K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Câu 1 (2.0 điểm):

          Viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về vấn đề con người nên biết yêu thương vạn vật. 

Câu 2 (4.0 điểm):

          Viết một bài văn có dung lượng khoảng 600 chữ phân tích đoạn thơ sau để thấy sự biến đổi của quê hương trước và sau chiến tranh.

                       BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG

                       Bên kia sông Đuống

                       Quê hương ta lúa nếp thơm nồng

                       Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong

                       Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp

                       Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

                       Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

                       Ruộng ta khô

                       Nhà ta cháy

                       Chó ngộ một đàn

                       Lưỡi dài lê sắc máu

                       Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang

                       Mẹ con đàn lợn âm dương

                       Chia lìa trăm ngả

                       Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã

                       Bây giờ tan tác về đâu?

(Hoàng Cầm)

 

75
15 tháng 3 2025


Câu 1 ; trong cuộc sống này chỉ thực sự có ý nghĩa khi chúng ta biết yêu thương vạn vật . Yêu thương vạn vật là yêu những điều nhỏ nhặt bên cạnh chính mình , ta không nên vì nó nhỏ bé mà ghét bỏ nó cũng không nên vì nó to lớn mà sợ hãi nó . Yêu thương vạn vật sẽ dạy cho ta trân trong những gì ta có từ đó chân trọng cuộc sống này giống như hoa hậu nguyễn thúc thùy tiên một người thành công khi còn rất trẻ ở cô chúng ta học được một trong những yếu tố thành công chính là lòng yêu thương từ những điều nhỏ nhất

câu 2 Bên này – bên kia, một dòng sông chia cách hai khoảng trời, chia cách đôi bờ Kinh Bắc một bên là vùng tự do, một bên đã bị giặc chiếm đóng. Cấu trúc “sao nhớ tiếc” “sao xót xa” ẩn chứa đầy tâm trạng đớn đau, mà nhớ, tiếc nuối xót xa. Chữ “sao” như xoáy vào lòng người đọc một nỗi nhức nhối, đau đáu, khôn nguôi, xưa là thanh bình đẹp đẽ, nay là đau đớn chia lìa. Ở đây nỗi đau đã lên đến tột cùng và được cụ thể hoá như là có thể cảm giác được quê hương như là một phần máu thịt, bởi thế quê hương bị chia cắt cũng giống như con người mất đi một phần cơ thể mình. “Như rụng bàn tay – một hình ảnh so sánh thật tự nhiên, giản dị nhưng rất sâu sắc đã tiếp thêm tình yêu nỗi nhớ khôn nguôi của Hoàng Cầm đối với mảnh đất Kinh Bắc. Nỗi nhớ này là điểm xuất phát, sự bùng nổ cho cảm hứng về quê hương Kinh Bắc tuôn chảy dào dạt trong mạch thơ của ông. Đoạn thơ thứ hai trong bài thơ là một điệp khúc giàu sức gợi hình tượng:

Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp

Bằng những câu thơ trên, nhà thơ đã khái quát được nét vẽ đẹp nhất, sống động và điển hình nhất bức tranh làng quê Kinh Bắc. Một bức tranh đầy màu sắc, ánh sáng và hương vị. Lời giới thiệu “quê hương ta lúa nếp thơm nồng” hết sức mộc mạc, nó như một nét vẽ bình dị, quen thuộc của làng quê Việt Nam gợi dậy bao ám ảnh trong lòng người đọc về một quê hương thanh bình yên ả. Những bức tranh Đông Hồ là hình ảnh đặc trưng của quê hương Kinh Bắc thể hiện được bản sắc văn hoá tinh hoa của con người trên từng nét vẽ. Đó là sự kết tinh vẻ đẹp tài hoa trong cuộc sống tinh thần người Kinh Bắc. Những bức tranh Đông Hồ do những nghệ sĩ dân gian sáng tác bao gồm những đề tài quen thuộc phản ánh tâm tư khát vọng trong sáng lãng mạn và không kém phần dí dỏm của người liên doanh: đám cưới chuột, đàn lợn, hứng dừa, đánh ghen... chúng được vẽ trên giấy dó, giấy điệp, vẽ bằng chất liệu cỏ cây, hoa lá, đất cát quê hương. Như vậy nét tươi trong của tranh Đông Hồ không chỉ gợi ra cái tươi tắn trong trẻo mà còn chứa nét đẹp rạng ngời tinh khôi. Chữ “sáng bừng” được dùng khá độc đáo, nó không còn là tính từ mà đã được sử dụng như một động từ không chỉ để chỉ ánh sáng mà còn khẳng định sức sống kỳ diệu của dân tộc. “Màu dân tộc” trở thành một ẩn dụ độc đáo của Hoàng Cầm, qua đó thể hiện niềm kiêu hãnh của nhà thơ về bản sắc văn hoá của dân tộc mình. Bởi quê hương xiết bao yêu dấu, tự hào sống trọn trong trái tim khói lửa, nhà thơ đã diễn tả nồi đau xót căm hờn xen lẫn sự tiếc nuối xót thương với những hình ảnh đầy ấn tượng:

Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang
Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu

Câu thơ đầu giống như câu thơ bản lề làm chuyển đổi mạch cảm xúc của bài thơ. Tác giả gọi những ngày giặc xâm chiến là những ngày “khủng khiếp” cho thấy sự khốc liệt của chiến tranh. Nhiều hình ảnh ẩn dụ được sử dụng để gọi tả sự khốc liệt này, hình ảnh “lửa hung tàn” gợi ra sự tàn bạo của kẻ thù đồng thòi là tiếng nói tố cáo phê phán gay gắt chiến tranh. Nếu ở khổ thơ phía trên nhịp thơ đều đặn dàn trải ổn định thì đến khổ thơ này những câu thơ ngôn ngắt nhịp mạnh dồn dập liên tiếp chỉ tội ác chồng chất của kẻ thù cùng với niềm căm thù ngút tròi và nổi đau tột cùng của con người Từ láy “ngùn ngụt” không chi là từ gợi hình chi ngọn lửa mà chính là lòng căm thù của con người bị đốt cháy – những câu thơ của Hoàng Cầm rất giàu sắc thái biểu cảm, bao trùm lên không gian là sự hoang tàn, vắng lạnh, xơ xác, không còn cái vẻ thanh bình, cái nét trù phú tươi tắn. Tất cả chi là một cảnh tượng chia li chết chóc. Chữ kiệt cùng được dùng rất hay – không gian càng trở nên sâu thẳm, nỗi đau được biểu hiện tột cùng. Điều đặc biệt là tác giả không miêu tả cụ thể hình ảnh con người nhưng dấu ấn về cuộc sống chia li hoang tàn vẫn được biểu hiện rõ, ông đã mượn hình ảnh nhũng con vật vô tri trong bức tranh Đông Hồ để nói về nỗi đau của con người, đây là một dụng ý nghệ thuật sâu xa của nhà thơ Hoàng Cầm. Đằng sau nỗi đau là hình ảnh quê hương Kinh Bắc với những phong tục tập quán, những hội hè, đình đám, được gợi nhắc lại hết sức sống động:

Chỉ bằng vài nét phác hoạ, Hoàng Cầm đã dựng nên trước mắt người đọc từng bức chân dung cụ thể của con người Kinh Bắc, họ đều rạng ngời với vẻ đẹp truyền thống, những người thiếu nữ, có vẻ đảm đang tháo vát, nhũng cụ già phúc hậu, những em nhỏ ngây thơ tinh nghịch. Rõ ràng ở đây ta thấy niềm yêu mến sâu sắc của tác giả. Những nỗi ám ảnh trong Hoàng Cầm sâu sắc nhất có lẽ là hình ảnh người con gái Kinh Bắc. Ông đã dùng những câu thơ đẹp nhất, tài hoa nhất để gợi tả họ:

Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu toả nắng

Chữ “Có nhớ” đặt ở đầu câu thơ là lời gợi nhắc đầy ám ảnh, hình ảnh “khuôn mặt búp sen” gợi tả khuôn mặt người con gái vừa đoan trang, trong trắng, phúc hậu vừa dịu dàng, và đây cũng là nét vẽ điển hình nhất của người con gái Kinh Bắc nói riêng và của người con gái Việt Nam nói chung. Và gắn liền với hình ảnh “cô hàng xén ràng đen”, đây lại là một phong tục tập quán cổ truyền, một nét vẽ truyền thống người con gái Kinh Bắc. Cái hay nhất của đoạn thơ trên là biện pháp tu từ so sánh giữa nụ cười thiếu nữ Kinh Bắc với ánh nắng mùa thu. Dường như ở đây có một sự giao hoà giữa vẻ đẹp con người và vẻ đẹp thiên nhiên đất trời. Nét rạng ngời tươi tắn trong nụ cười cô gái cũng giống với nét rạng ngời tươi tắn của nắng mùa thu chứ không phải cái nắng nóng bỏng gay gắt của mùa hè hay yếu ớt ảm đạm của mùa đông, nắng thu như toả trong nó một sức sống mạnh mẽ. Đến đây người đọc như không còn thấy dấu tích của chiến tranh, bởi vậy câu thơ ẩn chứa một niềm tin tưởng lạc quan của con người. Một không gian Kinh Bắc nhộn nhịp, tấp nập được gợi tả qua một loạt những câu thơ tiếp, hình ảnh người người đông đúc trong một không khí tưng bừng náo nức đã khẳng định một sức sống mạnh mẽ của quê hương Kinh Bắc. Tình yêu quê hương Kinh Bắc tràn đầy trong những vần thơ. Trong hoài niệm của Hoàng Cầm về con người Kinh Bắc có hình ảnh người mẹ:

Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong
Dăm miếng cau khô
Mấy lọ phẩm hồng
Vài thếp giấy đầm hoen sương sớm

Những câu thơ đậm màu sắc tả thực. Từ láy “còm cõi” đã diễn tả rất tinh tế vóc dáng khổ hạnh của người mẹ đồng thời chỉ rõ những vất vả, nhọc nhằn, lo toan mà người mẹ phải chịu đựng, trong lòng người đọc như dâng lên sự cảm thương sâu sắc. Gian hàng của người mẹ chẳng có gì, dăm miếng cau khô, mấy lọ phẩm hồng, vài thếp giấy đã hoen vàng. Các từ “dăm”, “vài” là các từ chỉ số nhiều nhưng trong cảm nhận của người đọc, người ta ngỡ như chỉ những thứ hàng hoá ít ỏi, sơ sài của người mẹ, chữ “hoen” được sử dụng rất hay, “hoen” không chỉ là sương thấm vào giấy mà như thấm cả giọt nước mắt, mồ hôi của mẹ. Đi liền với hình ảnh người mẹ là tội ác của kẻ thù:

Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn
Khua giầy đinh đạp gãy quán gầy teo
Xì xồ cướp bóc
Tan phiên chợ nghèo

Tác giả gọi kẻ thù là “lũ quỷ mắt xanh” – một hình ảnh ẩn dụ chỉ tội ác tàn bạo và dã man của kẻ thù, từ láy “trừng trợn” không chỉ gợi dáng vẻ nạt nộ, doạ dẫm của kẻ thù mà con góp phần lột tả sống động chân dung của kẻ khát máu, quân cướp bóc. Không những thế, chữ “chợt” chỉ gót giày quân xâm lược đột ngột, bất ngờ, không gian thanh bình bỗng chốc bị phá vỡ. Tác giả sử dụng những từ mạnh mang sắc thái biểu cảm cao “khua” “đạp”, “xì xồ”, “tan”, “gầy teo” diễn tả những hành động dã man liên tiếp của kẻ thù những tội ác chồng chất. Hình ảnh con người hàng xóm, quê hương như bị thu hẹp lai dưới gót giày tàn bạo của quân xâm lược. Qua đó ta thấy tội ác kẻ thù càng tăng, niềm căm thù càng trở nên mạnh mẽ, nỗi đau càng trở nên sâu thẳm. Tột cùng nỗi đau thương trong tâm hồn thi sĩ được đúc kết, gửi gắm qua hai câu thơ lục bát đầy xúc động:

Lá đa lác đác trước lều
Vài ba vét máu loang chiều mùa đông

Không gian hoang sơ hiu quạnh được gọi tả với vài chiếc lá đa thưa thớt, một chiều mùa đông nhuộm đỏ: đỏ của mầu máu, đỏ của ráng chiều. Câu thơ có khả năng gây ấn tượng cực mạnh đối với người đọc. Câu lá đa lác đác trước lều” gợi âm điệu buồn tẻ, rời rạc, điểm nhịp cho không gian vắng vẻ, thưa thớt, hiu quạnh của làng quê Việt Nam trong những ngày tháng kẻ tù xâm lược các từ “vài ba”, loang được sử dụng rất đắt giúp người đọc cảm nhận được từng vết máu đan...

29 tháng 1

Câu 1 (khoảng 200 chữ) Suy nghĩ về vấn đề con người nên biết yêu thương vạn vật.



Trong cuộc sống, con người không tồn tại một cách đơn lẻ mà luôn gắn bó mật thiết với thiên nhiên, muôn loài và môi trường xung quanh. Vì thế, yêu thương vạn vật không chỉ là một phẩm chất đạo đức tốt đẹp mà còn là trách nhiệm của mỗi con người. Khi biết yêu thương cây cỏ, động vật và thiên nhiên, con người học được cách sống nhân ái, bao dung và hài hòa hơn với thế giới. Yêu thương vạn vật giúp con người trân trọng sự sống, hiểu rằng mỗi sinh linh đều có giá trị riêng. Một hành động nhỏ như không xả rác bừa bãi, bảo vệ động vật hay tiết kiệm tài nguyên cũng thể hiện tình yêu với vạn vật. Ngược lại, nếu con người sống ích kỉ, tàn phá thiên nhiên, ngược đãi động vật thì cuối cùng chính con người sẽ phải gánh chịu hậu quả từ ô nhiễm môi trường, thiên tai hay dịch bệnh. Trong xã hội hiện đại, việc giáo dục ý thức yêu thương vạn vật càng trở nên cần thiết. Khi con người biết sống chan hòa với thiên nhiên, thế giới sẽ trở nên tốt đẹp hơn, bền vững hơn. Yêu thương vạn vật cũng chính là yêu thương cuộc sống và tương lai của chính mình.





Câu 2 (khoảng 600 chữ) Phân tích đoạn thơ “Bên kia sông Đuống” để thấy sự biến đổi của quê hương trước và sau chiến tranh Hoàng Cầm là nhà thơ gắn bó sâu nặng với quê hương Kinh Bắc, nơi lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống lâu đời.



Trong dòng chảy của thơ ca kháng chiến, Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm là khúc bi ca thấm đẫm nỗi đau và tình yêu quê hương da diết. Đoạn thơ đã khắc họa rõ nét sự biến đổi đầy xót xa của quê hương Kinh Bắc từ một miền đất thanh bình, giàu bản sắc văn hóa sang cảnh điêu tàn, đổ nát bởi chiến tranh, qua đó thể hiện sâu sắc tấm lòng yêu nước và nỗi căm thù giặc cháy bỏng của nhà thơ.


Trước khi chiến tranh ập đến, quê hương hiện lên với vẻ đẹp yên bình, trù phú và đậm đà hồn dân tộc. “Quê hương ta lúa nếp thơm nồng” – hình ảnh lúa nếp không chỉ gợi sự no đủ, ấm êm mà còn mang hương vị thân thương của làng quê Bắc Bộ. Cùng với đó, “Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong” đã gợi lên một không gian văn hóa truyền thống đặc sắc, nơi nghệ thuật dân gian gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của người dân. Những “màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” không chỉ là sắc màu của tranh vẽ mà còn là biểu tượng cho sức sống bền bỉ, cho vẻ đẹp thuần khiết, lạc quan của con người Kinh Bắc. Quê hương trong ký ức nhà thơ là một miền đất đẹp đẽ, yên vui, nơi con người sống chan hòa với thiên nhiên và gìn giữ trọn vẹn những giá trị văn hóa lâu đời.


Thế nhưng, chiến tranh đã tàn nhẫn phá vỡ tất cả. “Quê hương ta từ ngày khủng khiếp / Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn” – hai câu thơ như một nhát cắt dữ dội, đánh dấu bước ngoặt bi thương của số phận quê hương. Hàng loạt hình ảnh đau xót hiện ra: “ruộng ta khô”, “nhà ta cháy”, “chó ngộ một đàn”, “lưỡi dài lê sắc máu”. Những hình ảnh ấy không chỉ phản ánh hiện thực tang thương mà còn cho thấy sự hủy diệt toàn diện của chiến tranh: từ con người đến cảnh vật, từ sự sống đến niềm vui đều bị vùi dập không thương tiếc. Giọng thơ dồn dập, từ ngữ mạnh mẽ đã khắc họa rõ nét bộ mặt tàn bạo của kẻ thù và nỗi đau tột cùng của quê hương bị giày xéo.

Đau đớn hơn cả là chiến tranh không chỉ cướp đi cuộc sống yên bình mà còn làm tan vỡ những giá trị tinh thần thiêng liêng. Những hình ảnh văn hóa dân gian quen thuộc như tranh Đông Hồ, “đám cưới chuột” – biểu tượng cho đời sống vui tươi, no đủ – giờ đây chỉ còn là hoài niệm. Sự đối lập gay gắt giữa quá khứ tươi đẹp và hiện tại đau thương đã làm nổi bật nỗi tiếc nuối, xót xa khôn nguôi của nhà thơ trước sự mất mát không gì bù đắp nổi của quê hương.


Qua đoạn thơ, Hoàng Cầm không chỉ tái hiện chân thực hiện thực khốc liệt của chiến tranh mà còn gửi gắm tình yêu quê hương sâu nặng, niềm đau thương và lòng căm thù giặc sâu sắc. Tác phẩm đồng thời thức tỉnh trong lòng người đọc ý thức trân trọng hòa bình, gìn giữ những giá trị văn hóa dân tộc và trách nhiệm bảo vệ quê hương, đất nước – bởi đó là những điều thiêng liêng không gì có thể thay thế.

câu 1:

Yêu thương vạn vật là một phẩm chất đẹp thể hiện chiều sâu nhân cách của con người. Con người không tồn tại tách biệt mà sống trong mối quan hệ gắn bó mật thiết với thiên nhiên, muôn loài và cả những điều tưởng như nhỏ bé quanh mình. Khi biết yêu thương vạn vật, con người học được cách sống nhân ái, bao dung và tôn trọng sự sống. Một cái cây được chăm sóc, một con vật được bảo vệ hay một môi trường được giữ gìn đều góp phần tạo nên sự hài hòa cho cuộc sống chung. Ngược lại, sự vô cảm và tàn phá sẽ dẫn đến những hậu quả nặng nề như ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, sự tuyệt chủng của nhiều loài sinh vật, và cuối cùng chính con người là người gánh chịu. Yêu thương vạn vật không phải là điều gì lớn lao, mà bắt đầu từ những hành động nhỏ: không xả rác bừa bãi, đối xử nhân hậu với động vật, trân trọng từng sự sống quanh ta. Khi con người biết mở rộng tình yêu thương đến vạn vật, cuộc sống sẽ trở nên tốt đẹp hơn, bền vững hơn và con người cũng tìm thấy sự bình yên trong tâm hồn mình.

câu 2:

Trong dòng chảy của thơ ca kháng chiến, Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm là khúc bi ca thấm đẫm nỗi đau và tình yêu quê hương da diết. Đoạn thơ đã khắc họa rõ nét sự biến đổi đầy xót xa của quê hương Kinh Bắc từ một miền đất thanh bình, giàu bản sắc văn hóa sang cảnh điêu tàn, đổ nát bởi chiến tranh, qua đó thể hiện sâu sắc tấm lòng yêu nước và nỗi căm thù giặc cháy bỏng của nhà thơ.


Trước khi chiến tranh ập đến, quê hương hiện lên với vẻ đẹp yên bình, trù phú và đậm đà hồn dân tộc. “Quê hương ta lúa nếp thơm nồng” – hình ảnh lúa nếp không chỉ gợi sự no đủ, ấm êm mà còn mang hương vị thân thương của làng quê Bắc Bộ. Cùng với đó, “Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong” đã gợi lên một không gian văn hóa truyền thống đặc sắc, nơi nghệ thuật dân gian gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của người dân. Những “màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” không chỉ là sắc màu của tranh vẽ mà còn là biểu tượng cho sức sống bền bỉ, cho vẻ đẹp thuần khiết, lạc quan của con người Kinh Bắc. Quê hương trong ký ức nhà thơ là một miền đất đẹp đẽ, yên vui, nơi con người sống chan hòa với thiên nhiên và gìn giữ trọn vẹn những giá trị văn hóa lâu đời.


Thế nhưng, chiến tranh đã tàn nhẫn phá vỡ tất cả. “Quê hương ta từ ngày khủng khiếp / Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn” – hai câu thơ như một nhát cắt dữ dội, đánh dấu bước ngoặt bi thương của số phận quê hương. Hàng loạt hình ảnh đau xót hiện ra: “ruộng ta khô”, “nhà ta cháy”, “chó ngộ một đàn”, “lưỡi dài lê sắc máu”. Những hình ảnh ấy không chỉ phản ánh hiện thực tang thương mà còn cho thấy sự hủy diệt toàn diện của chiến tranh: từ con người đến cảnh vật, từ sự sống đến niềm vui đều bị vùi dập không thương tiếc. Giọng thơ dồn dập, từ ngữ mạnh mẽ đã khắc họa rõ nét bộ mặt tàn bạo của kẻ thù và nỗi đau tột cùng của quê hương bị giày xéo.


Đau đớn hơn cả là chiến tranh không chỉ cướp đi cuộc sống yên bình mà còn làm tan vỡ những giá trị tinh thần thiêng liêng. Những hình ảnh văn hóa dân gian quen thuộc như tranh Đông Hồ, “đám cưới chuột” – biểu tượng cho đời sống vui tươi, no đủ – giờ đây chỉ còn là hoài niệm. Sự đối lập gay gắt giữa quá khứ tươi đẹp và hiện tại đau thương đã làm nổi bật nỗi tiếc nuối, xót xa khôn nguôi của nhà thơ trước sự mất mát không gì bù đắp nổi của quê hương.


Qua đoạn thơ, Hoàng Cầm không chỉ tái hiện chân thực hiện thực khốc liệt của chiến tranh mà còn gửi gắm tình yêu quê hương sâu nặng, niềm đau thương và lòng căm thù giặc sâu sắc. Tác phẩm đồng thời thức tỉnh trong lòng người đọc ý thức trân trọng hòa bình, gìn giữ những giá trị văn hóa dân tộc và trách nhiệm bảo vệ quê hương, đất nước – bởi đó là những điều thiêng liêng không gì có thể thay thế.


20 tháng 1


Câu 1

Con người nên biết yêu thương vạn vật bởi đó là cách để gìn giữ sự hài hòa và bền vững của thế giới. Thiên nhiên và muôn loài không chỉ cung cấp môi trường sống mà còn là nguồn nuôi dưỡng tâm hồn con người qua bao thế hệ. Khi biết yêu thương vạn vật, con người sẽ sống chậm lại, suy nghĩ thấu đáo hơn trước mỗi hành động, từ đó hạn chế những tổn thương vô tình gây ra cho môi trường và cho các sự sống xung quanh. Thực tế cho thấy, sự thờ ơ và ích kỉ của con người đã dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng như ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của chính con người. Yêu thương vạn vật còn thể hiện nhân cách cao đẹp, lòng nhân ái và ý thức trách nhiệm của con người đối với thế giới mình đang sống. Điều đó không nhất thiết phải bắt đầu từ những hành động lớn lao mà xuất phát từ những việc làm giản dị hằng ngày như bảo vệ cây xanh, giữ gìn môi trường sống, đối xử nhân hậu với động vật và tôn trọng thiên nhiên. Khi con người biết yêu thương vạn vật, thế giới sẽ trở nên cân bằng hơn, cuộc sống cũng vì thế mà an lành và đáng trân trọng hơn.

