K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi: 

    Thôi nào. 

    Eugène nói với lão:

    – Cha hãy ngủ đi, lão Goriot tốt bụng của con, con sẽ viết thư cho họ. Ngay khi Bianchon trở lại, con sẽ đi nếu các cô ấy không đến.

    – Các con gái ta không tới ư?

    Ông già nức nở nhắc lại: 

    – Ta sẽ chết mất. Chết vì tức giận. Lúc này đây ta đã thấy tất cả cuộc đời ta, ta thật ngu ngốc. Các con ta không yêu ta, rõ ràng là chúng chưa bao giờ yêu ta. Nếu chúng không đến bây giờ thì chúng sẽ không bao giờ đến. Chúng càng đến muộn, chúng càng làm cho ta buồn khổ. Ta hiểu các con ta mà. Chúng có bao giờ quan tâm đến nỗi cô đơn, buồn phiền, đau khổ, những sự cần thiết của ta thì chúng cũng chẳng đoán biết được cái chết của ta đâu, chẳng qua chúng không hiểu thấu tình yêu thương của ta thôi. Phải, ta thấy rõ rồi, đối với chúng thì cái thói quen rút gan rút ruột ta đã khiến cho chúng không nhìn thấy những giá trị của việc ta đã làm cho chúng. Giá chúng đòi móc mắt ta thì ta cũng sẽ bảo: "Các con cứ việc móc nó ra.". Ta thật là ngu ngốc. Các con ta cứ tưởng rằng mọi người cha đều giống cha chúng. Sau này các con của chúng sẽ trả thù cho ta, chúng sẽ có lợi nếu chúng đến đây. Cậu hãy báo trước cho chúng biết rằng chúng đang làm cho chúng trở nên tồi tệ. Chúng đã phạm vào tất cả các tội ác. Cậu hãy đi đi, cậu hãy nói với chúng rằng nếu không đến nghĩa là chúng đã giết cha chúng rồi. Chúng đã phạm vào bao nhiêu tội ác rồi, đừng mang thêm tội giết cha nữa. Cậu hãy hét lên như ta đây này: "Ôi Anastasie! Ôi Delphine! Hãy đến với cha các cô đi, ông ấy đã rất tốt với các cô và giờ đây ông ấy đang sắp chết?". Chẳng có gì hết. Chẳng có một ai. Vậy thì ta sẽ phải chết như một con chó ư? Tôi đã bị con cái bỏ rơi, đó là phần thưởng cho tôi sao? Thật là độc ác và bẩn thỉu. Ta ghê tởm chúng, ta nguyền rủa chúng, kể cả khi đêm đến, ta cũng sẽ thức dậy từ quan tài để nguyền rủa chúng, bởi vì chúng ăn ở quá tệ. Ta sai lầm rồi phải không? Chúng đối xử thật tồi tệ phải không? Ôi ta vừa nói gì nhỉ? Cậu vừa nói với ta là Delphine đến rồi đấy chứ? Nó là đứa con gái tốt nhất của ta đấy. Eugène ạ, cậu như con trai của ta. Cậu cũng yêu nó chứ. Hãy đối xử với nó như một người cha ấy. Còn Anastasie bất hạnh nữa. Số phận của chúng ra sao đây? Ôi chúa ơi, ta sắp chết rồi, ta đau đớn quá. Cắt bỏ đầu ta đi, chỉ để lại cho ta mỗi trái tim thôi.

    – Christophe, cậu đi tìm Bianchon đi và mang đến cho tôi một cái xe.

    Eugène kêu lên sợ hãi khi nghe thấy những tiếng kêu la, rên rỉ của ông già. Cháu sẽ đi tìm các con gái của ông, người cha già nhân hậu ạ, cháu sẽ đưa họ về với cụ.

    – Mau lên, mau lên, cậu hãy yêu cầu hiến binh, hiến binh.

    Ông già vừa nói vừa nhìn Eugène với cái nhìn tràn đầy lý trí:

    – Hãy nói với nội các chính phủ, với ngài biện lý của nhà nước để họ đưa các con của ta về, ta mong muốn điều đó biết bao!

    – Nhưng cụ đã nguyền rủa họ cơ mà.

    Ông già sững sờ hỏi:

    – Ai đã nói thế? 

    – Cậu biết rõ là ta rất yêu các con ta mà. Nếu được nhìn thấy chúng thì ta đã khỏi bệnh rồi. Cậu hãy đi đi, người hàng xóm tốt bụng của ta, con trai yêu quý của ta. Con đi tìm chúng đi. Con thật là tốt. Ta muốn cảm ơn con, nhưng ta chẳng có gì cho con ngoài lời chúc phúc của một kẻ sắp chết. À ta muốn gặp Delphine, ta sẽ bảo nó thay ta trả ơn cho con. Nếu Nasie không đến, thì con dẫn Delphine đến đây. Con nói với nó rằng con sẽ không yêu nó nữa nếu nó không đến. Nó rất yêu con nên nó sẽ tới. Ôi! Ta muốn uống. Lòng yêu con đang đốt cháy ta. Hãy để cái gì đó lên đầu ta đi. Bàn tay của các con gái ta, nó sẽ cứu ta, ta cảm thấy điều đó mà... Chúa ơi! Ai sẽ làm ra tài sản cho các con ta nếu ta ra đi? Ta muốn đến Odessa để kiếm tiền cho các con ta.

    – Cụ uống đi.

    Eugène vừa nói vừa nâng ông già đang hấp hối lên cánh tay trái của mình, còn tay phải anh cầm chén nước thuốc đầy.

    – Con phải yêu quý cha mẹ con. Ông già vừa nói vừa siết chặt bàn tay yếu ớt của mình vào bàn tay của Eugène. Cậu có hiểu được rằng ta sẽ chết mà không được gặp các con gái của ta không? Ta luôn thấy khát nhưng không bao giờ ta được uống. Ta đã sống như thế trong suốt mười năm qua. Hai thằng con rể của ta đã giết chết các con gái ta. Phải rồi, ta đã mất con sau khi chúng đi lấy chồng. Đức cha ơi, người hãy nói với nhà thờ đưa ra một luật về cưới xin đi. Cậu nghe đây. Nếu cậu yêu quý các con gái cậu thì cậu đừng cho nó lấy chồng. Con rể là một kẻ độc ác, nó làm hư hỏng con gái ta. Biết bao đám cưới đã cướp đi các con gái chúng ta. Chúng không ở bên chúng ta ngay cả khi chúng ta sắp chết. Thật khủng khiếp, ta căm thù chúng, chính những thằng con rể đã ngăn cấm các con ta đến thăm ta. Hãy giết chết chúng đi. Restaud, Nucingen, chúng mày phải chết, những tên sát nhân. Chúng phải chết hoặc là để ta được gặp các con gái ta. Ôi hết rồi, ta sẽ chết mà không gặp chúng. Anastasie, Delphine ơi, hãy đến đây đi. Cha của các con sắp ra đi rồi...

    – Hỡi cha Goriot nhân hậu của con, hãy bình tĩnh nào. Cha hãy yên lặng đừng cử động, đừng nghĩ ngợi nữa.

    – Ta đang hấp hối mà không gặp được các con ư?

    – Cha sẽ được gặp các cô ấy.

    – Đúng rồi? Ông già lẩn thẩn kêu lên. Ồ, được gặp chúng, ta sẽ chết trong sung sướng. Mà này, ta không muốn sống nữa, ta không còn thiết tha với cuộc sống nữa, ta đã đau khổ nhiều rồi. Nhưng được gặp chúng, được sờ vào cái áo chúng mặc thôi, chỉ cái áo thôi cũng đủ rồi. Ta cảm thấy có cái gì đó của các con ta, cho ta vuốt tóc chúng...

    Đầu ông lão rơi phịch xuống gối giống như bị ai đó đánh rất mạnh. Bàn tay vuốt cái chăn như vuốt mái tóc của các con gái. 

    – Ta sẽ chúc phúc cho các con ta.  Ông già cố gắng nói.  ... Chúc phúc...

    Đột nhiên ông yếu hẳn đi. Đúng lúc đó Bianchon bước vào.

    – Tôi đã gặp Christophe. Anh ta nói. Nó sẽ mang một chiếc xe đến.

    Rồi anh nhìn người bệnh và vạch mi mắt của ông cụ, mắt đã mờ không còn sự sống. "Ông ấy đã đi rồi.", Bianchon nói, rồi anh bắt mạch cho ông, anh đặt tay lên ngực ông già nhân hậu.

(Trích tiểu thuyết Lão Goriot, H. Balzac)

Lão Goriot là một trong những tiểu thuyết xuất sắc nhất của H. Balzac, lấy bối cảnh là kinh đô Paris năm 1819, viết về số phận của ba nhân vật: Ông lão Goriot, tên tù khổ sai vượt ngục Vautrin và anh chàng sinh viên luật Eugène de Rastignac. Trong đó, lão Goriot là người có số phận đáng thương, bất hạnh nhất. Lão vốn là một tiểu thương giàu có, khát khao muốn bước chân vào giới quý tộc. Lão cũng là một người cha rất yêu thương con. Các con gái của lão là Anastasie và Delphine muốn gì lão cũng đều đáp ứng. Vì muốn các con được bước chân vào giới quý tộc nên lão đã gả hai cô con gái cho gã quý tộc Restaud và người chủ ngân hàng Nucingen. Nhưng, sau khi kết hôn, hai cô con gái cũng không ngừng bòn rút hết tất cả số tiền của cha, đẩy lão vào cuộc sống nghèo khổ, không một xu dính túi. Đoạn trích trên là tình cảnh của lão Goriot vào những phút giây cuối cùng của cuộc đời. 

Câu 1. Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản. 

Câu 2. Đề tài của văn bản trên là gì?

Câu 3. Lời nói của lão Goriot với Rastignac sau đây:  Con phải yêu quý cha mẹ con. Ông già vừa nói vừa siết chặt bàn tay yếu ớt của mình vào bàn tay của Eugène. Cậu có hiểu được rằng ta sẽ chết mà không được gặp các con gái của ta không? Ta luôn thấy khát nhưng không bao giờ ta được uống. Ta đã sống như thế trong suốt mười năm qua. gợi cho em những cảm nhận, suy nghĩ gì?

Câu 4. Vì sao lão Goriot lại khao khát được gặp các con ngay sau khi nguyền rủa, mắng chửi chúng?

Câu 5. Nhận xét về tình cảnh lúc cuối đời của lão Goriot. 

123

Câu 1

Ngôi kể được sử dụng trong văn bản:
→ Ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mình, xưng “ông”, “lão”, “Eugène”, “Bianchon”...).

Câu 2.

Đề tài của văn bản:
→ Nỗi đau khổ, bi kịch của tình phụ tử và số phận bất hạnh của lão Goriot, người cha hết lòng yêu thương con nhưng bị chính các con ruột bỏ rơi trong cô đơn, tuyệt vọng.

Câu 3.

Cảm nhận, suy nghĩ về lời nói của lão Goriot:
→ Lời nói của lão Goriot khiến ta cảm nhận được:

  • Tình yêu thương con vô bờ bến của một người cha dù đã bị con cái phụ bạc.
  • Nỗi đau đớn, cô đơn, tuyệt vọng khi lão khao khát được gặp con mà không thể.
  • Câu “Ta luôn thấy khát nhưng không bao giờ ta được uống” là ẩn dụ sâu sắc cho sự thiếu thốn tình thương, cho một cuộc đời luôn cho đi mà không bao giờ được nhận lại.
    → Từ đó gợi suy nghĩ về bổn phận làm con, phải biết trân trọng, yêu thương và đền đáp cha mẹ khi họ còn sống.

Câu 4

Vì sao lão Goriot lại khao khát được gặp các con ngay sau khi nguyền rủa, mắng chửi chúng?
→ Bởi vì:

  • Lão yêu con một cách mù quáng và bản năng, tình cha quá lớn khiến lão không thể oán hận lâu.
  • Sự nguyền rủa chỉ là tiếng kêu đau đớn của trái tim bị tổn thương, chứ tận sâu trong tâm can, lão vẫn khao khát được gặp, được tha thứ cho con, được yêu thương lại.
  • Đó là bi kịch của tình phụ tử bị phản bội nhưng vẫn không thể dập tắt tình yêu của người cha.

Câu 5.

Nhận xét về tình cảnh lúc cuối đời của lão Goriot:
→ Lão Goriot chết trong cô độc, nghèo khổ và tuyệt vọngkhông có các con ở bên, chỉ có sự thương cảm của người xa lạ (Eugène, Bianchon).
→ Cái chết của lão là bi kịch cùng cực của tình phụ tử – người cha đã hi sinh tất cả cho con nhưng chỉ nhận lại sự vô ơn và ruồng bỏ.
→ Qua đó, nhà văn H. Balzac lên án xã hội tư sản tàn nhẫn, đồng tiền làm tha hóa con người, đồng thời ngợi ca tình phụ tử thiêng liêng, cao cả.


5 tháng 3

Câu 1: Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản.

Trả lời: Văn bản sử dụng ngôi kể thứ ba (người kể chuyện giấu mặt/toàn tri).

Câu 2: Đề tài của văn bản trên là gì?

Trả lời: Đề tài của văn bản là bi kịch của tình phụ tử và sự bạc bẽo của tình đời/tình người trong xã hội đồng tiền. Cụ thể là nỗi đau đớn, cô độc của người cha (lão Goriot) trong những giây phút cuối đời khi khao khát gặp con nhưng không được đáp lại.

Câu 3: Cảm nhận, suy nghĩ về lời nói của lão Goriot.

Lời nói của lão Goriot: "Con phải yêu quý cha mẹ con", "Cậu có hiểu được rằng ta sẽ chết mà không được gặp các con gái của ta không?..." gợi lên những cảm xúc và suy ngẫm sâu sắc:

Tình yêu thương con mù quáng và vĩ đại: Dù bị các con bỏ rơi, bòn rút đến đồng xu cuối cùng, lão vẫn dành trọn hơi thở cuối cùng để nghĩ về chúng. Câu nói so sánh việc thiếu tình cảm của con như "khát nhưng không bao giờ được uống" suốt 10 năm cho thấy nỗi đau đớn tinh thần dai dẳng.

Sự cô đơn tột cùng: Lão chết trong sự ghẻ lạnh của chính những đứa con mình yêu thương nhất. Lời khuyên Rastignac "Con phải yêu quý cha mẹ con" như một lời trăng trối rút ra từ chính bi kịch cuộc đời lão.

Sự chua xót: Người đọc cảm thấy xót xa cho một kiếp người hy sinh tất cả vì con nhưng nhận lại chỉ là sự vô tâm, tàn nhẫn.

Câu 4: Vì sao lão Goriot lại khao khát được gặp các con ngay sau khi nguyền rủa, mắng chửi chúng?

Trả lời:tình phụ tử là bản năng và là lẽ sống duy nhất của lão.

• Lão nguyền rủa chúng trong phút chốc vì quá đau đớn và tuyệt vọng trước sự bạc bẽo (nhận ra sự thật phũ phàng). Tuy nhiên, tình yêu thương trong lão lớn hơn cả lòng tự trọng hay sự oán giận. Lão thà chấp nhận sự giả dối để được nhìn thấy con còn hơn là chết trong cô độc. Điều này càng tô đậm thêm sự bi thảm và đáng thương của nhân vật – một "người tử vì đạo" của tình cha.

Câu 5: Nhận xét về tình cảnh lúc cuối đời của lão Goriot.

Tình cảnh: Bi đát, thê lương và khánh kiệt.

Vật chất: "Không một xu dính túi", chết trên chiếc giường tồi tàn của quán trọ.

Tinh thần: Cô độc, đau đớn tột cùng vì nhớ con và bị con bỏ rơi.

Nhận xét: Cái chết của lão Goriot là bản cáo trạng đanh thép cho xã hội tư sản Pháp thời bấy giờ – nơi đồng tiền chi phối mọi quan hệ, chà đạp lên cả tình máu mủ ruột thịt. Lão đã vắt kiệt mình để đắp điếm cho các con danh vọng và tiền bạc, để rồi khi lão không còn giá trị lợi dụng ("quả chanh đã bị vắt kiệt nước"), lão bị vứt bỏ không thương tiếc.




7 tháng 3

Câu 1: Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản.

• Trả lời: Văn bản sử dụng ngôi kể thứ ba. Người kể chuyện giấu mặt, không tham gia vào câu chuyện nhưng biết hết mọi việc và gọi tên các nhân vật (lão Goriot, Eugène, Bianchon...).

Câu 2: Đề tài của văn bản trên là gì?

• Trả lời: Đề tài của văn bản là tình phụ tử (cụ thể là tình yêu thương con mù quáng, bi kịch của người cha) và sự tha hóa đạo đức (sự vô ơn, tàn nhẫn của con cái đối với cha mẹ vì sức mạnh của đồng tiền).

Câu 3: Cảm nhận, suy nghĩ về lời nói của lão Goriot với Rastignac:

• Trả lời: Đoạn thoại cho thấy sự đau đớn tột cùng và bi kịch xót xa của lão Goriot:

• Lời khuyên "Con phải yêu quý cha mẹ con" là sự đúc rút cay đắng từ chính cuộc đời bi đát của lão, như một lời cảnh tỉnh cho Eugène.

• Hình ảnh so sánh "khát nhưng không bao giờ ta được uống" là một ẩn dụ đầy ám ảnh. Lão "khát" tình yêu thương, sự quan tâm của các con gái, lão đã dâng hiến tất cả trong "mười năm qua" nhưng thứ lão nhận lại chỉ là sự thờ ơ, bòn rút.

• Câu nói gợi lên trong người đọc sự thương xót sâu sắc cho một người cha bất hạnh, đồng thời là sự phẫn nộ trước thói đời bạc bẽo và sự vô ơn của những đứa con. Nó cho thấy sự bế tắc và tuyệt vọng hoàn toàn của lão trong những giây phút cuối đời.

