K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4.0 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi:

Câu 1. Xác định ngôi kể trong văn bản.

Câu 2. Tìm những từ ngữ, hình ảnh khắc họa cuộc sống của Thứ khi ở Hà Nội. 

Câu 3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân.

Câu 4. Nhận xét sự thay đổi của Thứ khi ở Hà Nội và Sài Gòn. 

Câu 5. Trình bày một thông điệp anh/chị rút ra sau khi đọc văn bản và lí giải. 

Bài đọc:

Sống mòn

       Tóm tắt: “Sống mòn” là cuốn tiểu thuyết của nhà văn hiện thực Nam Cao, viết trước Cách mạng tháng Tám về đề tài người trí thức tiểu tư sản. Nhân vật chính là Thứ - một thanh niên được học hành, có hoài bão, chí hướng. Sau khi lấy được bằng Thành chung(1), y vào Sài Gòn tìm kế mưu sinh. Nhưng sau 3 năm, vì nghéo khó, bệnh tật, y phải về quê, chịu cảnh thất nghiệp. Rồi Thứ lên Hà Nội dạy ở một trường tư do Đích - anh họ đồng thời cũng là bạn của Thứ cùng vợ chưa cưới là Oanh mở ở ngoại thành Hà Nội. Cùng dạy với Thứ, Oanh còn có San. Cuộc sống của họ đều khó khăn. Thứ nhận thấy kiếp sống nghèo khổ đã làm thui chột ước mơ, hoài bão và đẩy y cùng những người xung quanh đến cảnh “sống mòn”, trở nên ti tiện, nhỏ nhen. Nghỉ hè, Thứ về quê và phải đối mặt với những chuyện rắc rối của gia đình. Khi y quay trở lại Hà Nội thì trường phải đóng cửa vì thành phố luôn trong tình trạng báo động, Đích đang hấp hối trên giường bệnh,... Thứ đành trở về quê. Đoạn trích dưới đây là phần cuối của tiểu thuyết.

       Thứ đứng tựa mạn tàu... Người ta không thể ước ao một buổi sáng đẹp hơn. Trời xanh lơ, tươi màu như vừa mới quét sơn. Một vài túm mây trắng, lửng lơ. Không gian như rộng quang ra. Ánh nắng chan hòa và rực rỡ. Nhưng Thứ buồn... Y nhìn đằng sau, Hà Nội lùi dần như muốn bỏ y. Đời y cũng lùi dần. Biết bao nhiêu là ước vọng cao xa khi còn ngồi trên ghế nhà trường! Cái đầu tóc mới nuôi có bao giờ thèm mong sau này làm một ông phán tầm thường, mắt cận thị và lưng gù, tháng tháng lĩnh lương vê nuôi vợ, nuôi con? Y sẽ đỗ thành chung, y sẽ đỗ tú tài, y sẽ vào đại học đường, y sang Tây,... Y sẽ thành một vĩ nhân đem những sự thay đổi lớn lao đến cho xứ sở mình. Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân. Vào Sài Gòn, y đã làm một kẻ lông bông. Tuy vậy, mấy năm ở Sài Gòn cũng là một quãng thời gian đẹp của y. Ít ra, y cũng hăm hở, y đã náo nức, y đã mong chờ. Y đã ghét và yêu. Y đã say mê. Y đã ngồi ở thư viện không biết mỏi lưng và đón một dịp đi Pháp không biết nản... Về Hà Nội, y sống rụt rè hơn, sẻn so hơn, sống còm rom. Y chỉ còn dám nghĩ đến chuyện để dành, chuyện mua vườn, chuyện làm nhà, chuyện nuôi sống y với vợ con y. Nhưng cũng chưa đến nỗi hỏng cả mười phần. Ít ra, y cũng còn làm được một việc gì, còn kiếm nổi bát cơm của mình ăn. Nhưng nay mai, mới thật buồn. Y sẽ chẳng có việc gì làm, y sẽ ăn bám vợ! Đời y sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra ở một xó nhà quê. Người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y. Rồi y sẽ chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống!... Nghĩ thế y thấy nghẹn ngào, thấy uất ức vô cùng! Không! Y sẽ không chịu về quê. Ý sẽ đi bất cứ đâu, mặc rủi may, sống bất cứ thế nào và chết thế nào cũng được. Chết là thường. Chết ngay trong lúc sống mới thật là nhục nhã. Y sẽ đi và bất cần tất cả!... Nhưng mà Hà Nội vẫn lùi dần, lùi dần... và đời y cũng lùi dần. Y đang lùi về một xó nhà quê. Con tàu chở y về. Y cưỡng lại làm sao, bởi vì y đang ở trên con tàu đó. Chiều hôm nay, về đến nhà, y sẽ bảo Liên rằng trường đã vỡ rồi, y hết kế sinh nhai, y sẽ ra đi, sẽ đi liều,… Liên sẽ vuốt tóc y, xoa đầu y, vỗ về y vào bảo rằng y sẽ chẳng đi đâu. Và y sẽ chẳng đi đâu... Ấy! Cái đời y là vậy! Y biết thế! Y nhu nhược quá, hèn yếu quá! Y không bao giờ cưỡng lại (...) Y chỉ để mặc con tàu mang đi.

       Hà Nội vẫn lùi dần, lùi dần,... và bây giờ thì xa rồi, khuất hẳn rồi. Hai bên bờ sông, lần lượt qua những đồng ruộng và những khóm tre, những làng mạc xo ro, những người nhà quê bao nhiêu đời nay đương đánh vật nhau với đất. Trên những bãi sông kia, trong những làng mạc, những khóm xanh xanh kia, có biết bao nhiêu người sống như y, không bao giờ dám cưỡng lại đời mình. Đời họ là một đời tù đày. Nhưng cũng như một con trâu, họ vẫn cắm cúi kéo cày, ăn cỏ, chịu roi. Ở bên kia những cánh đồng bùn lầy, là rừng xanh, cuộc sống tự do, cỏ ngập sừng. Con trâu có lẽ cũng biết vậy, nhưng chẳng bao giờ nó dám đi, chẳng bao giờ nó dám dứt đứt sợi dây thừng. Cái gì giữ con trâu lại ở đồng bằng và ngăn người ta đến một cuộc đời rộng rãi hơn, đẹp đẽ hơn? Ấy là thói quen, lòng sợ hãi sự đổi thay, sợ hãi những cái gì chưa tới. Ấy thế mà trên đời này lại chẳng có cái gì tới hai lần. Sống tức là thay đổi...

       Bên cạnh Thứ, một anh chàng nhà quê trẻ tuổi, mượn được tờ báo của một kẻ đồng hành, mở ra, ề à đọc cho mấy người nhà quê khác nghe chung. Thứ nhớ đến cuộc chiến tranh ghê gớm hiện thời. Bao nhiêu người chết! Bao nhiêu thành phố tan nát! Cái thảm sông máu, núi thây thật là rùng rợn. Nhân loại lên cơn sốt rét, đang quằn quại, nhăn nhó, rên la, tự mình lại cắn mình, tự mình lại xé mình, để đổi thay. Cái gì sẽ trồi ra? Lòng Thứ đột nhiên lại hé ra một tia sáng mong manh. Thứ lại thấy hi vọng một cách vu vơ. Sau cuộc chiến tranh này, có lẽ cuộc sống sẽ dễ dàng hơn... đẹp đẽ hơn... Nhưng y lại đỏ mặt ngay. Người ta chỉ được hưởng những cái gì mình đáng hưởng thôi. Y đã làm gì chưa?

(Tuyển tập Nam Cao, tập 2, NXB Văn học, 2005, tr.331-334)

Chú thích: 

(1) Bằng Thành chung: Bằng cấp cho người thi đỗ hết cấp cao đẳng tiểu học thời Pháp thuộc, tương đương với bằng tốt nghiệp trung học cơ sở ngày nay.

26
20 tháng 1 2025

Ưạ

4 tháng 2


Câu 1. Ngôi kể

→ Văn bản kể theo ngôi thứ ba.

Câu 2. Từ ngữ, hình ảnh về cuộc sống của Thứ ở Hà Nội

  • “sống rụt rè hơn, sền so hơn, sống còm rom”
  • “chỉ còn dám nghĩ đến chuyện để dành, mua vườn, làm nhà”
  • “sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra ở một xó nhà quê”
  • “chẳng có việc gì làm, sẽ ăn bám vợ”

→ Cuộc sống nghèo túng, bế tắc, làm Thứ đánh mất ước mơ.

Câu 3. Biện pháp tu từ

“Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân.”

  • Biện pháp: so sánh – ẩn dụ “phế nhân”.
  • Tác dụng: nhấn mạnh cảm giác vô dụng, tuyệt vọng của Thứ; thể hiện bi kịch người trí thức trước xã hội cũ.

Câu 4. Nhận xét sự thay đổi của Thứ

  • Ở Sài Gòn: nhiều ước mơ, tin vào tương lai.
  • Ở Hà Nội: trở nên rụt rè, thực dụng, cam chịu, chỉ lo cơm áo.

→ Thứ từ người giàu lí tưởng thành kẻ sống mòn, mất dần bản ngã.

Câu 5. Thông điệp rút ra

Văn bản gửi gắm thông điệp:

→ Con người cần sống có lí tưởng và dám thay đổi, không để hoàn cảnh làm “mòn” đi khát vọng. Nếu chỉ cam chịu, cuộc đời sẽ trở nên vô nghĩa. Xã hội cũng cần tạo điều kiện để mỗi cá nhân được sống đúng giá trị của mình.

Lí giải:

Nhân vật Thứ có ước mơ đẹp nhưng bị nghèo đói và thói quen an phận trói buộc. Từ đó, ta hiểu rằng muốn sống có ý nghĩa phải vượt lên nỗi sợ hãi và sự trì trệ.


