Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.
Câu 2: Lí do để nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương đó là lời nói của ba: Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”
Câu 3: Việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa:
- Khi chúng ta dạy cho con cái mình những điều tốt đẹp, chúng sẽ mang những điều tốt đẹp đó để cư xử với tất cả mọi người xung quanh và dạy dỗ thế hệ sau.
- Những điều tốt đẹp ấy sẽ lan tỏa, có sức ảnh hưởng tích cực đến muôn đời sau.
- Làm tăng ý nghĩa, tính triết lí cho văn bản.
- Làm tăng sức thuyết phục, tin cậy cho nội dung mà tác giả muốn gửi gắm.
Câu 4:
- Trong cuộc đời mỗi người luôn có nhiều người thầy nhưng cha mẹ luôn là người thầy đầu tiên của con.
- Mỗi chúng ta sẽ cảm thấy ấm áp và hạnh phúc vô cùng khi được học những điều bình dị từ chính người cha yêu quý của mình. Cha luôn là người dành cả tình yêu thương và tấm lòng bao la của tình phụ tử thiêng liêng để chỉ bảo ta trên đường đời.
- Bài học từ người thầy đầu tiên ấy là điều vô cùng quý giá, sẽ để lại dấu ấn sâu sắc và gợi nhiều kỉ niệm để nhớ về trên chặng đường sau này.
- Tự vấn bản thân: Trong những khoảnh khắc yên tĩnh, con người có cơ hội nhìn lại hành động, suy nghĩ, sai lầm và cả những ước mơ của mình. Sự thinh lặng giúp ta trung thực hơn với chính mình.
- Thấu hiểu thế giới xung quanh: Như cái cây của Lovelock, vạn vật trong tự nhiên vận hành trong sự thinh lặng tuyệt đối. Lắng nghe sự thinh lặng giúp ta cảm nhận được nhịp đập của sự sống, sự biến đổi tinh tế của thiên nhiên mà những âm thanh huyên náo thường che lấp.
- Tăng cường sự tập trung và sáng tạo: Khi không bị phân tán bởi tiếng ồn, trí óc con người hoạt động hiệu quả hơn, ý tưởng mới mẻ dễ dàng nảy sinh.
- Văn học hiện thực phê phán: Các nhà văn như Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Ngô Tất Tố (Tắt đèn) đã sử dụng ngòi bút sắc bén để phơi bày những thói hư tật xấu, sự bất công của xã hội, nhằm thức tỉnh cộng đồng. Cái đẹp trong tác phẩm của họ là cái đẹp của sự thật trần trụi, có sức lay động mạnh mẽ.
- Văn học cách mạng: Các nhà thơ như Tố Hữu (Việt Bắc) đã gắn thơ ca với sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Thơ của ông vừa giàu tính trữ tình, vừa mang tính chính trị sâu sắc, là tiếng nói chung của cộng đồng trong công cuộc giải phóng dân tộc.
Câu 1: Nghị luận xã hội (8 điểm)
Chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng
Bài làm:
Con người thường bị cuốn vào những ồn ào, náo nhiệt của cuộc sống, đến mức quên mất rằng sự thinh lặng cũng có thể nói lên rất nhiều điều quan trọng. Trong đoạn văn của James Lovelock, Trái Đất được ví như một cái cây lặng lẽ tồn tại và phát triển một cách âm thầm. Điều đó khiến ta nhận ra: có những thay đổi lớn lao, những câu chuyện sâu sắc không cần lời nói vẫn đang diễn ra ngay bên cạnh chúng ta, trong sự yên tĩnh và tĩnh lặng.
Lắng nghe sự thinh lặng chính là một cách để ta thấu hiểu, cảm nhận sâu sắc hơn về thế giới xung quanh. Sự thinh lặng không phải là khoảng trống, không phải là sự vắng mặt của âm thanh, mà là một trạng thái tích cực, chứa đựng sự sống động và những thông điệp mà tiếng ồn không thể mang lại. Khi ta biết dừng lại, lắng nghe thinh lặng, ta sẽ nhận ra những vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, sự biến đổi của cuộc sống và cả tiếng nói của chính tâm hồn mình.
Trong cuộc sống hiện đại, con người dễ bị cuốn vào guồng quay công việc, công nghệ, xã hội mà quên mất việc dành thời gian để yên tĩnh suy ngẫm, tĩnh tâm. Việc lắng nghe sự thinh lặng không chỉ giúp ta lấy lại cân bằng tinh thần mà còn giúp ta hiểu rõ hơn về bản thân và những giá trị cuộc sống. Sự thinh lặng là nguồn sức mạnh để ta đối diện với khó khăn, là không gian để nuôi dưỡng trí tuệ và lòng nhân ái.
Thực tế, nhiều bậc vĩ nhân, nhà sáng tạo nghệ thuật, nhà tư tưởng đều trân trọng khoảng lặng để sáng tạo và suy nghĩ sâu sắc. Thiên nhiên cũng dạy chúng ta bài học quý giá về sự kiên nhẫn và phát triển bền vững qua sự thinh lặng của cây cối, đất trời. Lắng nghe sự thinh lặng là học cách quan sát, trân trọng những điều nhỏ bé mà bền vững.
Như vậy, trong cuộc sống bộn bề ngày nay, mỗi người cần biết tôn trọng và dành thời gian lắng nghe sự thinh lặng. Đó là con đường dẫn ta đến sự thấu hiểu, cảm thông và yêu thương. Sự thinh lặng không phải là khoảng cách, mà là kết nối sâu sắc với thế giới và chính bản thân mình.
Kết luận:
Lắng nghe sự thinh lặng là nghệ thuật sống, là cách để ta khám phá những giá trị chân thật và trường tồn. Hãy học cách dừng lại, lắng nghe và cảm nhận, để cuộc sống thêm ý nghĩa và sâu sắc hơn.
Câu 2: Nghị luận văn học (12 điểm)
Bàn luận câu nói của A. Camus:
“Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”
Bài làm:
Albert Camus – nhà văn, triết gia lỗi lạc của thế kỷ XX đã đưa ra một quan điểm sâu sắc về người nghệ sĩ và vị trí của họ trong xã hội. Theo ông, người nghệ sĩ không tồn tại tách biệt mà luôn vận động trong mối quan hệ hai chiều: giữa cá nhân với cái đẹp và giữa cá nhân với cộng đồng.
Thứ nhất, cái đẹp không thể bỏ qua là mục tiêu, là lý tưởng mà người nghệ sĩ theo đuổi. Người nghệ sĩ luôn không ngừng tìm kiếm, sáng tạo ra cái đẹp qua tác phẩm của mình – đó có thể là vẻ đẹp thẩm mỹ, vẻ đẹp tư tưởng hay vẻ đẹp nhân văn. Cái đẹp ấy vượt lên trên sự tầm thường, cái đẹp là nguồn cảm hứng và là tiếng nói riêng của người nghệ sĩ, giúp họ khẳng định giá trị và bản sắc cá nhân.
Tuy nhiên, người nghệ sĩ cũng không thể tách rời cộng đồng – nơi họ sinh sống và làm việc. Cộng đồng là nơi cung cấp chất liệu sáng tạo, là đối tượng truyền tải thông điệp, là nguồn cảm hứng và cũng là nơi tác phẩm được đón nhận. Người nghệ sĩ có trách nhiệm phản ánh, phê phán xã hội, góp phần định hướng những giá trị tích cực, đồng thời thấu hiểu, đồng cảm với cuộc sống con người. Nghệ thuật vì thế luôn mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc.
Mối tương quan liên tục giữa cái đẹp và cộng đồng tạo nên một con đường mà người nghệ sĩ phải đi – đó là quãng đường tôi luyện bản thân không ngừng nghỉ. Họ vừa phải giữ vững lý tưởng sáng tạo, vừa phải lắng nghe, giao tiếp và đồng hành với con người và xã hội. Nếu chỉ theo đuổi cái đẹp mà quên cộng đồng, nghệ thuật sẽ trở nên hời hợt, xa rời thực tế; ngược lại, nếu chỉ chú trọng cộng đồng mà thiếu cái đẹp, nghệ thuật sẽ mất đi giá trị thẩm mỹ và chiều sâu nhân văn.
Thực tế trong văn học Việt Nam và thế giới đã có nhiều nghệ sĩ tiêu biểu sống và sáng tạo theo tinh thần này. Họ luôn hướng tới cái đẹp – cái đẹp của sự chân thực, nhân hậu và tự do; đồng thời luôn giữ mối liên hệ mật thiết với đời sống nhân dân, phản ánh những vấn đề xã hội, con người một cách sâu sắc và thuyết phục.
Như vậy, câu nói của A. Camus đã nhấn mạnh sự cân bằng cần thiết trong đời sống nghệ sĩ, giữa cá nhân và xã hội, giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng. Người nghệ sĩ không chỉ là người sáng tạo mà còn là người đồng hành, người truyền cảm hứng và người bảo vệ những giá trị cao đẹp của nhân loại.
Kết luận:
Người nghệ sĩ thực sự là người tôi luyện trong hành trình kết nối giữa chính mình và cộng đồng, giữa cái đẹp không thể bỏ qua và trách nhiệm đối với xã hội. Chỉ khi đó, nghệ thuật mới phát huy được sức mạnh và giá trị đích thực của nó.
mày đừng so sánh tao với nó\n_vì nó là chó còn tao là người\n_Mày đừng bật cười khi nghe điều đó\n_vì cả mày và nó đều chó như nhau
Phần I
Câu 1:
Văn bản tập trung vào vấn đề nghị luận bàn về niềm tin vào bản thân, nỗ lực phấn đấu không bỏ cuộc để vượt qua những khó khăn, thác ghềnh bằng tự lực để chinh phục thành công.
Câu 2:
Biện pháp ẩn dụ:"thác ghềnh, chông gai trên đường" vì tác giả so sánh những chướng ngại vật trên đường đi hàng ngày của mỗi người cũng giống như những khó khăn, gian nan trên đường đời mỗi người phải trải qua để thành công.
Câu 3:
Tác giả đưa hai dẫn chứng về Walt Disney và Helen Keller là để làm dẫn chứng thuyết phục cho vấn đề cần nghị luận của mình đó là đã có những tấm gương gặp muôn vàn khó khăn trắc trở trong cuộc sống nhưng họ không buông xuôi hay dựa dẫm vào người khác mà biết cách đứng dậy sau vấp ngã và thành công.
Câu 4:
Em đồng ý với quan điểm:"Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ là học từ người khác". Những người đi trước và câu chuyện xoay quanh sự thành bại của họ chính là những bài học quý báu cho người sau. Những con người đi trước và thành công sau 1 quá trình gian nan đó chính là những bằng chứng sống để người đời sau tin tưởng vào mình dù có trải qua bao thác ghềnh, chông gai.