Câu 4: Vì sao lão Goriot lại khao khát được gặp các con ngay sau khi nguyền rủa, mắng chửi chúng?

• Trả lời: Lão Goriot nguyền rủa các con trong khoảnh khắc bùng phát của sự cay đắng, tủi hờn và tuyệt vọng khi nhận ra sự thật phũ phàng rằng mình bị bỏ rơi. Tuy nhiên, lão lại khao khát được gặp chúng ngay sau đó bởi:

• Tình yêu thương con của lão là một thứ bản năng mù quáng, một sự hi sinh vô điều kiện đã ăn sâu vào máu thịt. Tình yêu đó lớn hơn mọi lý trí và sự hờn giận.

• Lão luôn tìm cách bao biện, tha thứ cho lỗi lầm của các con. Khao khát được nhìn thấy chúng, được vuốt ve chúng lần cuối là ước nguyện duy nhất và mãnh liệt nhất của một người cha đang hấp hối. Điều này càng tô đậm thêm bi kịch của một người cha yêu con đến mất cả lý trí.

Câu 5: Nhận xét về tình cảnh lúc cuối đời của lão Goriot.

• Trả lời: Tình cảnh cuối đời của lão Goriot là tận cùng của sự bi thảm, cô độc và đáng thương:

• Về vật chất: Lão chết trong sự nghèo đói, túng quẫn tại một nhà trọ tồi tàn, không còn một xu dính túi sau khi đã vắt kiệt tài sản cho các con.

• Về tinh thần: Lão chết trong sự cô đơn và đau đớn tột cùng. Những đứa con gái mà lão yêu thương hơn cả sinh mệnh lại dửng dưng, quay lưng, không một ai đến thăm viếng hay tiễn đưa cha trong giây phút lâm chung. Lão phải ra đi trong sự tiếc nuối, giằng xé và vỡ mộng đau đớn.


Câu 1. ngôi kể được sử dụng trong văn bản. · Ngôi kể thứ ba Câu 2. Đề tài của văn bản trên là · Đề tài: Thân phận con người trong xã hội tư sản Pháp thế kỷ XIX Câu 3. Lời nói của lão Goriot với Rastignac: "Con phải yêu quý cha mẹ con... Ta luôn thấy khát nhưng không bao giờ ta được uống. Ta đã sống như thế trong suốt mười năm qua." gợi cho em những cảm nhận, suy nghĩ là Lời nói của lão Goriot gợi lên nhiều cảm xúc xót xa và suy ngẫm sâu sắc: · Nỗi đau của một người cha: Lão Goriot đã dành tất cả tình yêu thương, tiền bạc cho các con nhưng cuối cùng phải chết trong cô đơn, không một đứa con bên cạnh. Lời khuyên "Con phải yêu quý cha mẹ con" vừa là lời nhắn nhủ chân thành, vừa là nỗi niềm cay đắng từ chính trải nghiệm của bản thân lão. · Sự bất lực và tuyệt vọng: Hình ảnh "khát" nhưng "không bao giờ được uống" là ẩn dụ cho tình yêu thương của lão dành cho các con. Lão khao khát được yêu thương, được đáp lại tình cảm nhưng suốt mười năm qua, lão chỉ nhận lại sự hờ hững, vô tâm. Đó là một sự "khát" tình thương không bao giờ được thỏa mãn. · Bài học về lòng hiếu thảo: Qua lời nói của lão Goriot, mỗi chúng ta nhận ra trách nhiệm phải yêu thương, trân trọng cha mẹ khi còn có thể, để không phải hối hận muộn màng như hai cô con gái của lão. Câu 4. lão Goriot lại khao khát được gặp các con ngay sau khi nguyền rủa, mắng chửi chúng vì Sự mâu thuẫn trong tâm lý của lão Goriot thể hiện chiều sâu tình cảm của một người cha: · Tình yêu thương vô điều kiện: Dù bị các con đối xử tệ bạc, bị bỏ rơi trong cơn hấp hối, nhưng tình yêu của lão dành cho các con vẫn không hề thay đổi. Những lời nguyền rủa chỉ là sự tuyệt vọng nhất thời, còn bản chất lão vẫn là người cha yêu con vô bờ. · Niềm hy vọng mong manh: Lão vẫn hy vọng các con sẽ đến, sẽ nhận ra sai lầm. Được gặp các con trước khi chết là niềm an ủi lớn nhất, là liều thuốc duy nhất có thể cứu lão khỏi nỗi đau tinh thần. · Sự cao thượng của tình phụ tử: Lão sẵn sàng tha thứ tất cả, chỉ cần được nhìn thấy các con, được "vuốt tóc chúng". Điều này cho thấy tình yêu của cha mẹ là vô bờ bến, có thể vượt qua mọi oán hận, tổn thương. Câu 5. Nhận xét về tình cảnh lúc cuối đời của lão Goriot Tình cảnh cuối đời của lão Goriot là một bi kịch lớn, phản ánh sự tàn nhẫn của xã hội tư sản đề cao đồng tiền: · Cô đơn tuyệt đối: Lão chết trong căn phòng tồi tàn của khu trọ, không một người thân bên cạnh. Hai đứa con gái mà lão yêu thương hết mực, hy sinh tất cả, đều vắng mặt trong giờ phút lâm chung. · Đau khổ tột cùng: Lão không chỉ đau đớn về thể xác mà còn chịu nỗi đau tinh thần khủng khiếp - nỗi đau bị chính những đứa con ruột thịt bỏ rơi, phản bội. · Sự trớ trêu của số phận: Một người cha giàu lòng yêu thương, sẵn sàng hy sinh tất cả vì con, cuối cùng lại nhận được sự vô ơn, bạc bẽo. Tiền bạc lão dành cho con đã trở thành thứ khiến các con xa rời lão. · Bài học nhân văn sâu sắc: Qua bi kịch của lão Goriot, nhà văn H. Balzac đã lên án mạnh mẽ sức mạnh đồng tiền làm tha hóa con người, đồng thời ca ngợi tình phụ tử thiêng liêng và cảnh báo về hậu quả của sự vô ơn, bội bạc.

Câu 1.ngôi kể được sử dụng trong văn bản. · Ngôi kể thứ ba Câu 2. Đề tài của văn bản trên là · Đề tài: Thân phận con người trong xã hội tư sản Pháp thế kỷ XIX Câu 3. Lời nói của lão Goriot với Rastignac: "Con phải yêu quý cha mẹ con... Ta luôn thấy khát nhưng không bao giờ ta được uống. Ta đã sống như thế trong suốt mười năm qua." gợi cho em những cảm nhận, suy nghĩ Lời nói của lão Goriot gợi lên nhiều cảm xúc xót xa và suy ngẫm sâu sắc: · Nỗi đau của một người cha: Lão Goriot đã dành tất cả tình yêu thương, tiền bạc cho các con nhưng cuối cùng phải chết trong cô đơn, không một đứa con bên cạnh. Lời khuyên "Con phải yêu quý cha mẹ con" vừa là lời nhắn nhủ chân thành, vừa là nỗi niềm cay đắng từ chính trải nghiệm của bản thân lão. · Sự bất lực và tuyệt vọng: Hình ảnh "khát" nhưng "không bao giờ được uống" là ẩn dụ cho tình yêu thương của lão dành cho các con. Lão khao khát được yêu thương, được đáp lại tình cảm nhưng suốt mười năm qua, lão chỉ nhận lại sự hờ hững, vô tâm. Đó là một sự "khát" tình thương không bao giờ được thỏa mãn. · Bài học về lòng hiếu thảo: Qua lời nói của lão Goriot, mỗi chúng ta nhận ra trách nhiệm phải yêu thương, trân trọng cha mẹ khi còn có thể, để không phải hối hận muộn màng như hai cô con gái của lão. Câu 4. lão Goriot lại khao khát được gặp các con ngay sau khi nguyền rủa, mắng chửi chúng vì Sự mâu thuẫn trong tâm lý của lão Goriot thể hiện chiều sâu tình cảm của một người cha: · Tình yêu thương vô điều kiện: Dù bị các con đối xử tệ bạc, bị bỏ rơi trong cơn hấp hối, nhưng tình yêu của lão dành cho các con vẫn không hề thay đổi. Những lời nguyền rủa chỉ là sự tuyệt vọng nhất thời, còn bản chất lão vẫn là người cha yêu con vô bờ. · Niềm hy vọng mong manh: Lão vẫn hy vọng các con sẽ đến, sẽ nhận ra sai lầm. Được gặp các con trước khi chết là niềm an ủi lớn nhất, là liều thuốc duy nhất có thể cứu lão khỏi nỗi đau tinh thần. · Sự cao thượng của tình phụ tử: Lão sẵn sàng tha thứ tất cả, chỉ cần được nhìn thấy các con, được "vuốt tóc chúng". Điều này cho thấy tình yêu của cha mẹ là vô bờ bến, có thể vượt qua mọi oán hận, tổn thương. Câu 5. Nhận xét về tình cảnh lúc cuối đời của lão Goriot. Tình cảnh cuối đời của lão Goriot là một bi kịch lớn, phản ánh sự tàn nhẫn của xã hội tư sản đề cao đồng tiền: · Cô đơn tuyệt đối: Lão chết trong căn phòng tồi tàn của khu trọ, không một người thân bên cạnh. Hai đứa con gái mà lão yêu thương hết mực, hy sinh tất cả, đều vắng mặt trong giờ phút lâm chung. · Đau khổ tột cùng: Lão không chỉ đau đớn về thể xác mà còn chịu nỗi đau tinh thần khủng khiếp - nỗi đau bị chính những đứa con ruột thịt bỏ rơi, phản bội. · Sự trớ trêu của số phận: Một người cha giàu lòng yêu thương, sẵn sàng hy sinh tất cả vì con, cuối cùng lại nhận được sự vô ơn, bạc bẽo. Tiền bạc lão dành cho con đã trở thành thứ khiến các con xa rời lão. · Bài học nhân văn sâu sắc: Qua bi kịch của lão Goriot, nhà văn H. Balzac đã lên án mạnh mẽ sức mạnh đồng tiền làm tha hóa con người, đồng thời ca ngợi tình phụ tử thiêng liêng và cảnh báo về hậu quả của sự vô ơn, bội bạc.

7 tháng 3

Câu 1.
Ngôi kể được sử dụng trong văn bản là ngôi thứ ba 

Câu 2.
Đề tài của văn bản: Tình cha con và bi kịch của người cha hết lòng yêu thương con nhưng bị con cái bạc bẽo.

Câu 3.
Lời nói của lão Goriot gợi cho em suy nghĩ. —-—Thể hiện tình yêu thương con vô bờ bến của người cha.

-Dù bị con đối xử tệ bạc, ông vẫn khát khao được gặp con trước khi chết.

-Qua đó cho thấy bi kịch đau đớn của một người cha bị con cái bỏ rơi, đồng thời gợi nhắc mỗi người phải biết yêu thương, hiếu thảo với cha mẹ.

Câu 4.
Lão Goriot vừa nguyền rủa nhưng lại khao khát gặp con vì:

-Ông quá yêu thương các con, tình phụ tử sâu nặng.

-Những lời mắng chỉ là sự đau đớn, tủi hờn khi bị con bỏ rơi, nhưng trong lòng ông vẫn luôn tha thứ và mong được gặp con lần cuối.

Câu 5.
Nhận xét về tình cảnh cuối đời của lão Goriot:

-Rất bi thảm và đáng thương: nghèo khổ, bệnh tật, cô đơn.

-Chết trong nỗi đau và khát khao được gặp con nhưng các con không đến.

-Qua đó tác giả phê phán sự vô tình, ích kỉ của xã hội và của những đứa con bất hiếu, đồng thời làm nổi bật tình cha cao cả.

7 tháng 3


Câu 1.



Ngôi kể được sử dụng trong văn bản:

Văn bản được kể theo ngôi thứ ba. Người kể chuyện giấu mình và gọi tên các nhân vật như lão Goriot, Eugène, Bianchon, đồng thời thuật lại lời nói, hành động và tâm trạng của nhân vật.





Câu 2.



Đề tài của văn bản:

Đề tài của văn bản là tình cha con và bi kịch của tình phụ tử trong xã hội thực dụng, qua đó thể hiện số phận đau khổ của người cha già bị con cái bỏ rơi.





Câu 3.



Cảm nhận từ lời nói của lão Goriot:


Lời nói của lão Goriot khiến em cảm thấy vô cùng xót xa và thương cảm. Dù bị các con gái bỏ rơi, ông vẫn luôn yêu thương và nghĩ đến họ. Câu nói “Con phải yêu quý cha mẹ con” thể hiện tấm lòng nhân hậu và tình phụ tử sâu sắc của ông. Ông đau đớn vì sắp chết mà không được gặp con, giống như người luôn khát tình yêu nhưng không bao giờ được đáp lại. Qua đó ta thấy nỗi cô đơn, tuyệt vọng và bi kịch của một người cha hết lòng vì con nhưng lại bị con cái vô tâm ruồng bỏ.





Câu 4.



Vì sao lão Goriot lại khao khát gặp các con ngay sau khi nguyền rủa chúng?


Bởi vì tình yêu của người cha dành cho con là vô điều kiện và không thể dập tắt. Những lời nguyền rủa chỉ là sự đau đớn, tủi thân và tuyệt vọng nhất thời khi ông nghĩ rằng các con không đến. Nhưng sâu thẳm trong trái tim, ông vẫn yêu thương và mong được gặp các con lần cuối trước khi chết. Điều này cho thấy tình phụ tử vô cùng sâu nặng và cảm động.





Câu 5.



Nhận xét về tình cảnh cuối đời của lão Goriot:


Tình cảnh cuối đời của lão Goriot rất bi thương và đáng thương. Ông chết trong cô đơn, nghèo khổ và đau đớn, không được gặp các con gái mà mình hết lòng yêu thương. Cuộc đời ông là bi kịch của một người cha hi sinh tất cả cho con nhưng lại bị con cái bỏ rơi. Qua đó tác giả phê phán sự ích kỉ, vô cảm của con người trong xã hội chạy theo tiền bạc và địa vị.


7 tháng 3

Câu 1:

- Ngôi kể được sử dụng là ngôi thứ 3

Câu 2:

Đề tài về tinh phu tu  sự băng hoại đạo đức gia đình trong xã hội thượng lưu (xã hội đồng tiền).

Câu 3:

Câu nói "Ta luôn thấy khát nhưng không bao giờ ta được uống" là một ẩn dụ đau đớn về nỗi khát khao tình thương. Lão Goriot đã dành 10 năm sống trong sự "đói khát" tình cảm từ các con dù lão đã cho chúng tất cả tiền bạc.

Câu 4:

-Sự nguyền rủa là kết quả của nỗi đau đớn thể xác và sự uất ức tột độ khi bị bỏ rơi. Nhưng đó chỉ là phản ứng nhất thời

-Đối với lão Goriot, các con là "tôn giáo", là lẽ sống duy nhất. Tình phụ tử trong lão là bản năng, nó lớn hơn cả lòng tự trọng và nỗi giận hờn. Lão sẵn sàng tha thứ mọi lỗi lầm chỉ để đổi lấy một giây phút được nhìn thấy các con trước khi nhắm mắt.

Câu 5:

-Một người từng giàu có, quyền lực lại phải chết trong một quán trọ tồi tàn, trên một chiếc giường bệnh rách nat

Lão có hai con gái là quý tộc giàu sang nhưng người ở bên lão lúc chết lại là một anh sinh viên nghèo (người dưng).

-Tình cảnh của lão là lời tố cáo đanh thép xã hội Paris đương thời – nơi đồng tiền đã làm khô héo trái tim con người, khiến tình cốt nhục trở nên rẻ rúng trước danh vọng và vật chất.



Câu 1.

Văn bản được kể theo ngôi thứ ba. Người kể chuyện giấu mình, gọi tên các nhân vật như “Eugène”, “ông già”, “Bianchon”… và thuật lại diễn biến câu chuyện.

Câu 2.

Đề tài của văn bản là tình phụ tử và bi kịch của một người cha bị con cái bỏ rơi, qua đó phản ánh sự bạc bẽo, vô ơn của con cái và nỗi đau đớn của tình cha trong xã hội.

Câu 3.

Lời nói của lão Goriot gợi cho em nhiều cảm xúc thương xót và suy nghĩ sâu sắc. Dù đang hấp hối, ông vẫn khuyên Eugène phải yêu quý cha mẹ. Điều đó cho thấy tình yêu thương con vô điều kiện và tấm lòng nhân hậu của một người cha. Câu nói “ta sẽ chết mà không được gặp các con gái của ta” thể hiện nỗi đau tột cùng và sự cô đơn của lão Goriot khi bị chính những người con mình hết lòng yêu thương bỏ rơi. Qua đó, đoạn văn nhắc nhở mỗi người phải biết hiếu thảo, trân trọng cha mẹ khi họ còn sống

Câu 4.

Lão Goriot khao khát gặp các con ngay sau khi nguyền rủa chúng vì tình phụ tử quá sâu nặng. Dù đau đớn, tức giận vì bị bỏ rơi, nhưng trong sâu thẳm trái tim, ông vẫn yêu thương và mong được gặp con lần cuối trước khi chết. Điều đó cho thấy tình yêu của cha mẹ dành cho con luôn bao dung và không thể dứt bỏ.

Câu 5.

Tình cảnh cuối đời của lão Goriot vô cùng bi thảm và đáng thương. Ông từng giàu có, hy sinh tất cả vì các con nhưng khi sắp chết lại bị con cái bỏ rơi, cô đơn, nghèo khổ, chỉ có những người ngoài như Eugène và Bianchon ở bên cạnh. Cái chết của lão thể hiện bi kịch của tình phụ tử trong một xã hội thực dụng, đồng thời tố cáo sự vô ơn, ích kỉ của con cái đối với cha mẹ.


8 tháng 3

Câu 1. Văn bản sử dụng ngôi kể thứ ba.

