Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
mày đừng so sánh tao với nó\n_vì nó là chó còn tao là người\n_Mày đừng bật cười khi nghe điều đó\n_vì cả mày và nó đều chó như nhau
Phần I
Câu 1:
Văn bản tập trung vào vấn đề nghị luận bàn về niềm tin vào bản thân, nỗ lực phấn đấu không bỏ cuộc để vượt qua những khó khăn, thác ghềnh bằng tự lực để chinh phục thành công.
Câu 2:
Biện pháp ẩn dụ:"thác ghềnh, chông gai trên đường" vì tác giả so sánh những chướng ngại vật trên đường đi hàng ngày của mỗi người cũng giống như những khó khăn, gian nan trên đường đời mỗi người phải trải qua để thành công.
Câu 3:
Tác giả đưa hai dẫn chứng về Walt Disney và Helen Keller là để làm dẫn chứng thuyết phục cho vấn đề cần nghị luận của mình đó là đã có những tấm gương gặp muôn vàn khó khăn trắc trở trong cuộc sống nhưng họ không buông xuôi hay dựa dẫm vào người khác mà biết cách đứng dậy sau vấp ngã và thành công.
Câu 4:
Em đồng ý với quan điểm:"Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ là học từ người khác". Những người đi trước và câu chuyện xoay quanh sự thành bại của họ chính là những bài học quý báu cho người sau. Những con người đi trước và thành công sau 1 quá trình gian nan đó chính là những bằng chứng sống để người đời sau tin tưởng vào mình dù có trải qua bao thác ghềnh, chông gai.
Phần II
Có một câu chuyện ngụ ngôn mà hồi bé chúng ta hay được nghe kể về cuộc đua của rùa và thỏ, con thỏ nhanh nhẹn nhưng lại tự phụ, xem thường đối thủ,tuy con rùa chậm chạp nhưng lại nỗ lực không ngừng, kết quả ai cũng biết, con rùa đã thắng con thỏ. Xuyên suốt câu truyện Rùa và Thỏ là ý chí của con rùa, nó không đầu hàng trước những thất bại. Rõ ràng, con thỏ có năng lực nhưng ý chí lại không tốt bằng con rùa, nó vẫn có thể về đến được vách đích nhưng con rùa vẫn chiến thắng nó,đó cũng là sự biểu trưng cho quyết tâm và ý chí của con rùa . Cũng có người từng nói “ Không phải đời người quá khó khăn, mà là do bạn nỗ lực chưa đủ”. Từ câu chuyện trên và câu nói trên, chúng ta có thể thấy được ý chí đóng 1 vai trò cực kì quan trọng trong mỗi bước tiến đến con đường thành công của mỗi con người.
Sức mạnh, trí tuệ hay thiên phú chỉ góp phần nào cho sự khác biệt giữa những người thành công và những người thất bại, nhưng hơn thế nữa quyết định chủ yếu là ở ý chí. Vậy ý chí hay sự quyết tâm là gì mà nó lại đóng góp không nhỏ vào chính cuộc đời chúng ta? Ý chí, nghị lực là ý thức, tính tự giác, mạnh mẽ, quyết tâm dồn nén sức lực, trí tuệ để đạt được tiêu chí, mục đích. Ý chí cũng là phẩm chất tâm lí đặc trưng của con người, thể hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có nỗ lực khắc phục khó khăn.Ngay từ những điều đơn giản nhất trong cuộc sống, bạn được giao một công việc trong nhiều ngày, nhưng bạn đã cố gắng, tập trung để hoàn thành trước thời hạn và nhận thêm một việc làm mới, từ đó năng suất làm việc, hiệu quả công việc và sự tin tưởng từ người giao việc cũng từ đó tăng theo. Chỉ từ một sự quyết tâm nhỏ ấy thôi mà cũng kéo theo được vô cùng nhiều giá trị và lợi ích không chỉ đối với bản than mà còn đối với những người xung quanh chúng ta. Ý chí như thôi thúc bản thân mỗi chúng ta, như tiếp thêm cho ta phần nào sức mạnh để ngày càng tới gần hơn mục tiêu đã đề ra. Câu chuyện được minh chứng bởi Thomas Edison – nhà phát minh tài ba của thế kỉ XX, hơn 10.000 lần thất bại để đem được ánh sáng đến với nhân loại, nếu không có ông thì dường như việc bóng đèn xuất hiện với thế giới sẽ bị đẩy lùi đi mười mấy năm, rõ ràng, chính ý chí quyết tâm của Edison đã khiến con đường của nền văn minh hiện đại của con người trở nên ngắn lại.
Ý chí giúp chúng ta toàn sức tập trung vào mục tiêu bằng cách ngăn cản các suy nghĩ không liên quan khác xảy đến. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ hoàn thành công việc một cách nhanh chóng và hiểu quả. Chủ tịch Hồ chí đã nói:
“Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên”
Câu nói này càng như khẳng định vai trò quan trọng và to lớn của sức mạnh ý chỉ và quyết tâm, đáng sợ nhất không phải là những người có tài năng thiên bẩm mà là những người có nghị lực vươn lên. Ý chí rèn luyện bản thân sự quyết đoán và nhạy bén trong mọi vấn đề cuộc sống từ đó thúc đẩy hành trình của bản thân trở nên tinh gọn. Nghị lực là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với bản thân mỗi người, tuy nhiên không phải ai cũng nhận ra được giá trị cốt lõi của nó. Trái ngược với những người có ý chí là những người thờ ơ, không đủ quyết tâm, nhụt trí trước những thử thách cuộc sống. Giới trẻ bây giờ không ít người chưa làm đã vội bỏ cuộc, thấy khó khăn đã nản chí, gặp thất bại thì hủy hoại và sống bất cần đời. Những người như thế thật đáng chê trách. Là học sinh, chúng ta cần khẳng định tư cách, ý chí, nghị lực vượt qua những khó khăn thử thách .Tài năng của con người được tạo bởi nhiều yếu tố. Trong đó yếu tố tự rèn là yếu tố quan trọng nhất để đi đến thành công. Để thấy mình không thấp hơn người khác, bản thân phải có sự lao động chăm chỉ, cần cù, không chùn bước trước gian nguy, phải biết tự tin vào chính bản thân trên bước đường đời.
Nhìn chung, một lần nữa cần phải khẳng định lại giá trị của câu nói “ Ý chí tốt làm con đường ngắn lại”. Ý chí mang đến thành công và giúp ta chinh phục mọi khó khăn trên con đường gập ghềnh phía trước. Những con người thành công và nổi tiếng nhất đều là những người có ý chí rất mạnh mẽ.Vậy nên việc rèn luyện và giữ vững một ý chí kiên cường luôn là điều tất yếu trên chặng đường của cuộc đời
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.
Câu 2: Lí do để nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương đó là lời nói của ba: Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”
Câu 3: Việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa:
- Khi chúng ta dạy cho con cái mình những điều tốt đẹp, chúng sẽ mang những điều tốt đẹp đó để cư xử với tất cả mọi người xung quanh và dạy dỗ thế hệ sau.
- Những điều tốt đẹp ấy sẽ lan tỏa, có sức ảnh hưởng tích cực đến muôn đời sau.
- Làm tăng ý nghĩa, tính triết lí cho văn bản.
- Làm tăng sức thuyết phục, tin cậy cho nội dung mà tác giả muốn gửi gắm.
Câu 4:
- Trong cuộc đời mỗi người luôn có nhiều người thầy nhưng cha mẹ luôn là người thầy đầu tiên của con.
- Mỗi chúng ta sẽ cảm thấy ấm áp và hạnh phúc vô cùng khi được học những điều bình dị từ chính người cha yêu quý của mình. Cha luôn là người dành cả tình yêu thương và tấm lòng bao la của tình phụ tử thiêng liêng để chỉ bảo ta trên đường đời.
- Bài học từ người thầy đầu tiên ấy là điều vô cùng quý giá, sẽ để lại dấu ấn sâu sắc và gợi nhiều kỉ niệm để nhớ về trên chặng đường sau này.
Dưới đây là gợi ý trả lời cho các câu hỏi đọc hiểu dựa trên đoạn trích từ tác phẩm Nếu biết trăm năm là hữu hạn của Phạm Lữ Ân:
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
- Phương thức biểu đạt chính: Tự sự kết hợp với nghị luận.
- Đoạn trích kể lại câu chuyện về lời dạy của ba dành cho nhân vật "tôi" (tự sự), đồng thời thể hiện quan điểm, suy nghĩ về giá trị của sự chính trực và tình yêu thương (nghị luận).
Câu 2: Vì sao nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương?
- Nhân vật "tôi" muốn trở thành người chính trực và biết yêu thương vì ba mẹ đã dạy rằng dù con có sai lầm, ba mẹ vẫn yêu thương con vô điều kiện.
- Nhưng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành người chính trực và biết yêu thương.
- Lời dạy đó là động lực và lí do duy nhất để nhân vật "tôi" quyết tâm trở thành người như vậy.
Câu 3: Theo em, việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa gì?
- Câu trích nhấn mạnh tính liên tục của việc giáo dục và truyền lại giá trị đạo đức qua các thế hệ.
- Việc dạy con không chỉ ảnh hưởng đến con cái mà còn ảnh hưởng đến cả các thế hệ tiếp theo (cháu chắt).
- Điều này thể hiện trách nhiệm và tầm quan trọng của việc giáo dục con cái trong gia đình.
Câu 4: Em rút ra được thông điệp gì từ những câu văn sau:
“Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.”
- Thông điệp:
- Sự học hỏi từ người thân, đặc biệt là từ cha mẹ, có ý nghĩa sâu sắc và đặc biệt hơn so với việc học từ người khác.