Phần II
Có một câu chuyện ngụ ngôn mà hồi bé chúng ta hay được nghe kể về cuộc đua của rùa và thỏ, con thỏ nhanh nhẹn nhưng lại tự phụ, xem thường đối thủ,tuy con rùa chậm chạp nhưng lại nỗ lực không ngừng, kết quả ai cũng biết, con rùa đã thắng con thỏ. Xuyên suốt câu truyện Rùa và Thỏ là ý chí của con rùa, nó không đầu hàng trước những thất bại. Rõ ràng, con thỏ có năng lực nhưng ý chí lại không tốt bằng con rùa, nó vẫn có thể về đến được vách đích nhưng con rùa vẫn chiến thắng nó,đó cũng là sự biểu trưng cho quyết tâm và ý chí của con rùa . Cũng có người từng nói “ Không phải đời người quá khó khăn, mà là do bạn nỗ lực chưa đủ”. Từ câu chuyện trên và câu nói trên, chúng ta có thể thấy được ý chí đóng 1 vai trò cực kì quan trọng trong mỗi bước tiến đến con đường thành công của mỗi con người.
Sức mạnh, trí tuệ hay thiên phú chỉ góp phần nào cho sự khác biệt giữa những người thành công và những người thất bại, nhưng hơn thế nữa quyết định chủ yếu là ở ý chí. Vậy ý chí hay sự quyết tâm là gì mà nó lại đóng góp không nhỏ vào chính cuộc đời chúng ta? Ý chí, nghị lực là ý thức, tính tự giác, mạnh mẽ, quyết tâm dồn nén sức lực, trí tuệ để đạt được tiêu chí, mục đích. Ý chí cũng là phẩm chất tâm lí đặc trưng của con người, thể hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có nỗ lực khắc phục khó khăn.Ngay từ những điều đơn giản nhất trong cuộc sống, bạn được giao một công việc trong nhiều ngày, nhưng bạn đã cố gắng, tập trung để hoàn thành trước thời hạn và nhận thêm một việc làm mới, từ đó năng suất làm việc, hiệu quả công việc và sự tin tưởng từ người giao việc cũng từ đó tăng theo. Chỉ từ một sự quyết tâm nhỏ ấy thôi mà cũng kéo theo được vô cùng nhiều giá trị và lợi ích không chỉ đối với bản than mà còn đối với những người xung quanh chúng ta. Ý chí như thôi thúc bản thân mỗi chúng ta, như tiếp thêm cho ta phần nào sức mạnh để ngày càng tới gần hơn mục tiêu đã đề ra. Câu chuyện được minh chứng bởi Thomas Edison – nhà phát minh tài ba của thế kỉ XX, hơn 10.000 lần thất bại để đem được ánh sáng đến với nhân loại, nếu không có ông thì dường như việc bóng đèn xuất hiện với thế giới sẽ bị đẩy lùi đi mười mấy năm, rõ ràng, chính ý chí quyết tâm của Edison đã khiến con đường của nền văn minh hiện đại của con người trở nên ngắn lại.
Ý chí giúp chúng ta toàn sức tập trung vào mục tiêu bằng cách ngăn cản các suy nghĩ không liên quan khác xảy đến. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ hoàn thành công việc một cách nhanh chóng và hiểu quả. Chủ tịch Hồ chí đã nói:
“Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên”
Câu nói này càng như khẳng định vai trò quan trọng và to lớn của sức mạnh ý chỉ và quyết tâm, đáng sợ nhất không phải là những người có tài năng thiên bẩm mà là những người có nghị lực vươn lên. Ý chí rèn luyện bản thân sự quyết đoán và nhạy bén trong mọi vấn đề cuộc sống từ đó thúc đẩy hành trình của bản thân trở nên tinh gọn. Nghị lực là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với bản thân mỗi người, tuy nhiên không phải ai cũng nhận ra được giá trị cốt lõi của nó. Trái ngược với những người có ý chí là những người thờ ơ, không đủ quyết tâm, nhụt trí trước những thử thách cuộc sống. Giới trẻ bây giờ không ít người chưa làm đã vội bỏ cuộc, thấy khó khăn đã nản chí, gặp thất bại thì hủy hoại và sống bất cần đời. Những người như thế thật đáng chê trách. Là học sinh, chúng ta cần khẳng định tư cách, ý chí, nghị lực vượt qua những khó khăn thử thách .Tài năng của con người được tạo bởi nhiều yếu tố. Trong đó yếu tố tự rèn là yếu tố quan trọng nhất để đi đến thành công. Để thấy mình không thấp hơn người khác, bản thân phải có sự lao động chăm chỉ, cần cù, không chùn bước trước gian nguy, phải biết tự tin vào chính bản thân trên bước đường đời.
Nhìn chung, một lần nữa cần phải khẳng định lại giá trị của câu nói “ Ý chí tốt làm con đường ngắn lại”. Ý chí mang đến thành công và giúp ta chinh phục mọi khó khăn trên con đường gập ghềnh phía trước. Những con người thành công và nổi tiếng nhất đều là những người có ý chí rất mạnh mẽ.Vậy nên việc rèn luyện và giữ vững một ý chí kiên cường luôn là điều tất yếu trên chặng đường của cuộc đời
Dưới đây là gợi ý trả lời cho các câu hỏi đọc hiểu dựa trên đoạn trích từ tác phẩm Nếu biết trăm năm là hữu hạn của Phạm Lữ Ân:
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
- Phương thức biểu đạt chính: Tự sự kết hợp với nghị luận.
- Đoạn trích kể lại câu chuyện về lời dạy của ba dành cho nhân vật "tôi" (tự sự), đồng thời thể hiện quan điểm, suy nghĩ về giá trị của sự chính trực và tình yêu thương (nghị luận).
Câu 2: Vì sao nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương?
- Nhân vật "tôi" muốn trở thành người chính trực và biết yêu thương vì ba mẹ đã dạy rằng dù con có sai lầm, ba mẹ vẫn yêu thương con vô điều kiện.
- Nhưng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành người chính trực và biết yêu thương.
- Lời dạy đó là động lực và lí do duy nhất để nhân vật "tôi" quyết tâm trở thành người như vậy.
Câu 3: Theo em, việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa gì?
- Câu trích nhấn mạnh tính liên tục của việc giáo dục và truyền lại giá trị đạo đức qua các thế hệ.
- Việc dạy con không chỉ ảnh hưởng đến con cái mà còn ảnh hưởng đến cả các thế hệ tiếp theo (cháu chắt).
- Điều này thể hiện trách nhiệm và tầm quan trọng của việc giáo dục con cái trong gia đình.
Câu 4: Em rút ra được thông điệp gì từ những câu văn sau:
“Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.”
- Thông điệp:
- Sự học hỏi từ người thân, đặc biệt là từ cha mẹ, có ý nghĩa sâu sắc và đặc biệt hơn so với việc học từ người khác.
- Những bài học đời thường, kỹ năng sống khi được truyền đạt từ người thân yêu mang giá trị tinh thần và tình cảm lớn lao.
- Mối quan hệ gắn bó, sự tin tưởng và tình cảm gia đình làm cho việc học trở nên ý nghĩa và đáng trân trọng hơn.
Nếu bạn cần mình giải thích thêm hoặc hỗ trợ làm bài tập khác, cứ hỏi nhé!
1, nghị luận
2, Tác dụng: nhấn mạnh thông điệp mà văn bản muốn truyền đạt đó là vai trò của hy vọng đối với đời sống tinh thần của mỗi con người.
3,
Tác giả cho rằng "hy vọng duy trì cuộc sống của chúng ta mà không có gì có thể thay thế được" bởi vì hy vọng chính là những niềm tin vào những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, là những niềm tin vững chắc vào những điều tuyệt vời sẽ xảy ra. Chính vì vậy, nhờ có hy vọng mà con người dù trong hoàn cảnh tồi tệ và tối tăm nhất vẫn sẽ luôn vững tin và có sức mạnh để tiếp tục nỗ lực và vượt qua được những thử thách chông gai. Nói cách khác, hy vọng chính là nguồn sức mạnh tinh thần của mỗi người trong cuộc sống.
4,
Thông điệp mà em tâm đắc nhất chính là "đừng bao giờ đánh mất hy vọng". Bởi vì hy vọng chính là nguồn sức mạnh giúp mỗi cá nhân vượt qua những thử thách, chông gai và mở ra con đường cho mỗi người định hướng trong tương lai. Nhờ có hy vọng mà con người vẫn tích cực và hạnh phúc sống dù trong hoàn cảnh bế tắc vì còn hy vọng là còn sức mạnh tinh thần để đạt được điều mà mình mong muốn.
câu1
Biển đảo – Nơi mà hàng triệu người đang luôn bảo vệ. Biển đảo là một phần máu thịt của Tổ quốc, vì vậy có muôn vàn trái tim ngày đêm hướng về biển đảo, dành tình yêu cho những người lính biển cùng các chiến sĩ, các lực lượng ngày đêm bảo vệ chủ quyền biển đảo nước nhà. Những tưởng biển đảo bình yên với những con sóng nhẹ xô bờ, thế nhưng những ngày tháng này cả nước vẫn đang chống chịu với cơn sóng ngầm, bão giông, sóng gió chưa bao giờ lặng im trên mảnh đất xanh của Tổ quốc … Là một học sinh, bản thân em luôn mang trong tim tình yêu biển đảo, tình yêu và lòng khâm phục tới những người lính biển, những ngư dân chân chất nơi đảo xa. Có chút chạnh lòng, xót xa, lo lắng khi biển xanh dậy sóng,… em mong rằng biển đảo sẽ bình yên, rạng rỡ nụ cuoiw
Để bảo vệ chủ quyền biển đảo, trước hết thanh niên và thanh niên học sinh nói riêng phải xác định phải giữ biển đảo bằng tri thức về chủ quyền biển đảo. Chúng ta cần nghiên cứu và nhận thức sâu sắc về ý nghĩa thiêng liêng chủ quyền biển đảo và giá trị to lớn chủ quyền mà ông cha ta đã đổ xương máu để xây dựng; về lịch sử Việt Nam đặc biệt là lịch sử địa lý liên quan đến chủ quyền biển đảo, về lịch sử hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa… tìm hiểu rõ chính sách ngoại giao nhất quán của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề biển Đông. Thanh niên cần hưởng ứng và tích cực tham gia các diễn đàn hợp pháp trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên internet, khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên các diễn đàn, đồng thời kịch liệt lên án và đấu tranh tham gia ngăn chặn các hành vi xâm phạm phạm chủ quyền biển đảo Việt Nam. Thanh niên là hậu phương chỗ dựa tình cảm vững chắc đối với các lính biển đảo, bằng những việc làm thiết thực như gửi thư đến các lính hải đảo để chia sẻ động viên và tiếp sức cho các anh thêm nghị lực để trông giữ biển đảo. Điều quan trọng, thanh niên cần không ngừng tu dưỡng phẩm chất người Việt Nam mới, tích cực tham gia xây dựng đất nước giàu mạnh, có định hướng lý tưởng yêu nước và đoàn kết để tạo nên sức mạnh bảo vệ chủ quyền biển đảo. Bên cạnh đó, mỗi người chúng ta cần sẵn sàng chuẩn bị tinh thần tham gia trực tiếp vào công cuộc giữ gìn biển đảo quê hương bằng tất cả những gì mình có thể.