9 tháng 2

hihi

7 tháng 3

Câu 1 ngôi kể: thứ ba

Câu 2 những từ ngữ hình ảnh khắc hoạ cuộc sống của Thứ khi ở Hà Nội

- “Sống rụt rè hơn”, “sến so hơn, sống còm rom”, “y chỉ còn dám nghĩ đến chuyện để dành”, “ chuyện mua vườn, chuyện làm nhà, chuyện nuôi sống vợ con y ”, “nhưng nay mai, mới thật buồn. Y sẽ chẳng có việc gì làm, y sẽ ăn bám vợ”

Câu 3 Biện pháp tu từ: So sánh

Tác dụng:

- nhấn mạnh cảm giác bất lực vô dụng mất giá trị của Thứ sau khi rời trường

- thể hiện nỗi đau sự thất vọng bi kịch tinh thần của con người tri thức nghèo

Câu 4 sự thay đổi của Thứ

Ở sài gòn:

Có nhiều khát vọng nhiệt huyết mơ ước háo hức và mong chờ say mê mong đợi

Tuy cuộc sống khó khăn nhưng còn hi vọng và những ước mơ

Ở Hà Nội:

Trở nên rụt rè, sợ hãi, sống còm rom chỉ nghĩ đến chuyện mưu sinh nhỏ bé, cảm thấy bế tắc và mất niềm tin cho thấy được sự bào mòn ước mơ

Câu 5



8 tháng 3

Câu 1: - Ngôi kể là ngôi thứ ba. Câu2: - Những từ ngữ, hình ảnh của Thứ khi ở Hà Nội là: ​+ Từ ngữ miêu tả phong thái và cách sống "Rụt rè hơn": Thiếu hẳn sự tự tin, hăng hái của thời trẻ. "Sẻn so hơn": Sự thắt lưng buộc bụng, chi li trong chi tiêu. "Sống còm rom": Hình ảnh một con người nhỏ bé, khắc khổ, thiếu sức sống. "Nhu nhược", "Hèn yếu": Bản chất tâm lý tự ti, không dám đấu tranh với hoàn cảnh. ​+ Những hình ảnh về mục đích sống: ​Chuyện để dành, mua vườn, làm nhà: Những lo toan vật chất tầm thường của Thứ Chuyện nuôi sống y với vợ con y: Trách nhiệm gia đình đè nặng. Kiếm nổi bát cơm của mình ăn: Thứ đã hạ thấp mọi tiêu chuẩn hạnh phúc của mình xuống mức thấp nhất. ​+ Hình ảnh so sánh và ẩn dụ về sự tàn lụi: ​"Phế nhân": Thứ tự thấy mình như một người tàn phế, không còn ích lợi gì cho xã hội sau khi rời ghế nhà trường. "Đời y sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra": Những động từ chỉ sự phân hủy, hoen gỉ của kim loại và đồ vật được dùng để nói về con người. "Chết mà chưa sống": Một nghịch lý đau đớn. Thứ đang sống về mặt sinh học nhưng đã chết về mặt tâm hồn. Câu 3: - Biện pháp tu từ là so sánh. - Tác dụng: + Nhằm tăng sức nặng cho sự tuyệt vọng đau khổ của nhân vật, nhấn mạnh cảm xúc yếu đuối nhận thức tiêu cực nhưng lại là sự thật trần trụi cần nhìn thẳng. + Thể hiện chiều sâu cảm xúc sự nặng nề mệt mỏi chán nản của chính bản thân nhân vật Thứ. Câu 4: - Nhận xét: Sự thay đổi của Thứ khi ở Hà Nội và Sài Gòn là trái ngược nhưng vẫn thể hiện đúng bản chất của Thứ. Khi ở sài gòn Thứ là kẻ lông bông nhưng lại là khoảng thời gian Thứ thấy rất đẹp, bản thân Thứ đã trải nghiệm được điều mới về cảm xúc khi hăm hở hay náo nức rồi lại mong chờ và cái yêu cái ghét, Thứ đã say mê kiến thức và các chuyến đi. Còn Hà Nội Thứ suy nghĩ đúng như một phế nhân, không còn cái sự say mê hay cảm xúc yêu ghét như Sài Gòn chỉ là một gánh nặng suy nghĩ ăn mòn, Thứ hiểu cuộc sống Hà Nội rõ ràng, bi quan chìm vào làm nước đen của xã hội áp lực cơm áo gạo tiền. Hà Nội và Sài Gòn cho ta cái nhìn thực tế Thứ vẫn như nhược sợ bản thân tầm thường. Câu 5: - Thông điệp ý nghĩa nhất rút ra từ đoạn trích là: Con người cần can đảm rứt bỏ "sợi dây thừng" của thói quen và sự sợ hãi để thực sự sống một cuộc đời có ý nghĩa, thay vì chỉ tồn tại mòn mỏi. Nam Cao đã lí giải điều này qua hình ảnh ẩn dụ về con trâu quanh năm cắm cúi kéo cày dù bên kia cánh đồng là tự do, cũng như bi kịch của nhân vật Thứ tự nhận ra đời mình đang "mốc lên, gỉ đi" nhưng lại nhu nhược không dám thay đổi. Thông điệp cảnh tỉnh chúng ta rằng nếu chỉ quẩn quanh với những lo toan hạn hẹp về cơm áo gạo tiền mà từ bỏ khát vọng, ta sẽ "chết ngay trong lúc sống". Cuối cùng, sự thức tỉnh về việc hành động thông qua câu hỏi "Y đã làm gì chưa?" khẳng định rằng tương lai tốt đẹp chỉ dành cho những người dám dứt khoát với sự trì trệ để xứng đáng với những gì mình được hưởng.

Câu 1 :

Văn bản được kể theo ngôi thứ ba, người kể giấu mình gọi nhân vật là "y" , "Thứ".

Câu 2 : 

Những từ ngữ hình ảnh khắc họa cuộc sống của Thứ khi ở Hà Nội :

" sống rụt rè hơn, sẻn so hơn, sống còm rom "

"chuyện để dành, chuyện mua vườn, chuyện làm nhà "

"chuyện nuôi sống y với vợ con y " " Y sẽ chẳng có việc gì làm, y sẽ ăn bám vợ "

Câu 3 :

Biện pháp từ sánh :  " mình gần như là một phế nhân "

Tác dụng :

  - Nhấn mạnh cảm giác thất bại, chán nản, tự ti, bế tắc của nhân vật.

 Câu 4 : 

Ở Sài Gòn: Thứ từng có hoài bão, khát vọng , hi vọng vào tươi lại.

Ở Hà Nội :  Thứ trở nên rụt rè, sợ sệt, cảm   thấy bế tắc, mất dần ước mơ.

Câu 5 :

  Mỗi người cần phải có dũng khí ý chí quyết tâm  thay đổi  ước mơ , không để hoàn cảnh khó khăn mà quên đi những mục tiêu cuộc đời.  Phê phán xã hội cũ đã đẩy con người vào hoàn cảnh bế tắc,  nghèo khổ.

 

      


Câu 1: ngôi kể T3

Câu 2:

-"về HN, ý sông rụt rè hơn, sén số hồng." "Sống còm ròm Ý chỉ còn dám nghĩ đến chuyện để dành, chuyện mua vườn, chuyện làm nhà, chuyện nuôi, sống y với con y". "HN vẫn lùi dần, lùi dần và đội y cũng lùi dần"

Câu 3:

-BPTT: So sánh "Ý" so sánh vs "phế nhân"

-Tác dụng:

+làm nổi bật sự tự ti đầy thất vọng về bản thân mình của NV thứ sau khi ra trường

+ Lối diễn đạt khiến cho câu văn trở nên sinh động, cụ thể, tăng sức gợi hình gợi cảm.

+Qua đó thể hiện tài năng biểu đạt ngôn ngữ của tác giả tạo sự đồng cảm cho ng đọc.

Câu4:

Khi ở Hà Nội, Thứ sống trong cảnh nghèo túng, chật chội và buồn tẻ, công việc bấp bênh khiến anh chán nản, mệt mỏi và cảm thấy mình gần như vô dụng. Cuộc sống lặp đi lặp lại làm anh dần mất đi nhiệt huyết và niềm tin. Khi vào Sài Gòn, Thứ nuôi hi vọng về một cuộc sống mới, mong có cơ hội thay đổi số phận và tìm được công việc tốt hơn. Tuy vậy, trong anh vẫn tồn tại sự lo lắng và bấp bênh, cho thấy tâm trạng của người trí thức nghèo luôn bị giằng co giữa hi vọng và thực tế khó khăn.

Câu 5: Từ đoạn trích trên, em rút ra thông điệp rằng con người không nên sống buông xuôi, mòn mỏi trước khó khăn của cuộc sống mà cần giữ niềm tin và cố gắng vươn lên. Nếu thiếu mục tiêu và ý chí, cuộc sống sẽ trở nên tẻ nhạt, vô nghĩa và khiến con người đánh mất giá trị của bản thân. Vì vậy, mỗi người cần sống có lí tưởng, chủ động thay đổi để cuộc đời trở nên tốt đẹp hơn.

-


9 tháng 3

Câu 1. Ngôi kể trong văn bản: Ngôi kể thứ ba. Câu 2. Những từ ngữ, hình ảnh khắc họa cuộc sống của Thứ khi ở Hà Nội “cuộc sống khó khăn” “sống mòn” “ti tiện, nhỏ nhen” “chuyện nuôi sống vợ con” “kiếm nổi bát cơm của mình ăn” “chẳng có việc gì làm” Những chi tiết này cho thấy cuộc sống nghèo túng, bế tắc, tầm thường và đầy áp lực mưu sinh của Thứ ở Hà Nội. Câu 3. Biện pháp tu từ: So sánh (“gần như là một phế nhân”). Tác dụng: - Nhấn mạnh tâm trạng chán nản, tuyệt vọng và cảm giác vô dụng của Thứ. - Thể hiện sự bế tắc của người trí thức nghèo trong xã hội cũ. Câu 4. Nhận xét sự thay đổi của Thứ khi ở Hà Nội và Sài Gòn - Khi ở Sài Gòn: Có ước mơ, hoài bão, hi vọng về tương lai. - Khi ở Hà Nội:Cuộc sống nghèo khó, bế tắc, phải lo mưu sinh.Ước mơ dần bị bào mòn, trở nên chán nản, tuyệt vọng Câu 5. Thông điệp em rút ra từ văn bản là con người cần giữ gìn ước mơ và sống có ý nghĩa. Trong cuộc sống, ai cũng có thể gặp khó khăn, nghèo túng hoặc thất bại như nhân vật Thứ. Tuy nhiên, nếu buông xuôi thì con người sẽ rơi vào trạng thái “sống mòn”, mất đi ý nghĩa của cuộc đời. Vì vậy mỗi người cần cố gắng vượt qua hoàn cảnh, giữ vững niềm tin và khát vọng để cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn.

Câu 1

Ngôi kể: ngôi thứ 3

Dấu hiệu nhận biết: người viết gọi tên nhân vật trong truyện

Câu 2

Hình ảnh khắc họa cuộc sống của Thứ khi ở Hà Nội:

+sống rụt rè hơn, sợ sệt hơn, sống còm rom +chỉ còn dám nghĩ đến chuyện để dành, chuyện mua vườn, chuyện làm nhà

Câu 3

Biện pháp so sánh: gần như một phế nhân

Tác dụng:

+ Làm tăng tính hấp dẫn, gợi hình gơi cảm

+Nhấn mạnh cảm giác thất vọng, bất lực của nhân vật trước thực tế cuộc sống khắc nghiệt

Câu 4:

-Ở Sài Gòn: +Có ước mơ, khát vọng. +Sống sôi nổi, từng háo hức, mong chờ, từng yêu ghét, say mê -Ở Hà Nội: +Trở nên rụt rè, sợ sệt, sống còm rom. +Chỉ lo cơm áo, gia đình, mất dần lý tưởng.