Câu 2. Đề tài của văn bản là tình phụ tử và sự thờ ơ, vô tâm của những người con đối với cha mẹ.

Câu 3. Lời nói của lão Goriot với Rastignac gợi lên những cảm xúc xót xa, thương cảm sâu sắc.

-Lời trăn trối của một người cha đang hấp hối,khao khát tình thương của con cái nhưng lại bị bỏ rơi.     

-Lời nói này thức tỉnh chúng ta về giá trị của tình thân, đặc biệt là tình cảm cha mẹ. Nó nhắc nhở chúng ta cần trân trọng những người thân yêu khi còn có thể, đừng để đến khi hối hận thì đã muộn.

Câu 4. Lão Goriot khao khát được gặp các con ngay sau khi nguyền rủa, mắng chửi chúng vì:

-Tình yêu thương cha dành cho con là vô điều kiện, dù bị con cái đối xử tệ bạc.

-Trong sâu thẳm trái tim, lão vẫn luôn mong mỏi được con cái yêu thương, quan tâm.

-Lúc hấp hối, lão càng cảm thấy cô đơn, trống trải và khao khát được gặp lại những người thân yêu nhất.

Câu 5. Tình cảnh lúc cuối đời của lão Goriot vô cùng bi thảm:

-Lão chết trong sự cô đơn, không có người thân bên cạnh.

-Lão bị con cái bỏ rơi, thờ ơ, không ai quan tâm đến lão.

-Lão chết trong nghèo khó, bệnh tật, không một xu dính túi.



8 tháng 3

Câu 1: → Ngôi kể thứ ba. Người kể chuyện giấu mình, gọi nhân vật bằng tên như: ông già, Eugène, Bianchon… Câu 2: → Tình phụ tử (tình cha con) và bi kịch của người cha bị con bỏ rơi trong xã hội Câu 3: Thể hiện tình yêu thương con vô bờ bến của lão Goriot. Dù bị con đối xử tệ bạc, lão vẫn khát khao được gặp con lần cuối. Cho thấy nỗi đau, sự cô đơn và tuyệt vọng của một người cha khi sắp chết mà không được con quan tâm. Qua đó làm nổi bật bi kịch của tình phụ tử trong xã hội thực dụng Câu 4:

→ Vì lão quá yêu thương các con. Dù đau khổ, oán trách vì bị bỏ rơi, nhưng tình cha vẫn mạnh hơn sự giận dữ, nên lão vẫn mong được gặp con trước khi chết Câu 5: → Lão Goriot có cuộc đời cuối đời vô cùng bi thảm và đáng thương: Từng giàu có nhưng bị các con vắt kiệt tiền bạc. Sống nghèo khổ, cô đơn. Sắp chết vẫn không được con ở bên. → Qua đó thể hiện bi kịch của tình phụ tử và sự vô cảm của con người trong xã hội.

8 tháng 3

Câu 1. Ngôi kể được sử dụng trong văn bản là ngôi kể thứ ba (người kể chuyện giấu mình, gọi nhân vật bằng tên như Eugène, lão Goriot). Câu 2. Đề tài của văn bản: Tình phụ tử và bi kịch của người cha yêu con nhưng bị con bỏ rơi trong xã hội. Câu 3. Những lời nói của lão Goriot gợi cho em cảm nhận: Thể hiện tình yêu thương con sâu sắc, hết lòng của người cha. Đồng thời bộc lộ nỗi đau đớn, cô đơn và tuyệt vọng khi sắp chết mà không được gặp các con. → Qua đó cho thấy bi kịch của một người cha yêu con đến quên mình nhưng bị con vô tâm bỏ rơi, khiến người đọc cảm thấy thương xót và xúc động. Câu 4. Lão Goriot vẫn khao khát gặp các con vì: Tình yêu thương con của người cha quá lớn, dù bị con đối xử tệ bạc vẫn không thể hết yêu. Trong giây phút cuối đời, ông chỉ mong được nhìn thấy các con một lần cuối. → Điều đó cho thấy tình phụ tử thiêng liêng, bao dung và vị tha của người cha. Câu 5. Tình cảnh lúc cuối đời của lão Goriot rất đáng thương và bi thảm: Ông nghèo khổ, bệnh tật, cô đơn. Các con vô tâm, không đến thăm khi cha hấp hối. → Qua đó, tác giả tố cáo sự vô tình, ích kỉ của con người trong xã hội và bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc đối với số phận của lão Goriot.

8 tháng 3

Câu 1 ngôi thứ 3 câu 2 hoàn cảnh bi thương của lão goriot câu 3 tình yêu thương con nỗi đau thương bị con ruồng bỏ câu4 tình phụ tử tình yêu thương đã vượt trên tất cả oán trách chỉ mong gặp con câu 5 bi thảm cô độc

8 tháng 3

Câu 1. Ngôi kể được sử dụng trong văn bản là ngôi kể thứ ba (người kể chuyện giấu mình, gọi nhân vật bằng tên như Eugène, lão Goriot). Câu 2. Đề tài của văn bản: Tình phụ tử và bi kịch của người cha yêu con nhưng bị con bỏ rơi trong xã hội. Câu 3. Những lời nói của lão Goriot gợi cho em cảm nhận: Thể hiện tình yêu thương con sâu sắc, hết lòng của người cha. Đồng thời bộc lộ nỗi đau đớn, cô đơn và tuyệt vọng khi sắp chết mà không được gặp các con. → Qua đó cho thấy bi kịch của một người cha yêu con đến quên mình nhưng bị con vô tâm bỏ rơi, khiến người đọc cảm thấy thương xót và xúc động. Câu 4. Lão Goriot vẫn khao khát gặp các con vì: Tình yêu thương con của người cha quá lớn, dù bị con đối xử tệ bạc vẫn không thể hết yêu. Trong giây phút cuối đời, ông chỉ mong được nhìn thấy các con một lần cuối. → Điều đó cho thấy tình phụ tử thiêng liêng, bao dung và vị tha của người cha. Câu 5. Tình cảnh lúc cuối đời của lão Goriot rất đáng thương và bi thảm: Ông nghèo khổ, bệnh tật, cô đơn. Các con vô tâm, không đến thăm khi cha hấp hối. → Qua đó, tác giả tố cáo sự vô tình, ích kỉ của con người trong xã hội và bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc đối với số phận của lão Goriot.

8 tháng 3

Câu 1. Ngôi kể được sử dụng trong văn bản là ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mình, gọi nhân vật bằng tên như ông già Goriot, Eugène…). Câu 2. Đề tài của văn bản: Tình cảm cha con và bi kịch của người cha già bị con gái bỏ rơi trong xã hội thực dụng. Câu 3. Những lời nói của lão Goriot thể hiện tình yêu thương con sâu sắc, đau đớn và tuyệt vọng. Dù bị các con đối xử tệ bạc, ông vẫn luôn nhớ, mong được gặp con trước khi chết. Câu nói cho thấy nỗi cô đơn, tủi nhục và bi kịch của một người cha hết lòng vì con nhưng không được đáp lại. Qua đó cũng làm nổi bật tấm lòng nhân hậu và tình phụ tử thiêng liêng của ông. Câu 4. Lão Goriot vừa nguyền rủa nhưng vẫn khao khát gặp các con vì: Ông rất yêu thương các con, tình cha quá lớn nên không thể dứt bỏ. Lời nguyền rủa chỉ là sự đau đớn, uất ức nhất thời khi bị con bỏ rơi. Trong sâu thẳm, ông vẫn mong được nhìn thấy con trước lúc chết. Câu 5. Tình cảnh lúc cuối đời của lão Goriot rất bi thảm và đáng thương: Bị các con gái bỏ rơi, không đến thăm khi ông hấp hối. Sống nghèo khổ, cô đơn. Chết trong nỗi đau và khát khao được gặp con. Qua đó, tác giả tố cáo xã hội ích kỉ, thực dụng làm băng hoại tình thân, đồng thời bày tỏ sự cảm thương sâu sắc đối với số phận của lão Goriot.

câu 1:ngôi kể trong văn bản trên là:ngôi kể thứ ba

câu 2:đề tài của văn bản trên là:tình cha con

câu 3: Qua những lời nói đó, em nhận ra rằng tình cha mẹ luôn vô cùng thiêng liêng và cao cả. Vì vậy, mỗi người con cần phải biết yêu thương, kính trọng và quan tâm đến cha mẹ khi còn có thể, để không phải hối tiếc sau này. Đây cũng là lời nhắc nhở sâu sắc đối với mỗi chúng ta về đạo lí làm con trong cuộc sống.

câu 4: Lão Goriot vừa nguyền rủa, mắng chửi các con nhưng ngay sau đó lại khao khát được gặp họ vì tình yêu thương của một người dành cho con là vô cùng sâu nặng và không thể dứt bỏ

câu 5:cái chết của lão Goriot là một bi kịch đau đớn, vừa thể hiện tình yêu thương vô bờ của người cha, vừa tố cáo xã hội thực dụng đã làm tha hóa tình cảm gia đình.

8 tháng 3

1. Ngôi kể của văn bản

• Văn bản sử dụng ngôi kể thứ ba (người kể chuyện giấu mặt, toàn tri).

2. Đề tài của văn bản

• Văn bản xoay quanh đề tài về bi kịch gia đình, tình phụ tử, và sự tha hóa đạo đức của con người dưới sức mạnh tàn phá của đồng tiền trong xã hội tư sản Pháp thế kỷ 19.

3. Suy nghĩ về lời nói của lão Goriot với Rastignac

• Lời nói "Con phải yêu quý cha mẹ con... Ta luôn thấy khát nhưng không bao giờ ta được uống..." gợi lên sự xót xa tột cùng về hoàn cảnh của lão Goriot.

• Sự hối hận và bài học cảnh tỉnh: Lão dùng chính bi kịch của mình để khuyên Eugène (Rastignac) phải biết trân trọng và yêu thương cha mẹ.

• Nỗi khát khao tình cảm: Hình ảnh ẩn dụ "khát nhưng không bao giờ được uống" thể hiện cơn khát tình thương, khát khao sự quan tâm từ các con nhưng đáp lại chỉ là sự thờ ơ, lạnh nhạt suốt mười năm qua. Nó cho thấy sự mù quáng trong tình yêu của người cha đã dẫn đến một cái kết đầy cay đắng.

4. Vì sao lão Goriot khao khát được gặp các con ngay sau khi nguyền rủa chúng?

• Đây là một diễn biến tâm lý vô cùng phức tạp và chân thực mà Balzac đã khắc họa:

• Sự nguyền rủa xuất phát từ phút giây "tỉnh táo" hiếm hoi lúc cận kề cái chết. Lão nhận ra sự vô tình, tàn nhẫn và bòn rút của các con, dẫn đến sự phẫn nộ, uất ức tột độ ("Ta chết vì tức giận").

• Khao khát được gặp ngay sau đó xuất phát từ tình phụ tử mù quáng, vô điều kiện đã ăn sâu vào máu thịt. Tình yêu con của lão lớn hơn cả lòng tự trọng và sự oán hận. Lão sẵn sàng tha thứ tất cả, thà chịu đau khổ còn hơn là phải chết trong sự cô độc mà không được nhìn thấy mặt con lần cuối.

5. Nhận xét về tình cảnh lúc cuối đời của lão Goriot

• Tình cảnh cuối đời của lão Goriot vô cùng bi đát, cô độc và đáng thương.

• Một người cha đã hiến dâng toàn bộ gia tài và sức lực cho các con, cuối cùng lại chết trong một nhà trọ tồi tàn, nghèo đói, quằn quại trong nỗi đau thể xác lẫn tinh thần.

• Lúc trút hơi thở cuối cùng, bên cạnh lão không có lấy một người ruột thịt, chỉ có hai chàng sinh viên xa lạ (Eugène và Bianchon) rủ lòng thương. Đó là bản án tố cáo đanh thép sự tàn nhẫn, bạc bẽo của xã hội chạy theo đồng tiền.

1.Ngôi kể thứ ba Văn bản sử dụng ngôi kể thứ ba vì người kể chuyện giấu mình, không xưng "tôi", và gọi nhân vật bằng tên (lão Goriot, Rastignac, Eugène). Người kể chuyện có thể biết và kể lại mọi chuyện xảy ra với các nhân vật, từ hành động, lời nói đến cả suy nghĩ và cảm xúc bên trong của họ. 


2.

Tình phụ tử thiêng liêng và bi kịch của lão Goriot Đoạn trích tập trung làm nổi bật tình yêu thương vô điều kiện của lão Goriot dành cho hai cô con gái, dù bị họ đối xử tệ bạc, đồng thời phản ánh bi kịch đau lòng của một người cha bị con cái bòn rút hết tiền bạc và bỏ rơi đến lúc chết.

3.

Nỗi đau đớn tột cùng và sự khao khát tình cảm gia đình mãnh liệt Lời nói của lão Goriot bộc lộ nỗi đau đớn tột cùng của một người cha bị con cái ruồng bỏ. Cụm từ "Ta luôn thấy khát nhưng không bao giờ ta được uống" là một ẩn dụ sâu sắc cho sự khao khát tình thương con cái cháy bỏng nhưng không bao giờ được đáp lại. Điều này gợi lên sự thương cảm sâu sắc cho số phận bi thảm của lão và sự lên án đối với những đứa con bất hiếu. 


4.

Bản năng và tình phụ tử vượt lên trên sự oán hận Sự khao khát này cho thấy tình phụ tử trong lão Goriot là bản năng, mãnh liệt và vượt lên trên cả sự oán hận hay lý trí. Dù bị đối xử tàn nhẫn, tình yêu thương con cái vẫn là điều duy nhất còn sót lại trong tâm trí lão những giây phút cuối đời. Lão nguyền rủa chúng vì sự bất hiếu, nhưng ngay sau đó vẫn mong gặp chúng lần cuối để thỏa lòng khao khát làm cha. 


5.

Tình cảnh bi thảm, cô độc và đáng thương Lão Goriot chết trong sự nghèo khổ, cô độc, không một xu dính túi và không có con gái bên cạnh. Tình cảnh này là đỉnh điểm của bi kịch, phơi bày sự tàn nhẫn của xã hội và sự bạc bẽo của những đứa con. Lão chết với trái tim tan nát vì tình phụ tử bị chà đạp, một cái kết bi thảm và đầy ám ảnh. 



8 tháng 3

Câu 1.

Ngôi kể: Ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mình, gọi nhân vật bằng tên như Eugène, lão Goriot…).




Câu 2.

Đề tài: Tình cha con và bi kịch của người cha hết lòng yêu thương con nhưng bị con cái phụ bạc.

(Đặc biệt là nỗi đau và sự cô đơn của lão Goriot trong những phút cuối đời.)




Câu 3.

Những lời nói của lão Goriot thể hiện:


  • Nỗi đau đớn, tuyệt vọng khi sắp chết mà không được gặp các con gái.
  • Tình yêu thương con vô bờ bến của một người cha, dù bị con bỏ rơi vẫn luôn nghĩ đến con.
  • Qua đó làm nổi bật bi kịch của tình phụ tử trong xã hội thực dụng, nơi đồng tiền và lợi ích làm con người trở nên lạnh lùng.





Câu 4.

Lão Goriot vừa nguyền rủa vừa khao khát gặp các con vì:


  • Lão quá yêu thương con, tình phụ tử sâu nặng khiến lão không thể dứt bỏ.
  • Khi tức giận, lão nguyền rủa vì đau khổ và thất vọng, nhưng bản chất vẫn mong được gặp con lần cuối.
  • Điều này cho thấy tình yêu của người cha luôn bao dung, vị tha, dù bị con đối xử tệ bạc.





Câu 5.

Nhận xét về tình cảnh cuối đời của lão Goriot:


  • Cô đơn, đau đớn và bi thảm: chết trong nghèo khổ, không có con cái bên cạnh.
  • Bị chính những người con mình hết lòng hy sinh phụ bạc.
  • Thể hiện bi kịch của một người cha giàu tình thương nhưng sống trong xã hội lạnh lùng, thực dụng.
    → Qua đó tác giả bày tỏ sự cảm thương sâu sắc đối với số phận lão Goriot và phê phán xã hội coi trọng tiền bạc hơn tình người.



