K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi:

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.

Câu 2. Chỉ ra những từ ngữ, hình ảnh gợi tả âm thanh trong văn bản.

Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong dòng thơ: Tôi cựa mình như búp non mở lá. 

Câu 4. Nhận xét tâm trạng của nhân vật trữ tình khi nghe âm thanh Tiếng bánh xe trâu lặng lẽ và và tiếng gọi, tiếng cười khúc khích lúc ban mai. 

Câu 5. Trình bày một thông điệp ý nghĩa mà anh/chị rút ra từ văn bản và lí giải (khoảng 5 - 7 dòng). 

Bài đọc:

                                  BAN MAI

                                                (Nguyễn Quang Thiều) 

Bóng tối đêm dần sáng như một con mèo nhung khổng lồ 
bước đi uyển chuyển
Cái đuôi mềm của nó chạm vào tôi làm tôi tỉnh giấc
Tôi cựa mình như búp non mở lá
Ý nghĩ mỉm cười trong vắt trước ban mai

Những xôn xao lùa qua hơi ẩm
Vọng về từ cánh đồng rộng lớn mờ sương
Tiếng bánh xe trâu lặng lẽ qua đêm
Chất đầy hương cỏ tươi lăn về nơi hừng sáng

Ơi… ơi…ơi, những con đường thân thuộc
Như những ngón tay người yêu lùa mãi vào chân tóc
Ai gọi đấy, ai đang cười khúc khích
Tôi lách mình qua khe cửa, ơi… ơi…

Người nông dân bế tôi lên và đặt vào thùng xe
Dưới vành nón của người cất lên trầm trầm giọng hát
Như tiếng lúa khô chảy vào trong cót
Như đất ấm trào lên trong lóe sáng lưỡi cày

Chiếc bánh xe trâu một nửa đã qua đêm
Một nửa thùng cỏ tươi còn trong bóng tối
Và sau tiếng huầy ơ như tiếng người chợt thức 
Những ngọn ban mai mơn mởn rướn mình

                      (Sự mất ngủ của lửa, Nguyễn Quang Thiều, NXB Hội nhà văn, 2015, tr. 13 - 14)​

18

Câu 1: Thể thơ : tự do

C2: Những từ ngữ, hình ảnh gợi tả âm thanh là :  

+ Tiếng bánh xe, tiếng lúa khô, tiếng huầy ơ, tiếng người,...

C3:

- Biện pháp tu từ: So sánh " như búp non"

Tác dụng:

+ Nghệ thuật: Tăng sức gợi hình gợi cảm, làm tăng tính nhạc điều làm giàu giá trị diễn đạt.

+ Nội dung: Nhấn mạnh:  Buổi ban mai khi sớm thức dậy, một ngày mới bắt đầu những công việc thuận lợi mới... Qua đó tác giả thể hiện sâu sắc về một ngày mới tràn đầy sức sống. 

C4: Tâm trạng của nhân vật khi nghe âm thanh là: cười khúc khích vui vẻ trước ngày mới cùng tiếng đồng quê dân dã trước buổi ban mai ....     

4 tháng 2

Câu 1. Thể thơ

Bài thơ viết theo thể thơ tự do, không bị ràng buộc số chữ, số dòng, cách gieo vần.

Câu 2. Từ ngữ, hình ảnh gợi tả âm thanh

  • “Tiếng bánh xe trâu lặng lẽ qua đêm”
  • “Ai gọi đấy, ai đang cười khúc khích”
  • “giọng hát”
  • “tiếng lúa khô chảy vào trong cót”
  • “tiếng huây ở như tiếng người chợt thức”

→ Các âm thanh quen thuộc của làng quê lúc ban mai.

Câu 3. Biện pháp tu từ

  • Biện pháp: So sánh – “Tôi của mình như búp non mở lá”.
  • Tác dụng: gợi vẻ đẹp trong trẻo, tươi mới của tâm hồn nhân vật trữ tình; thể hiện cảm giác được thức dậy, lớn lên cùng buổi sáng, tràn đầy sức sống và hi vọng.

Câu 4. Nhận xét tâm trạng

Khi nghe “tiếng bánh xe trâu lặng lẽ” và “tiếng gọi, tiếng cười khúc khích”, nhân vật trữ tình mang tâm trạng bình yên, xúc động và hân hoan. Những âm thanh đời thường đánh thức kỉ niệm quê nhà, gợi cảm giác ấm áp, gần gũi và tình yêu tha thiết với cuộc sống.

Câu 5. Thông điệp

Văn bản gửi gắm thông điệp về vẻ đẹp của đời sống quê hương. Những âm thanh, hình ảnh rất đỗi bình dị vẫn có khả năng nuôi dưỡng tâm hồn con người. Biết lắng nghe nhịp sống quanh mình, ta sẽ cảm nhận được niềm vui và ý nghĩa tồn tại. Mỗi người cần trân trọng những điều nhỏ bé, gìn giữ tình yêu với quê hương, với lao động và thiên nhiên. Đó chính là cội nguồn làm nên sự bình yên của cuộc đời.


9 tháng 2

hehehe

Câu 1: 

Thể thơ của văn bản là thể thơ tự do.           

​Câu 2: Những từ ngữ, hình ảnh gợi tả âm thanh trong văn bản là : ​Tiếng bánh xe trâu lặng lẽ ,tiếng gọi, tiếng cười khúc khích.

​Câu 3: Biện pháp tu từ trong dòng thơ "Tôi cựa mình như búp non mở lá" ​Biện pháp tu từ: So sánh (dấu hiệu: từ "như"). ​Tác dụng: ​Gợi tả vẻ đẹp tinh khôi, đầy sức sống của nhân vật trữ tình trong khoảnh khắc bình minh. Phép so sánh làm cho trạng thái thức tỉnh của con người trở nên sinh động, mang hơi thở của thiên nhiên đang vươn mình nảy nở. Làm cho câu thơ giàu hình ảnh, tăng sức gợi hình, gợi cảm và thể hiện sự giao hòa tuyệt đối giữa con người và cảnh vật ban mai. ​

Câu 4: Tâm trạng của nhân vật trữ tình được thể hiện là: ​Sự nhạy cảm và tinh tế: Nhân vật lắng nghe được cả những âm thanh "lặng lẽ", cho thấy một tâm hồn đang mở rộng để đón nhận cuộc sống. ​Niềm vui sướng, lạc quan: Những âm thanh đó (đặc biệt là tiếng cười) gợi lên một không gian bình yên, ấm áp và tràn đầy hy vọng vào một ngày mới. Đó là tâm thế yêu đời, trân trọng từng chuyển động nhỏ nhất của cuộc sống thường nhật.

​Câu 5:    Thông điệp mà văn bản gửi gắm chính là sự trân trọng vẻ đẹp của những khoảnh khắc bình dị trong cuộc sống. Mỗi buổi ban mai không chỉ là sự khởi đầu của một ngày mới về mặt thời gian, mà còn là sự tái sinh của tâm hồn con người. Khi ta mở lòng mình để lắng nghe và quan sát, ta sẽ thấy thiên nhiên và con người xung quanh luôn tràn đầy sức sống . Đừng để cuộc sống hối hả làm chai sạn cảm xúc , hãy luôn giữ cho mình một tâm hồn nhạy cảm như "búp non" để yêu thương và tận hưởng từng phút giây quý giá mà cuộc đời đã ban tặng.

Câu 1.

-Thể thơ của văn bản: Thơ tự do.

Câu 2. Những từ ngữ, hình ảnh gợi tả âm thanh trong văn bản:

“Tiếng bánh xe trâu lặng lẽ qua đêm”

“Ai gọi đấy, ai đang cười khúc khích”

“Trăm trăm giọng hát”

“Sau tiếng huầy ơ như tiếng người chợt thức”

Câu 3.

Biện pháp tu từ: So sánh

“Tôi cựa mình như búp non mở lá”

Tác dụng:

-Làm nổi bật sự thức dậy nhẹ nhàng, tươi mới của nhân vật trữ tình.

-Gợi cảm giác sinh động, tràn đầy sức sống của buổi ban mai.

Câu 4.

Tâm trạng của nhân vật trữ tình khi nghe âm thanh “tiếng bánh xe trâu…lúc ban mai”

-Cảm thấy xao xuyến, vui tươi và háo hức.

-Thể hiện sự gắn bó, yêu thương cuộc sống làng quê khi ngày mới bắt đầu.

Câu 5. Qua văn bản thông điệp ý nghĩ ta rút ra từ văn bản là hãy trân trọng vẻ đẹp bình dị của cuộc sống và thiên nhiên quê hương qua những âm thanh quen thuộc như tiếng bánh xe trâu, tiếng cười, tiếng hát, tác giả gợi lên bức tranh ban mai yên bình nơi làng quê. Điều đó giúp con người cảm nhận được niềm vui và sức sống của ngày mới và những điều đơn giản xung quanh cũng có thể mang lại hạnh phúc nếu ta biết lắng nghe và cảm nhận.




14 tháng 3

Câu 1: thể thơ tự do

Câu 2:​ "xôn xao","tiếng bánh xe trâu lặng lẽ qua đêm","ai đang cười khúc khích","giọng hát trầm trầm​","tiếng huầy ơ"

Câu 3: Biện pháp tu từ so sánh->"như búp non mở lá" -Tác dụng: Làm nổi bật cảm giác thức dậy nhẹ nhàng, tươi mới của nhân vật trữ tình. Gợi sức sống non trẻ và tràn đầy sinh khí của buổi sáng. Làm hình ảnh sinh động hấp dẫn​,gợi hình,gợi cảm

Câu 4: Tâm trạng vui vẻ,rộn ràng và háo hức trước khung cảnh buổi sớm ,đồng thời cảm nhận được sự gần gợi,thân thuộc của cuộc sống làng quê

Câu 5:Văn bản lột tả bức tranh buổi sớm nơi láng quê với nhiều âm thanh và hình ảnh gần gũi,thân thuộc. Từ đó, người đọc có thể rút ra thông điệp rằng mỗi người hãy biết trán trọng vẻ đẹp bình dị của cuộc sống và thiên nhiên liệu quanh mình. Qua những âm thanh như "tiếng bánh xe trâu","tiếng gọi,tiếng cười khúc khích" và khung cảnh bạn mai trong trẻo, tác giả cho thấy cuộc sống tuy giản dị nhưng lại chứa đựng nhiều niềm vui và sức sống. Vì vậy, chúng ta cần biết lắng nghe, cảm nhận và trân trong những điều nhỏ bé nhưng ý nghĩa trong cuộc sống.

