K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

13 tháng 3

Câu 1 :

Trong văn bản Chiếu cầu hiền tài, Nguyễn Trãi đã thể hiện nghệ thuật lập luận chặt chẽ, logic và giàu sức thuyết phục. Trước hết, tác giả nêu lên một luận điểm mang tính khái quát: muốn đất nước thịnh trị thì phải trọng dụng hiền tài. Từ đó, ông đưa ra những dẫn chứng lịch sử tiêu biểu ở các triều đại trước như thời Hán, thời Đường để chứng minh rằng các bậc minh quân đều biết tiến cử và sử dụng người tài. Việc nêu dẫn chứng cụ thể, xác thực đã làm cho lập luận trở nên rõ ràng và đáng tin cậy. Bên cạnh đó, Nguyễn Trãi còn kết hợp lí lẽ với thực tiễn của đất nước lúc bấy giờ, cho thấy sự cấp thiết của việc tìm kiếm và sử dụng nhân tài. Ông không chỉ kêu gọi các quan lại tiến cử người hiền mà còn khuyến khích những người có tài tự mình ra giúp nước. Cách lập luận vừa mềm mỏng, vừa tha thiết đã thể hiện tầm nhìn rộng mở và tinh thần trọng dụng nhân tài của người viết. Nhờ vậy, văn bản không chỉ có giá trị chính trị mà còn thể hiện tư tưởng tiến bộ về vai trò của hiền tài đối với sự phát triển của quốc gia.

Câu 2 :

Trong thời đại hội nhập và phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam đang xuất hiện một hiện tượng đáng chú ý là “chảy máu chất xám”. Đây là tình trạng nhiều người có trình độ cao, tài năng giỏi lựa chọn ra nước ngoài học tập, làm việc và sinh sống thay vì cống hiến lâu dài cho đất nước.

Thực tế cho thấy ngày càng nhiều sinh viên, nhà khoa học và người lao động có trình độ cao lựa chọn làm việc tại các quốc gia phát triển. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Trước hết, ở các nước phát triển, họ có điều kiện làm việc tốt hơn, môi trường nghiên cứu hiện đại, cơ hội phát triển nghề nghiệp rộng mở và mức thu nhập hấp dẫn hơn. Bên cạnh đó, một số nơi trong nước vẫn còn tồn tại những hạn chế như môi trường làm việc chưa thật sự thuận lợi, chế độ đãi ngộ chưa tương xứng với năng lực, cơ hội thăng tiến còn hạn chế. Ngoài ra, tâm lý muốn trải nghiệm môi trường quốc tế và phát triển bản thân cũng khiến nhiều người lựa chọn ra nước ngoài. Hiện tượng “chảy máu chất xám” gây ra không ít hệ lụy. Khi nhiều người tài rời khỏi đất nước, nguồn nhân lực chất lượng cao trong nước sẽ bị thiếu hụt, từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển của khoa học, công nghệ và kinh tế. Đất nước có thể mất đi những người có khả năng sáng tạo, nghiên cứu và đóng góp cho xã hội. Về lâu dài, điều này có thể làm giảm sức cạnh tranh của quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa. Tuy nhiên, ở một góc nhìn khác, nếu có chính sách phù hợp thì những người ra nước ngoài học tập và làm việc cũng có thể trở thành cầu nối tri thức, mang kinh nghiệm và kiến thức trở về phục vụ đất nước. Để hạn chế tình trạng “chảy máu chất xám”, cần có sự chung tay của cả Nhà nước và xã hội. Trước hết, cần xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp, minh bạch và tạo điều kiện để người tài phát huy năng lực. Đồng thời, cần có chính sách đãi ngộ hợp lý, khuyến khích và tôn vinh những cá nhân có đóng góp cho đất nước. Việc đầu tư vào giáo dục, khoa học – công nghệ và tạo cơ hội nghiên cứu cũng là yếu tố quan trọng giúp giữ chân nhân tài. Bên cạnh đó, mỗi người trẻ cũng cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với quê hương, đất nước, không chỉ phát triển bản thân mà còn đóng góp cho sự phát triển chung của xã hội.

Tóm lại, “chảy máu chất xám” là một vấn đề đáng quan tâm trong xã hội hiện nay. Để đất nước phát triển bền vững, cần có những chính sách phù hợp nhằm thu hút và giữ chân người tài. Khi mỗi cá nhân đều có ý thức cống hiến và đất nước biết trân trọng, tạo điều kiện cho nhân tài phát triển, nguồn lực trí tuệ sẽ trở thành động lực mạnh mẽ đưa Việt Nam tiến xa hơn trong tương lai.



14 tháng 3

Câu 1 :

Trong văn bản Chiếu cầu hiền tài, Nguyễn Trãi đã thể hiện nghệ thuật lập luận rất chặt chẽ và thuyết phục. Trước hết, tác giả nêu ra luận điểm: muốn đất nước thịnh trị thì phải trọng dụng người hiền tài. Để làm rõ điều đó, ông sử dụng cách lập luận logic từ xưa đến nay: dẫn chứng các triều đại trước biết tiến cử và trọng dụng nhân tài nên đất nước hưng thịnh. Những ví dụ lịch sử cụ thể giúp cho lập luận trở nên rõ ràng, tăng tính thuyết phục. Bên cạnh đó, tác giả còn phân tích thực trạng đương thời: nhiều người tài còn ẩn mình, chưa được phát hiện hoặc chưa dám ra giúp nước. Từ đó, ông đưa ra chủ trương và giải pháp như khuyến khích các quan tiến cử người hiền tài, cho phép người có tài tự tiến cử. Cách lập luận vừa có lí lẽ vừa có dẫn chứng xác đáng, kết hợp giọng văn chân thành, khiêm nhường đã thể hiện rõ tinh thần cầu hiền, trọng dụng nhân tài. Nhờ vậy, văn bản không chỉ có giá trị chính trị mà còn thể hiện tầm nhìn sâu sắc của người lãnh đạo.

Câu 2:

Hiện tượng “chảy máu chất xám” gây ra nhiều hệ quả đáng lo ngại. Khi nhiều nhân tài ra nước ngoài làm việc, đất nước sẽ mất đi một nguồn lực trí tuệ quý giá để phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế. Điều này có thể làm chậm quá trình đổi mới, sáng tạo và giảm khả năng cạnh tranh của quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Hơn nữa, việc đào tạo ra một nguồn nhân lực chất lượng cao tốn rất nhiều thời gian, công sức và chi phí của xã hội. Nếu nguồn nhân lực đó không quay về đóng góp cho đất nước thì sẽ là một sự lãng phí lớn. Để hạn chế tình trạng này, cần có những giải pháp đồng bộ từ nhiều phía. Trước hết, Nhà nước cần xây dựng môi trường làm việc tốt hơn cho người tài, tạo điều kiện để họ nghiên cứu, sáng tạo và phát triển sự nghiệp. Đồng thời, cần có chính sách đãi ngộ hợp lí, công bằng để khuyến khích và giữ chân nhân tài. Bên cạnh đó, việc xây dựng môi trường làm việc minh bạch, chuyên nghiệp và tôn trọng năng lực cá nhân cũng rất quan trọng. Ngoài ra, mỗi người trẻ khi được học tập và phát triển cũng cần ý thức trách nhiệm của mình đối với đất nước, sẵn sàng cống hiến trí tuệ và tài năng cho sự phát triển chung của xã hội. Tóm lại, “chảy máu chất xám” là một vấn đề đáng quan tâm trong quá trình phát triển của Việt Nam hiện nay. Việc tạo điều kiện để thu hút và giữ chân nhân tài không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là mong muốn chung của toàn xã hội. Khi người tài được trân trọng và tạo cơ hội phát triển, họ sẽ góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững của đất nước

14 tháng 3

Câu 1 : 

Trong văn bản Chiếu cầu hiền tài, Nguyễn Trãi đã thể hiện nghệ thuật lập luận chặt chẽ, logic và giàu sức thuyết phục. Trước hết, tác giả nêu lên một luận điểm mang tính khái quát: muốn đất nước thịnh trị thì phải trọng dụng hiền tài. Từ đó, ông đưa ra những dẫn chứng lịch sử tiêu biểu ở các triều đại trước như thời Hán, thời Đường để chứng minh rằng các bậc minh quân đều biết tiến cử và sử dụng người tài. Việc nêu dẫn chứng cụ thể, xác thực đã làm cho lập luận trở nên rõ ràng và đáng tin cậy. Bên cạnh đó, Nguyễn Trãi còn kết hợp lí lẽ với thực tiễn của đất nước lúc bấy giờ, cho thấy sự cấp thiết của việc tìm kiếm và sử dụng nhân tài. Ông không chỉ kêu gọi các quan lại tiến cử người hiền mà còn khuyến khích những người có tài tự mình ra giúp nước. Cách lập luận vừa mềm mỏng, vừa tha thiết đã thể hiện tầm nhìn rộng mở và tinh thần trọng dụng nhân tài của người viết. Nhờ vậy, văn bản không chỉ có giá trị chính trị mà còn thể hiện tư tưởng tiến bộ về vai trò của hiền tài đối với sự phát triển của quốc gia.

Câu 2 :

Trong thời đại hội nhập và phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam đang xuất hiện một hiện tượng đáng chú ý là “chảy máu chất xám”. Đây là tình trạng nhiều người có trình độ cao, tài năng giỏi lựa chọn ra nước ngoài học tập, làm việc và sinh sống thay vì cống hiến lâu dài cho đất nước.

Thực tế cho thấy ngày càng nhiều sinh viên, nhà khoa học và người lao động có trình độ cao lựa chọn làm việc tại các quốc gia phát triển. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Trước hết, ở các nước phát triển, họ có điều kiện làm việc tốt hơn, môi trường nghiên cứu hiện đại, cơ hội phát triển nghề nghiệp rộng mở và mức thu nhập hấp dẫn hơn. Bên cạnh đó, một số nơi trong nước vẫn còn tồn tại những hạn chế như môi trường làm việc chưa thật sự thuận lợi, chế độ đãi ngộ chưa tương xứng với năng lực, cơ hội thăng tiến còn hạn chế. Ngoài ra, tâm lý muốn trải nghiệm môi trường quốc tế và phát triển bản thân cũng khiến nhiều người lựa chọn ra nước ngoài. Hiện tượng “chảy máu chất xám” gây ra không ít hệ lụy. Khi nhiều người tài rời khỏi đất nước, nguồn nhân lực chất lượng cao trong nước sẽ bị thiếu hụt, từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển của khoa học, công nghệ và kinh tế. Đất nước có thể mất đi những người có khả năng sáng tạo, nghiên cứu và đóng góp cho xã hội. Về lâu dài, điều này có thể làm giảm sức cạnh tranh của quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa. Tuy nhiên, ở một góc nhìn khác, nếu có chính sách phù hợp thì những người ra nước ngoài học tập và làm việc cũng có thể trở thành cầu nối tri thức, mang kinh nghiệm và kiến thức trở về phục vụ đất nước. Để hạn chế tình trạng “chảy máu chất xám”, cần có sự chung tay của cả Nhà nước và xã hội. Trước hết, cần xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp, minh bạch và tạo điều kiện để người tài phát huy năng lực. Đồng thời, cần có chính sách đãi ngộ hợp lý, khuyến khích và tôn vinh những cá nhân có đóng góp cho đất nước. Việc đầu tư vào giáo dục, khoa học – công nghệ và tạo cơ hội nghiên cứu cũng là yếu tố quan trọng giúp giữ chân nhân tài. Bên cạnh đó, mỗi người trẻ cũng cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với quê hương, đất nước, không chỉ phát triển bản thân mà còn đóng góp cho sự phát triển chung của xã hội.