Biển đảo Việt Nam là một phần lãnh thổ thiêng liêng không thể tách rời của Tổ quốc được cha ông truyền lại. Trách nhiệm của tuổi trẻ nói riêng là ra sức gìn giữ toàn vẹn phần lãnh thổ này như lời Bác Hồ năm xưa đã dặn “các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước
Câu 2
Truyện ngắn “ Vợ nhặt” của Kim Lân được sáng tác sau cách mạng tháng Tám nhưng lấy bối cảnh là nạn đói năm 1945. Đặt trong bối cảnh ra đời của tác phẩm, nhà văn đã làm toát lên tấm long yêu thương, đùm bọc lẫn nhau và khát vọng hạnh phúc của những người người khổ. Vẻ đẹp nhân bản ấy được tác giả xây dựng thành công ở hình tượng nhân vật “bà cụ Tứ” – mẹ anh Tràng- người “nhặt vợ”.Bà cụ Tứ trước hết là người mẹ nghèo khổ đã già yếu với cái lưng “long khòng”, khẽ mắt “lèm nhèm “,”khuôn mặt bủng beo, u ám “. Những hành động cử chỉ của cụ “nhấp nháy hai con mắt”,”chậm chạp hỏi”, “lập cập bước đi”, “lật đật:, “lễ mễ” cũng thể hiện cụ là một người đã già, không còn khỏe mạnh. Hơn nữa người phụ nữ ấy còn bị đặt trong hoàn cảnh nghèo nàn, đói khổ mà cụ nói “ cuộc đời cực khổ dài đằng đẵng”.
Trong tác phẩm, bà cụ Tứ chỉ xuất hiện ở giữa truyện khi anh Tràng đưa vợ về nhà, nhưng nhân vật này vẫn thu hút được sự quan tâm của người đọc bởi những vẻ đẹp tâm hồn, tính cách.
Trong người mẹ già nua, đói khổ ấy có một tình yêu thương dành cho con cái sâu sắc. Cụ thương người con trai của mình “cảm thấy ai oán xót thương cho số phận đứa con mình”. Trong kẽ mắt kèm nhàm của cụ rỉ ra hai dòng nước mắt. Cụ đã sớm lo lắng cho cuộc sống tương lai của đứa con mình” không biết chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua cơn đói này không”. Bà còn dành tình yêu thương cho người con dâu mới của mình. Bà nhìn thị nghĩ :”Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này người ta mới lấy con mình, con mình mới có vợ được”. Đó là tấm lòng người mẹ không khinh rẻ mà tỏ ra thông cảm thấu hiểu hoàn cảnh con dâu, thậm chí bà còn cho đó là may mắn của con trai mình, gia đình mình khi có con dâu mới. Điều đo chứng tỏ bà cụ Tứ rất hiểu mình, hiểu người. Tình yêu thương còn thể hiên qua những lời nói của bà cụ dành cho con “Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi may ra ông giời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời?…". Bà nói với con dâu bằng lời của một người từng trải – vừa lo lắng, vừa thương xót, đồng thời động viên con bằng triết lý dân gian”ai giàu ba họ ai khó ba đời, hướng con tới tương lai tươi sáng. "… Năm nay thì đói to đấy. Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá…". Câu nói thể hiện tấm long thương xót cho số phận của những đứa con. Và để ngày vui của các con thêm trọn vẹn, sáng hôm sau cụ” xăm xắn quét tước nhà cửa”. Hành động giản dị thôi nhưng thể hiện tấm lòng người mẹ tuy nghèo nhưng hết lòng thương yêu con. Và thế là đám cưới không nghi lễ, không đón đưa của đôi vợ chồng trẻ được chan đầy bằng tình yêu thương và tấm long lo lắng của người mẹ nghèo.
Nhân vật bà cụ Tứ bị đặt trong hoàn cảnh éo le, qua đó ta thấy được tinh thần lạc quan của người mẹ già yếu, tuy sắp đến độ gần đất xa trời nhưng luôn hướng về tương lai thể hiện qua những hành động và lời nói. Cụ tin vào triết lý dân gian: ai giàu ba họ ai khó ba đời- lạc quan về một ngày mai tươi sáng.Cụ đồng tình khi thấy Tràng thắp đèn mặc dù cụ biết lúc đó dầu rất đắt, dầu là thứ xa xỉ. Nếu để ý ta sẽ thấy chính bà lão “gần đất xa trời”này lại là người nói về tương lai nhiều nhất” cụ nói toàn chuyện vui, chuyện sung sướng về sau. Đó không đơn thuần chỉ là niềm lạc quan của người lao động mà còn là ước mơ về cuộc sống có phần tươi sáng hơn cho các con. Bà cụ trông cũng” tươi tỉnh khác hẳn ngày thường”. Chính tâm trạng vui tươi phấn khởi của người mẹ già đã làm sáng lên cái không gian u ám và góp phần vào ngày vui trọng đại của cuộc đời người con trai. Sáng hôm sau cụ xăm xắn quét dọn nhà cửa, đó là những công việc sinh hoạt thường ngày nhưng đặt trong hoàn cảnh này, hành động quét dọn làm nhà cửa trông sạch sẽ, tinh tươm hơn giống như cụ đang muốn tự tay quét đi những tăm tối của ngày cũ và đón chờ những điều tươi sáng hơn. Và hình ảnh người mẹ già, cười đon đả: “Cám đây mày ạ, hì. Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem. Xóm ta khối nhà chả có cám mà ăn đấy", cứ quẩn quanh, ám ảnh tâm chí người đọc. Cái lạc quan không những không bị mất đi mà lại càng trở nên mãnh liệt hơn trong mưa nắng cuộc đời. Trong buổi sáng đầu tiên đón tiếp nang dâu mới, nồi cháo cám “ chát xít, nghẹn bứ trong miệng” mà ngon ngọt trong long, ngọt bởi tâm lòng người mẹ nghèo đang cố xua đi cái không khí ảm đạm bằng thái độ lạc quan và sự tươi tỉnh động viên con cố gắng vượt qua hoàn cảnh. Nhưng sự thật là vị đắng ngắt của cháo cám và tiếng thúc thuế từ xa vọng lại đã không làm niềm vui nhỏ của những con người nghèo khổ cất cánh lên được.
Bằng tài năng và tấm lòng đồng cảm sâu sắc, Kim Lân đã dựng lên “hình ảnh chân thật và cảm động về người mẹ nông dân nghèo khổ trong trận đói khủng khiếp năm 1945". Nhân vật bà cụ Tứ được khắc họa chủ yếu qua sự vận động trong nội tâm nhân vật. Ngoài ra, qua những lời nói, cử chủ, hành động của nhân vật ta cũng có thể cảm nhận được tấm lòng yêu thương con sâu sắc. Ở bà cụ Tứ thấp thoáng hình ảnh của nhân vật lão Hạc, của mẹ Dần, vợ chồng Dần ( Nam Cao) những người nông dân nghèo nhưng chỉ sống vì con, hết lòng yêu thương con. Dẫu chỉ là một nhân vật phụ nhưng bằng tài năng, và tình cảm thiết tha trừu mến đối với tấm lòng người mẹ nghèo, Kim Lân đã khắc họa được chân dung nhân vật vừa sinh động, chân thực, vừa cảm động, day dứt với người đọc. Chính những hành động, lời nói của cụ, nụ cười trên khuôn mặt bủng beo u ám đã làm sáng bừng thiên truyện sau cái tối tăm, cái bế tắc của đói nghèo. Ý nghĩa nhân bản mà nhà văn muốn gửi gắm qua nhân vật này là con người dù có đặt vào hoàn cảnh khốn cùng, cận kề cái chết nhưng vẫn không mất đi những giá trị tinh thần và phẩm chất tốt đẹp: lòng yêu thương con người và thái độ lạc quan hi vọng vào tương lai tươi sáng dù cho chỉ có một tia hi vọng mỏng manh. Kim Lân đã khám phá và thể hiện thành công điều đó ở nhân vật bà cụ Tứ. qua đó thể hiện rõ tấm lòng nhân hậu , bao dung, tình yêu thương con của bà cụ Tứ
Vợ nhặt của Kim Lân là một trong những tác phẩm xuất sắc và tiêu biểu nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại khi viết về chủ đề người nông dân dưới xã hội cũ, đặc biệt là trong giai đoạn đau thương nhất của đất nước. Tuy nhiên trong tác phẩm nội dung chính mà tác giả muốn đề cập đến không phải là phản ánh, tố cáo hiện thực mà là tấm lòng trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp trong tâm hồn con người, cùng với sức mạnh của tình người, tình thân trong gia định đã trở thành cơ sở cho những khát vọng sống, niềm hy vọng và tin tưởng vào tương lai mãnh liệt ngay trong những hoàn cảnh khốn cùng nhất. Bên cạnh hai nhân vật là Tràng và thị với những nét phẩm chất riêng, thì nhân vật cụ Tứ lại hiện lên với vẻ đẹp của tình mẫu tử, thương con sâu sắc.
Giữa nạn đói hoành hành năm 1945, hàng triệu đồng bào ta phải chịu chết đói, nhiều người phải lìa xa quê cha đất tổ đi tha hương cầu thực nơi xứ người, mẹ con bà cụ Tứ là một trong số đó. Bà cụ là một phụ nữ nông dân nghèo khổ, có lẽ rằng cả cuộc đời bà đã phải chịu nhiều đắng cay vất vả, bởi lẽ cả cuộc đời bà nằm trọn trong những ngày tháng đất nước chất chứa nhiều đau thương, lầm than dưới chế độ thực dân nửa phong kiến. Cả cuộc đời bà dành để kiếm từng đồng, từng hào chắt bóp nuôi con khôn lớn, cho đến khi tuổi đã gần đất xa trời, bà cụ tội nghiệp vẫn không được hưởng những ngày tháng sung sướng. Thay vào đó cụ vì già cả, ốm yếu phải sống dựa vào đứa con trai là anh Tràng với một công việc bấp bênh, bữa đói bữa no, và bên ngoài kia thần chết đang chực chờ những con người khốn khổ, cùng đường vì cái đói, trong đó có cả hai mẹ con bà cụ Tứ. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt như vậy tình mẫu tử của bà cụ lại càng hiện lên rõ rệt, cả đời làm lụng nuôi con khôn lớn, đến khi Tràng đã lớn khôn thì bà cụ lại sầu khổ vì không kiếm nổi cho con một tấm vợ, một người đàn bà đỡ đần hôm sớm. Tất cả chỉ tại bà nghèo quá, người ta cưới vợ khi có của ăn của để, khi ăn nên làm ra, còn bà lại chẳng có gì trong tay thành thử phải tội con bà cô đơn lẻ bóng. Mà có khi đến lúc mà mất đi thì đứa con trai tội nghiệp lại phải chịu cảnh côi cút một mình trên đời. Điều ấy làm bà cụ Tứ tủi phận nhiều lắm.