8 tháng 3
1. Ngôi kể thứ ba Đoạn trích sử dụng ngôi kể thứ ba, thể hiện qua việc người kể chuyện giấu mình, không xuất hiện trực tiếp trong văn bản, và gọi các nhân vật bằng tên (lão Goriot, cha, Rastignac, Eugène, các con gái) hoặc đại từ nhân xưng ở ngôi thứ ba (lão, chúng). Điều này cho phép người kể chuyện có cái nhìn bao quát, kể lại mọi sự việc, hành động và suy nghĩ của các nhân vật một cách khách quan.  2.  Tình phụ tử thiêng liêng và bi kịch của lão Goriot Đề tài của văn bản tập trung vào tình yêu thương vô điều kiện, mù quáng của người cha (lão Goriot) dành cho các con gái, và bi kịch đau lòng khi ông bị chính các con ruồng bỏ, bòn rút hết tài sản, đẩy vào cảnh nghèo khổ và chết trong cô độc. Qua đó, tác phẩm cũng phản ánh hiện thực xã hội tư sản Pháp, nơi đồng tiền chi phối mọi mối quan hệ, kể cả tình cảm gia đình.  3.Lời nói của lão Goriot gợi lên nhiều cảm nhận sâu sắc:
  • Nỗi đau tột cùng của người cha bị ruồng bỏ:Lão Goriot khao khát được gặp con đến mức tuyệt vọng ("ta sẽ chết mà không được gặp các con gái của ta không?"), thể hiện tình phụ tử mãnh liệt nhưng không được đáp lại. 
  • Sự day dứt và hối hận muộn màng: Lời khuyên Rastignac "phải yêu quý cha mẹ con" là sự tổng kết bi kịch của chính đời mình, là lời cảnh tỉnh cho thế hệ sau về giá trị gia đình. 
  • Hình ảnh ẩn dụ đầy bi thương: Câu nói "Ta luôn thấy khát nhưng không bao giờ ta được uống. Ta đã sống như thế trong suốt mười năm qua" là ẩn dụ cho khao khát tình thương con cái không bao giờ được thỏa mãn, một sự hành hạ tinh thần kéo dài. 
  • Tình yêu thương vị tha: Dù bị đối xử tệ bạc, trong phút lâm chung, lão vẫn chỉ nghĩ đến con, không một lời oán trách, chỉ mong gặp mặt. 
4. Vì tình phụ tử mãnh liệt đã chiến thắng lý trí và sự phẫn nộ Sự mắng chửi, nguyền rủa của lão Goriot xuất phát từ nỗi đau và sự thất vọng tột cùng khi nhận ra sự bạc bẽo, vô ơn của các con. Tuy nhiên, ngay sau đó, bản năng và tình yêu thương của người cha lại trỗi dậy mạnh mẽ hơn tất cả. Khao khát được gặp con là bản năng tự nhiên, là ước nguyện cuối cùng của một người sắp chết, vượt lên trên mọi sự oán giận hay lý trí. Điều này càng làm nổi bật bi kịch và tình yêu thương mù quáng, vị tha của lão.  5. : Tình cảnh lúc cuối đời của lão Goriot là một bi kịch thảm khốc và đáng thương:
  • Nghèo khổ và cô độc: Lão chết trong cảnh không một xu dính túi, không người thân bên cạnh, chỉ có sự chăm sóc của một vài người xa lạ. 
  • Bị con cái ruồng bỏ: Hai cô con gái mà lão yêu thương, hy sinh cả đời vì chúng, lại không đến thăm cha lần cuối. 
  • Đau đớn về thể xác lẫn tinh thần: Lão phải chịu đựng bệnh tật hành hạ cùng với nỗi đau tinh thần vì bị phụ bạc. 
  • Cái chết bị lãng quên: Đám tang của lão diễn ra sơ sài, vắng vẻ, thể hiện sự lạnh lẽo, vô tình của xã hội và sự kết thúc bi đát cho một cuộc đời đầy tình thương nhưng nhận lại sự bạc bẽo.
8 tháng 3

Câu 1: Ngôi kể thứ 3

Câu 2 : Đề tài của đoạn trích là tình phụ tử thiêng liêng nhưng đầy bi kịch và sự bạc bẽo, tha hóa đạo đức của con cái trong một xã hội bị đồng tiền chi phối.

Câu 3 :

  • Cảm nhận: Lời nói của lão gợi lên một nỗi đau đớn, xót xa đến tột cùng. Hình ảnh so sánh "luôn thấy khát nhưng không bao giờ được uống" cho thấy một sự thiếu thốn tình cảm mãnh liệt, một cơn khát yêu thương kéo dài suốt mười năm trời.
  • Suy nghĩ: Qua đó, ta thấy được tình yêu con của lão Goriot đã trở thành một thứ "tôn giáo" khổ hạnh. Lão hy sinh tất cả để đổi lấy hạnh phúc cho các con, nhưng cuối đời lại phải nhận lấy sự trống rỗng và cô độc. Điều này khiến người đọc phải suy ngẫm về giá trị của lòng hiếu thảo và sự vô ơn.

Câu 4 : Bởi vì đối với lão Goriot, các con là lẽ sống duy nhất. Những lời nguyền rủa, oán trách chỉ là sự bộc phát tức thời của nỗi đau bị bỏ rơi quá lớn. Tuy nhiên, bản năng và tình yêu thương con trong lão quá mãnh liệt, nó lấn át mọi sự giận hờn. Lão có thể hận hành động của chúng, nhưng không bao giờ ngừng yêu thương bản thân các con mình. Sự vị tha đó cho thấy một tấm lòng người cha bao dung đến mức mù quáng.

Câu 5 :


câu 1 Văn bản sử dụng ngôi kể thứ ba

câu 2 Để tài của văn bản là tình phụ tử trong xã hội đồng tiền

câu 3 Sự khao khát yêu thương mãnh liệt: Dù đang hấp hổi, lão vẫn dùng chút sức tàn để nhắn nhủ về tình cảm gia đình. Lời khuyền "Con phải yệu quý cha mẹ con" như một sự đúc kết đầy đau xót từ chính bi kich của cuộc đời lão.

Sự cô độc tận cùng: Hình ảnh "luôn thấy khát nhưng không bao giờ được uống" là một ẩn dụ đau đớn. Cái "khát" ở đây không chỉ là nước mà là "khát" tình yêu của các con - thứ mà lão đã hy sinh cả gia tài nhưng không bao giờ nhận lại được.

Sự thức tỉnh muộn màng: Lão nhận ra mình đã mất con ngay từ khi chúng đi lấy chồng (bước chân vào giới thượng lưu), nhưng tình yêu mù quáng vẫn khiến lão đau khổ đến giâv phút cuối cùng.

câu 4 Bản năng người cha: Sự nguyễn rủa là kết quả của nỗi đau quá lớn, sự phẫn nộ tức thời khi nhận ra sự ích kỷ của các con. Tuy nhiên, tình yêu thương con trong lão là một bản năng quá mạnh mẽ, nó vượt qua cả lòng tự trọng và nỗi hận

Sự bao dung mù quáng: Với lão, chỉ cần nhìn thấy con, được chạm vào áo của chúng là lão thấy hạnh phúc và "khỏi bệnh". Lão luôn tìm lý do để đổ lỗi cho những chàng rể để bào chữa cho sự vô tâm của các con gái mình.

câu5 Bi kịch và thê lương: Một người từng giàu có, hy sinh tất cả cho con cái nhưng cuối đời lại chết trong sự cô độc, ghẻ lạnh tại một quán trọ nghèo nàn. Không một đứa con nào đến nhìn mặt lão lần cuối.

Sự tương phản gay gắt: Giữa sự hy sinh vô điều kiện của người cha và sự ích kỷ, cạn tình của những đứa con (Anastasie và Delphine). Đây là lời tổ cáo đanh thép đối với xã hội tư sản, nơi đồng tiền làm xói mòn mọi giá trị đạo đức và tình thân.

Ý nghĩa hình tượng: Cái chết của lão Goriot là biểu tượng cho sự sụp đổ của những giá trị nhân bản cũ kỹ trước sức mạnh tàn khốc của lối sống thực dụng.

8 tháng 3

Câu 1

· Ngôi kể thứ ba




Câu 2.

· Đề tài: Thân phận con người trong xã hội tư sản Pháp thế kỷ XIX

Câu 3.

Lời nói của lão Goriot gợi lên nhiều cảm xúc xót xa và suy ngẫm sâu sắc:

· Nỗi đau của một người cha: Lão Goriot đã dành tất cả tình yêu thương, tiền bạc cho các con nhưng cuối cùng phải chết trong cô đơn, không một đứa con bên cạnh. Lời khuyên "Con phải yêu quý cha mẹ con" vừa là lời nhắn nhủ chân thành, vừa là nỗi niềm cay đắng từ chính trải nghiệm của bản thân lão.


· Sự bất lực và tuyệt vọng: Hình ảnh "khát" nhưng "không bao giờ được uống" là ẩn dụ cho tình yêu thương của lão dành cho các con. Lão khao khát được yêu thương, được đáp lại tình cảm nhưng suốt mười năm qua, lão chỉ nhận lại sự hờ hững, vô tâm. Đó là một sự "khát" tình thương không bao giờ được thỏa mãn.


· Bài học về lòng hiếu thảo: Qua lời nói của lão Goriot, mỗi chúng ta nhận ra trách nhiệm phải yêu thương, trân trọng cha mẹ khi còn có thể, để không phải hối hận muộn màng như hai cô con gái của lão.




Câu 4.

· Tình yêu thương vô điều kiện: Dù bị các con đối xử tệ bạc, bị bỏ rơi trong cơn hấp hối, nhưng tình yêu của lão dành cho các con vẫn không hề thay đổi. Những lời nguyền rủa chỉ là sự tuyệt vọng nhất thời, còn bản chất lão vẫn là người cha yêu con vô bờ.

· Niềm hy vọng mong manh: Lão vẫn hy vọng các con sẽ đến, sẽ nhận ra sai lầm. Được gặp các con trước khi chết là niềm an ủi lớn nhất, là liều thuốc duy nhất có thể cứu lão khỏi nỗi đau tinh thần.

· Sự cao thượng của tình phụ tử: Lão sẵn sàng tha thứ tất cả, chỉ cần được nhìn thấy các con, được "vuốt tóc chúng". Điều này cho thấy tình yêu của cha mẹ là vô bờ bến, có thể vượt qua mọi oán hận, tổn thương.

Câu 5. Tình cảnh cuối đời của lão Goriot là một bi kịch lớn, phản ánh sự tàn nhẫn của xã hội tư sản đề cao đồng tiền:




· Cô đơn tuyệt đối: Lão chết trong căn phòng tồi tàn của khu trọ, không một người thân bên cạnh. Hai đứa con gái mà lão yêu thương hết mực, hy sinh tất cả, đều vắng mặt trong giờ phút lâm chung.


· Đau khổ tột cùng: Lão không chỉ đau đớn về thể xác mà còn chịu nỗi đau tinh thần khủng khiếp - nỗi đau bị chính những đứa con ruột thịt bỏ rơi, phản bội.


· Sự trớ trêu của số phận: Một người cha giàu lòng yêu thương, sẵn sàng hy sinh tất cả vì con, cuối cùng lại nhận được sự vô ơn, bạc bẽo. Tiền bạc lão dành cho con đã trở thành thứ khiến các con xa rời lão.


· Bài học nhân văn sâu sắc: Qua bi kịch của lão Goriot, nhà văn H. Balzac đã lên án mạnh mẽ sức mạnh đồng tiền làm tha hóa con người, đồng thời ca ngợi tình phụ tử thiêng liêng và cảnh báo về hậu quả của sự vô ơn, bội bạc.

Câu 1: Văn bản được kể theo ngôi thứ ba. Câu 2: Đề tài của văn bản là tình cha con và nỗi đau của người cha khi bị con cái bỏ rơi. Câu 3: Lời nói của lão Goriot cho thấy ông rất yêu thương các con gái của mình. Dù sắp chết, ông vẫn mong được gặp các con. Điều đó làm em cảm thấy rất thương và xót xa cho ông, vì ông đã hi sinh nhiều cho con nhưng cuối cùng lại không được các con quan tâm. Câu 4: Lão Goriot vẫn khao khát gặp các con vì ông là một người cha rất yêu con. Những lời mắng chửi chỉ là do ông quá đau khổ và tuyệt vọng. Thực ra trong lòng ông vẫn rất thương và mong được gặp các con lần cuối trước khi chết. Câu 5: Lúc cuối đời, lão Goriot rất đáng thương. Ông bị các con bỏ rơi, phải chết trong đau đớn và cô đơn. Bên cạnh ông chỉ có Eugène và Bianchon chứ không phải con ruột của mình.

8 tháng 3

Câu 1. Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản.


· Ngôi kể thứ ba 


Câu 2. Đề tài của văn bản trên là gì?


· Đề tài: Thân phận con người trong xã hội tư sản Pháp thế kỷ XIX


Câu 3. Lời nói của lão Goriot với Rastignac: "Con phải yêu quý cha mẹ con... Ta luôn thấy khát nhưng không bao giờ ta được uống. Ta đã sống như thế trong suốt mười năm qua." gợi cho em những cảm nhận, suy nghĩ gì?


Lời nói của lão Goriot gợi lên nhiều cảm xúc xót xa và suy ngẫm sâu sắc:


· Nỗi đau của một người cha: Lão Goriot đã dành tất cả tình yêu thương, tiền bạc cho các con nhưng cuối cùng phải chết trong cô đơn, không một đứa con bên cạnh. Lời khuyên "Con phải yêu quý cha mẹ con" vừa là lời nhắn nhủ chân thành, vừa là nỗi niềm cay đắng từ chính trải nghiệm của bản thân lão.

· Sự bất lực và tuyệt vọng: Hình ảnh "khát" nhưng "không bao giờ được uống" là ẩn dụ cho tình yêu thương của lão dành cho các con. Lão khao khát được yêu thương, được đáp lại tình cảm nhưng suốt mười năm qua, lão chỉ nhận lại sự hờ hững, vô tâm. Đó là một sự "khát" tình thương không bao giờ được thỏa mãn.

· Bài học về lòng hiếu thảo: Qua lời nói của lão Goriot, mỗi chúng ta nhận ra trách nhiệm phải yêu thương, trân trọng cha mẹ khi còn có thể, để không phải hối hận muộn màng như hai cô con gái của lão.


Câu 4. Vì sao lão Goriot lại khao khát được gặp các con ngay sau khi nguyền rủa, mắng chửi chúng?


Sự mâu thuẫn trong tâm lý của lão Goriot thể hiện chiều sâu tình cảm của một người cha:


· Tình yêu thương vô điều kiện: Dù bị các con đối xử tệ bạc, bị bỏ rơi trong cơn hấp hối, nhưng tình yêu của lão dành cho các con vẫn không hề thay đổi. Những lời nguyền rủa chỉ là sự tuyệt vọng nhất thời, còn bản chất lão vẫn là người cha yêu con vô bờ.

· Niềm hy vọng mong manh: Lão vẫn hy vọng các con sẽ đến, sẽ nhận ra sai lầm. Được gặp các con trước khi chết là niềm an ủi lớn nhất, là liều thuốc duy nhất có thể cứu lão khỏi nỗi đau tinh thần.

· Sự cao thượng của tình phụ tử: Lão sẵn sàng tha thứ tất cả, chỉ cần được nhìn thấy các con, được "vuốt tóc chúng". Điều này cho thấy tình yêu của cha mẹ là vô bờ bến, có thể vượt qua mọi oán hận, tổn thương.


Câu 5. Nhận xét về tình cảnh lúc cuối đời của lão Goriot.


Tình cảnh cuối đời của lão Goriot là một bi kịch lớn, phản ánh sự tàn nhẫn của xã hội tư sản đề cao đồng tiền:


· Cô đơn tuyệt đối: Lão chết trong căn phòng tồi tàn của khu trọ, không một người thân bên cạnh. Hai đứa con gái mà lão yêu thương hết mực, hy sinh tất cả, đều vắng mặt trong giờ phút lâm chung.

· Đau khổ tột cùng: Lão không chỉ đau đớn về thể xác mà còn chịu nỗi đau tinh thần khủng khiếp - nỗi đau bị chính những đứa con ruột thịt bỏ rơi, phản bội.

· Sự trớ trêu của số phận: Một người cha giàu lòng yêu thương, sẵn sàng hy sinh tất cả vì con, cuối cùng lại nhận được sự vô ơn, bạc bẽo. Tiền bạc lão dành cho con đã trở thành thứ khiến các con xa rời lão.

· Bài học nhân văn sâu sắc: Qua bi kịch của lão Goriot, nhà văn H. Balzac đã lên án mạnh mẽ sức mạnh đồng tiền làm tha hóa con người, đồng thời ca ngợi tình phụ tử thiêng liêng và cảnh báo về hậu quả của sự vô ơn, bội bạc.

8 tháng 3

Câu 1: Ngôi kể thứ ba. Câu 2: Đề tài: Tình cha con và bi kịch của người cha bị con cái phụ bạc trong xã hội. Câu 3: Lời nói của lão Goriot thể hiện nỗi đau đớn, tuyệt vọng của một người cha rất yêu thương con nhưng bị con bỏ rơi; đồng thời cho thấy khát khao được gặp các con trước khi chết. Câu 4: Vì lão Goriot yêu thương các con vô điều kiện, dù đau khổ và oán trách nhưng trong lòng vẫn không ngừng nhớ thương, mong được gặp các con lần cuối trước khi chết. Câu 5: Lúc cuối đời, lão Goriot rơi vào tình cảnh vô cùng bi thảm và cô đơn: nghèo khổ, bệnh tật, bị các con bỏ rơi, chết trong đau đớn và tuyệt vọng, chỉ khao khát được gặp con mà không thành. Điều đó cho thấy bi kịch của tình phụ tử trong xã hội đầy ích kỉ và thực dụng.

8 tháng 3


Câu 1. Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản

Văn bản được kể theo ngôi thứ ba.

Câu 2. Đề tài của văn bản là gì?

Đề tài:

👉 Tình cha con và bi kịch của người cha bị con cái vô tâm, bất hiếu.

Cụ thể:

  • Lão Goriot yêu thương và hy sinh tất cả cho các con.
  • Nhưng khi ông hấp hối, các con gái lại không đến thăm.
  • Điều đó làm nổi bật nỗi đau và sự cô đơn của người cha.

Câu 3. Cảm nhận về lời nói của lão Goriot

Câu nói của lão Goriot thể hiện nỗi đau đớn, tuyệt vọng và khát khao tình cảm của một người cha.

Phân tích:

1️⃣ Nỗi đau vì không được gặp con trước khi chết

  • Lão nói: “Ta sẽ chết mà không được gặp các con gái của ta”.
    → Thể hiện sự tuyệt vọng và cô đơn tột cùng.

2️⃣ Khát khao tình cảm của người cha

  • Hình ảnh so sánh: “Ta luôn thấy khát nhưng không bao giờ được uống.”
    → Tình yêu của lão dành cho con luôn khao khát được đáp lại nhưng không bao giờ được thỏa mãn.

3️⃣ Bi kịch của tình phụ tử

  • Suốt mười năm, lão sống trong sự hy sinh và chờ đợi.
  • Nhưng đổi lại chỉ là sự lạnh lùng của con cái.

👉 Qua đó, tác giả làm nổi bật tình yêu thương vô điều kiện của người cha và sự bất hiếu của con cái.

Câu 4. Vì sao lão Goriot vẫn khao khát gặp con dù vừa mắng chúng?

Bởi vì tình yêu của người cha dành cho con là vô điều kiện.