-Nhận xét: Ở Sài Gòn, Thứ còn là một người trẻ có nhiều cảm xúc và khát vọng, từng háo hức, say mê và mong chờ những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Nhưng khi sống ở Hà Nội, cuộc sống nghèo khó và bế tắc khiến Thứ trở nên rụt rè, sợ sệt, sống tầm thường và chỉ lo những chuyện nhỏ nhặt như cơm áo, gia đình. Qua đó cho thấy hoàn cảnh khắc nghiệt đã làm thui chột dần ước mơ và lý tưởng của nhân vật

Câu 5:

+Thông điệp: Con người không nên để hoàn cảnh khó khăn làm mất đi ước mơ và ý chí của mình

+Lý giải: Qua nhân vật Thứ, tác giả cho thấy khi con người sống trong nghèo khó và bế tắc lâu dài, họ dễ bị cuốn vào cuộc sống tầm thường, đánh mất lý tưởng ban đầu. Vì vậy mỗi người cần giữ vững khát vọng và dũng cảm thay đổi để cuộc sống có ý nghĩa hơn

câu 1: van bản được kể theo ngôi thứ ba

câu 2: những từ ngữ, hình ảnh: “sống rụt rè hơn, sợ sệt hơn, sống còm rom”, “chỉ dám nghĩ đến chuyện để dành, chuyện mua vườn, chuyện làm nhà, chuyện nuôi sống vợ con”, “kiếm nổi bát cơm của mình ăn”

câu 3: biện pháp tu từ so sánh: y thấy mình gần như là một phế nhân

tác dụng: nhấn mạnh cảm giác bất lực, thất vọng và bế tắc của Thứ khi nhận ra những ước mơ của mình dần tan vỡ

câu 4: ở Sài Gòn: Thứ còn nhiều ước mơ, khát vọng. Hà Nội: Thứ trở nên rụt rè, sống nhỏ bé, chỉ lo cơm áo

câu 5 :thông điệp:

con người ko nên sống cam chịu để hoàn cảnh làm mất đi ước mơ và ý chí, cần mạnh mẽ thay đổi để tìm ý nghĩa cho cuộc sống


Câu 1:

Ngôi kể: ba.


Câu 2: Những từ ngữ, hình ảnh khắc họa cuộc sống của Thứ khi ở Hà Nội:

- Nghèo khổ, bệnh tật.

- y phổi yếu.

- chịu cảnh thất nghiệp.

- đời sống chật vật, khó khăn.

- cuộc sống "sống mòn", tẻ nhạt, bế tắc.


Câu 3:

- Biện pháp tu từ: so sánh

- Tác dụng: Nhấn mạnh tâm trạng chán nản, tuyệt vọng và cảm giác vô dụng của Thứ trước cuộc sống bế tắc.


Câu 4: Nhận xét sự thay đổi của Thứ ở Hà Nội và Sài Gòn:

- Ở Hà Nội:

+ Nghèo khổ, bệnh tật.

+ Thất nghiệp.

+ Cuộc sống tẻ nhạt, bế tắc, "sống mòn".


- Ở Sài Gòn:

+ Có thời gian sống tự do hơn.

+ Có những trải ngiệm mới.

+ Nhưng cuối cùng vẫn quay về thực tại khó khăn.


Câu 5: Thông điệp rút ra từ văn bản:

Văn bản gửi gắm thông điệp: con người không nên sống một cuộc đời tẻ nhạt, vô nghĩa. Mỗi người cần sống có mục đích, dám thay đổi để thoát khỏi sự "sống mòn".

Câu 1.

Ngôi kể: Ngôi thứ ba (người kể gọi nhân vật là “y”, “Thứ”).

Câu 2.

Những từ ngữ, hình ảnh khắc họa cuộc sống của Thứ khi ở Hà Nội:

  • “sống rụt rè hơn, sợ sệt hơn”
  • “sống còm rom”
  • “chỉ còn dám nghĩ đến chuyện để dành, mua vườn, làm nhà”
    → Thể hiện cuộc sống khó khăn, tù túng, tầm thường và bế tắc

Câu 3.

Biện pháp tu từ: So sánh – “gần như là một phế nhân”.

Tác dụng:

  • Nhấn mạnh cảm giác thất vọng, chán nản, tự thấy mình vô dụng của Thứ khi ra khỏi trường.
  • Thể hiện bi kịch của người trí thức nghèo trước Cách mạng.

Câu 4.

Sự thay đổi của Thứ:

•Ở Sài Gòn: còn nhiệt huyết, mơ ước, say mê, ham học hỏi và trải nghiệm.

  • Ở Hà Nội: trở nên rụt rè, sợ sệt, sống tầm thường, mất dần lý tưởng và hoài bão.
  • → Cho thấy cuộc sống nghèo khó đã bào mòn ước mơ của Thứ.

Câu 5.

Thông điệp:

Con người cần dũng cảm thay đổi và đấu tranh để sống có ý nghĩa, không nên để hoàn cảnh nghèo khó làm mai một ước mơ và ý chí.

Lí giải:

Nếu con người chỉ cam chịu, sợ thay đổi thì cuộc đời sẽ trở nên tù túng, “sống mòn” và không có giá trị.


11 tháng 3

Câu 1

Ngôi kể thứ 3

Câu 2


7 giờ trước (21:26)

câu 1

Ngôi thứ ba

Câu 2

Trạng thái sống rụt rè hơn , sẻn so hơn , sống còm ròm .

Câu 3

Mình so sánh với phế nhân

Tác dụng : Làm cho câu vân giàu hình ảnh , tăng sức gợi biểu cảm gợi sự đồng cảm ở độc giả trước bi kịch của người tri thức nghèo .

nhấn mạnh sự hụt hẫng , bất lực và đau đớn của Thứ là một phế nhân là người bỏ đi , không còn khả năng hoạt động . Qua đó tác giả lột tả sự đối lập nghiệt ngã giữa những ước vọng cao siêu thời đi học và thực tại phũ phàng , vô dụng khi bước ra đời

Câu 4

Ở Sài Gòn: Dù là kẻ "lông bông" nhưng Thứ còn tràn đầy sức sống. Y có khát vọng, biết "hăm hở", "náo nức", "say mê", dám yêu ghét và nỗ lực học tập để tìm cơ hội đi Pháp. Đây là giai đoạn của ước mơ và hi vọng.

• Ở Hà Nội: Thứ trở nên thực dụng và thu mình lại. Những hoài bão vĩ nhân biến mất, thay vào đó là sự "sẻn so", "còm rom", chỉ lo toan những việc vụn vặt, đời thường. Đây là giai đoạn của sự thỏa hiệp và tàn héo.

• Nhận xét: Sự thay đổi này cho thấy sức tàn phá khủng khiếp của gánh nặng cơm áo gạo tiền đối với nhân cách và tâm hồn con người. Thứ đang rơi vào cảnh "sống mòn" – sống mà như đã chết về mặt tinh thần .

Câu 5

Thông điệp: Đừng để sự trì trệ và nỗi sợ hãi thay đổi bóp nghẹt cuộc đời mình ("Chết ngay trong lúc sống mới thật là nhục nhã").

• Lí giải: Trong đoạn trích, Thứ nhận ra sai lầm của chính mình và những người xung quanh là vì "thói quen" và "lòng sợ hãi sự đổi thay" mà chấp nhận kiếp sống như con trâu kéo cày. Nếu con người không dám bứt phá, không dám hành động để thay đổi thực tại, chúng ta sẽ chỉ tồn tại một cách vô nghĩa, "mốc lên", "gỉ đi" và chết đi mà chưa kịp sống đúng nghĩa. Thông điệp này nhắc nhở chúng ta phải luôn giữ vững bản lĩnh và khát vọng để không bị dòng đời cuốn trôi vào sự tầm thường.



Câu 1: Ngôi thứ ba

Câu 2: Sống trong căn buồng ẩm thấp,chặt hẹp,nóng, những bữa ăn đạm bạc rẻ tiền

Câu 3: BPTT: so sánh:Y như 1 phế nhân

tác dụng : + Nhấn mạnh sự kiệt sức và cảm giác vô dụng, bất lực của nhân vật

+ Làm cho câu văn câu thơ trở nên sinh động, giàu hình ảnh tăng sức gợi hình gợi cảm

+ Thể hiện nỗi đau đớn của một người có học nhưng không tìm được vị trí trong xã hội.

Câu 4: Sài Gòn: mang theo ước mơ hoài baox về cuộc sống tốt đẹp

Hà Nội: trở nên mòn mỏi, ích kỉ nhỏ nhen và áp lực của cái nghèo

Câu 5: Thông điệp: con người cần có nghị lực để bảo vệ nhân cách vaf ước mơ hoài baox trước sự tàn phá của hoàn cảnh sống khắc nghiệt

Câu 1: Ngôi kể thứ 3

Câu 2:

-Sống rụt rè hơn, sẻn so hơn, sống còm rom

-Chỉ còn dám nghĩ đến chuyện để dành, chuyện mua vườn, chuyện làm nhà, chuyện nuôi sống y với vợ con

- Những từ ngữ này cho thấy cuộc sống nghèo khó, chật vật, làm Thứ trở nên thu mình, lo toan nhỏ nhặt, những ước mơ lớn dần bị thu hẹp.

Câu 3:

-So sánh trong câu: “Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân.”

Tác Dụng

-Nhấn mạnh cảm giác thất vọng, bất lực và mất phương hướng của Thứ khi bước vào đời.

-Thể hiện bi kịch của người trí thức tiểu tư sản: có học nhưng không tìm được chỗ đứng trong xã hội.

Câu 4:

-Ở Sài Gòn: Thứ hăm hở, náo nức, say mê, có nhiều ước mơ và hi vọng về tương lai.

-Ở Hà Nội: Thứ trở nên rụt rè, lo toan nhỏ nhặt, sống chật vật, những ước mơ lớn dần bị thui chột.

-Sự thay đổi này cho thấy cuộc sống khó khăn đã bào mòn lí tưởng và khát vọng của Thứ, khiến anh rơi vào tình trạng “sống mòn”.

Câu 5:

Con người cần dám thay đổi và chủ động làm chủ cuộc đời mình.

-Trong truyện, Thứ nhận ra cuộc đời mình đang dần bị bào mòn vì sợ hãi sự thay đổi và thiếu quyết tâm. Điều đó nhắc nhở mỗi người nếu không dám hành động và theo đuổi ước mơ thì dễ rơi vào cuộc sống tẻ nhạt, vô nghĩa. Vì vậy, con người cần sống tích cực, mạnh dạn thay đổi để tạo ra giá trị cho bản thân và xã hội.




Câu 1: Ngôi kể thứ ba

Câu 2: Cuộc sống khó khăn , kiếp sống nghèo khổ đã làm thui chột ước mơ và hoài bão , cảm giác đời sống đang mòn đi

Câu 3: Biện pháp tu từ so sánh : y thấy mình gần - là một phế nhân

- Tác dụng + giúp câu thơ tăng sức gợi hình , gợi cảm , sinh động , hấp dẫn và tăng sức biểu cảm

+ Nhấn mạnh sự bế tắc và thể hiện sự tự ý thức tiêu cực

13 tháng 3

Câu 1.

Văn bản được kể theo ngôi thứ ba. Người kể chuyện giấu mình, gọi nhân vật bằng tên “Thứ”, “y”.

Câu 2.

Những từ ngữ, hình ảnh khắc họa cuộc sống của Thứ ở Hà Nội:

+ “sống rụt rè hơn, sẻn so hơn, sống còm rom”

+“chỉ dám nghĩ đến chuyện để dành, mua vườn, làm nhà”

+“kiếm nổi bát cơm của mình ăn”
Thể hiện cuộc sống nghèo túng, chật vật, tù túng, khiến Thứ dần mất đi ước mơ

Câu 3.