- Những bài học đời thường, kỹ năng sống khi được truyền đạt từ người thân yêu mang giá trị tinh thần và tình cảm lớn lao.
- Mối quan hệ gắn bó, sự tin tưởng và tình cảm gia đình làm cho việc học trở nên ý nghĩa và đáng trân trọng hơn.
Nếu bạn cần mình giải thích thêm hoặc hỗ trợ làm bài tập khác, cứ hỏi nhé!
- Tự vấn bản thân: Trong những khoảnh khắc yên tĩnh, con người có cơ hội nhìn lại hành động, suy nghĩ, sai lầm và cả những ước mơ của mình. Sự thinh lặng giúp ta trung thực hơn với chính mình.
- Thấu hiểu thế giới xung quanh: Như cái cây của Lovelock, vạn vật trong tự nhiên vận hành trong sự thinh lặng tuyệt đối. Lắng nghe sự thinh lặng giúp ta cảm nhận được nhịp đập của sự sống, sự biến đổi tinh tế của thiên nhiên mà những âm thanh huyên náo thường che lấp.
- Tăng cường sự tập trung và sáng tạo: Khi không bị phân tán bởi tiếng ồn, trí óc con người hoạt động hiệu quả hơn, ý tưởng mới mẻ dễ dàng nảy sinh.
- Văn học hiện thực phê phán: Các nhà văn như Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Ngô Tất Tố (Tắt đèn) đã sử dụng ngòi bút sắc bén để phơi bày những thói hư tật xấu, sự bất công của xã hội, nhằm thức tỉnh cộng đồng. Cái đẹp trong tác phẩm của họ là cái đẹp của sự thật trần trụi, có sức lay động mạnh mẽ.
- Văn học cách mạng: Các nhà thơ như Tố Hữu (Việt Bắc) đã gắn thơ ca với sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Thơ của ông vừa giàu tính trữ tình, vừa mang tính chính trị sâu sắc, là tiếng nói chung của cộng đồng trong công cuộc giải phóng dân tộc.
Câu 1: Nghị luận xã hội (8 điểm)
Chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng
Bài làm:
Con người thường bị cuốn vào những ồn ào, náo nhiệt của cuộc sống, đến mức quên mất rằng sự thinh lặng cũng có thể nói lên rất nhiều điều quan trọng. Trong đoạn văn của James Lovelock, Trái Đất được ví như một cái cây lặng lẽ tồn tại và phát triển một cách âm thầm. Điều đó khiến ta nhận ra: có những thay đổi lớn lao, những câu chuyện sâu sắc không cần lời nói vẫn đang diễn ra ngay bên cạnh chúng ta, trong sự yên tĩnh và tĩnh lặng.
Lắng nghe sự thinh lặng chính là một cách để ta thấu hiểu, cảm nhận sâu sắc hơn về thế giới xung quanh. Sự thinh lặng không phải là khoảng trống, không phải là sự vắng mặt của âm thanh, mà là một trạng thái tích cực, chứa đựng sự sống động và những thông điệp mà tiếng ồn không thể mang lại. Khi ta biết dừng lại, lắng nghe thinh lặng, ta sẽ nhận ra những vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, sự biến đổi của cuộc sống và cả tiếng nói của chính tâm hồn mình.
Trong cuộc sống hiện đại, con người dễ bị cuốn vào guồng quay công việc, công nghệ, xã hội mà quên mất việc dành thời gian để yên tĩnh suy ngẫm, tĩnh tâm. Việc lắng nghe sự thinh lặng không chỉ giúp ta lấy lại cân bằng tinh thần mà còn giúp ta hiểu rõ hơn về bản thân và những giá trị cuộc sống. Sự thinh lặng là nguồn sức mạnh để ta đối diện với khó khăn, là không gian để nuôi dưỡng trí tuệ và lòng nhân ái.
Thực tế, nhiều bậc vĩ nhân, nhà sáng tạo nghệ thuật, nhà tư tưởng đều trân trọng khoảng lặng để sáng tạo và suy nghĩ sâu sắc. Thiên nhiên cũng dạy chúng ta bài học quý giá về sự kiên nhẫn và phát triển bền vững qua sự thinh lặng của cây cối, đất trời. Lắng nghe sự thinh lặng là học cách quan sát, trân trọng những điều nhỏ bé mà bền vững.
Như vậy, trong cuộc sống bộn bề ngày nay, mỗi người cần biết tôn trọng và dành thời gian lắng nghe sự thinh lặng. Đó là con đường dẫn ta đến sự thấu hiểu, cảm thông và yêu thương. Sự thinh lặng không phải là khoảng cách, mà là kết nối sâu sắc với thế giới và chính bản thân mình.
Kết luận:
Lắng nghe sự thinh lặng là nghệ thuật sống, là cách để ta khám phá những giá trị chân thật và trường tồn. Hãy học cách dừng lại, lắng nghe và cảm nhận, để cuộc sống thêm ý nghĩa và sâu sắc hơn.
Câu 2: Nghị luận văn học (12 điểm)
Bàn luận câu nói của A. Camus:
“Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”
Bài làm:
Albert Camus – nhà văn, triết gia lỗi lạc của thế kỷ XX đã đưa ra một quan điểm sâu sắc về người nghệ sĩ và vị trí của họ trong xã hội. Theo ông, người nghệ sĩ không tồn tại tách biệt mà luôn vận động trong mối quan hệ hai chiều: giữa cá nhân với cái đẹp và giữa cá nhân với cộng đồng.
Thứ nhất, cái đẹp không thể bỏ qua là mục tiêu, là lý tưởng mà người nghệ sĩ theo đuổi. Người nghệ sĩ luôn không ngừng tìm kiếm, sáng tạo ra cái đẹp qua tác phẩm của mình – đó có thể là vẻ đẹp thẩm mỹ, vẻ đẹp tư tưởng hay vẻ đẹp nhân văn. Cái đẹp ấy vượt lên trên sự tầm thường, cái đẹp là nguồn cảm hứng và là tiếng nói riêng của người nghệ sĩ, giúp họ khẳng định giá trị và bản sắc cá nhân.
Tuy nhiên, người nghệ sĩ cũng không thể tách rời cộng đồng – nơi họ sinh sống và làm việc. Cộng đồng là nơi cung cấp chất liệu sáng tạo, là đối tượng truyền tải thông điệp, là nguồn cảm hứng và cũng là nơi tác phẩm được đón nhận. Người nghệ sĩ có trách nhiệm phản ánh, phê phán xã hội, góp phần định hướng những giá trị tích cực, đồng thời thấu hiểu, đồng cảm với cuộc sống con người. Nghệ thuật vì thế luôn mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc.
Mối tương quan liên tục giữa cái đẹp và cộng đồng tạo nên một con đường mà người nghệ sĩ phải đi – đó là quãng đường tôi luyện bản thân không ngừng nghỉ. Họ vừa phải giữ vững lý tưởng sáng tạo, vừa phải lắng nghe, giao tiếp và đồng hành với con người và xã hội. Nếu chỉ theo đuổi cái đẹp mà quên cộng đồng, nghệ thuật sẽ trở nên hời hợt, xa rời thực tế; ngược lại, nếu chỉ chú trọng cộng đồng mà thiếu cái đẹp, nghệ thuật sẽ mất đi giá trị thẩm mỹ và chiều sâu nhân văn.
Thực tế trong văn học Việt Nam và thế giới đã có nhiều nghệ sĩ tiêu biểu sống và sáng tạo theo tinh thần này. Họ luôn hướng tới cái đẹp – cái đẹp của sự chân thực, nhân hậu và tự do; đồng thời luôn giữ mối liên hệ mật thiết với đời sống nhân dân, phản ánh những vấn đề xã hội, con người một cách sâu sắc và thuyết phục.
Như vậy, câu nói của A. Camus đã nhấn mạnh sự cân bằng cần thiết trong đời sống nghệ sĩ, giữa cá nhân và xã hội, giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng. Người nghệ sĩ không chỉ là người sáng tạo mà còn là người đồng hành, người truyền cảm hứng và người bảo vệ những giá trị cao đẹp của nhân loại.
Kết luận:
Người nghệ sĩ thực sự là người tôi luyện trong hành trình kết nối giữa chính mình và cộng đồng, giữa cái đẹp không thể bỏ qua và trách nhiệm đối với xã hội. Chỉ khi đó, nghệ thuật mới phát huy được sức mạnh và giá trị đích thực của nó.
Đoạn văn trên gây ấn tượng với em về hình ảnh cây tre – biểu tượng thân thuộc và gần gũi với cuộc sống người dân Việt Nam. Cây tre không chỉ là vật bảo vệ, bao bọc làng quê mà còn là nguyên liệu để tạo ra nhiều đồ dùng thiết yếu và những món đồ thủ công mỹ nghệ đẹp mắt. Qua đoạn văn, em cảm nhận được tình yêu thương và sự gắn bó sâu sắc của con người với cây tre từ thuở ấu thơ cho đến khi trưởng thành. Điều đó thể hiện sự tôn trọng và trân quý những giá trị truyền thống trong cuộc sống hàng ngày. Em rất thích hình ảnh cây tre trong đoạn văn vì nó giúp em nhớ về quê hương, về những kỷ niệm giản dị, thân thương.
Câu 2:
ND:Khuyên chúng ta là ở đời hãy làm những việc tốt đẹp,những điều có ích cho cuộc sống để sau này trở đi chúng ta có thể có một cuộc sống thật hạnh phúc.