Giải thích:

  • Lão mắng con vì đau đớn và thất vọng.
  • Nhưng sâu trong lòng, lão vẫn yêu thương và nhớ con tha thiết.
  • Ngay cả khi bị con bỏ rơi, điều cuối cùng lão mong muốn vẫn là được nhìn thấy con một lần trước khi chết.

👉 Điều này cho thấy tình phụ tử sâu sắc và cao cả.

Câu 5. Nhận xét về tình cảnh cuối đời của lão Goriot

Tình cảnh cuối đời của lão Goriot vô cùng bi thảm và đáng thương.

Biểu hiện:-

- Bệnh nặng, nghèo khổ.

  • Không có tiền bạc, phải sống trong cảnh khốn khó.
  • Các con gái không đến thăm khi ông hấp hối.
  • Ông chết trong cô đơn và tuyệt vọng.

Ý nghĩa:

1️⃣ Thể hiện bi kịch của một người cha yêu con mù quáng.

2️⃣ Phê phán sự vô ơn và ích kỷ của con cái trong xã hội tư sản.

3️⃣ Thể hiện tấm lòng nhân đạo của Balzac đối với con người.


👉 Cái chết của lão Goriot là một lời tố cáo xã hội vô tình và sự suy đồi đạo đức.


Câu 1: ngôi kể thứ ba

Câu 2: Đề tài của văn bản

Đề tài: Bi kịch của tình phụ tử trong xã hội đồng tiền (hoặc có thể trả lời ngắn gọn là đề tài về tình cảm gia đình/tình cha con).

Câu 3: Cảm nhận về lời nói của lão Goriot với Rastignac

Lần nói: "Con phải yêu quý cha mẹ con... Ta luôn thấy khát nhưng không bao giờ ta được uống..." gợi lên nhiều suy nghĩ:

Sự đau đớn cùng cực: Hình ảnh "khát mà không được uống" là một ẩn dụ đau xót cho việc lão khao khát tình thương của con cái nhưng không bao giờ được đáp lại suốt 10 năm.

Sự hối tiếc và cảnh tỉnh: Lão khuyên Rastignac yêu thương cha mẹ vì lão đã thấu hiểu nỗi đau bị bỏ rơi. Lời nói này vừa là sự tuyệt vọng, vừa là lời cảnh báo về sự băng hoại của đạo đức con người trước sức mạnh của vật chất.

Lòng trắc ẩn: Người đọc cảm thấy xót xa cho một người cha tội nghiệp, cả đời hi sinh nhưng cuối đời lại cô độc trên giường bệnh.

Câu 4: Vì sao lão Goriot khao khát gặp các con ngay sau khi nguyền rủa chúng?

Đây là biểu hiện của một tâm lý phức tạp nhưng rất nhân văn:

Bản năng của người cha: Sự nguyền rủa là kết quả của nỗi đau và sự tỉnh ngộ về sự bất hiếu của các con. Tuy nhiên, tình yêu thương con trong lão đã trở thành một loại "tín ngưỡng", một bản năng không thể vứt bỏ.

Sự mâu thuẫn giữa lý trí và tình cảm: Lý trí cho lão thấy chúng độc ác, nhưng trái tim người cha lại luôn tìm cách bao biện, tha thứ. Đối với lão, các con là mục đích sống duy nhất; vì vậy, trước cái chết, lão sẵn sàng gạt bỏ mọi hận thù để được nhìn thấy chúng lần cuối.

Câu 5: Nhận xét về tình cảnh lúc cuối đời của lão Goriot

Sự cô độc bi thảm: Lão chết trong cảnh nghèo túng, cô quạnh, không một đứa con nào bên cạnh dù lão đã từng rất giàu có và hy sinh tất cả cho chúng.

Sự bất công xã hội: Cái chết của lão là bản án đanh thép tố cáo xã hội thượng lưu Paris lúc bấy giờ – nơi đồng tiền đã làm xói mòn mọi giá trị đạo đức và tình thân.

Hình tượng nhân vật: Lão Goriot hiện lên như một "vị thánh tử vì đạo" của tình phụ tử, một nhân vật đáng thương hơn là đáng trách, để lại trong lòng người đọc nỗi ám ảnh về sự lạnh lùng của lòng người.


    Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm) Mặc dù chúng ta đang có một cuộc sống đầy đam mê và có những mục tiêu rõ ràng để phấn đấu, nhưng chúng ta hẳn cũng khó lòng tránh được có lúc lâm vào nghịch cảnh. Liệu chúng ta sẽ đứng dậy sau cơn phong ba đó, hay hoàn toàn bị gục ngã. Điều này phụ thuộc vào cách chúng ta đối đầu với chúng. Trước những thác ghềnh, chông gai trên đường khiến...
Đọc tiếp

 

 

Phn I. Đọc hiu (3,0 đim)

Mặc dù chúng ta đang có một cuộc sống đầy đam mê và có những mục tiêu rõ ràng để phấn đấu, nhưng chúng ta hẳn cũng khó lòng tránh được có lúc lâm vào nghịch cảnh. Liệu chúng ta sẽ đứng dậy sau cơn phong ba đó, hay hoàn toàn bị gục ngã. Điều này phụ thuộc vào cách chúng ta đối đầu với chúng. Trước những thác ghềnh, chông gai trên đường khiến chúng ta cảm thấy nản lòng và hoài nghi, thì niềm tin mãnh liệt vào bản thân là điều cần thiết hơn bao giờ hết để chúng ta vượt qua những trắc trở đó.

Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ đơn giản là học được từ người khác. Tìm hiểu xem những người đi trước đã đối phó với khó khăn tương tự như thế nào giúp chúng ta tìm ra giải pháp cho mình. Những tấm gương về những con người đầy nghị lực và giàu lòng quả cảm, có khả năng trụ vững sau bao cơn giông tố của cuốc đời luôn là tâm điểm cho chúng ta noi theo.

Đó là nghị lực của Walt Disney trong việc thực hiện ước mơ của mình sau năm lần phá sản. Bất chấp số phận, Helen Keller đã không cam chịu để người đời thương hại. Ngược lại bà đã dũng cảm vượt qua nghịch cảnh, trở thành tấm gương sáng cho hàng triệu người noi theo…

Niềm tin vào bản thân là nội lực thúc đẩy thái độ tích cực, dẫn dắt chúng ta đạt được mục tiêu của mình. Thành công không bao giờ đến với những ai yếu đuối và có thái độ buông xuôi.

          ( Điều kì diệu của thái độ sống, Mac Anderson, NxbTổng hợp TP.Hồ Chí Minh năm 2008, tr14)

Đọc văn bản trên và thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Văn bản tập trung bàn về vấn đề gì?

Câu 2. Chỉ ra và nêu tác dụng biện pháp tu từ trong câu:"Trước những thác ghềnh, chông gai trên đường khiến chúng ta cảm thấy nản lòng và hoài nghi, thì niềm tin mãnh liệt vào bản thân là điều cần thiết hơn bao giờ hết để chúng ta vượt qua những trắc trở đó."

Câu 3. Theo anh/ chị, việc đưa ra dẫn chứng hai nhân vật Walt Disney Helen Keller có tác dụng gì?

Câu 4. Anh chị có đồng tình với quan điểm: Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ đơn giản là học được từ người khác hay không? Vì sao?

 Phn II. Làm văn (7,0 đim)

Câu 1. (2,0 đim)

Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/ chị hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ về sức mạnh nghị lực của con người trong cuộc sống.

41
19 tháng 8 2021

mày đừng so sánh tao với nó\n_vì nó là chó còn tao là người\n_Mày đừng bật cười khi nghe điều đó\n_vì cả mày và nó đều chó như nhau

19 tháng 8 2021

Phần I 

Câu 1:

Văn bản tập trung vào vấn đề nghị luận bàn về niềm tin vào bản thân, nỗ lực phấn đấu không bỏ cuộc để vượt qua những khó khăn, thác ghềnh bằng tự lực để chinh phục thành công.

Câu 2:

Biện pháp ẩn dụ:"thác ghềnh, chông gai trên đường" vì tác giả so sánh những chướng ngại vật trên đường đi hàng ngày của mỗi người cũng giống như những khó khăn, gian nan trên đường đời mỗi người phải trải qua để thành công.

Câu 3:

Tác giả đưa hai dẫn chứng về Walt Disney và Helen Keller là để làm dẫn chứng thuyết phục cho vấn đề cần nghị luận của mình đó là đã có những tấm gương gặp muôn vàn khó khăn trắc trở trong cuộc sống nhưng họ không buông xuôi hay dựa dẫm vào người khác mà biết cách đứng dậy sau vấp ngã và thành công.

Câu 4:

Em đồng ý với quan điểm:"Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ là học từ người khác". Những người đi trước và câu chuyện xoay quanh sự thành bại của họ chính là những bài học quý báu cho người sau. Những con người đi trước và thành công sau 1 quá trình gian nan đó chính là những bằng chứng sống để người đời sau tin tưởng vào mình dù có trải qua bao thác ghềnh, chông gai.

Phần II

Có một câu chuyện ngụ ngôn mà hồi bé chúng ta hay được nghe kể về cuộc đua của  rùa và thỏ, con thỏ nhanh nhẹn nhưng lại tự phụ, xem thường đối thủ,tuy con rùa chậm chạp nhưng lại nỗ lực không ngừng, kết quả ai cũng biết, con rùa đã thắng con thỏ. Xuyên suốt câu truyện Rùa và Thỏ là ý chí của con  rùa, nó  không đầu hàng trước những thất bại. Rõ ràng, con thỏ có năng lực nhưng ý chí lại không tốt bằng con rùa, nó vẫn có thể về đến được vách đích nhưng con rùa vẫn chiến thắng nó,đó cũng là sự biểu trưng cho quyết tâm và ý chí của con rùa . Cũng có người từng nói “ Không phải đời người quá khó khăn, mà là do bạn nỗ lực chưa đủ”. Từ câu chuyện trên và câu nói trên, chúng ta có thể thấy được ý chí đóng 1 vai trò cực kì quan trọng trong mỗi bước tiến đến con đường thành công của mỗi con người.

Sức mạnh, trí tuệ hay thiên phú chỉ góp phần nào cho sự khác biệt giữa những người thành công và những người thất bại, nhưng hơn thế nữa quyết định chủ yếu là ở ý chí. Vậy ý chí hay sự quyết tâm là gì mà nó lại đóng góp không nhỏ vào chính cuộc đời chúng ta? Ý chí, nghị lực là ý thức, tính tự giác, mạnh mẽ, quyết tâm dồn nén sức lực, trí tuệ để đạt được tiêu chí, mục đích. Ý chí cũng là phẩm chất tâm lí đặc trưng của con người, thể hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có nỗ lực khắc phục khó khăn.Ngay từ những điều đơn giản nhất trong cuộc sống, bạn được giao một công việc trong nhiều ngày, nhưng bạn đã cố gắng, tập trung để hoàn thành trước thời hạn và nhận thêm một việc làm mới, từ đó năng suất làm việc, hiệu quả công việc và sự tin tưởng từ người giao việc cũng từ đó tăng theo. Chỉ từ một sự quyết tâm nhỏ ấy thôi mà cũng kéo theo được vô cùng nhiều giá trị và lợi ích không chỉ đối với bản than mà còn đối với những người xung quanh chúng ta. Ý chí như thôi thúc bản thân mỗi chúng ta, như tiếp thêm cho ta phần nào sức mạnh để ngày càng tới gần hơn mục tiêu đã đề ra. Câu chuyện được minh chứng bởi Thomas Edison – nhà phát minh tài ba của thế kỉ XX, hơn 10.000 lần thất bại để đem được ánh sáng đến với nhân loại, nếu không có ông thì dường như việc bóng đèn xuất hiện với thế giới sẽ bị đẩy lùi đi mười mấy năm, rõ ràng, chính ý chí quyết tâm của Edison đã khiến con đường của nền văn minh hiện đại của con người trở nên ngắn lại.

Ý chí giúp chúng ta toàn sức tập trung vào mục tiêu bằng cách ngăn cản các suy nghĩ không liên quan khác xảy đến. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ hoàn thành công việc một cách nhanh chóng và hiểu quả. Chủ tịch Hồ chí đã nói:

“Không có việc gì khó

Chỉ sợ lòng không bền

Đào núi và lấp biển

Quyết chí ắt làm nên”

Câu nói này càng như khẳng định vai trò quan trọng và to lớn của sức mạnh ý chỉ và quyết tâm, đáng sợ nhất không phải là những người có tài năng thiên bẩm mà là những người có nghị lực vươn lên. Ý chí rèn luyện bản thân sự quyết đoán và nhạy bén trong mọi vấn đề cuộc sống từ đó thúc đẩy hành trình của bản thân trở nên tinh gọn. Nghị lực là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với bản thân mỗi người, tuy nhiên không phải ai cũng nhận ra được giá trị cốt lõi của nó. Trái ngược với những người có ý chí là những người thờ ơ, không đủ quyết tâm, nhụt trí trước những thử thách cuộc sống. Giới trẻ bây giờ không ít người chưa làm đã vội bỏ cuộc, thấy khó khăn đã nản chí, gặp thất bại thì hủy hoại và sống bất cần đời. Những người như thế thật đáng chê trách. Là học sinh, chúng ta cần khẳng định tư cách, ý chí, nghị lực vượt qua những khó khăn thử thách .Tài năng của con người được tạo bởi nhiều yếu tố. Trong đó yếu tố tự rèn là yếu tố quan trọng nhất để đi đến thành công. Để thấy mình không thấp hơn người khác, bản thân phải có sự lao động chăm chỉ, cần cù, không chùn bước trước gian nguy, phải biết tự tin vào chính bản thân trên bước đường đời.

           Nhìn chung, một lần nữa cần phải khẳng định lại giá trị của câu nói “ Ý chí tốt làm con đường ngắn lại”. Ý chí mang đến thành công và giúp ta chinh phục mọi khó khăn trên con đường gập ghềnh phía trước. Những con người thành công và nổi tiếng nhất đều là những người có ý chí rất mạnh mẽ.Vậy nên việc rèn luyện và giữ vững một ý chí kiên cường luôn là điều tất yếu trên chặng đường của cuộc đời

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng...
Đọc tiếp

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)

“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng chất dinh dưỡng để lớn lên và thay đổi. Song, tất cả sự thay đổi đó lặng lẽ tới mức, với tôi, cây sồi già trong sân trông vẫn như khi tôi nhìn thấy nó thuở ấu thơ.” (James Lovelock) (1)

Từ văn bản trên, anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận về chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng.

Câu 2. Nghị luận văn học (12,0 điểm)

Trong diễn văn đọc tại lễ bế mạc các hoạt động vinh danh giải Nobel ngày 10 tháng 12 năm 1957 ở Stockholm, A. Camus cho rằng: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”(2)

Bằng trải nghiệm văn học, anh/ chị hãy bàn luận ý kiến trên.