14 tháng 3

Câu 1: thể thơ tự do. Các câu thơ không có số từ bằng nhau. Câu 2: Từ ngữ, hình ảnh gợi tả âm thanh trong văn bản là: +Những xôn xao lùa qua hơi ấm. +​Tiếng bánh xe trâu lặng lẽ. +​Tiếng gọi. +​Tiếng cười khúc khích. +​Trầm trầm giọng hát. +​Tiếng lúa khô chảy vào trong cót. +​Tiếng huầy ơ. Câu 3: biện pháp tu từ được sử dụng là: So sánh Tác dụng: Gợi tả vẻ đẹp tinh khôi, tràn đầy sức sống của nhân vật trữ tình khi thức giấc vào buổi ban mai. Làm cho câu thơ thêm sinh động, giàu hình ảnh và tăng sức biểu cảm. Câu 4: Tâm trạng của nhân vật trữ tình là sự nhạy cảm, náo nức và tràn đầy hạnh phúc. Câu 5:

Đoạn trích trong tập thơ "Sự mất ngủ của lửa" của Nguyễn Quang Thiều đã vẽ nên một bức tranh ban mai vùng quê đầy sức sống và tinh khôi. Qua những hình ảnh so sánh độc đáo như "bóng tối... như một con mèo nhung" hay "tôi cựa mình như búp non mở lá", tác giả thể hiện sự giao hòa tuyệt đối giữa tâm hồn con người và thiên nhiên. Những âm thanh bình dị như tiếng bánh xe trâu, tiếng cười khúc khích hay giọng hát trầm của người nông dân không chỉ gợi lên nhịp sống lao động mà còn tràn đầy niềm hạnh phúc tự thân. Đoạn thơ là lời nhắc nhở nhẹ nhàng về việc biết trân trọng những vẻ đẹp đơn sơ, giản dị quanh mình. Chính những điều nhỏ bé ấy đã làm nên sự giàu có và bình yên cho tâm hồn mỗi chúng ta giữa cuộc đời hối hả.

Câu 1. Văn bản được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2. Những từ ngữ, hình ảnh gợi tả âm thanh trong văn bản: “những xôn xao lùa qua hơi ấm” “tiếng bánh xe trâu lặng lẽ qua đêm” “ai gọi đấy” “tiếng cười khúc khích” “trăm giọng hát” “tiếng huầy ơn như tiếng người chợt thức”.

Câu 3. Biện pháp tu từ: So sánh (“Tôi cựa mình như búp non mở lá”).

Tác dụng: Làm nổi bật sự thức tỉnh nhẹ nhàng, tươi mới của nhân vật trữ tình; gợi cảm giác tâm hồn đang mở ra, tràn đầy sức sống và hi vọng trước ban mai.

Câu 4. Khi nghe những âm thanh như tiếng bánh xe trâu, tiếng gọi và tiếng cười lúc ban mai, nhân vật trữ tình cảm thấy thức tỉnh, xôn xao và rộn ràng. Những âm thanh quen thuộc của làng quê làm tâm hồn nhân vật trở nên ấm áp, gần gũi và tràn đầy sức sống.

Câu 5. Bài thơ gửi gắm thông điệp về vẻ đẹp bình dị của cuộc sống và thiên nhiên nơi làng quê. Những âm thanh quen thuộc như tiếng xe trâu, tiếng cười hay tiếng hát của người nông dân đã làm bừng tỉnh không gian ban mai và tâm hồn con người. Qua đó, tác giả gợi nhắc chúng ta hãy biết lắng nghe và trân trọng những điều giản dị xung quanh mình. Chính những khoảnh khắc bình thường ấy lại mang đến sự ấm áp và niềm vui trong cuộc sống. Khi biết yêu quý thiên nhiên và con người lao động, ta sẽ cảm nhận cuộc sống ý nghĩa hơn.

Câu 1. Thể thơ của văn bản là thơ tự do. Bài thơ không bị ràng buộc về số chữ, số câu hay cách gieo vần, nhịp thơ linh hoạt, giúp tác giả dễ dàng bộc lộ cảm xúc của nhân vật trữ tình trước khung cảnh buổi ban mai. Câu 2. Những từ ngữ, hình ảnh gợi tả âm thanh trong văn bản gồm: xôn xao, tiếng bánh xe trâu, gọi, cười khúc khích, trăm giọng hát, huầy ơ. Câu 3. Biện pháp tu từ: So sánh (từ so sánh: như). So sánh: “tôi cựa mình” với “búp non mở lá”. Tác dụng: Làm nổi bật trạng thái thức dậy nhẹ nhàng, tươi mới và tràn đầy sức sống của nhân vật trữ tình. Gợi cảm giác tâm hồn bừng tỉnh, trong trẻo như búp non đang mở lá vào buổi ban mai. Làm cho hình ảnh thơ trở nên sinh động, gợi hình, gợi cảm và hấp dẫn, giúp người đọc cảm nhận rõ hơn cảm xúc của nhân vật trữ tình. Thể hiện niềm xao xuyến, rộn ràng trước vẻ đẹp của buổi sáng và cuộc sống. Câu 4. Khi nghe âm thanh “tiếng bánh xe trâu lặng lẽ và tiếng gọi, tiếng cười khúc khích lúc ban mai”, tâm trạng của nhân vật trữ tình là: Xao xuyến, bâng khuâng và xúc động trước những âm thanh quen thuộc của làng quê. Cảm thấy vui tươi, ấm áp và đầy sức sống khi ngày mới bắt đầu. Thể hiện tình cảm gắn bó, yêu thương và trân trọng cuộc sống lao động bình dị của con người nơi thôn quê. Câu 5. Bài thơ gửi gắm thông điệp về vẻ đẹp bình dị nhưng đầy sức sống của thiên nhiên và cuộc sống con người vào buổi ban mai. Những âm thanh quen thuộc của làng quê đã tạo nên một bức tranh buổi sớm trong trẻo, ấm áp và gần gũi. Qua đó, tác giả nhắc nhở mỗi người hãy biết trân trọng những điều giản dị xung quanh mình, biết yêu thiên nhiên và cuộc sống. Khi biết cảm nhận những điều bình thường ấy, tâm hồn con người sẽ trở nên tươi mới và tràn đầy hi vọng như búp non mở lá trong buổi ban mai.

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản

Thể thơ: Tự do (do số chữ trong các dòng thơ không gò bó, nhịp điệu linh hoạt theo cảm xúc).

Câu 2. Chỉ ra những từ ngữ, hình ảnh gợi tả âm thanh trong văn bản.

Các từ ngữ, hình ảnh gợi tả âm thanh bao gồm: xôn xao, tiếng bánh xe trâu, Ơi... ơi... ơi, ai gọi đấy, cười khúc khích, giọng hát, tiếng lúa khô chảy, tiếng huầy ơ, tiếng người chợt thức.

Câu 3

Tác dụng:Làm cho hình ảnh nhân vật trữ tình lúc tỉnh giấc trở nên sinh động, giàu sức gợi cảm.Diễn tả vẻ đẹp tinh khôi, trong trẻo và tràn đầy nhựa sống của tâm hồn con người trong khoảnh khắc giao hòa với thiên nhiên lúc bình minh.Thể hiện sự nhạy cảm, tinh tế của tác giả trước những chuyển động khẽ khàng của sự

câu4

Tâm trạng của nhân vật trữ tình là sự hứng khởi, náo nức và tràn đầy yêu đời.

Đó là một tâm hồn đang rộng mở để đón nhận nhịp sống lao động bình dị của quê hương. Nhân vật không chỉ quan sát mà còn cảm thấy sự thân thuộc, gắn bó sâu sắc (thể hiện qua hành động "lách mình qua khe cửa" để nhập cuộc), cho thấy một tình yêu cuộc sống tha thiết và sự trân trọng những vẻ đẹp đơn sơ, thuần khiết của vùng nông thôn

Câu5:

Thông điệp sâu sắc nhất mà em rút ra được từ bài thơ là hãy luôn mở rộng tâm hồn để cảm nhận và trân trọng vẻ đẹp của những điều bình dị trong cuộc sống. Mỗi buổi ban mai không chỉ đơn thuần là sự chuyển giao thời gian mà còn là một khởi đầu mới đầy nhựa sống, nơi con người và thiên nhiên giao hòa một cách tuyệt diệu. Khi biết lắng nghe những âm thanh nhỏ bé như tiếng xe trâu hay cảm nhận hương cỏ tươi, ta sẽ thấy tâm hồn mình trở nên trong trẻo tích cực và yêu đời hơn. Chính sự trân trọng những giá trị giản đơn và sự gắn bó với nhịp sống lao động quê hương sẽ giúp chúng ta tìm thấy niềm hạnh phúc chân thực, giúp mỗi ngày trôi qua đều trở nên ý nghĩa và đáng sống


viết:

CÂU 1:

Trong đoạn thơ, những liên tưởng của nhân vật trữ tình khi nghe giọng hát của người nông dân thật sự rất độc đáo và giàu sức gợi. Thay vì dùng những mỹ từ bóng bẩy, tác giả lại ví giọng hát ấy với "tiếng lúa khô chảy vào trong cót" và "đất ấm trào lên trong lóe sáng lưỡi cày".

Đó là những hình ảnh vô cùng mộc mạc, gắn liền với hơi thở của đồng ruộng và thành quả lao động. Liên tưởng thứ nhất mang đến cảm giác về sự no ấm, thu hoạch, nghe tiếng hát mà như thấy cả một mùa màng bội thu. Liên tưởng thứ hai lại gợi lên vẻ đẹp của sự khai phá, sức sống mãnh liệt từ lòng đất mẹ dưới bàn tay con người. Qua đó, ta thấy giọng hát không chỉ là âm thanh đơn thuần, mà là kết tinh của mồ hôi, là linh hồn của người lao động. Nhân vật trữ tình hẳn phải có một tình yêu tha thiết với quê hương và sự trân trọng sâu sắc đối với người nông dân mới có được những rung cảm tinh tế, chân thực đến thế. Những liên tưởng này đã tôn vinh vẻ đẹp của lao động - một vẻ đẹp không cần tô vẽ nhưng vẫn tỏa sáng rạng ngời

CÂU 2 :

Trong dòng chảy hối hả của thời đại hội nhập, người trẻ thường đứng trước sự lựa chọn giữa những khát vọng xa xôi và những giá trị thực tế trước mắt. Có ý kiến cho rằng "Tuổi trẻ ngày nay sống cần có ước mơ", nhưng lại có quan điểm khẳng định "Hãy sống thực tế". Thực chất, đây không phải là hai thái cực loại trừ nhau, mà là hai mảnh ghép cần thiết để tạo nên một cuộc đời ý nghĩa.

Ước mơ là những dự định, khao khát tốt đẹp mà mỗi người mong muốn đạt được. Đối với người trẻ, ước mơ giống như ngọn hải đăng soi sáng giữa biển khơi, giúp chúng ta xác định hướng đi và có động lực để vượt qua nghịch cảnh. Một tuổi trẻ không ước mơ sẽ dễ rơi vào trạng thái sống mòn, thụ động và đánh mất bản sắc cá nhân. Ngược lại, sống thực tế là việc nhìn nhận đúng khả năng của bản thân và điều kiện ngoại cảnh để đưa ra những quyết định phù hợp. Trong thời đại hội nhập đầy biến động và cạnh tranh, sự thực tế giúp chúng ta không bị ảo tưởng, biết cách trang bị kỹ năng và kiến thức cần thiết để tồn tại và phát triển.