Tóm lại, “chảy máu chất xám” là một vấn đề đáng quan tâm trong xã hội hiện nay. Để đất nước phát triển bền vững, cần có những chính sách phù hợp nhằm thu hút và giữ chân người tài. Khi mỗi cá nhân đều có ý thức cống hiến và đất nước biết trân trọng, tạo điều kiện cho nhân tài phát triển, nguồn lực trí tuệ sẽ trở thành động lực mạnh mẽ đưa Việt Nam tiến xa hơn trong tương lai.



Câu 1

Trong chiếu cầu hiền tài Nguyễn Trãi đã thể hiện nghệ thuật lập luận bậc thầy, thể hiện tấm lòng vì nước. Nghệ thuật lập luận chủ yếu được xây dựng trên cơ sở logic và cảm xúc chân thành. Tác giả sử dụng những phép so sánh và đối chiếu kinh điển tập việc Cầu Hiền của thiền dân đối lập với thực trạng đất nước lúc bấy giờ, lập luận được triển khai từ rộng đến hẹp mở đầu bằng việc khẳng định tầm quan trọng của nhân tài đối với sự hưng thịnh của quốc gia. Điểm nhấn nghệ thuật là sử dụng ngôn ngữ trang trọng chững chạc nhưng xen kẽ những lời lẽ khiêm nhường thấu tình Đạt Lý khi kiến nghị với vua. Nguyễn Trãi khéo léo lồng ghép dẫn chứng lịch sử và lý lẽ thời sự để chứng minh cho luận điểm cốt lõi: muốn nước giàu mạnh, không thể thiếu những người tài Đức. Cách lập luận này vừa thể hiện tính khách quan, vừa thể hiện được quyết tâm chủ quan của một vị quan lớn khiến lời kêu gọi trở nên vô cùng sức thuyết phục

Câu 2

"Chảy máu chất xám"là hiện tượng nhức nhối, đang đặt ra thử thách cho sự phát triển bền vững của Việt Nam. Đây là tình trạng nguồn nhân lực chất lượng cao những bộ óc tài năng, sáng tạo rồi bỏ đất nước để tìm cơ hội phát triển ở nước ngoài để lại nhiều khoảng trống to lớn cho nhiều lĩnh vực.

Hiện tượng"chảy máu chất xám"không còn là vấn đề mới nhưng càng trở nên trầm trọng hơn. Thằng hâm một lượng sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, các nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành ở nhiều lĩnh vực như công nghệ thông tin, y tế, kỹ thuật, kinh tế,... Lựa chọn ra nước ngoài làm ăn sinh sống, cậu ra đi không chị vì mức lương hấp dẫn cơ hội việc làm rộng mở, mà còn vì môi trường làm việc chuyên nghiệp, cơ sở vật chất hiện đại, cơ hội nghiên cứu phát triển bản thân không ngừng. Sự ra đi của họ không chỉ là sự mất mát về con người, mà còn sự lãng phí nguồn đầu tư vào giáo dục đào tạo. Việt Nam đã đầu tư không nhỏ vào việc đào tạo những tài năng này, nhưng cuối cùng lại để những nguồn lực quý giá này phục vụ cho sự phát triển của các quốc gia khác. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh, khả năng mới, sáng tạo và sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Hạn chế trong môi trường chính sách và quản lý, thủ tục hành chính rườm rà, thiếu cơ chế khuyến khích và trọng dụng nhân tài, nạn bằng cấp giả, thiếu sự minh bạch trong đánh giá năng lực,... Cũng là rào cản khiến nhiều người tài nản lòng, một số bạn trẻ mong muốn được làm việc trong môi trường năng động, sáng tạo, nơi họ có thể phát huy tối đa khả năng của mình, được ghi nhận và có lộ trình phát triển rõ ràng, khi những yếu tố này không được đáp ứng họ sẽ dễ dàng tìm kiếm cơ hội ở nơi khác. Để giải quyết vấn đề "chảy máu chất xám"cần có một chiến lược đồng thời và đồng bộ từ nhiều phía. Thứ nhất cải thiện môi trường làm việc hiệu quả và thu nhập. Nhà nước cần có những chính sách ưu đãi chế độ đãi ngộ đặc biệt cho nhân tài, đặc biệt là những người làm trong nhiều lĩnh vực mũi nhọn Như khoa học Công nghệ, y tế, giáo dục. Cần đầu tư mạnh mẽ vào cơ sở vật chất, trang thiết bị nghiên cứu, tạo điều kiện để các nhà khoa học, chuyên gia có thể làm việc hiệu quả và phát huy tối đa nhân lực. Thứ hai hoàn thiện hệ thống chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài, cần có những cơ chế đột phá trong việc tuyển dụng, đánh giá và bổ nhiệm cán bộ dựa trên năng lực thực tế, thay vì dựa vào bằng cấp hay các yếu tố khác. Xây dựng môi trường làm việc minh bạch, cân bằng, tạo điều kiện để người tài phát huy hết khả năng và đóng góp cho sự phát triển chung. Thứ ba thúc đẩy văn hóa sáng tạo và khởi nghiệp, khuyến khích tinh thần dám nghĩ, đang làm, tạo điều kiện cho các ý tưởng sáng tạo được phát triển và ứng dụng vào thực tế . Hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp, tạo ra nhiều cơ hội việc làm chất lượng cao cho người lao động. Đồng thời cần có những chính sách khuyến khích kiều bào tài năng đóng góp cho quê hương. có thể thông qua các chương trình nghiên cứu chuyển giao hoặc tham gia các dự án phát triển quốc gia.

"Chảy máu chất xám"là một thách thức nhưng cũng là cơ hội để Việt Nam nhìn nhận và có những hành động quyết liệt nhằm xây dựng một môi trường tốt nhất cho những người tài có thể phát huy hết khả ,năng cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước

17 tháng 3

Câu 1 Trong văn bản Chiếu cầu hiền tài, Nguyễn Trãi đã thể hiện nghệ thuật lập luận chặt chẽ, thuyết phục. Trước hết, tác giả nêu luận điểm rõ ràng: hiền tài có vai trò quan trọng đối với sự thịnh trị của đất nước. Để làm sáng tỏ điều đó, ông sử dụng lí lẽ kết hợp với dẫn chứng lịch sử tiêu biểu từ các triều đại trước, cho thấy việc trọng dụng nhân tài luôn là yếu tố quyết định sự hưng thịnh. Cách lập luận theo trình tự logic: từ quá khứ đến hiện tại, từ thực trạng đến giải pháp, giúp người đọc dễ hiểu và bị thuyết phục. Bên cạnh đó, tác giả còn đưa ra nhiều con đường tiến cử hiền tài như tiến cử, tự tiến cử, không phân biệt xuất thân, thể hiện tư tưởng tiến bộ. Ngôn ngữ vừa trang trọng vừa chân thành, thể hiện thái độ khiêm nhường, cầu thị của người đứng đầu đất nước. Nhờ sự kết hợp hài hòa giữa lí lẽ, dẫn chứng và cảm xúc, bài chiếu có sức thuyết phục mạnh mẽ, góp phần kêu gọi nhân tài ra giúp nước. Câu 2 Hiện tượng “chảy máu chất xám” đang trở thành một vấn đề đáng quan tâm ở Việt Nam hiện nay. Đây là tình trạng những người có trình độ cao, tài năng rời bỏ đất nước để học tập, làm việc ở nước ngoài, gây thất thoát nguồn nhân lực chất lượng cao. Trước hết, cần thấy rằng “chất xám” là nguồn lực vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của một quốc gia. Những người tài giỏi chính là lực lượng tiên phong trong khoa học, công nghệ, giáo dục và kinh tế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều du học sinh sau khi học xong đã không quay trở về nước, hoặc những người có năng lực trong nước cũng tìm cách ra nước ngoài làm việc. Điều này dẫn đến sự thiếu hụt nhân tài, làm chậm quá trình phát triển của đất nước. Nguyên nhân của hiện tượng này đến từ nhiều phía. Trước hết là do môi trường làm việc trong nước chưa thực sự thuận lợi: điều kiện nghiên cứu còn hạn chế, thu nhập chưa tương xứng với năng lực. Bên cạnh đó, một số cơ chế còn ràng buộc, chưa tạo điều kiện để người tài phát huy hết khả năng. Ngoài ra, môi trường quốc tế với mức lương cao, cơ hội phát triển rộng mở cũng là yếu tố thu hút mạnh mẽ. Hậu quả của “chảy máu chất xám” là rất lớn. Đất nước mất đi nguồn nhân lực chất lượng cao, phải tốn thêm chi phí đào tạo nhưng không thu được lợi ích. Đồng thời, sự thiếu hụt nhân tài khiến khả năng cạnh tranh của quốc gia giảm sút trong bối cảnh hội nhập toàn cầu. Để khắc phục tình trạng này, cần có những giải pháp đồng bộ. Nhà nước cần cải thiện môi trường làm việc, nâng cao chế độ đãi ngộ, tạo điều kiện cho người tài phát triển. Đồng thời, cần có chính sách thu hút nhân tài từ nước ngoài trở về. Về phía mỗi cá nhân, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần có ý thức trách nhiệm với quê hương, đất nước, biết cống hiến trí tuệ của mình cho sự phát triển chung. Tóm lại, “chảy máu chất xám” là một vấn đề cần được nhìn nhận nghiêm túc và giải quyết kịp thời. Giữ chân và phát huy nhân tài chính là chìa khóa để đưa đất nước phát triển bền vững trong tương lai.

