Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
- Tự vấn bản thân: Trong những khoảnh khắc yên tĩnh, con người có cơ hội nhìn lại hành động, suy nghĩ, sai lầm và cả những ước mơ của mình. Sự thinh lặng giúp ta trung thực hơn với chính mình.
- Thấu hiểu thế giới xung quanh: Như cái cây của Lovelock, vạn vật trong tự nhiên vận hành trong sự thinh lặng tuyệt đối. Lắng nghe sự thinh lặng giúp ta cảm nhận được nhịp đập của sự sống, sự biến đổi tinh tế của thiên nhiên mà những âm thanh huyên náo thường che lấp.
- Tăng cường sự tập trung và sáng tạo: Khi không bị phân tán bởi tiếng ồn, trí óc con người hoạt động hiệu quả hơn, ý tưởng mới mẻ dễ dàng nảy sinh.
- Văn học hiện thực phê phán: Các nhà văn như Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Ngô Tất Tố (Tắt đèn) đã sử dụng ngòi bút sắc bén để phơi bày những thói hư tật xấu, sự bất công của xã hội, nhằm thức tỉnh cộng đồng. Cái đẹp trong tác phẩm của họ là cái đẹp của sự thật trần trụi, có sức lay động mạnh mẽ.
- Văn học cách mạng: Các nhà thơ như Tố Hữu (Việt Bắc) đã gắn thơ ca với sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Thơ của ông vừa giàu tính trữ tình, vừa mang tính chính trị sâu sắc, là tiếng nói chung của cộng đồng trong công cuộc giải phóng dân tộc.
Câu 1: Nghị luận xã hội (8 điểm)
Chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng
Bài làm:
Con người thường bị cuốn vào những ồn ào, náo nhiệt của cuộc sống, đến mức quên mất rằng sự thinh lặng cũng có thể nói lên rất nhiều điều quan trọng. Trong đoạn văn của James Lovelock, Trái Đất được ví như một cái cây lặng lẽ tồn tại và phát triển một cách âm thầm. Điều đó khiến ta nhận ra: có những thay đổi lớn lao, những câu chuyện sâu sắc không cần lời nói vẫn đang diễn ra ngay bên cạnh chúng ta, trong sự yên tĩnh và tĩnh lặng.
Lắng nghe sự thinh lặng chính là một cách để ta thấu hiểu, cảm nhận sâu sắc hơn về thế giới xung quanh. Sự thinh lặng không phải là khoảng trống, không phải là sự vắng mặt của âm thanh, mà là một trạng thái tích cực, chứa đựng sự sống động và những thông điệp mà tiếng ồn không thể mang lại. Khi ta biết dừng lại, lắng nghe thinh lặng, ta sẽ nhận ra những vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, sự biến đổi của cuộc sống và cả tiếng nói của chính tâm hồn mình.
Trong cuộc sống hiện đại, con người dễ bị cuốn vào guồng quay công việc, công nghệ, xã hội mà quên mất việc dành thời gian để yên tĩnh suy ngẫm, tĩnh tâm. Việc lắng nghe sự thinh lặng không chỉ giúp ta lấy lại cân bằng tinh thần mà còn giúp ta hiểu rõ hơn về bản thân và những giá trị cuộc sống. Sự thinh lặng là nguồn sức mạnh để ta đối diện với khó khăn, là không gian để nuôi dưỡng trí tuệ và lòng nhân ái.
Thực tế, nhiều bậc vĩ nhân, nhà sáng tạo nghệ thuật, nhà tư tưởng đều trân trọng khoảng lặng để sáng tạo và suy nghĩ sâu sắc. Thiên nhiên cũng dạy chúng ta bài học quý giá về sự kiên nhẫn và phát triển bền vững qua sự thinh lặng của cây cối, đất trời. Lắng nghe sự thinh lặng là học cách quan sát, trân trọng những điều nhỏ bé mà bền vững.
Như vậy, trong cuộc sống bộn bề ngày nay, mỗi người cần biết tôn trọng và dành thời gian lắng nghe sự thinh lặng. Đó là con đường dẫn ta đến sự thấu hiểu, cảm thông và yêu thương. Sự thinh lặng không phải là khoảng cách, mà là kết nối sâu sắc với thế giới và chính bản thân mình.
Kết luận:
Lắng nghe sự thinh lặng là nghệ thuật sống, là cách để ta khám phá những giá trị chân thật và trường tồn. Hãy học cách dừng lại, lắng nghe và cảm nhận, để cuộc sống thêm ý nghĩa và sâu sắc hơn.
Câu 2: Nghị luận văn học (12 điểm)
Bàn luận câu nói của A. Camus:
“Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”
Bài làm:
Albert Camus – nhà văn, triết gia lỗi lạc của thế kỷ XX đã đưa ra một quan điểm sâu sắc về người nghệ sĩ và vị trí của họ trong xã hội. Theo ông, người nghệ sĩ không tồn tại tách biệt mà luôn vận động trong mối quan hệ hai chiều: giữa cá nhân với cái đẹp và giữa cá nhân với cộng đồng.
Thứ nhất, cái đẹp không thể bỏ qua là mục tiêu, là lý tưởng mà người nghệ sĩ theo đuổi. Người nghệ sĩ luôn không ngừng tìm kiếm, sáng tạo ra cái đẹp qua tác phẩm của mình – đó có thể là vẻ đẹp thẩm mỹ, vẻ đẹp tư tưởng hay vẻ đẹp nhân văn. Cái đẹp ấy vượt lên trên sự tầm thường, cái đẹp là nguồn cảm hứng và là tiếng nói riêng của người nghệ sĩ, giúp họ khẳng định giá trị và bản sắc cá nhân.
Tuy nhiên, người nghệ sĩ cũng không thể tách rời cộng đồng – nơi họ sinh sống và làm việc. Cộng đồng là nơi cung cấp chất liệu sáng tạo, là đối tượng truyền tải thông điệp, là nguồn cảm hứng và cũng là nơi tác phẩm được đón nhận. Người nghệ sĩ có trách nhiệm phản ánh, phê phán xã hội, góp phần định hướng những giá trị tích cực, đồng thời thấu hiểu, đồng cảm với cuộc sống con người. Nghệ thuật vì thế luôn mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc.
Mối tương quan liên tục giữa cái đẹp và cộng đồng tạo nên một con đường mà người nghệ sĩ phải đi – đó là quãng đường tôi luyện bản thân không ngừng nghỉ. Họ vừa phải giữ vững lý tưởng sáng tạo, vừa phải lắng nghe, giao tiếp và đồng hành với con người và xã hội. Nếu chỉ theo đuổi cái đẹp mà quên cộng đồng, nghệ thuật sẽ trở nên hời hợt, xa rời thực tế; ngược lại, nếu chỉ chú trọng cộng đồng mà thiếu cái đẹp, nghệ thuật sẽ mất đi giá trị thẩm mỹ và chiều sâu nhân văn.