Tuy nhiên, nếu chỉ sống với ước mơ mà thiếu đi sự thực tế, ước mơ đó sẽ trở thành viển vông, hão huyền. Ngược lại, nếu quá thực tế đến mức thực dụng, con người dễ trở nên khô khan, chỉ biết đến lợi ích trước mắt mà quên đi những giá trị tinh thần cao đẹp. Vì vậy, sự kết hợp giữa "ước mơ" và "thực tế" chính là chìa khóa của thành công.

Hãy để ước mơ làm mục tiêu, và dùng thực tế làm phương tiện. Chẳng hạn, nếu bạn ước mơ trở thành một kỹ sư AI toàn cầu, thay vì chỉ mơ mộng, hãy thực tế bắt đầu từ việc học ngoại ngữ và trau dồi thuật toán mỗi ngày. Sự hội nhập đòi hỏi chúng ta phải có tầm nhìn rộng mở (ước mơ) nhưng cũng cần một đôi chân vững chãi trên mặt đất (thực tế).

Tóm lại, tuổi trẻ là quãng thời gian đẹp nhất để trải nghiệm và dấn thân. Đừng ngại mơ những giấc mơ lớn, nhưng cũng đừng quên nhìn vào thực tại để nỗ lực. Sống thực tế để nuôi dưỡng ước mơ, và dùng ước mơ để định hướng cho lối sống thực tế – đó mới chính là bản lĩnh của thế hệ trẻ hôm nay.

Câu 1:

Văn bản được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2:

Những từ ngữ, hình ảnh gợi tả âm thanh trong văn bản là: tiếng bánh xe trâu lặng lẽ qua đêm”, “ai gọi đấy”, “ai đang cười khúc khích”, “trầm trầm giọng hát”, “tiếng huầy ơ”.

=> Đây là những âm thanh quen thuộc của làng quê lúc ban mai, vừa gần gũi vừa giàu sức gợi.

Câu 3:

  • Biện pháp tu từ: So sánh
    (“Tôi cựa mình” được so sánh với “búp non mở lá”).
  • Tác dụng: +Gợi tả sự thức dậy nhẹ nhàng, tinh khôi, đầy sức sống của nhân vật trữ tình trước vẻ đẹp của buổi sớm. +Làm nổi bật trạng thái tâm hồn bừng tỉnh, tươi mới, nhạy cảm trước thiên nhiên và cuộc sống. +Tăng giá trị biểu cảm, giúp câu thơ trở nên mềm mại, giàu hình ảnh.

Câu 4:

Khi nghe những âm thanh quen thuộc của buổi sớm nơi thôn quê như tiếng bánh xe trâu lặng lẽ, tiếng gọi, tiếng cười khúc khích, nhân vật trữ tình hiện lên với tâm trạng:

  • Bâng khuâng, xao xuyến trước khoảnh khắc ban mai đang dần thức giấc.
  • Vui tươi, háo hức, rộn ràng vì cảm nhận được nhịp sống lao động đang bắt đầu.
  • Gắn bó, yêu thương tha thiết với con người và cảnh sắc quê hương.
  • Đồng thời thể hiện một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, biết lắng nghe những thanh âm bình dị mà giàu sức sống của cuộc đời.

Câu 5:

Thông điệp em rút ra là: Hãy biết yêu và trân trọng những vẻ đẹp bình dị của quê hương, cuộc sống lao động hằng ngày. Ban mai trong bài thơ không hiện lên bằng những điều lớn lao mà bằng tiếng xe trâu, tiếng cười, giọng hát của người nông dân. Chính những âm thanh mộc mạc ấy đã đánh thức tâm hồn con người, đem lại niềm vui và sức sống mới. Khi biết lắng nghe, ta sẽ nhận ra cuộc sống quanh mình luôn ấm áp và đáng yêu. Vì vậy, mỗi người cần sống chậm lại để cảm nhận, nâng niu những điều giản dị mà ý nghĩa.

Câu 1: thể thơ tự do

Câu 2: Những từ ngữ, hình ảnh gợi tả âm thanh bao gồm: Những xôn xao lùa qua hơi ẩm. Tiếng bánh xe trâu lặng lẽ. Tiếng ơi... ơi... ơi... Ai gọi đấy, ai đang cười khúc khích. Trầm trầm giọng hát. Tiếng huẩy ơ.

Tiếng lúa khô


Câu 3: Biện pháp tu từ: So sánh. Tôi cựa mình được so sánh như búp non mở lá. Tác dụng: Làm cho hình ảnh nhân vật "tôi" khi thức dậy trở nên sinh động, mang vẻ đẹp căng tràn nhựa sống, thanh khiết như một mầm non vừa hé mở. Thể hiện sự giao hòa tuyệt đối giữa con người và thiên nhiên. Con người như tan chảy vào nhựa sống của đất trời buổi sớm mai, mang tâm hồn tươi mới và đầy hy vọng.

Câu 4: Tâm trạng của nhân vật trữ tình là sự nhạy cảm, tinh tế và tràn đầy niềm yêu đời. Nhân vật không chỉ nghe bằng tai mà còn cảm nhận bằng cả tâm hồn. Đó là trạng thái tỉnh thức hoàn toàn, cảm thấy hạnh phúc, rạo rực và gắn kết chặt chẽ với nhịp sống bình dị, thân thuộc của quê hương vào buổi sớm chỉ với " tiếng bánh xe trâu" , " tiếng gọi", và "tiếng cưới khúc khích của ban mai". Câu 5:

Qua bài thơ trên ta có thể nhận ra được những gì giản dị, thân thuộc trong cuộc sống của tác giả điều được khắc hoạ một cách đầy trân trọng và từ hào. Qua đó, tác giả đã khéo léo đem đến những độc giả thông điệp về sự trân trọng những vẻ đẹp bình dị và khởi đầu mới mỗi ngày. Bài thơ cho thấy mỗi buổi ban mai không chỉ là sự chuyển giao về thời gian mà còn là sự hồi sinh của sức sống (hình ảnh búp non, tiếng cười, người nông dân đi làm). Thông điệp này nhắc nhở chúng ta hãy biết lắng nghe và mở lòng với những điều nhỏ bé xung quanh mình. Khi chúng ta sống chậm lại và cảm nhận thiên nhiên bằng cả tâm hồn và trái tim, ta sẽ tìm thấy nguồn năng lượng tích cực và ý nghĩa của sự sống ngay trong những điều đơn sơ nhất của quê hương. Việc trân trọng, yêu quý những điều nhỏ bé trong cuộc sống này, chính là chìa khoá để ta tìm thấy hạnh phúc thực sự giữa cuộc đời bộn bề, tấp nập.



14 tháng 3


Câu 1. Thể thơ: Thơ tự do. Vì Các dòng thơ dài ngắn khác nhau, không gò bó số chữ, nhịp điệu linh hoạt.

Câu 2. Những âm thanh quen thuộc của làng quê: tiếng xe trâu, tiếng gọi, tiếng cười, tiếng hát, tiếng huầy ơ.

Câu 3.Biện pháp tu từ: So sánh

“Tôi của mình như búp non mở lá”

Tác dụng:

-So sánh “tôi” với “búp non mở lá” gợi hình ảnh non trẻ, trong trẻo, đang lớn lên.

-Thể hiện tâm hồn nhân vật trữ tình tươi mới, đầy sức sống và hi vọng trước ban mai.

-Làm câu thơ trở nên giàu hình ảnh và gợi cảm.

Câu 4. Tâm trạng của nhân vật trữ tình: Khi nghe “tiếng bánh xe trâu lặng lẽ qua đêm”, “tiếng gọi, tiếng cười khúc khích lúc ban mai”, nhân vật trữ tình cảm nhận được sự yên bình và sức sống của làng quê lúc rạng sáng. Những âm thanh ấy gợi cảm giác gần gũi, thân thương, làm cho nhân vật trữ tình bồi hồi, xao xuyến và tràn đầy niềm vui trước một ngày mới.

Câu 5. Thông điệp: Văn bản gửi gắm thông điệp về vẻ đẹp bình dị và sức sống của làng quê Việt Nam. Qua những âm thanh quen thuộc như tiếng bánh xe trâu, tiếng gọi, tiếng hát của người nông dân, tác giả gợi lên bức tranh ban mai đầy sinh động. Từ đó, người đọc cảm nhận được tình yêu thiên nhiên và cuộc sống lao động giản dị. Bài thơ cũng nhắc chúng ta hãy biết trân trọng những điều bình thường nhưng giàu ý nghĩa trong cuộc sống. Chính những điều giản dị ấy tạo nên vẻ đẹp và sự ấm áp của quê hương.


Câu 1: Thể thơ của văn bản là thể thơ tự do

Câu 2: Những từ ngữ , hình ảnh gợi tả âm thanh là: "tiếng bánh xe trâu lặng lẽ ", "tiếng gọi- tiếng cười khúc khích"

Câu 3: –Biện pháp tu từ trong dòng thơ là so sánh "Tôi cựa mình" với "búp non mở lá"

–Tác dụng : Hình ảnh gợi lên sự nhẹ nhàng khi thức tỉnh, tinh khôi và đầy sức sống của nhân vật trữ tình , qua đó cũng thể hiện sự giao thoa cảm xúc của con người với thiên nhiên trong buổi sáng ban mai

 Câu 4: Tâm trạng của nhân vật trữ tình là vui vẻ, yêu đời , thoải mái, thư thái.Việc lắng nghe những âm thanh bình dị, mộc mạc, gần gũi, như " tiếng bánh xe trâu"và "tiếng cười khúc khích " lúc ban mai cho thấy nhân vật trữ tình đang ở một tâm trạng rất bình yên, cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên , sự vật, sự việc hay cuốc sống xung quanh nhân vật trữ tình.

Câu 5: Qua văn bản, ta có thấy sự trân trọng từng khoảnh khắc trong cuộc đời mỗi con người , nhắc nhở ta phải biết yêu quý những điều nhỏ nhặt, đơn giản, mộc mạc quanh mình. Trong thời đại 4.0 như hiện nay luôn tất bật với nhịp sống bận rộn, nhiều người mải mê chạy theo những thứ xa xỉ, những mục tiêu to lớn mà quên mất hạnh phúc, vui vẻ đôi khi lại đến từ những điều nhỏ nhặt .Đó có thể là cái ôm động viện ,bữa cơm gia đình, hay hỏi han nhau một câu khi gặp khó khăn, hoạn nạn.Cho nên chúng ta hãy trân trọng những khoảnh khắc giản dị , mộc mạc ấy.Chúng ta sẽ cảm thấy được rằng cuộc sống này đôi khi chỉ cần đơn giản vậy thôi là hạnh phúc, ý nghĩa, trọn vẹn rồi.Từng khoảnh khắc nhỏ bé ấy giúp ta sống chậm lại, cảm nhận rõ hơn về tình yêu thương và vẻ đẹp của cuộc sống.Do đó, hãy học cách trân trọng, nâng niu từng khoảnh khắc nhỏ nhặt trong cuộc đời mỗi người , bởi đó là những khoảnh khắc đẹp, hạnh phúc mà chúng ta không thể nào phủ nhận .           

      

Câu 1.

Thể thơ: Thơ tự do.