Câu 1: bài làm

Trong văn bản "Chiếu cầu hiền", Nguyễn Trãi (thừa lệnh vua Quang Trung) đã thể hiện một nghệ thuật lập luận vô cùng sắc bén và thuyết phục. Trước hết, hệ thống luận điểm được xây dựng rất chặt chẽ, đi từ quy luật khách quan của tự nhiên đến trách nhiệm của người hiền tài đối với đất nước. Cách đặt vấn đề trực diện: người tài phải ra giúp nước là "thiên tính" của bậc quân tử, từ đó xóa bỏ tâm lý e dè của các sĩ phu triều cũ. Thứ hai, ngôn ngữ văn bản vừa trang trọng, đúng mực của một vị minh quân, vừa tha thiết, khiêm nhường. Việc sử dụng những hình ảnh so sánh giàu sức gợi (như sao sáng chầu về Bắc Thần) và các câu hỏi tu từ đã tạo nên sức mạnh tác động mạnh mẽ vào tâm lý người nghe. Cuối cùng, chính sách cầu hiền cụ thể, rộng mở đã minh chứng cho thái độ cầu thị chân thành của nhà vua. Tất cả tạo nên một bài chiếu có sức thuyết phục tuyệt đối, vừa thấu tình vừa đạt lý.

Câu 2 : bài làm

Trong kỷ nguyên kinh tế tri thức, tài nguyên quý giá nhất của mỗi quốc gia không còn là khoáng sản hay dầu mỏ, mà chính là con người. Tuy nhiên, Việt Nam đang đối mặt với một thách thức lớn mang tên "chảy máu chất xám" – hiện tượng những người có trình độ học vấn cao, năng lực giỏi rời bỏ quê hương để sang làm việc và định cư lâu dài tại các nước phát triển. Đây là một vấn đề nhức nhối, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững của đất nước.

​Thực tế cho thấy, tình trạng này diễn ra ngày càng phổ biến. Nhiều thủ khoa, du học sinh nhận học bổng nhà nước hoặc tự túc sau khi tốt nghiệp tại các trường đại học danh tiếng ở Mỹ, Úc, Nhật Bản... đã chọn ở lại thay vì trở về. Bên cạnh đó, không ít chuyên gia, nhà khoa học đang công tác trong nước cũng tìm đường ra nước ngoài để tìm kiếm môi trường làm việc tốt hơn. Điều này khiến Việt Nam rơi vào tình cảnh đào tạo nhân lực cho nước khác hưởng lợi, gây lãng phí nguồn lực quốc gia nghiêm trọng.

​Nguyên nhân của hiện tượng này bắt nguồn từ nhiều phía. Trước hết, môi trường làm việc trong nước đôi khi còn thiếu sự chuyên nghiệp, máy móc thiết bị nghiên cứu lạc hậu, không đủ điều kiện để các tài năng thực hiện những dự án tầm cỡ. Thứ hai là vấn đề đãi ngộ. Mức lương và các chế độ phúc lợi tại Việt Nam thường chưa tương xứng với năng lực và công sức mà người lao động trí óc bỏ ra. Cuối cùng, cơ chế quản lý và trọng dụng nhân tài tại một số đơn vị vẫn còn nặng tính bằng cấp, thiếu sự công bằng và minh bạch, khiến những người thực tài cảm thấy không có đất diễn hoặc bị mai một năng lực.

​Hệ lụy của "chảy máu chất xám" là vô cùng lớn. Khi những bộ óc ưu tú nhất ra đi, tốc độ phát triển kinh tế và khoa học kỹ thuật của quốc gia sẽ bị chậm lại. Khoảng cách giữa Việt Nam và các cường quốc ngày càng giãn rộng. Chúng ta mất đi những người dẫn đầu, những người có khả năng tạo ra sự đột phá và thay đổi diện mạo đất nước.

​Để khắc phục tình trạng này, nhà nước và các doanh nghiệp cần có những giải pháp đồng bộ. Việc cải thiện tiền lương là cần thiết, nhưng quan trọng hơn là phải tạo ra một môi trường làm việc tự do, sáng tạo và tôn trọng sự khác biệt. Cần xây dựng một cơ chế tuyển dụng và thăng tiến dựa trên năng lực thực tế thay vì thâm niên hay các mối quan hệ. Đồng thời, chúng ta cũng nên khuyến khích mô hình "luân chuyển chất xám" – thay vì bắt buộc ở lại, hãy tạo điều kiện để các trí thức kiều bào có thể đóng góp cho tổ quốc thông qua các dự án ngắn hạn hoặc chuyển giao công nghệ từ xa.

​Tóm lại, "chảy máu chất xám" là một bài toán khó nhưng không phải không có lời giải. Đối với thế hệ trẻ, việc tìm kiếm cơ hội ở nước ngoài là quyền cá nhân, nhưng hãy luôn nuôi dưỡng lòng tự tôn dân tộc và ý thức hướng về nguồn cuội. Đất nước chỉ có thể thực sự cất cánh khi mỗi người tài đều cảm thấy quê hương là nơi đáng sống và đáng để cống hiến nhất.


18 tháng 3

Câu 1:

Nghệ thuật lập luận trong văn bản là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý lẽ đanh thép và tình cảm chân thành. Tác giả bắt đầu bằng việc xác lập một chân lý khách quan: người hiền như sao sáng, phải phụng sự cho thiên hạ, từ đó khẳng định việc hiền tài ra giúp nước là thuận theo lẽ trời. Hệ thống lập luận được triển khai chặt chẽ qua việc phân tích thực trạng thời đại, xóa bỏ những e ngại của kẻ sĩ bằng thái độ khiêm nhường, cầu thị của người đứng đầu đất nước. Cách sử dụng điển tích, điển cố cùng ngôn ngữ vừa trang trọng, vừa gần gũi đã tạo nên sức thuyết phục lớn. Lời văn không chỉ là mệnh lệnh mà còn là lời tâm tình, thức tỉnh lương tri và trách nhiệm của tầng lớp trí thức. Chính sự thấu tình đạt lý này đã tạo nên sức mạnh cảm hóa, khiến sĩ phu bấy giờ tin tưởng và dấn thân cống hiến cho triều đại mới.

Câu 2:

Trong kỷ nguyên kinh tế tri thức, "nhân tài là nguyên khí của quốc gia". Một đất nước muốn hùng cường không thể thiếu đi những bộ óc ưu tú. Thế nhưng, Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng nhức nhối: hiện tượng "chảy máu chất xám". Đây không chỉ là sự tổn thất về con người mà còn là rào cản lớn đối với sự phát triển bền vững của dân tộc. "Chảy máu chất xám" được hiểu là sự di chuyển của nguồn nhân lực có trình độ cao, các chuyên gia, nhà khoa học từ quốc gia này sang quốc gia khác hoặc từ khu vực công sang khu vực tư nhân nhằm tìm kiếm môi trường làm việc và thu nhập tốt hơn. Tại Việt Nam, hiện tượng này biểu hiện rõ nét nhất qua việc đại đa số các quán quân cuộc thi "Đường lên đỉnh Olympia" hay rất nhiều du học sinh xuất sắc sau khi tốt nghiệp tại nước ngoài đã chọn ở lại định cư thay vì trở về cống hiến cho quê hương. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này trước hết nằm ở chế độ đãi ngộ. Khi đặt lên bàn cân, mức lương và phúc lợi tại Việt Nam thường thấp hơn rất nhiều so với các quốc gia phát triển. Bên cạnh đó, môi trường làm việc còn nhiều bất cập: thiếu trang thiết bị nghiên cứu hiện đại, quy trình thủ tục hành chính rườm rà và đôi khi là cơ chế trọng dụng nhân tài chưa thực sự công tâm, còn nặng cảm tính. Nhiều người trẻ tài năng cảm thấy năng lực của mình không có "đất dụng võ" hoặc không được đánh giá đúng mức. Hậu quả của "chảy máu chất xám" là vô cùng nặng nề. Khi những người giỏi nhất rời đi, đất nước mất đi "đầu tàu" dẫn dắt các ngành công nghệ, y tế, giáo dục... Điều này dẫn đến sự lãng phí ngân sách nhà nước đã đầu tư cho giáo dục nền tảng, đồng thời làm chậm nhịp độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chúng ta vô tình trở thành nơi "đào tạo hộ" nhân lực chất lượng cao cho các nước giàu. Để khắc phục, Nhà nước cần có những chính sách mang tính đột phá. Không chỉ là tăng lương, mà quan trọng hơn là tạo ra một môi trường làm việc văn minh, chuyên nghiệp, nơi mà sự cống hiến được ghi nhận bằng thực lực thay vì bằng cấp hay quan hệ. Đồng thời, cần khơi dậy lòng tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với quê hương. Tóm lại, "chảy máu chất xám" là một bài toán khó nhưng không phải không có lời giải. Thay vì chỉ trách cứ những người ra đi, chúng ta cần tự hỏi: "Chúng ta đã chuẩn bị gì để đón họ trở về?". Mỗi học sinh hôm nay cần nỗ lực học tập, rèn luyện để dù ở đâu, làm gì, cũng luôn hướng về đóng góp cho sự phát triển của Việt Nam.


21 tháng 3

Câu 1:

Tác giả bắt đầu bằng việc xác lập một chân lý khách quan: "người hiền ắt làm sứ giả cho thiên tử", ví người hiền như sao sáng chầu về Bắc Thần. Cách đặt vấn đề này vừa tôn vinh người tài, vừa khẳng định trách nhiệm của họ đối với đất nước.

Ngô Thì Nhậm không dùng uy quyền để ra lệnh mà dùng sự chân thành để chiêu dụ. Ông thấu hiểu tâm lý e dè của các sĩ phu triều cũ, đưa ra các câu hỏi tu từ đầy trăn trở: "Hay trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng.

Việc sử dụng các điển tích, điển cố kết hợp với hệ thống lập luận lô-gic đã hóa giải mọi rào cản về tư tưởng, khiến người nghe cảm thấy việc ra giúp nước không chỉ là nghĩa vụ mà còn là lẽ sống cao đẹp.