Thực tế trong văn học Việt Nam và thế giới đã có nhiều nghệ sĩ tiêu biểu sống và sáng tạo theo tinh thần này. Họ luôn hướng tới cái đẹp – cái đẹp của sự chân thực, nhân hậu và tự do; đồng thời luôn giữ mối liên hệ mật thiết với đời sống nhân dân, phản ánh những vấn đề xã hội, con người một cách sâu sắc và thuyết phục.
Như vậy, câu nói của A. Camus đã nhấn mạnh sự cân bằng cần thiết trong đời sống nghệ sĩ, giữa cá nhân và xã hội, giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng. Người nghệ sĩ không chỉ là người sáng tạo mà còn là người đồng hành, người truyền cảm hứng và người bảo vệ những giá trị cao đẹp của nhân loại.
Kết luận:
Người nghệ sĩ thực sự là người tôi luyện trong hành trình kết nối giữa chính mình và cộng đồng, giữa cái đẹp không thể bỏ qua và trách nhiệm đối với xã hội. Chỉ khi đó, nghệ thuật mới phát huy được sức mạnh và giá trị đích thực của nó.
Câu 1:
Từ thuở xa xưa thanh niên Việt Nam đã ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình đối với đất nước. Trong thời chiến họ luôn là lực lượng tiên phong trong các phong trào đánh giặc cứu nước, luôn là lực lượng nòng cốt của cách mạng, xả thân vì tổ quốc mà không tiếc thời tuổi trẻ. Vậy chúng ta những thanh niên may mắn được sinh ra trong thời bình, chúng là phải có trách nhiệm như thế nào để gìn giữ và bảo vệ tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng đã được đổi bằng xương máu của biết bao thế hệ đi trước, phải làm gì để xứng đáng hưởng được những thành quả ngày hôm nay. Mỗi chúng ta phải xác định cho mình một lí tưởng sống cao đẹp, phải có ước mơ và hoạch định ra cho mình một kế hoạch cụ thể, phải rèn đức luyện tài, phải hiểu được vai trò đất nước đối với chúng ta, có như vậy chúng ta mới xác định được đúng đắn nhiệm vụ của mình đối với đất nước. Chúng ta ra sức học tập cũng là đang thực hiện nhiệm của của mình với đất nước, nó không phải là một cái gì đó sâu xa như các bạn nghĩ nó chỉ đơn giản là làm tốt bổn phận của mình để phấn đấu trở thành một công dân tốt góp phần xây dựng một đất nước giàu đẹp vững mạnh. Như vậy trách nhiệm của thanh niên ở thời chiến hay thời bình đều do ý thức mỗi con người tuy nhiên nó lại được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau.
Câu 2:
Bàn về kết thúc đoạn trích "Vợ chồng A Phủ"
– Ý kiến thứ nhất: hành động cắt nút dây mây cởi trói cứu A Phủ rồi chạy theo A Phủ của nhân vật Mị thật bất ngờ, đột ngột, không thể dự đoán trước: Đánh giá kết thúc của truyện Vợ chồng A Phủ là bất ngờ với mạch truyện, tâm trạng nhân vật Mị và cả người đọc.
– Ý kiến thứ hai: Đó là là một kết thúc tự nhiên, tất yếu: ý kiến này nhìn nhận, đánh giá kết thúc của tác phẩm trong mối quan hệ với lô gíc diễn biến tâm trạng nhân vật Mị và mạch vận động tất yếu của đời sống con người: khi bị dồn đẩy đến bước đường cùng, con người sẽ vùng lên tìm ánh sáng cho mình.
Bình luận các ý kiến:
Cả hai ý kiến đều đúng, không đối lập mà bổ sung cho nhau, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tài năng kể chuyện, miêu tả nội tâm nhân vật của nhà văn Tô Hoài. Đồng thời, ta càng trân trọng hơn .tấm lòng yêu thương, đồng cảm của tác giả đối với người dân nơi đây.
Câu 1 (trang 53 sgk Tiếng Việt 4) :
Tìm danh từ chỉ khái niệm trong số các danh từ được in đậm dưới đây.
Một điểm nổi bật trong đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh là lòng thương người... Chính vì thấy nước mất, nhà tan... mà Người đã ra đi học tập kinh nghiệm của cách mạng thế giới để về giúp đồng bào.
Theo TRƯỜNG CHINH
Trả lời:
Danh từ chỉ khái niệm trong đoạn văn đã cho là: điểm, đạo đức, kinh nghiệm, cách mạng.
câu 1: Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do
Câu 2: Biện pháp nghệ thuật là so sánh
Câu 3: Những câu thơ trên miêu tả rõ hình ảnh con người trước biển: dù bão dông, thiên nhiên khắc nghiệt như nào thì con người vẫn luôn lạc quan hướng về phía trước, con người vẫn bình thản, chịu đựng những đau thương, khó khăn thử thách
Câu 4: tình yêu quê hương biển cả được tác giả thể hiện qua đoạn trích: tác giả đã dành tình yêu tha thiết với que hương mình, dù có bão giông, gió lốc thì biển vẫn là nơi tìm về của những đứa con làng chài. Biển còn là nơi ông cha ta làm lên tất cả vì vậy tình yêu biển vả còn là sự biết ơn, chân trọng quá khứ.
Câu 1 : Đoạn trính trên được viết theo thể thơ : Tự do
Câu 2: Biện pháp tu từ được sử dụng : So sánh
Câu3 :
- Hình tượng biển ( thiên nhiên ) dù bão giông,khắc nghiệt thì những con người lao động không vì thế mà sợ hãi - đó là cách con người làm chủ được thiên nhiên,coi đó chỉ như một thử thách,một lẽ thường tình của mẹ thiên nhiên,họ vẫn bình thản,bản lĩnh,kiên cường trước những đau thương mà thiiên nhiên gây ra.
- Người lao động Việt Nam mạnh mẽ,cần cù,luôn lạc quan,kiên cường vượt qua khó khăn vững bước trên mặt biển
Câu 4 :
Qua đoạn trích,có thể thấy được rõ nét nhất 2 thứ : Tình cảm sâu nặng mà tác giả dành cho biển cả quê hương và sư trân trọng công lao của ông cha ta trong quá khứ.Tình cảm của tác giả dành cho biển cả quê hương rất sâu sắc,dẫu có khắc nghiệt, khó khăn nhưng biển vẫn là nơi nuôi sống những con người Việt Nam,là nhà,là nơi ta tìm về.Đặc biệt,tình yêu không chỉ thể hiện qua sự trân trọng quá khứ, biết ơn công lao cha ông ta,phát huy lại truyền thống dân tộc,tao nên sức mạnh đoàn kết giữa người với người
1 | Thể thơ: tự do |
2 | Hai hình ảnh nói đến sự khắc nghiệt của thiên nhiên nơi biển đảo: - Gió rát mặt, Đá củ đậu bay, Nước ngọt hiếm… (Thí sinh chỉ ra đúng 2 hình ảnh được 0.5 điểm). |
3 | Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau. Hai dòng thơ trên cho thấy cuộc sống của người lính nơi đảo xa: - Đó là cuộc sống vô cùng khó khăn, gian khổ, mà người lính thường xuyên phải đối diện (gió bão, thiếu thốn…) - Tuy nhiên những người lính vẫn lạc quan, yêu đời. |
4 | - Tác giả thể hiện sự đồng cảm, chia sẻ với cuộc sống của những người lính đảo. - Đồng thời cho thấy sự trân trọng những phẩm chất đáng quý: tinh thần lạc quan, ý chí nghị lực phi thường và tình yêu tổ quốc. -> Nhận xét về tình cảm: - Đây là những tình cảm chân thành, thể hiện trái tim yêu thương tinh tế, sâu sắc của tác giả. - Tình cảm của tác giả cũng là đại diện cho tất cả những người dân Việt Nam dành tình yêu thương, sự cảm phục gửi đến những người lính nơi đảo xa. |
Câu 1 :thể thơ tự do
Câu 2: Những hình ảnh thể hiện cho sự gian khó ở Trường Sa: đá san hô kê lên thành sân khấu, vài tấm tôn chôn mấy cánh gà, gió rát mặt, đảo thay hình dáng, sỏi cát bay như lũ chim hoang.
