Hãy giải thích sự khác nhau giữa biện pháp sinh học và biện pháp hóa học trong phòng trừ...">
K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

18 tháng 2

Sự khác nhau giữa biện pháp sinh học và biện pháp hoá học

(Công nghệ 10 – phòng trừ sâu, bệnh hại cây trồng)

1. Biện pháp sinh học

- Sử dụng sinh vật có ích hoặc sản phẩm sinh học để tiêu diệt sâu bệnh.

Ví dụ: thả ong ký sinh, bọ rùa; dùng nấm, vi khuẩn trừ sâu (BT).

- An toàn cho môi trường, ít gây ô nhiễm.

- Không làm tồn dư độc hại trên nông sản.

- Hiệu quả thường chậm hơn, cần thời gian phát huy tác dụng.

2. Biện pháp hoá học

- Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (thuốc trừ sâu, trừ bệnh) để tiêu diệt sâu bệnh.

- Tác dụng nhanh, mạnh, xử lí kịp thời khi dịch bùng phát.

- Dễ sử dụng, hiệu quả cao trong thời gian ngắn.

- Có thể gây ô nhiễm môi trường, tồn dư hoá chất và ảnh hưởng sức khoẻ nếu lạm dụng.

2 tháng 3

Biện pháp sinh học hướng tới sự phát triển bền vững, an toàn nhưng cần thời gian và kỹ thuật cao. Biện pháp hóa học cho hiệu quả nhanh nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro cho sức khỏe và môi trường.

2 tháng 3

Biện pháp sinh học là dùng sinh vật có ích (như vi khuẩn, nấm, thiên địch…) để tiêu diệt hoặc hạn chế sâu bệnh. Cách này ít gây ô nhiễm môi trường và an toàn hơn.


Biện pháp hóa học là dùng thuốc bảo vệ thực vật hóa học để diệt sâu bệnh. Tác dụng nhanh nhưng có thể gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe nếu lạm dụng.



Sự khác nhau chính giữa biện pháp sinh học và biện pháp hóa học trong phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng nằm ở nguồn gốc cơ chế tác động và mức độ an toàn đối với môi trường và sức khoẻ con người

3 tháng 3

Biện pháp sinh học sử dụng các sinh vật có ích (như thiên địch, vi khuẩn, nấm) hoặc các sản phẩm từ chúng để tiêu diệt sâu bệnh. Biện pháp này an toàn cho con người và môi trường, ít tồn dư độc hại, và phù hợp với nông nghiệp hữu cơ.  Biện pháp hóa học sử dụng các loại hóa chất (thuốc trừ sâu, thuốc diệt nấm) để tiêu diệt sâu bệnh. Biện pháp này thường cho hiệu quả nhanh chóng, nhưng có nhược điểm là gây độc cho người, ô nhiễm môi trường và phá vỡ cân bằng sinh thái. 

Biện pháp sinh học sử dụng các sinh vật có ích để tiêu diệt sâu bệnh một cách tự nhiên trong khi biện pháp hóa học sử dụng các loại thuốc độc hại để tiêu diệt chúng nhanh chóng nhưng có thể gây ô nhiễm môi trường

Biện pháp sinh học và biện pháp hoá học khác nhau ở phương pháp và tác động


4 tháng 3

Biện pháp sinh học : ưu tiên sự bền vững và bảo vệ môi trường,sử dụng tự nhiên đễ cân bằng tự nhiên

Biện pháp hoá học : ưu tiên sự nhanh chóng và triệt để nhưng cần sử dụng để tránh độc hại


5 tháng 3

Sự khác nhau cơ bản giữa biện pháp sinh học và biện pháp hoá học nằm ở tác nhân sử dụng độ an toàn đối với môi trường và thời gian phát huy tác dụng

5 tháng 3

Biện pháp sinh học: sử dụng sinh vật có ích (như thiên địch, vi sinh vật) để tiêu diệt hoặc ức chế sâu bệnh, an toàn cho môi trường và ít gây ô nhiễm.

Biện pháp hóa học: sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (thuốc trừ sâu, trừ bệnh) để tiêu diệt sâu bệnh nhanh, nhưng có thể gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng sức khỏe nếu dùng không đúng cách.