Câu 3:
trong cuộc sống , còn có rất nhiều thử thách khó nhọc đang chờ chúng ta vượt qua . Hãy tự mình đứng lên khi bị vấp ngã , hãy tự suy nghĩ tìm cách để vượt qua thử thách cuộc đời . Đừng dựa vào người khác , điều đó làm chúng ta biến thành một kẻ vô ích cho đời.Tất nhiên,nếu chúng ta làm những việc tốt đẹp ,làm những việc có ý nghĩa thì chúng ta sẽ nhận được một cuộc sống hạnh phúc.Vậy nên , hãy có ý chí vượt lên để với được sự thành công của mình


Câu 1:
Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm
Câu 2:
Nội dung văn bản: Văn bản thể hiện suy ngẫm sâu sắc về mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên và cuộc sống: con người trong quá trình tồn tại, hành động vô tình gây ra những tổn thương cho thiên nhiên, cho người khác và cho chính mình; từ đó nhắc nhở con người cần sống chậm lại, biết trân trọng, nâng niu và có trách nhiệm hơn.
Câu 3:
Biện pháp tu từ trong đoạn (7): Nhân hóa (kết hợp liệt kê) Phân tích: Tác giả nhân hóa thiên nhiên qua các từ ngữ như: “quen tha thứ”, “quen độ lượng”, “quen nhẫn nhịn”, “quen che giấu”… → Làm cho thiên nhiên hiện lên như một con người giàu bao dung, âm thầm chịu đựng. → Qua đó nhấn mạnh sự vô tâm của con người và gợi lên cảm xúc day dứt, thức tỉnh lương tri.
Câu 4:
Vì sao tác giả nói: “Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm”? Vì đó là hình ảnh ẩn dụ: “Gai đâm” tượng trưng cho những va vấp, tổn thương, sai lầm trong cuộc sống. Những nỗi đau ấy giúp con người giật mình, thức tỉnh nhận ra giới hạn của bản thân, sống chậm lại và nhân ái hơn. → Tổn thương đôi khi là điều cần thiết để con người trưởng thành.
Câu 5:
Bài học ý nghĩa nhất rút ra từ văn bản: Con người cần sống có ý thức, trách nhiệm và lòng trắc ẩn, biết trân trọng thiên nhiên, con người và những giá trị mong manh của cuộc sống; biết dừng lại, suy ngẫm từ những tổn thương để sống tốt đẹp và nhân văn hơn.
Câu 1:
Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm
Câu 2:
Văn bản thể hiện suy ngẫm sâu sắc về mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên và cuộc sống: con người trong quá trình tồn tại, hành động vô tình gây ra những tổn thương cho thiên nhiên, cho người khác và cho chính mình; từ đó nhắc nhở con người cần sống chậm lại, biết trân trọng, nâng niu và có trách nhiệm hơn.
Câu 3:
Tác giả nhân hóa thiên nhiên qua các từ ngữ như: “quen tha thứ”, “quen độ lượng”, “quen nhẫn nhịn”, “quen che giấu”…
→ Làm cho thiên nhiên hiện lên như một con người giàu bao dung, âm thầm chịu đựng.
→ Qua đó nhấn mạnh sự vô tâm của con người và gợi lên cảm xúc day dứt, thức tỉnh lương tri.
Câu 4:
Hình ảnh ẩn dụ “Gai đâm” tượng trưng cho những va vấp, tổn thương, sai lầm trong cuộc sống. Những nỗi đau ấy giúp con người giật mình, thức tỉnh, nhận ra giới hạn của bản thân, sống chậm lại và nhân ái hơn.
→ Tổn thương đôi khi là điều cần thiết để con người trưởng thành.
Câu 5:
Con người cần sống có ý thức, trách nhiệm và lòng trắc ẩn, biết trân trọng thiên nhiên, con người và những giá trị mong manh của cuộc sống; biết dừng lại, suy ngẫm từ những tổn thương để sống tốt đẹp và nhân văn hơn.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là biểu cảm.
Câu 2: Nội dung của văn bản là sự suy ngẫm về lòng bao dung của thiên nhiên và lời nhắc nhở về sự vô tâm, hời hợt của con người trong cuộc sống. Văn bản khuyến khích con người sống chậm lại, biết trân trọng và yêu thương mọi thứ xung quanh, đồng thời nhận thức được những tổn thương mà mình có thể gây ra cho người khác và cho thế giới.
câu 3
Phân tích: Tác giả liệt kê một loạt các hình ảnh: "Những thảm rêu vốn không biết dỗi hờn. Những đoá hoa không bao giờ chì chiết. Những giấc mơ chỉ một mực bao dung. Những yêu thương không bao giờ trả đũa..." để nhấn mạnh sự bao dung, vị tha tuyệt đối của thiên nhiên và những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Việc liệt kê này tạo ra một nhịp điệu, âm hưởng nhẹ nhàng, sâu lắng, góp phần thể hiện cảm xúc trân trọng, ngưỡng mộ của tác giả đối với những giá trị này.
Câu 4: Tác giả nói "Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm" để nhắc nhở con người về những tổn thương mà họ có thể gây ra cho thế giới xung quanh khi sống một cách vô tâm, hời hợt. Việc "bị gai đâm" là một phép ẩn dụ cho những hậu quả, những bài học mà con người phải trả giá khi không biết trân trọng và yêu thương. Nó giúp con người "giật mình", tỉnh ngộ và nhận ra rằng những hành động của mình có thể gây ra "tổn thương" cho người khác và cho chính bản thân.
Câu 5: Bài học ý nghĩa nhất mà tôi rút ra từ văn bản là sự cần thiết của việc sống chậm lại, biết trân trọng và yêu thương mọi thứ xung quanh. Chúng ta thường quá bận rộn với cuộc sống của mình mà quên đi những điều nhỏ bé nhưng ý nghĩa, quên đi sự bao dung của thiên nhiên và những người xung quanh. Văn bản nhắc nhở tôi rằng cần phải sống chậm lại, quan tâm đến những người xung quanh, trân trọng những gì mình đang có và sống một cuộc đời ý nghĩa hơn.
Câu 1
Phương thức biểu đạt chính:
- Biểu cảm
(Văn bản dùng hình ảnh, cảm xúc để bộc lộ suy ngẫm của tác giả về con người và thế giới.)
Câu 2
Nội dung văn bản:
Văn bản thể hiện suy ngẫm sâu sắc về mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên và cuộc sống: con người trong quá trình tồn tại, hành động vô tình gây ra những tổn thương cho thiên nhiên, cho người khác và cho chính mình; từ đó nhắc nhở con người cần sống chậm lại, biết trân trọng, nâng niu và có trách nhiệm hơn.
Câu 3
Biện pháp tu từ trong đoạn (7):
- Nhân hóa (kết hợp liệt kê)
Phân tích:
Tác giả nhân hóa thiên nhiên qua các từ ngữ như: “quen tha thứ”, “quen độ lượng”, “quen nhẫn nhịn”, “quen che giấu”…
→ Làm cho thiên nhiên hiện lên như một con người giàu bao dung, âm thầm chịu đựng.
→ Qua đó nhấn mạnh sự vô tâm của con người và gợi lên cảm xúc day dứt, thức tỉnh lương tri.
Câu 4:
Vì sao tác giả nói: “Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm”
Vì đó là hình ảnh ẩn dụ:
“Gai đâm” tượng trưng cho những va vấp, tổn thương, sai lầm trong cuộc sống.
Những nỗi đau ấy giúp con người giật mình, thức tỉnh, nhận ra giới hạn của bản thân, sống chậm lại và nhân ái hơn.
→ Tổn thương đôi khi là điều cần thiết để con người trưởng thành.
Câu 5
Bài học ý nghĩa nhất rút ra từ văn bản:
Con người cần sống có ý thức, trách nhiệm và lòng trắc ẩn, biết trân trọng thiên nhiên, con người và những giá trị mong manh của cuộc sống; biết dừng lại, suy ngẫm từ những tổn thương để sống tốt đẹp và nhân văn hơn.
câu 1: biểu cảm kết hợp nghị luận
câu 2: Nội dung của văn bản:
Văn bản nói về việc con người trong quá trình sống vô tình hoặc hữu ý gây ra những tổn thương cho thiên nhiên, cho thế giới và cho chính nhau. Qua đó, tác giả nhắn nhủ con người cần sống chậm lại, sống có ý thức, biết trân trọng, yêu thương và chịu trách nhiệm với những gì mình tác động đến cuộc đời.
câu 3: Các sự vật thiên nhiên được gán cho đặc điểm của con người:
“mặt đất quen tha thứ”, “đại dương quen độ lượng”, “cánh rừng quen trầm mặc”…
Việc lặp lại cấu trúc “quen…” tạo nhịp điệu nhẹ nhàng, sâu lắng, nhấn mạnh sự bao dung, nhẫn nại của thiên nhiên trước những tổn thương do con người gây ra.
câu 4: Ý nghĩa:
Những tổn thương giúp con người giật mình tỉnh thức, nhận ra mình đã sống vô tâm, hời hợt.
Đau đớn là điều cần thiết để con người biết dừng lại, biết suy ngẫm, biết yêu thương và trân trọng hơn.
câu 5: - Bài học ý nghĩa rút ra từ văn bản “Nên bị gai đâm”
Văn bản gửi gắm bài học sâu sắc về cách con người sống trong thế giới mong manh và đầy yêu thương này. Mỗi hành động, dù nhỏ bé, cũng có thể gây tổn thương cho thiên nhiên, cho người khác và cho chính mình, vì vậy con người cần sống nhẹ nhàng, tỉnh thức và có trách nhiệm hơn. “Bị gai đâm” là những va vấp, đau đớn cần thiết để ta giật mình nhận ra giá trị của sự sống, học cách trân trọng những điều bình dị, biết yêu thương, bao dung và gìn giữ thế giới quanh mình. Qua đó, tác giả nhắc nhở con người không nên vô cảm, thờ ơ mà hãy sống chậm lại, sống tử tế để hạn chế làm tổn thương những điều mong manh, quý giá.