Câu 2:

Thân nhân Trung đã từng khẳng định: "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia". Một đất nước muốn hùng cường, thịnh vượng không thể thiếu những người có trí tuệ và tài năng. Thế nhưng, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, Việt Nam đang phải đối mặt với một thách thức lớn: hiện tượng "chảy máu chất xám". Đây là vấn đề nhức nhối, đòi hỏi chúng ta phải có cái nhìn nghiêm túc và thấu đáo. "Chảy máu chất xám" là thuật ngữ dùng để chỉ sự di cư của nguồn nhân lực có trình độ học vấn cao, có chuyên môn giỏi từ quốc gia này sang quốc gia khác. Tại Việt Nam, hiện tượng này biểu hiện rõ nét nhất qua việc hàng loạt du học sinh, các nhà khoa học hay các chuyên gia kinh tế sau khi học tập tại các quốc gia phát triển đã chọn ở lại định cư và làm việc thay vì trở về cống hiến cho quê hương. Điển hình là câu chuyện về các quán quân chương trình "Đường lên đỉnh Olympia", phần lớn trong số họ đều chọn lập nghiệp tại Australia sau khi kết thúc kỳ du học. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng này không hoàn toàn nằm ở sự "thiếu lòng yêu nước". Chúng ta cần nhìn nhận khách quan rằng, các nước phát triển sở hữu một môi trường làm việc lý tưởng với trang thiết bị hiện đại, hệ thống quản lý chuyên nghiệp và đặc biệt là chế độ đãi ngộ xứng đáng. Trong khi đó, tại nước ta, cơ chế sử dụng nhân tài đôi khi còn nặng tính hình thức, rườm rà về thủ tục hành chính, và mức lương chưa đủ để đảm bảo cuộc sống ổn định cho những người làm khoa học chân chính. Nhiều người trẻ mang khát vọng cống hiến nhưng lại rơi vào tình cảnh "có tài mà không có đất dụng võ" do thiếu hụt hạ tầng công nghệ hoặc bị kìm kẹp bởi các quy tắc cũ kỹ. Hệ lụy của việc "chảy máu chất xám" là vô cùng lớn. Đất nước không chỉ mất đi nguồn lực tri thức quý báu để bứt phá về kinh tế - kỹ thuật mà còn chịu tổn thất về ngân sách khi đã đầu tư đào tạo nền tảng ban đầu nhưng thành quả lại thuộc về quốc gia khác. Khoảng cách phát triển giữa Việt Nam và thế giới vì thế có nguy cơ ngày càng bị nới rộng. Để khắc phục tình trạng này, giải pháp căn cơ nhất không phải là dùng mệnh lệnh hành chính để giữ chân, mà phải tạo ra một "môi trường đáng sống và đáng làm việc". Nhà nước cần có những chính sách đột phá trong việc trọng dụng nhân tài, cải thiện chế độ lương thưởng và tạo không gian tự do sáng tạo cho trí thức. Bên cạnh đó, mỗi cá nhân cũng cần nuôi dưỡng tinh thần tự tôn dân tộc, nhìn thấy những cơ hội phát triển ngay trên mảnh đất quê hương mình. Tóm lại, nhân tài là tài sản quốc gia. Việc ngăn chặn "chảy máu chất xám" và thu hút "chất xám" trở về là một cuộc chiến dài hơi. Chỉ khi chúng ta thực sự trân trọng giá trị của tri thức, tạo điều kiện cho cái mới nảy nở, khi đó Việt Nam mới có thể giữ chân được những "nguyên khí" quý giá để xây dựng đất nước giàu mạnh.

30 tháng 3

Câu 1 (khoảng 200 chữ): Trong văn bản Chiếu cầu hiền tài, Nguyễn Trãi đã thể hiện nghệ thuật lập luận chặt chẽ, giàu sức thuyết phục. Trước hết, tác giả nêu luận điểm rõ ràng: việc trị nước phụ thuộc vào hiền tài. Để làm sáng tỏ, ông đưa ra dẫn chứng từ thực tế lịch sử các triều đại trước như Hán, Đường, cho thấy nhờ biết trọng dụng nhân tài mà đất nước hưng thịnh. Cách nêu dẫn chứng cụ thể, tiêu biểu giúp tăng tính xác thực và sức thuyết phục. Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng lí lẽ kết hợp với cảm xúc, thể hiện qua việc tự nhận trách nhiệm của bản thân khi chưa tìm được người hiền, từ đó khơi gợi lòng tự trọng và ý thức trách nhiệm của kẻ sĩ. Ngoài ra, cách lập luận theo trình tự hợp lí: từ nêu vấn đề, chứng minh đến đưa ra giải pháp (các con đường tiến cử) làm cho bài chiếu vừa logic vừa dễ hiểu. Giọng điệu khiêm nhường nhưng chân thành, tha thiết càng làm tăng hiệu quả thuyết phục. Nhờ đó, văn bản không chỉ có giá trị chính trị mà còn có giá trị nghệ thuật sâu sắc. Câu 2 (khoảng 600 chữ): Hiện tượng “chảy máu chất xám” đang trở thành một vấn đề đáng quan tâm ở Việt Nam hiện nay. Đây là tình trạng những người có trình độ cao, tài năng lựa chọn học tập, làm việc và định cư ở nước ngoài thay vì cống hiến cho quê hương. Hiện tượng này không chỉ phản ánh xu hướng hội nhập mà còn đặt ra nhiều thách thức đối với sự phát triển của đất nước. Trước hết, cần thấy rằng “chảy máu chất xám” xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Một trong những nguyên nhân chính là môi trường làm việc trong nước chưa thật sự đáp ứng được nhu cầu phát triển của người tài. Nhiều người trẻ có năng lực mong muốn được làm việc trong điều kiện hiện đại, có cơ hội sáng tạo, nghiên cứu nhưng lại gặp hạn chế về cơ sở vật chất hoặc cơ chế. Bên cạnh đó, chế độ đãi ngộ chưa tương xứng cũng là yếu tố khiến họ tìm đến những nơi có mức thu nhập và cơ hội tốt hơn. Ngoài ra, tâm lí muốn trải nghiệm, học hỏi ở môi trường quốc tế cũng góp phần làm gia tăng hiện tượng này. Tuy nhiên, “chảy máu chất xám” để lại nhiều hệ lụy đáng lo ngại. Khi người tài rời đi, đất nước sẽ thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao – yếu tố then chốt cho sự phát triển kinh tế, khoa học và công nghệ. Điều này có thể làm chậm quá trình hiện đại hóa và giảm sức cạnh tranh của quốc gia trên trường quốc tế. Không chỉ vậy, việc đào tạo một nhân tài tốn rất nhiều thời gian và chi phí, nên khi họ không quay về cống hiến sẽ gây lãng phí nguồn lực lớn. Dẫu vậy, không thể nhìn nhận vấn đề một cách hoàn toàn tiêu cực. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc người tài ra nước ngoài học tập và làm việc cũng có thể là cơ hội để tiếp thu tri thức, kinh nghiệm tiên tiến. Nếu có chính sách phù hợp, họ hoàn toàn có thể quay trở về đóng góp cho đất nước hoặc hỗ trợ từ xa. Vì vậy, điều quan trọng là phải có giải pháp để thu hút và giữ chân nhân tài. Để hạn chế “chảy máu chất xám”, trước hết cần cải thiện môi trường làm việc, tạo điều kiện để người tài phát huy năng lực. Nhà nước cần có chính sách đãi ngộ hợp lí, công bằng, đồng thời trọng dụng nhân tài một cách thực chất. Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế linh hoạt để thu hút người Việt ở nước ngoài trở về cống hiến. Về phía mỗi cá nhân, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần ý thức rõ trách nhiệm với quê hương, đất nước, từ đó có lựa chọn phù hợp giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung. Tóm lại, “chảy máu chất xám” là một hiện tượng phức tạp, vừa mang tính thách thức vừa mở ra cơ hội. Điều quan trọng là cần có những chính sách đúng đắn và sự chung tay của cả xã hội để biến thách thức thành động lực phát triển, góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh.

8 giờ trước (20:43)


Câu 1: Nghệ thuật lập luận của Nguyễn Trãi trong "Chiếu cầu hiền tài" (Khoảng 200 chữ) Trong văn bản "Chiếu cầu hiền tài", Nguyễn Trãi (thay lời vua Lê Thái Tổ) đã thể hiện một nghệ thuật lập luận vô cùng sắc sảo, thuyết phục và đầy sức lay động.Bố cục chặt chẽ Lập luận đi từ lý lẽ chung đến tình hình thực tế và cuối cùng là giải pháp cụ thể. Ông khẳng định sứ mệnh của người hiền đối với đất nước như "sao sáng trên trời", từ đó tạo cơ sở pháp lý và đạo đức cho việc cầu hiền .Thái độ cầu thị, chân thành: Thay vì dùng uy quyền của một vị quân chủ, bài chiếu lại mang giọng điệu khiêm nhường, tha thiết. Tác giả thẳng thắn thừa nhận những thiếu sót của triều đình và bày tỏ sự lo lắng cho vận mệnh quốc gia khi thiếu vắng nhân tài.Lập luận giàu sức thuyết phục: Cách đặt vấn đề trực diện, sử dụng các hình ảnh so sánh ẩn dụ giàu tính biểu tượng giúp người đọc dễ dàng thấu hiểu và cảm động. Chính nghệ thuật lập luận kết hợp hài hòa giữa "lý" sắc bén và "tình" chân thành đã khiến bài chiếu không chỉ là một văn bản hành chính mà còn là một bài văn chính luận mẫu mực, khơi gợi lòng yêu nước và trách nhiệm của tầng lớp trí thức đương thời. Câu 2: Suy nghĩ về hiện tượng “chảy máu chất xám” tại Việt Nam hiện nay (Khoảng 600 chữ) "Chảy máu chất xám" là hiện tượng những người có trình độ chuyên môn cao, có năng lực sáng tạo rời bỏ quê hương để sang làm việc tại các quốc gia phát triển. Tại Việt Nam hiện nay, đây không còn là vấn đề mới nhưng vẫn luôn là một bài toán hóc búa đối với sự phát triển bền vững của đất nước.Thực trạng và nguyên tế cho thấy, rất nhiều thủ khoa, du học sinh xuất sắc sau khi tốt nghiệp tại các quốc gia như Mỹ, Úc, Nhật Bản... đã lựa chọn ở lại làm việc thay vì trở về. Nguyên nhân cốt lõi của vấn đề này thường nằm ở hai yếu tố chính: môi trường làm việc và chế độ đãi ngộ. Tại các nước phát triển, nhân tài được làm việc trong môi trường chuyên nghiệp, máy móc hiện đại và đặc biệt là mức lương tương xứng với năng lực. Ngược lại, trong nước, cơ chế quản lý đôi khi còn nặng tính hành chính, thiếu sự đột phá và môi trường nghiên cứu khoa học còn hạn chế. Hệ lụy đối với quốc gia Hệ lụy của "chảy máu chất xám" là vô cùng lớn.Mất đi nguồn lực phát triển: Quốc gia mất đi những "bộ não" tinh hoa nhất để dẫn dắt các ngành công nghiệp, kinh tế và giáo dục.Lãng phí nguồn lực đào tạo: Nhà nước và gia đình đầu tư rất nhiều cho việc học tập nhưng thành quả lao động lại đóng góp cho quốc gia khác.Gia tăng khoảng cách phát triển: Khi nhân tài rời đi, khoảng cách về trình độ khoa học kỹ thuật giữa Việt Nam và thế giới ngày càng bị nới rộng. Giải pháp và góc nhìn mới Tuy nhiên, trong thời đại toàn cầu hóa, chúng ta cũng cần có cái nhìn đa chiều hơn. Không nhất thiết phải ở trong nước mới có thể cống hiến. Nhiều trí thức Việt kiều vẫn đang hướng về tổ quốc, đóng góp qua các dự án từ xa, chuyển giao công nghệ hoặc đầu tư kinh doanh. Nhưng để thực sự giữ chân nhân tài, Nhà nước cần có những chính sách đột phá hơn:Cải cách tiền lương: Đảm bảo cuộc sống ổn định cho người có năng lực.Trọng dụng nhân tài: Tạo ra môi trường làm việc minh bạch, nơi năng lực được đặt lên trên các mối quan hệ.Đầu tư hạ tầng: Xây dựng các trung tâm nghiên cứu hiện đại. Tóm lại, hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Để ngăn chặn tình trạng "chảy máu chất xám", không thể chỉ dùng lời kêu gọi lòng yêu nước mà cần có những hành động thiết thực. Xây dựng một "tổ ấm" đủ tốt mới có thể giữ chân những cánh chim đầu đàn trở về và cống hiến cho sự phồn vinh của đất nước.
II. Làm văn (7.0 điểm) Câu 1: (2.0 điểm)             Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của sự tử tế trong cuộc sống. Câu 2: (5.0 điểm)             Cảm nhận tâm trạng của người chinh phụ trong đoạn trích sau:     Gà eo óc gáy sương năm trống,    Hòe phất phơ lung giậu...
Đọc tiếp