Biện pháp tu từ: So sánh “y thấy mình gần như là một phế nhân”.

*Tác dụng:

+Nhấn mạnh cảm giác tuyệt vọng, bất lực, mất giá trị của bản thân của Thứ sau khi ra khỏi trường

+Thể hiện bi kịch của người trí thức nghèo trong xã hội cũ

Câu 4.

Sự thay đổi của Thứ:

+Khi ở Sài Gòn: còn nhiệt huyết, sôi nổi, có trải nghiệm, còn mơ ước và khát vọng.

+Khi ở Hà Nội: trở nên rụt rè, tính toán, nghèo khổ, mất dần lý tưởng, sống chật vật và bế tắc

+Cho thấy hoàn cảnh khó khăn đã bào mòn ước mơ và ý chí của Thứ.

Câu 5.

*Thông điệp:

Con người cần giữ gìn ước mơ và ý chí sống, không để hoàn cảnh khó khăn làm mình trở nên tầm thường và đánh mất giá trị bản thân.

*Lí giải:

Trong tác phẩm, cuộc sống nghèo khổ đã khiến Thứ dần mất đi hoài bão, rơi vào trạng thái “sống mòn”, qua đó nhà văn cảnh tỉnh con người phải biết sống có mục đích và ý nghĩa.


13 tháng 3

I. Phần đọc hiểu: Câu 1: Xác định ngôi kể trong văn bản -Ngôi kể thứ ba Câu 2: Từ ngữ, hình ảnh khắc họa cuộc sống của Thứ khi ở Hà Nội Dựa vào đoạn trích, cuộc sống của Thứ ở Hà Nội hiện lên với vẻ tù túng, mệt mỏi: -Từ ngữ: Rụt rè hơn, sẻn so hơn, sống còm rom -Hình ảnh, Trạng thái: Chỉ dám nghĩ đến chuyện để dành, mua vườn, làm nhà, nuôi vợ con; thấy đời mình sẽ "mốc lên", "gỉ đi", "mòn", "mục ra ở một xó nhà quê" -Tính chất: Ti tiện, nhỏ nhen Câu 3: Phân tích tác dụng biện pháp tu từ trong câu: "Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân -Biện pháp tu từ: So sánh ("y" như "một phế nhân") -Tác dụng: -Nhấn mạnh cảm giác bất lực, vô dụng và đau đớn cực độ của Thứ. Khi mất đi công việc (ngôi trường đóng cửa), Thứ cảm thấy mình không còn giá trị, không còn khả năng đóng góp hay thực hiện hoài bão, chỉ còn là một kẻ "tàn phế" về mặt tâm hồn và ý chí -Làm cho cách diễn đạt trở nên sinh động, gợi hình gợi cảm, đồng thời thể hiện cái nhìn tự trào đầy xót xa của nhân vật về bản thân mình Câu 4: Nhận xét sự thay đổi của Thứ khi ở Hà Nội và Sài Gòn Sự thay đổi này cho thấy một quá trình "mòn" đi về tâm hồn: -Ở Sài Gòn: Đó là quãng thời gian đẹp nhất. Thứ sống "hăm hở", "náo nức", "say mê". Anh tràn đầy hy vọng, dành thời gian ở thư viện, mơ mộng đi Pháp và khao khát trở thành vĩ nhân để thay đổi xứ sở -Ở Hà Nội: Thứ trở nên thực dụng và hèn yếu hơn. Anh rơi vào cảnh "sống mòn", chỉ lo toan những việc vụn vặt, đời thường (tiền nong, vợ con). Sự nhiệt huyết bị thay thế bằng sự "rụt rè", "sẻn so" => Đây là sự thoái hóa từ một trí thức đầy lý tưởng thành một kẻ tiểu tư sản nghèo nàn, bị gánh nặng cơm áo gạo tiền và môi trường sống tù đọng bóp nghẹt ước mơ Câu 5: Thông điệp rút ra và lí giải -Thông điệp: Đừng để cuộc sống cơm áo gạo tiền làm xói mòn đi lý tưởng và nhân cách của bản thân -Qua nhân vật Thứ, ta thấy sự đáng sợ của lối sống quẩn quanh, không mục đích. Nếu con người không có ý chí vượt lên nghịch cảnh hoặc thiếu một môi trường tốt để phát triển, họ sẽ dễ dàng rơi vào trạng thái "chết ngay trong lúc sống". Tuy nhiên, ánh sáng hy vọng ở cuối đoạn trích về một cuộc sống "dễ dàng hơn, đẹp đẽ hơn" sau chiến tranh cũng nhắc nhở chúng ta cần giữ vững niềm tin vào tương lai

15 tháng 3

Câu 1: Ngôi kể thứ ba

Người kể chuyện giấu mình gọi nhân vật là "Y" và " Thứ "

Câu 2 : Hình ảnh khi thứ sống ở Hà Nội nghèo khó , bế tắc tầm thường và bị thu hẹp ước mơ

Câu 3: Biện pháp tu từ so sánh " gần như là một phế nhân "

tác dụng : nhấn mạnh cảm giác bất lực , vô dụng của thứ khi bước vào đời

Câu 4: Thứ một người có lý tưởng và hoài bão trở nên chán nản , sống mòn mỏi vì hoàn cảnh nghèo và xã hội ngột ngạt

Câu 5: Qua thông điệp em rút ra con người cần có sự thay đổi và sống có ý nghĩa , không nên để hoàn cảnh làm mình sống mòn, sống tầm thường . Nếu chỉ sợ hãi mà khong dám thay đổi thì cuộc sống của chúng ta trở nên bế tắc giống như Thứ trong tác phẩm

19 tháng 3

Câu 1:

Văn bản được kể theo ngôi thứ 3, người kể giấu mình

Câu 2:

Những từ ngữ hình ảnh khắc họa cuộc sống của Thứ khi ở Hà Nội: " sống rụt rè hơn, sẻn so hơn, sống còm rom" " chỉ còn dám nghĩ đến chuyện để dành, chuyện mua vườn,chuyện làm nhà" " nuôi sống y với vợ con y"

Gợi lên cuộc sống c hật vật túng thiếu tù túng

Câu 3:

Biện pháp tu từ "So sánh"

Tác dụng: Nhấn mạnh s ưu thất vọng suy sụp của thứ sau khi rời trường. Thể hiện cảm giác mất phương hướng vô dụng, trái ngược hoàn toàn với những hoài bão trước kia

Câu 4:

Khi ở Sài Gòn: sống hăm hở, náo nức, mong chờ. Vẫn còn lý tưởng, khát vọng tinh thần tuổi trẻ

Khi ở Hà Nội: Trở nên rụt rè, sẻn so, còm rom.Chỉ còn biết lo cơm áo gạo tiền 

Ngôi thứ 3

22 tháng 3

Câu 1

Thể thơ tự do, dấu hiẹn nhận biết dòng trong, câu đều

2.

1 áo người nhuộm chàng xanh

2 Một xóm rưngf

3 Rượu

4 Thịt rừng

5 Tiếng chuông

biện pháp tu từ: nhân hoá


Câu1: Ngôi kể thứ 3


Câu 1. Xác định ngôi kể trong văn bản. Ngôi kể: Ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mặt, gọi tên nhân vật là "Thứ", "y"). Câu 2. Tìm những từ ngữ, hình ảnh khắc họa cuộc sống của Thứ khi ở Hà Nội. Dựa vào văn bản, cuộc sống của Thứ ở Hà Nội được khắc họa qua các từ ngữ, hình ảnh: Về lối sống: "Sống rụt rè hơn, sẻn so hơn, sống còm rom". Về tư tưởng/lo toan: "Chỉ còn dám nghĩ đến chuyện để dành, chuyện mua vườn, chuyện làm nhà, chuyện nuôi sống y với vợ con y". Về công việc: "Dạy ở một trường tư", "còn kiếm nổi bát cơm của mình ăn". Câu 3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong câu: "Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân." Biện pháp tu từ: So sánh (y – gần như là – một phế nhân). Tác dụng: Nội dung: Nhấn mạnh trạng thái bế tắc, bất lực và sự tự ý thức cay đắng của Thứ. "Phế nhân" là người bỏ đi, không còn giá trị; việc tự coi mình là phế nhân cho thấy sự vỡ mộng đau đớn của một trí thức có bằng cấp nhưng không tìm được chỗ đứng, không thực hiện được hoài bão trong xã hội cũ. Nghệ thuật: Làm cho câu văn giàu hình ảnh, tăng sức biểu cảm và khắc họa sâu sắc tâm trạng bi kịch của nhân vật. Câu 4. Nhận xét sự thay đổi của Thứ khi ở Hà Nội và Sài Gòn. Sự thay đổi của Thứ thể hiện một quá trình "mòn" dần về cả ý chí lẫn tâm hồn: Ở Sài Gòn: Là quãng thời gian của tuổi trẻ và hy vọng. Thứ sống "hăm hở", "náo nức", "mong chờ", biết "yêu và ghét", "say mê" học tập và mơ ước đi Pháp. Đây là giai đoạn nhân vật còn đầy sức sống và hoài bão lớn lao. Ở Hà Nội: Thứ trở nên thực tế đến mức tầm thường. Sự nhiệt huyết biến mất, thay vào đó là lối sống "rụt rè", "sẻn so", "còm rom". Mọi ước vọng cao xa bị thay thế bởi nỗi lo cơm áo gạo tiền vụn vặt. Nhận xét: Sự thay đổi này cho thấy sức tàn phá khủng khiếp của hoàn cảnh nghèo đói và xã hội bế tắc đối với nhân cách và ước mơ của con người. Thứ không chết ngay lập tức, nhưng đang "chết trong lúc sống". Câu 5. Thông điệp rút ra và lí giải. Thông điệp: Đừng để những lo toan đời thường làm thui chột ước mơ và sự tử tế; hãy can đảm thay đổi để thực sự được "sống" chứ không chỉ là "tồn tại". Lí giải: Trong văn bản, Thứ đã tự nhận ra bi kịch của mình là "chết mà chưa sống" và nỗi sợ hãi sự thay đổi đã giam hãm con người trong "đời tù đày". Thông điệp này nhắc nhở chúng ta rằng: cuộc sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi ta dám dứt bỏ những thói quen cũ kỹ, những nỗi sợ vô hình để hướng tới một cuộc đời rộng rãi, tự do và có ích hơn.

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng...
Đọc tiếp

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)

“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng chất dinh dưỡng để lớn lên và thay đổi. Song, tất cả sự thay đổi đó lặng lẽ tới mức, với tôi, cây sồi già trong sân trông vẫn như khi tôi nhìn thấy nó thuở ấu thơ.” (James Lovelock) (1)

Từ văn bản trên, anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận về chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng.

Câu 2. Nghị luận văn học (12,0 điểm)

Trong diễn văn đọc tại lễ bế mạc các hoạt động vinh danh giải Nobel ngày 10 tháng 12 năm 1957 ở Stockholm, A. Camus cho rằng: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”(2)

Bằng trải nghiệm văn học, anh/ chị hãy bàn luận ý kiến trên.

