Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
- Tự vấn bản thân: Trong những khoảnh khắc yên tĩnh, con người có cơ hội nhìn lại hành động, suy nghĩ, sai lầm và cả những ước mơ của mình. Sự thinh lặng giúp ta trung thực hơn với chính mình.
- Thấu hiểu thế giới xung quanh: Như cái cây của Lovelock, vạn vật trong tự nhiên vận hành trong sự thinh lặng tuyệt đối. Lắng nghe sự thinh lặng giúp ta cảm nhận được nhịp đập của sự sống, sự biến đổi tinh tế của thiên nhiên mà những âm thanh huyên náo thường che lấp.
- Tăng cường sự tập trung và sáng tạo: Khi không bị phân tán bởi tiếng ồn, trí óc con người hoạt động hiệu quả hơn, ý tưởng mới mẻ dễ dàng nảy sinh.
- Văn học hiện thực phê phán: Các nhà văn như Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Ngô Tất Tố (Tắt đèn) đã sử dụng ngòi bút sắc bén để phơi bày những thói hư tật xấu, sự bất công của xã hội, nhằm thức tỉnh cộng đồng. Cái đẹp trong tác phẩm của họ là cái đẹp của sự thật trần trụi, có sức lay động mạnh mẽ.
- Văn học cách mạng: Các nhà thơ như Tố Hữu (Việt Bắc) đã gắn thơ ca với sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Thơ của ông vừa giàu tính trữ tình, vừa mang tính chính trị sâu sắc, là tiếng nói chung của cộng đồng trong công cuộc giải phóng dân tộc.
Câu 1: Nghị luận xã hội (8 điểm)
Chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng
Bài làm:
Con người thường bị cuốn vào những ồn ào, náo nhiệt của cuộc sống, đến mức quên mất rằng sự thinh lặng cũng có thể nói lên rất nhiều điều quan trọng. Trong đoạn văn của James Lovelock, Trái Đất được ví như một cái cây lặng lẽ tồn tại và phát triển một cách âm thầm. Điều đó khiến ta nhận ra: có những thay đổi lớn lao, những câu chuyện sâu sắc không cần lời nói vẫn đang diễn ra ngay bên cạnh chúng ta, trong sự yên tĩnh và tĩnh lặng.
Lắng nghe sự thinh lặng chính là một cách để ta thấu hiểu, cảm nhận sâu sắc hơn về thế giới xung quanh. Sự thinh lặng không phải là khoảng trống, không phải là sự vắng mặt của âm thanh, mà là một trạng thái tích cực, chứa đựng sự sống động và những thông điệp mà tiếng ồn không thể mang lại. Khi ta biết dừng lại, lắng nghe thinh lặng, ta sẽ nhận ra những vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, sự biến đổi của cuộc sống và cả tiếng nói của chính tâm hồn mình.
Trong cuộc sống hiện đại, con người dễ bị cuốn vào guồng quay công việc, công nghệ, xã hội mà quên mất việc dành thời gian để yên tĩnh suy ngẫm, tĩnh tâm. Việc lắng nghe sự thinh lặng không chỉ giúp ta lấy lại cân bằng tinh thần mà còn giúp ta hiểu rõ hơn về bản thân và những giá trị cuộc sống. Sự thinh lặng là nguồn sức mạnh để ta đối diện với khó khăn, là không gian để nuôi dưỡng trí tuệ và lòng nhân ái.
Thực tế, nhiều bậc vĩ nhân, nhà sáng tạo nghệ thuật, nhà tư tưởng đều trân trọng khoảng lặng để sáng tạo và suy nghĩ sâu sắc. Thiên nhiên cũng dạy chúng ta bài học quý giá về sự kiên nhẫn và phát triển bền vững qua sự thinh lặng của cây cối, đất trời. Lắng nghe sự thinh lặng là học cách quan sát, trân trọng những điều nhỏ bé mà bền vững.
Như vậy, trong cuộc sống bộn bề ngày nay, mỗi người cần biết tôn trọng và dành thời gian lắng nghe sự thinh lặng. Đó là con đường dẫn ta đến sự thấu hiểu, cảm thông và yêu thương. Sự thinh lặng không phải là khoảng cách, mà là kết nối sâu sắc với thế giới và chính bản thân mình.
Kết luận:
Lắng nghe sự thinh lặng là nghệ thuật sống, là cách để ta khám phá những giá trị chân thật và trường tồn. Hãy học cách dừng lại, lắng nghe và cảm nhận, để cuộc sống thêm ý nghĩa và sâu sắc hơn.
Câu 2: Nghị luận văn học (12 điểm)
Bàn luận câu nói của A. Camus:
“Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”
Bài làm:
Albert Camus – nhà văn, triết gia lỗi lạc của thế kỷ XX đã đưa ra một quan điểm sâu sắc về người nghệ sĩ và vị trí của họ trong xã hội. Theo ông, người nghệ sĩ không tồn tại tách biệt mà luôn vận động trong mối quan hệ hai chiều: giữa cá nhân với cái đẹp và giữa cá nhân với cộng đồng.
Thứ nhất, cái đẹp không thể bỏ qua là mục tiêu, là lý tưởng mà người nghệ sĩ theo đuổi. Người nghệ sĩ luôn không ngừng tìm kiếm, sáng tạo ra cái đẹp qua tác phẩm của mình – đó có thể là vẻ đẹp thẩm mỹ, vẻ đẹp tư tưởng hay vẻ đẹp nhân văn. Cái đẹp ấy vượt lên trên sự tầm thường, cái đẹp là nguồn cảm hứng và là tiếng nói riêng của người nghệ sĩ, giúp họ khẳng định giá trị và bản sắc cá nhân.
Tuy nhiên, người nghệ sĩ cũng không thể tách rời cộng đồng – nơi họ sinh sống và làm việc. Cộng đồng là nơi cung cấp chất liệu sáng tạo, là đối tượng truyền tải thông điệp, là nguồn cảm hứng và cũng là nơi tác phẩm được đón nhận. Người nghệ sĩ có trách nhiệm phản ánh, phê phán xã hội, góp phần định hướng những giá trị tích cực, đồng thời thấu hiểu, đồng cảm với cuộc sống con người. Nghệ thuật vì thế luôn mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc.
Mối tương quan liên tục giữa cái đẹp và cộng đồng tạo nên một con đường mà người nghệ sĩ phải đi – đó là quãng đường tôi luyện bản thân không ngừng nghỉ. Họ vừa phải giữ vững lý tưởng sáng tạo, vừa phải lắng nghe, giao tiếp và đồng hành với con người và xã hội. Nếu chỉ theo đuổi cái đẹp mà quên cộng đồng, nghệ thuật sẽ trở nên hời hợt, xa rời thực tế; ngược lại, nếu chỉ chú trọng cộng đồng mà thiếu cái đẹp, nghệ thuật sẽ mất đi giá trị thẩm mỹ và chiều sâu nhân văn.