Câu 2.

Những từ ngữ, hình ảnh gợi tả âm thanh trong văn bản:

Những xôn xao lùa qua hơi ấm

Tiếng bánh xe trâu lặng lẽ qua đêm

Ai gọi đấy, ai đang cười khúc khích

Dưới vành nón của người cất lên trăm trăm giọng hát

Như tiếng lúa khô chảy vào trong cốt


Câu 3.

Biện pháp tu từ: So sánh.

“Tôi cựa mình như búp non mở lá”.

Tác dụng:

Làm nổi bật cảm giác thức tỉnh nhẹ nhàng của nhân vật trữ tình khi đón nhận buổi ban mai. Hình ảnh “búp non mở lá” gợi sự tươi mới, tràn đầy sức sống, qua đó thể hiện tâm trạng vui tươi, đầy hi vọng.


Câu 4.

Khi nghe “tiếng bánh xe trâu lặng lẽ” và “tiếng gọi, tiếng cười khúc khích lúc ban mai”, nhân vật trữ tình cảm nhận được không khí quen thuộc của làng quê lúc sáng sớm. Tâm trạng trở nên bâng khuâng, xúc động và tràn đầy sức sống. Những âm thanh ấy gợi lên vẻ bình yên, gần gũi, làm nhân vật cảm thấy gắn bó với cuộc sống lao động và thiên nhiên.


Câu 5.

Một thông điệp có thể rút ra từ bài thơ là: Hãy biết trân trọng những vẻ đẹp bình dị của cuộc sống. Những âm thanh quen thuộc như tiếng xe trâu, tiếng cười hay tiếng lao động buổi sớm đều mang đến cảm giác ấm áp và bình yên. Bài thơ cho thấy thiên nhiên và cuộc sống lao động của con người luôn chứa đựng những điều đẹp đẽ. Khi biết lắng nghe và cảm nhận, ta sẽ thấy cuộc sống trở nên ý nghĩa hơn. Vì vậy mỗi người nên sống chậm lại, yêu quý thiên nhiên và trân trọng những điều giản dị xung quanh mình.

15 tháng 3

Câu 1:Thể thơ của văn bản: Thơ tự do.

Câu 2: Những từ ngữ gợi tả âm thanh trong văn bản:

“tiếng bánh xe trâu”

“ơi… ơi… ơi”

“ai gọi đấy”

“cười khúc khích”

“trăm trăm giọng hát”

“tiếng huầy ơ”

→ Những từ ngữ này gợi nên âm thanh quen thuộc, rộn ràng của làng quê lúc ban mai.

Câu 3: Biện pháp tu từ là so sánh

“Tôi cựa mình” được so sánh với “búp non mở lá”.

Tác dụng

Làm nổi bật sự thức dậy nhẹ nhàng, tươi mới và đầy sức sống của nhân vật trữ tình, giống như một chòi non đang mở lá khi buổi ban mai đến, qua đó gợi lên cảm giác trong trẻo và tràn đầy sức sống của buổi sớm.

Câu 4:

Khi nghe âm thanh “tiếng bánh xe trâu lặng lẽ và tiếng gọi, tiếng cười khúc khích lúc ban mai”, nhân vật trữ tình có tâm trạng:

-Bâng khuâng, xao xuyến và đầy xúc cảm.

-Cảm nhận được vẻ đẹp bình dị, thân thuộc của làng quê lúc sớm mai.

-Tâm hồn thức dậy, rộn ràng và tràn đầy sức sống trước nhịp sống lao động của con người.

Câu 5: Thông điệp mà em rút ra từ văn bản

Văn bản gửi gắm thông điệp rằng con người cần biết lắng nghe và cảm nhận vẻ đẹp bình dị của cuộc sống quanh mình. Những âm thanh quen thuộc của làng quê buổi sớm như tiếng bánh xe trâu, tiếng gọi, tiếng cười đã làm thức dậy tâm hồn con người. Qua đó, tác giả gợi cho chúng ta tình yêu đối với thiên nhiên và cuộc sống lao động giản dị. Khi biết trân trọng những điều nhỏ bé ấy, ta sẽ cảm thấy cuộc sống ấm áp và ý nghĩa hơn. Vì vậy, mỗi người nên mở lòng để cảm nhận vẻ đẹp của cuộc sống mỗi ngày.





Câu 1.

Thể thơ của văn bản: Thơ tự do.

Câu 2. Chỉ ra những từ ngữ, hình ảnh gợi tả âm thanh trong văn bản.

“Tiếng bánh xe trâu lặng lẽ” “tiếng gọi- tiếng cười khúc khích”

Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong dòng thơ: "Tôi cựa mình như búp non mở lá."

Biện pháp tu từ: So sánh “ tôi cựa mình” với “búp non mở lá” từ “như” 

Tác dụng:

Về nội dung: Diễn tả sự chuyển mình nhẹ nhàng, đầy sức sống và tinh tế của nhân vật trữ tình trước sự thay đổi của thiên nhiên lúc ban mai. Nó thể hiện một tâm hồn nhạy cảm, đang hòa nhịp cùng sự sinh sôi, nảy nở của vạn vật.

Về nghệ thuật: Làm cho câu thơ trở nên sinh động, giàu hình ảnh và gợi cảm hơn.

Câu 4.

Khi nghe âm thanh “tiếng bánh xe trâu lặng lẽ” cùng “tiếng gọi, tiếng cười khúc khích” lúc ban mai, nhân vật trữ tình cảm nhận một tâm trạng bình yên, xao xuyến và tràn đầy niềm yêu đời. Những âm thanh quen thuộc của cuộc sống lao động nơi làng quê được lắng nghe bằng sự tinh tế và trân trọng. Chúng không chỉ gợi lên nhịp sống giản dị của con người mà còn đánh thức trong tâm hồn nhân vật trữ tình cảm giác ấm áp, tươi mới và đầy hy vọng khi một ngày mới bắt đầu.

Câu 5: 

Hãy biết lắng nghe và trân trọng những vẻ đẹp bình dị của cuộc sống quanh ta. Cuộc sống không chỉ được tạo nên từ những điều lớn lao mà còn từ những khoảnh khắc rất đỗi giản dị, như âm thanh của buổi ban mai nơi làng quê. Khi con người biết mở lòng để cảm nhận thiên nhiên và nhịp sống xung quanh bằng một tâm hồn tinh tế, ta sẽ nhận ra nhiều niềm vui và sự bình yên. Chính những điều nhỏ bé ấy lại mang đến nguồn năng lượng tích cực và làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa hơn. Vì vậy, mỗi người cần học cách trân trọng những giá trị giản đơn để tâm hồn thêm phong phú và gắn bó hơn với cuộc đời

28 tháng 3

Bài 1

Câu 1: Thể thơ của văn bản là thơ tự do

Câu 2: Những từ ngữ, hình ảnh gợi tả âm thanh:

  • Tiếng bánh xe trâu (lặng lẽ).
  • Tiếng gọi: Ơi... ơi... ơi...Ai gọi đấy.
  • Tiếng cười: Cười khúc khích.
  • Trầm trầm giọng hát.
  • Tiếng hát ví như: Tiếng lúa khô chảyTiếng đất ấm trào lên.
  • Tiếng hô: Tiếng huầy ơ.

Câu 3: Câu 3:

  • Biện pháp tu từ: So sánh ("Tôi cựa mình" như "búp non mở lá").
  • Tác dụng:
  • Làm cho hành động thức giấc của nhân vật trữ tình trở nên sinh động, giàu hình ảnh.
  • Gợi sự tinh khôi, non tơ và tràn đầy sức sống. Cho thấy sự giao hòa tuyệt đối giữa con người và thiên nhiên; tâm hồn nhân vật như được tái sinh, mở ra đón nhận ánh sáng và sinh khí của buổi sớm mai.


Câu 4: Tâm trạng của nhân vật trữ tình:
Đó là tâm trạng xao xuyến, hân hoan và tràn đầy sự tò mò, háo hức. Nhân vật không chỉ lắng nghe bằng tai mà bằng cả tâm hồn nhạy cảm, thể hiện một tình yêu thiết tha, sự gắn bó sâu sắc với nhịp sống bình dị, thân thuộc của quê hương.

Câu 5: Thông điệp: Hãy mở lòng mình để cảm nhận vẻ đẹp của những điều bình dị và trân trọng giá trị của lao động.

Lí giải: Trong bài thơ, ban mai không chỉ là khoảnh khắc thời gian mà là sự bừng tỉnh của sự sống và vẻ đẹp con người lao động. Khi ta biết lắng nghe tiếng bánh xe, giọng hát hay mùi cỏ thơm, tâm hồn ta sẽ trở nên phong phú, bình yên và tìm thấy hạnh phúc ngay trong những điều giản đơn nhất của cuộc đời.

I. ĐỌC HIỂU Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:             Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời của mình....
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

            Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời của mình. Ba mẹ yêu thương con không phải vì con mà vì con là con của ba mẹ, bởi vậy kể cả khi con trở thành một người xấu, một kẻ dối trá hay thậm chí trộm cắp, thì tình yêu của ba mẹ dành cho con vẫn không thay đổi. Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”

            Đó chính là lí do đầu tiên để tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương. Thậm chí, tôi chỉ cần một lí do đó mà thôi.

            Kinh Talmud viết: “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” Bởi thế, hiển nhiên là tôi cũng sẽ nói với con tôi những lời ba tôi đã nói.

            […] Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.

(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn – Phạm Lữ Ân)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.

Câu 2: Vì sao nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương.

Câu 3: Theo em, việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa gì?

Câu 4: Em rút ra được thông điệp gì từ những câu văn sau: “Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.”?

12
14 tháng 5 2021

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.

Câu 2: Lí do để nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương đó là lời nói của ba: Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”

Câu 3: Việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa:

- Khi chúng ta dạy cho con cái mình những điều tốt đẹp, chúng sẽ mang những điều tốt đẹp đó để cư xử với tất cả mọi người xung quanh và dạy dỗ thế hệ sau.

- Những điều tốt đẹp ấy sẽ lan tỏa, có sức ảnh hưởng tích cực đến muôn đời sau.

- Làm tăng ý nghĩa, tính triết lí cho văn bản.

- Làm tăng sức thuyết phục, tin cậy cho nội dung mà tác giả muốn gửi gắm.

Câu 4:

- Trong cuộc đời mỗi người luôn có nhiều người thầy nhưng cha mẹ luôn là người thầy đầu tiên của con.

- Mỗi chúng ta sẽ cảm thấy ấm áp và hạnh phúc vô cùng khi được học những điều bình dị từ chính người cha yêu quý của mình. Cha luôn là người dành cả tình yêu thương và tấm lòng bao la của tình phụ tử thiêng liêng để chỉ bảo ta trên đường đời.

- Bài học từ người thầy đầu tiên ấy là điều vô cùng quý giá, sẽ để lại dấu ấn sâu sắc và gợi nhiều kỉ niệm để nhớ về trên chặng đường sau này.