1
1. Lắng nghe sự thinh lặng Answer: Bài văn mẫu về chủ đề lắng nghe sự thinh lặng. Mở bài Trong cuộc sống ồn ào, vội vã, con người thường mải mê chạy theo những thanh âm, những tiếng nói từ bên ngoài mà quên mất đi một điều vô cùng quan trọng: lắng nghe sự thinh lặng. Sự thinh lặng không phải là sự im bặt, trống rỗng, mà là một không gian để tâm hồn nghỉ ngơi, để trí não soi chiếu những suy tư sâu sắc. James Lovelock từng ví Trái Đất như một cái cây tồn tại thầm lặng, trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai, cho thấy sự vận động và biến đổi kỳ diệu diễn ra trong im lặng. Chủ đề "Lắng nghe sự thinh lặng" mời gọi mỗi chúng ta nhìn nhận lại cách sống, cách cảm nhận thế giới và thấu hiểu chính mình. Thân bài 1. Giải thích và ý nghĩa của sự thinh lặng Sự thinh lặng là trạng thái không có tiếng động hoặc âm thanh. Tuy nhiên, trong ngữ cảnh nghị luận xã hội, thinh lặng mang ý nghĩa sâu sắc hơn: đó là sự tĩnh tâm, là khoảng không gian nội tâm để con người suy ngẫm, chiêm nghiệm. Lắng nghe sự thinh lặng là khả năng tạm gác lại những xô bồ, náo nhiệt của cuộc sống, để tâm trí được thanh lọc và tập trung vào những giá trị cốt lõi. 2. Biểu hiện của việc lắng nghe sự thinh lặng Việc lắng nghe sự thinh lặng được thể hiện qua nhiều khía cạnh:
  • Tự vấn bản thân: Trong những khoảnh khắc yên tĩnh, con người có cơ hội nhìn lại hành động, suy nghĩ, sai lầm và cả những ước mơ của mình. Sự thinh lặng giúp ta trung thực hơn với chính mình.
  • Thấu hiểu thế giới xung quanh: Như cái cây của Lovelock, vạn vật trong tự nhiên vận hành trong sự thinh lặng tuyệt đối. Lắng nghe sự thinh lặng giúp ta cảm nhận được nhịp đập của sự sống, sự biến đổi tinh tế của thiên nhiên mà những âm thanh huyên náo thường che lấp.
  • Tăng cường sự tập trung và sáng tạo: Khi không bị phân tán bởi tiếng ồn, trí óc con người hoạt động hiệu quả hơn, ý tưởng mới mẻ dễ dàng nảy sinh.
3. Bàn luận mở rộng Trong xã hội hiện đại, con người ngày càng khó tìm thấy sự thinh lặng. Mạng xã hội, thông tin liên tục, công việc áp lực khiến chúng ta luôn trong trạng thái "bận rộn". Điều này dẫn đến sự căng thẳng, lo âu và mất kết nối với chính mình. Do đó, việc chủ động tìm kiếm và lắng nghe sự thinh lặng là vô cùng cần thiết. Nó là liều thuốc chữa lành tâm hồn, giúp cân bằng cảm xúc và sống chậm lại. Kết bài "Lắng nghe sự thinh lặng" không phải là một hành động thụ động mà là một nghệ thuật sống, một sự chủ động tìm kiếm bình yên trong tâm hồn. Giống như cây sồi già vẫn giữ nguyên dáng vẻ qua bao năm tháng dù có nhiều sự thay đổi lặng lẽ, sự thinh lặng giúp chúng ta giữ vững bản ngã giữa dòng đời vạn biến. Hãy dành cho mình những khoảng lặng cần thiết để thấu hiểu bản thân, yêu thương cuộc sống và cảm nhận thế giới một cách trọn vẹn hơn. 2. Bàn luận về ý kiến của A. Camus Answer: Bài văn mẫu bàn luận về ý kiến của A. Camus về người nghệ sĩ. Mở bài Albert Camus, trong diễn văn nhận giải Nobel năm 1957, đã đưa ra một nhận định sâu sắc về vai trò và sứ mệnh của người nghệ sĩ: "Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi." (2) Ý kiến này khẳng định mối quan hệ biện chứng, không thể tách rời giữa cá nhân người nghệ sĩ, cái đẹp trong nghệ thuật và trách nhiệm với cộng đồng. Bằng trải nghiệm văn học, ta thấy nhận định của Camus là kim chỉ nam cho mọi hoạt động sáng tạo chân chính. Thân bài 1. Mối tương quan giữa người nghệ sĩ và cộng đồng Người nghệ sĩ không tồn tại biệt lập mà luôn trong mối tương quan với xã hội, với "người khác". Cuộc sống, con người là chất liệu vô tận cho sáng tạo. Các tác phẩm văn học lớn đều phản ánh hiện thực, số phận con người, và những vấn đề của thời đại. Ví dụ, Nam Cao với tác phẩm Chí Phèo, đã phơi bày bi kịch của người nông dân bị bần cùng hóa, bị xã hội vùi dập, qua đó thể hiện sự gắn bó sâu sắc với cộng đồng, lên tiếng bênh vực những số phận bất hạnh. 2. Cân bằng giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng "Cái đẹp không thể bỏ qua" là mục tiêu hướng tới của nghệ thuật. Văn chương phải là cái đẹp, là sự tinh tế trong ngôn từ, cấu trúc, hình ảnh. Tuy nhiên, cái đẹp đó không phải là sự phù phiếm, thoát ly thực tế mà phải gắn liền với "cộng đồng không thể tách khỏi". Tác phẩm đạt đến cái đẹp chân chính khi nó vừa mang giá trị thẩm mỹ cao, vừa chứa đựng thông điệp nhân văn sâu sắc, phục vụ con người, thức tỉnh lương tri. 3. Trải nghiệm văn học chứng minh Qua các tác phẩm văn học, ta thấy rõ sự tôi luyện của người nghệ sĩ trong mối tương quan này.
  • Văn học hiện thực phê phán: Các nhà văn như Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Ngô Tất Tố (Tắt đèn) đã sử dụng ngòi bút sắc bén để phơi bày những thói hư tật xấu, sự bất công của xã hội, nhằm thức tỉnh cộng đồng. Cái đẹp trong tác phẩm của họ là cái đẹp của sự thật trần trụi, có sức lay động mạnh mẽ.
  • Văn học cách mạng: Các nhà thơ như Tố Hữu (Việt Bắc) đã gắn thơ ca với sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Thơ của ông vừa giàu tính trữ tình, vừa mang tính chính trị sâu sắc, là tiếng nói chung của cộng đồng trong công cuộc giải phóng dân tộc.
4. Bàn luận mở rộng Nhận định của Camus vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay. Người nghệ sĩ hiện đại cần tránh hai khuynh hướng: hoặc quá chú trọng vào cái tôi cá nhân, cái đẹp thuần túy mà xa rời thực tế cuộc sống; hoặc biến nghệ thuật thành công cụ tuyên truyền khô khan, thiếu tính thẩm mỹ. Con đường chân chính của nghệ thuật là sự dung hòa giữa cái đẹp và trách nhiệm xã hội. Kết bài Tóm lại, ý kiến của Albert Camus là một triết lý sâu sắc về nghệ thuật và người nghệ sĩ. Sứ mệnh của người nghệ sĩ không chỉ là sáng tạo ra cái đẹp mà còn là gắn bó mật thiết với cộng đồng, dùng nghệ thuật để phục vụ con người. Sự tôi luyện bản thân trên "quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi" chính là con đường dẫn đến những tác phẩm văn học vĩ đại, có giá trị vượt thời gian.
Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng...
Đọc tiếp

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)

“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng chất dinh dưỡng để lớn lên và thay đổi. Song, tất cả sự thay đổi đó lặng lẽ tới mức, với tôi, cây sồi già trong sân trông vẫn như khi tôi nhìn thấy nó thuở ấu thơ.” (James Lovelock) (1)

Từ văn bản trên, anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận về chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng.

Câu 2. Nghị luận văn học (12,0 điểm)

Trong diễn văn đọc tại lễ bế mạc các hoạt động vinh danh giải Nobel ngày 10 tháng 12 năm 1957 ở Stockholm, A. Camus cho rằng: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”(2)

Bằng trải nghiệm văn học, anh/ chị hãy bàn luận ý kiến trên.

1
2 tháng 10 2025

Câu 1: Nghị luận xã hội (8 điểm)

Chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng


Bài làm:

Con người thường bị cuốn vào những ồn ào, náo nhiệt của cuộc sống, đến mức quên mất rằng sự thinh lặng cũng có thể nói lên rất nhiều điều quan trọng. Trong đoạn văn của James Lovelock, Trái Đất được ví như một cái cây lặng lẽ tồn tại và phát triển một cách âm thầm. Điều đó khiến ta nhận ra: có những thay đổi lớn lao, những câu chuyện sâu sắc không cần lời nói vẫn đang diễn ra ngay bên cạnh chúng ta, trong sự yên tĩnh và tĩnh lặng.

Lắng nghe sự thinh lặng chính là một cách để ta thấu hiểu, cảm nhận sâu sắc hơn về thế giới xung quanh. Sự thinh lặng không phải là khoảng trống, không phải là sự vắng mặt của âm thanh, mà là một trạng thái tích cực, chứa đựng sự sống động và những thông điệp mà tiếng ồn không thể mang lại. Khi ta biết dừng lại, lắng nghe thinh lặng, ta sẽ nhận ra những vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, sự biến đổi của cuộc sống và cả tiếng nói của chính tâm hồn mình.

Trong cuộc sống hiện đại, con người dễ bị cuốn vào guồng quay công việc, công nghệ, xã hội mà quên mất việc dành thời gian để yên tĩnh suy ngẫm, tĩnh tâm. Việc lắng nghe sự thinh lặng không chỉ giúp ta lấy lại cân bằng tinh thần mà còn giúp ta hiểu rõ hơn về bản thân và những giá trị cuộc sống. Sự thinh lặng là nguồn sức mạnh để ta đối diện với khó khăn, là không gian để nuôi dưỡng trí tuệ và lòng nhân ái.

Thực tế, nhiều bậc vĩ nhân, nhà sáng tạo nghệ thuật, nhà tư tưởng đều trân trọng khoảng lặng để sáng tạo và suy nghĩ sâu sắc. Thiên nhiên cũng dạy chúng ta bài học quý giá về sự kiên nhẫn và phát triển bền vững qua sự thinh lặng của cây cối, đất trời. Lắng nghe sự thinh lặng là học cách quan sát, trân trọng những điều nhỏ bé mà bền vững.

Như vậy, trong cuộc sống bộn bề ngày nay, mỗi người cần biết tôn trọng và dành thời gian lắng nghe sự thinh lặng. Đó là con đường dẫn ta đến sự thấu hiểu, cảm thông và yêu thương. Sự thinh lặng không phải là khoảng cách, mà là kết nối sâu sắc với thế giới và chính bản thân mình.


Kết luận:

Lắng nghe sự thinh lặng là nghệ thuật sống, là cách để ta khám phá những giá trị chân thật và trường tồn. Hãy học cách dừng lại, lắng nghe và cảm nhận, để cuộc sống thêm ý nghĩa và sâu sắc hơn.


Câu 2: Nghị luận văn học (12 điểm)

Bàn luận câu nói của A. Camus:
“Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”


Bài làm:

Albert Camus – nhà văn, triết gia lỗi lạc của thế kỷ XX đã đưa ra một quan điểm sâu sắc về người nghệ sĩ và vị trí của họ trong xã hội. Theo ông, người nghệ sĩ không tồn tại tách biệt mà luôn vận động trong mối quan hệ hai chiều: giữa cá nhân với cái đẹp và giữa cá nhân với cộng đồng.

Thứ nhất, cái đẹp không thể bỏ qua là mục tiêu, là lý tưởng mà người nghệ sĩ theo đuổi. Người nghệ sĩ luôn không ngừng tìm kiếm, sáng tạo ra cái đẹp qua tác phẩm của mình – đó có thể là vẻ đẹp thẩm mỹ, vẻ đẹp tư tưởng hay vẻ đẹp nhân văn. Cái đẹp ấy vượt lên trên sự tầm thường, cái đẹp là nguồn cảm hứng và là tiếng nói riêng của người nghệ sĩ, giúp họ khẳng định giá trị và bản sắc cá nhân.

Tuy nhiên, người nghệ sĩ cũng không thể tách rời cộng đồng – nơi họ sinh sống và làm việc. Cộng đồng là nơi cung cấp chất liệu sáng tạo, là đối tượng truyền tải thông điệp, là nguồn cảm hứng và cũng là nơi tác phẩm được đón nhận. Người nghệ sĩ có trách nhiệm phản ánh, phê phán xã hội, góp phần định hướng những giá trị tích cực, đồng thời thấu hiểu, đồng cảm với cuộc sống con người. Nghệ thuật vì thế luôn mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc.

Mối tương quan liên tục giữa cái đẹp và cộng đồng tạo nên một con đường mà người nghệ sĩ phải đi – đó là quãng đường tôi luyện bản thân không ngừng nghỉ. Họ vừa phải giữ vững lý tưởng sáng tạo, vừa phải lắng nghe, giao tiếp và đồng hành với con người và xã hội. Nếu chỉ theo đuổi cái đẹp mà quên cộng đồng, nghệ thuật sẽ trở nên hời hợt, xa rời thực tế; ngược lại, nếu chỉ chú trọng cộng đồng mà thiếu cái đẹp, nghệ thuật sẽ mất đi giá trị thẩm mỹ và chiều sâu nhân văn.

Thực tế trong văn học Việt Nam và thế giới đã có nhiều nghệ sĩ tiêu biểu sống và sáng tạo theo tinh thần này. Họ luôn hướng tới cái đẹp – cái đẹp của sự chân thực, nhân hậu và tự do; đồng thời luôn giữ mối liên hệ mật thiết với đời sống nhân dân, phản ánh những vấn đề xã hội, con người một cách sâu sắc và thuyết phục.

Như vậy, câu nói của A. Camus đã nhấn mạnh sự cân bằng cần thiết trong đời sống nghệ sĩ, giữa cá nhân và xã hội, giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng. Người nghệ sĩ không chỉ là người sáng tạo mà còn là người đồng hành, người truyền cảm hứng và người bảo vệ những giá trị cao đẹp của nhân loại.


Kết luận:

Người nghệ sĩ thực sự là người tôi luyện trong hành trình kết nối giữa chính mình và cộng đồng, giữa cái đẹp không thể bỏ qua và trách nhiệm đối với xã hội. Chỉ khi đó, nghệ thuật mới phát huy được sức mạnh và giá trị đích thực của nó.

1. Đặt vấn đềSử thi "Đăm Săn" là pho sử thi nổi tiếng của người Ê-đê. Đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" là một trong những trích đoạn tiêu biểu kể lại hành trình chinh phục Nữ Thần Mặt Trời của người anh hùng Đăm Săn. Đồng thời, nó còn phản ánh diện mạo đời sống tinh thần, niềm tin cộng đồng người Ê-đê. Thông qua đoạn trích, không gian sinh hoạt của người...
Đọc tiếp

1. Đặt vấn đề

Sử thi "Đăm Săn" là pho sử thi nổi tiếng của người Ê-đê. Đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" là một trong những trích đoạn tiêu biểu kể lại hành trình chinh phục Nữ Thần Mặt Trời của người anh hùng Đăm Săn. Đồng thời, nó còn phản ánh diện mạo đời sống tinh thần, niềm tin cộng đồng người Ê-đê. Thông qua đoạn trích, không gian sinh hoạt của người Ê-đê được hiện lên rõ nét và trở thành một điểm nhấn thú vị, đáng để khám phá.

2. Giải quyết vấn đề

a. Kiến trúc nhà ở của người Ê-đê trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời"

Trước hết, kiến trúc nhà ở của người Ê-đê trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" gắn liền với hình ảnh nhà sàn dài. Nhà sàn dài là kiến trúc độc đáo và đặc biệt của người Ê-đê ở Tây Nguyên. Đặc trưng của nhà dài Tây Nguyên bao gồm: hình thức của thang, cột sàn và cách bố trí vật dụng trên mặt bằng sinh hoạt. Điều này được miêu tả rất rõ trong đoạn trích ở các chi tiết: "Chồm lên hai lần, chàng leo hết cầu thang. Chàng giậm chân trên sàn sân, hai lần sàn sân làm như vỗ cánh, bảy hàng cột nhà chao qua chao lại từ đông sang tây", "cầu thang trông như cái cầu vồng", "tòa nhà dài dằng dặc", "voi vây chặt sàn sân", "các xà ngang xà dọc đều thếp vàng". Hình ảnh nhà sàn dài dằng dặc, cầu thang, xà ngang xuất hiện nhiều lần và được lặp đi lặp lại cho thấy dấu ấn kiến trúc nhà ở đặc trưng của đồng bào người Ê-đê. Tuy kiến trúc nhà ở không được miêu tả một cách tỉ mỉ nhưng những hình ảnh tiêu biểu như vậy cũng đủ để làm đồng hiện nền văn hóa đặc sắc của vùng Tây Nguyên.

b. Sinh hoạt của người Ê-đê trong không gian nhà ở trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời"

Không gian nhà dài chính là nơi cư trú của người dân Ê-đê. Tại đây diễn ra rất nhiều hoạt động gắn liền với văn hóa của người Ê-đê như hội họp, ăn mừng, kể chuyện sử thi, tổ chức nghi lễ thờ cúng thần linh,... Đoạn văn trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" đã miêu tả lại khung cảnh của người dân như sau: "tôi tớ trải dưới một chiếu trắng, trải trên một chiếu đỏ làm chỗ ngồi cho nhà tù trưởng. Rồi họ đem thuốc sợi cả hòm đồng, thuốc lá cả sọt đại, trầu vỏ cả gùi to, không còn sợ thiếu thuốc thiếu trần cho Đăm Săn ăn, hút. Họ đốt một gà mái ấp, giết một gà mái đẻ, giã gạo trắng như hoa êpang, sáng như ánh mặt trời, nấu cơm mời khách. Họ đi lấy rượu, đem một ché tuk da lươn, một ché êbah Mnông, trên vẽ hoa kơ-ụ, dưới lượn hoa văn, tai ché hình mỏ vẹt xâu lỗ. Đó là những cái ché ngã giá phải ba voi. Ai đi lấy nước cứ đi lấy nước, ai đánh chiêng cứ đánh chiêng, ai cắm cần cứ cắm cần. Cần cắm rồi, người ta mời Đăm Săn vào uống.". Các vật dụng xuất hiện trong đoạn văn như: ché tuk, ché êbah, là những đồ vật được làm bằng gốm với hình hoa văn đa dạng, được xem là những đồ vật quý của người Ê-đê. Nó biểu thị cho sự sung túc, giàu có, phải "ngã giá bằng ba voi" mới có được.

Hơn nữa, đoạn văn còn làm nổi bật được hoạt động và tính cách của người dân Ê-đê. Để thiết đãi vị tù trưởng Đăm Săn - vị khách quý của buôn làng, người dân nô nức thi nhau mang ra những món ăn ngon nhất, những loại thuốc quý nhất để thiết đãi: thuốc sợi, thuốc lá, trầu vỏ, gà mái ấp, gà mái đẻ, gạo trắng. Người Ê-đê hiện lên với nét tính cách xởi lởi, hào phóng, nồng hậu. Những hoạt động thiết đãi tù trưởng Đăm Săn cũng chính là những hoạt động của dân làng khi tiếp đón những vị khách quý từ phương xa.

Bên cạnh đó, chi tiết "chiêng xếp đầy nhà ngoài", "cồng chất đầy nhà trong" và "ai đánh chiêng cứ đánh chiêng, ai cắm cần cứ cắm cần" đã phản ánh phong tục đánh cồng chiêng và uống rượu cần của người dân vùng Tây Nguyên. Cồng chiêng không chỉ là nhạc cụ mà nó còn chứa đựng giá trị văn hóa của cộng đồng người Ê-đê. Chính vì vậy, chi tiết Đăm Săn đến nhà Nữ Thần Mặt Trời thấy hình ảnh "chiêng xếp đầy nhà ngoài, cồng xếp đầy nhà trong" biểu thị cho sự quyền lực và giàu có. Người Ê-đê tin rằng: mỗi một chiếc cồng đều ẩn chứa một vị thần cho nên càng nhiều cồng, cồng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao. Ngoài ra, tục uống rượu cần cũng là một nét đẹp văn hóa trong đời sống của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Rượu cần trong đoạn trích chính là phương tiện để gắn kết tình cảm giữa người tù trưởng Đăm Săn và Đăm Par Kvây. Rượu không chỉ đóng vai trò trong các buổi thực hành nghi lễ để cầu xin đấng thần linh mà nó còn thể hiện đầy đủ tinh thần tập thể của cộng đồng, lòng mến khách của chủ nhà.