Câu 3:
Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc
Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau.
Hai dòng thơ trên cho thấy cuộc sống của người lính nơi đảo xa:
- Đó là cuộc sống vô cùng khó khăn, gian khổ, mà người lính thường xuyên phải đối diện (gió bão, thiếu thốn…)
- Tuy nhiên những người lính vẫn lạc quan, yêu đời.
Câu 4 :Đoạn thơ trích trong bài "Lính đảo hát tình ca trên đảo" của tác giả Trần Đăng Khoa đã khẳng định được tinh thần lạc quan, tươi trẻ của những người lính hải đảo nơi Trường Sa khắc nghiệt cùng tinh thần yêu nước, hướng về tổ quốc của họ. Thật vậy, hình ảnh những người lính hải đảo hiện lên với tầm vóc vĩ đại và tình yêu bất biến dành cho tổ quốc. Đầu tiên, họ là những người lính bất chấp những khó khăn gian khổ để hoàn thành tốt công việc. Điều kiện ở Trường Sa vô cùng khó khăn và khắc nghiệt: gió rát mặt, đảo thay đổi hình dạng, sỏi cát bay như lũ chim hoang. Ở nơi biển đảo hẻo lánh ấy, những người lính hải quân vẫn hiên ngang và cất lên bài hát của tuổi trẻ. Không những có phẩm chất kiên cường mà ta còn thấy được tinh thần tươi trẻ và yêu đời của những người lính ấy. Thứ hai, họ là những người lính khát khao cống hiến cho tổ quốc. Tình yêu của họ được gửi gắm vào lời hát và tiếng lòng của trái tim "Nào hát lên". Tình yêu ấy là động lực để họ "đứng vững" trước những khó khăn và họ còn muốn hát lên cho trời đất, mây nước biết. Tổ quốc đối với những người lính trẻ là thiêng liêng và vĩnh hằng biết nhường nào. Tóm lại, đoạn thơ cho ta thấy được phong thái yêu đời cùng tình yêu tổ quốc của những người lính hải đảo ấy.
mày đừng so sánh tao với nó\n_vì nó là chó còn tao là người\n_Mày đừng bật cười khi nghe điều đó\n_vì cả mày và nó đều chó như nhau
Phần I
Câu 1:
Văn bản tập trung vào vấn đề nghị luận bàn về niềm tin vào bản thân, nỗ lực phấn đấu không bỏ cuộc để vượt qua những khó khăn, thác ghềnh bằng tự lực để chinh phục thành công.
Câu 2:
Biện pháp ẩn dụ:"thác ghềnh, chông gai trên đường" vì tác giả so sánh những chướng ngại vật trên đường đi hàng ngày của mỗi người cũng giống như những khó khăn, gian nan trên đường đời mỗi người phải trải qua để thành công.
Câu 3:
Tác giả đưa hai dẫn chứng về Walt Disney và Helen Keller là để làm dẫn chứng thuyết phục cho vấn đề cần nghị luận của mình đó là đã có những tấm gương gặp muôn vàn khó khăn trắc trở trong cuộc sống nhưng họ không buông xuôi hay dựa dẫm vào người khác mà biết cách đứng dậy sau vấp ngã và thành công.
Câu 4:
Em đồng ý với quan điểm:"Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ là học từ người khác". Những người đi trước và câu chuyện xoay quanh sự thành bại của họ chính là những bài học quý báu cho người sau. Những con người đi trước và thành công sau 1 quá trình gian nan đó chính là những bằng chứng sống để người đời sau tin tưởng vào mình dù có trải qua bao thác ghềnh, chông gai.
Phần II
Có một câu chuyện ngụ ngôn mà hồi bé chúng ta hay được nghe kể về cuộc đua của rùa và thỏ, con thỏ nhanh nhẹn nhưng lại tự phụ, xem thường đối thủ,tuy con rùa chậm chạp nhưng lại nỗ lực không ngừng, kết quả ai cũng biết, con rùa đã thắng con thỏ. Xuyên suốt câu truyện Rùa và Thỏ là ý chí của con rùa, nó không đầu hàng trước những thất bại. Rõ ràng, con thỏ có năng lực nhưng ý chí lại không tốt bằng con rùa, nó vẫn có thể về đến được vách đích nhưng con rùa vẫn chiến thắng nó,đó cũng là sự biểu trưng cho quyết tâm và ý chí của con rùa . Cũng có người từng nói “ Không phải đời người quá khó khăn, mà là do bạn nỗ lực chưa đủ”. Từ câu chuyện trên và câu nói trên, chúng ta có thể thấy được ý chí đóng 1 vai trò cực kì quan trọng trong mỗi bước tiến đến con đường thành công của mỗi con người.
Sức mạnh, trí tuệ hay thiên phú chỉ góp phần nào cho sự khác biệt giữa những người thành công và những người thất bại, nhưng hơn thế nữa quyết định chủ yếu là ở ý chí. Vậy ý chí hay sự quyết tâm là gì mà nó lại đóng góp không nhỏ vào chính cuộc đời chúng ta? Ý chí, nghị lực là ý thức, tính tự giác, mạnh mẽ, quyết tâm dồn nén sức lực, trí tuệ để đạt được tiêu chí, mục đích. Ý chí cũng là phẩm chất tâm lí đặc trưng của con người, thể hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có nỗ lực khắc phục khó khăn.Ngay từ những điều đơn giản nhất trong cuộc sống, bạn được giao một công việc trong nhiều ngày, nhưng bạn đã cố gắng, tập trung để hoàn thành trước thời hạn và nhận thêm một việc làm mới, từ đó năng suất làm việc, hiệu quả công việc và sự tin tưởng từ người giao việc cũng từ đó tăng theo. Chỉ từ một sự quyết tâm nhỏ ấy thôi mà cũng kéo theo được vô cùng nhiều giá trị và lợi ích không chỉ đối với bản than mà còn đối với những người xung quanh chúng ta. Ý chí như thôi thúc bản thân mỗi chúng ta, như tiếp thêm cho ta phần nào sức mạnh để ngày càng tới gần hơn mục tiêu đã đề ra. Câu chuyện được minh chứng bởi Thomas Edison – nhà phát minh tài ba của thế kỉ XX, hơn 10.000 lần thất bại để đem được ánh sáng đến với nhân loại, nếu không có ông thì dường như việc bóng đèn xuất hiện với thế giới sẽ bị đẩy lùi đi mười mấy năm, rõ ràng, chính ý chí quyết tâm của Edison đã khiến con đường của nền văn minh hiện đại của con người trở nên ngắn lại.
