+ Giai đoạn 2011-2020, các Doanh nghiệp nhà nước đóng góp khoảng 29% GDP cả nước, cho thấy vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn thu cho Chính phủ.


- Chuyển đổi và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước


+ Kể từ những năm 2000, Việt Nam đã tiến hành cổ phần hóa hàng loạt Doanh nghiệp nhà nước để nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng cường cạnh tranh.


+ Nhiều Doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa đã hoạt động hiệu quả hơn, như Vietcombank, Vinamilk, Sabeco…, nhưng vẫn có nhiều doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, gây thất thoát tài sản nhà nước.


Đề xuất chính sách:


+ Cần tiếp tục cổ phần hóa và giảm sự phụ thuộc vào Doanh nghiệp nhà nước, chuyển dịch vai trò của nhà nước từ quản lý trực tiếp sang giám sát và điều tiết.


+ Áp dụng cơ chế quản trị hiện đại và minh bạch hơn cho các Doanh nghiệp nhà nước để đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh và hiệu quả kinh doanh.


+ Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, Doanh nghiệp nhà nước cần tái cấu trúc để nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế, đặc biệt là trong các ngành then chốt mà Việt Nam có thế mạnh.


+ Tăng cường năng lực cạnh tranh: DNNN cần cải thiện năng lực cạnh tranh thông qua việc áp dụng công nghệ mới, cải tiến quy trình sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm.


+ Định hướng phát triển bền vững: Cần có các chính sách khuyến khích DNNN thực hiện các hoạt động sản xuất và kinh doanh bền vững, chú trọng đến bảo vệ môi trường .


+ Hợp tác và liên kết với khu vực tư nhân: Khuyến khích DNNN hợp tác với các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt trong các dự án lớn và các lĩnh vực cần đầu tư mạnh mẽ.


+ Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: DNNN cần chú trọng vào việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng cho người lao động.

29 tháng 2 2016

- Các xu thế phát triển của thế giới hiện nay :

 Các nước điều chỉnh chiến lược phát triển lấy kinh tế làm trọng điểm, xây dựng sức mạnh quốc gia thay thế cho chạy đua vũ trang.  

 Sự điều chỉnh quan hệ giữa các nước lớn theo chiều hướng đối thoại, thỏa hiệp, tránh xung đột trực tiếp, tạo nên một môi trường quốc tế thuận lợi trong cạnh tranh.

  Hòa bình và ổn định là xu thế chủ đạo, nhưng ở nhiều khu vực vẫn diễn ra nội chiến và xung đột; nguy cơ khủng bố và chủ nghĩa li khai…

  Xu thế toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ, trở thành một xu thế khách quan, tạo nên thời cơ và thách thức cho các quốc gia đang phát triển.

- Những thời cơ và những thách thức đang đặt ra cho dân tộc Việt Nam :

 Thời cơ: Chúng ta có thể mở rộng quan hệ hợp tác hữu nghị, tận dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật và các nguồn lực khác của thế giới, nhanh chóng đưa đất nước ta tiến lên kịp với thời đại

 Thách thức: Thách thức lớn nhất của chúng ta là trình độ lực lượng sản xuất còn thấp kém. Ngoài ra còn có âm mưu diễn biến hoà bình, nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nguy cơ suy thoái đạo đức, đánh mất bản sắc dân tộc. Tình trạng ô nhiễm môi trường, bệnh tật, tai nạn giao thông...

Sau sự tan rã của trật tự thế giới hai cực Ianta (1991), lịch sử thế giới hiện đại đã bước sang một giai đoạn phát triển mới, thường được gọi là giai đoạn sau Chiến tranh lạnh. Nhiều hiện tượng mới và xu thế mới đã xuất hiện.Một là, sau Chiến tranh lạnh hầu như tất cả các quốc gia đều ra sức điều chỉnh chiến lược phát triển lấy kinh tế làm trọng điểm, bởi ngày nay...
Đọc tiếp

Sau sự tan rã của trật tự thế giới hai cực Ianta (1991), lịch sử thế giới hiện đại đã bước sang một giai đoạn phát triển mới, thường được gọi là giai đoạn sau Chiến tranh lạnh. Nhiều hiện tượng mới và xu thế mới đã xuất hiện.

Một là, sau Chiến tranh lạnh hầu như tất cả các quốc gia đều ra sức điều chỉnh chiến lược phát triển lấy kinh tế làm trọng điểm, bởi ngày nay kinh tế đã trở thành nội dung căn bản trong quan hệ quốc tế. Ngày nay, sức mạnh của mỗi quốc gia là dựa trên một nền sản xuất phồn vinh, một nền tài chính vững chắc, một nền công nghệ có trình độ cao cùng với một lực lượng quốc phòng hùng mạnh.