Thực tế trong văn học Việt Nam và thế giới đã có nhiều nghệ sĩ tiêu biểu sống và sáng tạo theo tinh thần này. Họ luôn hướng tới cái đẹp – cái đẹp của sự chân thực, nhân hậu và tự do; đồng thời luôn giữ mối liên hệ mật thiết với đời sống nhân dân, phản ánh những vấn đề xã hội, con người một cách sâu sắc và thuyết phục.
Như vậy, câu nói của A. Camus đã nhấn mạnh sự cân bằng cần thiết trong đời sống nghệ sĩ, giữa cá nhân và xã hội, giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng. Người nghệ sĩ không chỉ là người sáng tạo mà còn là người đồng hành, người truyền cảm hứng và người bảo vệ những giá trị cao đẹp của nhân loại.
Kết luận:
Người nghệ sĩ thực sự là người tôi luyện trong hành trình kết nối giữa chính mình và cộng đồng, giữa cái đẹp không thể bỏ qua và trách nhiệm đối với xã hội. Chỉ khi đó, nghệ thuật mới phát huy được sức mạnh và giá trị đích thực của nó.
1, nghị luận
2, Tác dụng: nhấn mạnh thông điệp mà văn bản muốn truyền đạt đó là vai trò của hy vọng đối với đời sống tinh thần của mỗi con người.
3,
Tác giả cho rằng "hy vọng duy trì cuộc sống của chúng ta mà không có gì có thể thay thế được" bởi vì hy vọng chính là những niềm tin vào những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, là những niềm tin vững chắc vào những điều tuyệt vời sẽ xảy ra. Chính vì vậy, nhờ có hy vọng mà con người dù trong hoàn cảnh tồi tệ và tối tăm nhất vẫn sẽ luôn vững tin và có sức mạnh để tiếp tục nỗ lực và vượt qua được những thử thách chông gai. Nói cách khác, hy vọng chính là nguồn sức mạnh tinh thần của mỗi người trong cuộc sống.
4,
Thông điệp mà em tâm đắc nhất chính là "đừng bao giờ đánh mất hy vọng". Bởi vì hy vọng chính là nguồn sức mạnh giúp mỗi cá nhân vượt qua những thử thách, chông gai và mở ra con đường cho mỗi người định hướng trong tương lai. Nhờ có hy vọng mà con người vẫn tích cực và hạnh phúc sống dù trong hoàn cảnh bế tắc vì còn hy vọng là còn sức mạnh tinh thần để đạt được điều mà mình mong muốn.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.
Câu 2: Lí do để nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương đó là lời nói của ba: Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”
Câu 3: Việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa:
- Khi chúng ta dạy cho con cái mình những điều tốt đẹp, chúng sẽ mang những điều tốt đẹp đó để cư xử với tất cả mọi người xung quanh và dạy dỗ thế hệ sau.
- Những điều tốt đẹp ấy sẽ lan tỏa, có sức ảnh hưởng tích cực đến muôn đời sau.
- Làm tăng ý nghĩa, tính triết lí cho văn bản.
- Làm tăng sức thuyết phục, tin cậy cho nội dung mà tác giả muốn gửi gắm.
Câu 4:
- Trong cuộc đời mỗi người luôn có nhiều người thầy nhưng cha mẹ luôn là người thầy đầu tiên của con.
- Mỗi chúng ta sẽ cảm thấy ấm áp và hạnh phúc vô cùng khi được học những điều bình dị từ chính người cha yêu quý của mình. Cha luôn là người dành cả tình yêu thương và tấm lòng bao la của tình phụ tử thiêng liêng để chỉ bảo ta trên đường đời.
- Bài học từ người thầy đầu tiên ấy là điều vô cùng quý giá, sẽ để lại dấu ấn sâu sắc và gợi nhiều kỉ niệm để nhớ về trên chặng đường sau này.
Câu 1:
Từ thuở xa xưa thanh niên Việt Nam đã ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình đối với đất nước. Trong thời chiến họ luôn là lực lượng tiên phong trong các phong trào đánh giặc cứu nước, luôn là lực lượng nòng cốt của cách mạng, xả thân vì tổ quốc mà không tiếc thời tuổi trẻ. Vậy chúng ta những thanh niên may mắn được sinh ra trong thời bình, chúng là phải có trách nhiệm như thế nào để gìn giữ và bảo vệ tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng đã được đổi bằng xương máu của biết bao thế hệ đi trước, phải làm gì để xứng đáng hưởng được những thành quả ngày hôm nay. Mỗi chúng ta phải xác định cho mình một lí tưởng sống cao đẹp, phải có ước mơ và hoạch định ra cho mình một kế hoạch cụ thể, phải rèn đức luyện tài, phải hiểu được vai trò đất nước đối với chúng ta, có như vậy chúng ta mới xác định được đúng đắn nhiệm vụ của mình đối với đất nước. Chúng ta ra sức học tập cũng là đang thực hiện nhiệm của của mình với đất nước, nó không phải là một cái gì đó sâu xa như các bạn nghĩ nó chỉ đơn giản là làm tốt bổn phận của mình để phấn đấu trở thành một công dân tốt góp phần xây dựng một đất nước giàu đẹp vững mạnh. Như vậy trách nhiệm của thanh niên ở thời chiến hay thời bình đều do ý thức mỗi con người tuy nhiên nó lại được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau.
Câu 2:
Bàn về kết thúc đoạn trích "Vợ chồng A Phủ"
– Ý kiến thứ nhất: hành động cắt nút dây mây cởi trói cứu A Phủ rồi chạy theo A Phủ của nhân vật Mị thật bất ngờ, đột ngột, không thể dự đoán trước: Đánh giá kết thúc của truyện Vợ chồng A Phủ là bất ngờ với mạch truyện, tâm trạng nhân vật Mị và cả người đọc.
– Ý kiến thứ hai: Đó là là một kết thúc tự nhiên, tất yếu: ý kiến này nhìn nhận, đánh giá kết thúc của tác phẩm trong mối quan hệ với lô gíc diễn biến tâm trạng nhân vật Mị và mạch vận động tất yếu của đời sống con người: khi bị dồn đẩy đến bước đường cùng, con người sẽ vùng lên tìm ánh sáng cho mình.
Bình luận các ý kiến:
Cả hai ý kiến đều đúng, không đối lập mà bổ sung cho nhau, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tài năng kể chuyện, miêu tả nội tâm nhân vật của nhà văn Tô Hoài. Đồng thời, ta càng trân trọng hơn .tấm lòng yêu thương, đồng cảm của tác giả đối với người dân nơi đây.
Dưới đây là gợi ý trả lời cho các câu hỏi đọc hiểu dựa trên đoạn trích từ tác phẩm Nếu biết trăm năm là hữu hạn của Phạm Lữ Ân:
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
- Phương thức biểu đạt chính: Tự sự kết hợp với nghị luận.
- Đoạn trích kể lại câu chuyện về lời dạy của ba dành cho nhân vật "tôi" (tự sự), đồng thời thể hiện quan điểm, suy nghĩ về giá trị của sự chính trực và tình yêu thương (nghị luận).
Câu 2: Vì sao nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương?