Ý chí giúp chúng ta toàn sức tập trung vào mục tiêu bằng cách ngăn cản các suy nghĩ không liên quan khác xảy đến. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ hoàn thành công việc một cách nhanh chóng và hiểu quả. Chủ tịch Hồ chí đã nói:
“Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên”
Câu nói này càng như khẳng định vai trò quan trọng và to lớn của sức mạnh ý chỉ và quyết tâm, đáng sợ nhất không phải là những người có tài năng thiên bẩm mà là những người có nghị lực vươn lên. Ý chí rèn luyện bản thân sự quyết đoán và nhạy bén trong mọi vấn đề cuộc sống từ đó thúc đẩy hành trình của bản thân trở nên tinh gọn. Nghị lực là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với bản thân mỗi người, tuy nhiên không phải ai cũng nhận ra được giá trị cốt lõi của nó. Trái ngược với những người có ý chí là những người thờ ơ, không đủ quyết tâm, nhụt trí trước những thử thách cuộc sống. Giới trẻ bây giờ không ít người chưa làm đã vội bỏ cuộc, thấy khó khăn đã nản chí, gặp thất bại thì hủy hoại và sống bất cần đời. Những người như thế thật đáng chê trách. Là học sinh, chúng ta cần khẳng định tư cách, ý chí, nghị lực vượt qua những khó khăn thử thách .Tài năng của con người được tạo bởi nhiều yếu tố. Trong đó yếu tố tự rèn là yếu tố quan trọng nhất để đi đến thành công. Để thấy mình không thấp hơn người khác, bản thân phải có sự lao động chăm chỉ, cần cù, không chùn bước trước gian nguy, phải biết tự tin vào chính bản thân trên bước đường đời.
Nhìn chung, một lần nữa cần phải khẳng định lại giá trị của câu nói “ Ý chí tốt làm con đường ngắn lại”. Ý chí mang đến thành công và giúp ta chinh phục mọi khó khăn trên con đường gập ghềnh phía trước. Những con người thành công và nổi tiếng nhất đều là những người có ý chí rất mạnh mẽ.Vậy nên việc rèn luyện và giữ vững một ý chí kiên cường luôn là điều tất yếu trên chặng đường của cuộc đời
1, nghị luận
2, Tác dụng: nhấn mạnh thông điệp mà văn bản muốn truyền đạt đó là vai trò của hy vọng đối với đời sống tinh thần của mỗi con người.
3,
Tác giả cho rằng "hy vọng duy trì cuộc sống của chúng ta mà không có gì có thể thay thế được" bởi vì hy vọng chính là những niềm tin vào những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, là những niềm tin vững chắc vào những điều tuyệt vời sẽ xảy ra. Chính vì vậy, nhờ có hy vọng mà con người dù trong hoàn cảnh tồi tệ và tối tăm nhất vẫn sẽ luôn vững tin và có sức mạnh để tiếp tục nỗ lực và vượt qua được những thử thách chông gai. Nói cách khác, hy vọng chính là nguồn sức mạnh tinh thần của mỗi người trong cuộc sống.
4,
Thông điệp mà em tâm đắc nhất chính là "đừng bao giờ đánh mất hy vọng". Bởi vì hy vọng chính là nguồn sức mạnh giúp mỗi cá nhân vượt qua những thử thách, chông gai và mở ra con đường cho mỗi người định hướng trong tương lai. Nhờ có hy vọng mà con người vẫn tích cực và hạnh phúc sống dù trong hoàn cảnh bế tắc vì còn hy vọng là còn sức mạnh tinh thần để đạt được điều mà mình mong muốn.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.
Câu 2: Lí do để nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương đó là lời nói của ba: Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”
Câu 3: Việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa:
- Khi chúng ta dạy cho con cái mình những điều tốt đẹp, chúng sẽ mang những điều tốt đẹp đó để cư xử với tất cả mọi người xung quanh và dạy dỗ thế hệ sau.
- Những điều tốt đẹp ấy sẽ lan tỏa, có sức ảnh hưởng tích cực đến muôn đời sau.
- Làm tăng ý nghĩa, tính triết lí cho văn bản.
- Làm tăng sức thuyết phục, tin cậy cho nội dung mà tác giả muốn gửi gắm.
Câu 4:
- Trong cuộc đời mỗi người luôn có nhiều người thầy nhưng cha mẹ luôn là người thầy đầu tiên của con.
- Mỗi chúng ta sẽ cảm thấy ấm áp và hạnh phúc vô cùng khi được học những điều bình dị từ chính người cha yêu quý của mình. Cha luôn là người dành cả tình yêu thương và tấm lòng bao la của tình phụ tử thiêng liêng để chỉ bảo ta trên đường đời.
- Bài học từ người thầy đầu tiên ấy là điều vô cùng quý giá, sẽ để lại dấu ấn sâu sắc và gợi nhiều kỉ niệm để nhớ về trên chặng đường sau này.
Câu 1: thể thơ thất ngôn tứ tuyệt
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản
Bài thơ gồm 4 câu, mỗi câu có 7 chữ, được viết bằng chữ Hán và có kết cấu ngắn gọn, chặt chẽ theo kiểu thơ cổ. Đây là những dấu hiệu tiêu biểu của thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Vì vậy, có thể khẳng định văn bản được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
Câu 2. Xác định luật của bài thơ
Bài thơ tuân thủ các quy tắc cơ bản của thơ Đường như niêm, luật và vần. Các câu thơ có sự cân đối về hình thức và ý nghĩa, đặc biệt là sự đối lập giữa thơ xưa và thơ nay. Nhịp điệu thơ đều, giọng điệu trang trọng. Do đó, bài thơ được sáng tác theo luật Đường.
Câu 3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ trong bài thơ
Một biện pháp tu từ gây ấn tượng trong bài thơ là biện pháp ẩn dụ qua hình ảnh “thép” trong câu “Hiện đại thi trung ương hữu thiết”. Hình ảnh “thép” không chỉ mang nghĩa tả thực mà còn tượng trưng cho tinh thần chiến đấu, ý chí cách mạng và sức mạnh đấu tranh của con người thời đại mới. Biện pháp này giúp bài thơ trở nên mạnh mẽ, thể hiện rõ quan niệm của tác giả rằng thơ ca hiện đại không chỉ để thưởng thức cái đẹp mà còn phải phục vụ cách mạng, cổ vũ hành động và tinh thần đấu tranh.