Hai là, sự điều chỉnh quan hệ giữa các nước lớn theo chiều hướng đối thoại, thỏa hiệp, tránh xung đột trực tiếp nhằm tạo nên một môi trường quốc tế thuận lợi, giúp họ vươn lên mạnh mẽ, xác lập một vị trí ưu thế trong trật tự thế giới mới. Mối quan hệ giữa các nước lớn hiện nay mang tính hai mặt, nổi bật là: mâu thuẫn và hài hòa, cạnh tranh và hợp tác, tiếp xúc và kiềm chế,…

Ba là, tuy hòa bình và ổn định là xu thế chủ đạo của tình hình thế giới sau Chiến tranh lạnh, nhưng ở nhiều khu vực vẫn diễn ra nội chiến và xung đột. Những mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ và nguy cơ khủng bố thường có những căn nguyên lịch sử sâu xa nên việc giải quyết không dễ dàng và nhanh chóng.

Bốn là, từ thập kỉ 90, sau Chiến tranh lạnh, thế giới đã và đang chứng kiến xu thế toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Toàn cầu hóa là xu thế phát triển khách quan. Đối với các nước đang phát triển, đây vừa là thời cơ thuận lợi, vừa là thách thức gay gắt trong sự vươn lên của đất nước.

Ngày nay, sức mạnh của mỗi quốc gia được xây dựng trên những nền tảng nào?

1
19 tháng 12 2019

Đáp án D
Ngày nay, sức mạnh của mỗi quốc gia được xây dựng dựa trên một nền sản xuất kinh tế phồn vinh, một nền tài chính vững chắc, một nền công nghệ có trình độ cao cùng với một lực lượng quốc phòng hùng mạnh.

2 tháng 2 2016

- Sự phát triển :

   + Từ năm 1952-1960 kinh tế phát triển nhanh.

   + Từ năm 1960-1973 kinh tế Nhật phát triển thần kì.

   + Tăng trưởng kinh tế cao, năm 1960-1969 tăng trưởng 10,8% năm . Từ năm 1970 - 1973, tăng trưởng 7.8% năm. Từ một nước bại trận, chịu hậu quả chiến tranh rất nặng nề, chỉ sau một thời gian ngắn, Nhật Bản đã vươn lên thành một siêu cường kinh tế (thứ 2 sau Mĩ)

   + Đầu những năm 70, trở thành một trong ba trung tâm kinh tế - tài chính thế giới.

- Nguyên nhân thúc đẩy sự phát triển :

   + Ở Nhật Bản, con người được coi là vốn quý nhất, nhân tố quyết định hàng đầu.

   + Vai trò lãnh đạo, quản lý có hiệu quả của Nhà nước.

   + Chế độ làm việc suốt đời, chế độ hưởng lương theo thâm niên và chủ nghĩa nghiệp đoàn xí nghiệp được coi là ba "kho báu thiêng liêng" làm cho các công ty có sức mạnh và tính cạnh tranh cao.

   + Ứng dụng các thành tựu khoa học - kĩ thuật hiện đại để nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm.

   + Chi phí cho quốc phòng của Nhật Bản thấp.

   + Tận dụng tốt các yếu tố bên ngoài để phát triển.

- Kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam

   +  Đào tạo, nâng cao trình độ nguồn nhân lực.

   + Đầu tư thích ứng cho nghiên cứu áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật.

   + Sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư của nước ngoài.

   + Nhà nước có chính sách và biện pháp điều tiết kịp thời, phù hợp.

  

 

6 tháng 8 2017

Đáp án B

18 tháng 1 2018

Đáp án A

Việc tăng cường xuất khẩu công nghệ phần mềm không phải quốc gia nào cũng có thể áp dụng được. Hơn nữa, với trình độ đang phát triển như Việt Nam thì trước tiên cần học hỏi trình độ khoa học kĩ thuật, nâng cao trình độ tập trung vốn và lao động trước. Xuất khẩu phần mềm được còn là một quá trình lâu dài nữa. Hiện nay, tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam giàu có nhưng chưa được khai thác và sử dụng hợp lí, nhiều tài nguyên còn xuất khẩu thô, Vì vậy, yêu cầu đặc ra là cần khai thác và sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên để làm cơ sở thúc đẩy phát triển kinh tế.

Câu 25 (VDC). Bài học nào Việt Nam có thể rút ra trong xây dựng đất nước hiện nay từ sự phát triển kinh tế của Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai? A. Mở rộng hợp tác đầu tư với các nước bên ngoài. B. Đầu tư phát triển các ngành công nghiệp dân dụng. C. Coi trọng yếu tố con người, sức mạnh đoàn kết của nhân dân. D. Tập trung vào công tác đào tạo nguồn nhân lực có chất...
Đọc tiếp