Câu 1
Tự sự và biểu cam
Câu 2
Nội dung chính của văn bản là sự phê phán lối sống vô tình, thờ ơ của con người trước những điều tốt đẹp và sự bao dung của thế giới tự nhiên, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết của việc nhận thức về tổn thương để sống có trách nhiệm và biết trân trọng hơn.
Câu 3
Câu 4
tac giả nói “Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm” vì muốn nhấn mạnh rằng con người cần trải qua những đau đớn, tổn thương để nhận ra sự vô tâm, thô bạo của mình và biết đồng cảm, trân trọng cuộc sống hơn.
Câu 5
Bài học ý nghĩa nhất rút ra từ văn bản là con người cần học cách sống biết ơn, trân trọng sự bao dung, vị tha của vạn vật và những người xung quanh; đồng thời, cần biết tự thức tỉnh bản thân trước những lỗi lầm, tổn thương mình gây ra để sống có trách nhiệm, nhân ái hơn.
Câu 1
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là biểu cảm (kết hợp nghị luận).
Câu 2
Văn bản thể hiện suy ngẫm của tác giả về việc con người vô tình gây ra những tổn thương cho thiên nhiên và cho nhau trong cuộc sống, từ đó nhắc nhở con người cần sống nâng niu, cẩn trọng và giàu yêu thương hơn.
Câu 3
Trong đoạn (7), tác giả sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá, thể hiện qua các hình ảnh như: “Mặt đất ngàn đời quen tha thứ”, “Đại dương bao la quen độ lượng”, “Những đóa hoa không bao giờ chì chiết”. Biện pháp này làm cho thiên nhiên hiện lên như con người giàu lòng bao dung, nhẫn nhịn, qua đó làm nổi bật sự vô tâm của con người và khơi gợi ý thức trách nhiệm, sự trân trọng đối với thế giới xung quanh.
Câu 4
Câu văn “Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm” là hình ảnh ẩn dụ cho những tổn thương, va vấp trong cuộc sống. Những nỗi đau ấy giúp con người giật mình tỉnh ngộ, nhận ra rằng sự thô ráp, vô tâm của mình có thể gây tổn thương thật sự cho thế giới và cho người khác, từ đó sống chậm lại và nhân ái hơn.
Câu 5
Bài học ý nghĩa nhất rút ra từ văn bản là con người cần sống tử tế, biết nâng niu thiên nhiên và trân trọng cảm xúc của người khác, bởi thế giới vốn mong manh và không phải mọi tổn thương đều có thể được tha thứ mãi mãi.
Câu 1 nghị luận
Câu 2 Nội dung văn bản: Văn bản thể hiện suy ngẫm sâu sắc về mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên và cuộc sống: con người trong quá trình tồn tại, hành động vô tình gây ra những tổn thương cho thiên nhiên, cho người khác và cho chính mình; từ đó nhắc nhở con người cần sống chậm lại, biết trân trọng, nâng niu và có trách nhiệm hơn.
Câu 3 Biện pháp tu từ trong đoạn Nhân hóa (kết hợp liệt kê) Phân tích: Tác giả nhân hóa thiên nhiên qua các từ ngữ như: “quen tha thứ”, “quen độ lượng”, “quen nhẫn nhịn”, “quen che giấu”… → Làm cho thiên nhiên hiện lên như một con người giàu bao dung, âm thầm chịu đựng. → Qua đó nhấn mạnh sự vô tâm của con người và gợi lên cảm xúc day dứt, thức tỉnh lương tri.
Câu 4Vì đó là hình ảnh ẩn dụ: “Gai đâm” tượng trưng cho những va vấp, tổn thương, sai lầm trong cuộc sống. Những nỗi đau ấy giúp con người giật mình, thức tỉnh, nhận ra giới hạn của bản thân, sống chậm lại và nhân ái hơn. → Tổn thương đôi khi là điều cần thiết để con người trưởng thành.
Câu 5 Bài học ý nghĩa nhất rút ra từ văn bản: Con người cần sống có ý thức, trách nhiệm và lòng trắc ẩn, biết trân trọng thiên nhiên, con người và những giá trị mong manh của cuộc sống; biết dừng lại, suy ngẫm từ những tổn thương để sống tốt đẹp và nhân văn hơn.
Câu 1
Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là nghị luận (kết hợp yếu tố biểu cảm
Câu2
Nội dung văn bản nói về hành trình con người đi qua cuộc đời với ý chí bền bỉ. Trên con đường ấy, dù có vẻ đẹp và niềm vui, con người vẫn không tránh khỏi những tổn thương, đau đớn, nhưng cần chấp nhận và vượt qua.
Câu 3
Biện pháp tu từ trong đoạn (7): Ẩn dụ.
Câu 4
Tác giả nói “Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm” vì:
Câu 5
Bài học ý nghĩa nhất rút ra từ văn bản:
→ Con người cần sống kiên cường, có ý chí, dám đối diện và chấp nhận những tổn thương trong cuộc đời, bởi chính khó khăn và đau đớn giúp ta trưởng thành và hiểu sâu sắc hơn giá trị của sự sống.
Nếu bạn muốn mình viết theo dạng bài làm học sinh hoặc ngắn gọn hơn để chép, mình chỉnh lại cho nhé ✨
Câu 2
Văn bản thể hiện suy ngẫm sâu sắc về mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên và cuộc sống: con người trong quá trình tồn tại, hành động vô tình gây ra những tổn thương cho thiên nhiên, cho người khác và cho chính mình; từ đó nhắc nhở con người cần sống chậm lại, biết trân trọng, nâng niu và có trách nhiệm hơn.
Câu 3 Biện pháp tu từ trong đoạn Nhân hóa (kết hợp liệt kê) Phân tích: Tác giả nhân hóa thiên nhiên qua các từ ngữ như: “quen tha thứ”, “quen độ lượng”, “quen nhẫn nhịn”, “quen che giấu”… → Làm cho thiên nhiên hiện lên như một con người giàu bao dung, âm thầm chịu đựng. → Qua đó nhấn mạnh sự vô tâm của con người và gợi lên cảm xúc day dứt, thức tỉnh lương tri.
Vì đó là hình ảnh ẩn dụ: “Gai đâm” tượng trưng cho những va vấp, tổn thương, sai lầm trong cuộc sống. Những nỗi đau ấy giúp con người giật mình, thức tỉnh, nhận ra giới hạn của bản thân, sống chậm lại và nhân ái hơn. → Tổn thương đôi khi là điều cần thiết để con người trưởng thành.
Câu 5 Bài học ý nghĩa nhất rút ra từ văn bản: Con người cần sống có ý thức, trách nhiệm và lòng trắc ẩn, biết trân trọng thiên nhiên, con người và những giá trị mong manh của cuộc sống; biết dừng lại, suy ngẫm từ những tổn thương để sống tốt đẹp và nhân văn hơn.
Câu 1
Nghị luận
câu 1: Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là: biểu cảm
câu 2 : Nội dung văn bản:
Văn bản nói về những tổn thương nhỏ bé nhưng thường xuyên mà con người gây ra cho thiên nhiên, cuộc sống và cho nhau trong hành trình sống. Qua đó, tác giả nhắc nhở con người cần sống chậm lại, biết nâng niu, trân trọng và tỉnh thức trước những điều mong manh, tốt đẹp xung quanh mình.
câu 3: biện pháp tu từ trong đoạn (7): điệp ngữ
Phân tích tác dụng:
Việc lặp lại từ “quen” nhấn mạnh sự chai lì, vô cảm của con người trước những tổn thương của thiên nhiên và cuộc sống qua đó, tác giả phê phán thói quen sống thờ ơ, coi sự mất mát, đau đớn là điều hiển nhiên, đồng thời gợi lên nỗi xót xa, cảnh tỉnh con người cần thay đổi cách sống.
câu 4:
Vì “bị gai đâm” là hình ảnh ẩn dụ cho những va vấp, tổn thương trong cuộc sống.
Những tổn thương ấy giúp con người giật mình tỉnh thức, nhận ra rằng mình đang sống quá vô tâm, hời hợt; từ đó biết sống chậm lại, cẩn trọng hơn, biết yêu thương và trân quý cuộc đời.
câu 5: Bài học ý nghĩa nhất rút ra từ văn bản:
Con người cần sống tỉnh thức, nhân ái và có trách nhiệm, biết trân trọng thiên nhiên, con người và những giá trị mong manh của cuộc sống; đừng để sự quen thuộc khiến ta trở nên vô cảm, chỉ khi biết “đau” ta mới thật sự biết yêu thương.
câu 1 phương thức biểu cảm
câu 2 văn bản nói về sự vo tình gây tổn thuon của vạn vật trong cuộc sống và thong điệp về lòng thấu cảm sự sẻ chia giữa con người với nhau
câu 3 biện pháp tu từ được sự dung chính trog đoạn 7 là nhân hoá và điệp ngữ
câu 4 tac giả nói thỉnh thoảng ban chân nên bị gai đâm' để ta được giật mình nhận ra sự tổn thương là có thật, là đau đớn, từ đó biết trân trọng và nâng niu thế giới xung quanh hơn.
câu 5 bai học ý nghĩa rút ra từ van bản là con nguoi cần biết đồng cảm thấu hiểu nỗi đau của người khác sống có trách nghiệm, biết nâng niu trân trọng thế giới xung quanh hơn
Câu 1:Phương thức biểu đạt chính là Nghị luận
Câu 2:Văn bản nói về sự bao dung, hy sinh thầm lặng của thiên nhiên đối với con người. Qua đó, tác giả nhắc nhở chúng ta cần biết trân trọng những giá trị tốt đẹp và đôi khi cần những "nỗi đau" để thức tỉnh lòng trắc ẩn và sự thấu hiểu.