Câu 4. Vì sao tác giả cho rằng “Hiện đại thi trung ương hữu thiết, / Thi gia dã yếu hội xung phong”?
Tác giả cho rằng thơ ca hiện đại phải có “thép”, nghĩa là phải mang tinh thần chiến đấu, phản ánh hiện thực khốc liệt của xã hội và khơi dậy ý chí đấu tranh. Nhà thơ không thể đứng ngoài cuộc mà phải trực tiếp dấn thân, sẵn sàng xung phong cùng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng. Trong bối cảnh đất nước bị áp bức, nhiệm vụ giải phóng dân tộc đặt lên hàng đầu, vì vậy thơ ca cần trở thành một vũ khí tinh thần phục vụ cho mục tiêu cứu nước. Đây chính là lý do tác giả khẳng định vai trò chiến đấu của thơ ca và người làm thơ.
Câu 5. Nhận xét về cấu tứ của bài thơ
Bài thơ có cấu tứ rõ ràng, mạch lạc. Hai câu đầu nói về đặc điểm của thơ ca xưa, chủ yếu thiên về việc miêu tả vẻ đẹp của thiên nhiên. Hai câu sau chuyển sang bàn luận về thơ ca hiện đại, nhấn mạnh yêu cầu thơ phải có tinh thần chiến đấu và nhà thơ phải biết dấn thân. Sự chuyển ý từ xưa sang nay tạo nên kết cấu chặt chẽ, thể hiện rõ tư tưởng tiến bộ của tác giả. Về nghệ thuật, bài thơ có lời thơ cô đọng, hình ảnh giàu ý nghĩa và mang tính chính luận cao, góp phần làm nổi bật nội dung tư tưởng cách mạng.
Câu 1: Thể thơ của văn bản là thất ngôn tứ tuyệt
Câu 2: Luật của bài thơ: Bài thơ tuân theo luật trắc
Câu 3: Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong (Núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió) Tác dụng: Liệt kê bảy hình ảnh thiên nhiên tiêu biểu trong thơ cổ, thể hiện sự phong phú, đa dạng của đề tài. · Tạo nhịp điệu nhanh, gợi cảm giác dồn dập, như một bức tranh toàn cảnh về thiên nhiên trong thơ xưa. Câu 4: Hoàn cảnh lịch sử đặc biệt: đất nước đang trong giai đoạn kháng chiến, cần thơ ca có tinh thần chiến đấu, cổ vũ tinh thần yêu nước. · Thơ ca không chỉ là nghệ thuật mà còn là vũ khí tinh thần, phục vụ sự nghiệp cách mạng. · Nhà thơ phải là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, “xung phong” trong việc phản ánh hiện thực, động viên tinh thần nhân dân.
Câu 5: Bài thơ có kết cấu đối lập giữa hai phần: · Hai câu đầu: nói về thơ xưa · Hai câu sau: nói về thơ hiện đại · Sự đối lập này làm nổi bật tư tưởng nghệ thuật cách mạng của tác giả: thơ ca phải gắn với thời đại, với nhiệm vụ cứu nước. · Lời thơ ngắn gọn, súc tích, vừa mang tính triết lí vừa giàu hình ảnh, thể hiện tầm nhìn và sự sắc sảo của tác giả.
Câu 1. Bài thơ thuộc thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật
Câu 2. Bài thơ viết theo luật bằng (thất ngôn tứ tuyệt luật bằng).
Câu 3.
BPTT Liệt kê Trong hai câu đầu, tác giả liệt kê hàng loạt hình ảnh thiên nhiên:
núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió.
Tác dụng:
Gợi lên vẻ đẹp phong phú, thơ mộng, giàu chất trữ tình của thơ ca cổ.Làm nổi bật đặc điểm của thơ xưa: thiên về tả cảnh thiên nhiên.Qua đó, tạo cơ sở để đối lập với quan niệm thơ hiện đại ở hai câu sau.
Câu 4.
Theo em, tác giả cho rằng như vậy vì:
Hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ đất nước đang đau khổ, chiến tranh, áp bức.
Thơ ca không thể chỉ say mê cảnh đẹp thiên nhiên như thơ xưa.
Thơ hiện đại cần:
Có “thép” → tinh thần chiến đấu, cách mạng.Nhà thơ phải xung phong, dấn thân vì dân tộc, đất nước.
Câu 5.
Bài thơ có cấu tứ chặt chẽ, mạch lạc:Hai câu đầu: Nhận xét về đặc điểm của thơ ca cổ (thiên về thiên nhiên)Hai câu sau: Đưa ra quan niệm mới về thơ ca hiện đại (phải có tinh thần chiến đấu)Cấu tứ theo kiểu đối lập xưa – nay, từ đó làm nổi bật tư tưởng của tác giả.
Câu 1: thể thơ thất ngôn tứ tuyệt
Câu 2 :bluật trắc
Câu 3:
- Biện pháp tu từ ẩn dụ nổi bật trong hai câu thơ cuối: "Hiện đại thi trung ưng hữu thiết, / Thi gia dã yếu hội xung phong." - Thiết ( sắt ) ẩn dụ cho tính chiến đấu, sự cứng rắn, kiên định của thơ ca hiện đại. - Xung phong ẩn dụ cho hành động dấn thân, đấu tranh trực diện của nhà thơ trước các vấn đề của thời đại. Tác dụng: Các ẩn dụ này nhấn mạnh quan điểm của Bác Hồ về chức năng của thơ ca trong thời kỳ cách mạng: thơ không chỉ để thưởng thức mà phải phục vụ công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, người làm thơ phải là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa.
Câu 4 :
Tác giả cho rằng như vậy vì: + Hoàn cảnh lịch sử Việt Nam lúc bấy giờ là xã hội thuộc địa nửa phong kiến đang suy thoái, cần chuẩn bị lực lượng cho quá trình cứu nước (1939-1945). Thơ ca cần mang tính chiến đấu để phục vụ cách mạng. + Quan niệm của Bác Hồ: Thơ ca hiện đại không thể chỉ dừng lại ở việc thưởng thức cái đẹp như thơ ca xưa mà phải có chức năng thức tỉnh, cổ vũ quần chúng đấu tranh. + Người làm thơ phải dấn thân, trực tiếp tham gia vào công cuộc giải phóng dân tộc, dùng ngòi bút làm vũ khí chiến đấu.