1
1. Lắng nghe sự thinh lặng Answer: Bài văn mẫu về chủ đề lắng nghe sự thinh lặng. Mở bài Trong cuộc sống ồn ào, vội vã, con người thường mải mê chạy theo những thanh âm, những tiếng nói từ bên ngoài mà quên mất đi một điều vô cùng quan trọng: lắng nghe sự thinh lặng. Sự thinh lặng không phải là sự im bặt, trống rỗng, mà là một không gian để tâm hồn nghỉ ngơi, để trí não soi chiếu những suy tư sâu sắc. James Lovelock từng ví Trái Đất như một cái cây tồn tại thầm lặng, trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai, cho thấy sự vận động và biến đổi kỳ diệu diễn ra trong im lặng. Chủ đề "Lắng nghe sự thinh lặng" mời gọi mỗi chúng ta nhìn nhận lại cách sống, cách cảm nhận thế giới và thấu hiểu chính mình. Thân bài 1. Giải thích và ý nghĩa của sự thinh lặng Sự thinh lặng là trạng thái không có tiếng động hoặc âm thanh. Tuy nhiên, trong ngữ cảnh nghị luận xã hội, thinh lặng mang ý nghĩa sâu sắc hơn: đó là sự tĩnh tâm, là khoảng không gian nội tâm để con người suy ngẫm, chiêm nghiệm. Lắng nghe sự thinh lặng là khả năng tạm gác lại những xô bồ, náo nhiệt của cuộc sống, để tâm trí được thanh lọc và tập trung vào những giá trị cốt lõi. 2. Biểu hiện của việc lắng nghe sự thinh lặng Việc lắng nghe sự thinh lặng được thể hiện qua nhiều khía cạnh:
  • Tự vấn bản thân: Trong những khoảnh khắc yên tĩnh, con người có cơ hội nhìn lại hành động, suy nghĩ, sai lầm và cả những ước mơ của mình. Sự thinh lặng giúp ta trung thực hơn với chính mình.
  • Thấu hiểu thế giới xung quanh: Như cái cây của Lovelock, vạn vật trong tự nhiên vận hành trong sự thinh lặng tuyệt đối. Lắng nghe sự thinh lặng giúp ta cảm nhận được nhịp đập của sự sống, sự biến đổi tinh tế của thiên nhiên mà những âm thanh huyên náo thường che lấp.
  • Tăng cường sự tập trung và sáng tạo: Khi không bị phân tán bởi tiếng ồn, trí óc con người hoạt động hiệu quả hơn, ý tưởng mới mẻ dễ dàng nảy sinh.
3. Bàn luận mở rộng Trong xã hội hiện đại, con người ngày càng khó tìm thấy sự thinh lặng. Mạng xã hội, thông tin liên tục, công việc áp lực khiến chúng ta luôn trong trạng thái "bận rộn". Điều này dẫn đến sự căng thẳng, lo âu và mất kết nối với chính mình. Do đó, việc chủ động tìm kiếm và lắng nghe sự thinh lặng là vô cùng cần thiết. Nó là liều thuốc chữa lành tâm hồn, giúp cân bằng cảm xúc và sống chậm lại. Kết bài "Lắng nghe sự thinh lặng" không phải là một hành động thụ động mà là một nghệ thuật sống, một sự chủ động tìm kiếm bình yên trong tâm hồn. Giống như cây sồi già vẫn giữ nguyên dáng vẻ qua bao năm tháng dù có nhiều sự thay đổi lặng lẽ, sự thinh lặng giúp chúng ta giữ vững bản ngã giữa dòng đời vạn biến. Hãy dành cho mình những khoảng lặng cần thiết để thấu hiểu bản thân, yêu thương cuộc sống và cảm nhận thế giới một cách trọn vẹn hơn. 2. Bàn luận về ý kiến của A. Camus Answer: Bài văn mẫu bàn luận về ý kiến của A. Camus về người nghệ sĩ. Mở bài Albert Camus, trong diễn văn nhận giải Nobel năm 1957, đã đưa ra một nhận định sâu sắc về vai trò và sứ mệnh của người nghệ sĩ: "Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi." (2) Ý kiến này khẳng định mối quan hệ biện chứng, không thể tách rời giữa cá nhân người nghệ sĩ, cái đẹp trong nghệ thuật và trách nhiệm với cộng đồng. Bằng trải nghiệm văn học, ta thấy nhận định của Camus là kim chỉ nam cho mọi hoạt động sáng tạo chân chính. Thân bài 1. Mối tương quan giữa người nghệ sĩ và cộng đồng Người nghệ sĩ không tồn tại biệt lập mà luôn trong mối tương quan với xã hội, với "người khác". Cuộc sống, con người là chất liệu vô tận cho sáng tạo. Các tác phẩm văn học lớn đều phản ánh hiện thực, số phận con người, và những vấn đề của thời đại. Ví dụ, Nam Cao với tác phẩm Chí Phèo, đã phơi bày bi kịch của người nông dân bị bần cùng hóa, bị xã hội vùi dập, qua đó thể hiện sự gắn bó sâu sắc với cộng đồng, lên tiếng bênh vực những số phận bất hạnh. 2. Cân bằng giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng "Cái đẹp không thể bỏ qua" là mục tiêu hướng tới của nghệ thuật. Văn chương phải là cái đẹp, là sự tinh tế trong ngôn từ, cấu trúc, hình ảnh. Tuy nhiên, cái đẹp đó không phải là sự phù phiếm, thoát ly thực tế mà phải gắn liền với "cộng đồng không thể tách khỏi". Tác phẩm đạt đến cái đẹp chân chính khi nó vừa mang giá trị thẩm mỹ cao, vừa chứa đựng thông điệp nhân văn sâu sắc, phục vụ con người, thức tỉnh lương tri. 3. Trải nghiệm văn học chứng minh Qua các tác phẩm văn học, ta thấy rõ sự tôi luyện của người nghệ sĩ trong mối tương quan này.
  • Văn học hiện thực phê phán: Các nhà văn như Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Ngô Tất Tố (Tắt đèn) đã sử dụng ngòi bút sắc bén để phơi bày những thói hư tật xấu, sự bất công của xã hội, nhằm thức tỉnh cộng đồng. Cái đẹp trong tác phẩm của họ là cái đẹp của sự thật trần trụi, có sức lay động mạnh mẽ.
  • Văn học cách mạng: Các nhà thơ như Tố Hữu (Việt Bắc) đã gắn thơ ca với sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Thơ của ông vừa giàu tính trữ tình, vừa mang tính chính trị sâu sắc, là tiếng nói chung của cộng đồng trong công cuộc giải phóng dân tộc.
4. Bàn luận mở rộng Nhận định của Camus vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay. Người nghệ sĩ hiện đại cần tránh hai khuynh hướng: hoặc quá chú trọng vào cái tôi cá nhân, cái đẹp thuần túy mà xa rời thực tế cuộc sống; hoặc biến nghệ thuật thành công cụ tuyên truyền khô khan, thiếu tính thẩm mỹ. Con đường chân chính của nghệ thuật là sự dung hòa giữa cái đẹp và trách nhiệm xã hội. Kết bài Tóm lại, ý kiến của Albert Camus là một triết lý sâu sắc về nghệ thuật và người nghệ sĩ. Sứ mệnh của người nghệ sĩ không chỉ là sáng tạo ra cái đẹp mà còn là gắn bó mật thiết với cộng đồng, dùng nghệ thuật để phục vụ con người. Sự tôi luyện bản thân trên "quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi" chính là con đường dẫn đến những tác phẩm văn học vĩ đại, có giá trị vượt thời gian.
Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng...
Đọc tiếp

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)

“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng chất dinh dưỡng để lớn lên và thay đổi. Song, tất cả sự thay đổi đó lặng lẽ tới mức, với tôi, cây sồi già trong sân trông vẫn như khi tôi nhìn thấy nó thuở ấu thơ.” (James Lovelock) (1)

Từ văn bản trên, anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận về chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng.

Câu 2. Nghị luận văn học (12,0 điểm)

Trong diễn văn đọc tại lễ bế mạc các hoạt động vinh danh giải Nobel ngày 10 tháng 12 năm 1957 ở Stockholm, A. Camus cho rằng: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”(2)

Bằng trải nghiệm văn học, anh/ chị hãy bàn luận ý kiến trên.

1
2 tháng 10 2025

Câu 1: Nghị luận xã hội (8 điểm)

Chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng


Bài làm:

Con người thường bị cuốn vào những ồn ào, náo nhiệt của cuộc sống, đến mức quên mất rằng sự thinh lặng cũng có thể nói lên rất nhiều điều quan trọng. Trong đoạn văn của James Lovelock, Trái Đất được ví như một cái cây lặng lẽ tồn tại và phát triển một cách âm thầm. Điều đó khiến ta nhận ra: có những thay đổi lớn lao, những câu chuyện sâu sắc không cần lời nói vẫn đang diễn ra ngay bên cạnh chúng ta, trong sự yên tĩnh và tĩnh lặng.

Lắng nghe sự thinh lặng chính là một cách để ta thấu hiểu, cảm nhận sâu sắc hơn về thế giới xung quanh. Sự thinh lặng không phải là khoảng trống, không phải là sự vắng mặt của âm thanh, mà là một trạng thái tích cực, chứa đựng sự sống động và những thông điệp mà tiếng ồn không thể mang lại. Khi ta biết dừng lại, lắng nghe thinh lặng, ta sẽ nhận ra những vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, sự biến đổi của cuộc sống và cả tiếng nói của chính tâm hồn mình.

Trong cuộc sống hiện đại, con người dễ bị cuốn vào guồng quay công việc, công nghệ, xã hội mà quên mất việc dành thời gian để yên tĩnh suy ngẫm, tĩnh tâm. Việc lắng nghe sự thinh lặng không chỉ giúp ta lấy lại cân bằng tinh thần mà còn giúp ta hiểu rõ hơn về bản thân và những giá trị cuộc sống. Sự thinh lặng là nguồn sức mạnh để ta đối diện với khó khăn, là không gian để nuôi dưỡng trí tuệ và lòng nhân ái.

Thực tế, nhiều bậc vĩ nhân, nhà sáng tạo nghệ thuật, nhà tư tưởng đều trân trọng khoảng lặng để sáng tạo và suy nghĩ sâu sắc. Thiên nhiên cũng dạy chúng ta bài học quý giá về sự kiên nhẫn và phát triển bền vững qua sự thinh lặng của cây cối, đất trời. Lắng nghe sự thinh lặng là học cách quan sát, trân trọng những điều nhỏ bé mà bền vững.

Như vậy, trong cuộc sống bộn bề ngày nay, mỗi người cần biết tôn trọng và dành thời gian lắng nghe sự thinh lặng. Đó là con đường dẫn ta đến sự thấu hiểu, cảm thông và yêu thương. Sự thinh lặng không phải là khoảng cách, mà là kết nối sâu sắc với thế giới và chính bản thân mình.