Câu 3:Biện pháp: Liệt kê (mặt đất, đại dương, cánh rừng, dòng sông...) kết hợp với Nhân hóa (quen tha thứ, độ lượng, trầm mặc, nín lặng...).
Tác dụng:Làm cho các sự vật vô tri trở nên có hồn, có tính cách như con người.Nhấn mạnh sự bao dung, nhẫn nại và che chở tuyệt đối của thiên nhiên dành cho con người, dù con người có vô tâm hay gây ra tổn thương. Tạo nhịp điệu nhẹ nhàng, sâu lắng cho đoạn văn.
Câu 4:Hình ảnh "gai đâm" tượng trưng cho những khó khăn, mất mát hoặc những lỗi lầm mà con người phải đối mặt. Tác giả muốn nói rằng nếu cuộc sống quá êm đềm, con người dễ trở nên vô tâm và ích kỷ. Những "cú giật mình" vì đau đớn giúp chúng ta thức tỉnh lương tri và nhận ra những tổn thương mình đã gây ra cho xung quanh.Biết trân trọng những điều bình dị và học cách bao dung hơn.
Câu 5: Bài học ý nghĩa nhất mà em rút ra từ văn bản trên chính là sự cần thiết của những giây phút thức tỉnh trong cuộc đời. Tác giả đã rất sâu sắc khi cho rằng 'bàn chân nên bị gai đâm' để chúng ta biết giật mình trước những tổn thương mà mình vô tình gây ra cho thiên nhiên và mọi người xung quanh. Từ đó, em tự nhắc nhở bản thân không được sống vô cảm, phải biết trân trọng sự bao dung của thế giới và học cách sống chậm lại để yêu thương nhiều hơn.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận
Câu 2: Nội dung của văn bản: Văn bản bàn về cách con người bước đi trong cuộc đời: khi mải mê với cái đẹp, cái quen thuộc mà thiếu tỉnh táo thì dễ vấp phải tổn thương; từ đó nhắc nhở con người cần ý thức, cẩn trọng và có trách nhiệm với hành động của mình.
Câu 3: Biện pháp tu từ: Ẩn dụ. Phân tích: " Thế giới", " Cỏ hoa", "gai đâm" không chỉ là sự vật cụ thể mà còn tượng trưng cho cuộc sống. Làm cho suy nghĩ triết lí trở nên sâu sắc, làm tăng sức gợi hình gợi cảm cho bài văn
Câu 4: Vì những va vấp, tổn thương trong cuộc sống, giúp con người giật mình, tỉnh ngộ, nhận ra sai lầm của bản thân, biết sống chậm lại. Đó là những bài học cần thiết để con người trưởng thành
Câu 5: Bài học rút ra từ văn bản:
Con người cần sống tỉnh táo, có ý thức và trách nhiệm trong từng hành động, không nên chủ quan trước cuộc sống, bởi những vấp ngã dù đau đớn cũng là bài học quý giá giúp ta hoàn thiện bản thân
Bài 2
Câu 1:
Yêu thương vạn vật là một giá trị nhân văn sâu sắc, thể hiện cách con người nhìn nhận và ứng xử với thế giới xung quanh. Con người không tồn tại đơn lẻ mà sống trong mối quan hệ gắn bó với thiên nhiên, muôn loài và môi trường sống. Khi biết yêu thương vạn vật, con người học được sự tôn trọng sự sống, trân trọng những giá trị dù là nhỏ bé nhất. Một cành cây, một con vật hay dòng sông đều có vai trò riêng trong vòng tuần hoàn của tự nhiên; nếu bị tàn phá hay đối xử tàn nhẫn, hậu quả cuối cùng vẫn quay trở lại với chính con người. Yêu thương vạn vật còn giúp con người nuôi dưỡng lòng nhân ái, sống bao dung, giảm bớt ích kỉ và vô cảm. Trong xã hội hiện đại, khi tốc độ sống ngày càng nhanh, con người dễ thờ ơ trước nỗi đau của thiên nhiên và muôn loài, thì việc khơi dậy tình yêu thương ấy lại càng cần thiết. Bảo vệ môi trường, không ngược đãi động vật, sống hài hòa với thiên nhiên chính là những biểu hiện cụ thể của tình yêu thương vạn vật. Khi biết yêu thương vạn vật, con người không chỉ làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn mà còn hoàn thiện chính nhân cách và tâm hồn của mình.
Câu 2
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Pháp, “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm là tiếng khóc xót xa, thấm đẫm yêu thương dành cho quê hương Kinh Bắc bị chiến tranh tàn phá. Đoạn thơ trên đã thể hiện rõ sự biến đổi đau đớn của quê hương trước và sau chiến tranh, qua đó bộc lộ sâu sắc tình yêu quê hương và nỗi căm thù giặc của nhà thơ.
Trước chiến tranh, quê hương hiện lên với vẻ đẹp trù phú, yên bình và đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Chỉ bằng vài nét chấm phá, Hoàng Cầm đã gợi ra một miền quê giàu có và ấm no: “lúa nếp thơm nồng” – hình ảnh quen thuộc của cuộc sống nông nghiệp thanh bình, đủ đầy. Đặc biệt, tranh Đông Hồ với “gà lợn nét tươi trong”, “màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” không chỉ là sản phẩm nghệ thuật dân gian mà còn là biểu tượng cho đời sống tinh thần phong phú của người dân Kinh Bắc. Mọi thứ đều hài hòa, rạng rỡ, mang vẻ đẹp truyền thống lâu đời. Quê hương trong kí ức nhà thơ là miền đất của sự sống, của niềm vui và sự gắn bó bền chặt giữa con người với văn hóa dân tộc.
Thế nhưng, từ “ngày khủng khiếp”, chiến tranh đã ập đến, biến quê hương yên bình ấy thành một vùng đất tang thương, chết chóc. Hình ảnh “giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn” mở ra bức tranh dữ dội của sự xâm lăng. Những gì gắn bó nhất với đời sống người dân đều bị hủy diệt: “Ruộng ta khô / Nhà ta cháy”. Nhịp thơ ngắn, gãy, dồn dập như những nhát dao cứa vào lòng người đọc, thể hiện sự mất mát đến tột cùng. Không chỉ con người, mà cả muôn loài cũng không thoát khỏi thảm cảnh: “Chó ngộ một đàn / Lưỡi dài lê sắc máu” – hình ảnh ghê rợn cho thấy sự tàn bạo vô nhân tính của kẻ thù.
Chiến tranh không chỉ phá hủy vật chất mà còn xé nát đời sống tinh thần, văn hóa của quê hương. Hình ảnh “mẹ con đàn lợn âm dương / chia lìa trăm ngả” và “đám cưới chuột” – những hình tượng quen thuộc trong tranh Đông Hồ – nay không còn là biểu tượng của hạnh phúc, sum vầy mà trở thành nỗi đau chia cắt. Câu hỏi tu từ “Bây giờ tan tác về đâu?” vang lên như một tiếng khóc nghẹn ngào, thể hiện nỗi xót xa trước sự tan hoang của quê hương và cả một nền văn hóa truyền thống bị chiến tranh vùi dập.
Qua đoạn thơ, Hoàng Cầm đã khắc họa rõ nét sự đối lập sâu sắc giữa quê hương trước và sau chiến tranh: từ yên bình, giàu đẹp trở nên hoang tàn, đổ nát. Sự biến đổi ấy không chỉ làm nổi bật tội ác của chiến tranh mà còn thể hiện tình yêu quê hương tha thiết, nỗi đau và lòng căm thù giặc sâu sắc của nhà thơ. Đoạn thơ vì thế không chỉ mang giá trị nghệ thuật mà còn có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, nhắc nhở mỗi chúng ta trân trọng hòa bình và giữ gìn những giá trị quê hương, dân tộc.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận
Câu 2: Nội dung của văn bản: Văn bản bàn về cách con người bước đi trong cuộc đời: khi mải mê với cái đẹp, cái quen thuộc mà thiếu tỉnh táo thì dễ vấp phải tổn thương; từ đó nhắc nhở con người cần ý thức, cẩn trọng và có trách nhiệm với hành động của mình.
Câu 3: Biện pháp tu từ: Ẩn dụ. Phân tích: " Thế giới", " Cỏ hoa", "gai đâm" không chỉ là sự vật cụ thể mà còn tượng trưng cho cuộc sống. Làm cho suy nghĩ triết lí trở nên sâu sắc, làm tăng sức gợi hình gợi cảm cho bài văn
Câu 4: Vì những va vấp, tổn thương trong cuộc sống, giúp con người giật mình, tỉnh ngộ, nhận ra sai lầm của bản thân, biết sống chậm lại. Đó là những bài học cần thiết để con người trưởng thành
Câu 5: Bài học rút ra từ văn bản:
Con người cần sống tỉnh táo, có ý thức và trách nhiệm trong từng hành động, không nên chủ quan trước cuộc sống, bởi những vấp ngã dù đau đớn cũng là bài học quý giá giúp ta hoàn thiện bản thân
Câu 1: phương thức biểu đạt nghị luận
Câu 2: thể hiện sự thấu cảm về những tổn thương mà con người vô tình gây ra cho thế giới xung quanh và lời cảnh tỉnh về việc cần phải biết tôn trọng nâng niu cuộc sống.