- Nhân vật "tôi" muốn trở thành người chính trực và biết yêu thương vì ba mẹ đã dạy rằng dù con có sai lầm, ba mẹ vẫn yêu thương con vô điều kiện.
- Nhưng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành người chính trực và biết yêu thương.
- Lời dạy đó là động lực và lí do duy nhất để nhân vật "tôi" quyết tâm trở thành người như vậy.
Câu 3: Theo em, việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa gì?
- Câu trích nhấn mạnh tính liên tục của việc giáo dục và truyền lại giá trị đạo đức qua các thế hệ.
- Việc dạy con không chỉ ảnh hưởng đến con cái mà còn ảnh hưởng đến cả các thế hệ tiếp theo (cháu chắt).
- Điều này thể hiện trách nhiệm và tầm quan trọng của việc giáo dục con cái trong gia đình.
Câu 4: Em rút ra được thông điệp gì từ những câu văn sau:
“Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.”
- Thông điệp:
- Sự học hỏi từ người thân, đặc biệt là từ cha mẹ, có ý nghĩa sâu sắc và đặc biệt hơn so với việc học từ người khác.
- Những bài học đời thường, kỹ năng sống khi được truyền đạt từ người thân yêu mang giá trị tinh thần và tình cảm lớn lao.
- Mối quan hệ gắn bó, sự tin tưởng và tình cảm gia đình làm cho việc học trở nên ý nghĩa và đáng trân trọng hơn.
Nếu bạn cần mình giải thích thêm hoặc hỗ trợ làm bài tập khác, cứ hỏi nhé!
câu 1: Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do
Câu 2: Biện pháp nghệ thuật là so sánh
Câu 3: Những câu thơ trên miêu tả rõ hình ảnh con người trước biển: dù bão dông, thiên nhiên khắc nghiệt như nào thì con người vẫn luôn lạc quan hướng về phía trước, con người vẫn bình thản, chịu đựng những đau thương, khó khăn thử thách
Câu 4: tình yêu quê hương biển cả được tác giả thể hiện qua đoạn trích: tác giả đã dành tình yêu tha thiết với que hương mình, dù có bão giông, gió lốc thì biển vẫn là nơi tìm về của những đứa con làng chài. Biển còn là nơi ông cha ta làm lên tất cả vì vậy tình yêu biển vả còn là sự biết ơn, chân trọng quá khứ.
Câu 1 : Đoạn trính trên được viết theo thể thơ : Tự do
Câu 2: Biện pháp tu từ được sử dụng : So sánh
Câu3 :
- Hình tượng biển ( thiên nhiên ) dù bão giông,khắc nghiệt thì những con người lao động không vì thế mà sợ hãi - đó là cách con người làm chủ được thiên nhiên,coi đó chỉ như một thử thách,một lẽ thường tình của mẹ thiên nhiên,họ vẫn bình thản,bản lĩnh,kiên cường trước những đau thương mà thiiên nhiên gây ra.
- Người lao động Việt Nam mạnh mẽ,cần cù,luôn lạc quan,kiên cường vượt qua khó khăn vững bước trên mặt biển
Câu 4 :
Qua đoạn trích,có thể thấy được rõ nét nhất 2 thứ : Tình cảm sâu nặng mà tác giả dành cho biển cả quê hương và sư trân trọng công lao của ông cha ta trong quá khứ.Tình cảm của tác giả dành cho biển cả quê hương rất sâu sắc,dẫu có khắc nghiệt, khó khăn nhưng biển vẫn là nơi nuôi sống những con người Việt Nam,là nhà,là nơi ta tìm về.Đặc biệt,tình yêu không chỉ thể hiện qua sự trân trọng quá khứ, biết ơn công lao cha ông ta,phát huy lại truyền thống dân tộc,tao nên sức mạnh đoàn kết giữa người với người
1 | Thể thơ: tự do |
2 | Hai hình ảnh nói đến sự khắc nghiệt của thiên nhiên nơi biển đảo: - Gió rát mặt, Đá củ đậu bay, Nước ngọt hiếm… (Thí sinh chỉ ra đúng 2 hình ảnh được 0.5 điểm). |
3 | Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau. Hai dòng thơ trên cho thấy cuộc sống của người lính nơi đảo xa: - Đó là cuộc sống vô cùng khó khăn, gian khổ, mà người lính thường xuyên phải đối diện (gió bão, thiếu thốn…) - Tuy nhiên những người lính vẫn lạc quan, yêu đời. |
4 | - Tác giả thể hiện sự đồng cảm, chia sẻ với cuộc sống của những người lính đảo. - Đồng thời cho thấy sự trân trọng những phẩm chất đáng quý: tinh thần lạc quan, ý chí nghị lực phi thường và tình yêu tổ quốc. -> Nhận xét về tình cảm: - Đây là những tình cảm chân thành, thể hiện trái tim yêu thương tinh tế, sâu sắc của tác giả. - Tình cảm của tác giả cũng là đại diện cho tất cả những người dân Việt Nam dành tình yêu thương, sự cảm phục gửi đến những người lính nơi đảo xa. |
Câu 1 :thể thơ tự do
Câu 2: Những hình ảnh thể hiện cho sự gian khó ở Trường Sa: đá san hô kê lên thành sân khấu, vài tấm tôn chôn mấy cánh gà, gió rát mặt, đảo thay hình dáng, sỏi cát bay như lũ chim hoang.
Câu 3:
Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc
Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau.
Hai dòng thơ trên cho thấy cuộc sống của người lính nơi đảo xa:
- Đó là cuộc sống vô cùng khó khăn, gian khổ, mà người lính thường xuyên phải đối diện (gió bão, thiếu thốn…)
- Tuy nhiên những người lính vẫn lạc quan, yêu đời.
Câu 4 :Đoạn thơ trích trong bài "Lính đảo hát tình ca trên đảo" của tác giả Trần Đăng Khoa đã khẳng định được tinh thần lạc quan, tươi trẻ của những người lính hải đảo nơi Trường Sa khắc nghiệt cùng tinh thần yêu nước, hướng về tổ quốc của họ. Thật vậy, hình ảnh những người lính hải đảo hiện lên với tầm vóc vĩ đại và tình yêu bất biến dành cho tổ quốc. Đầu tiên, họ là những người lính bất chấp những khó khăn gian khổ để hoàn thành tốt công việc. Điều kiện ở Trường Sa vô cùng khó khăn và khắc nghiệt: gió rát mặt, đảo thay đổi hình dạng, sỏi cát bay như lũ chim hoang. Ở nơi biển đảo hẻo lánh ấy, những người lính hải quân vẫn hiên ngang và cất lên bài hát của tuổi trẻ. Không những có phẩm chất kiên cường mà ta còn thấy được tinh thần tươi trẻ và yêu đời của những người lính ấy. Thứ hai, họ là những người lính khát khao cống hiến cho tổ quốc. Tình yêu của họ được gửi gắm vào lời hát và tiếng lòng của trái tim "Nào hát lên". Tình yêu ấy là động lực để họ "đứng vững" trước những khó khăn và họ còn muốn hát lên cho trời đất, mây nước biết. Tổ quốc đối với những người lính trẻ là thiêng liêng và vĩnh hằng biết nhường nào. Tóm lại, đoạn thơ cho ta thấy được phong thái yêu đời cùng tình yêu tổ quốc của những người lính hải đảo ấy.