14 tháng 5 2021

ko biet

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng...
Đọc tiếp

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)

“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng chất dinh dưỡng để lớn lên và thay đổi. Song, tất cả sự thay đổi đó lặng lẽ tới mức, với tôi, cây sồi già trong sân trông vẫn như khi tôi nhìn thấy nó thuở ấu thơ.” (James Lovelock) (1)

Từ văn bản trên, anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận về chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng.

Câu 2. Nghị luận văn học (12,0 điểm)

Trong diễn văn đọc tại lễ bế mạc các hoạt động vinh danh giải Nobel ngày 10 tháng 12 năm 1957 ở Stockholm, A. Camus cho rằng: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”(2)

Bằng trải nghiệm văn học, anh/ chị hãy bàn luận ý kiến trên.

1
1. Lắng nghe sự thinh lặng Answer: Bài văn mẫu về chủ đề lắng nghe sự thinh lặng. Mở bài Trong cuộc sống ồn ào, vội vã, con người thường mải mê chạy theo những thanh âm, những tiếng nói từ bên ngoài mà quên mất đi một điều vô cùng quan trọng: lắng nghe sự thinh lặng. Sự thinh lặng không phải là sự im bặt, trống rỗng, mà là một không gian để tâm hồn nghỉ ngơi, để trí não soi chiếu những suy tư sâu sắc. James Lovelock từng ví Trái Đất như một cái cây tồn tại thầm lặng, trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai, cho thấy sự vận động và biến đổi kỳ diệu diễn ra trong im lặng. Chủ đề "Lắng nghe sự thinh lặng" mời gọi mỗi chúng ta nhìn nhận lại cách sống, cách cảm nhận thế giới và thấu hiểu chính mình. Thân bài 1. Giải thích và ý nghĩa của sự thinh lặng Sự thinh lặng là trạng thái không có tiếng động hoặc âm thanh. Tuy nhiên, trong ngữ cảnh nghị luận xã hội, thinh lặng mang ý nghĩa sâu sắc hơn: đó là sự tĩnh tâm, là khoảng không gian nội tâm để con người suy ngẫm, chiêm nghiệm. Lắng nghe sự thinh lặng là khả năng tạm gác lại những xô bồ, náo nhiệt của cuộc sống, để tâm trí được thanh lọc và tập trung vào những giá trị cốt lõi. 2. Biểu hiện của việc lắng nghe sự thinh lặng Việc lắng nghe sự thinh lặng được thể hiện qua nhiều khía cạnh:
  • Tự vấn bản thân: Trong những khoảnh khắc yên tĩnh, con người có cơ hội nhìn lại hành động, suy nghĩ, sai lầm và cả những ước mơ của mình. Sự thinh lặng giúp ta trung thực hơn với chính mình.
  • Thấu hiểu thế giới xung quanh: Như cái cây của Lovelock, vạn vật trong tự nhiên vận hành trong sự thinh lặng tuyệt đối. Lắng nghe sự thinh lặng giúp ta cảm nhận được nhịp đập của sự sống, sự biến đổi tinh tế của thiên nhiên mà những âm thanh huyên náo thường che lấp.
  • Tăng cường sự tập trung và sáng tạo: Khi không bị phân tán bởi tiếng ồn, trí óc con người hoạt động hiệu quả hơn, ý tưởng mới mẻ dễ dàng nảy sinh.
3. Bàn luận mở rộng Trong xã hội hiện đại, con người ngày càng khó tìm thấy sự thinh lặng. Mạng xã hội, thông tin liên tục, công việc áp lực khiến chúng ta luôn trong trạng thái "bận rộn". Điều này dẫn đến sự căng thẳng, lo âu và mất kết nối với chính mình. Do đó, việc chủ động tìm kiếm và lắng nghe sự thinh lặng là vô cùng cần thiết. Nó là liều thuốc chữa lành tâm hồn, giúp cân bằng cảm xúc và sống chậm lại. Kết bài "Lắng nghe sự thinh lặng" không phải là một hành động thụ động mà là một nghệ thuật sống, một sự chủ động tìm kiếm bình yên trong tâm hồn. Giống như cây sồi già vẫn giữ nguyên dáng vẻ qua bao năm tháng dù có nhiều sự thay đổi lặng lẽ, sự thinh lặng giúp chúng ta giữ vững bản ngã giữa dòng đời vạn biến. Hãy dành cho mình những khoảng lặng cần thiết để thấu hiểu bản thân, yêu thương cuộc sống và cảm nhận thế giới một cách trọn vẹn hơn. 2. Bàn luận về ý kiến của A. Camus Answer: Bài văn mẫu bàn luận về ý kiến của A. Camus về người nghệ sĩ. Mở bài Albert Camus, trong diễn văn nhận giải Nobel năm 1957, đã đưa ra một nhận định sâu sắc về vai trò và sứ mệnh của người nghệ sĩ: "Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi." (2) Ý kiến này khẳng định mối quan hệ biện chứng, không thể tách rời giữa cá nhân người nghệ sĩ, cái đẹp trong nghệ thuật và trách nhiệm với cộng đồng. Bằng trải nghiệm văn học, ta thấy nhận định của Camus là kim chỉ nam cho mọi hoạt động sáng tạo chân chính. Thân bài 1. Mối tương quan giữa người nghệ sĩ và cộng đồng Người nghệ sĩ không tồn tại biệt lập mà luôn trong mối tương quan với xã hội, với "người khác". Cuộc sống, con người là chất liệu vô tận cho sáng tạo. Các tác phẩm văn học lớn đều phản ánh hiện thực, số phận con người, và những vấn đề của thời đại. Ví dụ, Nam Cao với tác phẩm Chí Phèo, đã phơi bày bi kịch của người nông dân bị bần cùng hóa, bị xã hội vùi dập, qua đó thể hiện sự gắn bó sâu sắc với cộng đồng, lên tiếng bênh vực những số phận bất hạnh. 2. Cân bằng giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng "Cái đẹp không thể bỏ qua" là mục tiêu hướng tới của nghệ thuật. Văn chương phải là cái đẹp, là sự tinh tế trong ngôn từ, cấu trúc, hình ảnh. Tuy nhiên, cái đẹp đó không phải là sự phù phiếm, thoát ly thực tế mà phải gắn liền với "cộng đồng không thể tách khỏi". Tác phẩm đạt đến cái đẹp chân chính khi nó vừa mang giá trị thẩm mỹ cao, vừa chứa đựng thông điệp nhân văn sâu sắc, phục vụ con người, thức tỉnh lương tri. 3. Trải nghiệm văn học chứng minh Qua các tác phẩm văn học, ta thấy rõ sự tôi luyện của người nghệ sĩ trong mối tương quan này.
  • Văn học hiện thực phê phán: Các nhà văn như Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Ngô Tất Tố (Tắt đèn) đã sử dụng ngòi bút sắc bén để phơi bày những thói hư tật xấu, sự bất công của xã hội, nhằm thức tỉnh cộng đồng. Cái đẹp trong tác phẩm của họ là cái đẹp của sự thật trần trụi, có sức lay động mạnh mẽ.
  • Văn học cách mạng: Các nhà thơ như Tố Hữu (Việt Bắc) đã gắn thơ ca với sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Thơ của ông vừa giàu tính trữ tình, vừa mang tính chính trị sâu sắc, là tiếng nói chung của cộng đồng trong công cuộc giải phóng dân tộc.
4. Bàn luận mở rộng Nhận định của Camus vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay. Người nghệ sĩ hiện đại cần tránh hai khuynh hướng: hoặc quá chú trọng vào cái tôi cá nhân, cái đẹp thuần túy mà xa rời thực tế cuộc sống; hoặc biến nghệ thuật thành công cụ tuyên truyền khô khan, thiếu tính thẩm mỹ. Con đường chân chính của nghệ thuật là sự dung hòa giữa cái đẹp và trách nhiệm xã hội. Kết bài Tóm lại, ý kiến của Albert Camus là một triết lý sâu sắc về nghệ thuật và người nghệ sĩ. Sứ mệnh của người nghệ sĩ không chỉ là sáng tạo ra cái đẹp mà còn là gắn bó mật thiết với cộng đồng, dùng nghệ thuật để phục vụ con người. Sự tôi luyện bản thân trên "quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi" chính là con đường dẫn đến những tác phẩm văn học vĩ đại, có giá trị vượt thời gian.
Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng...
Đọc tiếp

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)

“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng chất dinh dưỡng để lớn lên và thay đổi. Song, tất cả sự thay đổi đó lặng lẽ tới mức, với tôi, cây sồi già trong sân trông vẫn như khi tôi nhìn thấy nó thuở ấu thơ.” (James Lovelock) (1)

Từ văn bản trên, anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận về chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng.

Câu 2. Nghị luận văn học (12,0 điểm)

Trong diễn văn đọc tại lễ bế mạc các hoạt động vinh danh giải Nobel ngày 10 tháng 12 năm 1957 ở Stockholm, A. Camus cho rằng: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”(2)

Bằng trải nghiệm văn học, anh/ chị hãy bàn luận ý kiến trên.

1
2 tháng 10 2025

Câu 1: Nghị luận xã hội (8 điểm)

Chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng


Bài làm:

Con người thường bị cuốn vào những ồn ào, náo nhiệt của cuộc sống, đến mức quên mất rằng sự thinh lặng cũng có thể nói lên rất nhiều điều quan trọng. Trong đoạn văn của James Lovelock, Trái Đất được ví như một cái cây lặng lẽ tồn tại và phát triển một cách âm thầm. Điều đó khiến ta nhận ra: có những thay đổi lớn lao, những câu chuyện sâu sắc không cần lời nói vẫn đang diễn ra ngay bên cạnh chúng ta, trong sự yên tĩnh và tĩnh lặng.

Lắng nghe sự thinh lặng chính là một cách để ta thấu hiểu, cảm nhận sâu sắc hơn về thế giới xung quanh. Sự thinh lặng không phải là khoảng trống, không phải là sự vắng mặt của âm thanh, mà là một trạng thái tích cực, chứa đựng sự sống động và những thông điệp mà tiếng ồn không thể mang lại. Khi ta biết dừng lại, lắng nghe thinh lặng, ta sẽ nhận ra những vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, sự biến đổi của cuộc sống và cả tiếng nói của chính tâm hồn mình.

Trong cuộc sống hiện đại, con người dễ bị cuốn vào guồng quay công việc, công nghệ, xã hội mà quên mất việc dành thời gian để yên tĩnh suy ngẫm, tĩnh tâm. Việc lắng nghe sự thinh lặng không chỉ giúp ta lấy lại cân bằng tinh thần mà còn giúp ta hiểu rõ hơn về bản thân và những giá trị cuộc sống. Sự thinh lặng là nguồn sức mạnh để ta đối diện với khó khăn, là không gian để nuôi dưỡng trí tuệ và lòng nhân ái.

Thực tế, nhiều bậc vĩ nhân, nhà sáng tạo nghệ thuật, nhà tư tưởng đều trân trọng khoảng lặng để sáng tạo và suy nghĩ sâu sắc. Thiên nhiên cũng dạy chúng ta bài học quý giá về sự kiên nhẫn và phát triển bền vững qua sự thinh lặng của cây cối, đất trời. Lắng nghe sự thinh lặng là học cách quan sát, trân trọng những điều nhỏ bé mà bền vững.