*Sự khác nhau:

- Biện pháp sinh học:

+Sử dụng các loài động vật, thực vật, vi sinh vật có ích hoặc chế phẩm tự nhiên để phòng trừ sâu, bệnh hại.

+ Tác dụng: đảm bảo cân bằng sinh thái, thân thiện môi trường, tác dụng chậm nhung an toàn cho sức khỏe con người, bền vững.

- Biện pháp hóa học:

+ sử dụng hóa chất tổng hợp, thuốc bảo vệ thực vật, ... để trừ sâu, bệnh hại cây trồng.

+ Tác dụng: tiết kiệm thời gian, công sức, tiêu diệt sâu, bệnh nhanh chóng , diệt trừ cấp tốc nhưng độc hại, gây ô nhiễm môi trường, gây hại cho con người, cây trồng, vật nuôi, tiêu diệt sinh vật có lợi.

6 tháng 3

Sự khác biệt chính giữa biện pháp sinh học và biện pháp hóa học nằm ở nguồn gốc và tác động đến môi trường, hệ sinh thái

. Biện pháp Sinh học Biện pháp này sử dụng các sinh vật hoặc sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên để Biện pháp sinh học dùng sinh vật có ích (thiên địch) hoặc chế phẩm vi sinh để tiêu diệt sâu bệnh, an toàn cho môi trường nhưng tác dụng chậm. Biện pháp hóa học dùng thuốc tổng hợp, hiệu quả nhanh và mạnh, nhưng dễ gây ô nhiễm, tồn dư độc hại, làm chai đất và khiến sâu bệnh nhờn

- Biện pháp sinh học: Sử dụng các sinh vật sống hoặc sản phẩm của chúng (thiên địch, vi sinh vật, côn trùng có ích…) để tiêu diệt hoặc khống chế sâu bệnh. Biện pháp này an toàn cho môi trường và con người, ít gây ô nhiễm. - Biện pháp hóa học: Sử dụng thuốc hóa học (thuốc trừ sâu, trừ bệnh, diệt cỏ...) để tiêu diệt sâu bệnh. Biện pháp này hiệu quả nhanh nhưng dễ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng sức khỏe và có thể làm

8 tháng 3

Sự khác nhau cơ bản giữa biện pháp sinh học và biện pháp hóa học trong phòng trừ sâu bệnh hại cay trồng nằm ở tác nhân sử dụng tính chọn lọc thời gian phát huy tác dụng và tác động với môi trường

biệnn pháp sinh học sử dụng các sinh vật có ích như vi khuẩn nấm virus hoặc thiên địch để tiêu diệt sâu bệnh ít gây ô nhiễm môi trường và an toàn cho con người biện pháp hóa học sử dụng thuốc bảo vệ thực vật thuốc trừ sâu trừ bệnh để tiêu diệt sâu bệnhtác dụng nhanh nhưng có thể gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe nếu sử dụng không đúng cách

8 tháng 3

Phương pháp sinh học ít gây hại cây trồng hơn phương pháp hóa học 

Biện pháp sinh học: Nguồn gốc: Sử dụng thiên địch (như ong mắt đỏ, ếch, chim), vi sinh vật có ích hoặc các chế phẩm sinh học có nguồn gốc tự nhiên. Ưu điểm: An toàn cho môi trường, con người và hệ sinh thái, ít gây tồn dư trên nông sản, hiệu quả lâu dài và bền vững. Nhược điểm: Hiệu quả thường chậm, đòi hỏi kỹ thuật cao và hiểu biết về hệ sinh thái. Biện pháp hóa học: Nguồn gốc: Sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật chứa hợp chất hóa học tổng hợp. Ưu điểm: Hiệu quả nhanh chóng, tiêu diệt sâu bệnh trên diện rộng. Nhược điểm: Dễ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, có thể tiêu diệt cả thiên địch và tạo ra tính kháng thuốc ở sâu bệnh

9 tháng 3

Biện pháp sinh học: Nuôi kiến vàng để diệt sâu cam, dùng nấm Trichoderma để đối kháng nấm bệnh trong đất, hoặc dùng bọ rùa ăn rệp vừng. ​Biện pháp hóa học: Phun các loại thuốc hóa học tổng hợp khi cây bị sâu cuốn lá tấn công hàng loạt

Sự khác nhau cơ bản giữa biện pháp sinh học và biện pháp hóa học nằm ở tác nhân sử dụng, độ an toàn đối với môi trường và thời gian hiệu quả.