Câu 2

Trong nền thơ ca kháng chiến chống thực dân Pháp, Hoàng Cầm là nhà thơ tiêu biểu với hồn thơ đậm chất trữ tình và gắn bó sâu nặng với quê hương Kinh Bắc. Bài thơ Bên kia sông Đuống được sáng tác trong hoàn cảnh quê hương bị giặc tàn phá, là tiếng khóc đau xót xen lẫn niềm yêu thương da diết của nhà thơ. Đoạn thơ trên đã khắc họa rõ nét sự biến đổi sâu sắc của quê hương trước và sau chiến tranh

Trước khi chiến tranh xảy ra, quê hương bên kia sông Đuống hiện lên với vẻ đẹp thanh bình, trù phú và giàu bản sắc văn hóa dân tộc. Những hình ảnh “lúa nếp thơm nồng” gợi nên cuộc sống no đủ, ấm áp của người dân làng quê. Bên cạnh đó, hình ảnh “tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong”, “màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” đã làm nổi bật vẻ đẹp của nghệ thuật dân gian truyền thống, phản ánh đời sống tinh thần phong phú và niềm vui lao động bình dị của nhân dân. Quê hương không chỉ là không gian sinh tồn mà còn là nơi lưu giữ hồn cốt văn hóa dân tộc, mang vẻ đẹp yên ả và bền vững.

Thế nhưng, chiến tranh đã ập đến và phá vỡ hoàn toàn bức tranh yên bình ấy. Cụm từ “từ ngày khủng khiếp” như một ranh giới đau đớn, chia cắt quá khứ êm đềm với hiện tại tang thương. Hình ảnh giặc kéo lên được khắc họa bằng những từ ngữ dữ dội: “ngùn ngụt lửa hung tàn”, “ruộng ta khô”, “nhà ta cháy”, cho thấy sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh đối với quê hương. Không chỉ cảnh vật bị hủy diệt, mà cả đời sống con người cũng rơi vào cảnh chia lìa, tan tác. Những hình ảnh vốn gắn với sự sung túc, vui tươi như đàn lợn, tranh Đông Hồ nay trở thành biểu tượng của đau thương và mất mát. Câu hỏi tu từ “Bây giờ tan tác về đâu?” vang lên đầy xót xa, thể hiện nỗi đau đến tột cùng của nhà thơ trước số phận quê hương bị chiến tranh chà đạp.

Thông qua sự đối lập rõ nét giữa quê hương trước và sau chiến tranh, Hoàng Cầm đã tố cáo mạnh mẽ tội ác tàn bạo của chiến tranh xâm lược, đồng thời bộc lộ tình yêu quê hương tha thiết và niềm xót thương sâu sắc đối với con người, đất nước Việt Nam. Đoạn thơ không chỉ là bức tranh hiện thực đau thương mà còn là tiếng lòng chân thành của một người con luôn hướng về quê hương bằng tất cả yêu thương và day dứt.


Câu 1

Bài làm

Trong cuộc sống, con người cần biết yêu thương vạn vật bởi tất cả đều có mối liên hệ mật thiết với nhau. Yêu thương con người giúp xã hội trở nên nhân ái, đoàn kết và tốt đẹp hơn; còn yêu thương thiên nhiên, muôn loài chính là cách con người bảo vệ môi trường sống của chính mình. Khi biết yêu thương, ta sẽ biết sẻ chia, cảm thông và sống có trách nhiệm hơn với những gì xung quanh. Ngược lại, sự thờ ơ, vô cảm chỉ khiến con người trở nên ích kỉ, làm tổn thương người khác và hủy hoại thế giới chung. Yêu thương vạn vật không phải là điều gì quá lớn lao, mà bắt đầu từ những hành động nhỏ bé: không làm hại động vật, giữ gìn môi trường xanh – sạch – đẹp, giúp đỡ người gặp khó khăn. Khi con người sống bằng tình yêu thương, cuộc sống sẽ trở nên ấm áp hơn, ý nghĩa hơn. Chính vì vậy, yêu thương vạn vật là phẩm chất cần thiết để mỗi người hoàn thiện nhân cách và góp phần xây dựng một xã hội nhân văn.

Câu 2

Bài làm

Bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm là tiếng lòng tha thiết, đau xót của nhà thơ trước cảnh quê hương Kinh Bắc bị chiến tranh tàn phá. Qua đoạn thơ được trích, người đọc cảm nhận rõ sự đối lập sâu sắc giữa hình ảnh quê hương thanh bình, giàu bản sắc văn hóa trước chiến tranh và quê hương tan hoang, đẫm máu sau khi giặc tràn tới. Chính sự đối lập ấy đã làm nổi bật giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc của đoạn thơ.

Trước hết, ở những câu thơ đầu, Hoàng Cầm đã khắc họa một quê hương Kinh Bắc tươi đẹp, trù phú và đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. “Quê hương ta lúa nếp thơm nồng” gợi lên một vùng quê yên bình, ấm no với hương lúa chín quen thuộc, gắn bó với đời sống người dân. Không chỉ giàu có về vật chất, quê hương ấy còn mang vẻ đẹp tinh thần qua hình ảnh “Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong / Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”. Tranh Đông Hồ – biểu tượng văn hóa dân gian – hiện lên với những gam màu tươi sáng, mộc mạc, thể hiện niềm vui sống, ước vọng hạnh phúc của người dân quê. Qua đó, quê hương trước chiến tranh hiện lên như một bức tranh thanh bình, giàu truyền thống, chan chứa hơi thở cuộc sống và niềm tự hào dân tộc.

Tuy nhiên, bức tranh êm đềm ấy nhanh chóng bị phá vỡ khi chiến tranh ập đến. Hoàng Cầm đã tái hiện một quê hương đau thương, tang tóc bằng những hình ảnh dữ dội, ám ảnh: “Quê hương ta từ ngày khủng khiếp / Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn”. Từ “khủng khiếp” cùng hình ảnh “lửa hung tàn” đã diễn tả sự tàn bạo, dã man của chiến tranh, biến làng quê yên bình thành địa ngục trần gian. Ruộng đồng khô cháy, nhà cửa bị thiêu rụi: “Ruộng ta khô / Nhà ta cháy” – những câu thơ ngắn, dồn dập như nhịp thở nghẹn ngào, đau đớn của nhà thơ trước mất mát quá lớn lao.

không chỉ thiên nhiên và nhà cửa bị hủy hoại, con người quê hương cũng phải chịu nỗi đau tột cùng. Hình ảnh “Chó ngộ một đàn / Lưỡi dài lê sắc máu” gợi lên cảnh tượng rùng rợn, ghê sợ, cho thấy sự tàn khốc của chiến tranh đã đẩy con người vào bi kịch không lối thoát. Đặc biệt, hình ảnh “Mẹ con đàn lợn âm dương” mang giá trị biểu tượng sâu sắc: đó không chỉ là đàn lợn trong tranh dân gian mà còn là biểu tượng cho sự chia lìa, mất mát sinh tử, cho những gia đình tan nát vì bom đạn. Quê hương sau chiến tranh hiện lên hoang tàn, chết chóc, phủ đầy đau thương và nước mắt.

Qua đoạn thơ, Hoàng Cầm đã làm nổi bật sự biến đổi đau xót của quê hương từ thanh bình, giàu đẹp sang hoang tàn, đổ nát bởi chiến tranh. Đằng sau những vần thơ là nỗi xót xa, căm phẫn trước tội ác của kẻ thù và tình yêu quê hương sâu nặng của nhà thơ. Bên kia sông Đuống không chỉ là tiếng khóc cho quê hương bị tàn phá mà còn là lời nhắc nhở về giá trị của hòa bình, về trách nhiệm bảo vệ những gì thiêng liêng nhất của dân tộc.

20 tháng 1

câu1: Con người sống không tách rời khỏi thiên nhiên và muôn loài, vì vậy yêu thương vạn vật chính là một biểu hiện cao đẹp của nhân cách con người. Vạn vật quanh ta, từ cỏ cây, hoa lá đến chim muông, thú vật, đều góp phần tạo nên sự sống và cân bằng cho thế giới. Khi biết yêu thương vạn vật, con người sẽ sống nhân ái hơn, biết trân trọng những điều nhỏ bé và mong manh trong cuộc đời. Ngược lại, sự vô cảm, tàn nhẫn với thiên nhiên và muôn loài sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như môi trường bị hủy hoại, sự sống bị đe dọa và chính con người cũng phải gánh chịu những tổn thương lâu dài. Yêu thương vạn vật không phải là điều gì lớn lao mà bắt đầu từ những hành động nhỏ: không xả rác bừa bãi, bảo vệ cây xanh, không hành hạ động vật, sống hòa hợp với thiên nhiên. Khi con người biết yêu thương vạn vật, cuộc sống sẽ trở nên trong lành hơn, nhân văn hơn và thế giới này cũng vì thế mà bền vững hơn.

câu 2:

Trong nền thơ ca kháng chiến Việt Nam, “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm là một tiếng khóc xót xa cho quê hương Kinh Bắc bị chiến tranh tàn phá. Đoạn thơ đã khắc họa sâu sắc sự biến đổi đau đớn của quê hương trước và sau khi chiến tranh xảy ra, qua đó thể hiện tình yêu quê hương tha thiết và nỗi căm phẫn giặc xâm lược của nhà thơ.


Trước chiến tranh, quê hương hiện lên với vẻ đẹp trù phú, yên bình và đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Đó là “lúa nếp thơm nồng”, là “tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong”, là “màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”. Những hình ảnh ấy gợi nên một vùng quê giàu truyền thống, no ấm, thanh bình, nơi con người sống chan hòa với thiên nhiên và gìn giữ những giá trị văn hóa lâu đời. Quê hương trước chiến tranh là biểu tượng của sự sống, của niềm vui và hạnh phúc giản dị.


Nhưng khi chiến tranh ập đến, tất cả đã đổi thay một cách khốc liệt. “Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn”, hình ảnh giặc được khắc họa dữ dội, tàn bạo. Quê hương bị tàn phá nặng nề: “Ruộng ta khô / Nhà ta cháy”, sự sống bị hủy diệt, cuộc sống nhân dân lâm vào cảnh điêu tàn. Những hình ảnh như “chó ngộ một đàn”, “lưỡi dài lê sắc máu” gợi lên cảnh giết chóc, tang thương và nỗi đau đến ám ảnh. Không chỉ thiên nhiên, nhà cửa bị phá hủy mà cả tình người, hạnh phúc cũng tan nát: “Mẹ con đàn lợn âm dương / Chia lìa trăm ngả”. Chiến tranh đã cướp đi sự yên bình, chia cắt con người, để lại nỗi đau dai dẳng cho quê hương.


Đặc biệt, câu hỏi đầy day dứt “Bây giờ tan tác về đâu?” như một tiếng kêu xé lòng, thể hiện nỗi đau, sự mất mát và niềm xót xa vô hạn của tác giả trước cảnh quê hương bị tàn phá. Qua đó, người đọc cảm nhận được tình yêu quê hương sâu nặng và lòng căm thù giặc của nhà thơ.


Như vậy, đoạn thơ “Bên kia sông Đuống” đã làm nổi bật sự đối lập giữa quê hương thanh bình trước chiến tranh và quê hương đau thương sau chiến tranh. Tác phẩm không chỉ là tiếng khóc cho quê hương mà còn là lời tố cáo chiến tranh phi nghĩa, đồng thời khẳng định tình yêu quê hương sâu sắc của con người Việt Nam trong những năm tháng gian khổ.



Câu 1

Việc con người biết yêu thương vạn vật là một điều cần thiết và mang lại nhiều ý nghĩa to lớn. Tình yêu thương này không chỉ thể hiện sự đồng cảm, lòng nhân ái mà còn là nền tảng để duy trì sự cân bằng và phát triển bền vững của hệ sinh thái. Mỗi sinh vật, dù nhỏ bé đến đâu, đều có vai trò riêng trong tự nhiên. Khi biết yêu thương và bảo vệ vạn vật, con người sẽ sống có trách nhiệm hơn, biết trân trọng sự sống và vẻ đẹp của thế giới xung quanh. Điều này giúp làm giàu đời sống tâm hồn, hướng con người đến những giá trị sống tích cực, tốt đẹp hơn. Ngược lại, sự thờ ơ, vô tâm hoặc tàn phá môi trường, hủy hoại sự sống sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường cho chính con người và tương lai của trái đất. Vì vậy, mỗi cá nhân cần nhận thức rõ tầm quan trọng của việc này, từ những hành động nhỏ nhất như không xả rác bừa bãi, bảo vệ cây xanh, động vật hoang dã, để góp phần xây dựng một thế giới hài hòa, bền vững và đầy tình yêu thương.

Câu 2

Nhà thơ Hoàng Cầm sinh ra ở Bắc Ninh – quê hương quan họ với những làn điệu dân ca ngọt ngào đằm thắm chính là suối nguồn nuôi dưỡng tâm hồn thơ ca của ông. Mảnh đất Kinh Bắc đã gợi thương gợi nhớ cho Hoàng Cầm, nó giống như một ám ảnh nghệ thuật trong thơ ông.

Đoạn thứ nhất cấu trúc tương phản giữa xa xưa thanh bình với hiện tại tang tóc, điêu tàn. Các câu thơ "Bên kia sông Đuống" và "Ai về bên kia sông Đuống" nối tiếp nhau xuất hiện, diễn tả hình bóng quê hương hiện lên như những đợt sóng vỗ vào lòng đứa con xa quê bao nỗi nhớ thương và căm giận. Một tình quê vơi đầy trong nỗi nhớ,Càng nhớ tiếc về Kinh Bắc bao nhiêu thì mảnh đất ấy lại hiện rõ trong trí nhớ nhà thơ bấy nhiêu:

“Bên kia sông Đuống

Quê hương ta lúa nếp thơm nồng

Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong

Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”

Tranh Đông Hồ là loại tranh dân gian được vẽ trên giấy điệp hay còn gọi là giấy gió. Nó thể hiện nét văn hóa truyền thống của đất nước. Nội dung của những bức tranh thường là các phong tục tập quán của làng quê hay là những nét vẽ về con người, con vật, về đám cưới chuột, … Màu sắc trong tranh tươi tắn khiến bức tranh trở nên sinh động, có hồn. “Màu dân tộc” trên tranh Đông Hồ chính là linh hồn, là cốt cách dân tộc Việt Nam. Quê hương ấy còn có hương thơm nồng của lúa nếp mùa bội thu.

Nhưng chiến tranh đã cướp đi tất cả:

“Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

Ruộng ta khô

Nhà ta cháy

Chó ngộ một đàn

Lưỡi dài lê sắc máu

Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang

Mẹ con đàn lợn âm dương

Chia lìa trăm ngả

Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã

Bây giờ tan tác về đâu”?

Từ láy “ngùn ngụt” không chỉ miêu tả ngọn lửa hung tàn của địch mà nó còn biểu hiện ý chí căm thù ngùn ngụt, sục sôi trong mỗi người con yêu nước. Quân ngoại xâm đã thiêu cháy hết những mái nhà êm ấm khiến vạn vật tan tác, chia lìa. Những hình ảnh “đám cưới chuột, đàn lợn” đều là những hình ảnh đặc trưng, tiêu biểu của dòng tranh Đông Hồ, thể hiện cuộc sống bình dị, yên ấm của con người, thể hiện nét đẹp văn hóa Việt Nam…. giờ đây bị hủy diệt trước thảm họa xâm lăng.

Qua bài thơ “Bên kia sông Đuống”, Hoàng Cầm đã thể hiện một tấm lòng tha thiết với quê hương đất nước. Tình càm dạt đào ấy hóa thân vào những dòng cảm xúc và tâm trạng đan xen nhau không ngớt: khi tự hào khi về truyền thống, hình ảnh quê hương, khi uất nghẹn, căm hờn trước sự tàn phá của quân giặc. Đọc “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm, cảm xúc của người đọc cũng dặt dìu đồng cảm với nhà thơ. Gấp lại trang thơ, lòng ta cũng chợt “nghiêng nghiêng” về một miền “Bên kia sông Đuống” của riêng mình.

20 tháng 1

câu 1Trong cuộc sống, yêu thương vạn vật là một biểu hiện cao đẹp của nhân cách con người. Vạn vật quanh ta – từ con người, cây cối đến muôn loài – đều là những phần không thể tách rời của thế giới tự nhiên. Khi con người biết yêu thương vạn vật, ta không chỉ biết trân trọng sự sống mà còn học được cách sống nhân ái, bao dung hơn. Yêu thương con người giúp xã hội trở nên gắn kết, giảm bớt ích kỉ và vô cảm. Yêu thương thiên nhiên giúp chúng ta có ý thức bảo vệ môi trường, giữ gìn trái đất – ngôi nhà chung của nhân loại. Ngược lại, nếu con người chỉ sống vì bản thân, tàn phá thiên nhiên và thờ ơ với nỗi đau của người khác, hậu quả để lại sẽ vô cùng nghiêm trọng. Thực tế đã cho thấy nhiều thảm họa môi trường và những bi kịch xã hội bắt nguồn từ sự vô tâm của con người. Vì vậy, mỗi người cần học cách yêu thương từ những điều nhỏ bé nhất: một lời nói tử tế, một hành động bảo vệ môi trường hay sự cảm thông với người xung quanh. Khi yêu thương vạn vật, cuộc sống sẽ trở nên ý nghĩa và tốt đẹp hơn.

câu 2 benkia sông Đuống” là một trong những tác phẩm tiêu biểu của Hoàng Cầm, thể hiện sâu sắc nỗi đau xót và tình yêu tha thiết của nhà thơ đối với quê hương Kinh Bắc. Qua đoạn thơ, tác giả đã làm nổi bật sự biến đổi đau lòng của quê hương trước và sau chiến tranh, từ yên bình, trù phú sang hoang tàn, đổ nát.


Trước hết, quê hương hiện lên trong hồi ức của nhà thơ với vẻ đẹp thanh bình, giàu bản sắc văn hóa dân tộc. Những hình ảnh như “lúa nếp thơm nồng”, “tranh Đông Hồ”, “màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” gợi ra một vùng quê trù phú, ấm no và đậm đà truyền thống. Đó là quê hương của đời sống lao động yên bình, của nghệ thuật dân gian đặc sắc, của những giá trị văn hóa được gìn giữ qua bao thế hệ. Giọng thơ nhẹ nhàng, tha thiết cho thấy niềm tự hào và tình yêu sâu nặng của tác giả đối với mảnh đất nơi mình sinh ra.


Tuy nhiên, chiến tranh đã ập đến và tàn phá tất cả. Quê hương từ yên vui bỗng trở nên tang thương, khốc liệt. Những câu thơ “giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn”, “ruộng ta khô”, “nhà ta cháy” đã khắc họa rõ nét sự tàn bạo của chiến tranh. Không chỉ phá hủy cảnh vật, chiến tranh còn gieo rắc đau thương lên cuộc sống con người. Hình ảnh “chó ngộ một đàn”, “lưỡi dài lê sắc máu” mang ý nghĩa tố cáo sâu sắc tội ác dã man của kẻ thù. Đó là sự hủy diệt cả về vật chất lẫn tinh thần, khiến quê hương rơi vào cảnh điêu tàn.


Đặc biệt, nỗi đau của chiến tranh còn được thể hiện qua số phận con người. “Mẹ con đàn lợn âm dương / Chia lìa trăm ngả” gợi lên cảnh chia cắt, tan tác, mất mát không gì bù đắp được. Những hình ảnh tưởng chừng rất đời thường lại mang sức ám ảnh lớn, phản ánh bi kịch của người dân vô tội trong chiến tranh. Câu hỏi tu từ “Bây giờ tan tác về đâu?” vang lên như một tiếng kêu xé lòng, thể hiện nỗi đau, sự bơ vơ và mất mát của quê hương cũng như của chính tác giả.


Qua đoạn thơ, Hoàng Cầm đã cho người đọc thấy sự đối lập rõ rệt giữa quê hương trước chiến tranh và sau chiến tranh. Nếu trước kia là một miền quê thanh bình, giàu đẹp và đậm bản sắc văn hóa thì sau chiến tranh chỉ còn lại hoang tàn, đổ nát và đau thương. Bằng giọng thơ trữ tình xen lẫn bi phẫn, tác giả không chỉ bày tỏ tình yêu quê hương sâu nặng mà còn thể hiện thái độ căm phẫn đối với chiến tranh xâm lược. Đoạn thơ vì thế mang giá trị nhân văn sâu sắc, nhắc nhở con người trân trọng hòa bình và yêu thương quê hương, đất nước.



20 tháng 1

Câu 1;Bài làm:

Trong vòng quay hối hả của cuộc sống hiện đại, đôi khi chúng ta quên mất rằng mình đang sống trong một chỉnh thể thống nhất của tự nhiên. Bởi vậy, việc biết yêu thương vạn vật không chỉ là một nét đẹp đạo đức mà còn là một lối sống tất yếu. Yêu thương vạn vật chính là sự trân trọng, nâng niu và bảo vệ mọi sự sống quanh ta, từ nhành cây, ngọn cỏ đến những loài vật bé nhỏ. Khi chúng ta mở lòng yêu thương thế giới, tâm hồn ta sẽ trở nên bao dung, thanh thản và giàu lòng trắc ẩn hơn. Đồng thời, thái độ sống này giúp tạo ra sự cân bằng sinh thái; bởi bảo vệ vạn vật cũng chính là đang bảo vệ "ngôi nhà chung" và sự sống của chính con người. Ngược lại, lối sống vô cảm, ích kỷ, tàn phá thiên nhiên chỉ vì lợi ích cá nhân sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường như thiên tai, dịch bệnh. Mỗi chúng ta không cần làm những điều quá lớn lao, chỉ cần biết xót xa trước một cái cây bị bẻ gãy hay biết bảo vệ một con vật lạc lối, đó đã là khởi đầu của một trái tim nhân hậu. Hãy nhớ rằng: “Thế giới sẽ trở nên tươi đẹp hơn khi chúng ta biết yêu thương bằng tất cả sự chân thành đối với mọi mầm sống xung quanh.”

Câu 2;Bài làm:

Hoàng Cầm là một người con ưu tú của vùng đất Kinh Bắc, hồn thơ của ông luôn thấm đẫm vẻ đẹp văn hóa dân gian và tình yêu quê hương da diết. Bài thơ "Bên kia sông Đuống" được ra đời trong nỗi xúc động nghẹn ngào khi tác giả nghe tin quê hương bị giặc tàn phá. Đặc biệt, đoạn thơ dưới đây đã khắc họa sắc nét sự biến đổi đau thương của quê hương từ một vùng đất thanh bình, rực rỡ sắc màu thành một nơi hoang tàn dưới gót giày quân xâm lược.

Mở đầu đoạn thơ, Hoàng Cầm đưa người đọc trở về với một vùng Kinh Bắc xưa kia đầy tự hào và giàu sức sống:

"Bên kia sông Đuống

Quê hương ta lúa nếp thơm nồng

Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong

Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp"

Trong ký ức của nhà thơ, quê hương hiện lên qua những tín hiệu thẩm mỹ đặc trưng nhất. Đó là hương vị "thơm nồng" của lúa nếp – biểu tượng cho sự ấm no, trù phú. Đó là thế giới nghệ thuật dân gian độc đáo với "tranh Đông Hồ gà lợn". Từ ngữ "tươi trong" và "sáng bừng" không chỉ miêu tả màu sắc rực rỡ của giấy điệp, của màu dân tộc mà còn khẳng định sức sống mãnh liệt, vẻ đẹp tâm hồn của người dân Kinh Bắc. Văn hóa và cuộc sống hòa quyện, tạo nên một bức tranh quê hương thanh bình, đáng yêu và đáng tự hào.