Cho đến một hôm thấy Tràng dẫn một người phụ nữ lạ mặt về nhà, trong lòng bà cụ nổi lên biết bao nhiêu là cớ sự thắc mắc, thế nhưng bà không hề tỏ ra bối rối mà quay sang nhìn con tỏ ý không hiểu, để chờ Tràng giải thích, để cho Tràng có cơ hội được phân trần câu chuyện, chứ không lên tiếng trách móc. Đó là tấm lòng của một người mẹ trải đời, thương con bằng một tình thương dịu dàng, săn sóc. Rồi đến khi đã rõ sự mười mươi, bà cụ "hiểu ra bao nhiêu là cớ sự" rồi thì bà im lặng, những dòng suy nghĩ chảy trôi, quẩn quanh liên tục bên ngoài cái sự việc con bà lấy vợ, một người vợ theo không. Nhưng không chần chừ quá lâu, bà cụ Tứ đã sống trên cuộc đời này ngót nghét vài chục năm trời đằng đẵng, có cái khổ, cái sự lạ nào mà bà không hiểu thấu. Đứng trên vai trò là một người mẹ có tấm lòng thương con sâu sắc, bà hiểu được chuyện anh Tràng lấy vợ âu cũng là chuyện hợp tình hợp lý, bởi Tràng đã đến cái tuổi ấy lâu lắm rồi. Thế nhưng vừa nghĩ thông chuyện này thì bà cụ lại chợt nghĩ đến chuyện khác, bao nhiêu mối lo toan bỗng đổ dồn về lòng người mẹ già tội nghiệp, bà thương con "ai oán xót thương cho số kiếp con trai mình", cũng lại tủi cho phận người làm mẹ, nhưng không thể lo nổi cho con một cái đám cưới, dựng vợ gả chồng tử tế cho con, để nó phải tự thân đi kiếm về một người vợ. Càng nghĩ bà lại càng lấy làm buồn lòng, xúc động "trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai hàng nước mắt". Ấy rồi ăn ở với nhau như thế "biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau qua cơn đói khát này không", là những suy nghĩ quẩn quanh trong lòng bà cụ Tứ. Một người mẹ thương con không nề hà, trách mắng con mình tự tiện cưới gả, bởi bà hiểu phận mình và phận con, bà chỉ lo lắng mãi chuyện cuộc sống tương lai của hai vợ chồng Tràng, sợ con chịu khổ cực, rồi đương không lại liên lụy cả người khác nữa. Cái đám cưới chớp nhoáng khác thường này đem đến cho cụ niềm vui có dâu con, nhưng cũng lại mang đến cho bà biết bao nhiêu trăn trở, rối rắm. u cũng là lòng người mẹ yêu thương và suy nghĩ cho con trăm bề. Cuối cùng sau khi đã đi qua những xúc động, buồn tủi, bà cụ Tứ đã nhanh chóng vực lại tinh thần, thông suốt mọi vấn đề rằng "Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này, người ta mấy lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được. Thôi bổn phận bà là mẹ, bà đã chẳng lo lắng được cho con...Chẳng may ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế nào mà lo cho hết được?". Bà nhanh chóng thấu hiểu và thông cảm cho hoàn cảnh đáng thương của thị, đồng thời lòng bà đã dấy lên những tình cảm thương yêu người con dâu mới về. Bà nhẹ nhàng giục thị ngồi xuống, rồi nhỏ nhẹ khuyên giải, nhắc nhở động viên, vun vén vào cho hai vợ chồng Tràng, dặn dò họ cách ăn ở với nhau bằng những lời phấn khởi "Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời?". Mặc dầu rằng trong lòng bà vẫn còn trăm mối tơ vò cảm xúc, nhưng không vì thế mà bà làm các con bối rối, mất vui, bà quyết giữ cho riêng bà những lo lắng, những buồn tủi để cho đôi tân nhân một sự động viên trước khi bước vào cuộc đời mới.
Sau đêm tân hôn của vợ chồng Tràng, căn nhà tàn tạ dưới đôi bàn tay của mẹ chồng nàng dâu bỗng trở nên sáng sủa lạ thường, thấy được những đức tính tốt đẹp, sự cẩn thận chu đáo của thị và cụ mừng lắm "cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên". Trong bữa cơm sáng, dẫu rằng mâm cơm ngày đói kém trông thật thảm hại với mớ rau chuối thái mỏng và cháo loãng thế nhưng không khí trong nhà vẫn rất vui vẻ đầm ấm. Bà cụ thương con, thương dâu, thành thử bà cố xua đi cái nghèo đói đang hiện hữu trước mắt cặp tân nhân bằng cách liên tục kể những chuyện vui, kế hoạch làm ăn, nuôi gà, mở ra trước mắt những tương lai tốt đẹp đầy hy vọng. Đặc biệt người mẹ nghèo khó còn chiêu đãi con trai và con dâu bằng một nồi "chè khoán", mà thực tế đó là là cháo cám để mừng tân hôn. Dù vị của món ăn này vô cùng cùng khó ăn thế nhưng đó là cả tấm lòng của một người mẹ thương con, bà cụ tội nghiệp vì nghèo xác xơ không lấy gì để làm cỗ làm bàn, thế nên chỉ còn cách cố kiếm cho được ít cám về nấu làm món ăn đổi bữa. Ở một nét suy diễn sâu xa nào đó thì nồi cháo cám còn mang ý nghĩa là lời nhắc nhở của cụ Tứ dành cho các con về những ngày gian khó đang chờ đợi trước mắt, hy vọng rằng vợ chồng Tràng vẫn được vững lòng như ngày hôm nay, ăn nồi cháo cám đắng ghét, nghẹn ứ nơi cổ họng mà vẫn cảm thấy vui vẻ hạnh phúc.
Nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt là một hình tượng tiêu biểu cho những bà mẹ Việt Nam xưa, cả cuộc đời hy sinh sinh vì con cái, yêu thương con sâu sắc bằng những tình cảm thấu hiểu, bao dung và vị tha. Dù rằng bà sống trong cảnh nghèo khó tột cùng, thế nhưng với sự từng trải của mình bà vẫn giành lấy được những sự lạc quan, vui vẻ trong cuộc sống, trở thành kim chỉ nam hướng vợ chồng Tràng đến một tương lai tươi sáng, tốt đẹp hơn.
câu 16 : buổi trưa
Câu 17: còn cái nịt
Câu 18 : hỏi đường lên đỉnh olympia
Câu 19: bật que diêm đầu tiên
Câu 20: cũng giống như đổ ovantin với milo mà vẫn phân biệt được vậy
Câu 16: Lúc lý tưởng để ăn trưa?
Đáp án: Sau bữa ăn sáng.
Câu 17: Có ba quả táo trên bàn và bạn lấy đi hai quả. Hỏi bạn còn bao nhiêu quả táo?
Đáp án: 2 quả (Vì bạn đã lấy đi 2 quả rồi còn gì).
Câu 18: Bố mẹ có sáu người con trai, mỗi người con trai có một em gái. Hỏi gia đình đó có bao nhiêu người?
Đáp án: 9 người (bao gồm 6 người con trai, 1 cô con gái và bố mẹ).
Câu 19: Nếu chỉ có một que diêm, trong một ngày mùa đông giá rét, bạn bước vào căn phòng có một cây đèn, một bếp dầu, và một bếp củi, bạn thắp gì trước tiên?
Đáp án: Que diêm.
Câu 20: Có hai bình rộng miệng đựng đầy nước. Làm sao để cho tất cả nước vào trong một cái chậu mà vẫn biết nước nào của bình nào (không được cho cả bình hay bất kỳ dụng cụ đựng nước nào vào chậu)?
Đáp án: Cho cả 2 vào tủ lạnh để đông thành đá rồi cho chung vào một chậu.



Câu 1. Ngôi kể trong văn bản trên: Ngôi thứ nhất. Câu 2. Kiệt tác của cậu bé trong văn bản là: Bức vẽ số một – hình vẽ một con trăn đang nuốt chửng và tiêu hóa một con voi (bên ngoài trông giống một cái mũ). Câu 3. Người lớn bảo cậu bé hãy chú trọng học các môn văn hóa thay vì khuyến khích vẽ vì: Người lớn thường thực dụng, chỉ coi trọng những kiến thức "hữu ích" trong học tập và công việc. Họ không có khả năng nhìn nhận sáng tạo, tưởng tượng, và không hiểu được ý nghĩa sâu xa trong bức vẽ của cậu bé. Câu 4. Người lớn được miêu tả: Thực tế, thực dụng, thiếu sáng tạo và không hiểu được tâm hồn của trẻ con. Họ thường đánh giá mọi thứ qua vẻ bề ngoài và áp đặt suy nghĩ của mình lên trẻ em. Nhận xét: Những người lớn trong văn bản đại diện cho cách tư duy khô khan, hạn chế trí tưởng tượng và sự sáng tạo, khiến trẻ con dễ cảm thấy thất vọng hoặc bị ép buộc theo những lối mòn. Câu 5. Bài học rút ra: Hãy giữ gìn trí tưởng tượng và sự sáng tạo của bản thân, không để ý kiến của người khác làm mất đi niềm đam mê. Trẻ em cần được khuyến khích và tôn trọng những ý tưởng của mình, thay vì áp đặt hay phủ nhận. Quan trọng hơn, chúng ta cần học cách nhìn sâu vào vấn đề, không chỉ đánh giá mọi thứ qua vẻ bề ngoài.
Phần I. Đọc hiểu
(Văn bản trích từ tiểu thuyết Hoàng tử bé của Saint-Exupéry)
Câu 1. Xác định ngôi kể trong văn bản trên.
Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất, người kể xưng “tôi”.
Câu 2. Kiệt tác của cậu bé trong văn bản là gì?
Kiệt tác của cậu bé là bức tranh vẽ con trăn đang nuốt (và tiêu hóa) một con voi – hình vẽ số một và hình vẽ số hai (vẽ rõ phần bên trong bụng trăn).
Câu 3. Vì sao người lớn lại bảo cậu bé chú trọng học các môn văn hóa thay vì khuyến khích cậu bé vẽ nhiều?
Vì:
Câu 4. Những người lớn trong văn bản được miêu tả như thế nào? Nhận xét về các nhân vật ấy.
Những người lớn được miêu tả là:
Nhận xét:
Họ đại diện cho một kiểu người trưởng thành đã đánh mất khả năng mơ mộng, sáng tạo và cảm nhận vẻ đẹp cuộc sống một cách hồn nhiên. Đây là lời phê phán nhẹ nhàng nhưng sâu sắc của tác giả đối với tư duy máy móc của người lớn.
Câu 5. Qua văn bản, em rút ra những bài học gì cho bản thân?
Qua văn bản, em rút ra bài học:
Câu 1.
• Văn bản được kể theo ngôi kể thứ nhất.
• Dấu hiệu: Người kể chuyện xưng "tôi" và trực tiếp kể lại những trải nghiệm, suy nghĩ của chính mình.
Câu 2
• Kiệt tác của cậu bé (khi đó lên sáu tuổi) là bức vẽ số một và số hai:
• Bức vẽ số một: Vẽ một con trăn đang tiêu hóa một con voi (nhưng người lớn lại nhìn ra cái mũ).