10 tháng 3

Biện pháp sinh học dùng sinh vật có lợi (vi khuẩn, nấm, thiên địch) để tiêu diệt sâu bệnh nên an toàn cho môi trường. Còn biện pháp hóa học dùng thuốc hóa học để diệt sâu bệnh, hiệu quả nhanh nhưng dễ gây ô nhiễm môi trường.

10 tháng 3

Biện pháp sinh học sử dụng các sinh vật sống để tiêu diệt sâu bệnh, an toàn cho môi trường, trong khi biện pháp hóa học sử dụng hóa chất để diệt trừ nhanh chóng nhưng dễ gây ô nhiễm và tồn dư độc tố.

Sự khác nhau cơ bản giữa biện pháp sinh học và biện pháp hóa học nằm ở tác nhân sử dụng, tính chọn lọc, hiệu quả thời gian và tác động đến môi trường.

Biện pháp sinh học sử dụng các sinh vật có lợi (vi khuẩn, nấm, thiên địch) để tiêu diệt sâu bệnh, an toàn cho môi trường. Biện pháp hóa học sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để tiêu diệt sâu bệnh nhanh nhưng có thể gây ô nhiễm môi trường nếu lạm dụng.

Biện pháp sinh học:

- Sử dụng các sinh vật có ích (thiên địch như ong ký sinh, bọ rùa) hoặc các sản phẩm sinh học (nấm, vi khuẩn) để tiêu diệt sâu bệnh.

- An toàn cho môi trường, ít gây tồn dư trên nông sản, và không gây độc hại cho con người. 

- Nhược điểm là hiệu quả có thể chậm hơn và mỗi loài thiên địch chỉ đặc trị một số loài sâu bệnh cụ thể. 

Biện pháp hóa học:

- Sử dụng các hợp chất hóa học tổng hợp (thuốc trừ sâu, thuốc diệt nấm) để tiêu diệt nhanh chóng sâu bệnh. 

- Hiệu quả nhanh và trên diện rộng. 

- Nhược điểm là dễ gây ô nhiễm môi trường, có thể gây độc cho người sử dụng và người tiêu dùng nếu không tuân thủ thời gian cách ly, và có thể phá vỡ cân bằng sinh thái.

Biện pháp sinh học sử dụng các sinh vật sống để tiêu diệt sâu bệnh hại, trong khi biện pháp hóa học sử dụng các loại thuốc độc hóa học để tiêu diệt chúng.

10 tháng 3

Sự khác nhau cơ bản giữa biện pháp sinh học và biện pháp hoá học trong phòng trừ sâu, bệnh hại cây trồng nằm ở tác nhân sử dụng và tác động lâu dài đến môi trường và nông sản

Biện pháp sinh học: Sử dụng các sinh vật có ích (như thiên địch, vi sinh vật) để tiêu diệt hoặc khống chế sâu bệnh. → An toàn cho môi trường, ít gây ô nhiễm, nhưng hiệu quả thường chậm. Biện pháp hóa học: Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu, thuốc hóa học để diệt sâu bệnh. → Hiệu quả nhanh, nhưng có thể gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng sức khỏe con người nếu dùng không đ

10 tháng 3

Biện pháp sinh học: Là hướng đi bền vững, an toàn nhưng cần sự kiên trì và hiểu biết về kỹ thuật.


Biện pháp hóa học: Là giải pháp "cấp bách" khi dịch bệnh bùng phát mạnh, nhưng cần được kiểm soát chặt chẽ (theo nguyên tắc 4 đúng) để giảm thiểu tác hại.