Như vậy, trong cuộc sống bộn bề ngày nay, mỗi người cần biết tôn trọng và dành thời gian lắng nghe sự thinh lặng. Đó là con đường dẫn ta đến sự thấu hiểu, cảm thông và yêu thương. Sự thinh lặng không phải là khoảng cách, mà là kết nối sâu sắc với thế giới và chính bản thân mình.


Kết luận:

Lắng nghe sự thinh lặng là nghệ thuật sống, là cách để ta khám phá những giá trị chân thật và trường tồn. Hãy học cách dừng lại, lắng nghe và cảm nhận, để cuộc sống thêm ý nghĩa và sâu sắc hơn.


Câu 2: Nghị luận văn học (12 điểm)

Bàn luận câu nói của A. Camus:
“Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”


Bài làm:

Albert Camus – nhà văn, triết gia lỗi lạc của thế kỷ XX đã đưa ra một quan điểm sâu sắc về người nghệ sĩ và vị trí của họ trong xã hội. Theo ông, người nghệ sĩ không tồn tại tách biệt mà luôn vận động trong mối quan hệ hai chiều: giữa cá nhân với cái đẹp và giữa cá nhân với cộng đồng.

Thứ nhất, cái đẹp không thể bỏ qua là mục tiêu, là lý tưởng mà người nghệ sĩ theo đuổi. Người nghệ sĩ luôn không ngừng tìm kiếm, sáng tạo ra cái đẹp qua tác phẩm của mình – đó có thể là vẻ đẹp thẩm mỹ, vẻ đẹp tư tưởng hay vẻ đẹp nhân văn. Cái đẹp ấy vượt lên trên sự tầm thường, cái đẹp là nguồn cảm hứng và là tiếng nói riêng của người nghệ sĩ, giúp họ khẳng định giá trị và bản sắc cá nhân.

Tuy nhiên, người nghệ sĩ cũng không thể tách rời cộng đồng – nơi họ sinh sống và làm việc. Cộng đồng là nơi cung cấp chất liệu sáng tạo, là đối tượng truyền tải thông điệp, là nguồn cảm hứng và cũng là nơi tác phẩm được đón nhận. Người nghệ sĩ có trách nhiệm phản ánh, phê phán xã hội, góp phần định hướng những giá trị tích cực, đồng thời thấu hiểu, đồng cảm với cuộc sống con người. Nghệ thuật vì thế luôn mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc.

Mối tương quan liên tục giữa cái đẹp và cộng đồng tạo nên một con đường mà người nghệ sĩ phải đi – đó là quãng đường tôi luyện bản thân không ngừng nghỉ. Họ vừa phải giữ vững lý tưởng sáng tạo, vừa phải lắng nghe, giao tiếp và đồng hành với con người và xã hội. Nếu chỉ theo đuổi cái đẹp mà quên cộng đồng, nghệ thuật sẽ trở nên hời hợt, xa rời thực tế; ngược lại, nếu chỉ chú trọng cộng đồng mà thiếu cái đẹp, nghệ thuật sẽ mất đi giá trị thẩm mỹ và chiều sâu nhân văn.

Thực tế trong văn học Việt Nam và thế giới đã có nhiều nghệ sĩ tiêu biểu sống và sáng tạo theo tinh thần này. Họ luôn hướng tới cái đẹp – cái đẹp của sự chân thực, nhân hậu và tự do; đồng thời luôn giữ mối liên hệ mật thiết với đời sống nhân dân, phản ánh những vấn đề xã hội, con người một cách sâu sắc và thuyết phục.

Như vậy, câu nói của A. Camus đã nhấn mạnh sự cân bằng cần thiết trong đời sống nghệ sĩ, giữa cá nhân và xã hội, giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng. Người nghệ sĩ không chỉ là người sáng tạo mà còn là người đồng hành, người truyền cảm hứng và người bảo vệ những giá trị cao đẹp của nhân loại.


Kết luận:

Người nghệ sĩ thực sự là người tôi luyện trong hành trình kết nối giữa chính mình và cộng đồng, giữa cái đẹp không thể bỏ qua và trách nhiệm đối với xã hội. Chỉ khi đó, nghệ thuật mới phát huy được sức mạnh và giá trị đích thực của nó.

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: Ngày mai con hãy yên lòng đến những miền xa Có thể còn những điều con quên Nhưng có điều này con phải nhớ Rằng biển quê mình Dẫu còn lắm phong ba bão tố Bao đợt sóng chồm lên như hổ dữ Những cơn bão có tên và không tên Nhưng như phép mầu của đức tin Người dân nơi xóm chài mỗi sớm mặt...
Đọc tiếp

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

Ngày mai con hãy yên lòng đến những miền xa

Có thể còn những điều con quên

Nhưng có điều này con phải nhớ

Rằng biển quê mình

Dẫu còn lắm phong ba bão tố

Bao đợt sóng chồm lên như hổ dữ

Những cơn bão có tên và không tên

Nhưng như phép mầu của đức tin

Người dân nơi xóm chài mỗi sớm mặt trời lên

Vẫn hiên ngang ngẩng mặt chào biển rộng

Đất quê cằn, nhọc nhằn gió cát

Phải bắt đầu từ biển, đi lên từ biển

Ông cha nghìn đời

Bắp tay cuộn dưới mặt trời

Da nhuộm hồng nước biển

Lẽ nào cháu con quên lưới vây, lưới cản

Lẽ nào bỏ nghề đi lộng đi khơi

Bão giông là việc của Trời

Nén tiếng khóc, dằn lòng sau bão

Vững bước lên thuyền mặt biển chiều hôm

Lạy trời cho cả gió nồm

Ghe ra biển lớn mươi hôm ghe về

(Trích Vọng Hải Đài, Bùi Công Minh, baodanang.vn,

Chủ nhật, 22/04/2021,21:27{GMT+7})

Câu 1: Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2: Chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng trong dòng thơ:

Bao đợt sóng chồm lên như hổ dữ

Câu 3: Những dòng thơ sau giúp anh/chị hiểu gì về hình ảnh con người trước biển?

Bão giông là việc của Trời

            Nén tiếng khóc, dằn lòng sau bão

                           Vững bước lên thuyền mặt biển chiều hôm

Câu 4: Anh/chị hãy nhận xét tình cảm của tác giả đối với biển cả quê hương được thể hiện trong đoạn trích?

23

câu 1: Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do

Câu 2: Biện pháp nghệ thuật là so sánh

Câu 3: Những câu thơ trên miêu tả rõ hình ảnh con người trước biển: dù bão dông, thiên nhiên khắc nghiệt như nào thì con người vẫn luôn lạc quan hướng về phía trước, con người vẫn bình thản, chịu đựng những đau thương, khó khăn thử thách 

Câu 4: tình yêu quê hương biển cả được tác giả thể hiện qua đoạn trích: tác giả đã dành tình yêu tha thiết với que hương mình, dù có bão giông, gió lốc thì biển vẫn là nơi tìm về của những đứa con làng chài. Biển còn là nơi ông cha ta làm lên tất cả vì vậy tình yêu biển vả còn là sự biết ơn, chân trọng quá khứ.

17 tháng 5 2021

Câu 1 : Đoạn trính trên được viết theo thể thơ : Tự do

Câu 2: Biện pháp tu từ được sử dụng : So sánh

Câu3 : 

- Hình tượng biển ( thiên nhiên ) dù bão giông,khắc nghiệt thì những con người lao động không vì thế mà sợ hãi - đó là cách con người làm chủ được thiên nhiên,coi đó chỉ như một thử thách,một lẽ thường tình của mẹ thiên nhiên,họ vẫn bình thản,bản lĩnh,kiên cường trước những đau thương mà thiiên nhiên gây ra.

- Người lao động Việt Nam mạnh mẽ,cần cù,luôn lạc quan,kiên cường vượt qua khó khăn vững bước trên mặt biển

Câu 4 : 

 Qua đoạn trích,có thể thấy được rõ nét nhất 2 thứ : Tình cảm sâu nặng mà tác giả dành cho  biển cả quê hương và sư trân trọng công lao của ông cha ta trong quá khứ.Tình cảm của tác giả dành cho biển cả quê hương rất sâu sắc,dẫu có khắc nghiệt, khó khăn nhưng biển vẫn là nơi nuôi sống những con người Việt Nam,là nhà,là nơi ta tìm về.Đặc biệt,tình yêu không chỉ thể hiện qua sự trân trọng quá khứ, biết ơn công lao cha ông ta,phát huy lại truyền thống dân tộc,tao nên sức mạnh đoàn kết giữa người với người

I. ĐỌC HIỂUĐọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:            Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời của mình. Ba...
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

            Tôi nhớ lúc nhỏ có lần phạm lỗi, mẹ phạt quỳ úp mặt vào tường suốt hai tiếng đồng hồ. Khi đi làm về, nghe mẹ kể lại, ba đã gọi tôi đến và nói: “Trở thành người như thế nào là tự do của con. Trở thành người tốt hay xấu là tự do tuyệt đối của con. Con có toàn quyền lựa chọn cho cuộc đời của mình. Ba mẹ yêu thương con không phải vì con mà vì con là con của ba mẹ, bởi vậy kể cả khi con trở thành một người xấu, một kẻ dối trá hay thậm chí trộm cắp, thì tình yêu của ba mẹ dành cho con vẫn không thay đổi. Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”

            Đó chính là lí do đầu tiên để tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương. Thậm chí, tôi chỉ cần một lí do đó mà thôi.

            Kinh Talmud viết: “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” Bởi thế, hiển nhiên là tôi cũng sẽ nói với con tôi những lời ba tôi đã nói.

            […] Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.

(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn – Phạm Lữ Ân)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.

Câu 2: Vì sao nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương.

Câu 3: Theo em, việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa gì?

Câu 4: Em rút ra được thông điệp gì từ những câu văn sau: “Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình

2
21 tháng 7 2021

đọc

nha

21 tháng 5 2025

Dưới đây là gợi ý trả lời cho các câu hỏi đọc hiểu dựa trên đoạn trích từ tác phẩm Nếu biết trăm năm là hữu hạn của Phạm Lữ Ân:


Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.

  • Phương thức biểu đạt chính: Tự sự kết hợp với nghị luận.
  • Đoạn trích kể lại câu chuyện về lời dạy của ba dành cho nhân vật "tôi" (tự sự), đồng thời thể hiện quan điểm, suy nghĩ về giá trị của sự chính trực và tình yêu thương (nghị luận).

Câu 2: Vì sao nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương?

  • Nhân vật "tôi" muốn trở thành người chính trực và biết yêu thương vì ba mẹ đã dạy rằng dù con có sai lầm, ba mẹ vẫn yêu thương con vô điều kiện.
  • Nhưng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành người chính trực và biết yêu thương.
  • Lời dạy đó là động lực và lí do duy nhất để nhân vật "tôi" quyết tâm trở thành người như vậy.