Câu 1 (trang 53 sgk Tiếng Việt 4) :
Tìm danh từ chỉ khái niệm trong số các danh từ được in đậm dưới đây.
Một điểm nổi bật trong đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh là lòng thương người... Chính vì thấy nước mất, nhà tan... mà Người đã ra đi học tập kinh nghiệm của cách mạng thế giới để về giúp đồng bào.
Theo TRƯỜNG CHINH
Trả lời:
Danh từ chỉ khái niệm trong đoạn văn đã cho là: điểm, đạo đức, kinh nghiệm, cách mạng.
Ưạ
Câu 1. Ngôi kể
→ Văn bản kể theo ngôi thứ ba.
Câu 2. Từ ngữ, hình ảnh về cuộc sống của Thứ ở Hà Nội
→ Cuộc sống nghèo túng, bế tắc, làm Thứ đánh mất ước mơ.
Câu 3. Biện pháp tu từ
“Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân.”
Câu 4. Nhận xét sự thay đổi của Thứ
→ Thứ từ người giàu lí tưởng thành kẻ sống mòn, mất dần bản ngã.
Câu 5. Thông điệp rút ra
Văn bản gửi gắm thông điệp:
→ Con người cần sống có lí tưởng và dám thay đổi, không để hoàn cảnh làm “mòn” đi khát vọng. Nếu chỉ cam chịu, cuộc đời sẽ trở nên vô nghĩa. Xã hội cũng cần tạo điều kiện để mỗi cá nhân được sống đúng giá trị của mình.
Lí giải:
Nhân vật Thứ có ước mơ đẹp nhưng bị nghèo đói và thói quen an phận trói buộc. Từ đó, ta hiểu rằng muốn sống có ý nghĩa phải vượt lên nỗi sợ hãi và sự trì trệ.
hihi
Câu 1 ngôi kể: thứ ba
Câu 2 những từ ngữ hình ảnh khắc hoạ cuộc sống của Thứ khi ở Hà Nội
- “Sống rụt rè hơn”, “sến so hơn, sống còm rom”, “y chỉ còn dám nghĩ đến chuyện để dành”, “ chuyện mua vườn, chuyện làm nhà, chuyện nuôi sống vợ con y ”, “nhưng nay mai, mới thật buồn. Y sẽ chẳng có việc gì làm, y sẽ ăn bám vợ”
Câu 3 Biện pháp tu từ: So sánh
Tác dụng:
- nhấn mạnh cảm giác bất lực vô dụng mất giá trị của Thứ sau khi rời trường
- thể hiện nỗi đau sự thất vọng bi kịch tinh thần của con người tri thức nghèo
Câu 4 sự thay đổi của Thứ
Ở sài gòn:
Có nhiều khát vọng nhiệt huyết mơ ước háo hức và mong chờ say mê mong đợi
Tuy cuộc sống khó khăn nhưng còn hi vọng và những ước mơ
Ở Hà Nội:
Trở nên rụt rè, sợ hãi, sống còm rom chỉ nghĩ đến chuyện mưu sinh nhỏ bé, cảm thấy bế tắc và mất niềm tin cho thấy được sự bào mòn ước mơ
Câu 5
Câu 1: - Ngôi kể là ngôi thứ ba. Câu2: - Những từ ngữ, hình ảnh của Thứ khi ở Hà Nội là: + Từ ngữ miêu tả phong thái và cách sống "Rụt rè hơn": Thiếu hẳn sự tự tin, hăng hái của thời trẻ. "Sẻn so hơn": Sự thắt lưng buộc bụng, chi li trong chi tiêu. "Sống còm rom": Hình ảnh một con người nhỏ bé, khắc khổ, thiếu sức sống. "Nhu nhược", "Hèn yếu": Bản chất tâm lý tự ti, không dám đấu tranh với hoàn cảnh. + Những hình ảnh về mục đích sống: Chuyện để dành, mua vườn, làm nhà: Những lo toan vật chất tầm thường của Thứ Chuyện nuôi sống y với vợ con y: Trách nhiệm gia đình đè nặng. Kiếm nổi bát cơm của mình ăn: Thứ đã hạ thấp mọi tiêu chuẩn hạnh phúc của mình xuống mức thấp nhất. + Hình ảnh so sánh và ẩn dụ về sự tàn lụi: "Phế nhân": Thứ tự thấy mình như một người tàn phế, không còn ích lợi gì cho xã hội sau khi rời ghế nhà trường. "Đời y sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra": Những động từ chỉ sự phân hủy, hoen gỉ của kim loại và đồ vật được dùng để nói về con người. "Chết mà chưa sống": Một nghịch lý đau đớn. Thứ đang sống về mặt sinh học nhưng đã chết về mặt tâm hồn. Câu 3: - Biện pháp tu từ là so sánh. - Tác dụng: + Nhằm tăng sức nặng cho sự tuyệt vọng đau khổ của nhân vật, nhấn mạnh cảm xúc yếu đuối nhận thức tiêu cực nhưng lại là sự thật trần trụi cần nhìn thẳng. + Thể hiện chiều sâu cảm xúc sự nặng nề mệt mỏi chán nản của chính bản thân nhân vật Thứ. Câu 4: - Nhận xét: Sự thay đổi của Thứ khi ở Hà Nội và Sài Gòn là trái ngược nhưng vẫn thể hiện đúng bản chất của Thứ. Khi ở sài gòn Thứ là kẻ lông bông nhưng lại là khoảng thời gian Thứ thấy rất đẹp, bản thân Thứ đã trải nghiệm được điều mới về cảm xúc khi hăm hở hay náo nức rồi lại mong chờ và cái yêu cái ghét, Thứ đã say mê kiến thức và các chuyến đi. Còn Hà Nội Thứ suy nghĩ đúng như một phế nhân, không còn cái sự say mê hay cảm xúc yêu ghét như Sài Gòn chỉ là một gánh nặng suy nghĩ ăn mòn, Thứ hiểu cuộc sống Hà Nội rõ ràng, bi quan chìm vào làm nước đen của xã hội áp lực cơm áo gạo tiền. Hà Nội và Sài Gòn cho ta cái nhìn thực tế Thứ vẫn như nhược sợ bản thân tầm thường. Câu 5: - Thông điệp ý nghĩa nhất rút ra từ đoạn trích là: Con người cần can đảm rứt bỏ "sợi dây thừng" của thói quen và sự sợ hãi để thực sự sống một cuộc đời có ý nghĩa, thay vì chỉ tồn tại mòn mỏi. Nam Cao đã lí giải điều này qua hình ảnh ẩn dụ về con trâu quanh năm cắm cúi kéo cày dù bên kia cánh đồng là tự do, cũng như bi kịch của nhân vật Thứ tự nhận ra đời mình đang "mốc lên, gỉ đi" nhưng lại nhu nhược không dám thay đổi. Thông điệp cảnh tỉnh chúng ta rằng nếu chỉ quẩn quanh với những lo toan hạn hẹp về cơm áo gạo tiền mà từ bỏ khát vọng, ta sẽ "chết ngay trong lúc sống". Cuối cùng, sự thức tỉnh về việc hành động thông qua câu hỏi "Y đã làm gì chưa?" khẳng định rằng tương lai tốt đẹp chỉ dành cho những người dám dứt khoát với sự trì trệ để xứng đáng với những gì mình được hưởng.