Kết luận:

Lắng nghe sự thinh lặng là nghệ thuật sống, là cách để ta khám phá những giá trị chân thật và trường tồn. Hãy học cách dừng lại, lắng nghe và cảm nhận, để cuộc sống thêm ý nghĩa và sâu sắc hơn.


Câu 2: Nghị luận văn học (12 điểm)

Bàn luận câu nói của A. Camus:
“Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”


Bài làm:

Albert Camus – nhà văn, triết gia lỗi lạc của thế kỷ XX đã đưa ra một quan điểm sâu sắc về người nghệ sĩ và vị trí của họ trong xã hội. Theo ông, người nghệ sĩ không tồn tại tách biệt mà luôn vận động trong mối quan hệ hai chiều: giữa cá nhân với cái đẹp và giữa cá nhân với cộng đồng.

Thứ nhất, cái đẹp không thể bỏ qua là mục tiêu, là lý tưởng mà người nghệ sĩ theo đuổi. Người nghệ sĩ luôn không ngừng tìm kiếm, sáng tạo ra cái đẹp qua tác phẩm của mình – đó có thể là vẻ đẹp thẩm mỹ, vẻ đẹp tư tưởng hay vẻ đẹp nhân văn. Cái đẹp ấy vượt lên trên sự tầm thường, cái đẹp là nguồn cảm hứng và là tiếng nói riêng của người nghệ sĩ, giúp họ khẳng định giá trị và bản sắc cá nhân.

Tuy nhiên, người nghệ sĩ cũng không thể tách rời cộng đồng – nơi họ sinh sống và làm việc. Cộng đồng là nơi cung cấp chất liệu sáng tạo, là đối tượng truyền tải thông điệp, là nguồn cảm hứng và cũng là nơi tác phẩm được đón nhận. Người nghệ sĩ có trách nhiệm phản ánh, phê phán xã hội, góp phần định hướng những giá trị tích cực, đồng thời thấu hiểu, đồng cảm với cuộc sống con người. Nghệ thuật vì thế luôn mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc.

Mối tương quan liên tục giữa cái đẹp và cộng đồng tạo nên một con đường mà người nghệ sĩ phải đi – đó là quãng đường tôi luyện bản thân không ngừng nghỉ. Họ vừa phải giữ vững lý tưởng sáng tạo, vừa phải lắng nghe, giao tiếp và đồng hành với con người và xã hội. Nếu chỉ theo đuổi cái đẹp mà quên cộng đồng, nghệ thuật sẽ trở nên hời hợt, xa rời thực tế; ngược lại, nếu chỉ chú trọng cộng đồng mà thiếu cái đẹp, nghệ thuật sẽ mất đi giá trị thẩm mỹ và chiều sâu nhân văn.

Thực tế trong văn học Việt Nam và thế giới đã có nhiều nghệ sĩ tiêu biểu sống và sáng tạo theo tinh thần này. Họ luôn hướng tới cái đẹp – cái đẹp của sự chân thực, nhân hậu và tự do; đồng thời luôn giữ mối liên hệ mật thiết với đời sống nhân dân, phản ánh những vấn đề xã hội, con người một cách sâu sắc và thuyết phục.

Như vậy, câu nói của A. Camus đã nhấn mạnh sự cân bằng cần thiết trong đời sống nghệ sĩ, giữa cá nhân và xã hội, giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng. Người nghệ sĩ không chỉ là người sáng tạo mà còn là người đồng hành, người truyền cảm hứng và người bảo vệ những giá trị cao đẹp của nhân loại.


Kết luận:

Người nghệ sĩ thực sự là người tôi luyện trong hành trình kết nối giữa chính mình và cộng đồng, giữa cái đẹp không thể bỏ qua và trách nhiệm đối với xã hội. Chỉ khi đó, nghệ thuật mới phát huy được sức mạnh và giá trị đích thực của nó.

I. Đọc hiểu Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:             Hy vọng là một thứ rất tuyệt diệu. Hy vọng cong, xoắn, thỉnh thoảng nó khuất đi nhưng hiếm khi nó tan vỡ… Hy vọng duy trì cuộc sống của chúng ta mà không có gì có thể thay thế được… Hy vọng cho chúng ta có thể tiếp tục, cho chúng ta can đảm để tiến lên phía trước, khi chúng ta tự nhủ là mình sắp bỏ...
Đọc tiếp

I. Đọc hiểu

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

            Hy vọng là một thứ rất tuyệt diệu. Hy vọng cong, xoắn, thỉnh thoảng nó khuất đi nhưng hiếm khi nó tan vỡ… Hy vọng duy trì cuộc sống của chúng ta mà không có gì có thể thay thế được… Hy vọng cho chúng ta có thể tiếp tục, cho chúng ta can đảm để tiến lên phía trước, khi chúng ta tự nhủ là mình sắp bỏ cuộc…

            Hy vọng đặt nụ cười lên gương mặt chúng ta khi mà trái tim không chủ động được điều đó.

            Hy vọng đặt đôi chân chúng ta lên con đường mà mắt chúng ta không nhìn thấy được…

            Hy vọng thúc giục chúng ta hành động khi tinh thần chúng ta không nhận biết được phương hướng nữa… Hy vọng là điều kì diệu, một điều cần được nuôi dưỡng và ấp ủ và đổi lại nó sẽ làm cho chúng ta luôn sống động… Và hi vọng có thể tìm thấy trong mỗi chúng ta, và nó có thể mang ánh sáng vào những nơi tăm tối nhất…

            Đừng bao giờ mất hi vọng!

(Trích Luôn mỉm cười với cuộc sống –

Nhã Nam tuyển chọn, NXB Trẻ, 2011, tr.05)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích. (0.5 điểm)

Câu 2: Theo tác giả, hy vọng có thể tìm thấy ở đâu? (0.5 điểm)

Câu 3: Nêu tác dụng của phép điệp từ “hy vọng” được sử dụng trong đoạn trích. (1.0 điểm)

Câu 4: Anh/chị có đồng tình với quan niệm: Đừng bao giờ đánh mất hi vọng. Vì sao? (1.0 điểm)

8

1, nghị luận

2, Tác dụng: nhấn mạnh thông điệp mà văn bản muốn truyền đạt đó là vai trò của hy vọng đối với đời sống tinh thần của mỗi con người.

3, 

Tác giả cho rằng "hy vọng duy trì cuộc sống của chúng ta mà không có gì có thể thay thế được" bởi vì hy vọng chính là những niềm tin vào những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, là những niềm tin vững chắc vào những điều tuyệt vời sẽ xảy ra. Chính vì vậy, nhờ có hy vọng mà con người dù trong hoàn cảnh tồi tệ và tối tăm nhất vẫn sẽ luôn vững tin và có sức mạnh để tiếp tục nỗ lực và vượt qua được những thử thách chông gai. Nói cách khác, hy vọng chính là nguồn sức mạnh tinh thần của mỗi người trong cuộc sống.

4,

Thông điệp mà em tâm đắc nhất chính là "đừng bao giờ đánh mất hy vọng". Bởi vì hy vọng chính là nguồn sức mạnh giúp mỗi cá nhân vượt qua những thử thách, chông gai và mở ra con đường cho mỗi người định hướng trong tương lai. Nhờ có hy vọng mà con người vẫn tích cực và hạnh phúc sống dù trong hoàn cảnh bế tắc vì còn hy vọng là còn sức mạnh tinh thần để đạt được điều mà mình mong muốn.

1. Đặt vấn đềSử thi "Đăm Săn" là pho sử thi nổi tiếng của người Ê-đê. Đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" là một trong những trích đoạn tiêu biểu kể lại hành trình chinh phục Nữ Thần Mặt Trời của người anh hùng Đăm Săn. Đồng thời, nó còn phản ánh diện mạo đời sống tinh thần, niềm tin cộng đồng người Ê-đê. Thông qua đoạn trích, không gian sinh hoạt của người...
Đọc tiếp

1. Đặt vấn đề

Sử thi "Đăm Săn" là pho sử thi nổi tiếng của người Ê-đê. Đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" là một trong những trích đoạn tiêu biểu kể lại hành trình chinh phục Nữ Thần Mặt Trời của người anh hùng Đăm Săn. Đồng thời, nó còn phản ánh diện mạo đời sống tinh thần, niềm tin cộng đồng người Ê-đê. Thông qua đoạn trích, không gian sinh hoạt của người Ê-đê được hiện lên rõ nét và trở thành một điểm nhấn thú vị, đáng để khám phá.

2. Giải quyết vấn đề

a. Kiến trúc nhà ở của người Ê-đê trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời"

Trước hết, kiến trúc nhà ở của người Ê-đê trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" gắn liền với hình ảnh nhà sàn dài. Nhà sàn dài là kiến trúc độc đáo và đặc biệt của người Ê-đê ở Tây Nguyên. Đặc trưng của nhà dài Tây Nguyên bao gồm: hình thức của thang, cột sàn và cách bố trí vật dụng trên mặt bằng sinh hoạt. Điều này được miêu tả rất rõ trong đoạn trích ở các chi tiết: "Chồm lên hai lần, chàng leo hết cầu thang. Chàng giậm chân trên sàn sân, hai lần sàn sân làm như vỗ cánh, bảy hàng cột nhà chao qua chao lại từ đông sang tây", "cầu thang trông như cái cầu vồng", "tòa nhà dài dằng dặc", "voi vây chặt sàn sân", "các xà ngang xà dọc đều thếp vàng". Hình ảnh nhà sàn dài dằng dặc, cầu thang, xà ngang xuất hiện nhiều lần và được lặp đi lặp lại cho thấy dấu ấn kiến trúc nhà ở đặc trưng của đồng bào người Ê-đê. Tuy kiến trúc nhà ở không được miêu tả một cách tỉ mỉ nhưng những hình ảnh tiêu biểu như vậy cũng đủ để làm đồng hiện nền văn hóa đặc sắc của vùng Tây Nguyên.

b. Sinh hoạt của người Ê-đê trong không gian nhà ở trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời"

Không gian nhà dài chính là nơi cư trú của người dân Ê-đê. Tại đây diễn ra rất nhiều hoạt động gắn liền với văn hóa của người Ê-đê như hội họp, ăn mừng, kể chuyện sử thi, tổ chức nghi lễ thờ cúng thần linh,... Đoạn văn trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" đã miêu tả lại khung cảnh của người dân như sau: "tôi tớ trải dưới một chiếu trắng, trải trên một chiếu đỏ làm chỗ ngồi cho nhà tù trưởng. Rồi họ đem thuốc sợi cả hòm đồng, thuốc lá cả sọt đại, trầu vỏ cả gùi to, không còn sợ thiếu thuốc thiếu trần cho Đăm Săn ăn, hút. Họ đốt một gà mái ấp, giết một gà mái đẻ, giã gạo trắng như hoa êpang, sáng như ánh mặt trời, nấu cơm mời khách. Họ đi lấy rượu, đem một ché tuk da lươn, một ché êbah Mnông, trên vẽ hoa kơ-ụ, dưới lượn hoa văn, tai ché hình mỏ vẹt xâu lỗ. Đó là những cái ché ngã giá phải ba voi. Ai đi lấy nước cứ đi lấy nước, ai đánh chiêng cứ đánh chiêng, ai cắm cần cứ cắm cần. Cần cắm rồi, người ta mời Đăm Săn vào uống.". Các vật dụng xuất hiện trong đoạn văn như: ché tuk, ché êbah, là những đồ vật được làm bằng gốm với hình hoa văn đa dạng, được xem là những đồ vật quý của người Ê-đê. Nó biểu thị cho sự sung túc, giàu có, phải "ngã giá bằng ba voi" mới có được.