Thế nhưng, bức tranh ấy bỗng chốc bị xé toạc bởi hiện thực phũ phàng của chiến tranh:

"Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

Ruộng ta khô

Nhà ta cháy"

Sử dụng cụm từ "ngày khủng khiếp", tác giả đã đánh dấu một bước ngoặt đau thương. Sự biến đổi diễn ra đột ngột và tàn khốc. Nếu ở đoạn trước là "màu dân tộc sáng bừng" thì nay lại là "ngùn ngụt lửa hung tàn". Những động từ mạnh như "khô", "cháy" được đặt trong cấu trúc song hành "Ruộng ta khô / Nhà ta cháy" đã tô đậm cảnh tượng hoang tàn, đổ nát. Sự trù phú của "lúa nếp thơm nồng" giờ chỉ còn lại tro bụi và đất đai nứt nẻ. Chiến tranh không chỉ hủy diệt tài sản, cuộc sống vật chất mà còn đe dọa thiêu rụi cả những giá trị văn hóa lâu đời.

Nghệ thuật đối lập được Hoàng Cầm sử dụng cực kỳ thành công để làm bật lên nỗi đau xót. Giữa một bên là vẻ đẹp lấp lánh của truyền thống và một bên là sự tàn bạo của kẻ thù, người đọc cảm nhận được tiếng nấc nghẹn ngào của nhà thơ. Câu thơ ngắn lại, nhịp điệu dồn dập như hơi thở gấp gáp trong khói lửa, thể hiện sự căm thù giặc sâu sắc.

Tóm lại, qua đoạn thơ, ta thấy được sự biến đổi đầy bi kịch của vùng đất bên kia sông Đuống. Từ hình ảnh quê hương tươi đẹp, đậm đà bản sắc dân tộc đã trở thành một hiện thực tan tác, chia lìa. Sự đối lập ấy không chỉ thể hiện tình yêu quê hương sâu nặng của Hoàng Cầm mà còn là lời tố cáo mạnh mẽ tội ác của quân thù, đồng thời khơi dậy lòng quyết tâm bảo vệ những giá trị thiêng liêng của dân tộc.

Câu 1:

Trong cuộc sống, yêu thương vạn vật là một cách sống đẹp và cần thiết đối với mỗi con người. Vạn vật quanh ta không chỉ bao gồm con người mà còn là thiên nhiên, cỏ cây, muôn loài. Khi con người biết yêu thương vạn vật, cuộc sống sẽ trở nên hài hòa, nhân ái và bền vững hơn.Yêu thương vạn vật trước hết thể hiện ở sự tôn trọng và bảo vệ môi trường sống. Nếu con người biết giữ gìn thiên nhiên, không tàn phá rừng, không xả rác bừa bãi thì Trái Đất sẽ luôn xanh sạch, mang lại lợi ích lâu dài cho chính con người. Bên cạnh đó, yêu thương động vật cũng là biểu hiện của lòng nhân ái. Việc không ngược đãi, không săn bắt trái phép các loài vật giúp con người sống văn minh và có trách nhiệm hơn.Hơn thế nữa, yêu thương vạn vật còn giúp con người hoàn thiện nhân cách. Khi biết quan tâm đến những điều nhỏ bé xung quanh, con người sẽ sống bao dung, giàu tình cảm và biết trân trọng cuộc sống. Vì vậy, yêu thương vạn vật không chỉ là nghĩa vụ mà còn là thước đo giá trị đạo đức của mỗi con người.

Câu 2:

Hoàng Cầm là nhà thơ gắn bó sâu nặng với quê hương Kinh Bắc. Bài thơ “Bên kia sông Đuống” được sáng tác trong hoàn cảnh quê hương bị giặc tàn phá, thể hiện nỗi đau xót và tình yêu tha thiết của tác giả đối với mảnh đất nơi mình sinh ra. Qua đoạn thơ, người đọc cảm nhận rõ sự biến đổi của quê hương trước và sau chiến tranh.


Trước hết, quê hương Kinh Bắc hiện lên với vẻ đẹp yên bình, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Đó là “lúa nếp thơm nồng”, là tranh Đông Hồ với “gà lợn nét tươi trong”, là “màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”. Những hình ảnh ấy gợi lên một miền quê trù phú, thanh bình, giàu truyền thống văn hóa. Cuộc sống nơi đây giản dị mà ấm no, con người gắn bó với ruộng đồng, với những giá trị tinh thần lâu đời. Tác giả nhắc đến quê hương bằng giọng điệu trìu mến, tự hào, thể hiện tình yêu sâu sắc với nơi chôn nhau cắt rốn.Tuy nhiên, chiến tranh nổ ra đã làm quê hương đổi thay hoàn toàn. Từ “ngày khủng khiếp”, giặc kéo đến với “lửa hung tàn”, biến tất cả thành hoang tàn, đổ nát. Những hình ảnh đối lập gay gắt với quá khứ yên bình: “ruộng ta khô”, “nhà ta cháy”, “chó ngộ một đàn”, “lưỡi dài lê sắc máu”. Quê hương không chỉ bị tàn phá về vật chất mà còn bị tổn thương sâu sắc về tinh thần. Những con người hiền lành, những con vật thân thuộc cũng trở thành nạn nhân của chiến tranh tàn bạo.Nỗi đau ấy càng được khắc sâu qua hình ảnh con người ly tán: “mẹ con đàn lợn âm dương chia lìa trăm ngả”, “đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã bây giờ tan tác về đâu?”. Các hình ảnh mang tính biểu tượng cho thấy sự đổ vỡ của cuộc sống bình thường, của hạnh phúc giản đơn nơi làng quê. Câu hỏi tu từ ở cuối đoạn thơ vang lên như một tiếng kêu xót xa, thể hiện nỗi đau, sự mất mát và niềm tiếc thương vô hạn của nhà thơ trước cảnh quê hương bị chiến tranh tàn phá.


Qua đoạn thơ, Hoàng Cầm đã làm nổi bật sự biến đổi đau đớn của quê hương từ thanh bình, giàu đẹp sang hoang tàn, đổ nát. Đồng thời, tác phẩm còn thể hiện tình yêu quê hương sâu nặng, nỗi căm thù giặc và khát vọng hòa bình của tác giả cũng như của nhân dân Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh.

Câu 1

Việc con người biết yêu thương vạn vật là một điều cần thiết và mang lại nhiều ý nghĩa to lớn. Tình yêu thương này không chỉ thể hiện sự đồng cảm, lòng nhân ái mà còn là nền tảng để duy trì sự cân bằng và phát triển bền vững của hệ sinh thái. Mỗi sinh vật, dù nhỏ bé đến đâu, đều có vai trò riêng trong tự nhiên. Khi biết yêu thương và bảo vệ vạn vật, con người sẽ sống có trách nhiệm hơn, biết trân trọng sự sống và vẻ đẹp của thế giới xung quanh. Điều này giúp làm giàu đời sống tâm hồn, hướng con người đến những giá trị sống tích cực, tốt đẹp hơn. Ngược lại, sự thờ ơ, vô tâm hoặc tàn phá môi trường, hủy hoại sự sống sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường cho chính con người và tương lai của trái đất. Vì vậy, mỗi cá nhân cần nhận thức rõ tầm quan trọng của việc này, từ những hành động nhỏ nhất như không xả rác bừa bãi, bảo vệ cây xanh, động vật hoang dã, để góp phần xây dựng một thế giới hài hòa, bền vững và đầy tình yêu

Câu 2

Nhà thơ Hoàng Cầm sinh ra ở Bắc Ninh – quê hương quan họ với những làn điệu dân ca ngọt ngào đằm thắm chính là suối nguồn nuôi dưỡng tâm hồn thơ ca của ông. Mảnh đất Kinh Bắc đã gợi thương gợi nhớ cho Hoàng Cầm, nó giống như một ám ảnh nghệ thuật trong thơ ông.

Càng nhớ tiếc về Kinh Bắc bao nhiêu thì mảnh đất ấy lại hiện rõ trong trí nhớ nhà thơ bấy nhiêu:

“Bên kia sông Đuống

Quê hương ta lúa nếp thơm nồng

Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong

Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”

Tranh Đông Hồ là loại tranh dân gian được vẽ trên giấy điệp hay còn gọi là giấy gió. Nó thể hiện nét văn hóa truyền thống của đất nước. Nội dung của những bức tranh thường là các phong tục tập quán của làng quê hay là những nét vẽ về con người, con vật, về đám cưới chuột, … Màu sắc trong tranh tươi tắn khiến bức tranh trở nên sinh động, có hồn. “Màu dân tộc” trên tranh Đông Hồ chính là linh hồn, là cốt cách dân tộc Việt Nam. Quê hương ấy còn có hương thơm nồng của lúa nếp mùa bội thu.

Nhưng chiến tranh đã cướp đi tất cả:

“Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

Ruộng ta khô

Nhà ta cháy

Chó ngộ một đàn

Lưỡi dài lê sắc máu

Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang

Mẹ con đàn lợn âm dương

Chia lìa trăm ngả

Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã

Bây giờ tan tác về đâu”?

Từ láy “ngùn ngụt” không chỉ miêu tả ngọn lửa hung tàn của địch mà nó còn biểu hiện ý chí căm thù ngùn ngụt, sục sôi trong mỗi người con yêu nước. Quân ngoại xâm đã thiêu cháy hết những mái nhà êm ấm khiến vạn vật tan tác, chia lìa. Những hình ảnh “đám cưới chuột, đàn lợn” đều là những hình ảnh đặc trưng, tiêu biểu của dòng tranh Đông Hồ, thể hiện cuộc sống bình dị, yên ấm của con người, thể hiện nét đẹp văn hóa Việt Nam…. giờ đây bị hủy diệt trước thảm họa xâm lăng.

Qua bài thơ “Bên kia sông Đuống”, Hoàng Cầm đã thể hiện một tấm lòng tha thiết với quê hương đất nước. Tình càm dạt đào ấy hóa thân vào những dòng cảm xúc và tâm trạng đan xen nhau không ngớt: khi tự hào khi về truyền thống, hình ảnh quê hương, khi uất nghẹn, căm hờn trước sự tàn phá của quân giặc. Đọc “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm, cảm xúc của người đọc cũng dặt dìu đồng cảm với nhà thơ. Gấp lại trang thơ, lòng ta cũng chợt “nghiêng nghiêng” về một miền “Bên kia sông Đuống” của riêng mình.


21 tháng 1

Câu 1

Yêu thương vậy mà không chỉ là bó hẹp trong tình cảm giữa người với người, mà còn là sự trân trọng nâng niu bảo vệ muôn loài cỏ cây hoa lá và môi trường sống xung quanh. Đó là biểu hiện cao nhất của lòng nhân ái và sự thấu hiểu về mối quan hệ cộng sinh giữa con người và thiên nhiên. Khi biết yêu thương vạn vật tâm hồn con người trở nên rộng mở, thanh thản và giàu lòng trắc ẩn hơn, việc bảo vệ thiên nhiên và các loài sinh vật giúp duy trì sự cân bằng sinh thái, bảo vệ chính không gian sống của chúng ta. Mọi người biết đau trước sự tàn phá của rừng xanh, biết thương một nhánh hoa dại hay một con vật nhỏ sẽ khó có thể hành động tàn ác với đồng loại. Chúng ta cần phê phán lối sống vô cảm, ích kỷ chỉ biết khai thác hủy hoại thiên nhiên vì lợi ích cá nhân. Mỗi cá nhân cần có những hành động thiết thực như: bảo vệ môi trường, không ngược đãi ái động vật và sống hòa hợp với thiên nhiên. Sống trong đời sống cần có một tấm lòng không chỉ dành cho con người mà còn dành cho cả thế giới tươi xanh này. Yêu thương vạn vật là thước đo giá trị đạo đức và là chìa khóa để con người tìm thấy hạnh phúc đích thực hướng tới một tương lai bền vững và nhân văn.

Câu 2:

Đoạn thơ bên kia Sông đuống là một bức tranh hiện thực về sự biến đổi của quê hương trước và sau chiến tranh. Quê hương, nơi yên bình và ấm áp đã bị tàn phá và biến dạng bởi sự xâm lược của quân giặc.

Trước chiến tranh, quê hương là nơi bình yên trù phú với lúa "nếp thơm nồng", " tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi ", " màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp". Đó là một bức tranh về cuộc sống no đủ, hạnh phúc của người dân quê. Hình ảnh gà lợn nét tươi và màu dân tộc sáng bừng thể hiện sự phong phú và đa dạng của văn hóa dân tộc.

Sau chiến tranh quê hương bị tàn phá nặng nề "giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hừng tàn", " ruộng ta khô nhà ta cháy", " chó ngộ một đàn lưỡi dài lê sắc máu "thể hiện sự tàn bạo và dã man của giặc. Chiến tranh không chỉ tàn phá quê hương mà còn gây ra sự đau khổ mất mát cho người dân.

Sự chia lìa, tan tác cũng là một hậu quả của chiến tranh. " Mẹ con đàn lợn âm Dương chia lìa trăm ngả", " đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã bây giờ tan tác về đâu". Đó là một bức tranh về sự đau khổ mất mát của người dân quê. Hình ảnh âm dương chia liền thể hiện sự mất mát đau khổ của người dân khi phải chia lìa với người thân.

Đoạn thơ trên đã giúp chúng ta thấy rõ sự biến đổi của quê hương trước và sau chiến tranh. Quê Hương đã bị tàn phá, hủy diệt bởi sự xâm lược của giặc và những người dân phải chịu đựng sự đau khổ, mất mát. Đoạn thơ là một lời tố cáo chiến tranh, một lời kêu gọi hòa bình và bảo vệ quê hương.

Chúng ta cần phải nhớ rằng, quê hương là nơi chúng ta sinh ra và lớn lên, là nơi có gia đình bạn bè và những người thân yêu. Vì vậy chúng ta cần phải bảo vệ quê hương, giữ tình hòa bình và phát triển đất nước.

22 tháng 1

Câu 1

Con người nên biết yêu thương vạn vật bởi đó là nền tảng để xây dựng một cuộc sống nhân ái, bền vững và có ý nghĩa. Vạn vật trong thế giới tự nhiên, từ con người, cây cỏ đến muôn loài, đều tồn tại trong mối quan hệ gắn bó, nương tựa lẫn nhau. Khi con người biết yêu thương thiên nhiên, chúng ta sẽ trân trọng môi trường sống, biết bảo vệ cây xanh, nguồn nước và các loài sinh vật, từ đó giữ gìn sự cân bằng của cuộc sống. Yêu thương con người giúp ta sống bao dung, biết chia sẻ, cảm thông và sẵn sàng giúp đỡ người khác khi họ gặp khó khăn. Trong một xã hội mà con người chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân, sự vô cảm sẽ khiến các mối quan hệ trở nên lạnh lùng và rạn nứt. Ngược lại, lòng yêu thương sẽ kết nối con người lại với nhau, tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn. Hơn nữa, khi biết yêu thương vạn vật, con người cũng sẽ tìm thấy sự bình yên trong tâm hồn và nhận ra giá trị đích thực của cuộc sống. Vì vậy, yêu thương vạn vật không chỉ là một phẩm chất đạo đức cần có mà còn là cách để con người sống đẹp và sống có trách nhiệm hơn với thế giới xung quanh.

câu 2.

Trong dòng chảy của thơ ca kháng chiến, Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm là tiếng nói đầy ám ảnh về một quê hương Kinh Bắc vừa đẹp đẽ, trù phú, vừa đau thương, tang tóc dưới tàn phá của chiến tranh. Qua đoạn thơ, tác giả đã làm nổi bật sự biến đổi sâu sắc của quê hương trước và sau chiến tranh, từ đó thể hiện nỗi xót xa, căm phẫn và tình yêu quê hương tha thiết.

Trước hết, quê hương hiện lên trong ký ức nhà thơ với vẻ đẹp thanh bình, giàu bản sắc văn hóa dân tộc. Đó là vùng đất “lúa nếp thơm nồng”, nơi cuộc sống no đủ, yên ả, gắn bó mật thiết với thiên nhiên và lao động. Hình ảnh “tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi” không chỉ gợi lên sinh hoạt văn hóa quen thuộc mà còn tượng trưng cho sự hồn hậu, trong sáng của con người nơi đây. Màu sắc “sáng bừng trên giấy” cho thấy một quê hương tràn đầy sức sống, niềm vui và vẻ đẹp truyền thống được gìn giữ qua bao đời. Quê hương trước chiến tranh là miền ký ức êm đềm, là điểm tựa tinh thần thiêng liêng trong tâm hồn người con xa xứ.

Thế nhưng, chiến tranh ập đến đã phá vỡ tất cả sự yên bình ấy. Quê hương “từ ngày khủng khiếp” khi giặc kéo đến “ngùn ngụt lửa hung”. Những hình ảnh liên tiếp “ruộng ta khô”, “nhà ta cháy” đã khắc họa rõ nét sự tàn phá toàn diện của chiến tranh đối với cuộc sống con người. Không chỉ cướp đi của cải vật chất, chiến tranh còn gieo rắc nỗi đau tinh thần dai dẳng. Hình ảnh “chó ngộ một đàn”, “lưỡi dài lê sắc máu” gợi lên sự man rợ, hung tàn của kẻ thù, biến quê hương hiền lành thành bãi chiến trường đẫm máu. Những hình ảnh ấy vừa mang tính tả thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng, thể hiện nỗi kinh hoàng bao trùm lên từng xóm làng.

Đặc biệt, nỗi đau chiến tranh còn hiện lên qua cảnh chia lìa, tan tác của con người. “Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang”, “mẹ con đàn lợn âm dương chia lìa trăm ngả” là những hình ảnh thấm đẫm nước mắt. Chiến tranh không chỉ tàn phá nhà cửa, ruộng đồng mà còn xé nát những mối quan hệ gia đình, khiến con người rơi vào cảnh lưu lạc, mất mát. Từ một quê hương trù phú, đầm ấm, Kinh Bắc trở thành vùng đất hoang tàn, đau thương, đầy ám ảnh.


câu1:Trong cuộc sống hôm nay, khi con người ngày càng chạy theo nhịp sống gấp gáp và lợi ích vật chất, việc biết yêu thương vạn vật trở thành một điều vô cùng cần thiết. Vạn vật quanh ta – từ con người, thiên nhiên cho đến những sinh linh bé nhỏ – đều có sự sống, có giá trị và đáng được trân trọng. Yêu thương vạn vật giúp con người sống nhân ái hơn, biết đặt mình vào vị trí của người khác để cảm thông và chia sẻ. Khi con người biết nâng niu cây cỏ, bảo vệ môi trường, gìn giữ thiên nhiên, cuộc sống sẽ trở nên trong lành, bền vững hơn. Ngược lại, sự vô tâm và thô bạo sẽ khiến thiên nhiên bị tàn phá, con người phải gánh chịu những hậu quả nặng nề. Yêu thương vạn vật không phải là điều lớn lao, mà bắt đầu từ những hành động nhỏ: không xả rác bừa bãi, không làm tổn hại đến sinh linh yếu ớt, cư xử nhẹ nhàng với con người xung quanh. Khi biết yêu thương vạn vật, con người cũng đang hoàn thiện nhân cách của chính mình và góp phần xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn.

câu 2:Hoàng Cầm là nhà thơ gắn bó tha thiết với quê hương Kinh Bắc. Thơ ông mang đậm hơi thở văn hóa dân gian và nỗi đau thời chiến. Đoạn thơ trong bài Bên kia sông Đuống đã khắc họa sâu sắc sự biến đổi của quê hương trước và sau chiến tranh, qua đó thể hiện tình yêu quê hương nồng nàn và nỗi xót xa sâu thẳm của nhà thơ.

Trước chiến tranh, quê hương hiện lên với vẻ đẹp yên bình, trù phú và giàu bản sắc văn hóa. Hình ảnh “lúa nếp thơm nồng” gợi lên một miền quê no ấm, thanh bình. Đặc biệt, những câu thơ viết về tranh Đông Hồ: “gà lợn nét tươi trong”, “màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” đã làm nổi bật đời sống văn hóa truyền thống lâu đời của vùng Kinh Bắc. Đó là vẻ đẹp mộc mạc, trong trẻo, thấm đẫm hồn dân tộc. Qua những hình ảnh ấy, người đọc cảm nhận được niềm tự hào và tình yêu sâu nặng của tác giả đối với quê hương trước những năm tháng chiến tranh.

Thế nhưng, chiến tranh đã phá vỡ tất cả. Quê hương từ chốn bình yên trở thành “ngày khủng khiếp” khi “giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn”. Những câu thơ ngắn, dồn dập như những nhát chém đau đớn: “Ruộng ta khô / Nhà ta cháy” đã khắc họa sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh. Không chỉ cảnh vật bị hủy hoại, mà cả sự sống cũng bị đe dọa qua hình ảnh ghê rợn: “Chó ngộ một đàn / Lưỡi dài lê sắc máu”. Cả làng quê chìm trong không khí chết chóc, hoang tàn.

Đặc biệt, nỗi đau của nhà thơ còn thể hiện ở sự tan vỡ của những giá trị văn hóa truyền thống. Những hình ảnh quen thuộc trong tranh Đông Hồ như “mẹ con đàn lợn âm dương”, “đám cưới chuột” – biểu tượng của sự sum vầy, ấm no – nay trở nên chia lìa, tan tác. Câu hỏi tu từ “Bây giờ tan tác về đâu?” vang lên đầy xót xa, thể hiện nỗi đau không chỉ cho hiện tại mà còn cho cả tương lai của quê hương. Chiến tranh không chỉ tàn phá con người và nhà cửa, mà còn hủy diệt cả hồn quê, bản sắc dân tộc.

Qua sự đối lập sâu sắc giữa quê hương trước và sau chiến tranh, Hoàng Cầm đã thể hiện tình yêu quê hương tha thiết, đồng thời tố cáo tội ác của chiến tranh xâm lược. Đoạn thơ Bên kia sông Đuống vì thế không chỉ là tiếng khóc đau thương cho quê hương bị tàn phá, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình và những gì con người cần gìn giữ.

Câu 1

Trong cuộc sống, con người cần biết yêu thương vạn vật bởi đó là nền tảng tạo nên một thế giới nhân ái và bền vững. Vạn vật quanh ta, từ thiên nhiên đến con người, đều tồn tại trong mối quan hệ gắn bó mật thiết. Khi con người biết yêu thương, trân trọng cỏ cây, muông thú và những gì nhỏ bé nhất, chúng ta sẽ sống hài hòa hơn với môi trường, tránh gây ra những tổn thương không đáng có. Yêu thương vạn vật còn giúp con người nuôi dưỡng tâm hồn nhân hậu, biết đồng cảm, sẻ chia với nỗi đau của người khác. Ngược lại, sự vô cảm, tàn nhẫn sẽ dẫn đến những hành động hủy hoại thiên nhiên, làm tổn thương con người và chính bản thân mình. Trong bối cảnh hiện nay, khi môi trường sống đang bị tàn phá nghiêm trọng, việc yêu thương và bảo vệ vạn vật càng trở nên cấp thiết. Đó không chỉ là trách nhiệm mà còn là thước đo nhân cách của mỗi người. Biết yêu thương vạn vật chính là biết yêu thương cuộc sống và tương lai của chính mình.

Câu 2

Trong nền thơ ca kháng chiến chống thực dân Pháp, Hoàng Cầm là nhà thơ có giọng điệu riêng, đậm chất trữ tình, giàu màu sắc văn hóa dân gian vùng Kinh Bắc. Bài thơ “Bên kia sông Đuống” được sáng tác năm 1948, khi quê hương ông rơi vào tay giặc. Đoạn thơ được trích dẫn đã tái hiện một cách sâu sắc sự biến đổi đau xót của quê hương: từ một miền đất thanh bình, giàu truyền thống văn hóa trở thành vùng đất bị chiến tranh tàn phá, điêu linh. Qua đó, ta thấy rõ nỗi đau, niềm xót xa và tình yêu quê hương tha thiết của nhà thơ.

Trước hết, Hoàng Cầm đã khắc họa hình ảnh quê hương trước chiến tranh bằng những nét vẽ êm đềm, giàu hương sắc và đậm đà bản sắc dân tộc. Quê hương hiện lên là một miền đất trù phú, thanh bình với “lúa nếp thơm nồng” – mùi hương quen thuộc của đồng quê Bắc Bộ, gợi cảm giác ấm no, sung túc. Hình ảnh “Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong / Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” không chỉ là bức tranh sinh hoạt dân gian quen thuộc mà còn là biểu tượng cho đời sống văn hóa truyền thống lâu đời của người dân Kinh Bắc. Những từ ngữ như “thơm nồng”, “tươi trong”, “sáng bừng” mang sắc thái tươi sáng, thể hiện niềm tự hào của nhà thơ về quê hương giàu đẹp, yên vui, đậm đà bản sắc. Đó là một quê hương mang vẻ đẹp hài hòa giữa thiên nhiên và văn hóa, giữa vật chất và tinh thần.