• Bức vẽ số hai: Vẽ rõ bên trong bụng con trăn có một con voi để người lớn có thể hiểu được.
Câu 3.
• Người lớn bảo cậu bé tập trung vào các môn như địa lý, lịch sử, toán học, ngữ pháp vì:
• Tính thực tế: Họ cho rằng đó là những kiến thức thực dụng, cần thiết cho cuộc sống và sự nghiệp sau này, trong khi hội họa (đặc biệt là cách vẽ của cậu bé) bị coi là viển vông, không có giá trị thực tiễn.
• Sự thiếu trí tưởng tượng: Người lớn chỉ nhìn thế giới qua vẻ bề ngoài và các con số, họ không hiểu được thế giới nội tâm phong phú và ý nghĩa biểu tượng trong những bức tranh của trẻ thơ.
Câu 4.
• Miêu tả:
• Họ không thể tự hiểu được điều gì mà luôn cần trẻ con phải giảng giải.
• Họ chỉ quan tâm đến những thứ "quan trọng" như chính trị, cà vạt, bài bạc, đấu bóng thay vì những điều kỳ diệu như rừng hoang hay các vì sao.
• Họ luôn nhìn bức vẽ con trăn tiêu hóa voi thành một "cái mũ".
• Nhận xét:
• Những người lớn đại diện cho sự khô khan, thực dụng và thiếu hụt trí tưởng tượng.
• Họ đánh mất khả năng nhìn nhận thế giới bằng trái tim và sự hồn nhiên, từ đó vô tình dập tắt ước mơ và thiên hướng nghệ thuật của trẻ em.
Câu 5. • Bài học:Giữ gìn sự hồn nhiên và trí tưởng tượng: Đừng để sự thực dụng của cuộc sống làm mòn đi khả năng sáng tạo và cái nhìn đa chiều về thế giới.
• Sự thấu hiểu và lắng nghe: Khi nhìn nhận một vấn đề (hoặc một con người), cần nhìn sâu vào bản chất bên trong thay vì chỉ đánh giá qua vẻ bề ngoài.
• Kiên trì với đam mê: Dù đôi khi không được số đông ủng hộ, chúng ta vẫn nên tin tưởng vào giá trị và cái nhìn riêng của bản thân (tuy nhiên trong bài, cậu bé đã từ bỏ nghề họa sĩ vì sự thất vọng, đây là một bài học cảnh tỉnh về việc cần có bản lĩnh hơn).
Câu 1.
Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất, xưng “tôi”. Người kể chuyện trực tiếp tham gia vào câu chuyện, kể lại những trải nghiệm thời thơ ấu của mình.
Câu 2.
“Kiệt tác” của cậu bé là bức vẽ con trăn đang nuốt một con voi (nhìn bên ngoài giống như một chiếc mũ).
Câu 3.
Người lớn bảo cậu bé chú trọng học các môn văn hóa vì họ cho rằng những môn như địa lí, lịch sử, toán, ngữ pháp mới thực sự quan trọng và thiết thực cho tương lai. Họ không hiểu được ý nghĩa, trí tưởng tượng và tài năng hội họa của cậu bé, nên xem việc vẽ vời là vô bổ, không cần thiết.
Câu 4.
Những người lớn trong văn bản được miêu tả là thực tế, khô khan, thiếu trí tưởng tượng. Họ chỉ nhìn bức tranh như một chiếc mũ mà không nhận ra con trăn đang nuốt con voi bên trong. Họ thích nói về những vấn đề như bài bạc, chính trị, cà vạt… và cho đó là quan trọng. Theo em, những người lớn ấy đáng trách ở chỗ họ không thấu hiểu thế giới tâm hồn phong phú của trẻ em, vô tình làm thui chột ước mơ và khả năng sáng tạo của trẻ.
Câu 5.
Qua văn bản, em rút ra bài học: cần biết trân trọng trí tưởng tượng, nuôi dưỡng ước mơ và sáng tạo của trẻ em; người lớn nên lắng nghe, thấu hiểu trẻ nhỏ. Đồng thời, bản thân mỗi người cũng cần giữ gìn sự hồn nhiên, khả năng nhìn cuộc sống bằng đôi mắt trong trẻo, không để sự khô cứng của thực tế làm mất đi những điều đẹp đẽ.
Câu 1.
Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất, người kể xưng “tôi”.
Câu 2.
Kiệt tác của cậu bé là bức vẽ con trăn đang tiêu hóa một con voi.
Câu 3.
Vì người lớn không hiểu bức vẽ và thiếu trí tưởng tượng, họ cho rằng cần học các môn văn hóa quan trọng hơn vẽ tranh.
Câu 4.
Người lớn được miêu tả là thiếu trí tưởng tượng, chỉ nhìn bề ngoài, không hiểu trẻ em.
→ Họ là những người khô khan, thực tế và ít thấu hiểu.
Câu 5.
Bài học: Cần giữ trí tưởng tượng, không đánh giá sự vật qua vẻ ngoài và phải theo đuổi ước mơ của mình.
Câu1: ngôi thứ nhất- xưng tôi
Câu 2: Kiệt tác của cậu bé là:
- Bức vẽ số một: hình con trăn nuốt con voi (nhìn bên ngoài giống cái mũ)
- Bức vẽ số hai: vẽ rõ bên trong bụng con trăn có con voi
Câu 3: Người lớn khuyên cậu bé tập trung học các môn văn hóa vì:
- Họ không hiểu được trí tưởng tượng của cậu bé
- Họ coi trọng những kiến thức “thiết thực” (địa lí, lịch sử, toán, ngữ pháp) hơn nghệ thuật
- Họ nghĩ vẽ vời không quan trọng và không giúp ích cho tương lai
Câu 4: Người lớn được miêu tả là: Thiếu trí tưởng tượng, chỉ nhìn bề ngoài (bức tranh là “cái mũ”); Khô khan, thực tế, không hiểu thế giới của trẻ em; Bảo thủ, áp đặt suy nghĩ lên trẻ
*Nhận xét: Những người lớn này đáng tiếc vì họ đã đánh mất sự hồn nhiên, trí tưởng tượng và không biết lắng nghe trẻ em
Câu 5: Bài học rút ra:
- Chúng ta cần giữ gìn trí tưởng tượng và sự sáng tạo của bản thân
- Không nên vội đánh giá người khác chỉ qua vẻ bề ngoài
- Người lớn cần lắng nghe, thấu hiểu trẻ em hơn
- Mỗi người nên theo đuổi đam mê, không để người khác làm mất đi ước mơ của mình
Câu 1. Xác định ngôi kể trong văn bản trên.
Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất (xưng “tôi”). Người kể chuyện đồng thời là nhân vật trong câu chuyện, trực tiếp kể lại những trải nghiệm thời thơ ấu của mình.
Câu 2. Kiệt tác của cậu bé trong văn bản là gì?
Kiệt tác của cậu bé là bức vẽ một con trăn đang nuốt một con voi.
Câu 3. Theo em, vì sao người lớn lại bảo cậu bé hãy chú trọng học những môn văn hóa thay vì khuyến khích cậu bé vẽ thật nhiều?
Vì người lớn:
Điều đó cho thấy họ nhìn nhận sự việc theo hướng thực tế, khuôn mẫu, thiếu sự thấu hiểu và khuyến khích sáng tạo.
Câu 4. Những người lớn trong văn bản trên được miêu tả như thế nào? Em có nhận xét gì về những nhân vật ấy?
Miêu tả:
Nhận xét:
Những người lớn hiện lên với sự hạn chế trong cách nhìn thế giới. Qua đó, tác giả nhẹ nhàng phê phán lối sống thực dụng, thiếu mơ mộng của người lớn, đồng thời đề cao tâm hồn hồn nhiên, giàu trí tưởng tượng của trẻ thơ.
Câu 5:
Qua đoạn trích trong Hoàng tử bé, em rút ra bài học rằng cần biết giữ gìn trí tưởng tượng và tâm hồn hồn nhiên của mình, không nên nhìn nhận sự vật chỉ qua vẻ bề ngoài. Đồng thời, mỗi người cần biết lắng nghe, thấu hiểu người khác và dũng cảm theo đuổi ước mơ của bản thân, không để những suy nghĩ thực tế, khô khan làm mất đi sự sáng tạo và niềm say mê trong cuộc sống.
Câu 1: Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất. Người kể chuyện đồng thời là nhân vật trong câu chuyện, trực tiếp kể lại những trải nghiệm thời thơ ấu của mình. Câu 2: Kiệt tác của cậu bé là bức vẽ một con trăn đang nuốt một con voi. Bức vẽ số một: nhìn bên ngoài giống như một chiếc mũ. Bức vẽ số hai: vẽ bên trong bụng con trăn để người lớn có thể hiểu rõ đó là con voi bị nuốt. Câu 3: Vì người lớn: Không hiểu được trí tưởng tượng phong phú của cậu bé. Cho rằng vẽ vời là việc không thiết thực. Đề cao các môn học “quan trọng” như địa lí, lịch sử, toán, ngữ pháp vì nghĩ rằng chúng cần thiết cho tương lai và nghề nghiệp. Điều đó cho thấy họ nhìn nhận sự việc theo hướng thực tế, khuôn mẫu, thiếu sự thấu hiểu và khuyến khích sáng tạo. Câu 4: Miêu tả: Thiếu trí tưởng tượng. Máy móc, thực tế khô khan. Không tự mình hiểu được những điều giản dị mà sâu sắc. Luôn cần được giải thích cặn kẽ. Nhận xét: Những người lớn hiện lên với sự hạn chế trong cách nhìn thế giới. Qua đó, tác giả nhẹ nhàng phê phán lối sống thực dụng, thiếu mơ mộng của người lớn, đồng thời đề cao tâm hồn hồn nhiên, giàu trí tưởng tượng của trẻ thơ.
Câu 5: Qua đoạn trích trong Hoàng tử bé, em rút ra bài học rằng cần biết giữ gìn trí tưởng tượng và tâm hồn hồn nhiên của mình, không nên nhìn nhận sự vật chỉ qua vẻ bề ngoài. Đồng thời, mỗi người cần biết lắng nghe, thấu hiểu người khác và dũng cảm theo đuổi ước mơ của bản thân, không để những suy nghĩ thực tế, khô khan làm mất đi sự sáng tạo và niềm say mê trong cuộc sống.
Câu 1.
Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất (xưng “tôi”).
Câu 2.
“Kiệt tác” của cậu bé là bức vẽ con trăn đang nuốt một con voi (nhìn bên ngoài giống như
Câu 3:
Vì người lớn không hiểu được ý nghĩa thật sự của bức tranh. Họ chỉ nhìn bề ngoài và cho rằng đó là “một cái mũ”.
→ Họ thiếu trí tưởng tượng và không trân trọng thế giới sáng tạo của trẻ em.
Câu 4.
- Người lớn được miêu tả:
Thiếu trí tưởng tượng.
Chỉ nhìn sự vật ở vẻ bề ngoài.
Thực tế, khô khan, coi trọng kiến thức “nghiêm túc”.