Câu 1 :
Văn bản được kể theo ngôi thứ ba, người kể giấu mình gọi nhân vật là "y" , "Thứ".
Câu 2 :
Những từ ngữ hình ảnh khắc họa cuộc sống của Thứ khi ở Hà Nội :
" sống rụt rè hơn, sẻn so hơn, sống còm rom "
"chuyện để dành, chuyện mua vườn, chuyện làm nhà "
"chuyện nuôi sống y với vợ con y " " Y sẽ chẳng có việc gì làm, y sẽ ăn bám vợ "
Câu 3 :
Biện pháp từ sánh : " mình gần như là một phế nhân "
Tác dụng :
- Nhấn mạnh cảm giác thất bại, chán nản, tự ti, bế tắc của nhân vật.
Câu 4 :
Ở Sài Gòn: Thứ từng có hoài bão, khát vọng , hi vọng vào tươi lại.
Ở Hà Nội : Thứ trở nên rụt rè, sợ sệt, cảm thấy bế tắc, mất dần ước mơ.
Câu 5 :
Mỗi người cần phải có dũng khí ý chí quyết tâm thay đổi ước mơ , không để hoàn cảnh khó khăn mà quên đi những mục tiêu cuộc đời. Phê phán xã hội cũ đã đẩy con người vào hoàn cảnh bế tắc, nghèo khổ.
Câu 1: ngôi kể T3
Câu 2:
-"về HN, ý sông rụt rè hơn, sén số hồng." "Sống còm ròm Ý chỉ còn dám nghĩ đến chuyện để dành, chuyện mua vườn, chuyện làm nhà, chuyện nuôi, sống y với con y". "HN vẫn lùi dần, lùi dần và đội y cũng lùi dần"
Câu 3:
-BPTT: So sánh "Ý" so sánh vs "phế nhân"
-Tác dụng:
+làm nổi bật sự tự ti đầy thất vọng về bản thân mình của NV thứ sau khi ra trường
+ Lối diễn đạt khiến cho câu văn trở nên sinh động, cụ thể, tăng sức gợi hình gợi cảm.
+Qua đó thể hiện tài năng biểu đạt ngôn ngữ của tác giả tạo sự đồng cảm cho ng đọc.
Câu4:
Khi ở Hà Nội, Thứ sống trong cảnh nghèo túng, chật chội và buồn tẻ, công việc bấp bênh khiến anh chán nản, mệt mỏi và cảm thấy mình gần như vô dụng. Cuộc sống lặp đi lặp lại làm anh dần mất đi nhiệt huyết và niềm tin. Khi vào Sài Gòn, Thứ nuôi hi vọng về một cuộc sống mới, mong có cơ hội thay đổi số phận và tìm được công việc tốt hơn. Tuy vậy, trong anh vẫn tồn tại sự lo lắng và bấp bênh, cho thấy tâm trạng của người trí thức nghèo luôn bị giằng co giữa hi vọng và thực tế khó khăn.
Câu 5: Từ đoạn trích trên, em rút ra thông điệp rằng con người không nên sống buông xuôi, mòn mỏi trước khó khăn của cuộc sống mà cần giữ niềm tin và cố gắng vươn lên. Nếu thiếu mục tiêu và ý chí, cuộc sống sẽ trở nên tẻ nhạt, vô nghĩa và khiến con người đánh mất giá trị của bản thân. Vì vậy, mỗi người cần sống có lí tưởng, chủ động thay đổi để cuộc đời trở nên tốt đẹp hơn.
-
Câu 1. Ngôi kể trong văn bản: Ngôi kể thứ ba. Câu 2. Những từ ngữ, hình ảnh khắc họa cuộc sống của Thứ khi ở Hà Nội “cuộc sống khó khăn” “sống mòn” “ti tiện, nhỏ nhen” “chuyện nuôi sống vợ con” “kiếm nổi bát cơm của mình ăn” “chẳng có việc gì làm” Những chi tiết này cho thấy cuộc sống nghèo túng, bế tắc, tầm thường và đầy áp lực mưu sinh của Thứ ở Hà Nội. Câu 3. Biện pháp tu từ: So sánh (“gần như là một phế nhân”). Tác dụng: - Nhấn mạnh tâm trạng chán nản, tuyệt vọng và cảm giác vô dụng của Thứ. - Thể hiện sự bế tắc của người trí thức nghèo trong xã hội cũ. Câu 4. Nhận xét sự thay đổi của Thứ khi ở Hà Nội và Sài Gòn - Khi ở Sài Gòn: Có ước mơ, hoài bão, hi vọng về tương lai. - Khi ở Hà Nội:Cuộc sống nghèo khó, bế tắc, phải lo mưu sinh.Ước mơ dần bị bào mòn, trở nên chán nản, tuyệt vọng Câu 5. Thông điệp em rút ra từ văn bản là con người cần giữ gìn ước mơ và sống có ý nghĩa. Trong cuộc sống, ai cũng có thể gặp khó khăn, nghèo túng hoặc thất bại như nhân vật Thứ. Tuy nhiên, nếu buông xuôi thì con người sẽ rơi vào trạng thái “sống mòn”, mất đi ý nghĩa của cuộc đời. Vì vậy mỗi người cần cố gắng vượt qua hoàn cảnh, giữ vững niềm tin và khát vọng để cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn.
Câu 1
Ngôi kể: ngôi thứ 3
Dấu hiệu nhận biết: người viết gọi tên nhân vật trong truyện
Câu 2
Hình ảnh khắc họa cuộc sống của Thứ khi ở Hà Nội:
+sống rụt rè hơn, sợ sệt hơn, sống còm rom +chỉ còn dám nghĩ đến chuyện để dành, chuyện mua vườn, chuyện làm nhà
Câu 3
Biện pháp so sánh: gần như một phế nhân
Tác dụng:
+ Làm tăng tính hấp dẫn, gợi hình gơi cảm
+Nhấn mạnh cảm giác thất vọng, bất lực của nhân vật trước thực tế cuộc sống khắc nghiệt
Câu 4:
-Ở Sài Gòn: +Có ước mơ, khát vọng. +Sống sôi nổi, từng háo hức, mong chờ, từng yêu ghét, say mê -Ở Hà Nội: +Trở nên rụt rè, sợ sệt, sống còm rom. +Chỉ lo cơm áo, gia đình, mất dần lý tưởng.