Thế nhưng, bức tranh quê hương ấy đã bị chiến tranh tàn phá một cách khốc liệt. Từ dòng thơ “Quê hương ta từ ngày khủng khiếp”, giọng thơ đột ngột chuyển sang u ám, dữ dội. Chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp hiện lên bằng hình ảnh “Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn”, gợi cảm giác ghê rợn, hủy diệt. Từ ngữ mạnh, gấp, nhịp thơ dồn dập như tiếng bước chân giặc, như lửa cháy lan, cuốn trôi tất cả sự sống bình yên của làng quê.

Sự tàn phá của chiến tranh được thể hiện cụ thể, chân thực qua hàng loạt hình ảnh đau xót: “Ruộng ta khô / Nhà ta cháy”. Chỉ với hai câu thơ ngắn, Hoàng Cầm đã nói lên sự hủy diệt toàn diện cả về vật chất lẫn đời sống của con người. Ruộng khô – nguồn sống của người nông dân bị cướp mất; nhà cháy – tổ ấm gia đình tan hoang. Không chỉ con người mà cả con vật cũng chịu nỗi đau: “Chó ngộ một đàn / Lưỡi dài lê sắc máu”. Hình ảnh dữ dội, ám ảnh này cho thấy mức độ tàn bạo của chiến tranh, khiến sự sống bị bóp nghẹt, cái chết lan tràn khắp nơi.

Không dừng lại ở sự tàn phá vật chất, chiến tranh còn gây ra nỗi đau tinh thần sâu sắc, làm tan vỡ các giá trị truyền thống. Hình ảnh “Mẹ con đàn lợn âm dương / Chia lìa trăm ngả” mang ý nghĩa biểu tượng: đó không chỉ là đàn lợn trong tranh dân gian mà còn là hình ảnh của sự sum vầy, ấm no nay bị chia cắt, tan tác. Đỉnh điểm của nỗi đau là câu hỏi xót xa: “Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã / Bây giờ tan tác về đâu?”. Đám cưới chuột – biểu tượng cho đời sống sinh hoạt vui tươi, hồn nhiên của làng quê – nay không còn chỗ tồn tại trước bom đạn chiến tranh. Câu hỏi tu từ vang lên như một tiếng khóc nghẹn ngào, thể hiện nỗi đau đến tột cùng của nhà thơ trước sự mất mát không gì bù đắp được.

Qua sự đối lập rõ nét giữa quê hương trước và sau chiến tranh, Hoàng Cầm đã thể hiện tình yêu quê hương sâu nặng cùng nỗi căm phẫn trước tội ác của kẻ thù. Nếu trước chiến tranh, quê hương là biểu tượng của sự sống, văn hóa và hạnh phúc thì sau chiến tranh, tất cả chỉ còn là hoang tàn, chết chóc và chia lìa. Chính sự tương phản ấy đã làm nổi bật giá trị nhân văn của tác phẩm, đồng thời tố cáo mạnh mẽ sự tàn bạo của chiến tranh xâm lược.

Tóm lại, đoạn thơ trong “Bên kia sông Đuống” không chỉ là bức tranh chân thực về sự biến đổi đau thương của quê hương Kinh Bắc trước và sau chiến tranh mà còn là tiếng lòng tha thiết của Hoàng Cầm dành cho mảnh đất chôn nhau cắt rốn. Bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh, giọng thơ trữ tình xen lẫn bi phẫn, nhà thơ đã để lại cho người đọc một áng thơ giàu giá trị nghệ thuật và nhân văn, nhắc nhở chúng ta biết trân trọng hòa bình và gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống của quê hương, đất nước.

23 tháng 1

câu 1

Con người sống trong thế giới này không thể tách rời vạn vật xung quanh, vì thế việc biết yêu thương vạn vật là điều vô cùng cần thiết. Thiên nhiên cho ta không khí để thở, nước để uống, cây cối cho bóng mát, muôn loài mang lại sự cân bằng cho sự sống. Nếu con người chỉ biết khai thác, tàn phá mà không trân trọng, gìn giữ thì chính con người sẽ phải gánh chịu những hậu quả nặng nề như ô nhiễm môi trường, thiên tai, biến đổi khí hậu. Yêu thương vạn vật không phải là điều gì quá lớn lao mà bắt đầu từ những hành động nhỏ: không xả rác bừa bãi, bảo vệ cây xanh, đối xử nhân hậu với động vật, sống chậm lại để cảm nhận vẻ đẹp mong manh của cuộc sống. Khi biết yêu thương thiên nhiên và muôn loài, con người cũng học được cách sống bao dung, nhân ái hơn với chính đồng loại của mình. Một thế giới chỉ thực sự bền vững khi con người sống hài hòa với tự nhiên, biết trân trọng từng điều nhỏ bé xung quanh.

câu 2

Hoàng Cầm là nhà thơ gắn bó sâu nặng với quê hương Kinh Bắc, và “Bên kia sông Đuống” là tiếng khóc xót xa, đau đớn trước sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh đối với quê hương yêu dấu. Qua đoạn thơ, tác giả đã khắc họa rõ nét sự biến đổi của quê hương trước và sau chiến tranh, từ một miền đất thanh bình, đậm đà bản sắc văn hóa trở thành nơi hoang tàn, đẫm máu và nước mắt.


Trước chiến tranh, quê hương hiện lên với vẻ đẹp trù phú, yên ả và giàu truyền thống văn hóa dân tộc. Đó là “lúa nếp thơm nồng”, là “tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong”, là “màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”. Những hình ảnh ấy gợi lên một làng quê ấm no, thanh bình, nơi con người sống hài hòa với thiên nhiên và gìn giữ những giá trị văn hóa lâu đời. Tranh Đông Hồ không chỉ là sản phẩm nghệ thuật mà còn là biểu tượng của đời sống tinh thần phong phú, thể hiện vẻ đẹp thuần khiết, tươi sáng của quê hương trước ngày giặc đến.


Nhưng chiến tranh ập đến đã phá vỡ tất cả. Quê hương “từ ngày khủng khiếp” khi “giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn”. Những hình ảnh thơ chuyển đột ngột từ êm đềm sang dữ dội, tang thương. Ruộng đồng khô cạn, nhà cửa cháy rụi, cuộc sống yên lành bị hủy diệt hoàn toàn. Cảnh vật không chỉ bị tàn phá mà còn nhuốm đầy máu và cái chết: “lưỡi dài lê sắc máu”, “kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang”. Chiến tranh đã biến miền quê trù phú thành một bãi hoang tàn lạnh lẽo, nơi sự sống bị dồn đến tận cùng đau khổ.


Không chỉ thiên nhiên, con người quê hương cũng phải gánh chịu những mất mát không gì bù đắp được. Những hình ảnh như “mẹ con đàn lợn âm dương chia lìa trăm ngả” hay “đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã” bị gián đoạn cho thấy chiến tranh đã cướp đi hạnh phúc bình dị nhất của con người. Ngay cả những sinh hoạt dân gian quen thuộc cũng không còn nguyên vẹn, tất cả đều bị vùi dập trong khói lửa. Qua đó, tác giả bày tỏ niềm đau xót, căm phẫn trước tội ác chiến tranh và sự tàn nhẫn của kẻ thù.


Sự đối lập rõ nét giữa quê hương trước và sau chiến tranh đã làm nổi bật giá trị nhân đạo sâu sắc của đoạn thơ. Đó không chỉ là nỗi đau của riêng nhà thơ mà còn là nỗi đau chung của cả dân tộc trong những năm tháng mất mát. Qua tiếng thơ nghẹn ngào ấy, Hoàng Cầm gửi gắm tình yêu tha thiết với quê hương, đồng thời khơi dậy lòng căm thù giặc và khát vọng gìn giữ, bảo vệ những giá trị bình yên của đất nước.


Tóm lại, đoạn thơ “Bên kia sông Đuống” đã khắc họa sâu sắc sự biến đổi đau đớn của quê hương từ thanh bình sang hoang tàn vì chiến tranh. Bài thơ không chỉ là khúc bi ca về quê hương bị tàn phá mà còn là lời nhắc nhở về giá trị của hòa bình và trách nhiệm của con người trong việc giữ gìn những gì thiêng liêng, đẹp đẽ nhất.


23 tháng 1


Câu 1

Trong cuộc sống, con người không tồn tại đơn độc mà luôn gắn bó mật thiết với thiên nhiên và muôn loài xung quanh. Vì thế, con người cần biết yêu thương vạn vật như một lẽ sống nhân văn và bền vững. Yêu thương vạn vật trước hết là sự trân trọng thiên nhiên – nơi nuôi dưỡng sự sống của con người. Khi biết yêu thương cây cối, sông ngòi, muông thú, con người sẽ có ý thức bảo vệ môi trường, sống hài hòa với tự nhiên thay vì khai thác và tàn phá vô độ. Không chỉ vậy, yêu thương vạn vật còn thể hiện ở lòng nhân ái, sự cảm thông với những sinh linh nhỏ bé, yếu ớt trong cuộc đời. Một hành động nhẹ nhàng, một sự nâng niu cũng đủ làm thế giới trở nên ấm áp hơn. Ngược lại, sự vô tâm, thờ ơ sẽ dẫn đến những tổn thương khó hàn gắn cho thiên nhiên và cho chính con người. Khi con người học được cách yêu thương vạn vật, họ cũng đồng thời hoàn thiện nhân cách của mình, sống trách nhiệm, bao dung và giàu tình yêu thương hơn. Đó chính là nền tảng để xây dựng một xã hội nhân văn và một thế giới bền vững.




Câu 2

Bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm được sáng tác trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, khi quê hương Kinh Bắc của ông bị giặc chiếm đóng và tàn phá nặng nề. Đoạn thơ trích đã khắc họa rõ nét sự biến đổi đau xót của quê hương trước và sau chiến tranh, qua đó thể hiện tình yêu quê hương sâu nặng cùng nỗi đau lớn lao của nhà thơ trước cảnh nước mất, nhà tan.

Trước khi chiến tranh ập đến, quê hương bên kia sông Đuống hiện lên với vẻ đẹp yên bình, trù phú và đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Đó là một miền quê giàu sức sống, thấm đẫm hương vị truyền thống:

“Quê hương ta lúa nếp thơm nồng

Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong

Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp.”

Hình ảnh “lúa nếp thơm nồng” gợi nên sự no ấm, đủ đầy của đời sống vật chất, đồng thời gợi cảm giác thân thương, gần gũi của làng quê Bắc Bộ. Tranh Đông Hồ với hình ảnh “gà lợn”, “màu dân tộc sáng bừng” không chỉ là nét đẹp nghệ thuật mà còn là biểu tượng của đời sống tinh thần, của truyền thống văn hóa lâu đời của quê hương Kinh Bắc. Những câu thơ mang giọng điệu trìu mến, tự hào, thể hiện niềm yêu thương sâu sắc và niềm gắn bó máu thịt của nhà thơ với quê hương mình.

Thế nhưng, tất cả vẻ đẹp bình yên ấy đã bị chiến tranh tàn nhẫn phá vỡ. Cụm từ “từ ngày khủng khiếp” như một mốc thời gian ám ảnh, đánh dấu sự đổi thay dữ dội của quê hương khi giặc kéo đến:

“Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn.”

Hình ảnh “ngùn ngụt lửa” cùng tính từ “hung tàn” đã khắc họa rõ bản chất dã man của chiến tranh xâm lược. Lửa không chỉ thiêu đốt nhà cửa, ruộng đồng mà còn thiêu đốt cả sự sống và bình yên của con người. Nhịp thơ trở nên gấp gáp, dồn dập, phản ánh không khí căng thẳng, tang thương của quê hương trong bom đạn.

Những câu thơ tiếp theo cho thấy sự tàn phá toàn diện của chiến tranh đối với cuộc sống làng quê:

“Ruộng ta khô

Nhà ta cháy.”

Cách ngắt nhịp ngắn, mạnh khiến từng hình ảnh hiện lên như những nhát chém đau đớn. Ruộng đồng – nguồn sống của người nông dân – bị bỏ hoang, khô cằn; nhà cửa – nơi che chở con người – bị thiêu rụi. Không chỉ con người mà cả muôn loài cũng rơi vào cảnh chết chóc, điêu linh: “Chó ngộ một đàn”, “lưỡi dài lê sắc máu”. Những hình ảnh dữ dội ấy cho thấy chiến tranh đã biến quê hương hiền hòa thành một không gian hoang tàn, ghê rợn và đầy ám ảnh.

Đặc biệt, nỗi đau của nhà thơ còn thể hiện sâu sắc qua việc những hình ảnh văn hóa dân gian quen thuộc trong tranh Đông Hồ cũng bị tàn phá và chia lìa:

“Mẹ con đàn lợn âm dương

Chia lìa trăm ngả

Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã

Bây giờ tan tác về đâu?”

Những hình ảnh vốn tượng trưng cho sự sung túc, hạnh phúc, vui tươi của làng quê nay trở nên tan tác, chia lìa. Câu hỏi tu từ ở cuối đoạn thơ vang lên như một tiếng kêu đau xót, thể hiện sự tiếc nuối, xót xa đến tận cùng của nhà thơ trước sự mất mát không gì bù đắp được. Chiến tranh không chỉ phá hủy cuộc sống vật chất mà còn làm tổn thương sâu sắc đời sống tinh thần, làm mai một những giá trị văn hóa truyền thống của quê hương.

Qua đoạn thơ, sự biến đổi của quê hương trước và sau chiến tranh được thể hiện một cách rõ nét và đầy ám ảnh: từ một miền quê trù phú, yên bình, giàu bản sắc văn hóa trở thành vùng đất hoang tàn, đau thương. Đoạn thơ không chỉ là lời tố cáo đanh thép tội ác của chiến tranh xâm lược mà còn là tiếng lòng tha thiết, đau đáu của Hoàng Cầm dành cho quê hương Kinh Bắc. Chính tình yêu quê hương sâu nặng và nỗi đau chân thành ấy đã tạo nên sức lay động mạnh mẽ và giá trị nhân văn bền vững cho tác phẩm.

Yêu thương vạn vật là một phẩm chất cao đẹp, thể hiện sự trân trọng và hòa hợp giữa con người với thiên nhiên và thế giới xung quanh. Trong cuộc sống hiện đại, khi môi trường đang phải đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng, việc nuôi dưỡng tình yêu thương vạn vật càng trở nên cấp thiết.Khi biết yêu thương vạn vật, con người sẽ có ý thức bảo vệ môi trường, giữ gìn sự đa dạng sinh học và sử dụng tài nguyên một cách bền vững. Chúng ta sẽ không còn thờ ơ trước những hành động gây ô nhiễm, phá rừng hay săn bắt động vật trái phép. Thay vào đó, chúng ta sẽ chủ động tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường, trồng cây gây rừng, tiết kiệm năng lượng và sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường.Hơn nữa, yêu thương vạn vật còn giúp con người sống thanh thản và hạnh phúc hơn. Khi hòa mình vào thiên nhiên, chúng ta sẽ cảm nhận được sự bình yên, thư thái và tìm thấy nguồn cảm hứng sáng tạo. Tình yêu thương vạn vật cũng giúp chúng ta mở rộng lòng trắc ẩn, yêu thương và tôn trọng những người xung quanh.Tuy nhiên, để thực sự yêu thương vạn vật, chúng ta cần có kiến thức và hiểu biết sâu sắc về thế giới tự nhiên. Chúng ta cần học cách quan sát, lắng nghe và cảm nhận những điều kỳ diệu mà thiên nhiên mang lại. Đồng thời, chúng ta cũng cần phê phán những hành động gây tổn hại đến môi trường và tích cực lan tỏa thông điệp yêu thương vạn vật đến cộng đồng.

Câu 2:Quê hương thanh bình, trù phúĐoạn thơ mở đầu bằng những hình ảnh tươi đẹp, đậm chất truyền thống về quê hương Kinh Bắc. Sông Đuống hiền hòa, lúa nếp thơm nồng, tranh Đông Hồ với những nét vẽ tươi sáng về gà lợn, tất cả tạo nên một bức tranh quê hương thanh bình, trù phú. Màu sắc dân tộc được thể hiện rực rỡ trên giấy điệp, gợi lên niềm tự hào về những giá trị văn hóa lâu đời.Chiến tranh tàn phá, quê hương điêu tànSự thanh bình ấy bị phá vỡ bởi chiến tranh. Từ "khủng khiếp" mở đầu cho sự thay đổi đột ngột. Giặc kéo đến, lửa hung tàn thiêu rụi tất cả. Ruộng đồng khô cằn, nhà cửa cháy rụi, chó dại thành đàn, lưỡi lê sắc máu, ngõ xóm tiêu điều, bờ hoang vắng. Những hình ảnh này khắc họa sự tàn khốc của chiến tranh, biến một vùng quê trù phú thành một vùng đất chết.Sự chia lìa, mất mátChiến tranh không chỉ tàn phá vật chất mà còn gây ra những mất mát tinh thần to lớn. Hình ảnh "mẹ con đàn lợn âm dương chia lìa trăm ngả" gợi lên sự chia ly, ly tán của con người. Đám cưới chuột, biểu tượng của cuộc sống vui tươi, rộn rã, giờ đây "tan tác về đâu?". Câu hỏi này thể hiện sự xót xa, tiếc nuối cho những gì đã mất, đồng thời thể hiện niềm mong mỏi về một ngày quê hương thanh bình trở lại.Hoàng Cầm là nhà thơ gắn bó sâu nặng với quê hương Kinh Bắc, và “Bên kia sông Đuống” là tiếng thơ đau xót, tha thiết về quê hương trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt. Qua đoạn thơ, tác giả đã làm nổi bật sự biến đổi của quê hương trước và sau chiến tranh, từ yên bình, giàu bản sắc văn hóa đến tang thương, đổ nát.

Trước hết, Hoàng Cầm đã khắc họa một quê hương thanh bình, tươi đẹp và đậm đà bản sắc dân tộc. “Quê hương ta lúa nếp thơm nồng” gợi lên vẻ đẹp trù phú của vùng quê Bắc Bộ với hương lúa chín ngọt ngào, ấm no. Những hình ảnh “tranh Đông Hồ”, “màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” không chỉ gợi vẻ đẹp nghệ thuật dân gian mà còn thể hiện đời sống tinh thần phong phú, giàu truyền thống của người dân Kinh Bắc. Quê hương hiện lên bình dị, ấm áp, chan chứa niềm tự hào và yêu thương. Đó là một không gian văn hóa yên lành, nơi con người sống hòa thuận, gắn bó với đất đai và truyền thống cha ông.

Thế nhưng, chiến tranh đã ập đến, phá vỡ tất cả. Bằng những câu thơ ngắn, dồn dập, Hoàng Cầm đã tái hiện một quê hương đau thương đến xé lòng: “Ruộng ta khô”, “Nhà ta cháy”, “Chó ngộ một đàn”. Những hình ảnh ấy cho thấy sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh, khiến ruộng đồng cằn cỗi, nhà cửa tan hoang, sự sống bị hủy diệt. Đặc biệt, hình ảnh “lưỡi dài lê sắc máu” đã tố cáo sự tàn bạo, dã man của quân thù, nhuốm máu lên mảnh đất quê hương hiền hòa. Không chỉ thiên nhiên và làng xóm bị tàn phá, con người cũng rơi vào cảnh chia lìa, mất mát: “Mẹ con đàn lợn âm dương / Chia lìa trăm ngả”. Hạnh phúc bình dị của đời sống làng quê bị vùi dập, nỗi đau lan rộng khắp không gian và tâm hồn con người.

Sự đối lập giữa quê hương trước và sau chiến tranh đã làm nổi bật nỗi xót xa, đau đớn và tình yêu quê hương sâu nặng của nhà thơ. Câu hỏi tu từ “Bây giờ tan tác về đâu?” vang lên như một tiếng nấc nghẹn ngào, thể hiện nỗi đau mất mát không gì bù đắp được, đồng thời là lời tố cáo chiến tranh phi nghĩa đã hủy hoại cuộc sống yên bình của nhân dân.

Qua đoạn thơ “Bên kia sông Đuống”, Hoàng Cầm không chỉ khắc họa sự biến đổi đau thương của quê hương trong chiến tranh mà còn bày tỏ tình yêu quê hương tha thiết và lòng căm phẫn sâu sắc trước tội ác của kẻ thù. Đoạn thơ để lại trong lòng người đọc niềm xúc động mạnh mẽ và nhắc nhở chúng ta phải biết trân trọng hòa bình, giữ gìn những giá trị tốt đẹp của quê hương, đất nước.

23 tháng 1

Câu 1

Việc con người biết yêu thương vạn vật là một điều cần thiết và mang lại nhiều ý nghĩa to lớn. Tình yêu thương này không chỉ thể hiện sự đồng cảm, lòng nhân ái mà còn là nền tảng để duy trì sự cân bằng và phát triển bền vững của hệ sinh thái. Mỗi sinh vật, dù nhỏ bé đến đâu, đều có vai trò riêng trong tự nhiên. Khi biết yêu thương và bảo vệ vạn vật, con người sẽ sống có trách nhiệm hơn, biết trân trọng sự sống và vẻ đẹp của thế giới xung quanh. Điều này giúp làm giàu đời sống tâm hồn, hướng con người đến những giá trị sống tích cực, tốt đẹp hơn. Ngược lại, sự thờ ơ, vô tâm hoặc tàn phá môi trường, hủy hoại sự sống sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường cho chính con người và tương lai của trái đất. Vì vậy, mỗi cá nhân cần nhận thức rõ tầm quan trọng của việc này, từ những hành động nhỏ nhất như không xả rác bừa bãi, bảo vệ cây xanh, động vật hoang dã, để góp phần xây dựng một thế giới hài hòa, bền vững và đầy tình yêu thương.

câu 2

Dưới ngòi bút tài hoa và đầy ám ảnh của Hoàng Cầm, đoạn thơ trích từ “Bên kia sông Đuống” đã tái hiện một cách sâu sắc sự biến đổi đau xót của quê hương Kinh Bắc trước và sau chiến tranh. Qua những hình ảnh giàu tính biểu tượng, nhà thơ không chỉ kể lại một thực tại lịch sử khốc liệt mà còn bộc lộ nỗi đau, niềm xót xa và tình yêu quê hương tha thiết của mình.

Trước hết, quê hương hiện lên trong ký ức nhà thơ là một miền đất thanh bình, giàu bản sắc văn hóa truyền thống. Những câu thơ mở đầu mang nhịp điệu chậm rãi, êm đềm như một khúc hoài niệm: “Quê hương ta lúa nếp thơm nồng / Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong”. Hình ảnh lúa nếp thơm nồng gợi nên cuộc sống no đủ, yên lành của một vùng quê trù phú. Tranh Đông Hồ – biểu tượng tiêu biểu của văn hóa Kinh Bắc – hiện lên với “gà lợn nét tươi trong”, “màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”, vừa mộc mạc vừa rực rỡ. Đó là vẻ đẹp của đời sống tinh thần, của truyền thống dân tộc được lưu giữ qua bao thế hệ. Quê hương trước chiến tranh là sự hòa quyện giữa thiên nhiên, con người và văn hóa, tất cả đều mang vẻ đẹp trong trẻo, yên bình.

Thế nhưng, dòng hồi ức ấy nhanh chóng bị cắt ngang bởi hiện thực tàn khốc của chiến tranh. Chỉ với một câu thơ ngắn: “Quê hương ta từ ngày khủng khiếp”, Hoàng Cầm đã tạo nên một bước ngoặt dữ dội. Từ đây, quê hương không còn là miền đất thanh bình mà trở thành nơi hứng chịu sự tàn phá man rợ của giặc ngoại xâm: “Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn”. Hình ảnh “lửa hung tàn” gợi cảm giác dữ dội, hủy diệt, thiêu đốt mọi giá trị sống. Những gì từng thân thuộc nay bị phá hủy: “Ruộng ta khô / Nhà ta cháy”. Nhịp thơ ngắn, gãy khúc như những nhát chém đau đớn vào lòng người đọc.