Câu 1. Xác định thể thơ Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật (viết bằng chữ Hán). Câu 2. Xác định luật của bài thơ Luật: Luật trắc, vần bằng. Cụ thể: Chữ thứ hai của câu thứ nhất là "thị" (thanh trắc). Bài thơ hiệp vần ở cuối các câu 1, 2 và 4 ("mỹ", "phong", "phong" - ở đây hiệp vần "ong"). Câu 3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ Biện pháp tu từ: Liệt kê ("Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong" - Núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió). Tác dụng: * Tái hiện sống động và đầy đủ những vẻ đẹp đặc trưng của thiên nhiên trong thơ cổ. Nhấn mạnh sự phong phú nhưng cũng chỉ ra sự hạn chế của thơ xưa khi chỉ tập trung vào phong hoa tuyết nguyệt mà quên đi hiện thực cuộc sống. Câu 4. Vì sao tác giả cho rằng: "Trong thơ thời nay nên có thép / Nhà thơ cũng phải biết xung phong"? Tác giả quan niệm như vậy vì: Hoàn cảnh lịch sử: Đất nước đang trong cuộc đấu tranh sinh tử để giành độc lập, không thể chỉ ngồi ngâm hoa thưởng nguyệt. Chức năng của văn học: Thơ ca không chỉ để giải trí mà phải là vũ khí sắc bén (tính chiến đấu - "thép") để cổ vũ tinh thần cách mạng. Trách nhiệm của nghệ sĩ: Nhà thơ không được đứng ngoài cuộc mà phải là một chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, trực tiếp tham gia và thúc đẩy sự nghiệp cứu nước. Câu 5. Nhận xét về cấu tứ của bài thơ Cấu tứ: Bài thơ được xây dựng trên sự đối lập và chuyển biến giữa cái cũ và cái mới, giữa quá khứ và hiện tại. Hai câu đầu: Nhìn lại truyền thống (thơ xưa), thừa nhận vẻ đẹp của thiên nhiên nhưng thấy sự thiếu hụt. Two câu cuối: Đưa ra tuyên ngôn về thơ ca hiện đại (thơ nay), khẳng định tính chiến đấu. Nhận xét: Cấu tứ rất chặt chẽ, đi từ việc đọc sách đến suy ngẫm về thời đại, từ cảm xúc thẩm mỹ đến ý chí cách mạng, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa chất thép và chất tình của người chiến sĩ - thi sĩ Hồ Chí Minh.
h
Câu 1. Xác định thể thơ Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật → Mỗi câu 7 chữ, gồm 4 câu. Câu 2. Xác định luật của bài thơ Bài thơ thuộc luật bằng trong thơ Đường luật. → Dựa vào cách gieo vần và phối hợp thanh bằng – trắc.
Câu 3. Phân tích một biện pháp tu từ Biện pháp nổi bật: Liệt kê Ví dụ: > “Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong” (Núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió) Tác giả liệt kê hàng loạt hình ảnh thiên nhiên. Tác dụng: Gợi ra vẻ đẹp phong phú, thơ mộng của thơ ca cổ. Thể hiện đặc trưng của thơ xưa: thiên về tả cảnh, ít gắn với đời sống thực tế. Làm nổi bật sự khác biệt giữa thơ xưa và thơ nay. Câu 4. Vì sao tác giả cho rằng: “Hiện đại thi trung ưng hữu thiết, Thi gia dã yếu hội xung phong”? (Nghĩa: Thơ hiện đại phải có “thép”, nhà thơ phải biết xung phong) Vì: Thời đại lúc đó đất nước đang bị áp bức, chiến tranh, đau khổ. Cách mạng cần tinh thần đấu tranh mạnh mẽ. Thơ không thể chỉ ngắm cảnh đẹp mà phải: Phản ánh hiện thực Cổ vũ lòng yêu nước Động viên con người đứng lên chiến đấu
Thơ phải có “chất thép” = ý chí, bản lĩnh, tinh thần cách mạng. Câu 5. Nhận xét về cấu tứ bài thơ Cấu tứ: Chặt chẽ, theo kiểu so sánh – đối chiếu Cụ thể 🔹 Hai câu đầu: Nói về thơ xưa → Yêu thiên nhiên, lãng mạn, thoát ly thực tế. 🔹 Hai câu sau: Nói về thơ nay → Phải gắn với cuộc sống, có tinh thần chiến đấu. Cách triển khai: Thơ xưa ➝ Thơ nay ➝ Rút ra quan điểm sáng tác Cấu tứ rõ ràng, logic, làm nổi bật tư tưởng của tác giả.
Câu1: bài thơ được viết theo nhể thơ thất ngôn tứ tuyệt đường luật
Câu2:bài thơ được vết theo luật bằng của thơ đường luật
Câu3:biện pháp tu từ được liệt kê trong câu
“Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong” (Núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió)
-Tác dụng :+Gợi lên vẻ đẹp quen thuộc, cổ điển của thiên nhiên trong thơ xưa.
+Làm nổi bật nội dung thơ cổ chủ yếu ca ngợi cảnh đẹp, ít phản ánh hiện thực xã hội.
+Tạo tiền đề để tác giả so sánh với thơ hiện đại ở hai câu sau.
Câu4:
-Vì:+Thời đại lúc bấy giờ đất nước đang trong cảnh mất nước, nhân dân đau khổ, cách mạng cần đấu tranh.
+Thơ ca không chỉ ca ngợi thiên nhiên mà phải phục vụ cuộc sống, phục vụ cách mạng.
+Nhà thơ phải có tinh thần chiến đấu, dấn thân, cổ vũ con người đứng lên chống áp bức.
=>Thơ hiện đại cần “có thép”, nhà thơ phải biết “xung phong”.
Câu5:
-Cấu tứ bài thơ theo kiểu so sánh – đối chiếu:
+Hai câu đầu: nói về đặc điểm của thơ ca xưa (thiên về vẻ đẹp thiên nhiên).
+Hai câu sau: khẳng định yêu cầu của thơ ca hiện đại (phải có tinh thần chiến đấu).
=>Cấu tứ chặt chẽ, rõ ràng, thể hiện tư tưởng tiến bộ về chức năng của thơ ca.
c1 Thể thơ của văn bản là thất ngôn tứ tuyệt
c2 bài thơ sử dụng luật trắc
c3 biện pháp sử dụng trong đoạn thơ trên" liệt kê" ---liệt kê hình ảnh thiên nhiên tiêu biểu đẹp đẽ và quen thuộc trong bài thơ ca truyền thống từ đó khái quát đậm đặc trưng nội dung chủ đạo của thơ xưa thiên về miêu tả ngợi ca vẻ đẹp thiên nhiên----tạo nhịp điệu nhanh dồn dập liên tiếp cho câu thơ gợi lên sự phong phú dày đặc các đề tài thiên nhiên trong thơ cổ
c4 Tác giả cho rằng “Trong thơ thời nay nên có thép, / Nhà thơ cũng phải biết xung phong” vì
hoàn cảnh sáng tác lúc bấy giờ đòi hỏi thơ ca phải gắn bó liền với cách mạng phản ánh tinh thần chiến đấu ý chí kiên cường
c5 cấu tứ của bài thơ được xây dựng theo lối đối lập giữa quá khứ và hiện tại
Câu 1: Thất ngôn tứ tuyệt
Câu 2: Trắc vần bằng
Câu 3:
-Biện pháp tu từ liệt kê
-Liệt kê hình ảnh thiên nhiên: núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió
Tác dụng:
-Tái hiện trọn vẹn vẻ đẹp mỹ lệ, phong phú của thiên nhiên trong thơ cũ.