II. Làm văn (7.0 điểm)

Câu 1: (2.0 điểm)

            Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của sự tử tế trong cuộc sống.

Câu 2: (5.0 điểm)

            Cảm nhận tâm trạng của người chinh phụ trong đoạn trích sau:

    Gà eo óc gáy sương năm trống,

   Hòe phất phơ lung giậu bốn bên.

       Khắc giờ đằng đẵng như niên,

Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.

   Hương gượng đốt hồn đà mê mải,

   Gương gượng soi lệ lại châu chan.

       Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,

Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.”

(Trích Chinh phụ ngâm, nguyên tác: Đặng Trần Côn,

bản diễn Nôm: Đoàn Thị Điểm, SGK Ngữ văn 10, tập 2, NXB Giáo dục)

21
15 tháng 5 2021

Câu 1: Ý nghĩa của sự tử tế trong cuộc sống.

- Giải thích “sự tử tế” là tấm lòng lương thiện, phẩm chất tốt đẹp của con người, luôn hướng đến mọi người, sẵn sàng giúp đỡ người khác khi gặp khó khăn, sẵn sàng sẻ chia với người khác.

- Ý nghĩa của sự tử tế trong cuộc sống:

+ Khi giúp đỡ người khác bằng tấm lòng chân thành, ta sẽ thấy vui vẻ, thoải mái, hạnh phúc, được mọi người yêu quý, kính trọng.

+ Những người nhận được sự tử tế, quan tâm, sẻ chia cảm thấy có động lực để vững vàng, có niềm tin hơn vào cuộc đời.

+ Khi tất cả mọi người đều đối xử với nhau bằng sự tử tế, tốt bụng, xã hội trở nên tốt đẹp hơn.

- Phản đề:

+ Phê phán những người sống vô cảm, xấu xa.

+ Không phải sự tử tế nào cũng chân thành, có những người làm việc tốt để đánh bóng tên tuổi bản thân -> lên án.

- Liên hệ bản thân.

Câu 2:

            Bài làm của học sinh đảm bảo các ý sau:

1. Giới thiệu tác phẩm “Chinh phụ ngâm” và tác giả, dịch giả.

a. Tác giả Đặng Trần Côn (?):

- Sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII.

- Là người thông minh, tài hoa, hiếu học.

- Tính cách “đuyềnh đoàng ko buộc”- tự do, phóng túng nên ko đỗ đạt cao, chỉ đỗ Hương cống và giữ các chức quan thấp.

- Các tác phẩm: Chinh phụ ngâm, thơ và phú bằng chữ Hán.

b. Dịch giả:

- Đoàn Thị Điểm (1705- 1748):

+ Hiệu: Hồng Hà nữ sĩ.

+ Quê: Giai Phạm - Văn Giang - xứ Kinh Bắc.

+ Là người nổi tiếng tài sắc, tính cách khác thường.

+ 37 tuổi kết hôn với ông Nguyễn Kiều- một tiến sĩ góa vợ. Năm 1743, ông Nguyễn Kiều đi xứ Trung Quốc. Trong thời gian ông đi xứ, Đoàn Thị Điểm sống cuộc sống ko khác người chinh phụ là mấy " đồng cảm

c. Hoàn cảnh ra đời tác phẩm:

- Đầu đời vua Lê Hiển Tông có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra quanh kinh thành.

- Triều đình cất quân đánh dẹp.

" Đặng Trần Côn “cảm thời thế mà làm ra”.

d. Đoạn trích

- Vị trí: từ câu 9 – câu 16 trong đoạn trích sách giáo khoa.

2. Cảm nhận tâm trạng người chinh phụ trong đoạn trích.

a. Cảm nhận ngoại cảnh (câu 9 – 16)

- Tiếng gà: “gà eo óc gáy sương năm trống”: “eo óc” từ láy tượng thanh diễn tả âm thanh nhức nhối, thê lương, vang lên, vọng từ xa đến cho thấy không gian tĩnh mịch, vắng vẻ.

-> Chinh phụ đã thao thức qua cả một đêm dài

Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.

-> Báo hiện đã hết một ngày dài: “phất phơ” là từ láy tượng hình, gợi nhịp điệu chậm rãi, tẻ nhạt.

-> tâm trạng con người buồn chán, ngao ngán.

=> Hai hình ảnh tương hỗ để diễn tả sự thao thức triền miên, khắc khoải của chinh phụ trong cô đơn, lê loi.

=> Đau khổ trong vô vọng

=> Từ nỗi cô đơn bủa vây, chinh phụ cảm nhận thấm thía nỗi cô đơn hơn bao giờ hết:

Khắc giờ đằng đẵng như niên: thời gian trôi qua rất nặng nề, vô vị.

Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa: nỗi buồn trải dài mênh mông đến không cùng.

-> Dùng biện pháp so sánh để diễn tả cụ thể tâm trạng của chinh phụ để thấy nỗi buồn mênh mông.

b. Thể hiện qua sự gắng gượng chạy trốn nỗi cô đơn (câu 13- câu 16)

- Gương đốt hương:

+ để tìm sự thanh thản trong mùi trầm thoang thoảng

+ tìm sự che chở ở thế giới siêu nhiên, thần bí.

-> Trái với mục đích hướng đến của chinh phụ, thực tế lại “hồn đà mê mải”, chinh phụ càng chìm đắm sâu hơn trong sầu muộn.

- Gượng soi gương: để tìm thú vui trong việc chỉnh trang nhan sắc.

-> Nhưng khi soi gương lại phải đối diện với hai điều:

+ Đối mặt với sự cô đơn, thấm thía tình cảnh bi đát của mình: chỉ một mình mình một bóng

+ Nhận thấy tuổi xuân đang dần tàn phai.

-> Nước mắt càng thêm chan chứa “lệ lại châu chan”, càng thấy buồn khổ hơn bao giờ hết.

=> Người chinh phụ thấm thía hơn tuổi xuân của mình tàn phai trong cô đơn, sầu muộn.

- Gượng đánh đàn: nhưng khi chạm đến đàn lại tự ý thức về tình cảnh của mình:

+ Thấy tủi thân trước những biểu tượng của đôi lứa ẩn chứa trong các nhạc cụ:

·         Đàn sắt, đàn cầm: gảy hòa âm với nhau được ví cảnh vợ chồng hòa thuận.

·         Dây uyên: dây đàn uyên ương – biểu tượng cho lứa đôi gắn bó, hòa hợp.

·         Phím đàn loan phượng – biểu tượng của lứa đôi gắn bó.

=> Tất cả các nhạc cụ để có đôi có lứa, chỉ có mình mình cô đơn, lẻ bóng.

=> Càng cô đơn, tủi thân

-> Thậm chí thấy lo lắng, khi chơi đàn rất sợ:

+ Dây đàn bị đứt

+ Phím đàn bị chùng

-> Biểu hiện cho sự không may mắn của lứa đôi, là điềm gở.

=> Tìm đến những nhạc cụ nhưng cũng không chạy trốn được nỗi cô đơn.

=> Chinh phụ cố gắng tìm quên bằng cách tìm đến những thú vui của phụ nữ quý tộc xưa. Càng tìm quên lại càng đối diện với bi kịch của mình, càng thấm thía bi kịch của mình và càng đau khổ hơn bao giờ hết.

15 tháng 5 2021

answer-reply-image

answer-reply-image

Mong Add Chấm Ạk

17 tháng 5 2021

câu 1 :

Nhân dân ta có rất nhiều câu ca dao hay viết về cha mẹ như:

"Công cha như núi Thái Sơn,

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Một lòng thờ mẹ kinh́ cha,

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con''.

Người mẹ là người cùng ta thực hiện mơ ước cuả ta mẹ luôn hy sinh bản thân minh̀ để cho con cómột cuộc sống tốt đẹp hơn 

 

 

18 tháng 5 2021

Câu 1

1. Mở bài:

- Dẫn dắt vào bài bằng các tình càm cao quý trong cuộc sống của mỗi người: tình cảm gia đình, tình anh em, tình cảm bạn bè,..

- Nhấn mạnh tình mẫu tử là loại tình cảm có vị trí đặc biệt quan trọng

2. Thân bài:

* Khái quát chung thế nào là tình mẫu tử:

+ Đây là một tình cảm thiêng liêng giữa mẹ và con

+ Tình mẫu tử thể hiện sự gắn bó, yêu thương và chăm sóc

*  Bình luận về tình mẫu tử:

+  Tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng và có vai trò đặc biệt với mỗi con người:

- Từ khi con người sinh ra đã có mẹ ở bên, có sự yêu thương che chở của mẹ: mẹ mang thai, sinh chúng ta, chăm chúng ta,….