Câu 3: Theo em, việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa gì?

  • Câu trích nhấn mạnh tính liên tục của việc giáo dục và truyền lại giá trị đạo đức qua các thế hệ.
  • Việc dạy con không chỉ ảnh hưởng đến con cái mà còn ảnh hưởng đến cả các thế hệ tiếp theo (cháu chắt).
  • Điều này thể hiện trách nhiệm và tầm quan trọng của việc giáo dục con cái trong gia đình.

Câu 4: Em rút ra được thông điệp gì từ những câu văn sau:

“Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.”

  • Thông điệp:
    • Sự học hỏi từ người thân, đặc biệt là từ cha mẹ, có ý nghĩa sâu sắc và đặc biệt hơn so với việc học từ người khác.
    • Những bài học đời thường, kỹ năng sống khi được truyền đạt từ người thân yêu mang giá trị tinh thần và tình cảm lớn lao.
    • Mối quan hệ gắn bó, sự tin tưởng và tình cảm gia đình làm cho việc học trở nên ý nghĩa và đáng trân trọng hơn.

Nếu bạn cần mình giải thích thêm hoặc hỗ trợ làm bài tập khác, cứ hỏi nhé!



I. Đọc hiểu Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:             Hy vọng là một thứ rất tuyệt diệu. Hy vọng cong, xoắn, thỉnh thoảng nó khuất đi nhưng hiếm khi nó tan vỡ… Hy vọng duy trì cuộc sống của chúng ta mà không có gì có thể thay thế được… Hy vọng cho chúng ta có thể tiếp tục, cho chúng ta can đảm để tiến lên phía trước, khi chúng ta tự nhủ là mình sắp bỏ...
Đọc tiếp

I. Đọc hiểu

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

            Hy vọng là một thứ rất tuyệt diệu. Hy vọng cong, xoắn, thỉnh thoảng nó khuất đi nhưng hiếm khi nó tan vỡ… Hy vọng duy trì cuộc sống của chúng ta mà không có gì có thể thay thế được… Hy vọng cho chúng ta có thể tiếp tục, cho chúng ta can đảm để tiến lên phía trước, khi chúng ta tự nhủ là mình sắp bỏ cuộc…

            Hy vọng đặt nụ cười lên gương mặt chúng ta khi mà trái tim không chủ động được điều đó.

            Hy vọng đặt đôi chân chúng ta lên con đường mà mắt chúng ta không nhìn thấy được…

            Hy vọng thúc giục chúng ta hành động khi tinh thần chúng ta không nhận biết được phương hướng nữa… Hy vọng là điều kì diệu, một điều cần được nuôi dưỡng và ấp ủ và đổi lại nó sẽ làm cho chúng ta luôn sống động… Và hi vọng có thể tìm thấy trong mỗi chúng ta, và nó có thể mang ánh sáng vào những nơi tăm tối nhất…

            Đừng bao giờ mất hi vọng!

(Trích Luôn mỉm cười với cuộc sống –

Nhã Nam tuyển chọn, NXB Trẻ, 2011, tr.05)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích. (0.5 điểm)

Câu 2: Theo tác giả, hy vọng có thể tìm thấy ở đâu? (0.5 điểm)

Câu 3: Nêu tác dụng của phép điệp từ “hy vọng” được sử dụng trong đoạn trích. (1.0 điểm)

Câu 4: Anh/chị có đồng tình với quan niệm: Đừng bao giờ đánh mất hi vọng. Vì sao? (1.0 điểm)

8

1, nghị luận

2, Tác dụng: nhấn mạnh thông điệp mà văn bản muốn truyền đạt đó là vai trò của hy vọng đối với đời sống tinh thần của mỗi con người.

3, 

Tác giả cho rằng "hy vọng duy trì cuộc sống của chúng ta mà không có gì có thể thay thế được" bởi vì hy vọng chính là những niềm tin vào những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, là những niềm tin vững chắc vào những điều tuyệt vời sẽ xảy ra. Chính vì vậy, nhờ có hy vọng mà con người dù trong hoàn cảnh tồi tệ và tối tăm nhất vẫn sẽ luôn vững tin và có sức mạnh để tiếp tục nỗ lực và vượt qua được những thử thách chông gai. Nói cách khác, hy vọng chính là nguồn sức mạnh tinh thần của mỗi người trong cuộc sống.

4,

Thông điệp mà em tâm đắc nhất chính là "đừng bao giờ đánh mất hy vọng". Bởi vì hy vọng chính là nguồn sức mạnh giúp mỗi cá nhân vượt qua những thử thách, chông gai và mở ra con đường cho mỗi người định hướng trong tương lai. Nhờ có hy vọng mà con người vẫn tích cực và hạnh phúc sống dù trong hoàn cảnh bế tắc vì còn hy vọng là còn sức mạnh tinh thần để đạt được điều mà mình mong muốn.

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: Đá san hô kê lên thành sân khấu Vài tấm tôn chôn mấy cánh gà Em đừng trách bọn chúng anh tạm bợ Chẳng phông màn nào chịu nổi gió Trường Sa   Gió rát mặt, đảo luôn thay hình dạng Đá củ đậu bay như lũ chim hoang Cứ mặc nó! Nào hỡi các chiến hữu Ta bắt đầu thôi. Mây nước đã mở...
Đọc tiếp

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

Đá san hô kê lên thành sân khấu

Vài tấm tôn chôn mấy cánh gà

Em đừng trách bọn chúng anh tạm bợ

Chẳng phông màn nào chịu nổi gió Trường Sa

 

Gió rát mặt, đảo luôn thay hình dạng

Đá củ đậu bay như lũ chim hoang

Cứ mặc nó! Nào hỡi các chiến hữu

Ta bắt đầu thôi. Mây nước đã mở màn…

 

Sân khấu lô nhô mấy chàng đầu trọc

Người xem ngổn ngang cũng… rặt lính trọc đầu

Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc

Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau

 

[…] Nào hát lên cho đêm tối biết

Rằng tình yêu sáng trong ngực ta đây

Ta đứng vững trên đảo xa sóng gió

Tổ quốc Việt Nam bắt đầu ở nơi này.

 

(Trích Lính đảo hát tình ca trên đảo, Trần Đăng Khoa,

Bên cửa sổ máy bay, NXB Tác phẩm mới, 1985)

Câu 1: Đoạn  trích trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2: Chỉ ra hai hình ảnh trong đoạn trích diễn tả sự khắc nghiệt của thiên nhiên nơi biển đảo.

Câu 3: Những dòng thơ sau giúp anh/chị hiểu gì về cuộc sống của người lính nơi đảo xa?

Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc

 Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau.

Câu 4: Anh/chị hãy nhận xét về tình cảm của tác giả đối với người lính đảo trong đoạn trích.

49
14 tháng 5 2021

1

Thể thơ: tự do

2

Hai hình ảnh nói đến sự khắc nghiệt của thiên nhiên nơi biển đảo:

- Gió rát mặt, Đá củ đậu bay, Nước ngọt hiếm…

(Thí sinh chỉ ra đúng 2 hình ảnh được 0.5 điểm).

3

Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc

  Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau.

Hai dòng thơ trên cho thấy cuộc sống của người lính nơi đảo xa:

- Đó là cuộc sống vô cùng khó khăn, gian khổ, mà người lính thường xuyên phải đối diện (gió bão, thiếu thốn…)

- Tuy nhiên những người lính vẫn lạc quan, yêu đời.

4

- Tác giả thể hiện sự đồng cảm, chia sẻ với cuộc sống của những người lính đảo.

- Đồng thời cho thấy sự trân trọng những phẩm chất đáng quý: tinh thần lạc quan, ý chí nghị lực phi thường và tình yêu tổ quốc.

-> Nhận xét về tình cảm:

- Đây là những tình cảm chân thành, thể hiện trái tim yêu thương tinh tế, sâu sắc của tác giả.

- Tình cảm của tác giả cũng là đại diện cho tất cả những người dân Việt Nam dành tình yêu thương, sự cảm phục gửi đến những người lính nơi đảo xa.

Câu 1 :thể thơ tự do

Câu 2: Những hình ảnh thể hiện cho sự gian khó ở Trường Sa: đá san hô kê lên thành sân khấu, vài tấm tôn chôn mấy cánh gà, gió rát mặt, đảo thay hình dáng, sỏi cát bay như lũ chim hoang.

Câu 3:

Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc

  Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau.

Hai dòng thơ trên cho thấy cuộc sống của người lính nơi đảo xa:

- Đó là cuộc sống vô cùng khó khăn, gian khổ, mà người lính thường xuyên phải đối diện (gió bão, thiếu thốn…)

- Tuy nhiên những người lính vẫn lạc quan, yêu đời.

Câu 4 :Đoạn thơ trích trong bài "Lính đảo hát tình ca trên đảo" của tác giả Trần Đăng Khoa đã khẳng định được tinh thần lạc quan, tươi trẻ của những người lính hải đảo nơi Trường Sa khắc nghiệt cùng tinh thần yêu nước, hướng về tổ quốc của họ. Thật vậy, hình ảnh những người lính hải đảo hiện lên với tầm vóc vĩ đại và tình yêu bất biến dành cho tổ quốc. Đầu tiên, họ là những người lính bất chấp những khó khăn gian khổ để hoàn thành tốt công việc. Điều kiện ở Trường Sa vô cùng khó khăn và khắc nghiệt: gió rát mặt, đảo thay đổi hình dạng, sỏi cát bay như lũ chim hoang. Ở nơi biển đảo hẻo lánh ấy, những người lính hải quân vẫn hiên ngang và cất lên bài hát của tuổi trẻ. Không những có phẩm chất kiên cường mà ta còn thấy được tinh thần tươi trẻ và yêu đời của những người lính ấy. Thứ hai, họ là những người lính khát khao cống hiến cho tổ quốc. Tình yêu của họ được gửi gắm vào lời hát và tiếng lòng của trái tim "Nào hát lên". Tình yêu ấy là động lực để họ "đứng vững" trước những khó khăn và họ còn muốn hát lên cho trời đất, mây nước biết. Tổ quốc đối với những người lính trẻ là thiêng liêng và vĩnh hằng biết nhường nào. Tóm lại, đoạn thơ cho ta thấy được phong thái yêu đời cùng tình yêu tổ quốc của những người lính hải đảo ấy.

Câu 1:

Từ thuở xa xưa thanh niên Việt Nam đã ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình đối với đất nước. Trong thời chiến họ luôn là lực lượng tiên phong trong các phong trào đánh giặc cứu nước, luôn là lực lượng nòng cốt của cách mạng, xả thân vì tổ quốc mà không tiếc thời tuổi trẻ. Vậy chúng ta những thanh niên may mắn được sinh ra trong thời bình, chúng là phải có trách nhiệm như thế nào để gìn giữ và bảo vệ tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng đã được đổi bằng xương máu của biết bao thế hệ đi trước, phải làm gì để xứng đáng hưởng được những thành quả ngày hôm nay. Mỗi chúng ta phải xác định cho mình một lí tưởng sống cao đẹp, phải có ước mơ và hoạch định ra cho mình một kế hoạch cụ thể, phải rèn đức luyện tài, phải hiểu được vai trò đất nước đối với chúng ta, có như vậy chúng ta mới xác định được đúng đắn nhiệm vụ của mình đối với đất nước. Chúng ta ra sức học tập cũng là đang thực hiện nhiệm của của mình với đất nước, nó không phải là một cái gì đó sâu xa như các bạn nghĩ nó chỉ đơn giản là làm tốt bổn phận của mình để phấn đấu trở thành một công dân tốt góp phần xây dựng một đất nước giàu đẹp vững mạnh. Như vậy trách nhiệm của thanh niên ở thời chiến hay thời bình đều do ý thức mỗi con người tuy nhiên nó lại được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau.