-Tạo nhịp điệu dồn dập, nhấn mạnh sự say mê cái đẹp của các thi nhân xưa.
Câu 4:
-Tác giả đưa ra quan điểm này vì: + Đất nước đang trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, vận mệnh dân tộc đang trong tình thế "ngàn cân treo sợi tóc".
+ Thơ ca không chỉ là để thưởng thức cái đẹp mà phải trở thành vũ khí sắc bén phục vụ cách mạng.
Câu 5:
-Bài thơ có cấu tứ đối lập và vận động rất chặt chẽ, sáng tạo.
-Cấu tứ này thể hiện sự chuyển biến từ một thi sĩ có tâm hồn nghệ sĩ sang một chiến sĩ cách mạng kiên trung.
câu 1:
thể thơ:7 chữ
câu 2:
luật trắc
câu 3:
-biện pháp tu từ:liệt kệ
-tác dụng: hình ảnh thiên nhiên tiêu biểu trong bài thơ ca truyền thống từ đó khái quát đặc trưng nội dung chủ đạo của thơ xưa thiên về miêu tả gợi ca vẻ đẹp thiên nhiên
câu 4:
vì hoàn cảnh sáng tác lúc bấy giờ đòi hỏi thơ ca gắn liền với cách mạng phản ánh tinh thần chiến đấu ý chí kiên cường.
câu 5:
cấu tứ của bài thơ được xây dựng theo lối đối lập giữa quá khứ và hiện tại
1 Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật (mỗi câu 7 chữ, 4 câu).
2 Bài thơ viết theo luật bằng của thơ Đường.
3Biện pháp tu từ nổi bật: Liệt kê
“Sơn thủy, yên hoa, tuyết, nguyệt, phong” (núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió). Tác dụng: Gợi ra vẻ đẹp phong phú, nên thơ của thiên nhiên trong thơ ca cổ. Làm nổi bật đặc điểm của thơ xưa: thiên về cảm hứng thiên nhiên, trữ tpình. Tạo cơ sở để tác giả đối chiếu với yêu cầu của thơ ca hiện đại ở hai câu sau
4 Vì theo Nguyễn Ái Quốc Thơ ca hiện đại không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cái đẹp, cảm xúc cá nhân.
Trong hoàn cảnh đất nước mất độc lập, xã hội đầy biến động, thơ ca cần mang tinh thần chiến đấu, phục vụ cách mạng.
Nhà thơ không chỉ là người nghệ sĩ mà còn phải là chiến sĩ, biết xung phong vì dân tộc, vì đất nước.
5 Bài thơ có cấu tứ chặt chẽ, rõ ràng:
Hai câu đầu: Nói về đặc điểm của thơ ca cổ (thiên về vẻ đẹp thiên nhiên).
Hai câu sau: Khẳng định quan niệm thơ ca hiện đại (phải có tinh thần chiến đấu). → Cấu tứ theo lối đối sánh xưa – nay, làm nổi bật tư tưởng tiến bộ của tác giả.
Câu 1 : Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2 : Bài thơ viết theo luật bằng của thơ Đường.
Câu 3 : Biện pháp tu từ ẩn dụ – đối lập được sử dụng nổi bật trong bài thơ.
Hình ảnh “thi gia”, “thi trung”, “hội xung phong” mang tính ẩn dụ, cho thấy sự vận động mạnh mẽ, sôi nổi của thơ ca hiện đại, đồng thời đặt trong thế đối lập với thơ cũ đã yếu thế, lạc hậu. Biện pháp này giúp tác giả thể hiện rõ thái độ trân trọng cái mới và phê phán sự bảo thủ của thơ ca cũ.
Câu 4 : Tác giả cho rằng thơ ca hiện đại cần có tinh thần đổi mới mạnh mẽ, dấn thân vào đời sống xã hội, phản ánh hiện thực sôi động của thời đại. Người làm thơ không thể đứng ngoài cuộc mà phải xông pha, nhập cuộc, bắt kịp nhịp sống mới. Quan niệm này thể hiện ý thức cách tân thơ ca và tinh thần tiến bộ của tác giả.
Câu 5 : Bài thơ có cấu tứ chặt chẽ, theo bố cục quen thuộc của thơ Đường luật (đề – thực – luận – kết), nhưng nội dung lại mang tinh thần hiện đại. Tác giả kết hợp hình thức truyền thống với tư tưởng đổi mới, tạo nên nét độc đáo và giá trị riêng cho tác phẩm.
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản
→ Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật
Câu 2. Xác định luật của bài thơ
→ Luật bằng
-Dựa vào thanh điệu của chữ cuối mỗi câu:
-Câu 1: mỹ (bằng)
-Câu 2: phong (bằng)
-Câu 3: thiết (trắc)
-Câu 4: phong (bằng)
→ Phù hợp luật bằng của thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
Câu 3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ mà em ấn tượng
Biện pháp: Liệt kê
Dẫn chứng:
Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong
(núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió)
Tác dụng:
Câu 4 :
Tác giả cho rằng trong thơ ca hiện đại cần có “chất thép” vì:
-Thời đại lúc bấy giờ là thời kỳ đất nước mất độc lập, xã hội đầy biến động, đấu tranh gay gắt.
-Thơ ca không thể chỉ dừng ở việc ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên mà phải:
-Phản ánh hiện thực đấu tranh cách mạng
-Cổ vũ tinh thần chiến đấu, ý chí hành động.
-Người làm thơ cũng phải có bản lĩnh, tinh thần xung phong, dấn thân vì dân tộc và thời đại.
Câu 5. Nhận xét về cấu tứ của bài thơ
Cấu tứ bài thơ chặt chẽ, rõ ràng, theo lối đối lập:
-Hai câu đầu: Nhận xét về thơ ca xưa → thiên về vẻ đẹp thiên nhiên, cảm hứng lãng mạn.
-Hai câu sau: Khẳng định thơ ca hiện đại → phải gắn với hiện thực, có tinh thần chiến đấu.
-Cấu tứ chuyển từ truyền thống → hiện đại, từ thưởng thức → hành động, làm nổi bật tư tưởng của bài thơ.
Thẻ thơ tứ tuyeejy đường luật
C2 Luật: Trắc (căn cứ vào chữ thứ 2 của câu 1 là "thi" - thanh bằng, nhưng xét tổng thể bài thơ này Bác viết theo thi pháp truyền thống, chữ thứ 2 câu 1 là "thi" thuộc thanh Bằng, nên bài thơ thuộc Luật Bằng, vần bằng).
• Vần: Hiệp vần ở cuối các câu 1, 2, 4 (mỹ - phong - phong). Trong nguyên tác chữ Hán, các chữ kết thúc câu 2 và 4 (phong - phong) hiệp vần với nhau.
C3Biện pháp: Liệt kê các hình ảnh thiên nhiên cổ điển (Sơn, thủy, yên, hoa, tuyết, nguyệt, phong - Núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió).
• Tác dụng: * Tái hiện trọn vẹn những đề tài quen thuộc, ước lệ của thơ ca cũ.