Nỗi đau ấy còn được đẩy lên cao trào qua những hình ảnh rùng rợn, ám ảnh: “Chó ngộ một đàn / Lưỡi dài lê sắc máu”. Không gian làng quê vốn hiền hòa nay biến thành một cõi chết chóc, hoang tàn. Con người cũng không thoát khỏi bi kịch: “Mẹ con đàn lợn âm dương / Chia lìa trăm ngả” – hình ảnh ẩn dụ cho cảnh gia đình tan tác, sinh ly tử biệt. Đặc biệt, hình ảnh tranh Đông Hồ “Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã / Bây giờ tan tác về đâu?” vừa mang tính đối lập vừa chan chứa xót xa. Bức tranh dân gian từng tượng trưng cho niềm vui, cho tiếng cười châm biếm hồn nhiên nay cũng không còn chỗ đứng trong hiện thực đau thương.

Qua đoạn thơ, Hoàng Cầm đã khắc họa rõ nét sự biến đổi của quê hương từ thanh bình, giàu bản sắc văn hóa sang hoang tàn, đổ nát bởi chiến tranh. Đó không chỉ là sự tàn phá về vật chất mà còn là nỗi đau tinh thần, là mất mát của những giá trị truyền thống. Với giọng thơ vừa thiết tha vừa uất nghẹn, nhà thơ đã gửi gắm tình yêu quê hương sâu nặng cùng niềm căm phẫn trước chiến tranh phi nghĩa, để lại trong lòng người đọc một ám ảnh khó phai.

Câu 1

Việc con người biết yêu thương vạn vật là một điều cần thiết và mang lại nhiều ý nghĩa to lớn. Tình yêu thương này không chỉ thể hiện sự đồng cảm, lòng nhân ái mà còn là nền tảng để duy trì sự cân bằng và phát triển bền vững của hệ sinh thái. Mỗi sinh vật, dù nhỏ bé đến đâu, đều có vai trò riêng trong tự nhiên. Khi biết yêu thương và bảo vệ vạn vật, con người sẽ sống có trách nhiệm hơn, biết trân trọng sự sống và vẻ đẹp của thế giới xung quanh. Điều này giúp làm giàu đời sống tâm hồn, hướng con người đến những giá trị sống tích cực, tốt đẹp hơn. Ngược lại, sự thờ ơ, vô tâm hoặc tàn phá môi trường, hủy hoại sự sống sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường cho chính con người và tương lai của trái đất. Vì vậy, mỗi cá nhân cần nhận thức rõ tầm quan trọng của việc này, từ những hành động nhỏ nhất như không xả rác bừa bãi, bảo vệ cây xanh, động vật hoang dã, để góp phần xây dựng một thế giới hài hòa, bền vững và đầy tình yêu thương.

Câu 2

Nhà thơ Hoàng Cầm sinh ra ở Bắc Ninh – quê hương quan họ với những làn điệu dân ca ngọt ngào đằm thắm chính là suối nguồn nuôi dưỡng tâm hồn thơ ca của ông. Mảnh đất Kinh Bắc đã gợi thương gợi nhớ cho Hoàng Cầm, nó giống như một ám ảnh nghệ thuật trong thơ ông.

Càng nhớ tiếc về Kinh Bắc bao nhiêu thì mảnh đất ấy lại hiện rõ trong trí nhớ nhà thơ bấy nhiêu:

“Bên kia sông Đuống

Quê hương ta lúa nếp thơm nồng

Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong

Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”

Tranh Đông Hồ là loại tranh dân gian được vẽ trên giấy điệp hay còn gọi là giấy gió. Nó thể hiện nét văn hóa truyền thống của đất nước. Nội dung của những bức tranh thường là các phong tục tập quán của làng quê hay là những nét vẽ về con người, con vật, về đám cưới chuột, … Màu sắc trong tranh tươi tắn khiến bức tranh trở nên sinh động, có hồn. “Màu dân tộc” trên tranh Đông Hồ chính là linh hồn, là cốt cách dân tộc Việt Nam. Quê hương ấy còn có hương thơm nồng của lúa nếp mùa bội thu.

Nhưng chiến tranh đã cướp đi tất cả:

“Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

Ruộng ta khô

Nhà ta cháy

Chó ngộ một đàn

Lưỡi dài lê sắc máu

Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang

Mẹ con đàn lợn âm dương

Chia lìa trăm ngả

Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã

Bây giờ tan tác về đâu”?

Từ láy “ngùn ngụt” không chỉ miêu tả ngọn lửa hung tàn của địch mà nó còn biểu hiện ý chí căm thù ngùn ngụt, sục sôi trong mỗi người con yêu nước. Quân ngoại xâm đã thiêu cháy hết những mái nhà êm ấm khiến vạn vật tan tác, chia lìa. Những hình ảnh “đám cưới chuột, đàn lợn” đều là những hình ảnh đặc trưng, tiêu biểu của dòng tranh Đông Hồ, thể hiện cuộc sống bình dị, yên ấm của con người, thể hiện nét đẹp văn hóa Việt Nam…. giờ đây bị hủy diệt trước thảm họa xâm lăng.

Qua bài thơ “Bên kia sông Đuống”, Hoàng Cầm đã thể hiện một tấm lòng tha thiết với quê hương đất nước. Tình càm dạt đào ấy hóa thân vào những dòng cảm xúc và tâm trạng đan xen nhau không ngớt: khi tự hào khi về truyền thống, hình ảnh quê hương, khi uất nghẹn, căm hờn trước sự tàn phá của quân giặc. Đọc “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm, cảm xúc của người đọc cũng dặt dìu đồng cảm với nhà thơ. Gấp lại trang thơ, lòng ta cũng chợt “nghiêng nghiêng” về một miền “Bên kia sông Đuống” của riêng mình.

23 tháng 1

Câu 1

Yêu thương vạn vật là một trong những biểu hiện cao đẹp nhất của một tâm hồn giàu lòng trắc ẩn và sự thấu hiểu. Yêu thương vạn vật không chỉ đơn thuần là tình cảm giữa người với người, mà còn là sự trân trọng, nâng niu đối với thiên nhiên, cỏ cây và muôn loài sinh vật xung quanh. Khi biết yêu thương vạn vật, con người sẽ tìm thấy sự bình yên trong tâm hồn, giúp chúng ta loại bỏ sự ích kỷ và sống bao dung hơn. Hơn nữa, vạn vật và con người luôn có mối quan hệ cộng sinh mật thiết; thiên nhiên chính là lá phổi xanh, là nguồn sống cung cấp mọi điều kiện để nhân loại tồn tại. Việc bảo vệ một nhành cây, che chở cho một con vật nhỏ chính là cách chúng ta bảo vệ sự cân bằng sinh thái và tương lai của chính mình. Trái lại, lối sống hời hợt, tàn phá thiên nhiên chỉ vì lợi ích cá nhân trước mắt sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường như thiên tai, dịch bệnh. Vì vậy, mỗi chúng ta cần bắt đầu bằng những hành động nhỏ nhất như trồng cây, không ngược đãi động vật và lên án những hành vi tàn phá môi trường. Yêu thương vạn vật chính là thước đo của sự văn minh, giúp thế giới trở nên tốt đẹp và bền vững hơn.

Câu 2

Hoàng Cầm là người con ưu tú của vùng đất Kinh Bắc, hồn thơ của ông luôn gắn liền với những vẻ đẹp văn hóa dân gian truyền thống. Viết trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, bài thơ "Bên kia sông Đuống" không chỉ là tiếng lòng nhớ thương quê hương da diết mà còn là một thước phim quay chậm đầy đau xót về sự biến đổi của quê hương: từ một vùng đất thanh bình, rực rỡ sắc màu trở thành một nơi tan tác dưới gót giày xâm lược.

Mở đầu đoạn trích, tác giả đưa người đọc trở về với hình ảnh một Kinh Bắc trù phú, tươi đẹp và giàu truyền thống. Quê hương hiện lên trong nỗi nhớ của người con xa xứ với tất cả sự nâng niu:

"Bên kia sông Đuống

Quê hương ta lúa nếp thơm nồng

Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong

Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp"


Cái "thơm nồng" của lúa nếp không chỉ là hương vị của sản vật mà là hương vị của sự ấm no, bình yên. Đặc biệt, vẻ đẹp của quê hương còn được kết tinh trong những giá trị văn hóa tinh thần độc đáo. Những bức tranh Đông Hồ với "gà lợn nét tươi trong" hiện lên thật sinh động, hồn nhiên. Cụm từ "màu dân tộc" và động từ "sáng bừng" đã nâng tầm những giá trị dân gian ấy trở thành niềm tự hào kiêu hãnh. Đó là một vùng đất của nghệ thuật, của tâm hồn Việt thuần khiết và rực rỡ.

Thế nhưng, bức tranh tươi sáng ấy bỗng chốc bị xé toạc bởi hiện thực tàn khốc của chiến tranh. Sự biến đổi bắt đầu từ một mốc thời gian ám ảnh:

"Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn"


Hai chữ "khủng khiếp" đã thâu tóm tất cả sự kinh hoàng của những ngày giặc tràn về. Hình ảnh "lửa hung tàn" đối lập hoàn toàn với "màu dân tộc sáng bừng" ở trên. Lửa giặc đi đến đâu, sự sống bị hủy diệt đến đó. Sự biến đổi diễn ra trên từng nếp nhà, từng cánh đồng:"Ruộng ta khô

Nhà ta cháy

Chó ngộ một đàn

Lưỡi dài lê sắc máu"


Điệp từ "ta" (ruộng ta, nhà ta) vang lên như một tiếng nấc nghẹn, khẳng định quyền làm chủ nhưng cũng đầy xót xa trước những mất mát. Từ một vùng quê "lúa nếp thơm nồng", giờ đây chỉ còn là "ruộng khô", "nhà cháy". Đặc biệt, hình ảnh ẩn dụ "Chó ngộ một đàn" và "lưỡi dài lê sắc máu" đã lột tả sự tàn bạo, mất nhân tính của kẻ thù. Chúng không còn là con người mà hiện lên như một bầy thú dữ, gieo rắc cái chết và sự u ám khắp không gian.

Sự biến đổi của quê hương trong đoạn thơ không chỉ là sự thay đổi về diện mạo vật chất mà còn là sự tổn thương sâu sắc về tâm hồn và văn hóa. Hoàng Cầm đã sử dụng triệt để thủ pháp đối lập: giữa quá khứ yên bình và hiện tại tan tác, giữa "nét tươi trong" và "ngùn ngụt lửa". Chính sự đối lập này đã khơi gợi trong lòng người đọc niềm thương cảm sâu sắc cho mảnh đất Kinh Bắc và lòng căm thù giặc tột độ.

Tóm lại, qua những vần thơ vừa giàu tính tạo hình vừa đong đầy cảm xúc, Hoàng Cầm đã tái hiện chân thực một thời kỳ đau thương của dân tộc. Sự biến đổi của vùng đất "bên kia sông Đuống" chính là tiếng chuông cảnh tỉnh, đồng thời là lời nhắc nhở về trách nhiệm của mỗi người con trong việc đấu tranh để đòi lại và giữ gìn vẻ đẹp bền vững cho quê hương, đất nước.

Câu 1: Con người sống giữa thiên nhiên và muôn loài, vì vậy việc biết yêu thương vạn vật là một lối sống đẹp và cần thiết. Yêu thương vạn vật trước hết là biết trân trọng sự sống, từ con người cho đến cây cỏ, muông thú xung quanh ta. Khi con người biết yêu thương, ta sẽ sống nhân ái hơn, không vô cảm trước nỗi đau của người khác và không tàn phá môi trường sống chung. Yêu thương vạn vật còn giúp con người sống hài hòa với thiên nhiên, biết bảo vệ rừng, nguồn nước, động vật – những yếu tố giữ gìn sự cân bằng của cuộc sống. Trong xã hội hiện đại, khi con người chạy theo lợi ích cá nhân, sự yêu thương lại càng trở nên quan trọng để gắn kết con người với con người, giảm bớt ích kỉ và thù hằn. Yêu thương không phải là điều gì to lớn mà bắt đầu từ những hành động nhỏ: giúp đỡ người gặp khó khăn, không làm hại động vật, giữ gìn môi trường xanh – sạch – đẹp. Khi con người biết yêu thương vạn vật, cuộc sống sẽ trở nên tốt đẹp, nhân văn và bền vững hơn.

Câu 2:

“Bên kia sông Đuống” là bài thơ tiêu biểu của Hoàng Cầm viết trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Đoạn thơ trên đã khắc họa sâu sắc sự biến đổi đau xót của quê hương Kinh Bắc từ vẻ đẹp yên bình, giàu bản sắc văn hóa trước chiến tranh sang cảnh hoang tàn, đổ nát khi chiến tranh tràn qua, qua đó thể hiện nỗi đau xé lòng và tình yêu quê hương tha thiết của nhà thơ.


Trước hết, Hoàng Cầm đã gợi lên một quê hương thanh bình, trù phú và đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc trước khi chiến tranh xảy ra. Quê hương hiện lên với “lúa nếp thơm nồng” – hình ảnh gợi sự no đủ, ấm áp của cuộc sống nông nghiệp lâu đời. Những giá trị văn hóa truyền thống cũng được nhấn mạnh qua hình ảnh “tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong”, “màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”. Đây không chỉ là những bức tranh dân gian quen thuộc mà còn là biểu tượng cho đời sống tinh thần phong phú, cho vẻ đẹp hồn nhiên, trong trẻo của làng quê Kinh Bắc. Qua những hình ảnh ấy, ta cảm nhận được một quê hương yên ả, giàu truyền thống, nơi con người sống chan hòa, bình dị và hạnh phúc.


Thế nhưng, chiến tranh ập đến đã phá vỡ tất cả. Từ một miền quê thanh bình, quê hương nhà thơ bỗng chốc chìm trong khói lửa, tang tóc. Những câu thơ “Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn” đã mở ra một không gian đầy ám ảnh của bom đạn và hủy diệt. Hình ảnh “ruộng ta khô”, “nhà ta cháy” diễn tả sự tàn phá toàn diện của chiến tranh đối với cuộc sống người dân: từ sinh kế đến mái ấm đều bị hủy hoại. Đặc biệt, hình ảnh “chó ngộ một đàn / lưỡi dài lê sắc máu” mang tính biểu tượng cao, khắc họa bộ mặt tàn bạo, man rợ của kẻ thù, đồng thời cho thấy nỗi ám ảnh kinh hoàng mà chiến tranh gây ra cho con người.


Không chỉ tàn phá vật chất, chiến tranh còn làm tan nát những mối quan hệ gia đình, làng xóm. “Mẹ con đàn lợn âm dương / chia lìa trăm ngả” là hình ảnh đầy xót xa, gợi cảnh ly tán, mất mát đau thương. Cảnh “đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã / bây giờ tan tác về đâu?” vừa mang ý nghĩa thực vừa mang tính ẩn dụ, cho thấy ngay cả những niềm vui nhỏ bé, bình dị nhất của cuộc sống cũng không còn tồn tại. Câu hỏi tu từ cuối đoạn thơ như một tiếng nấc nghẹn ngào, thể hiện nỗi đau, sự tiếc nuối và bất lực của nhà thơ trước sự đổi thay nghiệt ngã của quê hương.


Qua đoạn thơ, Hoàng Cầm đã thể hiện rõ sự đối lập sâu sắc giữa quê hương trước và sau chiến tranh: từ yên bình đến hoang tàn, từ ấm no đến đổ nát. Sự biến đổi ấy không chỉ phản ánh hiện thực đau thương của đất nước trong chiến tranh mà còn bộc lộ tình yêu quê hương sâu nặng, nỗi xót xa và niềm căm phẫn trước tội ác của kẻ thù. Đoạn thơ vì thế mang giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, để lại ấn tượng mạnh mẽ trong lòng người đọc.



Câu 1:

Bài làm

Con người sống trong thế giới này không tách rời vạn vật xung quanh, vì vậy việc biết yêu thương vạn vật là điều vô cùng cần thiết. Yêu thương vạn vật trước hết là biết trân trọng thiên nhiên – nơi nuôi dưỡng và bảo vệ sự sống của con người. Khi con người đối xử dịu dàng với cây cối, muông thú, sông núi, cũng chính là đang gìn giữ môi trường sống cho chính mình. Không chỉ vậy, yêu thương vạn vật còn thể hiện ở cách con người đối xử với nhau bằng sự cảm thông, chia sẻ và bao dung. Một hành động nhỏ như không xả rác bừa bãi, không tàn phá thiên nhiên, biết quan tâm đến những sinh linh yếu ớt cũng đủ làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn. Ngược lại, sự vô tâm, ích kỉ của con người sẽ gây ra những tổn thương khó có thể hàn gắn cho môi trường và xã hội. Vì thế, biết yêu thương vạn vật không chỉ là một phẩm chất đạo đức cao đẹp mà còn là trách nhiệm của mỗi người trong hành trình làm người.

Câu2:

Bài làm

Trong dòng chảy của thơ ca kháng chiến, Hoàng Cầm đã để lại dấu ấn sâu đậm với bài thơ Bên kia sông Đuống. Đoạn thơ đã khắc họa rõ nét sự biến đổi đau xót của quê hương trước và sau chiến tranh, qua đó thể hiện nỗi xót xa và tình yêu quê hương tha thiết của nhà thơ. Trước hết, quê hương trước chiến tranh hiện lên với vẻ đẹp thanh bình, trù phú và đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. “Bên kia sông Đuống / Quê hương ta lúa nếp thơm nồng”, đó là hình ảnh một miền quê no ấm, yên bình, gắn liền với ruộng đồng, mùa màng. Không chỉ giàu có về vật chất, quê hương còn mang vẻ đẹp văn hóa truyền thống qua “tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong”, “màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”. Những hình ảnh ấy gợi lên một không gian sống đậm chất làng quê Bắc Bộ, nơi con người sống chan hòa, hồn hậu và yêu đời. Thế nhưng, chiến tranh nổ ra đã phá vỡ tất cả. Quê hương từ yên bình bỗng trở nên tang thương, đổ nát. “Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn”, hình ảnh kẻ thù xuất hiện đầy bạo lực, gieo rắc đau thương khắp nơi. Ruộng đồng khô cháy, nhà cửa bị thiêu rụi, cảnh sống vốn yên lành nay chỉ còn hoang tàn, chết chóc. Những câu thơ “Chó ngộ một đàn / Lưỡi dài lê sắc máu” khắc họa sự tàn ác đến rợn người của chiến tranh, làm cho không khí bài thơ trở nên u ám, ám ảnh. Không chỉ cảnh vật bị hủy hoại, con người quê hương cũng phải chịu những mất mát đau đớn. Hình ảnh “Mẹ con đàn lợn âm dương / Chia lìa trăm ngả” gợi lên nỗi đau chia cắt, tan tác của biết bao gia đình. Cuộc sống sinh hoạt quen thuộc, yên vui ngày nào giờ chỉ còn là ký ức xa xỉ, thể hiện qua câu thơ chua xót: “Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã / Bây giờ tan tác về đâu?”. Câu hỏi tu từ vang lên như một tiếng nấc nghẹn, chứa đựng niềm xót xa, tiếc nuối cho những giá trị đẹp đẽ đã bị chiến tranh vùi lấp. Qua đoạn thơ, Hoàng Cầm đã cho người đọc thấy rõ sự đối lập sâu sắc giữa quê hương trước và sau chiến tranh: từ yên bình đến tan hoang, từ ấm no đến đau thương. Đồng thời, đoạn thơ cũng thể hiện tình yêu quê hương tha thiết, nỗi căm phẫn trước tội ác chiến tranh và niềm xót xa trước những mất mát không gì bù đắp được. Đó chính là giá trị nhân văn sâu sắc làm nên sức sống lâu bền của bài thơ Bên kia sông Đuống.


Câu 1

Việc con người biết yêu thương vạn vật—từ con người, loài vật đến cỏ cây, sông núi—là biểu hiện cao đẹp của một tâm hồn nhân ái và nhận thức sâu sắc về sự kết nối giữa con người với môi trường sống. Yêu thương vạn vật không chỉ là sự che chở, bảo vệ thiên nhiên, không tàn phá môi trường, mà còn là biết trân trọng giá trị tồn tại của mọi sinh linh, thấu hiểu sự cân bằng sinh thái. Khi biết yêu thương, chúng ta sống vị tha hơn, giảm bớt ích kỷ và thấy cuộc đời ý nghĩa, ấm áp hơn. Hành động này xoa dịu những hận thù, làm cho thế giới trở nên nhân văn, hòa bình và giảm bớt các mâu thuẫn. Yêu thương vạn vật cũng chính là yêu thương chính bản thân mình, giúp tạo ra một môi trường sống bền vững cho hôm nay và mai sau. Ngược lại, lối sống vô cảm, tàn phá sẽ dẫn đến sự cằn cỗi trong tâm hồn và hậu quả nặng nề cho trái đất. Vì vậy, mỗi chúng ta cần lan tỏa tình thương thông qua những hành động nhỏ nhặt nhất, như chăm sóc một cái cây, bảo vệ một loài động vật hay giữ gìn vệ sinh môi trường, để cuộc sống thực sự là một bản hòa ca trọn vẹn.


Câu 2

       Nhà thơ Hoàng Cầm sinh ra ở BắcNinh  ,quê hương quan họ với những làn điệu dân ca ngọt ngào đằm thắm chính là suối nguồn nuôi dưỡng tâm hồn thơ ca của ông. Mảnh đất Kinh Bắc đã gợi thương gợi nhớ cho Hoàng Cầm, nó giống như một ám ảnh nghệ thuật trong thơ ông.

   Đoạn thứ nhất cấu trúc tương phản giữa xa xưa thanh bình với hiện tại tang tóc, điêu tàn. Các câu thơ "Bên kia sông Đuống" và "Ai về bên kia sông Đuống" nối tiếp nhau xuất hiện, diễn tả hình bóng quê hương hiện lên như những đợt sóng vỗ vào lòng đứa con xa quê bao nỗi nhớ thương và căm giận. Một tình quê vơi đầy trong nỗi nhớ,Càng nhớ tiếc về Kinh Bắc bao nhiêu thì mảnh đất ấy lại hiện rõ trong trí nhớ nhà thơ bấy nhiêu:

   “Bên kia sông Đuống

Quê hương ta lúa nếp thơm nồng

Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong

Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”

Tranh Đông Hồ là loại tranh dân gian được vẽ trên giấy điệp hay còn gọi là giấy gió. Nó thể hiện nét văn hóa truyền thống của đất nước. Nội dung của những bức tranh thường là các phong tục tập quán của làng quê hay là những nét vẽ về con người, con vật, về đám cưới chuột, … Màu sắc trong tranh tươi tắn khiến bức tranh trở nên sinh động, có hồn. “Màu dân tộc” trên tranh Đông Hồ chính là linh hồn, là cốt cách dân tộc Việt Nam. Quê hương ấy còn có hương thơm nồng của lúa nếp mùa bội thu. Nhưng chiến tranh đã cướp đi tất cả:

“Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

Ruộng ta khô

Nhà ta cháy

Chó ngộ một đàn

Lưỡi dài lê sắc máu

Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang

Mẹ con đàn lợn âm dương

Chia lìa trăm ngả

Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã

Bây giờ tan tác về đâu”?

Từ láy “ngùn ngụt” không chỉ miêu tả ngọn lửa hung tàn của địch mà nó còn biểu hiện ý chí căm thù ngùn ngụt, sục sôi trong mỗi người con yêu nước. Quân ngoại xâm đã thiêu cháy hết những mái nhà êm ấm khiến vạn vật tan tác, chia lìa. Những hình ảnh “đám cưới chuột, đàn lợn” đều là những hình ảnh đặc trưng, tiêu biểu của dòng tranh Đông Hồ, thể hiện cuộc sống bình dị, yên ấm của con người, thể hiện nét đẹp văn hóa Việt Nam…. giờ đây bị hủy diệt trước thảm họa xâm lăng.