10 tháng 3

Biện pháp sinh học dùng sinh vật có ích để diệt sâu bệnh, tác dụng chậm, an toàn, thân thiện môi trường. Biện pháp hóa học sử dụng hóa chất độc hại, diệt sâu nhanh nhưng gây ô nhiễm môi trường, độc cho người và diệt sinh vật có lợi. Sinh học bảo vệ lâu dài, hóa học hiệu quả tức thì .

2 tháng 5 2018

Đáp án: C. Phun thuốc trừ sâu

Giải thích: Biện pháp là biện pháp hóa học trong phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng là phun thuốc trừ sâu – SGK trang 55

24 tháng 10 2017

Đáp án: C. Phun thuốc trừ sâu

Giải thích: Biện pháp là biện pháp hóa học trong phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng là phun thuốc trừ sâu – SGK trang 55

12 tháng 4 2019

Đáp án: D. Dùng ong mắt đỏ

Giải thích: Biện pháp là biện pháp sinh học trong phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng là dùng ong mắt đỏ - SGK trang 55

3 tháng 3 2017

Đáp án: D. Dùng ong mắt đỏ

Giải thích: Biện pháp là biện pháp sinh học trong phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng là dùng ong mắt đỏ - SGK trang 55

26 tháng 12 2018

Đáp án: A. Gieo trồng đúng thời vụ

Giải thích: Biện pháp là biện pháp kĩ thuật trong phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng là gieo trồng đúng thời vụ - SGK trang 54

21 tháng 3 2018

Đáp án: A. Gieo trồng đúng thời vụ

Giải thích: Biện pháp là biện pháp kĩ thuật trong phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng là gieo trồng đúng thời vụ - SGK trang 54

8 tháng 3 2022
 Tham khảoTrong vụ mùa thường có những đợt nắng nóng xen kẽ với các đợt mưa rào, đó là điều kiện thuận lợi để một số loại sâu bệnh phát sinh gây hại. Bà con nông dân cần chủ động theo dõi, phát hiện và phòng trừ một số loại sâu, bệnh hại trên lúa như sau:

 

1. Ốc bươu vàng

a. Tác hại:Ốc ăn phiến lá và lá nõn lúa, ốc hoạt động cả ngày lẫn đêm, nhưng hoạtđộng mạnh nhất vào sáng sớm và chiều tối, ốc có thể cắn trụi tới tận gốc lúa, cây khó có khả năng phục hồi.

b. Biện pháp phòng trừ:

- Biện pháp thủ công:

+ Những ruộng có ốc trước khi gieo sạ, cấy lúa nên khơi rãnh xung quanh ruộng để ốc tập trung thu bắt dễ dàng. Khi cấy cần tăng số dảnh/khóm và cần tăng lượng giống khi gieo sạ từ 5-10% so với quy trình kỹ thuật (đề trừ hao ốc ăn mất sau này). Những khu ruộng liền kề ao, hồ, suối, mương... có nhiều ốc, ở đầu dòng chảy nêndùng lưới chắn 3 lớp để ngăn ốc xâmnhập vào ruộng gây hại.

+ Giữ mực nước trong ruộng phù hợp khi cây lúa còn nhỏ (khoảng 2-3 cm) để hạn chế sự di chuyển của ốc sang nơi khác.

+ Trong quá trình chăm sóc lúa nếu thấy có ốc và ổ trứng cần thu gom ngay.

+ Đối với những diện tích chưa bị nhiễm ốc bươu vàng: Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện kịp thời và tổ chức phòng trừ hiệu quả.

- Biện pháp hoá học:

Khi mật độ ốc bươu vàng từ 5 con/m2trở lên, dùng một trong các loại thuốc sau pha 12 gamthuốc với 12 lít nước phun cho 1 sào: Pazol 700WP, Hn-Samole700 WP, CloDan Super 700WP, Snail 700 WP, Nel Super 70 WP;

* Lưu ý:

- Để trừ ốc bươu vàng hiệu quả nên phun 2 lần:

Lần 1: Phun trước khi gieo sạ hoặc cấy cấy (tốt nhất từ 3 đến 5 ngày).

Lần 2: Phun ngay sau khi cấy (để trừ số ốc còn sống sót sau phun lần 1).