Câu 2:

Bàn về kết thúc đoạn trích "Vợ chồng A Phủ"

– Ý kiến thứ nhất: hành động cắt nút dây mây cởi trói cứu A Phủ rồi chạy theo A Phủ của nhân vật Mị thật bất ngờ, đột ngột, không thể dự đoán trước: Đánh giá kết thúc của truyện Vợ chồng A Phủ là bất ngờ với mạch truyện, tâm trạng nhân vật Mị và cả người đọc.

– Ý kiến thứ hai: Đó là là một kết thúc tự nhiên, tất yếu:  ý kiến này nhìn nhận, đánh giá kết thúc của tác phẩm trong mối quan hệ với lô gíc diễn biến tâm trạng nhân vật Mị và mạch vận động tất yếu của đời sống con người: khi bị dồn đẩy đến bước đường cùng, con người sẽ vùng lên tìm ánh sáng cho mình.

Bình luận các ý kiến:

 Cả hai ý kiến đều đúng, không đối lập mà bổ sung cho nhau, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tài năng kể chuyện, miêu tả nội tâm nhân vật của nhà văn Tô Hoài. Đồng thời, ta càng trân trọng hơn .tấm lòng yêu thương, đồng cảm của tác giả đối với người dân nơi đây.

12 tháng 12 2021

-

Cho đoạn trích: với những thằng con trai mười tám tuổi đất nước là nhịp tim có thể khác thường là một làn mây mỏng đến bâng khuâng là mùi mồ hôi thật thà của lính đôi khi là một giọng nữ cao nghe từ Hà Nội hay một bữa cơm rau rừng chúng tôi không muốn chết vì hư danh không thể chết vì tiền bạc chúng tôi lạ xa với những tin tưởng điên...
Đọc tiếp

Cho đoạn trích:

với những thằng con trai mười tám tuổi

đất nước là nhịp tim có thể khác thường

là một làn mây mỏng đến bâng khuâng

là mùi mồ hôi thật thà của lính

đôi khi là một giọng nữ cao nghe từ Hà Nội

hay một bữa cơm rau rừng

chúng tôi không muốn chết vì hư danh

không thể chết vì tiền bạc

chúng tôi lạ xa với những tin tưởng điên cuồng

những liều thân vô ích

đất nước đẹp mênh mang

đất nước thấm tự nhiên đến tận cùng máu thịt

chỉ riêng cho Người, chúng tôi dám chết

 (Trích Thử nói về hạnh phúc, Thanh Thảo)

 

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Trong đoạn thơ trên, chúng tôi dám chết cho đối tượng nào? (0.5 điểm)

Câu 2. Theo đoạn trích, đất nước với những thằng con trai mười tám tuổi là gì? (0.75 điểm)

Câu 3. Việc không viết hoa chữ cái đầu dòng thơ có tác dụng gì? (0.75 điểm)

Câu 4. Đất nước với anh/chị là gì? (Trình bày bằng đoạn văn khoảng 8 – 10 dòng) (1.0 điểm)

4
12 tháng 12 2021

.

2 tháng 4 2024

loading... loading... 

1. Đặt vấn đềSử thi "Đăm Săn" là pho sử thi nổi tiếng của người Ê-đê. Đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" là một trong những trích đoạn tiêu biểu kể lại hành trình chinh phục Nữ Thần Mặt Trời của người anh hùng Đăm Săn. Đồng thời, nó còn phản ánh diện mạo đời sống tinh thần, niềm tin cộng đồng người Ê-đê. Thông qua đoạn trích, không gian sinh hoạt của người...
Đọc tiếp

1. Đặt vấn đề

Sử thi "Đăm Săn" là pho sử thi nổi tiếng của người Ê-đê. Đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" là một trong những trích đoạn tiêu biểu kể lại hành trình chinh phục Nữ Thần Mặt Trời của người anh hùng Đăm Săn. Đồng thời, nó còn phản ánh diện mạo đời sống tinh thần, niềm tin cộng đồng người Ê-đê. Thông qua đoạn trích, không gian sinh hoạt của người Ê-đê được hiện lên rõ nét và trở thành một điểm nhấn thú vị, đáng để khám phá.

2. Giải quyết vấn đề

a. Kiến trúc nhà ở của người Ê-đê trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời"

Trước hết, kiến trúc nhà ở của người Ê-đê trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" gắn liền với hình ảnh nhà sàn dài. Nhà sàn dài là kiến trúc độc đáo và đặc biệt của người Ê-đê ở Tây Nguyên. Đặc trưng của nhà dài Tây Nguyên bao gồm: hình thức của thang, cột sàn và cách bố trí vật dụng trên mặt bằng sinh hoạt. Điều này được miêu tả rất rõ trong đoạn trích ở các chi tiết: "Chồm lên hai lần, chàng leo hết cầu thang. Chàng giậm chân trên sàn sân, hai lần sàn sân làm như vỗ cánh, bảy hàng cột nhà chao qua chao lại từ đông sang tây", "cầu thang trông như cái cầu vồng", "tòa nhà dài dằng dặc", "voi vây chặt sàn sân", "các xà ngang xà dọc đều thếp vàng". Hình ảnh nhà sàn dài dằng dặc, cầu thang, xà ngang xuất hiện nhiều lần và được lặp đi lặp lại cho thấy dấu ấn kiến trúc nhà ở đặc trưng của đồng bào người Ê-đê. Tuy kiến trúc nhà ở không được miêu tả một cách tỉ mỉ nhưng những hình ảnh tiêu biểu như vậy cũng đủ để làm đồng hiện nền văn hóa đặc sắc của vùng Tây Nguyên.

b. Sinh hoạt của người Ê-đê trong không gian nhà ở trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời"

Không gian nhà dài chính là nơi cư trú của người dân Ê-đê. Tại đây diễn ra rất nhiều hoạt động gắn liền với văn hóa của người Ê-đê như hội họp, ăn mừng, kể chuyện sử thi, tổ chức nghi lễ thờ cúng thần linh,... Đoạn văn trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" đã miêu tả lại khung cảnh của người dân như sau: "tôi tớ trải dưới một chiếu trắng, trải trên một chiếu đỏ làm chỗ ngồi cho nhà tù trưởng. Rồi họ đem thuốc sợi cả hòm đồng, thuốc lá cả sọt đại, trầu vỏ cả gùi to, không còn sợ thiếu thuốc thiếu trần cho Đăm Săn ăn, hút. Họ đốt một gà mái ấp, giết một gà mái đẻ, giã gạo trắng như hoa êpang, sáng như ánh mặt trời, nấu cơm mời khách. Họ đi lấy rượu, đem một ché tuk da lươn, một ché êbah Mnông, trên vẽ hoa kơ-ụ, dưới lượn hoa văn, tai ché hình mỏ vẹt xâu lỗ. Đó là những cái ché ngã giá phải ba voi. Ai đi lấy nước cứ đi lấy nước, ai đánh chiêng cứ đánh chiêng, ai cắm cần cứ cắm cần. Cần cắm rồi, người ta mời Đăm Săn vào uống.". Các vật dụng xuất hiện trong đoạn văn như: ché tuk, ché êbah, là những đồ vật được làm bằng gốm với hình hoa văn đa dạng, được xem là những đồ vật quý của người Ê-đê. Nó biểu thị cho sự sung túc, giàu có, phải "ngã giá bằng ba voi" mới có được.

Hơn nữa, đoạn văn còn làm nổi bật được hoạt động và tính cách của người dân Ê-đê. Để thiết đãi vị tù trưởng Đăm Săn - vị khách quý của buôn làng, người dân nô nức thi nhau mang ra những món ăn ngon nhất, những loại thuốc quý nhất để thiết đãi: thuốc sợi, thuốc lá, trầu vỏ, gà mái ấp, gà mái đẻ, gạo trắng. Người Ê-đê hiện lên với nét tính cách xởi lởi, hào phóng, nồng hậu. Những hoạt động thiết đãi tù trưởng Đăm Săn cũng chính là những hoạt động của dân làng khi tiếp đón những vị khách quý từ phương xa.

Bên cạnh đó, chi tiết "chiêng xếp đầy nhà ngoài", "cồng chất đầy nhà trong" và "ai đánh chiêng cứ đánh chiêng, ai cắm cần cứ cắm cần" đã phản ánh phong tục đánh cồng chiêng và uống rượu cần của người dân vùng Tây Nguyên. Cồng chiêng không chỉ là nhạc cụ mà nó còn chứa đựng giá trị văn hóa của cộng đồng người Ê-đê. Chính vì vậy, chi tiết Đăm Săn đến nhà Nữ Thần Mặt Trời thấy hình ảnh "chiêng xếp đầy nhà ngoài, cồng xếp đầy nhà trong" biểu thị cho sự quyền lực và giàu có. Người Ê-đê tin rằng: mỗi một chiếc cồng đều ẩn chứa một vị thần cho nên càng nhiều cồng, cồng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao. Ngoài ra, tục uống rượu cần cũng là một nét đẹp văn hóa trong đời sống của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Rượu cần trong đoạn trích chính là phương tiện để gắn kết tình cảm giữa người tù trưởng Đăm Săn và Đăm Par Kvây. Rượu không chỉ đóng vai trò trong các buổi thực hành nghi lễ để cầu xin đấng thần linh mà nó còn thể hiện đầy đủ tinh thần tập thể của cộng đồng, lòng mến khách của chủ nhà.

Có thể nói, những vật dụng trong căn nhà của người Ê-đê không chỉ gắn liền với hoạt động sống mà còn phản ánh được tính cách, sự giàu có, phồn vinh của cả một cộng đồng.

3. Kết luận

Đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" là đoạn trích quan trọng của sử thi "Đăm Săn". Đoạn trích không chỉ khắc họa vẻ đẹp phi thường, khát vọng mãnh liệt của người anh hùng Đăm Săn mà qua đó, chúng ta còn thấy được những nét đẹp văn hóa, đặc biệt là không gian sinh hoạt của người Ê-đê ở Tây Nguyên. Sử thi "Đăm Săn" cho thấy kiến trúc nhà dài, vật dụng gắn liền với sinh hoạt và lối sống, tính cách của đồng bào người Ê-đê. Các giá trị vật chất, tinh thần của người Ê-đê trong thời đại mới cần phải được bảo tồn và phát huy hơn nữa.

1
30 tháng 11 2025

Tài liệu tham khảo này tu đâu