- Vì vậy, họ đáng trách vì không thấu hiểu trẻ em, nhưng cũng đáng thương vì đã đánh mất sự hồn nhiên và khả năng mơ mộng.
Câu 5.
Qua đoạn trích, en đã có thể rút ra các bài học:
- Cần biết trân trọng trí tưởng tượng và sự sáng tạo.
- Không nên chỉ nhìn sự việc ở bề ngoài.
- Cần lắng nghe và thấu hiểu người khác, đặc biệt là trẻ em.
- Hãy giữ gìn tâm hồn hồn nhiên, giàu mơ mộng.
Câu 1. Xác định ngôi kể trong văn bản
Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất.
→ Người kể xưng “tôi”, trực tiếp kể lại những trải nghiệm, suy nghĩ và cảm xúc của mình từ khi còn nhỏ đến khi trưởng thành.
Câu 2. Kiệt tác của cậu bé trong văn bản là gì?
Kiệt tác của cậu bé là bức vẽ con trăn đang tiêu hóa một con voi (hình vẽ số một).
→ Tuy nhiên, người lớn lại hiểu nhầm đó chỉ là một chiếc mũ, không nhận ra ý nghĩa thực sự của bức tranh.
Câu 3. Vì sao người lớn lại khuyên cậu bé chú trọng học các môn văn hóa thay vì khuyến khích cậu vẽ tranh?
Theo em, người lớn khuyên như vậy vì:
→ Điều này thể hiện sự khô cứng, thực dụng trong cách nhìn nhận của người lớn.
Câu 4. Những người lớn trong văn bản được miêu tả như thế nào? Em có nhận xét gì?
Những người lớn trong văn bản được miêu tả là:
Nhận xét:
→ Tác giả phê phán cách sống khô khan, máy móc của người lớn, đồng thời bày tỏ sự cảm thông với thế giới trong trẻo, giàu mơ mộng của trẻ em.
Câu 5. Qua văn bản, em rút ra được những bài học gì cho bản thân?
Qua văn bản, em rút ra bài học:
Câu 1.
→ Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất (xưng “tôi”).
Câu 2.
→ Kiệt tác của cậu bé là bức vẽ con trăn đang tiêu hóa một con voi (bức vẽ số 1 và bức vẽ số 2).
Câu 3.
→ Vì:
⇒ Họ khuyên cậu tập trung vào việc học các môn văn hóa để có tương lai ổn định.
Câu 4.
- Những người lớn hiện lên là:
Nhận xét:
→ Tác giả phê phán cách nhìn nhận phiến diện, cứng nhắc của người lớn; đồng thời bày tỏ sự tiếc nuối khi họ dần đánh mất khả năng mơ mộng, sáng tạo.
Câu 5.
→ Bài học rút ra:
Câu 1. Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất, xưng “tôi”. Người kể chuyện đồng thời là nhân vật tham gia trực tiếp vào câu chuyện.
Câu 2. “Kiệt tác” của cậu bé là bức vẽ con trăn đang nuốt một con voi. Tuy nhiên, người lớn lại tưởng đó chỉ là một cái mũ, vì họ chỉ nhìn bề ngoài mà không hiểu ý nghĩa bên trong.
Câu 3. Người lớn khuyên cậu bé chú trọng học các môn văn hóa như địa lí, lịch sử, toán, ngữ pháp vì họ cho rằng đó là những môn học thiết thực, cần thiết cho tương lai. Họ quan niệm thành công phải gắn với nghề nghiệp ổn định và kiến thức “hữu ích”. Vì vậy, họ không khuyến khích cậu bé theo đuổi hội họa – điều họ xem là mơ mộng, thiếu thực tế. Điều này cho thấy cách nhìn của người lớn thường thiên về lí trí, thực dụng.
Câu 4. Những người lớn trong văn bản được miêu tả là: -Thiếu trí tưởng tượng. -Chỉ nhìn sự vật qua vẻ bề ngoài. -Thích nói về những vấn đề như bài bạc, chính trị, cà vạt… Không hiểu và cũng không cố gắng hiểu thế giới của trẻ em. Nhận xét: Tác giả xây dựng hình ảnh người lớn với giọng điệu nhẹ nhàng nhưng mang tính phê phán. Qua đó cho thấy người lớn đôi khi đánh mất sự hồn nhiên, khả năng tưởng tượng và sự nhạy cảm vốn có. Câu 5. Qua văn bản, em rút ra một số bài học: -Cần biết trân trọng trí tưởng tượng và ước mơ của bản thân. -Không nên vội vàng đánh giá sự việc chỉ qua vẻ bề ngoài.
Câu 1.
→ Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất (xưng “tôi”).
Câu 2.
→ Kiệt tác của cậu bé là bức vẽ con trăn đang tiêu hóa một con voi (bức vẽ số 1 và bức vẽ số 2).
Câu 3.
→ Vì:
⇒ Họ khuyên cậu tập trung vào việc học các môn văn hóa để có tương lai ổn định.
Câu 4.
→ Những người lớn hiện lên là:
Nhận xét:
→ Tác giả phê phán cách nhìn nhận phiến diện, cứng nhắc của người lớn; đồng thời bày tỏ sự tiếc nuối khi họ dần đánh mất khả năng mơ mộng, sáng tạo.
Câu 5.
→ Bài học rút ra:
Câu 1. Ngôi kể:
Ngôi kể thứ nhất, người kể chuyện xưng "tôi" Câu 2. Kiệt tác của cậu bé:
Kiệt tác của cậu bé là bức vẽ số một: hình ảnh một con trăn đang nuốt chửng một con voi, nhưng người lớn lại nhìn ra là cái mũ
Câu 3. Lý do người lớn khuyên chú trọng môn văn hóa:
Người lớn khuyên như vậy vì họ thiếu trí tưởng tượng, thực dụng và quan tâm đến những kiến thức thực tế (địa lý, sử, toán, ngữ pháp) hơn là nghệ thuật hay sự sáng tạo bay bổng. Họ coi các bức vẽ của cậu bé là vô bổ và không thực tế
Câu 4. Miêu tả và nhận xét về người lớn:
Câu 1.
Ngôi kể: Ngôi thứ nhất (xưng “tôi”).
Câu 2.
Kiệt tác của cậu bé: Bức vẽ con trăn nuốt con voi (hình nhìn bên ngoài giống cái mũ, và bức vẽ bên trong bụng trăn).
Câu 3.
Vì người lớn không hiểu trí tưởng tượng và thế giới sáng tạo của trẻ con, họ cho rằng vẽ vời không quan trọng, nên khuyên cậu bé học các môn “thiết thực” như địa lí, lịch sử, toán, ngữ pháp.
Câu 4.
Những người lớn được miêu tả:
• Thiếu trí tưởng tượng
• Chỉ nhìn bề ngoài (thấy “cái mũ”)
• Thực tế, khô khan, không hiểu trẻ em
Nhận xét: Họ cứng nhắc, nghèo tưởng tượng, chưa thấu hiểu tâm hồn trẻ thơ.
Câu 5.
Bài học rút ra:
• Cần giữ gìn trí tưởng tượng và ước mơ
• Không nên đánh giá mọi thứ chỉ qua vẻ bề ngoài
• Người lớn nên lắng nghe, thấu hiểu trẻ em
• Hãy tin vào đam mê và khả năng sáng tạo của bản thân.
- Ngôi kể: Ngôi thứ nhất (người kể chuyện xưng "tôi" - nhân vật phi công khi còn nhỏ và khi đã trưởng thành).
Câu 2. Kiệt tác của cậu bé trong văn bản là gì?- Kiệt tác: Bức vẽ số một, mô tả một con trăn đang tiêu hóa một con voi (người lớn nhìn nhầm thành cái mũ).
Câu 3. Theo em, vì sao người lớn không hiểu được bức tranh của cậu bé?Câu 1. Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất, người kể xưng “tôi”. Nhờ cách kể này, câu chuyện trở nên gần gũi, chân thực và thể hiện rõ cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật.
Câu 2. Kiệt tác của cậu bé là bức tranh vẽ một con trăn đang nuốt một con voi. Đó là bức vẽ xuất phát từ trí tưởng tượng phong phú của cậu sau khi đọc sách về rừng nguyên sinh.
Câu 3. Người lớn bảo cậu bé chú trọng học các môn văn hóa thay vì vẽ nhiều vì họ cho rằng vẽ vời không thực tế và khó đem lại tương lai ổn định. Họ nhìn sự việc theo lối suy nghĩ thực dụng, coi trọng những môn học “có ích” như toán, địa lí, ngữ pháp hơn là nuôi dưỡng trí tưởng tượng.
Câu 4. Những người lớn trong văn bản được miêu tả là khô khan, thiếu trí tưởng tượng và chỉ nhìn sự vật theo vẻ bề ngoài. Họ không hiểu được bức tranh của cậu bé mà chỉ thấy “một chiếc mũ”. Theo em, đó là hình ảnh tượng trưng cho cách nhìn hạn hẹp của nhiều người lớn, quá chú trọng thực tế mà quên đi thế giới tâm hồn phong phú của trẻ thơ.
Câu 5. Qua văn bản, em rút ra bài học rằng cần biết trân trọng trí tưởng tượng và sự sáng tạo. Đồng thời, người lớn cũng nên lắng nghe, thấu hiểu và khuyến khích ước mơ của trẻ nhỏ thay vì vội vàng phủ nhận.
Câu 1.
Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất (xưng “tôi”).
Câu 2.
Kiệt tác của cậu bé là bức vẽ con trăn đang nuốt con voi (nhưng người lớn lại tưởng đó là chiếc mũ).
Câu 3.
Người lớn khuyên cậu bé chú trọng học các môn văn hóa như địa lí, lịch sử, toán, ngữ pháp vì họ cho rằng đó là những môn học thiết thực, giúp ích cho tương lai. Họ không hiểu và không coi trọng trí tưởng tượng, năng khiếu hội họa của cậu bé. Điều đó cho thấy cách nhìn thực tế nhưng hạn hẹp của người lớn.
Câu 4.
Những người lớn trong văn bản được miêu tả là thực tế, khô khan, thiếu trí tưởng tượng và không hiểu thế giới của trẻ em. Họ chỉ nhìn sự vật theo bề ngoài và áp đặt suy nghĩ của mình lên trẻ nhỏ. Theo em, đó là cách nhìn phiến diện, làm thui chột sự sáng tạo và ước mơ của trẻ em.
Câu 5.
Qua văn bản, em rút ra bài học: cần biết trân trọng trí tưởng tượng và ước mơ của bản thân; không nên vội vàng đánh giá sự việc chỉ qua vẻ bề ngoài; người lớn cần lắng nghe và thấu hiểu trẻ em hơn. Đồng thời, mỗi người cũng cần giữ gìn tâm hồn hồn nhiên, sáng tạo của mình.