- Đối với ruộng lúa gieo sạ nên phun vào các rãnh khơi xung quanh ruộng.

- Khi phun thuốc, ruộng phải có độ ẩm bão hòa hoặc xâm xấp nước (mực nước ruộng dưới 5 cm).

- Thuốc rất độc với người, động vật và các động vật thuỷ sinh; cần thực hiện nghiêm ngặt hướng dẫn trên bao bì.

2. Sâu cuốn lá

a. Tác hại:

- Sâu cuốn lá nhỏ: Sâu non cuốn dọc từng lá từ chóp lá xuống phiến lá. Sâu nằm trong ăn nhu mô lá xanh, để lại lớp màng mỏng làm cho lá lúa bạc trắng xơ xác. Mỗi sâu non có thể cuốn và gây hại5 đến 7 lá.

- Sâu cuốn lá lớn: Sâu nhả tơ cuốn nhiều lá thành tổ, nằm bên trong ăn khuyết từng phần của lá lúa. Vào đầu vụ, sâu có thể cuốn cả khóm lúa thành một búi rồi cắn cụt các khóm.

b. Điều kiện phát sinh:Ruộng lúa xanh tốt, rậm rạp có bản lá rộng, ruộng gần bờ mương, đường đi, ruộng ven làng càng hấp dẫn ngài đến đẻ trứng. Mỗi năm sâu phát sinh 6 - 7 lứa gây hại nặng nhất trong vụ mùa, tập trung nhất từ trung tuần tháng 8 đến đầu tháng 9 trên lúa mùa chính vụ.

c. Biện pháp phòng trừ:Ngắt bao lá để diệt sâu khi mật độ thấp. Khi sâu có mật độ cao (giai đoạn đẻ nhánh 50 con/m2, giai đoạn trỗ 20 con/m2) diệt trừ bằng một trong các loại thuốc sau pha với 20 lít nước phun cho một sào:Padan 95 SP, pha 25 - 30gr thuốc; Ofatox 400EC, pha 40 -50 cc thuốc hoặc Fastac 5 EC, pha 15 - 20cc thuốc. Phun vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát, khi sâu ở tuổi 1, tuổi 2.

3. Sâu đục thân 2 chấm

a. Đặc điểm hình thái

Trưởng thành có màu nâu vàng nhạt, mỗi cánh trước có 1 chấm đen rất rõ ở giữa cánh, cuối bụng có chùm lông màu vàng nhạt (thường thấy rõ ở con cái). Bướm thường vũ hoá vào ban đêm, ban ngày nấp dưới khóm lúa.

Trứng đẻ theo ổ, có lớp lông tơ màu vàng phủ bên ngoài. Mỗi con bướm cái có thể đẻ từ 1 – 5 ổ trứng, mỗi ổ có khoảng 50 – 217 trứng tuỳ theo lúa. Sâu non có 5 tuổi.

Sâu non nằm trong thân lúa, có màu trắng sữa hoặc vàng nhạt, sâu tuổi 1 đầu có màu đen, tuổi 2 đến tuổi 5 có màu nâu. Nhộng có màu vàng nhạt.

b. Tác hại

- Sâu non đục vào thân mạ, lúa cắn nõn lúa gây ra dảnh héo thời kỳ lúa đẻ nhánh hoặc cắn đứt ngang cuống đòng, cuống bông gây ra bông bạc thời kỳ lúa trổ

- Trong một vụ thường có 2 đợt sâu non phát sinh gây hại nặng (Khi lúa ở giai đoạn đẻ nhánh và trỗ).

c. Biện pháp phòng trừ:

- Bố trí thời vụ gieo cấy thích hợp để không trùng thời gian bướm rộ.

- Sau khi thu hoạch cày lật đất để diệt sâu và nhộng, giảm mật độ sâu ở vụ sau.

- Bảo vệ thiên địch sâu đục thân 2 chấm: như các loài ong ký sinh trứng: Tricchogramma japonicum; Tri. Dendrolimi mats; Tri.Chilonis…

- Dùng bẫy đèn bắt bướm khi bướm rộ.