Câu 3:
+ Biện pháp tu từ : liệt kê kết hợp điệp cấu trúc
+ Phân tích: việc lập lại cấu trúc giúp đoạn văn giàu sức gợi, nhịp nhàng. nhấn mạnh sự chịu đựng, bao dung và hi sinh thầm lặng của vạn vật xung quanh trước sự vô tình của con người . Làm cho thế giới tự nhiên trở nên gần gũi, có tâm hồn từ đó khơi dậy lòng chắc ẩn và sự hối lỗi trong lòng người đọc.
Câu 4 : "gai đâm" là biểu tượng cho những vấp ngã, nỗi đau hoặc những biến cố trong cuộc đời khiến ta phải dừng lại.
Tác giả nói vậy vì nỗi đau là cần thiết để thức tỉnh con người khỏi sự vô tâm, giúp chúng ta nhận ra những tổn thương mình đã gây ra cho vạn vật và học cách sống thấu cảm, trân trọng cuộc sống hơn.
Câu 5: bài học ý nghĩa nhất là hãy sống chậm lại để thấu cảm và trân trọng những giá trị tốt đẹp xung quanh, đừng vì sự ích kỷ hay vô tâm của bản thân mà làm tổn thương thế giới và những người luôn bao dung ta.
lục văn khanh. Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận
Câu 2.
Nội dung văn bản: Văn bản bàn về hành trình con người đi qua cuộc đời, trong đó cuộc sống vừa có vẻ đẹp, niềm vui nhưng cũng ẩn chứa tổn thương và thử thách; con người cần chấp nhận và vững vàng bước tiếp.
Câu 3.
Một biện pháp tu từ trong đoạn (7): Ẩn dụ.
→ Hình ảnh “bước chân”, “cỏ hoa”, “gai đâm” là ẩn dụ cho con đường đời: cỏ hoa tượng trưng cho những điều tốt đẹp, gai nhọn tượng trưng cho khó khăn, đau đớn. Biện pháp này giúp ý nghĩa triết lí trở nên sinh động, dễ cảm nhận.
Câu 4.
Tác giả nói “thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm” vì:
→ Cuộc sống không chỉ toàn thuận lợi; va vấp và tổn thương là điều tất yếu. Chính những đau đớn ấy giúp con người tỉnh thức, trưởng thành và trân trọng hơn những giá trị tốt đẹp.
Câu 5.
Bài học ý nghĩa nhất rút ra từ văn bản:
→ Con người cần can đảm đi qua cuộc đời, chấp nhận khó khăn, không né tránh tổn thương, bởi chính thử thách giúp ta trưởng thành và sống sâu sắc hơn.
câu 1: biểu cảm
câu2:Văn bản thể hiện lời nhắc nhở, cảnh tỉnh con người về sự vô ý thức, thô bạo trong cách sống và hành động, khiến thiên nhiên, vạn vật và cả những giá trị tinh thần mong manh bị tổn thương; từ đó kêu gọi con người biết nâng niu, trân trọng thế giới và sống nhân ái hơn.
câu 3:Nhân hoá-Tác giả gán cho thiên nhiên, đồ vật những cảm xúc của con người (đau, tổn thương), khiến thế giới xung quanh trở nên sống động, có linh hồn. Qua đó, làm nổi bật sự vô tâm của con người và khơi gợi lòng trắc ẩn, ý thức trách nhiệm trong cách sống.
câu 4 :Đó là hình ảnh ẩn dụ mang ý nghĩa thức tỉnh.
Con người đôi khi cần trải qua những đau đớn, mất mát, tổn thương để nhận ra hậu quả từ sự vô tâm của mình, từ đó biết dừng lại, biết trân trọng và sống nhân ái hơn. Đau đớn giúp con người hiểu rằng: tổn thương là có thật và có thể làm chảy máu
câu5:Con người cần sống chậm lại, biết nâng niu, trân trọng thiên nhiên, con người và những giá trị mong manh quanh mình; cần hành xử nhẹ nhàng, nhân ái, có trách nhiệm, bởi mỗi hành động vô tâm đều có thể gây ra những tổn thương âm thầm nhưng sâu sắc.
Câu 1 Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là nghị luận (kết hợp với biểu cảm).
Câu 2 Văn bản thể hiện thông điệp: con người trong cuộc sống thường vô tình gây ra những tổn thương cho thiên nhiên, cho người khác và cho chính thế giới xung quanh; từ đó nhắc nhở con người cần sống nhẹ nhàng, ý thức, biết nâng niu và trân trọng mọi sự sống, mọi cảm xúc mong manh.
Câu 3 Trong đoạn (7), tác giả sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa qua các hình ảnh như: “mặt đất quen tha thứ”, “đại dương quen độ lượng”, “những nẻo đường quen nhẫn nhịn”, “những đoá hoa không bao giờ chì chiết”… → Tác dụng: Khiến thiên nhiên, sự vật trở nên có cảm xúc, có tâm hồn như con người. Nhấn mạnh sự bao dung, nhẫn nại, âm thầm chịu đựng của thế giới trước những tổn thương do con người gây ra. Qua đó, làm nổi bật thái độ vô tâm, thô bạo của con người và khơi gợi sự thức tỉnh trong nhận thức, lương tâm người đọc.
Câu 4 Tác giả nói “Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm” vì đó là một hình ảnh ẩn dụ cho những va vấp, đau đớn, tổn thương trong cuộc sống. Chỉ khi con người cảm nhận được nỗi đau thực sự, “rỉ máu”, con người mới biết giật mình, biết dừng lại để suy nghĩ về những tổn thương mình đã gây ra cho người khác và cho thế giới. Ý thơ không cổ vũ đau khổ mà nhấn mạnh: đau đớn là cách để con người thức tỉnh, học cách sống nhân ái và cẩn trọng hơn.
Câu 5 Bài học ý nghĩa nhất rút ra từ văn bản là: con người cần sống chậm lại, nhẹ nhàng hơn, biết yêu thương, trân trọng và không vô tâm với thiên nhiên, với người khác. Mỗi hành động dù nhỏ cũng có thể gây tổn thương, vì vậy hãy sống có trách nhiệm, biết đặt mình vào cảm xúc của người khác để thế giới trở nên nhân hậu và bớt đau đớn hơn.
câu 1 biểu cảm (kết hợp nghi luận)
câu2
Nội dung văn bản:
Văn bản thể hiện suy ngẫm sâu sắc về sự mong manh của thế giới và con người; qua đó nhắc nhở con người cần sống nhẹ nhàng, tỉnh thức, biết yêu thương, tránh vô tình gây tổn thương cho thiên nhiên, cho người khác và cho chính mình
câu 3
Nhân hoá (kết hợp điệp cấu trúc).
Phân tích:
Tác giả gán cho các sự vật vô tri những phẩm chất, hành động của con người:
→ Làm cho thiên nhiên hiện lên như một con người bao dung, nhẫn nại, giàu yêu thương.
→ Qua đó nhấn mạnh: con người thường vô tâm gây tổn thương nhưng thế giới vẫn âm thầm chịu đựng, không oán trách.
câu 4
Đây là hình ảnh ẩn dụ.
Tác giả muốn nói: đôi khi cần đau để biết sống chậm, sống tử tế và nhân ái hơn
câu 5
Bài học ý nghĩa rút ra từ văn bản:
Con người cần sống ý thức, nhẹ nhàng và yêu thương, biết trân trọng thế giới mong manh quanh mình; đừng vô tình gây tổn thương cho thiên nhiên, cho người khác và cho chính tâm hồn mình
Câu 1 Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là biểu cảm (kết hợp với nghị luận và miêu tả).
Câu 2 bản thể hiện suy ngẫm sâu sắc về việc con người vô tình làm tổn thương thiên nhiên, sự vật và những giá trị tinh thần mong manh trong cuộc sống. Qua đó, tác giả nhắn nhủ con người cần sống chậm lại, biết nâng niu, trân trọng thế giới và những yêu thương quanh mình.
Câu 3 Trong đoạn (7), tác giả sử dụng biện pháp tu từ liệt kê kết hợp với nhân hóa.
Việc liệt kê hàng loạt hình ảnh như mặt đất, đại dương, cánh rừng, dòng sông, hồ đầm, nẻo đường, góc vườn… cùng với các từ ngữ nhân hóa như “quen tha thứ”, “quen độ lượng”, “quen nhẫn nhịn” đã làm nổi bật sự bao dung, âm thầm chịu đựng của thiên nhiên và thế giới. Qua đó, tác giả nhấn mạnh sự vô tâm của con người khi quen gây tổn thương mà không hề nhận ra.
Câu 4 Tác giả nói “thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm” vì đó là một hình ảnh ẩn dụ mang ý nghĩa thức tỉnh. Khi con người cảm nhận được nỗi đau thật sự, họ mới “giật mình” nhận ra những tổn thương mình gây ra cho thế giới xung quanh. Câu văn nhấn mạnh rằng chỉ khi biết đau, con người mới học được cách sống cẩn trọng, nhân ái và có trách nhiệm hơn.
Câu 5 Bài học ý nghĩa nhất rút ra từ văn bản là con người cần biết sống chậm lại, nâng niu thiên nhiên và trân trọng những giá trị mong manh của cuộc sống. Đừng vô tâm làm tổn thương người khác chỉ vì họ bao dung và im lặng; hãy học cách yêu thương, sẻ chia và sống nhẹ nhàng hơn với cuộc đời.