Qua bài thơ “Bên kia sông Đuống”, Hoàng Cầm đã thể hiện một tấm lòng tha thiết với quê hương đất nước. Tình càm dạt đào ấy hóa thân vào những dòng cảm xúc và tâm trạng đan xen nhau không ngớt: khi tự hào khi về truyền thống, hình ảnh quê hương, khi uất nghẹn, căm hờn trước sự tàn phá của quân giặc. Đọc “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm, cảm xúc của người đọc cũng dặt dìu đồng cảm với nhà thơ. Gấp lại trang thơ, lòng ta cũng chợt “nghiêng nghiêng” về một miền “Bên kia sông Đuống” của riêng mình.

26 tháng 1


Câu 1 (2,0 điểm)



Viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ về việc con người nên biết yêu thương vạn vật


Trong cuộc sống, yêu thương vạn vật là một lối sống đẹp và cần thiết đối với con người. Vạn vật quanh ta, từ thiên nhiên, cây cỏ đến muôn loài, đều góp phần tạo nên sự sống và cân bằng cho thế giới. Khi con người biết yêu thương vạn vật, con người sẽ sống nhân ái hơn, biết trân trọng những điều nhỏ bé và mong manh xung quanh mình. Ngược lại, sự vô tâm, tàn nhẫn với thiên nhiên và sinh linh sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như môi trường bị hủy hoại, cuộc sống mất cân bằng, con người tự chuốc lấy khổ đau. Yêu thương vạn vật không phải là điều gì lớn lao, mà bắt đầu từ những hành động giản dị như không tàn phá thiên nhiên, không làm tổn thương sinh linh, sống hòa hợp với môi trường sống. Khi biết yêu thương, con người cũng học được cách bao dung, thấu hiểu và yêu thương chính đồng loại của mình. Vì vậy, yêu thương vạn vật không chỉ là trách nhiệm mà còn là cách để con người hoàn thiện nhân cách, xây dựng một thế giới nhân văn, bền vững và tốt đẹp hơn.





Câu 2 (4,0 điểm)



Phân tích đoạn thơ trong Bên kia sông Đuống để thấy sự biến đổi của quê hương trước và sau chiến tranh (khoảng 600 chữ)


Bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm là tiếng khóc xót xa, đau đớn của nhà thơ trước cảnh quê hương Kinh Bắc bị chiến tranh tàn phá. Đoạn thơ trên đã thể hiện rõ sự đối lập sâu sắc giữa vẻ đẹp thanh bình của quê hương trước chiến tranh và cảnh điêu tàn, khủng khiếp khi giặc kéo đến.


Trước hết, quê hương hiện lên với vẻ đẹp yên bình, giàu bản sắc văn hóa dân tộc. Những câu thơ đầu gợi ra một miền quê trù phú, đậm hồn dân gian: “Quê hương ta lúa nếp thơm nồng / Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong”. Hình ảnh lúa nếp thơm nồng gợi sự no ấm, thanh bình của làng quê Bắc Bộ. Tranh Đông Hồ với “gà lợn nét tươi trong” là biểu tượng cho đời sống văn hóa dân gian giàu bản sắc, giản dị mà rực rỡ. Đặc biệt, hình ảnh “màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” đã khắc họa vẻ đẹp tinh thần của quê hương – nơi lưu giữ truyền thống, hồn cốt dân tộc qua bao thế hệ. Đó là một miền quê yên ả, giàu sức sống và đậm đà bản sắc văn hóa.


Thế nhưng, từ “từ ngày khủng khiếp”, bức tranh quê hương đột ngột đổi màu. Chiến tranh ập đến mang theo đau thương, tang tóc: “Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn”. Hình ảnh “ngùn ngụt lửa” gợi sự tàn phá dữ dội, biến làng quê yên bình thành địa ngục trần gian. Ruộng đồng khô cạn, nhà cửa cháy rụi, cuộc sống con người bị hủy hoại: “Ruộng ta khô / Nhà ta cháy”. Nhịp thơ ngắn, gấp, dồn dập như những nhát chém vào lòng người đọc, thể hiện nỗi đau xé lòng của tác giả.


Không chỉ tàn phá vật chất, chiến tranh còn chà đạp lên sự sống và nhân tính. Hình ảnh “chó ngộ một đàn / Lưỡi dài lê sắc máu” mang tính biểu tượng mạnh mẽ, khắc họa sự tàn bạo, man rợ của kẻ thù. Làng quê từng thanh bình giờ đây trở nên hoang tàn, chết chóc: “Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang”. Những hình ảnh ấy cho thấy quê hương không chỉ bị tàn phá mà còn bị xúc phạm, bị giày xéo đến tận cùng.


Qua đoạn thơ, Hoàng Cầm đã sử dụng bút pháp đối lập, ngôn ngữ giàu sức gợi và cảm xúc mãnh liệt để làm nổi bật sự biến đổi đau đớn của quê hương trước và sau chiến tranh. Đó không chỉ là nỗi đau riêng của một vùng quê mà còn là nỗi đau chung của cả dân tộc trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt. Đoạn thơ vì thế mang giá trị tố cáo chiến tranh tàn bạo, đồng thời thể hiện tình yêu quê hương sâu nặng và niềm xót xa, day dứt của nhà thơ trước cảnh quê hương bị hủy hoại.


câu 1

Trong cuộc sống hôm nay, khi con người ngày càng chú trọng phát triển kinh tế, vấn đề yêu thương và bảo vệ muôn loài lại càng trở nên cần thiết. Yêu thương vạn vật không chỉ là biểu hiện của lòng nhân ái, mà còn là cách chúng ta giữ gìn sự cân bằng cho Trái Đất – ngôi nhà chung của tất cả sinh vật. Từ cây cối, sông suối, đến những con vật nhỏ bé đều góp phần tạo nên sự sống. Khi con người hủy hoại thiên nhiên, đồng nghĩa với việc tự làm tổn thương chính mình. Biết yêu thương vạn vật là sống chan hòa, biết trân trọng từng giá trị nhỏ bé quanh ta. Một người biết nâng niu bông hoa, không vứt rác bừa bãi, không làm hại động vật — ấy là người có trái tim nhân hậu. Mỗi hành động nhỏ xuất phát từ tình yêu thương sẽ góp phần làm thế giới xanh hơn, đẹp hơn. Vì thế, chúng ta hãy học cách sống tử tế với thiên nhiên, để lòng mình trong sáng và để cuộc đời đáng yêu hơn.


câu 2

Bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm là lòng đau thương và yêu thương tha thiết đối với quê hương Kinh Bắc trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp. Qua đoạn thơ trích, nhà thơ đã thể hiện sâu sắc sự thay đổi của quê hương trước và sau chiến tranh.


Trước hết, quê hương hiện lên với vẻ đẹp thanh bình, trù phú và đậm đà bản sắc dân tộc. Những câu thơ đầu:

“Bên kia sông Đuống

Quê hương ta lúa nếp thơm nồng

Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong

Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”

là một bức tranh đậm chất Kinh Bắc – quê hương của nghệ thuật dân gian và nét đẹp văn hóa truyền thống. Hình ảnh “lúa nếp thơm nồng”, “tranh Đông Hồ gà lợn”, “màu dân tộc sáng bừng” gợi lên cuộc sống yên ả, no đủ, và tinh thần yêu đời, yêu quê của con người Việt Nam trước chiến tranh. Ở đó, cảnh vật và con người hòa quyện, tạo nên bản sắc dân tộc giản dị mà sâu sắc.


Thế nhưng, khi giặc đến, tất cả đã đổi thay. Chỉ trong vài câu thơ, Hoàng Cầm dựng lên cảnh tượng tang thương của quê hương:

“Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

Ruộng ta khô

Nhà ta cháy

Chó ngộ một đàn

Lưỡi dài lê sắc máu…”

Những câu thơ ngắn, dồn dập, từ ngữ dữ dội đã tái hiện sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh. Không còn cảnh thanh bình, ấm no, mà thay vào đó là ngọn lửa giặc thiêu đốt, là tiếng kêu đau đớn của quê hương. Hình ảnh “mẹ con đàn lợn âm dương chia lìa trăm ngả” mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc: những giá trị văn hóa dân tộc bị xé nát, đời sống con người đảo lộn. Câu hỏi “Bây giờ tan tác về đâu?” là tiếng nấc nghẹn ngào, là nỗi đau khôn nguôi của người con mất quê hương.


Đoạn thơ thể hiện nghệ thuật miêu tả tinh tế, kết hợp giữa hình ảnh dân gian và cảm xúc hiện đại. Cách dùng từ giàu tính gợi cảm, nhịp thơ linh hoạt, vừa mềm mại vừa mạnh mẽ, khiến bức tranh quê hương hiện lên sinh động mà thấm đẫm nỗi đau.

Thế nhưng, khi giặc đến, tất cả đã đổi thay. Chỉ trong vài câu thơ, Hoàng Cầm dựng lên cảnh tượng tang thương của quê hương:

“Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

Ruộng ta khô

Nhà ta cháy

Chó ngộ một đàn

Lưỡi dài lê sắc máu…”

Những câu thơ ngắn, dồn dập, từ ngữ dữ dội đã tái hiện sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh. Không còn cảnh thanh bình, ấm no, mà thay vào đó là ngọn lửa giặc thiêu đốt, là tiếng kêu đau đớn của quê hương. Hình ảnh “mẹ con đàn lợn âm dương chia lìa trăm ngả” mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc: những giá trị văn hóa dân tộc bị xé nát, đời sống con người đảo lộn. Câu hỏi “Bây giờ tan tác về đâu?” là tiếng nấc nghẹn ngào, là nỗi đau khôn nguôi của người con mất quê hương.


Đoạn thơ thể hiện nghệ thuật miêu tả tinh tế, kết hợp giữa hình ảnh dân gian và cảm xúc hiện đại. Cách dùng từ giàu tính gợi cảm, nhịp thơ linh hoạt, vừa mềm mại vừa mạnh mẽ, khiến bức tranh quê hương hiện lên sinh động mà thấm đẫm nỗi đau.


Qua đó, Hoàng Cầm không chỉ tố cáo tội ác của chiến tranh, mà còn khẳng định tình yêu tha th


Qua đó, Hoàng Cầm không chỉ tố cáo tội ác của chiến tranh, mà còn khẳng định tình yêu tha thiết với quê hương, niềm tin vào sức sống bền bỉ của dân tộc Việt Nam.


26 tháng 1

Câu 2:

Bài thơ “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm là tiếng lòng da diết của một người con tha thiết yêu quê hương Kinh Bắc. Qua đoạn thơ, tác giả đã khắc họa rõ nét sự biến đổi đau xót của quê hương trước và sau chiến tranh, từ yên bình, giàu đẹp đến tan hoang, đổ nát.


Trước khi chiến tranh xảy ra, quê hương hiện lên với vẻ đẹp thanh bình, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Đó là miền quê trù phú với “lúa nếp thơm nồng”, là những bức “tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong”, mang màu sắc dân gian rực rỡ, ấm áp. Hình ảnh quê hương gắn liền với đời sống lao động yên ả, với những giá trị văn hóa truyền thống lâu đời. Tất cả tạo nên một bức tranh quê hương tươi sáng, êm đềm và đầy sức sống, thể hiện niềm tự hào và tình yêu sâu nặng của tác giả đối với nơi chôn rau cắt rốn.


Tuy nhiên, khi chiến tranh ập đến, quê hương ấy đã thay đổi hoàn toàn. Cảnh bình yên xưa kia bị thay thế bằng khung cảnh tang thương, khốc liệt. Hình ảnh “giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn” đã cho thấy sự tàn phá dữ dội của chiến tranh. Ruộng đồng khô cằn, nhà cửa bị đốt cháy, cuộc sống người dân chìm trong đau thương, mất mát. Những hình ảnh như “ruộng ta khô”, “nhà ta cháy” không chỉ miêu tả sự tàn phá vật chất mà còn thể hiện nỗi đau tinh thần sâu sắc của con người trước cảnh quê hương bị giày xéo.


Sự đối lập giữa hai bức tranh quê hương trước và sau chiến tranh được thể hiện rõ nét qua giọng thơ vừa xót xa, vừa căm phẫn. Tác giả không chỉ đau đớn trước cảnh quê hương bị tàn phá mà còn bộc lộ lòng căm thù giặc sâu sắc. Đồng thời, ẩn sâu trong nỗi đau ấy là tình yêu quê hương tha thiết, là niềm khát khao quê hương được hồi sinh, trở lại những ngày yên bình xưa cũ.


Qua đoạn thơ, Hoàng Cầm đã thể hiện thành công sự biến đổi đau xót của quê hương Kinh Bắc trước và sau chiến tranh. Bài thơ không chỉ là lời tố cáo tội ác chiến tranh mà còn là bản tình ca đầy nước mắt về quê hương, nhắc nhở mỗi người biết trân trọng hòa bình và yêu thương, gìn giữ những giá trị tốt đẹp của quê hương, đất nước.

Câu 1:

Trong cuộc sống, yêu thương vạn vật là một biểu hiện cao đẹp của nhân cách con người. Vạn vật quanh ta không chỉ bao gồm con người mà còn là thiên nhiên, cây cỏ, muông thú – những sinh thể cùng tồn tại và gắn bó mật thiết với đời sống con người. Khi biết yêu thương vạn vật, con người sẽ sống nhân ái, bao dung và có trách nhiệm hơn với môi trường sống. Thực tế cho thấy, sự vô cảm và ích kỉ của con người đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng như ô nhiễm môi trường, tàn phá thiên nhiên, ngược đãi động vật. Vì vậy, yêu thương vạn vật không chỉ là một thái độ sống mà còn là hành động thiết thực: bảo vệ cây xanh, không xả rác bừa bãi, đối xử nhân đạo với động vật. Khi biết trân trọng từng sự sống nhỏ bé, con người cũng học được cách yêu thương chính đồng loại của mình. Yêu thương vạn vật giúp cuộc sống trở nên hài hòa, bền vững hơn, đồng thời làm cho tâm hồn con người trở nên trong sáng và giàu lòng nhân ái.



29 tháng 1

Câu 1: Đoạn văn về tình yêu thương vạn vật (200 chữ)

Trong thế giới rộng lớn này, con người không phải là chủ nhân duy nhất mà là một phần của hệ sinh thái vạn vật hữu linh. Việc biết yêu thương vạn vật không chỉ là biểu hiện của lòng nhân ái mà còn là thái độ sống văn minh, trách nhiệm. Yêu thương vạn vật là sự trân trọng mọi sự sống, từ nhành cây, ngọn cỏ đến những loài vật nhỏ bé và môi trường sống xung quanh. Khi chúng ta mở lòng với thiên nhiên, tâm hồn ta sẽ trở nên nhẹ nhàng, bớt đi sự thô tháp và ích kỷ. Nhìn một mầm cây đang vươn lên hay một dòng sông xanh mát, ta học được bài học về sự nhẫn nại và bao dung. Ngược lại, nếu sống vô tâm, tàn phá môi trường hay ngược đãi sinh linh, con người sẽ tự đẩy mình vào sự cô độc và phải gánh chịu những phản kháng khốc liệt từ thiên nhiên. Tình yêu thương ấy không cần là điều gì quá lớn lao, nó bắt đầu từ việc không ngắt một bông hoa dại, không hành hạ một con vật nhỏ hay biết xót xa trước một cánh rừng bị cháy. Như nhà văn Chu Văn Sơn từng gợi nhắc, thỉnh thoảng ta cần "bị gai đâm" để biết rằng vạn vật cũng biết đau, từ đó sống trọn vẹn và tử tế

Câu 2



Câu 1 (2,0 điểm)



Viết đoạn văn khoảng 200 chữ


Đoạn văn tham khảo:


Con người nên biết yêu thương vạn vật bởi tất cả sự sống trên Trái Đất đều có mối liên hệ mật thiết với nhau. Thiên nhiên không chỉ là môi trường sống mà còn là nơi nuôi dưỡng tâm hồn con người. Khi biết yêu thương cây cỏ, muông thú, con người học được cách sống nhân ái, bao dung và có trách nhiệm hơn với hành tinh chung. Thực tế cho thấy, sự tàn phá thiên nhiên, khai thác quá mức tài nguyên đã dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh. Điều đó xuất phát từ lối sống ích kỉ, chỉ biết hưởng thụ mà không biết gìn giữ. Yêu thương vạn vật không phải là điều lớn lao, mà bắt đầu từ những hành động nhỏ: không xả rác bừa bãi, bảo vệ môi trường, trân trọng sự sống xung quanh. Khi con người sống hài hòa với thiên nhiên, cuộc sống sẽ trở nên bền vững, bình yên và ý nghĩa hơn.





Câu 2 (4,0 điểm)



Bài văn khoảng 600 chữ



Phân tích đoạn thơ “Bên kia sông Đuống” – Hoàng Cầm



Hoàng Cầm là nhà thơ gắn bó sâu nặng với quê hương Kinh Bắc, và “Bên kia sông Đuống” là tiếng khóc xót xa cho một miền quê bị chiến tranh tàn phá. Đoạn thơ đã khắc họa rõ nét sự biến đổi đau lòng của quê hương trước và sau chiến tranh.


Trước hết, nhà thơ vẽ lên một bức tranh quê hương thanh bình, giàu bản sắc văn hóa. Đó là miền đất “lúa nếp thơm nồng”, là những bức “tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong”, nơi “màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”. Những hình ảnh mang đậm hồn quê Kinh Bắc vừa mộc mạc, vừa giàu giá trị tinh thần, thể hiện niềm tự hào và tình yêu sâu nặng của tác giả đối với quê hương. Quê hương hiện lên yên ả, trù phú, giàu truyền thống văn hóa dân gian.


Thế nhưng, chiến tranh đã ập đến, phá tan tất cả. Chỉ với mấy câu thơ ngắn gọn, Hoàng Cầm đã tạo nên sự đối lập dữ dội giữa quá khứ và hiện tại. “Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn”, ruộng đồng khô cháy, nhà cửa bị thiêu rụi, cảnh sống vốn thanh bình nay trở nên hoang tàn, chết chóc. Hình ảnh “chó ngộ một đàn”, “lưỡi dài lê sắc máu” mang tính ẩn dụ, phóng đại, tố cáo sự tàn ác man rợ của kẻ thù. Đặc biệt, những biểu tượng văn hóa như “đám cưới chuột”, “đàn lợn âm dương” từng gắn với đời sống no đủ, vui tươi nay “chia lìa trăm ngả”, “tan tác về đâu?”, thể hiện nỗi đau mất mát không gì bù đắp.


Qua đoạn thơ, quê hương không chỉ bị hủy hoại về vật chất mà còn bị tổn thương sâu sắc về tinh thần, văn hóa. Giọng thơ da diết, xót xa như một lời than khóc, đồng thời thể hiện tấm lòng yêu nước, yêu quê hương tha thiết của Hoàng Cầm.


Có thể nói, bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh, cảm xúc và sự đối lập sắc nét, đoạn thơ đã khắc họa rõ nét sự biến đổi đau thương của quê hương trước và sau chiến tranh, qua đó lên án tội ác của chiến tranh và bày tỏ khát vọng gìn giữ, bảo vệ những giá trị truyền thống của dân tộc.


Câu 1

Việc con người biết yêu thương vạn vật là một điều cần thiết và mang lại nhiều ý nghĩa to lớn. Tình yêu thương này không chỉ thể hiện sự đồng cảm, lòng nhân ái mà còn là nền tảng để duy trì sự cân bằng và phát triển bền vững của hệ sinh thái. Mỗi sinh vật, dù nhỏ bé đến đâu, đều có vai trò riêng trong tự nhiên. Khi biết yêu thương và bảo vệ vạn vật, con người sẽ sống có trách nhiệm hơn, biết trân trọng sự sống và vẻ đẹp của thế giới xung quanh. Điều này giúp làm giàu đời sống tâm hồn, hướng con người đến những giá trị sống tích cực, tốt đẹp hơn. Ngược lại, sự thờ ơ, vô tâm hoặc tàn phá môi trường, hủy hoại sự sống sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường cho chính con người và tương lai của trái đất. Vì vậy, mỗi cá nhân cần nhận thức rõ tầm quan trọng của việc này, từ những hành động nhỏ nhất như không xả rác bừa bãi, bảo vệ cây xanh, động vật hoang dã, để góp phần xây dựng một thế giới hài hòa, bền vững và đầy tình yêu thương.

Câu 2

Nhà thơ Hoàng Cầm sinh ra ở Bắc Ninh – quê hương quan họ với những làn điệu dân ca ngọt ngào đằm thắm chính là suối nguồn nuôi dưỡng tâm hồn thơ ca của ông. Mảnh đất Kinh Bắc đã gợi thương gợi nhớ cho Hoàng Cầm, nó giống như một ám ảnh nghệ thuật trong thơ ông.

Càng nhớ tiếc về Kinh Bắc bao nhiêu thì mảnh đất ấy lại hiện rõ trong trí nhớ nhà thơ bấy nhiêu:

“Bên kia sông Đuống

Quê hương ta lúa nếp thơm nồng

Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong

Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”

Tranh Đông Hồ là loại tranh dân gian được vẽ trên giấy điệp hay còn gọi là giấy gió. Nó thể hiện nét văn hóa truyền thống của đất nước. Nội dung của những bức tranh thường là các phong tục tập quán của làng quê hay là những nét vẽ về con người, con vật, về đám cưới chuột, … Màu sắc trong tranh tươi tắn khiến bức tranh trở nên sinh động, có hồn. “Màu dân tộc” trên tranh Đông Hồ chính là linh hồn, là cốt cách dân tộc Việt Nam. Quê hương ấy còn có hương thơm nồng của lúa nếp mùa bội thu.

Nhưng chiến tranh đã cướp đi tất cả:

“Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

Ruộng ta khô

Nhà ta cháy

Chó ngộ một đàn

Lưỡi dài lê sắc máu

Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang

Mẹ con đàn lợn âm dương

Chia lìa trăm ngả

Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã

Bây giờ tan tác về đâu”?

Từ láy “ngùn ngụt” không chỉ miêu tả ngọn lửa hung tàn của địch mà nó còn biểu hiện ý chí căm thù ngùn ngụt, sục sôi trong mỗi người con yêu nước. Quân ngoại xâm đã thiêu cháy hết những mái nhà êm ấm khiến vạn vật tan tác, chia lìa. Những hình ảnh “đám cưới chuột, đàn lợn” đều là những hình ảnh đặc trưng, tiêu biểu của dòng tranh Đông Hồ, thể hiện cuộc sống bình dị, yên ấm của con người, thể hiện nét đẹp văn hóa Việt Nam…. giờ đây bị hủy diệt trước thảm họa xâm lăng.

Qua bài thơ “Bên kia sông Đuống”, Hoàng Cầm đã thể hiện một tấm lòng tha thiết với quê hương đất nước. Tình càm dạt đào ấy hóa thân vào những dòng cảm xúc và tâm trạng đan xen nhau không ngớt: khi tự hào khi về truyền thống, hình ảnh quê hương, khi uất nghẹn, căm hờn trước sự tàn phá của quân giặc. Đọc “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm, cảm xúc của người đọc cũng dặt dìu đồng cảm với nhà thơ. Gấp lại trang thơ, lòng ta cũng chợt “nghiêng nghiêng” về một miền “Bên kia sông Đuống” của riêng mình.