- Mẹ là người có tấm lòng cao cả, tha thứ mọi lội lầm dù lớn đến mức nào của chúng ta

- Tình mẫu tử cũng là truyền thống đạo lí của dân tộc ta từ xưa

+  Tình mẫu tử đối với mỗi người:

- Một người có tình mẫu tử sẽ có cuộc sống hạnh phúc, được yêu thương

- Ai không có tình mẫu tử thì rất bất hạnh và là một thiệt thòi

+  Vai trò của tình mẫu tử:

- Tình mẫu tử soi sáng đường cho chúng ta đi

- Giúp chúng ta thức tỉnh khi có chút vấp ngã trong cuộc sống

* Trách nhiệm của chúng ta trước tình mẫu tử:

+ Chúng ta cần giữ gìn và tôn trọng tình cảm thiêng liêng này

+ Không ngừng học tập và báo đáp công ơn mẹ cha

+ Không có những hành động thiếu tình mẫu tử

3. Kết bài

Đưa ra cảm nghĩ của bản thân về tình mẫu tử

- Đây là một tình cảm rất thiêng liêng

- Chúng ta phải tự hào vì được có tình mẫu tử

- Cố gắng học tập để báo hiếu cha mẹ

Câu 2:

1.   Mở Bài

- Giới thiệu vài nét về tác giả Nguyễn Du và đoạn trích “Trao duyên”.
- Nêu nội dung chính của 12 câu thơ đầu trong đoạn trích “Trao duyên”.

2.   Thân Bài

a. Hai câu thơ đầu
-  Thúy Kiều nhờ cậy Thúy Vân nối duyên với Kim Trọng.
-  Lời nói, hành động trang trọng (từ “cậy”, “lạy”, “thưa”) nhưng cũng mang sắc thái nài ép Thúy Vân nhận lời giúp đỡ.

b. Sáu câu thơ tiếp theo
- Thúy Kiều giãi bày nguyên nhân dẫn đến việc nhờ cậy Thúy Vân giúp mình. Đó là sự dang dở trong tình yêu với Kim Trọng: “Giữa đường đứt gánh tương tư”.
-  Hình ảnh ẩn dụ “gánh tương tư”: Chỉ tình yêu của Thúy Kiều và Kim Trọng.
-  Nàng chia sẻ với em gái về câu chuyện tình yêu của mình. Kể từ khi gặp Kim Trọng, hai người đã nảy sinh tình cảm cùng thề nguyền, đính ước nhưng bỗng nhiên sóng gió xảy ra với gia đình Kiều, nàng đành hi sinh chữ “tình” để làm tròn chữ “hiếu” với cha mẹ.

c. Bốn câu cuối
- Thúy Kiều thuyết phục Thúy Vân bằng những lí lẽ xác đáng. Nàng nhắc đến “ngày xuân”, tuổi trẻ của Thúy Vân vẫn còn dài và nhắc đến tình nghĩa chị em máu mủ khiến Thúy Vân không thể từ chối việc nàng cậy nhờ.
-  Dù cho bản thân mình có “thịt nát xương mòn” thì Kiều vẫn vui vẻ, “ngậm cười” nơi chín suối. Nàng quả là người con gái sống tình nghĩa và có đức hi sinh.
-Thành ngữ “thịt nát xương mòn”, “ngậm cười chín suối” được Nguyễn Du sử dụng tài tình và khéo léo.
- Giọng điệu xót xa, đau đớn.

3.   Kết Bài
-  Nêu cảm nhận riêng của bản thân về 12 câu thơ đầu.
- Khẳng định giá trị của 12 câu thơ đầu trong đoạn trích “Trao duyên”.

CHUYÊN ĐỀ 1:Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tấm cám là một tác phẩm tiêu biểu phản ánh sinh động cuộc sống, tinh thần, đạo lý và niềm tin của người Việt. Chuyện xoay quanh hành trình của nhân vật tấm từ cô gái mồ côi bị áp bức đến người chiến thắng, cuối cùng vượt qua nhiều tai ương, bất công. Tuy nhiên, chuyện tấm cám không chỉ đơn thuần là cuộc đối đầu giữa thiện...
Đọc tiếp

CHUYÊN ĐỀ 1:

Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tấm cám là một tác phẩm tiêu biểu phản ánh sinh động cuộc sống, tinh thần, đạo lý và niềm tin của người Việt. Chuyện xoay quanh hành trình của nhân vật tấm từ cô gái mồ côi bị áp bức đến người chiến thắng, cuối cùng vượt qua nhiều tai ương, bất công. Tuy nhiên, chuyện tấm cám không chỉ đơn thuần là cuộc đối đầu giữa thiện và ác mà còn ẩn chứa nhiều chiều sâu văn hóa và tư tưởng. Báo cáo này tập trung khai thác vấn đề về cuộc đấu tranh giữa thiện và ác dưới góc nhìn nhân học và nữ quyền học. Tấm cám là một chuyện cổ tích thần kỳ thuộc loại hình người mồ côi gặp hoạn nạn nhưng sau cùng được hạnh phúc. Nhân vật chính là tấm, cô gái hiền lành bị mẹ con cám hãm hại nhiều lần nhưng được thần linh giúp đỡ và cuối cùng giành lại công lý. Cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác trong truyện đại diện bởi tấm tấm là hình ảnh tiêu biểu của người phụ nữ hiền lành, chăm chỉ, lương thiện. Dù bị hãm hại nhiều lần, tấm vẫn kiên cường vươn lên, thể hiện khát vọng hạnh phúc và công bằng. Cái ác đại diện bởi mẹ ghẻ và cám sự ghen ghét, mưu mô, sẵn sàng giết tấm nhiều lần để giành lấy địa vị, là biểu tượng cho sự tàn nhẫn của xã hội phong kiến, đặc biệt là trong quan hệ mẹ kế con chồng. Diễn biến cuộc đấu tranh, ban đầu, tấm bị áp bức, giết hại hóa thân nhiều lần, chim vàng, anh, cây xoan đào, khung cửi quả thị cuối cùng về làm người thắng lợi và xử phạt cái ác. Cuộc đấu tranh gay gắt và kéo dài cho thấy quá trình tự khẳng định, tự tái sinh của cải thiện trong xã hội đầy bất công. Góc nhìn nhân học văn hóa, chuyện phản ánh thực tế khắc nghiệt của xã hội phong kiến cũ, bất công giai cấp định kiến đi dân gian về sự tồn tại của thế lực siêu nhiên hỗ trợ người hiền. Quan niệm luôn hồi tái sinh gắn với niềm tin ở hiền gặp lành. Góc nhìn nữ quyền, tấm không chỉ là người hiền lành, cam chịu mà còn là người biết vúng lên, vùng lên trả thù, giành lại hạnh phúc. Các hình thức hóa thân của tấm cho thấy sự đấu tranh dai dẳng, bản lĩnh của người phụ nữ. Hành động xử lý cám ở cuối truyện nếu cám thành mắm gây tranh cãi, nhưng có thể hiểu sử nội nổi dậy của nữ giới bị áp bức trong xã hội nam quyền. Chuyện tấm cám trong không chỉ là cuộc đối đầu giữa thiện và ác, mà còn là biểu tượng của hành trình khẳng định giá trị sống của người phụ nữ trong xã hội xưa. Qua lăng kính nhân học và nữ quyền, ta thấy được chiều sâu văn học và tư tưởng phản kháng Khát vọng công lý ẩn trong truyện cổ tích. Việc nghiên cứu vấn đề này không chỉ giúp hiểu hơn về giá trị văn học dân gian mà còn gợi mở nhiều suy nghĩ về các vấn đề đương đại như bất bình đẳng giới, quyền sống và sự công bằng trong xã hội.

0
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:     Tình gia thất nào ai chẳng có, Kìa lão thân khuê phụ nhớ thương.      Mẹ già phơ phất mái sương, Còn thơ măng sữa, vả đương phù trì.      Lòng lão thân buồn khi tựa cửa, Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm.      Ngọt bùi, thiếp đỡ hiếu nam Dạy con đèn sách, thiếp làm phụ thân.      Này một...
Đọc tiếp

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

    Tình gia thất nào ai chẳng có,

Kìa lão thân khuê phụ nhớ thương.

     Mẹ già phơ phất mái sương,

Còn thơ măng sữa, vả đương phù trì.

     Lòng lão thân buồn khi tựa cửa,

Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm.

     Ngọt bùi, thiếp đỡ hiếu nam

Dạy con đèn sách, thiếp làm phụ thân.

     Này một thân nuôi già dạy trẻ,

Nỗi quan hoài mang mể biết bao.

     Nhớ chàng trải mấy sương sao,

Xuân từng đổi mới đông nào còn dư.

   (Trích Chinh phụ ngâm khúc, Những khúc ngâm chọn lọc, Tập 1, Lương Văn Đang – Nguyễn Thạch Giang – Nguyễn Lộc, giới thiệu,

Biên thảo, chú giải, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1987, tr.44-45)

Câu 1. Xác định thể thơ được sử dụng trong đoạn trích.

Câu 2. Trong đoạn trích, nhân vật trữ tình là ai?

Câu 3. Chỉ ra những hình ảnh, từ ngữ được dùng để miêu tả về mẹ già, con thơ.

Câu 4. Anh/chị hiểu gì về tâm trạng của nhân vật trữ tình qua hai câu thơ sau:

     Này một thân nuôi già dạy trẻ,

Nỗi quan hoài mang mể biết bao.

Câu 5. Trong đoạn trích, nhân vật trữ tình hiện lên với những phẩm chất nào?

Câu 6. Đoạn trích gợi cho anh/chị tình cảm, suy nghĩ gì về người phụ nữ trong xã hội xưa?

6
14 tháng 5 2021

cả 2 đều sai

18 tháng 5 2021

Caau1: Thể thơ được sử dụng trong đoạn trích: song thất lục bát. 

Câu 2: Nhân vật trữ tình trong đoạn trích là người chinh phụ/ người phụ nữ có chồng đi chinh chiến nơi xa/ người vợ có chồng đi chinh chiến nơi xa.

Câu 3: “Mẹ già, con thơ” trong đoạn trích được miêu tả qua những hình ảnh, từ ngữ;

Mẹ già phơ phất mái sương,/ Lòng lão thân buồn khi tựa cửa,

Còn thơ măng sữa, /  Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm.

Câu 4: Tâm trạng của nhân vật trữ tình qua hai câu thơ: cô đơn, buồn tủi, nhớ thương chồng.

Câu 5: Nhân vật trữ tình hiện lên với những phẩm chất:

- Đảm đang, tần tảo.

- Giàu đức hi sinh.

Câu 6:

- Người phụ nữ trong xã hội xưa là nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa, số phận bất hạnh nhưng sáng ngời phẩm chất tốt đẹp.

-> Tình cảm, suy nghĩ:

+ Xót thương, cảm thông với số phận bất hạnh, không được hạnh phúc.