Câu 2: Nội dung của văn bản: Văn bản thức tỉnh con người về những tổn thương mà ta vô tình hay hữu ý gây ra cho thiên nhiên, vạn vật và con người xung quanh; từ đó nhắc nhở mỗi người cần sống chậm lại, biết nâng niu, trân trọng và thấu cảm trước những nỗi đau.
Câu 3: * Biện pháp tu từ: Liệt kê kết hợp với nhân hóa (hoặc điệp cấu trúc).
* Liệt kê/Nhân hóa: Mặt đất - quen tha thứ; đại dương - quen độ lượng; cánh rừng - trầm mặc; thảm rêu - không biết dỗi hờn; đóa hoa - không chì chiết...
• Tác dụng: * Làm cho các sự vật vô tri trở nên có hồn, có tính cách như con người (bao dung, nhẫn nhịn).
• Nhấn mạnh sự vị tha, im lặng chịu đựng của thế giới tự nhiên trước những hành động vô tâm của con người.
• Tạo nhịp điệu dàn trải, suy tư, làm nổi bật sự đối lập giữa lòng tốt của thiên nhiên và sự thô tháp của con người.
Câu 4: Tác giả nói “Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm” vì:
• Cái "gai đâm" là biểu tượng cho những nỗi đau, sự va vấp hoặc tổn thương mà chính ta phải nếm trải.
• Chỉ khi bản thân thực sự đau đớn ("rỉ máu"), ta mới thoát khỏi sự vô cảm, mới hiểu được cảm giác của người khác và của vạn vật khi bị ta làm tổn thương. Đó là sự thức tỉnh cần thiết để nuôi dưỡng lòng trắc ẩn.
Câu 5: Bài học ý nghĩa nhất: (Bạn có thể chọn một trong các ý sau):
• Bài học về sự thấu cảm: Đừng sống vô tâm, hãy học cách cảm nhận nỗi đau của người khác và thế giới xung quanh.
• Bài học về sự nâng niu: Thế giới này rất mong manh, mọi hành động nhỏ (lời nói, ánh mắt) đều có thể gây ra tổn thương, vì vậy cần sống nhẹ nhàng và tử tế hơn.
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận (Kết hợp với biểu cảm).
Câu 2: Nội dung của văn bản trên
Nội dung: Đoạn trích bàn về ý nghĩa của những vấp ngã, tổn thương trong cuộc đời. Nó nhắc nhở con người không nên quá chìm đắm trong sự bình yên giả tạo mà quên đi thực tại; đôi khi sự đau đớn là cần thiết để ta tỉnh thức, trân trọng cuộc sống và thấu hiểu giá trị của bản thân.
Câu 3: Xác định và phân tích một biện pháp tu từ trong đoạn (7)
Biện pháp tu từ: Ẩn dụ (ví dụ: "gai đâm", "rỉ máu", "cỏ hoa").
Tác dụng:
Về nội dung: Làm cho lời văn trở nên sinh động, giàu hình ảnh và sức gợi.
Về ý nghĩa:
Giúp diễn đạt những khái niệm trừu tượng (nỗi đau, sự trải nghiệm) trở nên gần gũi. Khẳng định rằng tổn thương không chỉ là nỗi đau thể xác mà là bài học để con người trưởng thành hơn.
Câu 4: Vì sao tác giả nói "Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm"?
Tác giả nói như vậy vì:
Sự tỉnh thức: Khi ta đi mãi trên "cỏ hoa" (sự thuận lợi, bằng phẳng), ta dễ trở nên vô cảm, chủ quan hoặc sống hời hợt. "Gai đâm" là những biến cố, khó khăn giúp ta "giật mình" tỉnh ngộ.
Giá trị của sự thấu hiểu: Chỉ khi nếm trải nỗi đau ("rỉ máu"), ta mới thực sự cảm nhận được giá trị của hạnh phúc, sự bình yên và biết cảm thông với nỗi đau của người khác.
Sự trưởng thành: Những va vấp giúp con người rèn luyện bản lĩnh và nhìn nhận thế giới một cách sâu sắc hơn.
câu 5Bài học ý nghĩa nhất mà em rút ra được chính là sự trân trọng những trải nghiệm đau thương như một phần tất yếu để trưởng thành. Trong cuộc sống, nếu ta mãi đi trên con đường bằng phẳng rải đầy "cỏ hoa", ta dễ rơi vào trạng thái sống mòn, vô cảm và hời hợt. Những "chiếc gai" – hay chính là những thất bại, tổn thương – dù làm ta đau đớn, "rỉ máu", nhưng lại có khả năng thức tỉnh tâm hồn, giúp ta nhận ra giá trị thực sự của hạnh phúc và sự bình yên. Từ đó, em hiểu rằng thay vì sợ hãi hay trốn tránh khó khăn, ta nên đón nhận chúng với tâm thế chủ động để rèn luyện bản lĩnh và làm giàu thêm vốn sống cho bản thân.
câu 1
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.
câu2
Đoạn văn thể hiện suy ngẫm của tác giả về cách con người đối diện với cuộc sống. Con người thường sống vội vàng, thờ ơ, không cảm nhận được vẻ đẹp và ý nghĩa của đời sống xung quanh. Đôi khi cần có những “vết thương” nhỏ để con người thức tỉnh, biết rung động, biết yêu thương hơn.
câu 3
→ “Bàn chân bị gai đâm”, “rỉ máu” là hình ảnh ẩn dụ cho những tổn thương, va chạm, thử thách trong cuộc sống.
Tác dụng: Giúp người đọc nhận ra rằng chính những đau đớn, vấp ngã sẽ khiến con người trưởng thành, biết trân trọng cuộc sống và cảm thông hơn với người khác.
câu4
Vì nếu chỉ đi trên con đường bằng phẳng, con người sẽ trở nên vô cảm, thờ ơ với cuộc đời. “Gai đâm” tượng trưng cho những khó khăn, mất mát giúp ta thức tỉnh, nhận ra giá trị của hạnh phúc và biết yêu thương hơn.
câu5
Mỗi người cần biết sống sâu sắc, biết cảm nhận, biết trân trọng từng khoảnh khắc của cuộc sống. Đừng sợ đau khổ hay thất bại, vì chính những điều đó giúp ta trưởng thành, nhân hậu và sống có ý nghĩa hơn.
phan 2
câu 1
Câu1:
Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm → Văn bản chủ yếu bộc lộ cảm xúc, suy tư, triết lí về con người và thế giới; các phương thức khác (miêu tả, tự sự) chỉ mang tính hỗ trợ.
Câu2 :
Nội dung văn bản: Văn bản thể hiện suy ngẫm sâu sắc về mối quan hệ giữa con người và thế giới: trong quá trình sống, con người vô tình hoặc hữu ý gây ra những tổn thương cho thiên nhiên, cho người khác và cho chính mình. Qua đó, tác giả nhắc nhở con người cần sống chậm lại, có ý thức, biết trân trọng, yêu thương và chịu trách nhiệm với những gì mình gây
Câu3:
Biện pháp tu từ trong đoạn (7): Nhân hóa (kết hợp liệt kê) Phân tích: Tác giả gán cho sự vật, thiên nhiên những phẩm chất, hành động của con người: “mặt đất quen tha thứ”, “đại dương quen độ lượng”, “cánh rừng quen trầm mặc”, “dòng sông quen chảy xuôi”,… Biện pháp nhân hóa làm cho thiên nhiên hiện lên như một thực thể sống, bao dung, nhẫn nhịn trước những tổn thương mà con người gây ra. → Qua đó, tác giả nhấn mạnh sự vị tha của thế giới và gián tiếp phê phán sự vô tâm, hời hợt của con người
Câu4: → “Bị gai đâm” là hình ảnh ẩn dụ cho những vấp ngã, tổn thương, đau đớn trong cuộc sống. Tác giả cho rằng con người đôi khi cần trải qua đau đớn để giật mình tỉnh thức, nhận ra những sai lầm, sự vô tâm của bản thân, từ đó biết sống cẩn trọng, nhân ái và có trách nhiệm hơn. → Tổn thương không chỉ là đau đớn, mà còn là bài học giúp con người trưởng thành.
Câu5:
Bài học ý nghĩa nhất rút ra từ văn bản: Con người cần sống chậm lại, sống tỉnh thức và nhân hậu; biết trân trọng thiên nhiên, con người và những giá trị mong manh của cuộc sống. Mỗi hành động, dù nhỏ, đều có thể gây tổn thương, vì vậy hãy sống có ý thức và trách nhiệm để không làm đau thế giới và chính mình.
Cau 1
Phương thức biểu đạt chính biểu cảm và nghị luận
Câu 2 : nội dung của đoạn trích trên là
Mối quan hệ của thiên nhiên và con người sự trân trọng của con người dành cho thiên nhiên
Câu 3
Biện pháp tu từ trong đoạn bảy nhân hóa (kết hợp liệt kê )phân tích :Tác giả nhân hóa thiên nhiên qua các từ ngữ như :”quen tha thứ “ “quen độ lượng”, “quen nhẫn nhịn “ ,“quen che giấu”…
=>> làm cho thiên nhiên hiện lên như một con người giàu bao dung ,âm thầm chịu đựng .Qua đó nhấn mạnh sự vô tâm của con người và gợi lên cảm xúc day dứt thức tỉnh lương tri
Câu 4
Vì con người quá vô tư trước những tổn thương mà mình gây ra cho người khác vì vậy bản thân chúng ta cũng nên bị thương để hiểu được người khác là làm chính mình .Lúc ấy ta sẽ biết yêu thương ,chia sẻ ,hòa vào thế giới này bằng trái tim độ lượng. Ta sẽ biết thấu hiểu trân trọng thiên nhiên, đồng loại ,dẹp bỏ đi thói ích kỉ ,vô tâm ,thờ ơ để có thể thấu hiểu quan tâm đến người khác.