-Nhận xét: Ở Sài Gòn, Thứ còn là một người trẻ có nhiều cảm xúc và khát vọng, từng háo hức, say mê và mong chờ những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Nhưng khi sống ở Hà Nội, cuộc sống nghèo khó và bế tắc khiến Thứ trở nên rụt rè, sợ sệt, sống tầm thường và chỉ lo những chuyện nhỏ nhặt như cơm áo, gia đình. Qua đó cho thấy hoàn cảnh khắc nghiệt đã làm thui chột dần ước mơ và lý tưởng của nhân vật
Câu 5:
+Thông điệp: Con người không nên để hoàn cảnh khó khăn làm mất đi ước mơ và ý chí của mình
+Lý giải: Qua nhân vật Thứ, tác giả cho thấy khi con người sống trong nghèo khó và bế tắc lâu dài, họ dễ bị cuốn vào cuộc sống tầm thường, đánh mất lý tưởng ban đầu. Vì vậy mỗi người cần giữ vững khát vọng và dũng cảm thay đổi để cuộc sống có ý nghĩa hơn
câu 1: van bản được kể theo ngôi thứ ba
câu 2: những từ ngữ, hình ảnh: “sống rụt rè hơn, sợ sệt hơn, sống còm rom”, “chỉ dám nghĩ đến chuyện để dành, chuyện mua vườn, chuyện làm nhà, chuyện nuôi sống vợ con”, “kiếm nổi bát cơm của mình ăn”
câu 3: biện pháp tu từ so sánh: y thấy mình gần như là một phế nhân
tác dụng: nhấn mạnh cảm giác bất lực, thất vọng và bế tắc của Thứ khi nhận ra những ước mơ của mình dần tan vỡ
câu 4: ở Sài Gòn: Thứ còn nhiều ước mơ, khát vọng. Hà Nội: Thứ trở nên rụt rè, sống nhỏ bé, chỉ lo cơm áo
câu 5 :thông điệp:
con người ko nên sống cam chịu để hoàn cảnh làm mất đi ước mơ và ý chí, cần mạnh mẽ thay đổi để tìm ý nghĩa cho cuộc sống
Câu 1:
Ngôi kể: ba.
Câu 2: Những từ ngữ, hình ảnh khắc họa cuộc sống của Thứ khi ở Hà Nội:
- Nghèo khổ, bệnh tật.
- y phổi yếu.
- chịu cảnh thất nghiệp.
- đời sống chật vật, khó khăn.
- cuộc sống "sống mòn", tẻ nhạt, bế tắc.
Câu 3:
- Biện pháp tu từ: so sánh
- Tác dụng: Nhấn mạnh tâm trạng chán nản, tuyệt vọng và cảm giác vô dụng của Thứ trước cuộc sống bế tắc.
Câu 4: Nhận xét sự thay đổi của Thứ ở Hà Nội và Sài Gòn:
- Ở Hà Nội:
+ Nghèo khổ, bệnh tật.
+ Thất nghiệp.
+ Cuộc sống tẻ nhạt, bế tắc, "sống mòn".
- Ở Sài Gòn:
+ Có thời gian sống tự do hơn.
+ Có những trải ngiệm mới.
+ Nhưng cuối cùng vẫn quay về thực tại khó khăn.
Câu 5: Thông điệp rút ra từ văn bản:
Văn bản gửi gắm thông điệp: con người không nên sống một cuộc đời tẻ nhạt, vô nghĩa. Mỗi người cần sống có mục đích, dám thay đổi để thoát khỏi sự "sống mòn".
Câu 1.
Ngôi kể: Ngôi thứ ba (người kể gọi nhân vật là “y”, “Thứ”).
Câu 2.
Những từ ngữ, hình ảnh khắc họa cuộc sống của Thứ khi ở Hà Nội:
→ Thể hiện cuộc sống khó khăn, tù túng, tầm thường và bế tắc
Câu 3.
Biện pháp tu từ: So sánh – “gần như là một phế nhân”.
Tác dụng:
Câu 4.
Sự thay đổi của Thứ:
•Ở Sài Gòn: còn nhiệt huyết, mơ ước, say mê, ham học hỏi và trải nghiệm.
Câu 5.
Thông điệp:
Con người cần dũng cảm thay đổi và đấu tranh để sống có ý nghĩa, không nên để hoàn cảnh nghèo khó làm mai một ước mơ và ý chí.
Lí giải:
Nếu con người chỉ cam chịu, sợ thay đổi thì cuộc đời sẽ trở nên tù túng, “sống mòn” và không có giá trị.
Câu 1
Ngôi kể thứ 3
Câu 2
câu 1
Ngôi thứ ba
Câu 2
Trạng thái sống rụt rè hơn , sẻn so hơn , sống còm ròm .
Câu 3
Mình so sánh với phế nhân
Tác dụng : Làm cho câu vân giàu hình ảnh , tăng sức gợi biểu cảm gợi sự đồng cảm ở độc giả trước bi kịch của người tri thức nghèo .
nhấn mạnh sự hụt hẫng , bất lực và đau đớn của Thứ là một phế nhân là người bỏ đi , không còn khả năng hoạt động . Qua đó tác giả lột tả sự đối lập nghiệt ngã giữa những ước vọng cao siêu thời đi học và thực tại phũ phàng , vô dụng khi bước ra đời
Câu 4
Ở Sài Gòn: Dù là kẻ "lông bông" nhưng Thứ còn tràn đầy sức sống. Y có khát vọng, biết "hăm hở", "náo nức", "say mê", dám yêu ghét và nỗ lực học tập để tìm cơ hội đi Pháp. Đây là giai đoạn của ước mơ và hi vọng.
• Ở Hà Nội: Thứ trở nên thực dụng và thu mình lại. Những hoài bão vĩ nhân biến mất, thay vào đó là sự "sẻn so", "còm rom", chỉ lo toan những việc vụn vặt, đời thường. Đây là giai đoạn của sự thỏa hiệp và tàn héo.
• Nhận xét: Sự thay đổi này cho thấy sức tàn phá khủng khiếp của gánh nặng cơm áo gạo tiền đối với nhân cách và tâm hồn con người. Thứ đang rơi vào cảnh "sống mòn" – sống mà như đã chết về mặt tinh thần .
Câu 5
Thông điệp: Đừng để sự trì trệ và nỗi sợ hãi thay đổi bóp nghẹt cuộc đời mình ("Chết ngay trong lúc sống mới thật là nhục nhã").
• Lí giải: Trong đoạn trích, Thứ nhận ra sai lầm của chính mình và những người xung quanh là vì "thói quen" và "lòng sợ hãi sự đổi thay" mà chấp nhận kiếp sống như con trâu kéo cày. Nếu con người không dám bứt phá, không dám hành động để thay đổi thực tại, chúng ta sẽ chỉ tồn tại một cách vô nghĩa, "mốc lên", "gỉ đi" và chết đi mà chưa kịp sống đúng nghĩa. Thông điệp này nhắc nhở chúng ta phải luôn giữ vững bản lĩnh và khát vọng để không bị dòng đời cuốn trôi vào sự tầm thường.