Có thể nói, những vật dụng trong căn nhà của người Ê-đê không chỉ gắn liền với hoạt động sống mà còn phản ánh được tính cách, sự giàu có, phồn vinh của cả một cộng đồng.

3. Kết luận

Đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" là đoạn trích quan trọng của sử thi "Đăm Săn". Đoạn trích không chỉ khắc họa vẻ đẹp phi thường, khát vọng mãnh liệt của người anh hùng Đăm Săn mà qua đó, chúng ta còn thấy được những nét đẹp văn hóa, đặc biệt là không gian sinh hoạt của người Ê-đê ở Tây Nguyên. Sử thi "Đăm Săn" cho thấy kiến trúc nhà dài, vật dụng gắn liền với sinh hoạt và lối sống, tính cách của đồng bào người Ê-đê. Các giá trị vật chất, tinh thần của người Ê-đê trong thời đại mới cần phải được bảo tồn và phát huy hơn nữa.

1
30 tháng 11 2025

Tài liệu tham khảo này tu đâu


Tình mẫu tử là một trong những tình cảm thiêng liêng và cao cả nhất trong cuộc đời mỗi con người. Đó là tình yêu thương, chăm sóc, bảo vệ và hy sinh vô điều kiện của người mẹ dành cho con cái. Tình mẫu tử không chỉ thể hiện qua những hành động cụ thể mà còn thấm đẫm trong từng cảm xúc, là nguồn động lực mạnh mẽ giúp con người vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống. Tình mẫu...
Đọc tiếp

Tình mẫu tử là một trong những tình cảm thiêng liêng và cao cả nhất trong cuộc đời mỗi con người. Đó là tình yêu thương, chăm sóc, bảo vệ và hy sinh vô điều kiện của người mẹ dành cho con cái. Tình mẫu tử không chỉ thể hiện qua những hành động cụ thể mà còn thấm đẫm trong từng cảm xúc, là nguồn động lực mạnh mẽ giúp con người vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống.

Tình mẫu tử bắt đầu ngay từ khi con còn trong bụng mẹ. Mẹ là người đầu tiên chăm sóc, nuôi dưỡng con, bảo vệ con khỏi những yếu tố bên ngoài, sẵn sàng hy sinh tất cả để con có thể phát triển trong môi trường tốt nhất. Từ khi con chào đời, tình mẫu tử không ngừng lớn lên và được thể hiện qua sự yêu thương, chăm sóc. Mẹ là người thức khuya dậy sớm, lo lắng cho từng bữa ăn, giấc ngủ của con. Mẹ không chỉ cho con cái ăn mà còn dạy con cách sống, cách yêu thương, giúp con hình thành những nhân cách đầu tiên.

Một trong những biểu hiện rõ nét của tình mẫu tử là sự hy sinh vô điều kiện của mẹ. Mẹ có thể hy sinh tất cả để con có được cuộc sống tốt đẹp hơn. Những bà mẹ nghèo dù khó khăn, vất vả đến đâu vẫn sẵn sàng làm việc quần quật để kiếm tiền lo cho con ăn học. Họ luôn ưu tiên cho con cái, mong muốn con được học hành, trưởng thành, có tương lai tươi sáng. Tình yêu của mẹ là tình yêu vô điều kiện, không đòi hỏi bất kỳ điều kiện nào từ con cái. Mẹ yêu con không vì bất cứ lý do nào mà chỉ đơn giản vì con là con của mẹ.

Tình mẫu tử cũng là một nguồn động viên vô cùng lớn lao đối với mỗi người. Khi con gặp khó khăn, thử thách trong cuộc sống, mẹ là người luôn ở bên, sẻ chia và động viên. Mẹ là người luôn tin tưởng vào khả năng của con, giúp con vượt qua nỗi sợ hãi, tự ti để đứng dậy và tiếp tục phấn đấu. Khi trưởng thành, dù con có thể ra đi lập nghiệp, mẹ vẫn luôn là người chờ đón, là điểm tựa vững chắc giúp con vững tin vào bản thân mình.

Tình mẫu tử không bao giờ thay đổi, bất chấp thời gian. Dù con có trưởng thành hay có gia đình riêng, mẹ vẫn luôn là người lo lắng, chăm sóc và yêu thương. Dù con có đi xa đến đâu, mẹ vẫn dõi theo và mong muốn con được hạnh phúc. Sự hy sinh, tình yêu thương của mẹ là một nguồn động lực giúp con tiến bước trong cuộc sống. Tình mẫu tử là một nguồn năng lượng vô cùng mạnh mẽ, luôn thắp sáng trái tim mỗi con người.

Tình mẫu tử không chỉ là tình yêu thương giữa mẹ và con mà còn là nguồn động viên, sự hi sinh, bảo vệ, giúp đỡ con trên con đường đời. Chúng ta cần phải trân trọng và yêu thương mẹ, vì mẹ là người đã dành cả cuộc đời để chăm lo cho con. Để đáp đền tình yêu mẹ, chúng ta cần sống tốt, sống có ích, làm cho mẹ tự hào vì những gì chúng ta đã làm được trong cuộc sống.

Tóm lại, tình mẫu tử là một tình cảm vô cùng thiêng liêng và cao quý. Mỗi người đều cần trân trọng và biết ơn tình yêu thương vô bờ bến mà mẹ đã dành cho mình. Tình mẫu tử là nền tảng giúp con cái hình thành nhân cách, vượt qua khó khăn và trưởng thành trong cuộc sống.

Mong các bãn sẽ thấy hay, và biết ơn những công ơn cha mẹ đã dành tặng cho mình.

8
I. Đọc hiểu Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:             Hy vọng là một thứ rất tuyệt diệu. Hy vọng cong, xoắn, thỉnh thoảng nó khuất đi nhưng hiếm khi nó tan vỡ… Hy vọng duy trì cuộc sống của chúng ta mà không có gì có thể thay thế được… Hy vọng cho chúng ta có thể tiếp tục, cho chúng ta can đảm để tiến lên phía trước, khi chúng ta tự nhủ là mình sắp bỏ...
Đọc tiếp

I. Đọc hiểu

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

            Hy vọng là một thứ rất tuyệt diệu. Hy vọng cong, xoắn, thỉnh thoảng nó khuất đi nhưng hiếm khi nó tan vỡ… Hy vọng duy trì cuộc sống của chúng ta mà không có gì có thể thay thế được… Hy vọng cho chúng ta có thể tiếp tục, cho chúng ta can đảm để tiến lên phía trước, khi chúng ta tự nhủ là mình sắp bỏ cuộc…

            Hy vọng đặt nụ cười lên gương mặt chúng ta khi mà trái tim không chủ động được điều đó.

            Hy vọng đặt đôi chân chúng ta lên con đường mà mắt chúng ta không nhìn thấy được…

            Hy vọng thúc giục chúng ta hành động khi tinh thần chúng ta không nhận biết được phương hướng nữa… Hy vọng là điều kì diệu, một điều cần được nuôi dưỡng và ấp ủ và đổi lại nó sẽ làm cho chúng ta luôn sống động… Và hi vọng có thể tìm thấy trong mỗi chúng ta, và nó có thể mang ánh sáng vào những nơi tăm tối nhất…

            Đừng bao giờ mất hi vọng!

(Trích Luôn mỉm cười với cuộc sống –

Nhã Nam tuyển chọn, NXB Trẻ, 2011, tr.05)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích. (0.5 điểm)

Câu 2: Theo tác giả, hy vọng có thể tìm thấy ở đâu? (0.5 điểm)

Câu 3: Nêu tác dụng của phép điệp từ “hy vọng” được sử dụng trong đoạn trích. (1.0 điểm)

Câu 4: Anh/chị có đồng tình với quan niệm: Đừng bao giờ đánh mất hi vọng. Vì sao? (1.0 điểm)

8

1, nghị luận

2, Tác dụng: nhấn mạnh thông điệp mà văn bản muốn truyền đạt đó là vai trò của hy vọng đối với đời sống tinh thần của mỗi con người.

3, 

Tác giả cho rằng "hy vọng duy trì cuộc sống của chúng ta mà không có gì có thể thay thế được" bởi vì hy vọng chính là những niềm tin vào những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, là những niềm tin vững chắc vào những điều tuyệt vời sẽ xảy ra. Chính vì vậy, nhờ có hy vọng mà con người dù trong hoàn cảnh tồi tệ và tối tăm nhất vẫn sẽ luôn vững tin và có sức mạnh để tiếp tục nỗ lực và vượt qua được những thử thách chông gai. Nói cách khác, hy vọng chính là nguồn sức mạnh tinh thần của mỗi người trong cuộc sống.

4,

Thông điệp mà em tâm đắc nhất chính là "đừng bao giờ đánh mất hy vọng". Bởi vì hy vọng chính là nguồn sức mạnh giúp mỗi cá nhân vượt qua những thử thách, chông gai và mở ra con đường cho mỗi người định hướng trong tương lai. Nhờ có hy vọng mà con người vẫn tích cực và hạnh phúc sống dù trong hoàn cảnh bế tắc vì còn hy vọng là còn sức mạnh tinh thần để đạt được điều mà mình mong muốn.

Câu 1:

Từ thuở xa xưa thanh niên Việt Nam đã ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình đối với đất nước. Trong thời chiến họ luôn là lực lượng tiên phong trong các phong trào đánh giặc cứu nước, luôn là lực lượng nòng cốt của cách mạng, xả thân vì tổ quốc mà không tiếc thời tuổi trẻ. Vậy chúng ta những thanh niên may mắn được sinh ra trong thời bình, chúng là phải có trách nhiệm như thế nào để gìn giữ và bảo vệ tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng đã được đổi bằng xương máu của biết bao thế hệ đi trước, phải làm gì để xứng đáng hưởng được những thành quả ngày hôm nay. Mỗi chúng ta phải xác định cho mình một lí tưởng sống cao đẹp, phải có ước mơ và hoạch định ra cho mình một kế hoạch cụ thể, phải rèn đức luyện tài, phải hiểu được vai trò đất nước đối với chúng ta, có như vậy chúng ta mới xác định được đúng đắn nhiệm vụ của mình đối với đất nước. Chúng ta ra sức học tập cũng là đang thực hiện nhiệm của của mình với đất nước, nó không phải là một cái gì đó sâu xa như các bạn nghĩ nó chỉ đơn giản là làm tốt bổn phận của mình để phấn đấu trở thành một công dân tốt góp phần xây dựng một đất nước giàu đẹp vững mạnh. Như vậy trách nhiệm của thanh niên ở thời chiến hay thời bình đều do ý thức mỗi con người tuy nhiên nó lại được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau.

Câu 2:

Bàn về kết thúc đoạn trích "Vợ chồng A Phủ"

– Ý kiến thứ nhất: hành động cắt nút dây mây cởi trói cứu A Phủ rồi chạy theo A Phủ của nhân vật Mị thật bất ngờ, đột ngột, không thể dự đoán trước: Đánh giá kết thúc của truyện Vợ chồng A Phủ là bất ngờ với mạch truyện, tâm trạng nhân vật Mị và cả người đọc.

– Ý kiến thứ hai: Đó là là một kết thúc tự nhiên, tất yếu:  ý kiến này nhìn nhận, đánh giá kết thúc của tác phẩm trong mối quan hệ với lô gíc diễn biến tâm trạng nhân vật Mị và mạch vận động tất yếu của đời sống con người: khi bị dồn đẩy đến bước đường cùng, con người sẽ vùng lên tìm ánh sáng cho mình.

Bình luận các ý kiến:

 Cả hai ý kiến đều đúng, không đối lập mà bổ sung cho nhau, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tài năng kể chuyện, miêu tả nội tâm nhân vật của nhà văn Tô Hoài. Đồng thời, ta càng trân trọng hơn .tấm lòng yêu thương, đồng cảm của tác giả đối với người dân nơi đây.

12 tháng 12 2021

-

Câu 1: (2.0 điểm)           Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc – hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về trách nhiệm của thế hệ trẻ với biển đảo Tổ quốc. Câu 2: (5.0 điểm)           Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp...
Đọc tiếp

Câu 1: (2.0 điểm)

          Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc – hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về trách nhiệm của thế hệ trẻ với biển đảo Tổ quốc.

Câu 2: (5.0 điểm)

          Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình. Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì… Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt… Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?

          Bà lão khẽ thở dài ngửng lên, đăm đăm nhìn người đàn bà. Thị cúi mặt xuống, tay vân vê tà áo đã rách bợt. Bà lão nhìn thị và bà nghĩ: Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được… Thôi thì bổn phận bà là mẹ, bà đã chẳng lo lắng được cho con… May ra mà qua khỏi được cái tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó, chẳng may ra ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế nào mà lo cho hết được?

          Bà lão khẽ dặng hắng một tiếng, nhẹ nhàng nói với “nàng dâu mới”:

          - Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng.

          Tràng thở đánh phào một cái, ngực nhẹ hẳn đi. Hắn ho khẽ một tiếng, bước từng bước dài ra sân. Bà cụ Tứ vẫn từ tốn tiếp lời:

          - Nhà ta thì nghèo con ạ. Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi ra may mà ông giời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Có ra thì rồi con cái chúng mày về sau.

          Bà lão đăm đăm nhìn ra ngoài. Bóng tối trùm lấy hai con mắt. Ngoài xa dòng sông sáng trắng uốn khúc trong cánh đồng tối. Mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt. Bà lão thở nhẹ ra một hơi dài. Bà lão nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đứa con gái út. Bà lão nghĩ đến cuộc đời cực khổ dài dằng dặc của mình. Vợ chồng chúng nó lấy nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước kia không?

(Trích Vợ nhặt, Kim Lân, Ngữ văn 12, Tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam 2002, tr.27-28)

         Cảm nhận về nỗi lòng người mẹ trong đoạn trích trên. Từ đó nhận xét về tình cảm của tác giả dành cho nhân vật bà cụ Tứ.

8
17 tháng 5 2021

câu1

Biển đảo – Nơi mà hàng triệu người đang luôn bảo vệ. Biển đảo là một phần máu thịt của Tổ quốc, vì vậy có muôn vàn trái tim ngày đêm hướng về biển đảo, dành tình yêu cho những người lính biển cùng các chiến sĩ, các lực lượng ngày đêm bảo vệ chủ quyền biển đảo nước nhà. Những tưởng biển đảo bình yên với những con sóng nhẹ xô bờ, thế nhưng những ngày tháng này cả nước vẫn đang chống chịu với cơn sóng ngầm, bão giông, sóng gió chưa bao giờ lặng im trên mảnh đất xanh của Tổ quốc … Là một học sinh, bản thân em luôn mang trong tim tình yêu biển đảo, tình yêu và lòng khâm phục tới những người lính biển, những ngư dân chân chất nơi đảo xa. Có chút chạnh lòng, xót xa, lo lắng khi biển xanh dậy sóng,… em mong rằng biển đảo sẽ bình yên, rạng rỡ nụ cuoiw

Để bảo vệ chủ quyền biển đảo, trước hết thanh niên và thanh niên học sinh nói riêng phải xác định phải giữ biển đảo bằng tri thức về chủ quyền biển đảo. Chúng ta cần nghiên cứu và nhận thức sâu sắc về ý nghĩa thiêng liêng chủ quyền biển đảo và giá trị to lớn chủ quyền mà ông cha ta đã đổ xương máu để xây dựng; về lịch sử Việt Nam đặc biệt là lịch sử địa lý liên quan đến chủ quyền biển đảo, về lịch sử hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa… tìm hiểu rõ chính sách ngoại giao nhất quán của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề biển Đông. Thanh niên cần hưởng ứng và tích cực tham gia các diễn đàn hợp pháp trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên internet, khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên các diễn đàn, đồng thời kịch liệt lên án và đấu tranh tham gia ngăn chặn các hành vi xâm phạm phạm chủ quyền biển đảo Việt Nam. Thanh niên là hậu phương chỗ dựa tình cảm vững chắc đối với các lính biển đảo, bằng những việc làm thiết thực như gửi thư đến các lính hải đảo để chia sẻ động viên và tiếp sức cho các anh thêm nghị lực để trông giữ biển đảo. Điều quan trọng, thanh niên cần không ngừng tu dưỡng phẩm chất người Việt Nam mới, tích cực tham gia xây dựng đất nước giàu mạnh, có định hướng lý tưởng yêu nước và đoàn kết để tạo nên sức mạnh bảo vệ chủ quyền biển đảo. Bên cạnh đó, mỗi người chúng ta cần sẵn sàng chuẩn bị tinh thần tham gia trực tiếp vào công cuộc giữ gìn biển đảo quê hương bằng tất cả những gì mình có thể.

Biển đảo Việt Nam là một phần lãnh thổ thiêng liêng không thể tách rời của Tổ quốc được cha ông truyền lại. Trách nhiệm của tuổi trẻ nói riêng là ra sức gìn giữ toàn vẹn phần lãnh thổ này như lời Bác Hồ năm xưa đã dặn “các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước

Câu 2 

Truyện ngắn “ Vợ nhặt” của Kim Lân được sáng tác sau cách mạng tháng Tám nhưng lấy bối cảnh là nạn đói năm 1945. Đặt trong bối cảnh ra đời của tác phẩm, nhà văn đã làm toát lên tấm long yêu thương, đùm bọc lẫn nhau và khát vọng hạnh phúc của những người người khổ. Vẻ đẹp nhân bản ấy được tác giả xây dựng thành công ở hình tượng nhân vật “bà cụ Tứ” – mẹ anh Tràng- người “nhặt vợ”.Bà cụ Tứ trước hết là người mẹ nghèo khổ đã già yếu với cái lưng “long khòng”, khẽ mắt “lèm nhèm “,”khuôn mặt bủng beo, u ám “. Những hành động cử chỉ của cụ “nhấp nháy hai con mắt”,”chậm chạp hỏi”, “lập cập bước đi”, “lật đật:, “lễ mễ” cũng thể hiện cụ là một người đã già, không còn khỏe mạnh. Hơn nữa người phụ nữ ấy còn bị đặt trong hoàn cảnh nghèo nàn, đói khổ mà cụ nói “ cuộc đời cực khổ dài đằng đẵng”.