+ Ngợi ca, trân trọng, cảm phục những phẩm chất tốt đẹp của họ.

Phần 1: Đọc - hiểu (3.0 điểm)            Đọc bài thơ sau của Nguyễn Khoa Điềm và trả lời các câu hỏi:          MẸ VÀ QUẢ Những mùa quả mẹ tôi hái được Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng Những mùa quả lặn rồi lại mọc Như mặt trời, khi như mặt trăng​ Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên Còn những bí và bầu thì lớn xuống Chúng mang dáng giọt...
Đọc tiếp

Phần 1: Đọc - hiểu (3.0 điểm)

           Đọc bài thơ sau của Nguyễn Khoa Điềm và trả lời các câu hỏi:

         MẸ VÀ QUẢ

Những mùa quả mẹ tôi hái được
Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng
Những mùa quả lặn rồi lại mọc
Như mặt trời, khi như mặt trăng​

Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên
Còn những bí và bầu thì lớn xuống
Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn
Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi.

Và chúng tôi, một thứ quả trên đời
Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái
Tôi hoảng sợ, ngày bàn tay mẹ mỏi
Mình vẫn còn một thứ quả non xanh.

(Thơ Việt Nam 1945 - 1985, NXB Văn học, Hà Nội, 1985)

Câu 1: Nêu chủ đề của bài thơ? (0.5 điểm)    

Câu 2: Tìm phép điệp trong khổ thơ đầu và phép đối trong khổ thơ thứ hai. (0.5 điểm)

Câu 3: Trong nhan đề và bài thơ, chữ “quả” xuất hiện nhiều lần. Chữ “quả” ở dòng nào mang ý nghĩa tả thực? Chữ “quả” ở dòng nào mang ý nghĩa biểu tượng? (1.0 điểm)

Câu 4: Nghĩa của cụm từ in đậm trong hai dòng cuối của bài thơ “Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi -  Mình vẫn còn một thứ quả non xanh”. (1.0 điểm)

32
17 tháng 5 2021

câu 1:chủ đề cuả bài thơ là:sự nhận thưć cuả người con về công ơn cuả mẹ

câu 2 :phép điệp trong khổ thơ 1 là:những muà quả

phép đối:lũ chúng tôi lớn lên-bí và bầu lớn xuống

câu 3:

chữ "quả"mang ý nghiã tả thực:dòng 1 và dòng 3 cuả khổ đâù.

chữ "quả"mang ý nghĩa biểu tượng:dòng 1 và dòng 4 cuả khổ cuối.

câu 4:nghĩa cuả cuṃtừ quả non xanh :chưa đến độ chín ,chưa trưởng thành;chưa làm được nhưng điều xưng đáng với sự mong đợi cuả mẹ,chưa thanh̀ người tốt. 

I. Đọc hiểu (5 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu bên dưới: Quê hương tôi có cây bầu, cây nhị Tiếng đàn kêu tích tịch tình tang... Có cô Tấm náu mình trong quả thị Có người em may túi đúng ba gang.   Quê hương tôi có ca dao, tục ngữ, Ông trăng tròn thường xuống mọi nhà chơi. Một đĩa muối cũng mặn tình chồng vợ, Một dây trầu...
Đọc tiếp

I. Đọc hiểu (5 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu bên dưới:

Quê hương tôi có cây bầu, cây nhị

Tiếng đàn kêu tích tịch tình tang...

Có cô Tấm náu mình trong quả thị

Có người em may túi đúng ba gang.

 

Quê hương tôi có ca dao, tục ngữ,

Ông trăng tròn thường xuống mọi nhà chơi.

Một đĩa muối cũng mặn tình chồng vợ,

Một dây trầu cũng nhắc chuyện lứa đôi.

         (Trích Bài thơ quê hương - Nguyễn Bính)

Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ? (0,5 điểm)

Câu 2. Hãy chỉ ra những câu ca dao, tục ngữ hoặc truyện cổ được gợi nhớ trong đoạn trích trên. (1.5 điểm)

Câu 3. Xác định và nêu hiệu quả của một biện pháp nghệ thuật trong đoạn thơ.  (1 điểm)

Câu 4. Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 10 – 15 dòng) nêu nhận xét của anh (chị) về tình cảm của tác giả đối với những di sản tinh thần của dân tộc. (2 điểm) 

33
16 tháng 5 2021

1.Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn là: biểu cảm.

2.- "Quê hương tôi có cây bầu, cây nhị

       Tiếng đàn kêu tính tịch tình tang..." (Truyện cổ tích "Thạch Sanh")

   -"Có cô Tấm náu mình trong quả thị" (Truyện cổ tích "Tấm Cám")

   -"Có người em may túi đúng ba gang."(Truyện cổ tích "Cây khế") 

   -"...Một dây trầu cũng nhắc chuyện lứa đôi." (Truyện cổ tích "Sự tích trầu      cau")

3.Biện pháp nghệ thuật trong đoạn thơ là: điệp cấu trúc "Quê hương tôi         có..."

   Tác dụng:

   -Nghệ thuật: Làm cho lời thơ hài hòa cân đối,giàu giá trị gợi hình gợi            cảm cho đoạn thơ, gây hứng thú cho bạn đọc.

   -Nội dung:

    +Tác giả làm nổi bật lên giá trị của những câu chuyện cổ, những câu ca        dao tục ngữ,đồng thời khẳng định vai trò và ý nghĩa của văn học dân          gian nước nhà, ca ngợi truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta: yêu công          lí,chuộng hòa bình chính nghĩa;tình nghĩa thủy chung; nghĩa tình.

    +Bên cạnh đó chúng ta cần tự hào và giữ gìn những truyền thống quý          báu đó,học tập để trau dồi kiến thức và nhân cách.

4.     Văn học dân gian đối vs mỗi nhà văn, nhà thơ... là nguồn mạch cảm xúc, là sản phẩm tinh hoa của dân tộc Việt được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ nghệ thuật, đc chọn lọc từ những từ ngữ trau chuốt, đc gọt dũa cẩn thận từ bao đời nay.Song ai cũng có thể tham gia được,ai cũng được sửa chữa để tác phẩm được hay hơn,đầy đủ, phong phú hơn.Văn học dân gian là kho tí thức vô cùng phong phú về đời sống các dân tộc, có giá trị giáo dục sâu sắc đạo lí làm người,có giá trị thẩm mĩ to lớn, góp phần quan trọng tạo bản sắc riêng cho nền văn hóa dân tộc.Đoạn thơ trên là vậy, nó mang đến cho tác giả tình cảm tự hào, yêu mến, trân trọng; đồng thời cũng là niềm tự hào trước những giá trị văn hóa tinh thần, trước những truyền thống tốt đẹp của cội nguồn.Bản thân mỗi chúng ta ai cũng tự hào, yêu mến những giá trị văn hóa đó, và cần giữ gìn nó vì đó là biểu hiện của lòng yêu nước ở mỗi người.

 

17 tháng 5 2021

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ là: biểu cảm.

Câu 2: Những câu ca dao, tục ngữ hoặc truyện cổ được gợi nhớ trong đoạn trích là: Thạch Sanh, Tấm Cám, Cây khế, Sự tích Trầu Cau, Tay bưng chén muối đĩa gừng – Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau…

Câu 3: Biện pháp điệp cấu trúc “Một … cũng…” Tác dụng: - Khẳng định giá trị nội dung của những câu truyện cổ, những câu ca dao tục ngữ. - Làm nổi bật vẻ đẹp truyền thống của dân tộc: thủy chung, nghĩa tình.

Câu 4: Đoạn thơ là tình cảm tự hào, yêu mến, trân trọng của nhà thơ về những tác phẩm văn học dân gian. Đó cũng là niềm tự hào trước những giá trị trị văn hóa tinh thần, trước những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Văn học dân gian là nguồn mạch, tinh hoa của văn hóa dân tộc, là tâm hồn Việt Nam được hun đúc bao đời. Tự hào, yêu mến những giá trị văn hóa, những truyền thống tốt đẹp đó cũng là tự hào về nguồn cội, là biểu hiện của lòng yêu nước trong mỗi con người.

2 tháng 11 2021

Học hành có tầm quan trọng rất lớn đối với cuộc đời của mỗi con người. Người xưa đã nhắc nhở con cháu rằng: “Nếu còn trẻ mà không chịu học hành thì khi lớn lên sẽ chẳng thể làm được việc gì có ích”. Bên cạnh đó còn có những câu: “Có học thì như lúa như nếp, không học thì như rơm như cỏ”. Hoặc: “Bất học bất tri lý” (Không học thì không biết lí lẽ, lẽ phải).

Suốt lịch sử phát triển mấy ngàn năm, nhân loại đã tích lũy được một kho tàng tri thức khổng lồ về tự nhiên và xã hội. Những tri thức ấy được lưu truyền từ đời này sang đời khác qua hình thức truyền miệng và chữ viết (sách). Muốn tiếp thu tinh hoa trí tuệ, con người chỉ có một con đường duy nhất là học, học suốt đời.

Nói đến học là nói đến trí lực, một năng lực suy nghĩ, một trực quan nhạy bén, một tư duy hợp lý. Điều ấy hết sức cần thiết cho tất cả mọi người. Chính vì vậy, ngay từ lúc nhỏ, bất kì ai cũng phải được học hành.

Trong mười hai năm ở trường phổ thông, học sinh được cung cấp những kiến thức sơ đẳng của một số bộ môn cơ bản như Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Sử, Địa, Ngoại ngữ… Tuy thế, học sinh phải chăm chỉ học hành thì mới hiểu và nắm vững kiến thức một cách có hệ thống. Nếu lơ là, chểnh mảng, thiếu nghiêm túc trong việc học hành thì rốt cuộc là tốn thời gian, tiền bạc mà kết quả thu được chẳng đáng là bao.

Thực tế cho thấy là có học có hơn. Mục đích của việc học là nhằm phục vụ cho mọi công việc đạt hiệu quả cao. Nếu ta đơn thuần làm việc theo thói quen hoặc kinh nghiệm có sẵn thì công việc sẽ tiến triển chậm và chất lượng không tốt. Cách làm như trên chỉ thích hợp với các công việc giản đơn, không cần nhiều đến trí tuệ. Còn đối với những công việc phức tạp liên quan đến khoa học kĩ thuật thì cung cách làm việc ấy là lạc hậu, lỗi thời. Muốn đạt hiệu quả tốt trong mọi lĩnh vực, chúng ta bắt buộc phải học, phải được đào tạo chính quy theo từng chuyên ngành và trong suốt quá trình làm việc vẫn phải học tập không ngừng, bằng mọi hình thức khác nhau.