Câu 1: Ngôi thứ ba
Câu 2: Sống trong căn buồng ẩm thấp,chặt hẹp,nóng, những bữa ăn đạm bạc rẻ tiền
Câu 3: BPTT: so sánh:Y như 1 phế nhân
tác dụng : + Nhấn mạnh sự kiệt sức và cảm giác vô dụng, bất lực của nhân vật
+ Làm cho câu văn câu thơ trở nên sinh động, giàu hình ảnh tăng sức gợi hình gợi cảm
+ Thể hiện nỗi đau đớn của một người có học nhưng không tìm được vị trí trong xã hội.
Câu 4: Sài Gòn: mang theo ước mơ hoài baox về cuộc sống tốt đẹp
Hà Nội: trở nên mòn mỏi, ích kỉ nhỏ nhen và áp lực của cái nghèo
Câu 5: Thông điệp: con người cần có nghị lực để bảo vệ nhân cách vaf ước mơ hoài baox trước sự tàn phá của hoàn cảnh sống khắc nghiệt
Câu 1: Ngôi kể thứ 3
Câu 2:
-Sống rụt rè hơn, sẻn so hơn, sống còm rom
-Chỉ còn dám nghĩ đến chuyện để dành, chuyện mua vườn, chuyện làm nhà, chuyện nuôi sống y với vợ con
- Những từ ngữ này cho thấy cuộc sống nghèo khó, chật vật, làm Thứ trở nên thu mình, lo toan nhỏ nhặt, những ước mơ lớn dần bị thu hẹp.
Câu 3:
-So sánh trong câu: “Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân.”
Tác Dụng
-Nhấn mạnh cảm giác thất vọng, bất lực và mất phương hướng của Thứ khi bước vào đời.
-Thể hiện bi kịch của người trí thức tiểu tư sản: có học nhưng không tìm được chỗ đứng trong xã hội.
Câu 4:
-Ở Sài Gòn: Thứ hăm hở, náo nức, say mê, có nhiều ước mơ và hi vọng về tương lai.
-Ở Hà Nội: Thứ trở nên rụt rè, lo toan nhỏ nhặt, sống chật vật, những ước mơ lớn dần bị thui chột.
-Sự thay đổi này cho thấy cuộc sống khó khăn đã bào mòn lí tưởng và khát vọng của Thứ, khiến anh rơi vào tình trạng “sống mòn”.
Câu 5:
Con người cần dám thay đổi và chủ động làm chủ cuộc đời mình.
-Trong truyện, Thứ nhận ra cuộc đời mình đang dần bị bào mòn vì sợ hãi sự thay đổi và thiếu quyết tâm. Điều đó nhắc nhở mỗi người nếu không dám hành động và theo đuổi ước mơ thì dễ rơi vào cuộc sống tẻ nhạt, vô nghĩa. Vì vậy, con người cần sống tích cực, mạnh dạn thay đổi để tạo ra giá trị cho bản thân và xã hội.
Câu 1: Ngôi kể thứ ba
Câu 2: Cuộc sống khó khăn , kiếp sống nghèo khổ đã làm thui chột ước mơ và hoài bão , cảm giác đời sống đang mòn đi
Câu 3: Biện pháp tu từ so sánh : y thấy mình gần - là một phế nhân
- Tác dụng + giúp câu thơ tăng sức gợi hình , gợi cảm , sinh động , hấp dẫn và tăng sức biểu cảm
+ Nhấn mạnh sự bế tắc và thể hiện sự tự ý thức tiêu cực
Câu 1.
Văn bản được kể theo ngôi thứ ba. Người kể chuyện giấu mình, gọi nhân vật bằng tên “Thứ”, “y”.
Câu 2.
Những từ ngữ, hình ảnh khắc họa cuộc sống của Thứ ở Hà Nội:
+ “sống rụt rè hơn, sẻn so hơn, sống còm rom”
+“chỉ dám nghĩ đến chuyện để dành, mua vườn, làm nhà”
+“kiếm nổi bát cơm của mình ăn”
Thể hiện cuộc sống nghèo túng, chật vật, tù túng, khiến Thứ dần mất đi ước mơ
Câu 3.
Biện pháp tu từ: So sánh “y thấy mình gần như là một phế nhân”.
*Tác dụng:
+Nhấn mạnh cảm giác tuyệt vọng, bất lực, mất giá trị của bản thân của Thứ sau khi ra khỏi trường
+Thể hiện bi kịch của người trí thức nghèo trong xã hội cũ
Câu 4.
Sự thay đổi của Thứ:
+Khi ở Sài Gòn: còn nhiệt huyết, sôi nổi, có trải nghiệm, còn mơ ước và khát vọng.
+Khi ở Hà Nội: trở nên rụt rè, tính toán, nghèo khổ, mất dần lý tưởng, sống chật vật và bế tắc
+Cho thấy hoàn cảnh khó khăn đã bào mòn ước mơ và ý chí của Thứ.
Câu 5.
*Thông điệp:
Con người cần giữ gìn ước mơ và ý chí sống, không để hoàn cảnh khó khăn làm mình trở nên tầm thường và đánh mất giá trị bản thân.
*Lí giải:
Trong tác phẩm, cuộc sống nghèo khổ đã khiến Thứ dần mất đi hoài bão, rơi vào trạng thái “sống mòn”, qua đó nhà văn cảnh tỉnh con người phải biết sống có mục đích và ý nghĩa.