Câu 25 (VDC). Bài học nào Việt Nam có thể rút ra trong xây dựng đất nước hiện nay từ sự phát triển kinh tế của Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai? A. Mở rộng hợp tác đầu tư với các nước bên ngoài. B. Đầu tư phát triển các ngành công nghiệp dân dụng. C. Coi trọng yếu tố con người, sức mạnh đoàn kết của nhân dân. D. Tập trung vào công tác đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao Câu 1 (NB). Sự kiện nào dẫn đến sự tan vỡ mối quan hệ Ðồng minh chống phát xít giữa Liên Xô và Mĩ? A. Sự hình thành hệ thống xã hội chủ nghĩa. B. Sự ra đời của "Học thuyết Truman". C. Việc Liên Xô chế tạo thành công bom nguyên tử (1949). Câu 2 (NB). Nguyên nhân sâu xa dẫn đến chiến tranh lạnh là gì? A. Sự đối đầu giữa hai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. B. Sự đối đầu giữa hai cường quốc Mĩ và Liên Xô. C. Sự hình thành trật tự hai cực Ianta. D. Sự đối lập về mục tiêu và chiến lược của Mĩ và Liên Xô. Câu 3 (NB). Cuộc Chiến tranh lạnh do Mĩ phát động chống Liên Xô là cuộc A. đối đầu căng thẳng giữa hai phe, trên hầu hết các lĩnh vực. B. chiến tranh giành thị trường quyết liệt giữa Mĩ và Liên Xô. C. xung đột trực tiếp bằng quân sự giữa Mĩ và Liên Xô. D. xung đột không hồi kết về quân sự và ý thức hệ giữa Mĩ và Liên Xô.

1
26 tháng 12 2021

Câu 25. C

Câu 1. C

Câu 2 . D

Câu 3. A

2 tháng 6 2017

Đáp án B

Trong bối cảnh Chiến tranh lạnh, trên thế giới có sự phân chia: thế giới thứ nhất bao gồm Mĩ và các đồng minh TBCN như Tây Âu, Nhật Bản,... Thế giới thứ hai gồm Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu,... Trong khi đó, thế giới thứ ba bao gồm tất cả các quốc gia khác không tích cực liên kết với một trong hai phía trong cuộc Chiến tranh Lạnh. Đây thường là những nước thuộc địa cũ nghèo của châu Âu, bao gồm gần như tất cả các quốc gia châu Phi, Trung Đông, Châu Mỹ Latinh và châu Á.

Vì vậy, các nước Tây Âu đã tận dụng được nguồn nguyên liệu rẻ tiền từ các quốc gia này. Đây là điều kiện khách quan thuận lợi cơ bản đưa đến sự phát triển kinh tế Tây Âu sau Chiến tranh thế giới thứ hai

Ngày 8 - 8 - 1967, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (viết tắt theo tiếng anh là ASEAN) được thành lập tại Băng Cốc (Thái Lan) với sự tham gia của năm nước: Inđônêxia, Malayxia, Xingapo, Thái Lan và Philíppin.Trong giai đoạn đầu (1967 - 1975), ASEAN là một tổ chức non trẻ, sự hợp tác trong khu vực còn lỏng lẻo, chưa có vị trí trên trường quốc tế. Sự khởi sắc của ASEAN được đánh dấu từ Hội...
Đọc tiếp

Ngày 8 - 8 - 1967, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (viết tắt theo tiếng anh là ASEAN) được thành lập tại Băng Cốc (Thái Lan) với sự tham gia của năm nước: Inđônêxia, Malayxia, Xingapo, Thái Lan và Philíppin.

Trong giai đoạn đầu (1967 - 1975), ASEAN là một tổ chức non trẻ, sự hợp tác trong khu vực còn lỏng lẻo, chưa có vị trí trên trường quốc tế. Sự khởi sắc của ASEAN được đánh dấu từ Hội nghị cấp cao lần thứ nhất họp tại Ba-li (In-đô-nê-xi-a) tháng 2 - 1976, với việc kí Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á (gọi tắt là Hiệp ước Ba-li).

Hiệp ước Ba-li đã xác định những nguyên tắc cơ bản trong quan hệ giữa các nước: tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa bằng vũ lực với nhau; giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình; hợp tác phát triển có hiệu quả trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội.

Năm 1984, Brunây gia nhập và trở thành thành viên thứ sáu của ASEAN.

Từ đầu những năm 90, ASEAN tiếp tục mở rộng thành viên của mình trong bối cảnh thế giới và khu vực có nhiều thuận lợi. Năm 1992, Việt Nam và Lào tham gia Hiệp ước Bali. Tiếp đó, ngày 28 - 7 - 1995, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ bảy của ASEAN. Tháng 7 - 1997, Lào và Mianma gia nhập ASEAN. Đến năm 1999, Campuchia được kết nạp vào tổ chức này.

Như vậy, từ 5 nước sáng lập ban đầu, đến năm 1999, ASEAN đã phát triển thành mười nước thành viên. Từ đây, ASEAN đẩy mạnh hoạt động hợp tác kinh tế, xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, ổn định, cùng phát triển.

Trong các nước thành viên sáng lập ASEAN, nước nào thuộc khu vực Đông Nam Á lục địa:

1
9 tháng 3 2018

Đáp án D

Ngày 8 - 8 - 1967, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập với sự tham gia của năm nước: In-đô-nê-xi-a, Ma-lay-xi-a, Xin-ga-po, Thái Lan và Phi-líp-pin. Trong đó, Thái Lan là nước duy nhất thuộc khu vực Đông Nam Á lục địa

14 tháng 6 2021

B nha bạnhihi