Câu 5
Bài học ý nghĩa nhất rút ra từ văn bản trên là : con người cần sống có ý thức ,trách nhiệm và lòng trắc ẩn ,biết trân trọng thiên nhiên ,con người và những giá trị mong manh của cuộc sống ,biết dừng lại ,suy nghĩ từ những tổn thương để sống tốt đẹp và nhân văn hơn .
Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là: nghị luận.
→ Văn bản bày tỏ suy ngẫm, quan điểm về cách con người sống và đối xử với thế giới xung quanh, kết hợp yếu tố biểu cảm và miêu tả để tăng sức thuyết phục.
Câu 2 (0,5 điểm)
Nội dung văn bản:
Văn bản nói về việc con người vô tình gây tổn thương cho thiên nhiên, sự vật và cả con người khác trong cuộc sống hằng ngày; từ đó nhắc nhở con người cần sống chậm lại, biết nâng niu, trân trọng thế giới mong manh xung quanh và sống nhân ái hơn.
Câu 3 (1,0 điểm)
Biện pháp tu từ: Nhân hóa
Phân tích:
Trong đoạn (7), tác giả nhân hóa các sự vật tự nhiên như “mặt đất”, “đại dương”, “cánh rừng”, “dòng sông”, “hoa”, “giấc mơ”, “yêu thương” bằng những phẩm chất của con người như “tha thứ”, “độ lượng”, “nhẫn nhịn”, “bao dung”. Biện pháp này làm cho thiên nhiên và thế giới xung quanh trở nên gần gũi, có cảm xúc như con người, đồng thời nhấn mạnh sự rộng lượng, cam chịu của thế giới trước những tổn thương mà con người gây ra. Qua đó, tác giả gián tiếp phê phán sự vô tâm của con người và khơi gợi lòng trắc ẩn, ý thức trách nhiệm trong mỗi người.
Câu 4 (1,0 điểm)
Tác giả nói “Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm” vì đó là hình ảnh ẩn dụ cho những va vấp, đau đớn, tổn thương mà con người cần trải qua trong cuộc sống. Khi “bị gai đâm”, con người mới “giật mình” nhận ra rằng tổn thương là có thật, là đau đớn và chảy máu. Qua đó, tác giả muốn nhấn mạnh: chỉ khi con người biết đau, biết bị tổn thương, họ mới học được cách sống chậm lại, cẩn trọng hơn, biết trân trọng và không vô tình làm đau thế giới xung quanh.
Câu 5 (1,0 điểm)
Bài học ý nghĩa nhất rút ra từ văn bản:
Con người cần sống nhân ái, tinh tế và có trách nhiệm hơn với thiên nhiên, với người khác và với chính cuộc sống của mình; hãy biết nâng niu những điều nhỏ bé, mong manh, bởi mỗi hành động vô tâm đều có thể gây ra những tổn thương âm thầm nhưng sâu sắc.
Câu 1
Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là:
- Nghị luận
Câu 2
Nội dung của văn bản:
Văn bản bàn về hành trình con người đi qua cuộc đời, con đường ấy tuy đẹp đẽ, quen thuộc nhưng vẫn tiềm ẩn những va vấp, tổn thương. Qua đó, tác giả nhắn nhủ con người cần nhận thức rõ những đau đớn của đời sống để sống tỉnh táo, sâu sắc và có trách nhiệm hơn.
Câu 3
Biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn (7): Ẩn dụ
Phân tích:
-“Thế giới”, “cỏ hoa”, “gai đâm”, “rỉ máu” là những hình ảnh ẩn dụ cho cuộc đời.
-“Bước chân quen” ẩn dụ cho sự chủ quan, vô thức khi sống.
-“Gai đâm, rỉ máu” ẩn dụ cho những tổn thương, đau đớn mà con người phải trải qua.
→ Biện pháp ẩn dụ giúp diễn đạt tư tưởng sâu sắc một cách hình ảnh, giàu sức gợi.
Câu 4
Tác giả nói “Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm” vì:
-Những va vấp, đau đớn trong cuộc sống là điều cần thiết.
-Chúng giúp con người giật mình tỉnh thức, nhận ra mình đã quá vô tâm hay chủ quan.
-Nhờ tổn thương, con người biết suy ngẫm, trưởng thành và sống nhân ái hơn.
Câu 5
Bài học ý nghĩa nhất rút ra từ văn bản:
- Con người không nên sống vô thức, thờ ơ trước cuộc đời. Những tổn thương, đau đớn là điều không thể tránh khỏi và cũng là cơ hội để mỗi người hiểu mình, hiểu đời, sống chậm lại và sâu sắc hơn.
C1:Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là: Nghị luận (kết hợp với biểu cảm).Tác giả bày tỏ suy nghĩ, quan niệm về cách con người bước đi trong cuộc đời, qua đó gửi gắm triết lí sống.
C2:Nội dung của văn bản:
Văn bản nói về hành trình con người đi qua cuộc đời: thường quen với những điều đẹp đẽ, êm ái nên dễ chủ quan, vô thức. Chỉ khi gặp những va vấp, tổn thương (được ví như “gai đâm”) thì con người mới giật mình tỉnh ngộ và nhận ra giá trị của cuộc sống, của bản thân.
C3:Biện pháp tu từ trong đoạn : Ẩn dụ.Hình ảnh “bước chân quen xéo lên cỏ hoa”, “bàn chân bị gai đâm” là những hình ảnh ẩn dụ. “Cỏ hoa” ẩn dụ cho những điều tốt đẹp, thuận lợi trong cuộc sống“Gai đâm, rỉ máu” ẩn dụ cho khó khăn, thử thách, tổn thương con người phải trải quaTác dụng:Biện pháp ẩn dụ giúp diễn đạt triết lí sống một cách sinh động, giàu hình ảnh, khiến người đọc dễ cảm nhận và suy ngẫm sâu sắc hơn
C4:Vì tác giả muốn nhấn mạnh rằng:Nếu con người cứ mãi sống trong thuận lợi, quen với cái đẹp, cái êm ái thì sẽ dễ vô cảm, chủ quan Những va vấp, đau đớn trong cuộc sống tuy gây tổn thương nhưng lại cần thiết, giúp con người giật mình tỉnh thức, biết trân trọng cuộc sống, biết sống cẩn trọng và sâu sắc hơn.
C5:
Cuộc sống không chỉ có hạnh phúc và thuận lợi mà còn có khó khăn, thử thách. Con người cần biết chấp nhận những va vấp, tổn thương như một phần tất yếu của cuộc đời, bởi chính những điều đó giúp ta trưởng thành, biết nhìn lại bản thân và sống ý nghĩa hơn. câu 1 phần 2:Con người cần biết yêu thương vạn vật bởi đó không chỉ là biểu hiện của lòng nhân ái mà còn là thước đo giá trị nhân cách của mỗi người. Vạn vật xung quanh ta, từ cây cỏ, muông thú đến thiên nhiên, môi trường sống đều có sự gắn bó mật thiết với đời sống con người. Khi con người biết yêu thương, trân trọng vạn vật, chúng ta sẽ sống chan hòa hơn với thiên nhiên, biết bảo vệ môi trường và duy trì sự cân bằng của cuộc sống. Ngược lại, sự vô cảm, tàn phá thiên nhiên hay ngược đãi động vật không chỉ gây tổn hại cho môi trường mà cuối cùng còn quay trở lại làm tổn thương chính con người. Yêu thương vạn vật còn giúp con người nuôi dưỡng tâm hồn trong sáng, biết cảm thông, chia sẻ và sống có trách nhiệm hơn. Trong xã hội hiện đại, khi con người ngày càng chạy theo lợi ích vật chất, thì việc giữ gìn lòng yêu thương đối với vạn vật lại càng trở nên cần thiết. Đó chính là cách để con người sống nhân văn hơn, bền vững hơn và hạnh phúc hơn.
câu 2:
câu 1 nghị luận
Câu 2 Nội dung văn bản: Văn bản thể hiện suy ngẫm sâu sắc về mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên và cuộc sống: con người trong quá trình tồn tại, hành động vô tình gây ra những tổn thương cho thiên nhiên, cho người khác và cho chính mình; từ đó nhắc nhở con người cần sống chậm lại, biết trân trọng, nâng niu và có trách nhiệm hơn.
Câu 3 Biện pháp tu từ trong đoạn Nhân hóa (kết hợp liệt kê) Phân tích: Tác giả nhân hóa thiên nhiên qua các từ ngữ như: “quen tha thứ”, “quen độ lượng”, “quen nhẫn nhịn”, “quen che giấu”… → Làm cho thiên nhiên hiện lên như một con người giàu bao dung, âm thầm chịu đựng. → Qua đó nhấn mạnh sự vô tâm của con người và gợi lên cảm xúc day dứt, thức tỉnh lương tri.
câu 4Vì đó là hình ảnh ẩn dụ: “Gai đâm” tượng trưng cho những va vấp, tổn thương, sai lầm trong cuộc sống. Những nỗi đau ấy giúp con người giật mình, thức tỉnh, nhận ra giới hạn của bản thân, sống chậm lại và nhân ái hơn. → Tổn thương đôi khi là điều cần thiết để con người trưởng thành.
Câu 5 Bài học ý nghĩa nhất rút ra từ văn bản: Con người cần sống có ý thức, trách nhiệm và lòng trắc ẩn, biết trân trọng thiên nhiên, con người và những giá trị mong manh của cuộc sống; biết dừng lại, suy ngẫm từ những tổn thương để sống tốt đẹp và nhân văn hơn.