26 tháng 1

Câu 1

Trong thế giới rộng lớn này, con người không tồn tại đơn độc mà luôn gắn bó mật thiết với thiên nhiên và muôn loài. Vì thế, biết yêu thương vạn vật không chỉ là một phẩm chất đạo đức đẹp mà còn là điều kiện để con người sống hài hòa và bền vững. Vạn vật tuy không biết nói, nhưng đều có sự sống, có cảm giác, có giá trị riêng trong vòng tuần hoàn của tự nhiên. Khi con người tàn phá rừng xanh, đầu độc sông ngòi, đối xử tàn nhẫn với động vật, thực chất cũng là đang tự cắt đứt nguồn sống của chính mình. Yêu thương vạn vật giúp con người biết sống chậm lại, tinh tế hơn trong từng hành động, từ đó hạn chế những tổn thương vô tình gây ra cho thế giới xung quanh. Hơn thế, lòng yêu thương còn nuôi dưỡng tâm hồn con người trở nên nhân hậu, bao dung, biết sẻ chia. Một xã hội chỉ thực sự văn minh khi con người không đặt mình ở vị trí thống trị thiên nhiên mà xem mình là một phần của nó. Bởi khi biết yêu thương vạn vật, con người cũng đang học cách yêu thương chính mình.

Câu 2

Hoàng Cầm là nhà thơ gắn bó sâu nặng với quê hương Kinh Bắc, và Bên kia sông Đuống là tiếng khóc đau đớn, xót xa của ông trước sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh đối với làng quê yêu dấu. Đoạn thơ đã thể hiện rõ nét sự biến đổi của quê hương trước và sau chiến tranh, từ một miền đất thanh bình, giàu bản sắc văn hóa đến cảnh hoang tàn, tan tác vì bom đạn giặc thù.

Trước hết, quê hương Kinh Bắc hiện lên trong đoạn thơ đầu với vẻ đẹp êm đềm, trù phú và đậm đà hồn dân tộc. Đó là miền quê của “lúa nếp thơm nồng”, của những giá trị văn hóa truyền thống được lưu giữ qua “tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong”. Những hình ảnh ấy không chỉ gợi sự no ấm mà còn khắc họa đời sống tinh thần phong phú của người dân. Màu sắc “sáng bừng trên giấy điệp” là biểu tượng cho vẻ đẹp thuần khiết, trong trẻo, cho sức sống lâu bền của văn hóa dân tộc. Giọng thơ ở đoạn này chậm rãi, tha thiết, chan chứa niềm tự hào và yêu thương sâu nặng đối với quê hương.

Tuy nhiên, từ khi chiến tranh ập đến, quê hương ấy đã bị biến dạng một cách đau đớn. Cụm từ “từ ngày khủng khiếp” như một nhát dao cắt ngang dòng hồi ức êm đềm, mở ra bức tranh hiện thực tàn khốc. Giặc kéo đến “ngùn ngụt lửa hung tàn”, mang theo sự hủy diệt không thương tiếc. Ruộng đồng khô cằn, nhà cửa cháy rụi, làng xóm tiêu điều. Hình ảnh “chó ngộ một đàn / lưỡi dài lê sắc máu” gây ám ảnh mạnh mẽ, khắc họa sự man rợ, dã thú của kẻ thù và nỗi kinh hoàng bao trùm cuộc sống người dân. Không gian làng quê vốn quen thuộc, yên bình giờ đây chỉ còn “kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang”.

Đặc biệt, hình ảnh “mẹ con đàn lợn âm dương / chia lìa trăm ngả” và “đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã / bây giờ tan tác về đâu?” mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Những hình ảnh từng xuất hiện trong tranh Đông Hồ – biểu trưng cho hạnh phúc, sung túc – nay bị chia lìa, tan tác, cho thấy chiến tranh không chỉ tàn phá vật chất mà còn hủy hoại đời sống tinh thần, những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Câu hỏi tu từ vang lên như một tiếng kêu đau xót, vừa thương quê hương, vừa tố cáo tội ác chiến tranh.

Qua sự đối lập gay gắt giữa trước và sau chiến tranh, Hoàng Cầm đã làm nổi bật nỗi đau mất mát của quê hương Kinh Bắc, đồng thời thể hiện tình yêu quê hương sâu nặng và niềm căm phẫn trước kẻ thù xâm lược. Đoạn thơ không chỉ là tiếng khóc cho một miền quê bị tàn phá mà còn là lời nhắc nhở về giá trị của hòa bình, của cuộc sống yên lành mà con người phải biết trân trọng và giữ gìn.

    Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm) Mặc dù chúng ta đang có một cuộc sống đầy đam mê và có những mục tiêu rõ ràng để phấn đấu, nhưng chúng ta hẳn cũng khó lòng tránh được có lúc lâm vào nghịch cảnh. Liệu chúng ta sẽ đứng dậy sau cơn phong ba đó, hay hoàn toàn bị gục ngã. Điều này phụ thuộc vào cách chúng ta đối đầu với chúng. Trước những thác ghềnh, chông gai trên đường khiến...
Đọc tiếp

 

 

Phn I. Đọc hiu (3,0 đim)

Mặc dù chúng ta đang có một cuộc sống đầy đam mê và có những mục tiêu rõ ràng để phấn đấu, nhưng chúng ta hẳn cũng khó lòng tránh được có lúc lâm vào nghịch cảnh. Liệu chúng ta sẽ đứng dậy sau cơn phong ba đó, hay hoàn toàn bị gục ngã. Điều này phụ thuộc vào cách chúng ta đối đầu với chúng. Trước những thác ghềnh, chông gai trên đường khiến chúng ta cảm thấy nản lòng và hoài nghi, thì niềm tin mãnh liệt vào bản thân là điều cần thiết hơn bao giờ hết để chúng ta vượt qua những trắc trở đó.

Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ đơn giản là học được từ người khác. Tìm hiểu xem những người đi trước đã đối phó với khó khăn tương tự như thế nào giúp chúng ta tìm ra giải pháp cho mình. Những tấm gương về những con người đầy nghị lực và giàu lòng quả cảm, có khả năng trụ vững sau bao cơn giông tố của cuốc đời luôn là tâm điểm cho chúng ta noi theo.

Đó là nghị lực của Walt Disney trong việc thực hiện ước mơ của mình sau năm lần phá sản. Bất chấp số phận, Helen Keller đã không cam chịu để người đời thương hại. Ngược lại bà đã dũng cảm vượt qua nghịch cảnh, trở thành tấm gương sáng cho hàng triệu người noi theo…

Niềm tin vào bản thân là nội lực thúc đẩy thái độ tích cực, dẫn dắt chúng ta đạt được mục tiêu của mình. Thành công không bao giờ đến với những ai yếu đuối và có thái độ buông xuôi.

          ( Điều kì diệu của thái độ sống, Mac Anderson, NxbTổng hợp TP.Hồ Chí Minh năm 2008, tr14)

Đọc văn bản trên và thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Văn bản tập trung bàn về vấn đề gì?

Câu 2. Chỉ ra và nêu tác dụng biện pháp tu từ trong câu:"Trước những thác ghềnh, chông gai trên đường khiến chúng ta cảm thấy nản lòng và hoài nghi, thì niềm tin mãnh liệt vào bản thân là điều cần thiết hơn bao giờ hết để chúng ta vượt qua những trắc trở đó."

Câu 3. Theo anh/ chị, việc đưa ra dẫn chứng hai nhân vật Walt Disney Helen Keller có tác dụng gì?

Câu 4. Anh chị có đồng tình với quan điểm: Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ đơn giản là học được từ người khác hay không? Vì sao?

 Phn II. Làm văn (7,0 đim)

Câu 1. (2,0 đim)

Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/ chị hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ về sức mạnh nghị lực của con người trong cuộc sống.

41
19 tháng 8 2021

mày đừng so sánh tao với nó\n_vì nó là chó còn tao là người\n_Mày đừng bật cười khi nghe điều đó\n_vì cả mày và nó đều chó như nhau

19 tháng 8 2021

Phần I 

Câu 1:

Văn bản tập trung vào vấn đề nghị luận bàn về niềm tin vào bản thân, nỗ lực phấn đấu không bỏ cuộc để vượt qua những khó khăn, thác ghềnh bằng tự lực để chinh phục thành công.

Câu 2:

Biện pháp ẩn dụ:"thác ghềnh, chông gai trên đường" vì tác giả so sánh những chướng ngại vật trên đường đi hàng ngày của mỗi người cũng giống như những khó khăn, gian nan trên đường đời mỗi người phải trải qua để thành công.

Câu 3:

Tác giả đưa hai dẫn chứng về Walt Disney và Helen Keller là để làm dẫn chứng thuyết phục cho vấn đề cần nghị luận của mình đó là đã có những tấm gương gặp muôn vàn khó khăn trắc trở trong cuộc sống nhưng họ không buông xuôi hay dựa dẫm vào người khác mà biết cách đứng dậy sau vấp ngã và thành công.

Câu 4:

Em đồng ý với quan điểm:"Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ là học từ người khác". Những người đi trước và câu chuyện xoay quanh sự thành bại của họ chính là những bài học quý báu cho người sau. Những con người đi trước và thành công sau 1 quá trình gian nan đó chính là những bằng chứng sống để người đời sau tin tưởng vào mình dù có trải qua bao thác ghềnh, chông gai.

Phần II

Có một câu chuyện ngụ ngôn mà hồi bé chúng ta hay được nghe kể về cuộc đua của  rùa và thỏ, con thỏ nhanh nhẹn nhưng lại tự phụ, xem thường đối thủ,tuy con rùa chậm chạp nhưng lại nỗ lực không ngừng, kết quả ai cũng biết, con rùa đã thắng con thỏ. Xuyên suốt câu truyện Rùa và Thỏ là ý chí của con  rùa, nó  không đầu hàng trước những thất bại. Rõ ràng, con thỏ có năng lực nhưng ý chí lại không tốt bằng con rùa, nó vẫn có thể về đến được vách đích nhưng con rùa vẫn chiến thắng nó,đó cũng là sự biểu trưng cho quyết tâm và ý chí của con rùa . Cũng có người từng nói “ Không phải đời người quá khó khăn, mà là do bạn nỗ lực chưa đủ”. Từ câu chuyện trên và câu nói trên, chúng ta có thể thấy được ý chí đóng 1 vai trò cực kì quan trọng trong mỗi bước tiến đến con đường thành công của mỗi con người.

Sức mạnh, trí tuệ hay thiên phú chỉ góp phần nào cho sự khác biệt giữa những người thành công và những người thất bại, nhưng hơn thế nữa quyết định chủ yếu là ở ý chí. Vậy ý chí hay sự quyết tâm là gì mà nó lại đóng góp không nhỏ vào chính cuộc đời chúng ta? Ý chí, nghị lực là ý thức, tính tự giác, mạnh mẽ, quyết tâm dồn nén sức lực, trí tuệ để đạt được tiêu chí, mục đích. Ý chí cũng là phẩm chất tâm lí đặc trưng của con người, thể hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có nỗ lực khắc phục khó khăn.Ngay từ những điều đơn giản nhất trong cuộc sống, bạn được giao một công việc trong nhiều ngày, nhưng bạn đã cố gắng, tập trung để hoàn thành trước thời hạn và nhận thêm một việc làm mới, từ đó năng suất làm việc, hiệu quả công việc và sự tin tưởng từ người giao việc cũng từ đó tăng theo. Chỉ từ một sự quyết tâm nhỏ ấy thôi mà cũng kéo theo được vô cùng nhiều giá trị và lợi ích không chỉ đối với bản than mà còn đối với những người xung quanh chúng ta. Ý chí như thôi thúc bản thân mỗi chúng ta, như tiếp thêm cho ta phần nào sức mạnh để ngày càng tới gần hơn mục tiêu đã đề ra. Câu chuyện được minh chứng bởi Thomas Edison – nhà phát minh tài ba của thế kỉ XX, hơn 10.000 lần thất bại để đem được ánh sáng đến với nhân loại, nếu không có ông thì dường như việc bóng đèn xuất hiện với thế giới sẽ bị đẩy lùi đi mười mấy năm, rõ ràng, chính ý chí quyết tâm của Edison đã khiến con đường của nền văn minh hiện đại của con người trở nên ngắn lại.

Ý chí giúp chúng ta toàn sức tập trung vào mục tiêu bằng cách ngăn cản các suy nghĩ không liên quan khác xảy đến. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ hoàn thành công việc một cách nhanh chóng và hiểu quả. Chủ tịch Hồ chí đã nói:

“Không có việc gì khó

Chỉ sợ lòng không bền

Đào núi và lấp biển

Quyết chí ắt làm nên”

Câu nói này càng như khẳng định vai trò quan trọng và to lớn của sức mạnh ý chỉ và quyết tâm, đáng sợ nhất không phải là những người có tài năng thiên bẩm mà là những người có nghị lực vươn lên. Ý chí rèn luyện bản thân sự quyết đoán và nhạy bén trong mọi vấn đề cuộc sống từ đó thúc đẩy hành trình của bản thân trở nên tinh gọn. Nghị lực là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với bản thân mỗi người, tuy nhiên không phải ai cũng nhận ra được giá trị cốt lõi của nó. Trái ngược với những người có ý chí là những người thờ ơ, không đủ quyết tâm, nhụt trí trước những thử thách cuộc sống. Giới trẻ bây giờ không ít người chưa làm đã vội bỏ cuộc, thấy khó khăn đã nản chí, gặp thất bại thì hủy hoại và sống bất cần đời. Những người như thế thật đáng chê trách. Là học sinh, chúng ta cần khẳng định tư cách, ý chí, nghị lực vượt qua những khó khăn thử thách .Tài năng của con người được tạo bởi nhiều yếu tố. Trong đó yếu tố tự rèn là yếu tố quan trọng nhất để đi đến thành công. Để thấy mình không thấp hơn người khác, bản thân phải có sự lao động chăm chỉ, cần cù, không chùn bước trước gian nguy, phải biết tự tin vào chính bản thân trên bước đường đời.

           Nhìn chung, một lần nữa cần phải khẳng định lại giá trị của câu nói “ Ý chí tốt làm con đường ngắn lại”. Ý chí mang đến thành công và giúp ta chinh phục mọi khó khăn trên con đường gập ghềnh phía trước. Những con người thành công và nổi tiếng nhất đều là những người có ý chí rất mạnh mẽ.Vậy nên việc rèn luyện và giữ vững một ý chí kiên cường luôn là điều tất yếu trên chặng đường của cuộc đời

Câu 1:

Từ thuở xa xưa thanh niên Việt Nam đã ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình đối với đất nước. Trong thời chiến họ luôn là lực lượng tiên phong trong các phong trào đánh giặc cứu nước, luôn là lực lượng nòng cốt của cách mạng, xả thân vì tổ quốc mà không tiếc thời tuổi trẻ. Vậy chúng ta những thanh niên may mắn được sinh ra trong thời bình, chúng là phải có trách nhiệm như thế nào để gìn giữ và bảo vệ tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng đã được đổi bằng xương máu của biết bao thế hệ đi trước, phải làm gì để xứng đáng hưởng được những thành quả ngày hôm nay. Mỗi chúng ta phải xác định cho mình một lí tưởng sống cao đẹp, phải có ước mơ và hoạch định ra cho mình một kế hoạch cụ thể, phải rèn đức luyện tài, phải hiểu được vai trò đất nước đối với chúng ta, có như vậy chúng ta mới xác định được đúng đắn nhiệm vụ của mình đối với đất nước. Chúng ta ra sức học tập cũng là đang thực hiện nhiệm của của mình với đất nước, nó không phải là một cái gì đó sâu xa như các bạn nghĩ nó chỉ đơn giản là làm tốt bổn phận của mình để phấn đấu trở thành một công dân tốt góp phần xây dựng một đất nước giàu đẹp vững mạnh. Như vậy trách nhiệm của thanh niên ở thời chiến hay thời bình đều do ý thức mỗi con người tuy nhiên nó lại được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau.

Câu 2:

Bàn về kết thúc đoạn trích "Vợ chồng A Phủ"

– Ý kiến thứ nhất: hành động cắt nút dây mây cởi trói cứu A Phủ rồi chạy theo A Phủ của nhân vật Mị thật bất ngờ, đột ngột, không thể dự đoán trước: Đánh giá kết thúc của truyện Vợ chồng A Phủ là bất ngờ với mạch truyện, tâm trạng nhân vật Mị và cả người đọc.

– Ý kiến thứ hai: Đó là là một kết thúc tự nhiên, tất yếu:  ý kiến này nhìn nhận, đánh giá kết thúc của tác phẩm trong mối quan hệ với lô gíc diễn biến tâm trạng nhân vật Mị và mạch vận động tất yếu của đời sống con người: khi bị dồn đẩy đến bước đường cùng, con người sẽ vùng lên tìm ánh sáng cho mình.

Bình luận các ý kiến:

 Cả hai ý kiến đều đúng, không đối lập mà bổ sung cho nhau, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tài năng kể chuyện, miêu tả nội tâm nhân vật của nhà văn Tô Hoài. Đồng thời, ta càng trân trọng hơn .tấm lòng yêu thương, đồng cảm của tác giả đối với người dân nơi đây.

12 tháng 12 2021

-

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng...
Đọc tiếp

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)

“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng chất dinh dưỡng để lớn lên và thay đổi. Song, tất cả sự thay đổi đó lặng lẽ tới mức, với tôi, cây sồi già trong sân trông vẫn như khi tôi nhìn thấy nó thuở ấu thơ.” (James Lovelock) (1)

Từ văn bản trên, anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận về chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng.

Câu 2. Nghị luận văn học (12,0 điểm)

Trong diễn văn đọc tại lễ bế mạc các hoạt động vinh danh giải Nobel ngày 10 tháng 12 năm 1957 ở Stockholm, A. Camus cho rằng: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”(2)

Bằng trải nghiệm văn học, anh/ chị hãy bàn luận ý kiến trên.

1
1. Lắng nghe sự thinh lặng Answer: Bài văn mẫu về chủ đề lắng nghe sự thinh lặng. Mở bài Trong cuộc sống ồn ào, vội vã, con người thường mải mê chạy theo những thanh âm, những tiếng nói từ bên ngoài mà quên mất đi một điều vô cùng quan trọng: lắng nghe sự thinh lặng. Sự thinh lặng không phải là sự im bặt, trống rỗng, mà là một không gian để tâm hồn nghỉ ngơi, để trí não soi chiếu những suy tư sâu sắc. James Lovelock từng ví Trái Đất như một cái cây tồn tại thầm lặng, trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai, cho thấy sự vận động và biến đổi kỳ diệu diễn ra trong im lặng. Chủ đề "Lắng nghe sự thinh lặng" mời gọi mỗi chúng ta nhìn nhận lại cách sống, cách cảm nhận thế giới và thấu hiểu chính mình. Thân bài 1. Giải thích và ý nghĩa của sự thinh lặng Sự thinh lặng là trạng thái không có tiếng động hoặc âm thanh. Tuy nhiên, trong ngữ cảnh nghị luận xã hội, thinh lặng mang ý nghĩa sâu sắc hơn: đó là sự tĩnh tâm, là khoảng không gian nội tâm để con người suy ngẫm, chiêm nghiệm. Lắng nghe sự thinh lặng là khả năng tạm gác lại những xô bồ, náo nhiệt của cuộc sống, để tâm trí được thanh lọc và tập trung vào những giá trị cốt lõi. 2. Biểu hiện của việc lắng nghe sự thinh lặng Việc lắng nghe sự thinh lặng được thể hiện qua nhiều khía cạnh:
  • Tự vấn bản thân: Trong những khoảnh khắc yên tĩnh, con người có cơ hội nhìn lại hành động, suy nghĩ, sai lầm và cả những ước mơ của mình. Sự thinh lặng giúp ta trung thực hơn với chính mình.
  • Thấu hiểu thế giới xung quanh: Như cái cây của Lovelock, vạn vật trong tự nhiên vận hành trong sự thinh lặng tuyệt đối. Lắng nghe sự thinh lặng giúp ta cảm nhận được nhịp đập của sự sống, sự biến đổi tinh tế của thiên nhiên mà những âm thanh huyên náo thường che lấp.
  • Tăng cường sự tập trung và sáng tạo: Khi không bị phân tán bởi tiếng ồn, trí óc con người hoạt động hiệu quả hơn, ý tưởng mới mẻ dễ dàng nảy sinh.
3. Bàn luận mở rộng Trong xã hội hiện đại, con người ngày càng khó tìm thấy sự thinh lặng. Mạng xã hội, thông tin liên tục, công việc áp lực khiến chúng ta luôn trong trạng thái "bận rộn". Điều này dẫn đến sự căng thẳng, lo âu và mất kết nối với chính mình. Do đó, việc chủ động tìm kiếm và lắng nghe sự thinh lặng là vô cùng cần thiết. Nó là liều thuốc chữa lành tâm hồn, giúp cân bằng cảm xúc và sống chậm lại. Kết bài "Lắng nghe sự thinh lặng" không phải là một hành động thụ động mà là một nghệ thuật sống, một sự chủ động tìm kiếm bình yên trong tâm hồn. Giống như cây sồi già vẫn giữ nguyên dáng vẻ qua bao năm tháng dù có nhiều sự thay đổi lặng lẽ, sự thinh lặng giúp chúng ta giữ vững bản ngã giữa dòng đời vạn biến. Hãy dành cho mình những khoảng lặng cần thiết để thấu hiểu bản thân, yêu thương cuộc sống và cảm nhận thế giới một cách trọn vẹn hơn. 2. Bàn luận về ý kiến của A. Camus Answer: Bài văn mẫu bàn luận về ý kiến của A. Camus về người nghệ sĩ. Mở bài Albert Camus, trong diễn văn nhận giải Nobel năm 1957, đã đưa ra một nhận định sâu sắc về vai trò và sứ mệnh của người nghệ sĩ: "Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi." (2) Ý kiến này khẳng định mối quan hệ biện chứng, không thể tách rời giữa cá nhân người nghệ sĩ, cái đẹp trong nghệ thuật và trách nhiệm với cộng đồng. Bằng trải nghiệm văn học, ta thấy nhận định của Camus là kim chỉ nam cho mọi hoạt động sáng tạo chân chính. Thân bài 1. Mối tương quan giữa người nghệ sĩ và cộng đồng Người nghệ sĩ không tồn tại biệt lập mà luôn trong mối tương quan với xã hội, với "người khác". Cuộc sống, con người là chất liệu vô tận cho sáng tạo. Các tác phẩm văn học lớn đều phản ánh hiện thực, số phận con người, và những vấn đề của thời đại. Ví dụ, Nam Cao với tác phẩm Chí Phèo, đã phơi bày bi kịch của người nông dân bị bần cùng hóa, bị xã hội vùi dập, qua đó thể hiện sự gắn bó sâu sắc với cộng đồng, lên tiếng bênh vực những số phận bất hạnh. 2. Cân bằng giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng "Cái đẹp không thể bỏ qua" là mục tiêu hướng tới của nghệ thuật. Văn chương phải là cái đẹp, là sự tinh tế trong ngôn từ, cấu trúc, hình ảnh. Tuy nhiên, cái đẹp đó không phải là sự phù phiếm, thoát ly thực tế mà phải gắn liền với "cộng đồng không thể tách khỏi". Tác phẩm đạt đến cái đẹp chân chính khi nó vừa mang giá trị thẩm mỹ cao, vừa chứa đựng thông điệp nhân văn sâu sắc, phục vụ con người, thức tỉnh lương tri. 3. Trải nghiệm văn học chứng minh Qua các tác phẩm văn học, ta thấy rõ sự tôi luyện của người nghệ sĩ trong mối tương quan này.
  • Văn học hiện thực phê phán: Các nhà văn như Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Ngô Tất Tố (Tắt đèn) đã sử dụng ngòi bút sắc bén để phơi bày những thói hư tật xấu, sự bất công của xã hội, nhằm thức tỉnh cộng đồng. Cái đẹp trong tác phẩm của họ là cái đẹp của sự thật trần trụi, có sức lay động mạnh mẽ.
  • Văn học cách mạng: Các nhà thơ như Tố Hữu (Việt Bắc) đã gắn thơ ca với sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Thơ của ông vừa giàu tính trữ tình, vừa mang tính chính trị sâu sắc, là tiếng nói chung của cộng đồng trong công cuộc giải phóng dân tộc.
4. Bàn luận mở rộng Nhận định của Camus vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay. Người nghệ sĩ hiện đại cần tránh hai khuynh hướng: hoặc quá chú trọng vào cái tôi cá nhân, cái đẹp thuần túy mà xa rời thực tế cuộc sống; hoặc biến nghệ thuật thành công cụ tuyên truyền khô khan, thiếu tính thẩm mỹ. Con đường chân chính của nghệ thuật là sự dung hòa giữa cái đẹp và trách nhiệm xã hội. Kết bài Tóm lại, ý kiến của Albert Camus là một triết lý sâu sắc về nghệ thuật và người nghệ sĩ. Sứ mệnh của người nghệ sĩ không chỉ là sáng tạo ra cái đẹp mà còn là gắn bó mật thiết với cộng đồng, dùng nghệ thuật để phục vụ con người. Sự tôi luyện bản thân trên "quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi" chính là con đường dẫn đến những tác phẩm văn học vĩ đại, có giá trị vượt thời gian.
Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng...
Đọc tiếp

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)

“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng chất dinh dưỡng để lớn lên và thay đổi. Song, tất cả sự thay đổi đó lặng lẽ tới mức, với tôi, cây sồi già trong sân trông vẫn như khi tôi nhìn thấy nó thuở ấu thơ.” (James Lovelock) (1)

Từ văn bản trên, anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận về chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng.