Câu 1. Ngôi kể:
Ngôi kể thứ nhất, người kể chuyện xưng "tôi" Câu 2. Kiệt tác của cậu bé:
Kiệt tác của cậu bé là bức vẽ số một: hình ảnh một con trăn đang nuốt chửng một con voi, nhưng người lớn lại nhìn ra là cái mũ
Câu 3. Lý do người lớn khuyên chú trọng môn văn hóa:
Người lớn khuyên như vậy vì họ thiếu trí tưởng tượng, thực dụng và quan tâm đến những kiến thức thực tế (địa lý, sử, toán, ngữ pháp) hơn là nghệ thuật hay sự sáng tạo bay bổng. Họ coi các bức vẽ của cậu bé là vô bổ và không thực tế
Câu 4. Miêu tả và nhận xét về người lớn:
Miêu tả: Người lớn trong văn bản được miêu tả là thiếu sự sáng tạo, chỉ nhìn bề ngoài (con trăn nuốt voi thành cái mũ), tư duy cứng nhắc, thực dụng và không hiểu được thế giới tâm hồn trẻ thơ.
Nhận xét: Họ là những người tẻ nhạt, thiếu chiều sâu, luôn cần được giải thích mọi thứ và thường áp đặt tư duy hạn hẹp của mình lên trẻ nhỏ.
Câu 5. Bài học rút ra:
Giữ vững trí tưởng tượng: Cần nuôi dưỡng sự sáng tạo, góc nhìn độc đáo và hồn nhiên, không nên để tư duy thực dụng làm thui chột trí tưởng tượng.
Thấu hiểu trẻ con: Đừng bao giờ áp đặt suy nghĩ của người lớn lên trẻ em; cần lắng nghe và tôn trọng thế giới nội tâm khác biệt của chúng.
Nhìn nhận thấu đáo: Đừng chỉ nhìn bề ngoài của sự vật, sự việc mà hãy nhìn thấu vào bên trong
Câu 1.Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất (xưng “tôi”).
Câu 2.Kiệt tác của cậu bé là bức vẽ con trăn đang nuốt con voi (người lớn lại tưởng là cái mũ).
Câu 3.Người lớn bảo cậu bé chú trọng học các môn văn hóa vì họ cho rằng những môn đó thực tế, cần thiết cho tương lai. Họ không hiểu được trí tưởng tượng và năng khiếu hội họa của cậu bé nên không khuyến khích cậu vẽ tranh.
Câu 4.Những người lớn trong văn bản được miêu tả là:Thiếu trí tưởng tượng.Chỉ nhìn sự vật theo vẻ bề ngoài.Thực tế, khô khan, ít quan tâm đến thế giới nội tâm của trẻ em.→Em nhận thấy họ hơi cứng nhắc và chưa thực sự thấu hiểu trẻ con.
Câu 5. Qua văn bản, em rút ra bài học:Cần giữ gìn trí tưởng tượng và ước mơ của mình.Không nên vội đánh giá người khác qua vẻ bề ngoài.Người lớn cần lắng nghe và thấu hiểu trẻ em hơn.
Câu 1.
Văn bản được kể theo ngôi kể thứ nhất (Người kể chuyện xưng "tôi").
Câu 2
Kiệt tác của cậu bé là "Bức vẽ số một" – hình ảnh một con trăn boa đang tiêu hóa một con voi bên trong bụng nó (mà người lớn nhìn vào chỉ thấy giống một cái mũ).
Câu3
Vì người lớn thường có cái nhìn thực dụng, khô khan và thiếu trí tưởng tượng. Họ cho rằng hội họa (đặc biệt là những hình vẽ không rõ ràng theo ý họ) là vô ích, không thiết thực cho cuộc sống tương lai. Họ muốn cậu bé tập trung vào những kiến thức có thể định lượng và phục vụ cho công việc, địa vị xã hội như địa lý, lịch sử, toán học, ngữ pháp.
Câu 4.
Họ là những người thiếu sự mơ mộng, luôn cần sự giải thích tỉ mỉ mới hiểu được vấn đề ("người lớn bao giờ cũng phải giảng giải"). Họ chỉ quan tâm đến những thứ "nghiêm túc" như chính trị, cà vạt, bài bạc.
Những nhân vật này đại diện cho một thế giới quan hạn hẹp, đánh mất đi sự hồn nhiên và khả năng thấu cảm của trẻ thơ. Họ áp đặt tư duy của mình lên người khác và vô tình dập tắt đi ngọn lửa sáng tạo, đam mê của trẻ em.
Câu 5.
Giữ vững đam mê và sự sáng tạo: Đừng để những lời phán xét hay sự áp đặt của người khác làm thui chột tài năng và sở thích cá nhân.
Cái nhìn đa chiều: Đừng chỉ nhìn sự vật bằng vẻ bề ngoài (nhìn thấy cái mũ) mà hãy nhìn bằng tâm hồn và sự thấu hiểu để thấy được bản chất bên trong (con voi trong bụng trăn).
Sự thấu cảm: Khi trưởng thành, chúng ta nên cố gắng thấu hiểu và trân trọng thế giới tâm hồn của trẻ thơ thay vì chỉ áp đặt những quy tắc cứng nhắc.
Câu 1. Xác định thể thơ
Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật (mỗi câu 7 chữ, gồm 4 câu).
Câu 2. Xác định luật của bài thơ
• Bài thơ gieo vần “ong” ở cuối các câu 2 và 4: phong phong.
• Tuân theo niêm luật chặt chẽ của thơ Đường (7 chữ mỗi câu, kết cấu cô đọng
Câu 3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ
Biện pháp tu từ nổi bật là liệt kê trong câu:
“Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong”.
Tác dụng:
• Liệt kê hàng loạt hình ảnh thiên nhiên đẹp: núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió.
• Gợi ra bức tranh thiên nhiên thơ mộng, quen thuộc trong thơ ca cổ.
• Qua đó làm nổi bật đặc điểm của thơ xưa thường thiên về miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên, ít gắn với đời sống đấu tranh của con người.
Câu 4. Vì sao tác giả cho rằng:
“Hiện đại thi trung ứng hữu thiết,
Thi gia dã yếu hội xung phong”
Theo tác giả:
• Thời đại hiện đại là thời đại đấu tranh cách mạng, cứu nước.
• Vì vậy thơ ca không chỉ nói về thiên nhiên mà cần có “chất thép” – tinh thần mạnh mẽ, ý chí chiến đấu.
• Nhà thơ cũng phải xung phong, nghĩa là tham gia vào cuộc đấu tranh của dân tộc, dùng thơ để cổ vũ và phục vụ cách mạng.
Câu 5. Nhận xét về cấu tứ của bài thơ
Cấu tứ bài thơ rõ ràng, chặt chẽ theo lối đối chiếu:
• Hai câu đầu: nói về đặc điểm của thơ xưa (thiên về vẻ đẹp thiên nhiên).
• Hai câu sau: nêu quan niệm về thơ hiện đại (phải có tinh thần chiến đấu, phục vụ cách mạng).
Câu 1. Xác định ngôi kể trong văn bản trên.
Trả lời: Ngôi kể thứ nhất (Người kể chuyện xưng "tôi").
Câu 2. Kiệt tác của cậu bé trong văn bản là gì?
Trả lời: Kiệt tác của cậu bé là bức vẽ số một: vẽ một con trăn đang tiêu hóa một con voi (nhưng người lớn lại nhìn ra đó là một cái mũ).
Câu 3. Theo em, vì sao người lớn lại bảo cậu bé hãy chú trọng học những môn văn hóa thay vì khuyến kích cậu bé vẽ thật nhiều?
Trả lời: Vì người lớn thường có cái nhìn thực dụng và khô khan. Họ cho rằng hội họa (đặc biệt là những bức vẽ giàu tưởng tượng của trẻ con) là thứ không thực tế, không giúp ích cho sự nghiệp hay tương lai. Họ coi trọng những kiến thức "hữu dụng" như địa lý, toán học, lịch sử và ngữ pháp vì chúng phục vụ cho cuộc sống thực tế của thế giới người lớn.
Câu 4. Những người lớn trong văn bản trên được miêu tả như thế nào? Em có nhận xét gì về những nhân vật ấy?
Miêu tả: Họ là những người thiếu trí tưởng tượng, luôn cần sự giải thích rõ ràng ("bao giờ cũng phải giảng giải"), chỉ quan tâm đến những thứ thực tế như chính trị, cà vạt, đánh bóng, bài bạc.
Nhận xét: Những người lớn này đại diện cho sự khô cằn về tâm hồn. Họ đánh mất đi khả năng nhìn thấu bản chất vẻ đẹp của sự vật (chỉ nhìn thấy cái mũ thay vì con trăn). Họ áp đặt thế giới quan hạn hẹp của mình lên trẻ thơ, vô tình làm thui chột tài năng và niềm đam mê hồn nhiên của trẻ nhỏ.
Câu 5. Qua văn bản, em rút ra được những bài học gì cho bản thân?
Bài học: * Cần giữ cho mình một tâm hồn trong sáng và trí tưởng tượng phong phú; không nên chỉ nhìn sự vật qua vẻ bề ngoài mà cần nhìn bằng cả trái tim và sự thấu cảm.
Cần biết tôn trọng ước mơ và cách nhìn nhận khác biệt của người khác, đặc biệt là của trẻ em.
Đừng để những áp lực thực dụng làm thui chột đi niềm đam mê và sự sáng tạo của bản thân.
Câu 1. Ngôi kể trong văn bản là : Ngôi kể thứ nhất Câu 2. Kiệt tác của cậu bé là bức vẽ số một: vẽ một con trăn đang tiêu hóa một con voi Câu 3. Vì người lớn thường có cái nhìn thực dụng và khô khan. Họ cho rằng hội họa là thứ không thực tế, không giúp ích cho sự nghiệp hay tương lai. Họ coi trọng những kiến thức "hữu dụng" như địa lý, toán học, lịch sử và ngữ pháp vì chúng phục vụ cho cuộc sống thực tế của thế giới người lớn. Câu 4. Miêu tả: Họ là những người thiếu trí tưởng tượng, luôn cần sự giải thích rõ ràng , chỉ quan tâm đến những thứ thực tế như chính trị, cà vạt, đánh bóng, bài bạc. Nhận xét: Những người lớn này đại diện cho sự khô cằn về tâm hồn. Họ đánh mất đi khả năng nhìn thấu bản chất vẻ đẹp của sự vật . Họ áp đặt thế giới quan hạn hẹp của mình lên trẻ thơ, vô tình làm thui chột tài năng và niềm đam mê hồn nhiên của trẻ nhỏ. Câu 5. Bài học: * Cần giữ cho mình một tâm hồn trong sáng và trí tưởng tượng phong phú; không nên chỉ nhìn sự vật qua vẻ bề ngoài mà cần nhìn bằng cả trái tim và sự thấu cảm. Cần biết tôn trọng ước mơ và cách nhìn nhận khác biệt của người khác, đặc biệt là của trẻ em. Đừng để những áp lực thực dụng làm thui chột đi niềm đam mê và sự sáng tạo của bản thân.
Câu 1:
- Ngôi kể trong văn bản là ngôi thứ nhất, xưng "tôi".