- Tập trung ngắt ổ trứng, gôm lại và đem tiêu huỷ.

- Lúa đẻ nhánh: Sử dụng một trong các loại thuốc sau để rải: Regen 0.3G, Diazan 10H, Vibasu 10H, Patox 4G… (lưu ý giữ mực nước ruộng 2 – 4 cm).

Liều lượng: 1 – 1,5 kg/sào (500m2).

- Lúa đòng trổ: Dùng một trong các loại thuốc trừ sâu đục thân đặc hiệu:

+ Virtako 40WG, liều lượng 3 gam thuốc pha 16 – 20 lít nước phun 1 sào.

+ Padan 95 SP hoặc Patox 95SP liều lượng 30gr thuốc pha 30 lít nước, phun 1 sào.

+ Regent 800WG hoặc Tango 800WG, liều lượng 2gr thuốc pha 24 lít nước, phun cho 1 sào (500m2).

+ Marshal 200SC, liều lượng 50cc thuốc 30 lít nước, phun 1 sào.

Phun thuốc lần 1 khi sâu non nở rộ (hoặc lúa trổ kác đác). Nếu mật độ ổ trứng cao phun lại lần 2 cách lần 1 từ 4 – 5 ngày).

4. Bệnh bạc lá

a. Tác hại

Bệnh bạc lá lúa do vi khuẩn Xanthomonas Oryzae theo gió, nước xâm nhiễm vào lá lúa theo thuỷ khổng, khí khổng và nhất là qua vết thương cơ giới trên lá lúa. Bệnh thường lây lan gây hại mạnh sau các trận mưa bão. Nguồn bệnh của vi khuẩn bạc lá thường là tồn tại trong đất, nước, hạt giống lúa và cỏ dại thuộc họ hoà thảo như cỏ lồng vực, cỏ gừng, lúa chét,... từ đó lây lan vào ruộng lúa. Bệnh bạc lá vi khuẩn có thể phát sinh ngay từ ruộng mạ trên phiến lá, nhưng biểu hiện bệnh rõ nhất là ở lá lúa khi cây lúa đẻ nhánh và phát triển đến giai đoạn lúa trỗ bông - chắc xanh, đây là lúc bệnh gây hại mạnh nhất. Vết bệnh ban đầu có màu xanh đậm, đầu tiên xuất hiện ở đầu lá hoặc 2 bên mép lá sau đó lan dần vào phiến lá. Khi nắng lên vết bệnh héo đi, phiến lá bị khô trắng từng vệt từ đầu lá kéo dài dọc theo mép lá, rìa vết bệnh có hình lượn sóng. Khi bệnh nặng phiến lá bị khô trắng tới 60 - 70% diện tích hoặc toàn bộ. Vào buổi sáng sớm hoặc trong điều kiện thời tiết ẩm ở trên vết bệnh thường xuất hiện các giọt dịch vi khuẩn màu trắng đục, khi khô đi có màu vàng hoặc nâu hình cầu li ti. Nếu bệnh bùng phát thành dịch, nhất là trong giai đoạn làm đòng đến trỗ bông thì cây lúa dễ bị nghẹn đòng, bông bạc, hạt lép nhiều và làm giảm năng suất tới 55 - 70%. Với điều kiện nhiệt độ cao (25 - 300C) và ẩm độ cao (95 - 100%) bệnh thường phát triển mạnh và có nguy cơ lây lan thành dịch. Ở những chân ruộng hẩu, ruộng trũng, chua, bón nhiều đạm, mất cân đối hoặc các diện tích bón đạm muộn, bón lai rai,... cũng làm cho lúa bị bệnh bạc lá gây hại nặng.

b. Biện pháp phòng trừ

Biện pháp phòng trừ bệnh bạc lá hiệu quả là thường xuyên thăm đồng, theo dõi, phát hiện bệnh sớm; chăm sóc hợp lý để cây lúa sinh trưởng khỏe, bón phân cân đối, điều tiết nước phù hợp. Không bón quá nhiều đạm, bón đạm muộn và kéo dài; chú ý kết hợp giữa bón đạm với phân chuồng, lân, kali, tro bếp. Khi phát hiện thấy triệu chứng bệnh cần giữ mực nước vừa phải từ 3 - 5 cm, dừng bón các loại phân hóa học, phân bón lá và thuốc kích thích sinh trưởng. Sử dụng các loại thuốc hoá học để phun phòng trừ như: PN - Balacide 32 WP, Starner 20 WP, Kasumin 2 SL; TP – Zep 18 EC, Xanthomix 20 WP, Somec 2 SL, Sasa 25 WP, Sansai 20 WP... pha và phun theo hướng dẫn trên vỏ bao bì.