I. Phần đọc hiểu: Câu 1: Xác định ngôi kể trong văn bản -Ngôi kể thứ ba Câu 2: Từ ngữ, hình ảnh khắc họa cuộc sống của Thứ khi ở Hà Nội Dựa vào đoạn trích, cuộc sống của Thứ ở Hà Nội hiện lên với vẻ tù túng, mệt mỏi: -Từ ngữ: Rụt rè hơn, sẻn so hơn, sống còm rom -Hình ảnh, Trạng thái: Chỉ dám nghĩ đến chuyện để dành, mua vườn, làm nhà, nuôi vợ con; thấy đời mình sẽ "mốc lên", "gỉ đi", "mòn", "mục ra ở một xó nhà quê" -Tính chất: Ti tiện, nhỏ nhen Câu 3: Phân tích tác dụng biện pháp tu từ trong câu: "Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân -Biện pháp tu từ: So sánh ("y" như "một phế nhân") -Tác dụng: -Nhấn mạnh cảm giác bất lực, vô dụng và đau đớn cực độ của Thứ. Khi mất đi công việc (ngôi trường đóng cửa), Thứ cảm thấy mình không còn giá trị, không còn khả năng đóng góp hay thực hiện hoài bão, chỉ còn là một kẻ "tàn phế" về mặt tâm hồn và ý chí -Làm cho cách diễn đạt trở nên sinh động, gợi hình gợi cảm, đồng thời thể hiện cái nhìn tự trào đầy xót xa của nhân vật về bản thân mình Câu 4: Nhận xét sự thay đổi của Thứ khi ở Hà Nội và Sài Gòn Sự thay đổi này cho thấy một quá trình "mòn" đi về tâm hồn: -Ở Sài Gòn: Đó là quãng thời gian đẹp nhất. Thứ sống "hăm hở", "náo nức", "say mê". Anh tràn đầy hy vọng, dành thời gian ở thư viện, mơ mộng đi Pháp và khao khát trở thành vĩ nhân để thay đổi xứ sở -Ở Hà Nội: Thứ trở nên thực dụng và hèn yếu hơn. Anh rơi vào cảnh "sống mòn", chỉ lo toan những việc vụn vặt, đời thường (tiền nong, vợ con). Sự nhiệt huyết bị thay thế bằng sự "rụt rè", "sẻn so" => Đây là sự thoái hóa từ một trí thức đầy lý tưởng thành một kẻ tiểu tư sản nghèo nàn, bị gánh nặng cơm áo gạo tiền và môi trường sống tù đọng bóp nghẹt ước mơ Câu 5: Thông điệp rút ra và lí giải -Thông điệp: Đừng để cuộc sống cơm áo gạo tiền làm xói mòn đi lý tưởng và nhân cách của bản thân -Qua nhân vật Thứ, ta thấy sự đáng sợ của lối sống quẩn quanh, không mục đích. Nếu con người không có ý chí vượt lên nghịch cảnh hoặc thiếu một môi trường tốt để phát triển, họ sẽ dễ dàng rơi vào trạng thái "chết ngay trong lúc sống". Tuy nhiên, ánh sáng hy vọng ở cuối đoạn trích về một cuộc sống "dễ dàng hơn, đẹp đẽ hơn" sau chiến tranh cũng nhắc nhở chúng ta cần giữ vững niềm tin vào tương lai
Câu 1: Ngôi kể thứ ba
Người kể chuyện giấu mình gọi nhân vật là "Y" và " Thứ "
Câu 2 : Hình ảnh khi thứ sống ở Hà Nội nghèo khó , bế tắc tầm thường và bị thu hẹp ước mơ
Câu 3: Biện pháp tu từ so sánh " gần như là một phế nhân "
tác dụng : nhấn mạnh cảm giác bất lực , vô dụng của thứ khi bước vào đời
Câu 4: Thứ một người có lý tưởng và hoài bão trở nên chán nản , sống mòn mỏi vì hoàn cảnh nghèo và xã hội ngột ngạt
Câu 5: Qua thông điệp em rút ra con người cần có sự thay đổi và sống có ý nghĩa , không nên để hoàn cảnh làm mình sống mòn, sống tầm thường . Nếu chỉ sợ hãi mà khong dám thay đổi thì cuộc sống của chúng ta trở nên bế tắc giống như Thứ trong tác phẩm
Câu 1:
Văn bản được kể theo ngôi thứ 3, người kể giấu mình
Câu 2:
Những từ ngữ hình ảnh khắc họa cuộc sống của Thứ khi ở Hà Nội: " sống rụt rè hơn, sẻn so hơn, sống còm rom" " chỉ còn dám nghĩ đến chuyện để dành, chuyện mua vườn,chuyện làm nhà" " nuôi sống y với vợ con y"
Gợi lên cuộc sống c hật vật túng thiếu tù túng
Câu 3:
Biện pháp tu từ "So sánh"
Tác dụng: Nhấn mạnh s ưu thất vọng suy sụp của thứ sau khi rời trường. Thể hiện cảm giác mất phương hướng vô dụng, trái ngược hoàn toàn với những hoài bão trước kia
Câu 4:
Khi ở Sài Gòn: sống hăm hở, náo nức, mong chờ. Vẫn còn lý tưởng, khát vọng tinh thần tuổi trẻ
Khi ở Hà Nội: Trở nên rụt rè, sẻn so, còm rom.Chỉ còn biết lo cơm áo gạo tiền
Ngôi thứ 3
Câu 1
Thể thơ tự do, dấu hiẹn nhận biết dòng trong, câu đều
2.
1 áo người nhuộm chàng xanh
2 Một xóm rưngf
3 Rượu
4 Thịt rừng
5 Tiếng chuông
biện pháp tu từ: nhân hoá
Câu1: Ngôi kể thứ 3
Câu 1. Xác định ngôi kể trong văn bản. Ngôi kể: Ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mặt, gọi tên nhân vật là "Thứ", "y"). Câu 2. Tìm những từ ngữ, hình ảnh khắc họa cuộc sống của Thứ khi ở Hà Nội. Dựa vào văn bản, cuộc sống của Thứ ở Hà Nội được khắc họa qua các từ ngữ, hình ảnh: Về lối sống: "Sống rụt rè hơn, sẻn so hơn, sống còm rom". Về tư tưởng/lo toan: "Chỉ còn dám nghĩ đến chuyện để dành, chuyện mua vườn, chuyện làm nhà, chuyện nuôi sống y với vợ con y". Về công việc: "Dạy ở một trường tư", "còn kiếm nổi bát cơm của mình ăn". Câu 3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong câu: "Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân." Biện pháp tu từ: So sánh (y – gần như là – một phế nhân). Tác dụng: Nội dung: Nhấn mạnh trạng thái bế tắc, bất lực và sự tự ý thức cay đắng của Thứ. "Phế nhân" là người bỏ đi, không còn giá trị; việc tự coi mình là phế nhân cho thấy sự vỡ mộng đau đớn của một trí thức có bằng cấp nhưng không tìm được chỗ đứng, không thực hiện được hoài bão trong xã hội cũ. Nghệ thuật: Làm cho câu văn giàu hình ảnh, tăng sức biểu cảm và khắc họa sâu sắc tâm trạng bi kịch của nhân vật. Câu 4. Nhận xét sự thay đổi của Thứ khi ở Hà Nội và Sài Gòn. Sự thay đổi của Thứ thể hiện một quá trình "mòn" dần về cả ý chí lẫn tâm hồn: Ở Sài Gòn: Là quãng thời gian của tuổi trẻ và hy vọng. Thứ sống "hăm hở", "náo nức", "mong chờ", biết "yêu và ghét", "say mê" học tập và mơ ước đi Pháp. Đây là giai đoạn nhân vật còn đầy sức sống và hoài bão lớn lao. Ở Hà Nội: Thứ trở nên thực tế đến mức tầm thường. Sự nhiệt huyết biến mất, thay vào đó là lối sống "rụt rè", "sẻn so", "còm rom". Mọi ước vọng cao xa bị thay thế bởi nỗi lo cơm áo gạo tiền vụn vặt. Nhận xét: Sự thay đổi này cho thấy sức tàn phá khủng khiếp của hoàn cảnh nghèo đói và xã hội bế tắc đối với nhân cách và ước mơ của con người. Thứ không chết ngay lập tức, nhưng đang "chết trong lúc sống". Câu 5. Thông điệp rút ra và lí giải. Thông điệp: Đừng để những lo toan đời thường làm thui chột ước mơ và sự tử tế; hãy can đảm thay đổi để thực sự được "sống" chứ không chỉ là "tồn tại". Lí giải: Trong văn bản, Thứ đã tự nhận ra bi kịch của mình là "chết mà chưa sống" và nỗi sợ hãi sự thay đổi đã giam hãm con người trong "đời tù đày". Thông điệp này nhắc nhở chúng ta rằng: cuộc sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi ta dám dứt bỏ những thói quen cũ kỹ, những nỗi sợ vô hình để hướng tới một cuộc đời rộng rãi, tự do và có ích hơn.