Câu 2. Nghị luận văn học (12,0 điểm)

Trong diễn văn đọc tại lễ bế mạc các hoạt động vinh danh giải Nobel ngày 10 tháng 12 năm 1957 ở Stockholm, A. Camus cho rằng: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”(2)

Bằng trải nghiệm văn học, anh/ chị hãy bàn luận ý kiến trên.

1
2 tháng 10 2025

Câu 1: Nghị luận xã hội (8 điểm)

Chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng


Bài làm:

Con người thường bị cuốn vào những ồn ào, náo nhiệt của cuộc sống, đến mức quên mất rằng sự thinh lặng cũng có thể nói lên rất nhiều điều quan trọng. Trong đoạn văn của James Lovelock, Trái Đất được ví như một cái cây lặng lẽ tồn tại và phát triển một cách âm thầm. Điều đó khiến ta nhận ra: có những thay đổi lớn lao, những câu chuyện sâu sắc không cần lời nói vẫn đang diễn ra ngay bên cạnh chúng ta, trong sự yên tĩnh và tĩnh lặng.

Lắng nghe sự thinh lặng chính là một cách để ta thấu hiểu, cảm nhận sâu sắc hơn về thế giới xung quanh. Sự thinh lặng không phải là khoảng trống, không phải là sự vắng mặt của âm thanh, mà là một trạng thái tích cực, chứa đựng sự sống động và những thông điệp mà tiếng ồn không thể mang lại. Khi ta biết dừng lại, lắng nghe thinh lặng, ta sẽ nhận ra những vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, sự biến đổi của cuộc sống và cả tiếng nói của chính tâm hồn mình.

Trong cuộc sống hiện đại, con người dễ bị cuốn vào guồng quay công việc, công nghệ, xã hội mà quên mất việc dành thời gian để yên tĩnh suy ngẫm, tĩnh tâm. Việc lắng nghe sự thinh lặng không chỉ giúp ta lấy lại cân bằng tinh thần mà còn giúp ta hiểu rõ hơn về bản thân và những giá trị cuộc sống. Sự thinh lặng là nguồn sức mạnh để ta đối diện với khó khăn, là không gian để nuôi dưỡng trí tuệ và lòng nhân ái.

Thực tế, nhiều bậc vĩ nhân, nhà sáng tạo nghệ thuật, nhà tư tưởng đều trân trọng khoảng lặng để sáng tạo và suy nghĩ sâu sắc. Thiên nhiên cũng dạy chúng ta bài học quý giá về sự kiên nhẫn và phát triển bền vững qua sự thinh lặng của cây cối, đất trời. Lắng nghe sự thinh lặng là học cách quan sát, trân trọng những điều nhỏ bé mà bền vững.

Như vậy, trong cuộc sống bộn bề ngày nay, mỗi người cần biết tôn trọng và dành thời gian lắng nghe sự thinh lặng. Đó là con đường dẫn ta đến sự thấu hiểu, cảm thông và yêu thương. Sự thinh lặng không phải là khoảng cách, mà là kết nối sâu sắc với thế giới và chính bản thân mình.


Kết luận:

Lắng nghe sự thinh lặng là nghệ thuật sống, là cách để ta khám phá những giá trị chân thật và trường tồn. Hãy học cách dừng lại, lắng nghe và cảm nhận, để cuộc sống thêm ý nghĩa và sâu sắc hơn.


Câu 2: Nghị luận văn học (12 điểm)

Bàn luận câu nói của A. Camus:
“Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”


Bài làm:

Albert Camus – nhà văn, triết gia lỗi lạc của thế kỷ XX đã đưa ra một quan điểm sâu sắc về người nghệ sĩ và vị trí của họ trong xã hội. Theo ông, người nghệ sĩ không tồn tại tách biệt mà luôn vận động trong mối quan hệ hai chiều: giữa cá nhân với cái đẹp và giữa cá nhân với cộng đồng.

Thứ nhất, cái đẹp không thể bỏ qua là mục tiêu, là lý tưởng mà người nghệ sĩ theo đuổi. Người nghệ sĩ luôn không ngừng tìm kiếm, sáng tạo ra cái đẹp qua tác phẩm của mình – đó có thể là vẻ đẹp thẩm mỹ, vẻ đẹp tư tưởng hay vẻ đẹp nhân văn. Cái đẹp ấy vượt lên trên sự tầm thường, cái đẹp là nguồn cảm hứng và là tiếng nói riêng của người nghệ sĩ, giúp họ khẳng định giá trị và bản sắc cá nhân.

Tuy nhiên, người nghệ sĩ cũng không thể tách rời cộng đồng – nơi họ sinh sống và làm việc. Cộng đồng là nơi cung cấp chất liệu sáng tạo, là đối tượng truyền tải thông điệp, là nguồn cảm hứng và cũng là nơi tác phẩm được đón nhận. Người nghệ sĩ có trách nhiệm phản ánh, phê phán xã hội, góp phần định hướng những giá trị tích cực, đồng thời thấu hiểu, đồng cảm với cuộc sống con người. Nghệ thuật vì thế luôn mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc.

Mối tương quan liên tục giữa cái đẹp và cộng đồng tạo nên một con đường mà người nghệ sĩ phải đi – đó là quãng đường tôi luyện bản thân không ngừng nghỉ. Họ vừa phải giữ vững lý tưởng sáng tạo, vừa phải lắng nghe, giao tiếp và đồng hành với con người và xã hội. Nếu chỉ theo đuổi cái đẹp mà quên cộng đồng, nghệ thuật sẽ trở nên hời hợt, xa rời thực tế; ngược lại, nếu chỉ chú trọng cộng đồng mà thiếu cái đẹp, nghệ thuật sẽ mất đi giá trị thẩm mỹ và chiều sâu nhân văn.

Thực tế trong văn học Việt Nam và thế giới đã có nhiều nghệ sĩ tiêu biểu sống và sáng tạo theo tinh thần này. Họ luôn hướng tới cái đẹp – cái đẹp của sự chân thực, nhân hậu và tự do; đồng thời luôn giữ mối liên hệ mật thiết với đời sống nhân dân, phản ánh những vấn đề xã hội, con người một cách sâu sắc và thuyết phục.

Như vậy, câu nói của A. Camus đã nhấn mạnh sự cân bằng cần thiết trong đời sống nghệ sĩ, giữa cá nhân và xã hội, giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng. Người nghệ sĩ không chỉ là người sáng tạo mà còn là người đồng hành, người truyền cảm hứng và người bảo vệ những giá trị cao đẹp của nhân loại.


Kết luận:

Người nghệ sĩ thực sự là người tôi luyện trong hành trình kết nối giữa chính mình và cộng đồng, giữa cái đẹp không thể bỏ qua và trách nhiệm đối với xã hội. Chỉ khi đó, nghệ thuật mới phát huy được sức mạnh và giá trị đích thực của nó.

Câu 6. Từ nào sau đây không thể thay thế cho từ “quyến” trong câu văn số (1) “Gió tây lướt thướt bay qua rừng, quyến hương thảo quả đi, rải theo triền núi, đưa hương thảo quả ngọt lựng, thơm nồng vào những thôn xóm Chin San” của đoạn trích?A Mang.            B. Đem.               C. Rủ.                         D. Đuổi.Câu 7. Câu văn số (1) “Gió tây...
Đọc tiếp

Câu 6. Từ nào sau đây không thể thay thế cho từ “quyến” trong câu văn số (1) “Gió tây lướt thướt bay qua rừng, quyến hương thảo quả đi, rải theo triền núi, đưa hương thảo quả ngọt lựng, thơm nồng vào những thôn xóm Chin San” của đoạn trích?

A Mang.            B. Đem.               C. Rủ.                         D. Đuổi.

Câu 7. Câu văn số (1) “Gió tây lướt thướt bay qua rừng, quyến hương thảo quả đi, rải theo triền núi, đưa hương thảo quả ngọt lựng, thơm nồng vào những thôn xóm Chin San” trong đoạn trích có mấy vị ngữ?

A. 1                B. 2                        C. 3                  D. 4

Câu 8. Chủ ngữ của câu “Hương thơm đậm ủ ấp trong từng nếp áo, nếp khăn” là:

A. “Hương thơm”.       B. “Hương thơm đậm            C. “Nếp áo”.                   D. “Nếp khăn”.

Câu 9. Xét theo mục đích nói, câu văn số (3) “Cây cỏ thơm.” của đoạn trích thuộc kiểu câu gì?

A. Trần thuật.             B. Nghi vấn.             C. Cầu khiến.              D. Cảm thán.

Câu 10. Ý nào sau đây không phải là tác dụng của việc lặp lại từ “thơm” trong các câu số “(2) Gió thơm. (3) Cây cỏ thơm. (4) Đất trời thơm”?

A. Liên kết câu (3), (4) với câu (2).

B. Nhấn mạnh hương thơm của thảo quả trải khắp không gian.

C. Làm cho câu ngắn gọn hơn.

2
5 tháng 6 2021

Câu 6. Từ nào sau đây không thể thay thế cho từ “quyến” trong câu văn số (1) “Gió tây lướt thướt bay qua rừng, quyến hương thảo quả đi, rải theo triền núi, đưa hương thảo quả ngọt lựng, thơm nồng vào những thôn xóm Chin San” của đoạn trích?

A Mang.            B. Đem.               C. Rủ.                         D. Đuổi.

Câu 7. Câu văn số (1) “Gió tây lướt thướt bay qua rừng, quyến hương thảo quả đi, rải theo triền núi, đưa hương thảo quả ngọt lựng, thơm nồng vào những thôn xóm Chin San” trong đoạn trích có mấy vị ngữ?

A. 1                B. 2                        C. 3                  D. 4

Câu 8. Chủ ngữ của câu “Hương thơm đậm ủ ấp trong từng nếp áo, nếp khăn” là:

A. “Hương thơm”.       B. “Hương thơm đậm            C. “Nếp áo”.                   D. “Nếp khăn”.

Câu 9. Xét theo mục đích nói, câu văn số (3) “Cây cỏ thơm.” của đoạn trích thuộc kiểu câu gì?

A. Trần thuật.             B. Nghi vấn.             C. Cầu khiến.              D. Cảm thán.

Câu 10. Ý nào sau đây không phải là tác dụng của việc lặp lại từ “thơm” trong các câu số “(2) Gió thơm. (3) Cây cỏ thơm. (4) Đất trời thơm”?

A. Liên kết câu (3), (4) với câu (2).

B. Nhấn mạnh hương thơm của thảo quả trải khắp không gian.

C. Làm cho câu ngắn gọn hơn.

5 tháng 6 2021

Trả lời :

6. D

7. D

8. B

9. A

10.C

1. Đặt vấn đềSử thi "Đăm Săn" là pho sử thi nổi tiếng của người Ê-đê. Đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" là một trong những trích đoạn tiêu biểu kể lại hành trình chinh phục Nữ Thần Mặt Trời của người anh hùng Đăm Săn. Đồng thời, nó còn phản ánh diện mạo đời sống tinh thần, niềm tin cộng đồng người Ê-đê. Thông qua đoạn trích, không gian sinh hoạt của người...
Đọc tiếp

1. Đặt vấn đề

Sử thi "Đăm Săn" là pho sử thi nổi tiếng của người Ê-đê. Đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" là một trong những trích đoạn tiêu biểu kể lại hành trình chinh phục Nữ Thần Mặt Trời của người anh hùng Đăm Săn. Đồng thời, nó còn phản ánh diện mạo đời sống tinh thần, niềm tin cộng đồng người Ê-đê. Thông qua đoạn trích, không gian sinh hoạt của người Ê-đê được hiện lên rõ nét và trở thành một điểm nhấn thú vị, đáng để khám phá.

2. Giải quyết vấn đề

a. Kiến trúc nhà ở của người Ê-đê trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời"

Trước hết, kiến trúc nhà ở của người Ê-đê trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" gắn liền với hình ảnh nhà sàn dài. Nhà sàn dài là kiến trúc độc đáo và đặc biệt của người Ê-đê ở Tây Nguyên. Đặc trưng của nhà dài Tây Nguyên bao gồm: hình thức của thang, cột sàn và cách bố trí vật dụng trên mặt bằng sinh hoạt. Điều này được miêu tả rất rõ trong đoạn trích ở các chi tiết: "Chồm lên hai lần, chàng leo hết cầu thang. Chàng giậm chân trên sàn sân, hai lần sàn sân làm như vỗ cánh, bảy hàng cột nhà chao qua chao lại từ đông sang tây", "cầu thang trông như cái cầu vồng", "tòa nhà dài dằng dặc", "voi vây chặt sàn sân", "các xà ngang xà dọc đều thếp vàng". Hình ảnh nhà sàn dài dằng dặc, cầu thang, xà ngang xuất hiện nhiều lần và được lặp đi lặp lại cho thấy dấu ấn kiến trúc nhà ở đặc trưng của đồng bào người Ê-đê. Tuy kiến trúc nhà ở không được miêu tả một cách tỉ mỉ nhưng những hình ảnh tiêu biểu như vậy cũng đủ để làm đồng hiện nền văn hóa đặc sắc của vùng Tây Nguyên.

b. Sinh hoạt của người Ê-đê trong không gian nhà ở trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời"

Không gian nhà dài chính là nơi cư trú của người dân Ê-đê. Tại đây diễn ra rất nhiều hoạt động gắn liền với văn hóa của người Ê-đê như hội họp, ăn mừng, kể chuyện sử thi, tổ chức nghi lễ thờ cúng thần linh,... Đoạn văn trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" đã miêu tả lại khung cảnh của người dân như sau: "tôi tớ trải dưới một chiếu trắng, trải trên một chiếu đỏ làm chỗ ngồi cho nhà tù trưởng. Rồi họ đem thuốc sợi cả hòm đồng, thuốc lá cả sọt đại, trầu vỏ cả gùi to, không còn sợ thiếu thuốc thiếu trần cho Đăm Săn ăn, hút. Họ đốt một gà mái ấp, giết một gà mái đẻ, giã gạo trắng như hoa êpang, sáng như ánh mặt trời, nấu cơm mời khách. Họ đi lấy rượu, đem một ché tuk da lươn, một ché êbah Mnông, trên vẽ hoa kơ-ụ, dưới lượn hoa văn, tai ché hình mỏ vẹt xâu lỗ. Đó là những cái ché ngã giá phải ba voi. Ai đi lấy nước cứ đi lấy nước, ai đánh chiêng cứ đánh chiêng, ai cắm cần cứ cắm cần. Cần cắm rồi, người ta mời Đăm Săn vào uống.". Các vật dụng xuất hiện trong đoạn văn như: ché tuk, ché êbah, là những đồ vật được làm bằng gốm với hình hoa văn đa dạng, được xem là những đồ vật quý của người Ê-đê. Nó biểu thị cho sự sung túc, giàu có, phải "ngã giá bằng ba voi" mới có được.

Hơn nữa, đoạn văn còn làm nổi bật được hoạt động và tính cách của người dân Ê-đê. Để thiết đãi vị tù trưởng Đăm Săn - vị khách quý của buôn làng, người dân nô nức thi nhau mang ra những món ăn ngon nhất, những loại thuốc quý nhất để thiết đãi: thuốc sợi, thuốc lá, trầu vỏ, gà mái ấp, gà mái đẻ, gạo trắng. Người Ê-đê hiện lên với nét tính cách xởi lởi, hào phóng, nồng hậu. Những hoạt động thiết đãi tù trưởng Đăm Săn cũng chính là những hoạt động của dân làng khi tiếp đón những vị khách quý từ phương xa.

Bên cạnh đó, chi tiết "chiêng xếp đầy nhà ngoài", "cồng chất đầy nhà trong" và "ai đánh chiêng cứ đánh chiêng, ai cắm cần cứ cắm cần" đã phản ánh phong tục đánh cồng chiêng và uống rượu cần của người dân vùng Tây Nguyên. Cồng chiêng không chỉ là nhạc cụ mà nó còn chứa đựng giá trị văn hóa của cộng đồng người Ê-đê. Chính vì vậy, chi tiết Đăm Săn đến nhà Nữ Thần Mặt Trời thấy hình ảnh "chiêng xếp đầy nhà ngoài, cồng xếp đầy nhà trong" biểu thị cho sự quyền lực và giàu có. Người Ê-đê tin rằng: mỗi một chiếc cồng đều ẩn chứa một vị thần cho nên càng nhiều cồng, cồng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao. Ngoài ra, tục uống rượu cần cũng là một nét đẹp văn hóa trong đời sống của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Rượu cần trong đoạn trích chính là phương tiện để gắn kết tình cảm giữa người tù trưởng Đăm Săn và Đăm Par Kvây. Rượu không chỉ đóng vai trò trong các buổi thực hành nghi lễ để cầu xin đấng thần linh mà nó còn thể hiện đầy đủ tinh thần tập thể của cộng đồng, lòng mến khách của chủ nhà.

Có thể nói, những vật dụng trong căn nhà của người Ê-đê không chỉ gắn liền với hoạt động sống mà còn phản ánh được tính cách, sự giàu có, phồn vinh của cả một cộng đồng.

3. Kết luận

Đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" là đoạn trích quan trọng của sử thi "Đăm Săn". Đoạn trích không chỉ khắc họa vẻ đẹp phi thường, khát vọng mãnh liệt của người anh hùng Đăm Săn mà qua đó, chúng ta còn thấy được những nét đẹp văn hóa, đặc biệt là không gian sinh hoạt của người Ê-đê ở Tây Nguyên. Sử thi "Đăm Săn" cho thấy kiến trúc nhà dài, vật dụng gắn liền với sinh hoạt và lối sống, tính cách của đồng bào người Ê-đê. Các giá trị vật chất, tinh thần của người Ê-đê trong thời đại mới cần phải được bảo tồn và phát huy hơn nữa.

1
30 tháng 11 2025

Tài liệu tham khảo này tu đâu


16 tháng 10 2021

chọn B

16 tháng 10 2021

thanks

Cô Thương Hoài chào thân ái toàn thể các thành viên của olm. Vậy là đã gần hai tháng từ ngày phát động cuộc thi: "Thầy Cô Thương Mến", Với  ý thức tham gia tích cực của thí sinh, sự nhiệt tình ủng hộ của các thầy cô ban giám hiệu các trường, Với tinh thần làm việc khẩn trương, nghiêm túc cùng với tình thương và trách nhiệm của ban tổ chức. Cuộc thi đã khép lại vớ những kết quả...
Đọc tiếp

Cô Thương Hoài chào thân ái toàn thể các thành viên của olm. Vậy là đã gần hai tháng từ ngày phát động cuộc thi: "Thầy Cô Thương Mến", Với  ý thức tham gia tích cực của thí sinh, sự nhiệt tình ủng hộ của các thầy cô ban giám hiệu các trường, Với tinh thần làm việc khẩn trương, nghiêm túc cùng với tình thương và trách nhiệm của ban tổ chức. Cuộc thi đã khép lại vớ những kết quả tuyệt vời hòa cùng những kỉ niệm sâu sắc mà các em viết về thầy cô. Thay mặt ban tổ chức xin cảm ơn mọi người. Hãy check in và để lại bình luận về cảm xúc của các em ngay nhé!

 

Sau đây là kết quả và giải thưởng của cuộc thi: "Thầy Cô Thương Mến"

                           DANH SÁCH TẬP THỂ, CÁ NHÂN  

   ĐƯỢC GIÁM ĐỐC CTCP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC KHEN THƯỞNG

 

 I, Tập thể: 01 tập thể

stt

 Tên

Giải

1

Tập thể lớp 4B trường TH&THCS Đông Hoàng, Đông Hưng Thái Bình

Khuyến Khích

  2; Cá nhân: 16 cá nhân

stt

Họ và tên

Địa chỉ

Thưởng

1

Nguyễn Ngọc Cẩm Hà

Lớp 6/1 THCS Nguyễn Huệ, Hải Châu, Đà Nẵng

Nhất

2

Phạm Đỗ Minh Tâm

Lớp 5A TH&THCS Đông Hoàng, Đông Hưng Thái Bình

Nhì

3

Đoàn Trần Quỳnh Hương

Cộng tác viên hoc24.vn nhiệm kì 22 năm 2023 -2024

Nhì

4

Nhâm Ngọc Hân

Lớp 4B TH&THCS Đông Hoàng, Đông Hưng, Thái Bình

Nhì

5

Nguyễn Đăng Nhân

Lớp 8A THCS &THPT Cồn Tiên, Gio Linh, Quảng Trị

Ba

6

Nguyễn Xuân Thành

Lớp 8A6 THCS Phương Đông, Uông Bí, Quảng Ninh

Ba

7

Nguyễn Hữu Khánh

Lớp 7A THCS Phan Chu Trinh, Buôn Mê Thuột, Đắk Lắk

Ba

8

Tô Văn Hải

Lớp 5A TH&THCS Đông Hoàng, Đông Hưng, Thái Bình

Ba

9

Trần Minh Tú

Lớp 4B TH&THCS Đông Hoàng, Đông Hưng, Thái Bình

Ba

10

Phạm Thị Thu Phương

Lớp 5A TH&THCS Đông Hoàng, Đông Hưng, Thái Bình

Khuyến khích

11

Bùi Lê Hải Băng

Lớp 5A TH&THCS Đông Hoàng, Đông Hưng, Thái Bình

Khuyến khích

12

Phí Đức Hiếu

Lớp 4B TH&THCS Đông Hoàng, Đông Hưng, Thái Bình

Khuyến khích

13

Lê Phương Trinh

Lớp 4B TH&THCS Đông Hoàng, Đông Hưng, Thái Bình

Khuyến khích

14

Phạm Ngọc Bảo An

Lớp 4B TH&THCS Đông Hoàng, Đông Hưng, Thái Bình

Khuyến khích

15

Phạm Thanh Thủy

Lớp 9B TH&THCS Đông Hoàng, Đông Hưng, Thái Bình

Khuyến khích

16

Lã Đức Thành

Lớp 7A THCS Phan Chu Trinh, Buôn Mê Thuột, Đắk Lắk

Khuyến khích

 Tiền thưởng và giấy khen cô sẽ chuyển tới các em nhé!


33
22 tháng 12 2023

em camon cô ah

22 tháng 12 2023

Không có tên em rồi, buồn quá vì em không tham gia.

Câu 1 (trang 53 sgk Tiếng Việt 4) :
Tìm danh từ chỉ khái niệm trong số các danh từ được in đậm dưới đây.

Một điểm nổi bật trong đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh là lòng thương người... Chính vì thấy nước mất, nhà tan... mà Người đã ra đi học tập kinh nghiệm của cách mạng thế giới để về giúp đồng bào.

Theo TRƯỜNG CHINH

Trả lời:
Danh từ chỉ khái niệm trong đoạn văn đã cho là: điểm, đạo đức, kinh nghiệm, cách mạng.

9 tháng 10 2021

nhanh