10 tháng 2 2022

Tham khảo :

Dân tộc Việt Nam ta từ bao đời nay luôn có một truyền thống tốt đẹp đó là lòng nồng nàn yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc sâu sắc. Điều ấy không chỉ thể hiện mạnh mẽ và rõ ràng thông qua các cuộc chống giặc ngoại xâm giữ nước kể từ thời các vua Hùng cho đến tận ngày hôm nay, mà tinh thần yêu nước của dân tộc ta còn được gửi gắm một cách sâu sắc và khéo léo vào nhiều các tác phẩm văn chương đặc sắc, với ngòi bút tài hoa của nhiều tác giả. Đặc biệt với Nguyễn Trãi một nhà chính trị, nhà quân sự tài ba, kiệt xuất, một danh nhân văn hóa thế giới thì tư tưởng yêu nước của người gửi gắm trong tác phẩm lại càng có nhiều điểm đáng quý, đáng trân trọng tôn sùng hơn cả. Bình Ngô đại cáo, tác phẩm nổi tiếng nhất trong sự nghiệp văn chương của Nguyễn Trãi, được muôn đời sau ca ngợi là áng thiên cổ hùng văn, là áng văn chính luận mẫu mực nhất đồng thời là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của nước ta, không chỉ mang trong mình giá trị lịch sử, vai trò chính trị quan trọng trong công cuộc chống quân Minh xâm lược mà còn chứa đựng trong mình cả tinh thần của một dân tộc - tinh thần yêu nước đã trở thành truyền thống ngàn đời và ngày một sâu nặng trong máu thịt văn hóa của nhân dân ta . Ngày nay, với xu thế phát triển của thế giới vượt bậc, trước mọi kẻ thù lâm le. Cuộc chiến hiện nay không bằng gươm giáo nữa, mà là chính trị và kinh tế. Vậy mỗi người con dân đất Việt phải có tinh thần như thế nào, và phải làm gì cho đất nước chúng ta. Làm gì để không hổ thẹn khi đọc những áng văn bất hủ, mà đầy tính yêu nước thương dân, tự hào nền văn hiến dân tộc, tinh thần nhân đạo nói chung và của trái tim mỗi người. Người viết cũng rất háo hức với tinh thần chung đó và nhân đây xin trình bày những điều tâm đắc của người viết khi đọc qua tác phẩm này.

10 tháng 2 2022

Em chưa học đến bài này, nhưng vì muốn giúp chị thế nên em vẫn làm có gì không hay chị thông cảm cho em . Lần đầu viết văn lớp 10.

Tác phẩm "Bình ngô đại cáo" được Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết vào khoảng năm 1428,  khi cuộc kháng chiến chống Minh xâm lược của nghĩa quân Lam Sơn đã thắng lợi, quân Minh buộc phải ký hòa ước, rút quân về nước, nước ta bảo toàn được nền độc lập tự chủ, hòa bình.Tác phẩm là áng văn  chính luận mẫu mực và xuất sắc của Nguyễn Trãi, không chỉ mang trong mình giá trị lịch sử, vai trò chính trị quan trọng trong công cuộc chống quân Minh xâm lược mà còn chứa đựng trong mình cả tinh thần của một dân tộc. Tác giả đã lên án dành cho cả tổ tiên quân xâm lược. Ngày nay, thế giới ngày càng phát triển hơn, đã không còn những việc chiến tranh bằng gươm giáo nữa mà là bằng chính trị và kinh tế. Vậy chúng ta phải làm một việc gì đó để thể hiện tinh thần trách nhiệm của mỗi người đối với đất nước, để không hổ thẹn với những gì mà những người đi trước đã tạo nên, đã trả bằng xương máu để cho chúng ta có một cuộc sống như bây giờ. Trong mỗi người dân Việt Nam, tinh thần trách nhiệm của con người vẫn luôn là phẩm chất đạo đức mà mọi người ai cũng cần có. Thật vậy, dù trong cuộc sống hòa bình hay trong những tình cảnh khó khăn dịch bệnh như hiện nay thì tinh thần trách nhiệm chính là thứ mà góp phần làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Đối với tôi, để thể hiện tinh thần trách nhiệm thì tôi vẫn luôn ra sức học hỏi để góp phần xây dựng tổ quốc ngày càng một tốt đẹp hơn. Luôn đứng lên từ cái sai lầm của mình và không bao giờ dựa dẫm qúa nhiều vào người khác. Có như vậy em mới không bao giờ hổ thẹn với các áng văn bất hủ, không bao giờ hổ thẹn với cái lớp đi trước.

18 tháng 11 2021

đoạn trích nào?

21 tháng 4 2022

 

ヽ༼ຈل͜ຈ༽ノ chịu

 

                                                             Mỗi cuốn sách tốt là một người bạn hiềnThật vậy, Nguyễn Du, đại thi hào của dân tộc từng viết: "Sách vở đầy bốn vách/ Có mấy cũng không vừa". Đáng tiếc, cuộc sống hiện nay dường như "cái đạo" đọc sách cũng dần phôi pha. Sách in nhiều nơi không bán được, nhiều nhà xuất bản đóng cửa vì thua lỗ. Đặc...
Đọc tiếp

                                                             Mỗi cuốn sách tốt là một người bạn hiền

Thật vậy, Nguyễn Du, đại thi hào của dân tộc từng viết: "Sách vở đầy bốn vách/ Có mấy cũng không vừa". Đáng tiếc, cuộc sống hiện nay dường như "cái đạo" đọc sách cũng dần phôi pha. Sách in nhiều nơi không bán được, nhiều nhà xuất bản đóng cửa vì thua lỗ. Đặc biệt, nhiều gia đình giàu có thay tủ sách bằng tủ... rượu các loại. Các thư viện lớn của các thành phố hay của tỉnh cũng chỉ hoạt động cầm chừng, cố duy trì sự tồn tại.

      Bỗng chợt nhớ khi xưa còn bé, với những quyển sách giấu trong áo, tôi có thể đọc sách khi chờ mẹ về, lúc nấu nồi cơm, lúc tha thẩn trong vườn, vắt vẻo trên cây, lúc chăn trâu, lúc chờ xe bus... Hay hình ảnh những công dân nước Nhật mỗi người một quyển sách trên tay lúc ngồi chờ tàu xe, xem hát,... càng khiến chúng ta thêm yêu mến và khâm phục. Ngày nay, hình ảnh ấy đã bớt đi nhiều, thay vào đó là cái máy tính, điện thoại di động. Song sách vẫn luôn cần thiết, không thể thiếu trong cuộc sống phẳng hiện nay...".

(Trích "Suy nghĩ về đọc sách" - Trần Hoàng Vy, Báo Giáo dục và Thời đại, 13-4-2015)

Câu 1. Ghi lại câu văn nêu chủ đề khái quát của đoạn trích trên.

Câu 2. Hãy giải thích vì sao tác giả lại cho rằng: "cuộc sống hiện nay dường như "cái đạo" đọc sách cũng dần phôi pha"?

Câu 3. Có ý kiến cho rằng: "Thời nay, đọc sách là lạc hậu. Sống trong thời đại công nghệ thông tin thì phải lên mạng đọc vừa nhanh, vừa dễ, vừa đỡ tốn kém". Anh (chị) có đồng tình với ý kiến đó không? Vì sao? 

Câu 4. Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bày tỏ suy nghĩ của bạn về ý kiến: Mỗi cuốn sách tốt là một người bạn hiền.

 

 
1
1 tháng 4 2019

Câu 1. Câu văn nêu khái quát chủ đề của văn bản: Song sách vẫn luôn cần thiết, không thể thiếu trong cuộc sống phẳng hiện nay.

Câu 2  Tác giả cho rằng “cuộc sống hiện nay dường như “cái đạo” đọc sách cũng dần phôi pha” vì ở thời đại công nghệ số, con người chỉ cần gõ bàn phím máy tính hoặc điện thoại di động đã có thể tiếp cận thông tin ở nhiều phương diện của đời sống, tại bất cứ nơi đâu, trong bất kì thời gian nào, nên việc đọc sách đã dần trở nên phôi pha.

Câu 3

theo em, em không đồng tình với ý kiến đó. Bởi vì sách có những tác dụng rất to lớn. Những cuốn sách cung cấp cho ta kiến thức, bồi dưỡng tâm hồn ta, rèn luyện tư duy và khả năng con người. Muốn hoàn thiện nhân cách tốt, cần phải năng đọc sách. Và đọc sách là một việc làm không thể thiếu đối với quá trình hoàn thiện nhân cách con người, nhất là với lứa tuổi thanh thiếu niên học sinh trong guồng quay cuộc sống đầy hối hả, vội vã của cuộc sống hiện đại. Nhận định rằng Internet cũng có những lợi ích nhất đinhj đối với con người, song ta không thể nào phủ nhận được vai trò của sách. Có những điều, những trải nghiêm chỉ có những ai đọc sách, yêu sách mới hiểu; dĩ nhiên Internet không thể nào đem lại cho ta những điều như vậy....

–Câu 4

Sách tốt là loại sách mở ra cho ta chân trời mới, giúp ta mở mang kiến thức về nhiều mặt: cuộc sống, con người, trong nước, thế giới, đời xưa, đời nay, thậm chí cả những dự định tương lai, khoa học viễn tưởng.

– Bạn hiền đó là người bạn có thể giúp ta chia sẻ những nỗi niềm trong cuộc sống, giúp ta vươn lên trong học tập, cuộc sống.

→ Do tác dụng tốt đẹp như nhau mà có nhận định ví von Một quyển sách tốt là một người bạn hiền.

– Sách cung cấp cho ta những tri thức, kinh nghiệm quý báu về mọi lĩnh vực trong cuộc sống để ta giải quyết được những nhiệm vụ của cuộc sống.

– Sách tốt là người bạn hiển kể cho ta bao điều yêu thương, bao kiếp người điêu linh đói khổ mà vẫn giữ trọn vẹn nghĩa tình.

– Sách cho ta hiểu và cảm thông với bao kiếp người, với những mảnh đời ở những nơi xa xôi, giúp ta vươn tới chân trời của ước mơ, ước mơ một xã hội tốt đẹp.

– Sách giúp ta chia sẻ, an ủi những lúc buồn chán.

=> Sách giúp ta nâng cao hiểu biết và hoàn thiện nhân cách, nuôi dưỡng tâm hồn.

Ý kiến là một chân lí rút ra từ thực tiễn học tập và giao tiếp của con người, có tác dụng định hướng con người tiếp cận tri thức trong cuộc sống.

– Trong xã hội có sách tốt và sách xấu, bạn tốt và bạn xấu do đó cần chọn bạn mà chơi cũng như chọn sách mà đọc.

–  Phê phán những người lười đọc sách.