Trong tác phẩm, bà cụ Tứ chỉ xuất hiện ở giữa truyện khi anh Tràng đưa vợ về nhà, nhưng nhân vật này vẫn thu hút được sự quan tâm của người đọc bởi những vẻ đẹp tâm hồn, tính cách.

Trong người mẹ già nua, đói khổ ấy có một tình yêu thương dành cho con cái sâu sắc. Cụ thương người con trai của mình “cảm thấy ai oán xót thương cho số phận đứa con mình”. Trong kẽ mắt kèm nhàm của cụ rỉ ra hai dòng nước mắt. Cụ đã sớm lo lắng cho cuộc sống tương lai của đứa con mình” không biết chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua cơn đói này không”. Bà còn dành tình yêu thương cho người con dâu mới của mình. Bà nhìn thị nghĩ :”Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này người ta mới lấy con mình, con mình mới có vợ được”. Đó là tấm lòng người mẹ không khinh rẻ mà tỏ ra thông cảm thấu hiểu hoàn cảnh con dâu, thậm chí bà còn cho đó là may mắn của con trai mình, gia đình mình khi có con dâu mới. Điều đo chứng tỏ bà cụ Tứ rất hiểu mình, hiểu người. Tình yêu thương còn thể hiên qua những lời nói của bà cụ dành cho con “Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi may ra ông giời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời?…". Bà nói với con dâu bằng lời của một người từng trải – vừa lo lắng, vừa thương xót, đồng thời động viên con bằng triết lý dân gian”ai giàu ba họ ai khó ba đời, hướng con tới tương lai tươi sáng. "… Năm nay thì đói to đấy. Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá…". Câu nói thể hiện tấm long thương xót cho số phận của những đứa con. Và để ngày vui của các con thêm trọn vẹn, sáng hôm sau cụ” xăm xắn quét tước nhà cửa”. Hành động giản dị thôi nhưng thể hiện tấm lòng người mẹ tuy nghèo nhưng hết lòng thương yêu con. Và thế là đám cưới không nghi lễ, không đón đưa của đôi vợ chồng trẻ được chan đầy bằng tình yêu thương và tấm long lo lắng của người mẹ nghèo.

Nhân vật bà cụ Tứ bị đặt trong hoàn cảnh éo le, qua đó ta thấy được tinh thần lạc quan của người mẹ già yếu, tuy sắp đến độ gần đất xa trời nhưng luôn hướng về tương lai thể hiện qua những hành động và lời nói. Cụ tin vào triết lý dân gian: ai giàu ba họ ai khó ba đời- lạc quan về một ngày mai tươi sáng.Cụ đồng tình khi thấy Tràng thắp đèn mặc dù cụ biết lúc đó dầu rất đắt, dầu là thứ xa xỉ. Nếu để ý ta sẽ thấy chính bà lão “gần đất xa trời”này lại là người nói về tương lai nhiều nhất” cụ nói toàn chuyện vui, chuyện sung sướng về sau. Đó không đơn thuần chỉ là niềm lạc quan của người lao động mà còn là ước mơ về cuộc sống có phần tươi sáng hơn cho các con. Bà cụ trông cũng” tươi tỉnh khác hẳn ngày thường”. Chính tâm trạng vui tươi phấn khởi của người mẹ già đã làm sáng lên cái không gian u ám và góp phần vào ngày vui trọng đại của cuộc đời người con trai. Sáng hôm sau cụ xăm xắn quét dọn nhà cửa, đó là những công việc sinh hoạt thường ngày nhưng đặt trong hoàn cảnh này, hành động quét dọn làm nhà cửa trông sạch sẽ, tinh tươm hơn giống như cụ đang muốn tự tay quét đi những tăm tối của ngày cũ và đón chờ những điều tươi sáng hơn. Và hình ảnh người mẹ già, cười đon đả: “Cám đây mày ạ, hì. Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem. Xóm ta khối nhà chả có cám mà ăn đấy", cứ quẩn quanh, ám ảnh tâm chí người đọc. Cái lạc quan không những không bị mất đi mà lại càng trở nên mãnh liệt hơn trong mưa nắng cuộc đời. Trong buổi sáng đầu tiên đón tiếp nang dâu mới, nồi cháo cám “ chát xít, nghẹn bứ trong miệng” mà ngon ngọt trong long, ngọt bởi tâm lòng người mẹ nghèo đang cố xua đi cái không khí ảm đạm bằng thái độ lạc quan và sự tươi tỉnh động viên con cố gắng vượt qua hoàn cảnh. Nhưng sự thật là vị đắng ngắt của cháo cám và tiếng thúc thuế từ xa vọng lại đã không làm niềm vui nhỏ của những con người nghèo khổ cất cánh lên được.

Bằng tài năng và tấm lòng đồng cảm sâu sắc, Kim Lân đã dựng lên “hình ảnh chân thật và cảm động về người mẹ nông dân nghèo khổ trong trận đói khủng khiếp năm 1945". Nhân vật bà cụ Tứ được khắc họa chủ yếu qua sự vận động trong nội tâm nhân vật. Ngoài ra, qua những lời nói, cử chủ, hành động của nhân vật ta cũng có thể cảm nhận được tấm lòng yêu thương con sâu sắc. Ở bà cụ Tứ thấp thoáng hình ảnh của nhân vật lão Hạc, của mẹ Dần, vợ chồng Dần ( Nam Cao) những người nông dân nghèo nhưng chỉ sống vì con, hết lòng yêu thương con. Dẫu chỉ là một nhân vật phụ nhưng bằng tài năng, và tình cảm thiết tha trừu mến đối với tấm lòng người mẹ nghèo, Kim Lân đã khắc họa được chân dung nhân vật vừa sinh động, chân thực, vừa cảm động, day dứt với người đọc. Chính những hành động, lời nói của cụ, nụ cười trên khuôn mặt bủng beo u ám đã làm sáng bừng thiên truyện sau cái tối tăm, cái bế tắc của đói nghèo. Ý nghĩa nhân bản mà nhà văn muốn gửi gắm qua nhân vật này là con người dù có đặt vào hoàn cảnh khốn cùng, cận kề cái chết nhưng vẫn không mất đi những giá trị tinh thần và phẩm chất tốt đẹp: lòng yêu thương con người và thái độ lạc quan hi vọng vào tương lai tươi sáng dù cho chỉ có một tia hi vọng mỏng manh. Kim Lân đã khám phá và thể hiện thành công điều đó ở nhân vật bà cụ Tứ. qua đó thể hiện rõ tấm lòng nhân hậu , bao dung, tình yêu thương con của bà cụ Tứ

17 tháng 5 2021

Vợ nhặt của Kim Lân là một trong những tác phẩm xuất sắc và tiêu biểu nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại khi viết về chủ đề người nông dân dưới xã hội cũ, đặc biệt là trong giai đoạn đau thương nhất của đất nước. Tuy nhiên trong tác phẩm nội dung chính mà tác giả muốn đề cập đến không phải là phản ánh, tố cáo hiện thực mà là tấm lòng trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp trong tâm hồn con người, cùng với sức mạnh của tình người, tình thân trong gia định đã trở thành cơ sở cho những khát vọng sống, niềm hy vọng và tin tưởng vào tương lai mãnh liệt ngay trong những hoàn cảnh khốn cùng nhất. Bên cạnh hai nhân vật là Tràng và thị với những nét phẩm chất riêng, thì nhân vật cụ Tứ lại hiện lên với vẻ đẹp của tình mẫu tử, thương con sâu sắc.

Giữa nạn đói hoành hành năm 1945, hàng triệu đồng bào ta phải chịu chết đói, nhiều người phải lìa xa quê cha đất tổ đi tha hương cầu thực nơi xứ người, mẹ con bà cụ Tứ là một trong số đó. Bà cụ là một phụ nữ nông dân nghèo khổ, có lẽ rằng cả cuộc đời bà đã phải chịu nhiều đắng cay vất vả, bởi lẽ cả cuộc đời bà nằm trọn trong những ngày tháng đất nước chất chứa nhiều đau thương, lầm than dưới chế độ thực dân nửa phong kiến. Cả cuộc đời bà dành để kiếm từng đồng, từng hào chắt bóp nuôi con khôn lớn, cho đến khi tuổi đã gần đất xa trời, bà cụ tội nghiệp vẫn không được hưởng những ngày tháng sung sướng. Thay vào đó cụ vì già cả, ốm yếu phải sống dựa vào đứa con trai là anh Tràng với một công việc bấp bênh, bữa đói bữa no, và bên ngoài kia thần chết đang chực chờ những con người khốn khổ, cùng đường vì cái đói, trong đó có cả hai mẹ con bà cụ Tứ. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt như vậy tình mẫu tử của bà cụ lại càng hiện lên rõ rệt, cả đời làm lụng nuôi con khôn lớn, đến khi Tràng đã lớn khôn thì bà cụ lại sầu khổ vì không kiếm nổi cho con một tấm vợ, một người đàn bà đỡ đần hôm sớm. Tất cả chỉ tại bà nghèo quá, người ta cưới vợ khi có của ăn của để, khi ăn nên làm ra, còn bà lại chẳng có gì trong tay thành thử phải tội con bà cô đơn lẻ bóng. Mà có khi đến lúc mà mất đi thì đứa con trai tội nghiệp lại phải chịu cảnh côi cút một mình trên đời. Điều ấy làm bà cụ Tứ tủi phận nhiều lắm.

Cho đến một hôm thấy Tràng dẫn một người phụ nữ lạ mặt về nhà, trong lòng bà cụ nổi lên biết bao nhiêu là cớ sự thắc mắc, thế nhưng bà không hề tỏ ra bối rối mà quay sang nhìn con tỏ ý không hiểu, để chờ Tràng giải thích, để cho Tràng có cơ hội được phân trần câu chuyện, chứ không lên tiếng trách móc. Đó là tấm lòng của một người mẹ trải đời, thương con bằng một tình thương dịu dàng, săn sóc. Rồi đến khi đã rõ sự mười mươi, bà cụ "hiểu ra bao nhiêu là cớ sự" rồi thì bà im lặng, những dòng suy nghĩ chảy trôi, quẩn quanh liên tục bên ngoài cái sự việc con bà lấy vợ, một người vợ theo không. Nhưng không chần chừ quá lâu, bà cụ Tứ đã sống trên cuộc đời này ngót nghét vài chục năm trời đằng đẵng, có cái khổ, cái sự lạ nào mà bà không hiểu thấu. Đứng trên vai trò là một người mẹ có tấm lòng thương con sâu sắc, bà hiểu được chuyện anh Tràng lấy vợ âu cũng là chuyện hợp tình hợp lý, bởi Tràng đã đến cái tuổi ấy lâu lắm rồi. Thế nhưng vừa nghĩ thông chuyện này thì bà cụ lại chợt nghĩ đến chuyện khác, bao nhiêu mối lo toan bỗng đổ dồn về lòng người mẹ già tội nghiệp, bà thương con "ai oán xót thương cho số kiếp con trai mình", cũng lại tủi cho phận người làm mẹ, nhưng không thể lo nổi cho con một cái đám cưới, dựng vợ gả chồng tử tế cho con, để nó phải tự thân đi kiếm về một người vợ. Càng nghĩ bà lại càng lấy làm buồn lòng, xúc động "trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai hàng nước mắt". Ấy rồi ăn ở với nhau như thế "biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau qua cơn đói khát này không", là những suy nghĩ quẩn quanh trong lòng bà cụ Tứ. Một người mẹ thương con không nề hà, trách mắng con mình tự tiện cưới gả, bởi bà hiểu phận mình và phận con, bà chỉ lo lắng mãi chuyện cuộc sống tương lai của hai vợ chồng Tràng, sợ con chịu khổ cực, rồi đương không lại liên lụy cả người khác nữa. Cái đám cưới chớp nhoáng khác thường này đem đến cho cụ niềm vui có dâu con, nhưng cũng lại mang đến cho bà biết bao nhiêu trăn trở, rối rắm. u cũng là lòng người mẹ yêu thương và suy nghĩ cho con trăm bề. Cuối cùng sau khi đã đi qua những xúc động, buồn tủi, bà cụ Tứ đã nhanh chóng vực lại tinh thần, thông suốt mọi vấn đề rằng "Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này, người ta mấy lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được. Thôi bổn phận bà là mẹ, bà đã chẳng lo lắng được cho con...Chẳng may ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế nào mà lo cho hết được?". Bà nhanh chóng thấu hiểu và thông cảm cho hoàn cảnh đáng thương của thị, đồng thời lòng bà đã dấy lên những tình cảm thương yêu người con dâu mới về. Bà nhẹ nhàng giục thị ngồi xuống, rồi nhỏ nhẹ khuyên giải, nhắc nhở động viên, vun vén vào cho hai vợ chồng Tràng, dặn dò họ cách ăn ở với nhau bằng những lời phấn khởi "Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời?". Mặc dầu rằng trong lòng bà vẫn còn trăm mối tơ vò cảm xúc, nhưng không vì thế mà bà làm các con bối rối, mất vui, bà quyết giữ cho riêng bà những lo lắng, những buồn tủi để cho đôi tân nhân một sự động viên trước khi bước vào cuộc đời mới.

Sau đêm tân hôn của vợ chồng Tràng, căn nhà tàn tạ dưới đôi bàn tay của mẹ chồng nàng dâu bỗng trở nên sáng sủa lạ thường, thấy được những đức tính tốt đẹp, sự cẩn thận chu đáo của thị và cụ mừng lắm "cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên". Trong bữa cơm sáng, dẫu rằng mâm cơm ngày đói kém trông thật thảm hại với mớ rau chuối thái mỏng và cháo loãng thế nhưng không khí trong nhà vẫn rất vui vẻ đầm ấm. Bà cụ thương con, thương dâu, thành thử bà cố xua đi cái nghèo đói đang hiện hữu trước mắt cặp tân nhân bằng cách liên tục kể những chuyện vui, kế hoạch làm ăn, nuôi gà, mở ra trước mắt những tương lai tốt đẹp đầy hy vọng. Đặc biệt người mẹ nghèo khó còn chiêu đãi con trai và con dâu bằng một nồi "chè khoán", mà thực tế đó là là cháo cám để mừng tân hôn. Dù vị của món ăn này vô cùng cùng khó ăn thế nhưng đó là cả tấm lòng của một người mẹ thương con, bà cụ tội nghiệp vì nghèo xác xơ không lấy gì để làm cỗ làm bàn, thế nên chỉ còn cách cố kiếm cho được ít cám về nấu làm món ăn đổi bữa. Ở một nét suy diễn sâu xa nào đó thì nồi cháo cám còn mang ý nghĩa là lời nhắc nhở của cụ Tứ dành cho các con về những ngày gian khó đang chờ đợi trước mắt, hy vọng rằng vợ chồng Tràng vẫn được vững lòng như ngày hôm nay, ăn nồi cháo cám đắng ghét, nghẹn ứ nơi cổ họng mà vẫn cảm thấy vui vẻ hạnh phúc.

Nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt là một hình tượng tiêu biểu cho những bà mẹ Việt Nam xưa, cả cuộc đời hy sinh sinh vì con cái, yêu thương con sâu sắc bằng những tình cảm thấu hiểu, bao dung và vị tha. Dù rằng bà sống trong cảnh nghèo khó tột cùng, thế nhưng với sự từng trải của mình bà vẫn giành lấy được những sự lạc quan, vui vẻ trong cuộc sống, trở thành kim chỉ nam hướng vợ chồng Tràng đến một tương lai tươi sáng, tốt đẹp hơn.

I. ĐỌC HIỂU Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:             Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời của mình....
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

            Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời của mình. Ba mẹ yêu thương con không phải vì con mà vì con là con của ba mẹ, bởi vậy kể cả khi con trở thành một người xấu, một kẻ dối trá hay thậm chí trộm cắp, thì tình yêu của ba mẹ dành cho con vẫn không thay đổi. Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”

            Đó chính là lí do đầu tiên để tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương. Thậm chí, tôi chỉ cần một lí do đó mà thôi.

            Kinh Talmud viết: “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” Bởi thế, hiển nhiên là tôi cũng sẽ nói với con tôi những lời ba tôi đã nói.

            […] Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.

(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn – Phạm Lữ Ân)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.

Câu 2: Vì sao nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương.

Câu 3: Theo em, việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa gì?

Câu 4: Em rút ra được thông điệp gì từ những câu văn sau: “Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.”?

12
14 tháng 5 2021

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.

Câu 2: Lí do để nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương đó là lời nói của ba: Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”

Câu 3: Việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa:

- Khi chúng ta dạy cho con cái mình những điều tốt đẹp, chúng sẽ mang những điều tốt đẹp đó để cư xử với tất cả mọi người xung quanh và dạy dỗ thế hệ sau.

- Những điều tốt đẹp ấy sẽ lan tỏa, có sức ảnh hưởng tích cực đến muôn đời sau.

- Làm tăng ý nghĩa, tính triết lí cho văn bản.

- Làm tăng sức thuyết phục, tin cậy cho nội dung mà tác giả muốn gửi gắm.

Câu 4:

- Trong cuộc đời mỗi người luôn có nhiều người thầy nhưng cha mẹ luôn là người thầy đầu tiên của con.

- Mỗi chúng ta sẽ cảm thấy ấm áp và hạnh phúc vô cùng khi được học những điều bình dị từ chính người cha yêu quý của mình. Cha luôn là người dành cả tình yêu thương và tấm lòng bao la của tình phụ tử thiêng liêng để chỉ bảo ta trên đường đời.

- Bài học từ người thầy đầu tiên ấy là điều vô cùng quý giá, sẽ để lại dấu ấn sâu sắc và gợi nhiều kỉ niệm để nhớ về trên chặng đường sau này.

14 tháng 5 2021

ko biet