Hơn nữa, đoạn văn còn làm nổi bật được hoạt động và tính cách của người dân Ê-đê. Để thiết đãi vị tù trưởng Đăm Săn - vị khách quý của buôn làng, người dân nô nức thi nhau mang ra những món ăn ngon nhất, những loại thuốc quý nhất để thiết đãi: thuốc sợi, thuốc lá, trầu vỏ, gà mái ấp, gà mái đẻ, gạo trắng. Người Ê-đê hiện lên với nét tính cách xởi lởi, hào phóng, nồng hậu. Những hoạt động thiết đãi tù trưởng Đăm Săn cũng chính là những hoạt động của dân làng khi tiếp đón những vị khách quý từ phương xa.

Bên cạnh đó, chi tiết "chiêng xếp đầy nhà ngoài", "cồng chất đầy nhà trong" và "ai đánh chiêng cứ đánh chiêng, ai cắm cần cứ cắm cần" đã phản ánh phong tục đánh cồng chiêng và uống rượu cần của người dân vùng Tây Nguyên. Cồng chiêng không chỉ là nhạc cụ mà nó còn chứa đựng giá trị văn hóa của cộng đồng người Ê-đê. Chính vì vậy, chi tiết Đăm Săn đến nhà Nữ Thần Mặt Trời thấy hình ảnh "chiêng xếp đầy nhà ngoài, cồng xếp đầy nhà trong" biểu thị cho sự quyền lực và giàu có. Người Ê-đê tin rằng: mỗi một chiếc cồng đều ẩn chứa một vị thần cho nên càng nhiều cồng, cồng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao. Ngoài ra, tục uống rượu cần cũng là một nét đẹp văn hóa trong đời sống của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Rượu cần trong đoạn trích chính là phương tiện để gắn kết tình cảm giữa người tù trưởng Đăm Săn và Đăm Par Kvây. Rượu không chỉ đóng vai trò trong các buổi thực hành nghi lễ để cầu xin đấng thần linh mà nó còn thể hiện đầy đủ tinh thần tập thể của cộng đồng, lòng mến khách của chủ nhà.

Có thể nói, những vật dụng trong căn nhà của người Ê-đê không chỉ gắn liền với hoạt động sống mà còn phản ánh được tính cách, sự giàu có, phồn vinh của cả một cộng đồng.

3. Kết luận

Đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" là đoạn trích quan trọng của sử thi "Đăm Săn". Đoạn trích không chỉ khắc họa vẻ đẹp phi thường, khát vọng mãnh liệt của người anh hùng Đăm Săn mà qua đó, chúng ta còn thấy được những nét đẹp văn hóa, đặc biệt là không gian sinh hoạt của người Ê-đê ở Tây Nguyên. Sử thi "Đăm Săn" cho thấy kiến trúc nhà dài, vật dụng gắn liền với sinh hoạt và lối sống, tính cách của đồng bào người Ê-đê. Các giá trị vật chất, tinh thần của người Ê-đê trong thời đại mới cần phải được bảo tồn và phát huy hơn nữa.

1
30 tháng 11 2025

Tài liệu tham khảo này tu đâu


I. ĐỌC HIỂU Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:             Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời của mình....
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

            Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời của mình. Ba mẹ yêu thương con không phải vì con mà vì con là con của ba mẹ, bởi vậy kể cả khi con trở thành một người xấu, một kẻ dối trá hay thậm chí trộm cắp, thì tình yêu của ba mẹ dành cho con vẫn không thay đổi. Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”

            Đó chính là lí do đầu tiên để tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương. Thậm chí, tôi chỉ cần một lí do đó mà thôi.

            Kinh Talmud viết: “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” Bởi thế, hiển nhiên là tôi cũng sẽ nói với con tôi những lời ba tôi đã nói.

            […] Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.

(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn – Phạm Lữ Ân)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.

Câu 2: Vì sao nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương.

Câu 3: Theo em, việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa gì?

Câu 4: Em rút ra được thông điệp gì từ những câu văn sau: “Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.”?

12
14 tháng 5 2021

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.

Câu 2: Lí do để nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương đó là lời nói của ba: Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”

Câu 3: Việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa:

- Khi chúng ta dạy cho con cái mình những điều tốt đẹp, chúng sẽ mang những điều tốt đẹp đó để cư xử với tất cả mọi người xung quanh và dạy dỗ thế hệ sau.

- Những điều tốt đẹp ấy sẽ lan tỏa, có sức ảnh hưởng tích cực đến muôn đời sau.

- Làm tăng ý nghĩa, tính triết lí cho văn bản.

- Làm tăng sức thuyết phục, tin cậy cho nội dung mà tác giả muốn gửi gắm.

Câu 4:

- Trong cuộc đời mỗi người luôn có nhiều người thầy nhưng cha mẹ luôn là người thầy đầu tiên của con.

- Mỗi chúng ta sẽ cảm thấy ấm áp và hạnh phúc vô cùng khi được học những điều bình dị từ chính người cha yêu quý của mình. Cha luôn là người dành cả tình yêu thương và tấm lòng bao la của tình phụ tử thiêng liêng để chỉ bảo ta trên đường đời.

- Bài học từ người thầy đầu tiên ấy là điều vô cùng quý giá, sẽ để lại dấu ấn sâu sắc và gợi nhiều kỉ niệm để nhớ về trên chặng đường sau này.

14 tháng 5 2021

ko biet

Câu 1:

Từ thuở xa xưa thanh niên Việt Nam đã ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình đối với đất nước. Trong thời chiến họ luôn là lực lượng tiên phong trong các phong trào đánh giặc cứu nước, luôn là lực lượng nòng cốt của cách mạng, xả thân vì tổ quốc mà không tiếc thời tuổi trẻ. Vậy chúng ta những thanh niên may mắn được sinh ra trong thời bình, chúng là phải có trách nhiệm như thế nào để gìn giữ và bảo vệ tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng đã được đổi bằng xương máu của biết bao thế hệ đi trước, phải làm gì để xứng đáng hưởng được những thành quả ngày hôm nay. Mỗi chúng ta phải xác định cho mình một lí tưởng sống cao đẹp, phải có ước mơ và hoạch định ra cho mình một kế hoạch cụ thể, phải rèn đức luyện tài, phải hiểu được vai trò đất nước đối với chúng ta, có như vậy chúng ta mới xác định được đúng đắn nhiệm vụ của mình đối với đất nước. Chúng ta ra sức học tập cũng là đang thực hiện nhiệm của của mình với đất nước, nó không phải là một cái gì đó sâu xa như các bạn nghĩ nó chỉ đơn giản là làm tốt bổn phận của mình để phấn đấu trở thành một công dân tốt góp phần xây dựng một đất nước giàu đẹp vững mạnh. Như vậy trách nhiệm của thanh niên ở thời chiến hay thời bình đều do ý thức mỗi con người tuy nhiên nó lại được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau.

Câu 2:

Bàn về kết thúc đoạn trích "Vợ chồng A Phủ"

– Ý kiến thứ nhất: hành động cắt nút dây mây cởi trói cứu A Phủ rồi chạy theo A Phủ của nhân vật Mị thật bất ngờ, đột ngột, không thể dự đoán trước: Đánh giá kết thúc của truyện Vợ chồng A Phủ là bất ngờ với mạch truyện, tâm trạng nhân vật Mị và cả người đọc.

– Ý kiến thứ hai: Đó là là một kết thúc tự nhiên, tất yếu:  ý kiến này nhìn nhận, đánh giá kết thúc của tác phẩm trong mối quan hệ với lô gíc diễn biến tâm trạng nhân vật Mị và mạch vận động tất yếu của đời sống con người: khi bị dồn đẩy đến bước đường cùng, con người sẽ vùng lên tìm ánh sáng cho mình.

Bình luận các ý kiến:

 Cả hai ý kiến đều đúng, không đối lập mà bổ sung cho nhau, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tài năng kể chuyện, miêu tả nội tâm nhân vật của nhà văn Tô Hoài. Đồng thời, ta càng trân trọng hơn .tấm lòng yêu thương, đồng cảm của tác giả đối với người dân nơi đây.

12 tháng 12 2021

-

I. ĐỌC HIỂUĐọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:            Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời của mình. Ba...
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

            Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời của mình. Ba mẹ yêu thương con không phải vì con mà vì con là con của ba mẹ, bởi vậy kể cả khi con trở thành một người xấu, một kẻ dối trá hay thậm chí trộm cắp, thì tình yêu của ba mẹ dành cho con vẫn không thay đổi. Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”

            Đó chính là lí do đầu tiên để tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương. Thậm chí, tôi chỉ cần một lí do đó mà thôi.

            Kinh Talmud viết: “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” Bởi thế, hiển nhiên là tôi cũng sẽ nói với con tôi những lời ba tôi đã nói.

            […] Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.

(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn – Phạm Lữ Ân)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.

Câu 2: Vì sao nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương.

Câu 3: Theo em, việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa gì?

Câu 4: Em rút ra được thông điệp gì từ những câu văn sau: “Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình

2
21 tháng 7 2021

đọc

nha

21 tháng 5 2025

Dưới đây là gợi ý trả lời cho các câu hỏi đọc hiểu dựa trên đoạn trích từ tác phẩm Nếu biết trăm năm là hữu hạn của Phạm Lữ Ân:


Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.

  • Phương thức biểu đạt chính: Tự sự kết hợp với nghị luận.
  • Đoạn trích kể lại câu chuyện về lời dạy của ba dành cho nhân vật "tôi" (tự sự), đồng thời thể hiện quan điểm, suy nghĩ về giá trị của sự chính trực và tình yêu thương (nghị luận).

Câu 2: Vì sao nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương?

  • Nhân vật "tôi" muốn trở thành người chính trực và biết yêu thương vì ba mẹ đã dạy rằng dù con có sai lầm, ba mẹ vẫn yêu thương con vô điều kiện.
  • Nhưng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành người chính trực và biết yêu thương.
  • Lời dạy đó là động lực và lí do duy nhất để nhân vật "tôi" quyết tâm trở thành người như vậy.

Câu 3: Theo em, việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa gì?

  • Câu trích nhấn mạnh tính liên tục của việc giáo dục và truyền lại giá trị đạo đức qua các thế hệ.
  • Việc dạy con không chỉ ảnh hưởng đến con cái mà còn ảnh hưởng đến cả các thế hệ tiếp theo (cháu chắt).
  • Điều này thể hiện trách nhiệm và tầm quan trọng của việc giáo dục con cái trong gia đình.

Câu 4: Em rút ra được thông điệp gì từ những câu văn sau:

“Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.”