Câu 2:
- Kiệt tác của cậu bé là bức vẽ số một, hình một con trăn đang nuốt một con voi, nhưng nhìn bên ngoài giống một cái mũ. Cậu vẽ thêm bức vẽ số hai, vẽ mặt cắt bên trong để thấy rõ con voi trong bụng trăn.
Câu 3:
- Người lớn khuyên cậu bé chú trọng học các môn văn hóa vì họ có cái nhìn thực tế, coi trọng những kiến thức phổ thông, hữu dụng trong cuộc sống. Họ không hiểu được giá trị của trí tưởng tượng và niềm đam mê nghệ thuật của trẻ thơ, cho rằng vẽ vời là việc vô bổ, không thiết thực.
Câu 4:
- Những người lớn trong văn bản được miêu tả là thiếu trí tưởng tượng, thực dụng, chỉ nhìn sự vật theo lối mòn, không chịu hiểu thế giới nội tâm phong phú của trẻ em. Họ luôn cần sự giải thích rõ ràng, dễ hiểu và có xu hướng áp đặt suy nghĩ của mình lên trẻ. Đây là hình ảnh tiêu biểu của nhiều người lớn trong xã hội, họ đánh mất khả năng cảm nhận cái đẹp và sự sáng tạo, chỉ quan tâm đến những điều thông thường, dẫn đến sự xa cách với thế giới trẻ thơ.
Câu 5:
- Qua văn bản, em rút ra bài học về việc trân trọng trí tưởng tượng và sự sáng tạo của trẻ thơ, bởi đó là những giá trị đẹp đẽ làm giàu tâm hồn. Người lớn không nên áp đặt lối suy nghĩ thực dụng, thiếu kiên nhẫn mà cần biết lắng nghe và thấu hiểu trẻ. Mỗi người hãy giữ cho mình một tâm hồn trong sáng, biết nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc độ để tránh lối mòn tư duy. Sự đồng cảm giữa các thế hệ là cầu nối quan trọng, giúp bảo vệ những ước mơ và khát vọng đẹp đẽ của tuổi thơ.
Câu 1. Ngôi kể: - Ngôi kể thứ nhất, xưng "tôi". Câu 2. Kiệt tác của cậu bé: - Bức vẽ số một: Hình một con trăn đang tiêu hóa một con voi. Câu 3. Lý do người lớn khuyên học môn văn hóa thay vì vẽ: - Người lớn thực dụng, chỉ coi trọng những kiến thức "hữu ích" mang lại kết quả thực tế (địa lý, lịch sử, toán học, ngữ pháp). Họ thiếu trí tưởng tượng và tư duy nghệ thuật, không hiểu được sự sáng tạo và đam mê của cậu bé. Câu 4. Miêu tả và nhận xét về người lớn: - Miêu tả: Người lớn được miêu tả là khô khan, thiếu trí tưởng tượng (coi bức tranh con trăn là cái mũ), luôn cần được giảng giải mới hiểu vấn đề. - Nhận xét: Họ là những người sống thực tế, thực dụng, đánh mất đi sự hồn nhiên và tư duy sáng tạo của tuổi thơ, chỉ quan tâm đến những điều bề ngoài, quan trọng hóa các quy chuẩn thông thường. Câu 5. Bài học rút ra: - Giữ vững sự sáng tạo: Luôn trân trọng trí tưởng tượng và cái nhìn khác biệt, không nên rập khuôn theo tư duy của người khác. - Sự thấu hiểu: Cần nhìn nhận vấn đề bằng "trái tim" và trí tuệ, nhìn thấu qua lớp vỏ bề ngoài để thấy được bản chất. - Tôn trọng trẻ nhỏ: Người lớn nên lắng nghe, khuyến khích thay vì ép buộc trẻ con bỏ đi niềm đam mê, sáng tạo riêng
Câu 1
Ngôi kể thứ nhất
Câu 2
Kiệt tác của cậu bé là bức vẽ một con trăn đang nuốt và tiêu hóa một con voi (nhưng người lớn lại nghĩ đó là một cái mũ)
Câu 3
Người lớn bảo cậu bé chú trọng học các môn văn hóa vì:
-Họ không hiểu ý nghĩa bức vẽ của cậu bé
-Họ cho rằng vẽ tranh không quan trọng bằng các môn học chính
-Họ suy nghĩ thực tế và theo khuôn mẫu, muốn cậu bé tập trung vào việc học để có nghề nghiệp ổn định
Câu 4.
-Người lớn được miêu tả là thiếu trí tưởng tượng, khô khan, thực tế và khó hiểu thế giới của trẻ em.
-Nhận xét: Những người lớn ấy chỉ nhìn sự vật theo bề ngoài, ít quan tâm đến trí tưởng tượng và suy nghĩ sáng tạo của trẻ em.
Câu 5.
Bài học rút ra:
-Cần tôn trọng và nuôi dưỡng trí tưởng tượng, sáng tạo của bản thân và của trẻ em.
-Không nên nhìn nhận sự vật chỉ qua vẻ bề ngoài.
-Người lớn nên lắng nghe và thấu hiểu trẻ em hơn.
-Mỗi người cần tự tin vào suy nghĩ và khả năng của mình.
Câu 1.
Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất.
Người kể chuyện xưng “tôi”, trực tiếp kể lại những kỉ niệm và suy nghĩ của mình khi còn nhỏ.
Câu 2.
Kiệt tác của cậu bé là bức vẽ con trăn đang tiêu hóa một con voi.
Bức vẽ thứ nhất: nhìn bên ngoài giống như một chiếc mũ.
Bức vẽ thứ hai: vẽ bên trong bụng trăn để người lớn hiểu đó là con voi bị nuốt.
Câu 3.
Người lớn khuyên cậu bé tập trung học các môn như địa lí, lịch sử, toán, ngữ pháp vì:
Họ cho rằng những môn học đó thiết thực và cần thiết cho tương lai.
Họ không hiểu được ý tưởng sáng tạo trong bức vẽ của cậu bé.
Người lớn thường suy nghĩ theo lối thực tế, khuôn mẫu, nên không đánh giá cao trí tưởng tượng của trẻ em.
Câu 4.
Người lớn trong văn bản được miêu tả là:
Thiếu trí tưởng tượng, không hiểu được ý nghĩa của bức tranh.
Cứng nhắc, thực tế, chỉ quan tâm đến những điều “quan trọng” như bài bạc, chính trị, thể thao, cà vạt…
Ít quan tâm đến thế giới cảm xúc và sáng tạo của trẻ em.
Nhận xét:
Tác giả muốn phê phán cách suy nghĩ hạn hẹp của người lớn, đồng thời cho thấy họ đôi khi đánh mất sự hồn nhiên, trí tưởng tượng và khả năng cảm nhận cái đẹp.
Câu 5.
Qua văn bản, em rút ra một số bài học:
Cần giữ gìn trí tưởng tượng và sự sáng tạo của mình.
Người lớn nên lắng nghe và tôn trọng suy nghĩ của trẻ em.
Không nên nhìn nhận mọi thứ một cách cứng nhắc, khuôn mẫu.
Mỗi người cần biết thấu hiểu và tôn trọng sự khác biệt trong suy nghĩ của người khác.
Câu 1. Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất. Người kể chuyện xưng “tôi”, trực tiếp kể lại những kỉ niệm và suy nghĩ của mình khi còn nhỏ. Câu 2. Kiệt tác của cậu bé là bức vẽ con trăn đang tiêu hóa một con voi. Bức vẽ thứ nhất: nhìn bên ngoài giống như một chiếc mũ. Bức vẽ thứ hai: vẽ bên trong bụng trăn để người lớn hiểu đó là con voi bị nuốt. Câu 3. Người lớn khuyên cậu bé tập trung học các môn như địa lí, lịch sử, toán, ngữ pháp vì: Họ cho rằng những môn học đó thiết thực và cần thiết cho tương lai. Họ không hiểu được ý tưởng sáng tạo trong bức vẽ của cậu bé. Người lớn thường suy nghĩ theo lối thực tế, khuôn mẫu, nên không đánh giá cao trí tưởng tượng của trẻ em. Câu 4. Người lớn trong văn bản được miêu tả là: Thiếu trí tưởng tượng, không hiểu được ý nghĩa của bức tranh. Cứng nhắc, thực tế, chỉ quan tâm đến những điều “quan trọng” như bài bạc, chính trị, thể thao, cà vạt… Ít quan tâm đến thế giới cảm xúc và sáng tạo của trẻ em. Nhận xét: Tác giả muốn phê phán cách suy nghĩ hạn hẹp của người lớn, đồng thời cho thấy họ đôi khi đánh mất sự hồn nhiên, trí tưởng tượng và khả năng cảm nhận cái đẹp. Câu 5. Qua văn bản, em rút ra một số bài học: Cần giữ gìn trí tưởng tượng và sự sáng tạo của mình. Người lớn nên lắng nghe và tôn trọng suy nghĩ của trẻ em. Không nên nhìn nhận mọi thứ một cách cứng nhắc, khuôn mẫu. Mỗi người cần biết thấu hiểu và tôn trọng sự khác biệt trong suy nghĩ của người khác.
Câu 1.
Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất.
Người kể chuyện xưng “tôi”, trực tiếp kể lại những kỉ niệm và suy nghĩ của mình khi còn nhỏ.
Câu 2.
Kiệt tác của cậu bé là bức vẽ con trăn đang tiêu hóa một con voi.
Bức vẽ thứ nhất: nhìn bên ngoài giống như một chiếc mũ.
Bức vẽ thứ hai: vẽ bên trong bụng trăn để người lớn hiểu đó là con voi bị nuốt.
Câu 3.
Người lớn khuyên cậu bé tập trung học các môn như địa lí, lịch sử, toán, ngữ pháp vì:
Họ cho rằng những môn học đó thiết thực và cần thiết cho tương lai.
Họ không hiểu được ý tưởng sáng tạo trong bức vẽ của cậu bé.
Người lớn thường suy nghĩ theo lối thực tế, khuôn mẫu, nên không đánh giá cao trí tưởng tượng của trẻ em.
Câu 4.
Người lớn trong văn bản được miêu tả là:
Thiếu trí tưởng tượng, không hiểu được ý nghĩa của bức tranh.
Cứng nhắc, thực tế, chỉ quan tâm đến những điều “quan trọng” như bài bạc, chính trị, thể thao, cà vạt…
Ít quan tâm đến thế giới cảm xúc và sáng tạo của trẻ em.
Nhận xét:
Tác giả muốn phê phán cách suy nghĩ hạn hẹp của người lớn, đồng thời cho thấy họ đôi khi đánh mất sự hồn nhiên, trí tưởng tượng và khả năng cảm nhận cái đẹp.
Câu 5.
Qua văn bản, em rút ra một số bài học:
Cần giữ gìn trí tưởng tượng và sự sáng tạo của mình.
Người lớn nên lắng nghe và tôn trọng suy nghĩ của trẻ em.
Không nên nhìn nhận mọi thứ một cách cứng nhắc, khuôn mẫu.
Mỗi người cần biết thấu hiểu và tôn trọng sự khác biệt trong suy nghĩ của người khác.