5. Rầy nâu

a. Tác hại

Rầy nâu là một trong vài loài dịch hại nguy hiểm số một trên cây lúa ở nước ta hiện nay. Cả trưởng thành và rầy non đều tập trung ở phần gốc thân cây lúa để hút nhựa, nếu mật số cao có thể gây hiện tượng “cháy rầy”. Ngoài gây hại trực tiếp, rầy nâu còn là môi giới truyền bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá, một bệnh cực kỳ nguy hiểm cho cây lúa, đã từng gây dịch trên diện rộng ở nước ta cách nay vài năm.

b. Biện pháp phòng trừ

- Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sớm, hướng dẫn nông dân phun trừ kịp thời khi ruộng có mật độ rầy 35 - 40 con/khóm lúa (1.500 con/m2).

+ Đối với những diện tích lúa đang làm đòng - trỗ, nên sử dụng các loại thuốc có tác dụng lưu dẫn như: Sutin 5 EC, Admire 50 EC; Confidor 700 WG, Actara 25 WG, Anvado 700 WG; Actadan 750 WP, Oshin 20 WP, Penalty 40 WP, Chess 50 WG, Dantotsu 16 WSG, Chersieu 50 WG …

+ Đối với những diện tích lúa ở giai đoạn sau trỗ (uốn câu - chắc xanh đến chín) sử dụng các loại thuốc có tác dụng tiếp xúc như: Penalty Gold 50 EC, Victory 585 EC, Tasodant 600 WP, Superista 25 EC, Bassa 50 EC, Babsax 400 WP, Winter 635 EC…

Chú ý:Khi sử dụng các loại thuốc tiếp xúc yêu cầu phải rẽ lúa thành băng, mỗi băng từ 5 - 6 hàng lúa và phun trực tiếp vào gốc lúa nơi rầy tập trung gây hại.

- Phải pha và phun đủ lượng nước thuốc trên diện tích lúa (theo hướng dẫn ghi trên vỏ bao bì). Không tự ý giảm bớt liều dùng hoặc tăng liều hay phối trộn thêm nhiều loại thuốc khác.

- Khi phun thuốc trừ rầy yêu cầu ruộng lúa phải có đầy đủ nước mới đạt hiệu quả phun trừ cao.

- Khi sử dụng thuốc hóa học phải tuân thủ chặt chẽ theo nguyên tắc 4 đúng để đảm bảo an toàn và hiệu quả.

+ Đúng thuốc: Phun thuốc trừ rầy theo khuyến cáo.

+ Đúng lúc: Phun rầy khi tuổi nhỏ (tuổi 1, 2, 3).

+ Đúng liều lượng, nồng độ: Phun đảm bảo đủ lượng nước thuốc theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn, đảm bảo 12 - 16 lít nước thuốc/sào (360m2).

+ Đúng kỹ thuật: Phun bằng bình bơm tay đeo vai (tuyệt đối không sử dụng ống phụt để phun thuốc), phun vào buổi sáng khô sương hoặc chiều mát, phun rải đều lượng nước...

2 tháng 8 2019

Đáp án: B. Bắt bằng vợt, bẫy ánh sáng

Giải thích: Biện pháp là biện pháp cơ giới vật lí trong phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng là bắt bằng vợt, bẫy ánh sáng – SGK trang 55

24 tháng 3 2019

Đáp án: B. Bắt bằng vợt, bẫy ánh sáng

Giải thích: Biện pháp là biện pháp cơ giới vật lí trong phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng là bắt bằng vợt, bẫy ánh sáng – SGK trang 55