  • Thông điệp:
    • Sự học hỏi từ người thân, đặc biệt là từ cha mẹ, có ý nghĩa sâu sắc và đặc biệt hơn so với việc học từ người khác.
    • Những bài học đời thường, kỹ năng sống khi được truyền đạt từ người thân yêu mang giá trị tinh thần và tình cảm lớn lao.
    • Mối quan hệ gắn bó, sự tin tưởng và tình cảm gia đình làm cho việc học trở nên ý nghĩa và đáng trân trọng hơn.

Nếu bạn cần mình giải thích thêm hoặc hỗ trợ làm bài tập khác, cứ hỏi nhé!



Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: Ngày mai con hãy yên lòng đến những miền xa Có thể còn những điều con quên Nhưng có điều này con phải nhớ Rằng biển quê mình Dẫu còn lắm phong ba bão tố Bao đợt sóng chồm lên như hổ dữ Những cơn bão có tên và không tên Nhưng như phép mầu của đức tin Người dân nơi xóm chài mỗi sớm mặt...
Đọc tiếp

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

Ngày mai con hãy yên lòng đến những miền xa

Có thể còn những điều con quên

Nhưng có điều này con phải nhớ

Rằng biển quê mình

Dẫu còn lắm phong ba bão tố

Bao đợt sóng chồm lên như hổ dữ

Những cơn bão có tên và không tên

Nhưng như phép mầu của đức tin

Người dân nơi xóm chài mỗi sớm mặt trời lên

Vẫn hiên ngang ngẩng mặt chào biển rộng

Đất quê cằn, nhọc nhằn gió cát

Phải bắt đầu từ biển, đi lên từ biển

Ông cha nghìn đời

Bắp tay cuộn dưới mặt trời

Da nhuộm hồng nước biển

Lẽ nào cháu con quên lưới vây, lưới cản

Lẽ nào bỏ nghề đi lộng đi khơi

Bão giông là việc của Trời

Nén tiếng khóc, dằn lòng sau bão

Vững bước lên thuyền mặt biển chiều hôm

Lạy trời cho cả gió nồm

Ghe ra biển lớn mươi hôm ghe về

(Trích Vọng Hải Đài, Bùi Công Minh, baodanang.vn,

Chủ nhật, 22/04/2021,21:27{GMT+7})

Câu 1: Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2: Chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng trong dòng thơ:

Bao đợt sóng chồm lên như hổ dữ

Câu 3: Những dòng thơ sau giúp anh/chị hiểu gì về hình ảnh con người trước biển?

Bão giông là việc của Trời

            Nén tiếng khóc, dằn lòng sau bão

                           Vững bước lên thuyền mặt biển chiều hôm

Câu 4: Anh/chị hãy nhận xét tình cảm của tác giả đối với biển cả quê hương được thể hiện trong đoạn trích?

23

câu 1: Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do

Câu 2: Biện pháp nghệ thuật là so sánh

Câu 3: Những câu thơ trên miêu tả rõ hình ảnh con người trước biển: dù bão dông, thiên nhiên khắc nghiệt như nào thì con người vẫn luôn lạc quan hướng về phía trước, con người vẫn bình thản, chịu đựng những đau thương, khó khăn thử thách 

Câu 4: tình yêu quê hương biển cả được tác giả thể hiện qua đoạn trích: tác giả đã dành tình yêu tha thiết với que hương mình, dù có bão giông, gió lốc thì biển vẫn là nơi tìm về của những đứa con làng chài. Biển còn là nơi ông cha ta làm lên tất cả vì vậy tình yêu biển vả còn là sự biết ơn, chân trọng quá khứ.

17 tháng 5 2021

Câu 1 : Đoạn trính trên được viết theo thể thơ : Tự do

Câu 2: Biện pháp tu từ được sử dụng : So sánh

Câu3 : 

- Hình tượng biển ( thiên nhiên ) dù bão giông,khắc nghiệt thì những con người lao động không vì thế mà sợ hãi - đó là cách con người làm chủ được thiên nhiên,coi đó chỉ như một thử thách,một lẽ thường tình của mẹ thiên nhiên,họ vẫn bình thản,bản lĩnh,kiên cường trước những đau thương mà thiiên nhiên gây ra.

- Người lao động Việt Nam mạnh mẽ,cần cù,luôn lạc quan,kiên cường vượt qua khó khăn vững bước trên mặt biển

Câu 4 : 

 Qua đoạn trích,có thể thấy được rõ nét nhất 2 thứ : Tình cảm sâu nặng mà tác giả dành cho  biển cả quê hương và sư trân trọng công lao của ông cha ta trong quá khứ.Tình cảm của tác giả dành cho biển cả quê hương rất sâu sắc,dẫu có khắc nghiệt, khó khăn nhưng biển vẫn là nơi nuôi sống những con người Việt Nam,là nhà,là nơi ta tìm về.Đặc biệt,tình yêu không chỉ thể hiện qua sự trân trọng quá khứ, biết ơn công lao cha ông ta,phát huy lại truyền thống dân tộc,tao nên sức mạnh đoàn kết giữa người với người

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: Đá san hô kê lên thành sân khấu Vài tấm tôn chôn mấy cánh gà Em đừng trách bọn chúng anh tạm bợ Chẳng phông màn nào chịu nổi gió Trường Sa   Gió rát mặt, đảo luôn thay hình dạng Đá củ đậu bay như lũ chim hoang Cứ mặc nó! Nào hỡi các chiến hữu Ta bắt đầu thôi. Mây nước đã mở...
Đọc tiếp

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

Đá san hô kê lên thành sân khấu

Vài tấm tôn chôn mấy cánh gà

Em đừng trách bọn chúng anh tạm bợ

Chẳng phông màn nào chịu nổi gió Trường Sa

 

Gió rát mặt, đảo luôn thay hình dạng

Đá củ đậu bay như lũ chim hoang

Cứ mặc nó! Nào hỡi các chiến hữu

Ta bắt đầu thôi. Mây nước đã mở màn…

 

Sân khấu lô nhô mấy chàng đầu trọc

Người xem ngổn ngang cũng… rặt lính trọc đầu

Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc

Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau

 

[…] Nào hát lên cho đêm tối biết

Rằng tình yêu sáng trong ngực ta đây

Ta đứng vững trên đảo xa sóng gió

Tổ quốc Việt Nam bắt đầu ở nơi này.

 

(Trích Lính đảo hát tình ca trên đảo, Trần Đăng Khoa,

Bên cửa sổ máy bay, NXB Tác phẩm mới, 1985)

Câu 1: Đoạn  trích trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2: Chỉ ra hai hình ảnh trong đoạn trích diễn tả sự khắc nghiệt của thiên nhiên nơi biển đảo.

Câu 3: Những dòng thơ sau giúp anh/chị hiểu gì về cuộc sống của người lính nơi đảo xa?

Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc

 Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau.

Câu 4: Anh/chị hãy nhận xét về tình cảm của tác giả đối với người lính đảo trong đoạn trích.

49
14 tháng 5 2021

1

Thể thơ: tự do

2

Hai hình ảnh nói đến sự khắc nghiệt của thiên nhiên nơi biển đảo:

- Gió rát mặt, Đá củ đậu bay, Nước ngọt hiếm…

(Thí sinh chỉ ra đúng 2 hình ảnh được 0.5 điểm).

3

Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc

  Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau.

Hai dòng thơ trên cho thấy cuộc sống của người lính nơi đảo xa:

- Đó là cuộc sống vô cùng khó khăn, gian khổ, mà người lính thường xuyên phải đối diện (gió bão, thiếu thốn…)

- Tuy nhiên những người lính vẫn lạc quan, yêu đời.

4

- Tác giả thể hiện sự đồng cảm, chia sẻ với cuộc sống của những người lính đảo.

- Đồng thời cho thấy sự trân trọng những phẩm chất đáng quý: tinh thần lạc quan, ý chí nghị lực phi thường và tình yêu tổ quốc.

-> Nhận xét về tình cảm:

- Đây là những tình cảm chân thành, thể hiện trái tim yêu thương tinh tế, sâu sắc của tác giả.

- Tình cảm của tác giả cũng là đại diện cho tất cả những người dân Việt Nam dành tình yêu thương, sự cảm phục gửi đến những người lính nơi đảo xa.

Câu 1 :thể thơ tự do

Câu 2: Những hình ảnh thể hiện cho sự gian khó ở Trường Sa: đá san hô kê lên thành sân khấu, vài tấm tôn chôn mấy cánh gà, gió rát mặt, đảo thay hình dáng, sỏi cát bay như lũ chim hoang.

Câu 3:

Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc

  Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau.

Hai dòng thơ trên cho thấy cuộc sống của người lính nơi đảo xa:

- Đó là cuộc sống vô cùng khó khăn, gian khổ, mà người lính thường xuyên phải đối diện (gió bão, thiếu thốn…)

- Tuy nhiên những người lính vẫn lạc quan, yêu đời.

Câu 4 :Đoạn thơ trích trong bài "Lính đảo hát tình ca trên đảo" của tác giả Trần Đăng Khoa đã khẳng định được tinh thần lạc quan, tươi trẻ của những người lính hải đảo nơi Trường Sa khắc nghiệt cùng tinh thần yêu nước, hướng về tổ quốc của họ. Thật vậy, hình ảnh những người lính hải đảo hiện lên với tầm vóc vĩ đại và tình yêu bất biến dành cho tổ quốc. Đầu tiên, họ là những người lính bất chấp những khó khăn gian khổ để hoàn thành tốt công việc. Điều kiện ở Trường Sa vô cùng khó khăn và khắc nghiệt: gió rát mặt, đảo thay đổi hình dạng, sỏi cát bay như lũ chim hoang. Ở nơi biển đảo hẻo lánh ấy, những người lính hải quân vẫn hiên ngang và cất lên bài hát của tuổi trẻ. Không những có phẩm chất kiên cường mà ta còn thấy được tinh thần tươi trẻ và yêu đời của những người lính ấy. Thứ hai, họ là những người lính khát khao cống hiến cho tổ quốc. Tình yêu của họ được gửi gắm vào lời hát và tiếng lòng của trái tim "Nào hát lên". Tình yêu ấy là động lực để họ "đứng vững" trước những khó khăn và họ còn muốn hát lên cho trời đất, mây nước biết. Tổ quốc đối với những người lính trẻ là thiêng liêng và vĩnh hằng biết nhường nào. Tóm lại, đoạn thơ cho ta thấy được phong thái yêu đời cùng tình yêu tổ quốc của những người lính hải đảo ấy.

Câu 1 (trang 53 sgk Tiếng Việt 4) :
Tìm danh từ chỉ khái niệm trong số các danh từ được in đậm dưới đây.

Một điểm nổi bật trong đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh là lòng thương người... Chính vì thấy nước mất, nhà tan... mà Người đã ra đi học tập kinh nghiệm của cách mạng thế giới để về giúp đồng bào.

Theo TRƯỜNG CHINH

Trả lời:
Danh từ chỉ khái niệm trong đoạn văn đã cho là: điểm, đạo đức, kinh nghiệm, cách mạng.

9 tháng 10 2021

nhanh