• Nhấn mạnh vẻ đẹp thanh cao, mĩ lệ của thiên nhiên nhưng cũng đồng thời chỉ ra sự hạn chế của thơ xưa khi quá thiên về hưởng lạc, tĩnh tại mà thiếu đi hơi thở của thời đại.
C4 Tác giả đưa ra quan điểm này vì:
• Hoàn cảnh lịch sử: Đất nước đang trong cuộc kháng chiến cứu nước, đòi hỏi mọi nguồn lực, bao gồm cả văn chương, phải phục vụ cách mạng.
• Chức năng của văn học: Thơ ca không chỉ để ngâm vịnh hoa lá mà phải có tính chiến đấu ("có thép"). "Thép" ở đây là tinh thần thép, ý chí kiên cường và khát vọng tự do.
• Vai trò của nhà thơ: Người nghệ sĩ không được đứng ngoài cuộc chiến. Nhà thơ cũng là một chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, phải biết "xung phong", dùng ngòi bút làm vũ khí để cổ vũ tinh thần dân tộc.
C5 Sự kết hợp hài hòa giữa cổ điển và hiện đại: * Hai câu đầu mang phong vị cổ điển với những thi liệu quen thuộc.
• Hai câu cuối chuyển sang tinh thần hiện đại, khỏe khoắn của thời đại cách mạng.
• Sự vận động của tư tưởng: Cấu tứ đi từ việc chiêm nghiệm quá khứ (thơ xưa) đến khẳng định yêu cầu của hiện tại (thơ nay). Đó là sự chuyển biến từ thái độ thưởng ngoạn sang thái độ hành động, từ "thi nhân" thuần túy sang "thi sĩ - chiến sĩ".
Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật (mỗi câu 7 chữ, 4 câu).
câu 2 Biện pháp tu từ nổi bật: Liệt kê
“Sơn thủy, yên hoa, tuyết, nguyệt, phong” (núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió).
Tác dụng:
Gợi ra vẻ đẹp phong phú, nên thơ của thiên nhiên trong thơ ca cổ.
Làm nổi bật đặc điểm của thơ xưa: thiên về cảm hứng thiên nhiên, trữ tình.
Tạo cơ sở để tác giả đối chiếu với yêu cầu của thơ ca hiện đại ở hai câu sau.
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản
→ Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật (mỗi câu 7 chữ, 4 câu).
Câu 2. Xác định luật của bài thơ
→ Bài thơ viết theo luật bằng của thơ Đường.
Câu 3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ mà em ấn tượng
Biện pháp tu từ nổi bật: Liệt kê
“Sơn thủy, yên hoa, tuyết, nguyệt, phong” (núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió).
Tác dụng:
Gợi ra vẻ đẹp phong phú, nên thơ của thiên nhiên trong thơ ca cổ.
Làm nổi bật đặc điểm của thơ xưa: thiên về cảm hứng thiên nhiên, trữ tình.
Tạo cơ sở để tác giả đối chiếu với yêu cầu của thơ ca hiện đại ở hai câu sau.
Câu 4. Vì sao tác giả cho rằng:
“Hiện đại thi trung ưng hữu thiết,
Thi gia dã yếu hội xung phong”?
→ Vì theo Nguyễn Ái Quốc:
Thơ ca hiện đại không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cái đẹp, cảm xúc cá nhân.
Trong hoàn cảnh đất nước mất độc lập, xã hội đầy biến động, thơ ca cần mang tinh thần chiến đấu, phục vụ cách mạng.
Nhà thơ không chỉ là người nghệ sĩ mà còn phải là chiến sĩ, biết xung phong vì dân tộc, vì đất nước.
Câu 5. Nhận xét về cấu tứ của bài thơ
→ Bài thơ có cấu tứ chặt chẽ, rõ ràng:
Hai câu đầu: Nói về đặc điểm của thơ ca cổ (thiên về vẻ đẹp thiên nhiên).
Hai câu sau: Khẳng định quan niệm thơ ca hiện đại (phải có tinh thần chiến đấu).
→ Cấu tứ theo lối đối sánh xưa – nay, làm nổi bật tư tưởng tiến bộ của tác giả.
câu 1 Bài thơ Khán “Thiên gia thi” hữu cảm của Nguyễn Ái Quốc thể hiện quan niệm sâu sắc về thơ ca xưa và nay. Hai câu đầu bài thơ gợi nhắc đặc điểm của thơ ca cổ: thiên về cảm hứng thiên nhiên, say mê vẻ đẹp của núi sông, hoa tuyết, trăng gió. Những hình ảnh được liệt kê giàu chất tạo hình, mang vẻ đẹp thanh cao, lãng mạn, thể hiện giá trị thẩm mĩ bền vững của thơ cổ. Tuy nhiên, sang hai câu sau, tác giả đã bộc lộ quan niệm mới mẻ, tiến bộ về thơ ca hiện đại. Theo Nguyễn Ái Quốc, trong thời đại mới, thơ ca không chỉ để thưởng thức cái đẹp mà cần có “thép”, cần mang tinh thần chiến đấu. Nhà thơ không chỉ là người nghệ sĩ mà còn phải là người chiến sĩ, sẵn sàng dấn thân, xung phong vì sự nghiệp chung của dân tộc. Bài thơ ngắn gọn nhưng hàm súc, cấu tứ chặt chẽ theo lối đối sánh xưa – nay, qua đó khẳng định chức năng xã hội to lớn của thơ ca trong thời đại cách mạng.
câu 1 Bài thơ Khán “Thiên gia thi” hữu cảm của Nguyễn Ái Quốc thể hiện quan niệm sâu sắc về thơ ca xưa và nay. Hai câu đầu bài thơ gợi nhắc đặc điểm của thơ ca cổ: thiên về cảm hứng thiên nhiên, say mê vẻ đẹp của núi sông, hoa tuyết, trăng gió. Những hình ảnh được liệt kê giàu chất tạo hình, mang vẻ đẹp thanh cao, lãng mạn, thể hiện giá trị thẩm mĩ bền vững của thơ cổ. Tuy nhiên, sang hai câu sau, tác giả đã bộc lộ quan niệm mới mẻ, tiến bộ về thơ ca hiện đại. Theo Nguyễn Ái Quốc, trong thời đại mới, thơ ca không chỉ để thưởng thức cái đẹp mà cần có “thép”, cần mang tinh thần chiến đấu. Nhà thơ không chỉ là người nghệ sĩ mà còn phải là người chiến sĩ, sẵn sàng dấn thân, xung phong vì sự nghiệp chung của dân tộc. Bài thơ ngắn gọn nhưng hàm súc, cấu tứ chặt chẽ theo lối đối sánh xưa – nay, qua đó khẳng định chức năng xã hội to lớn của thơ ca trong thời đại cách mạng.
câu 2Văn hóa truyền thống là kết tinh của lịch sử, là linh hồn và bản sắc của mỗi dân tộc. Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa mạnh mẽ hiện nay, việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống càng trở nên cần thiết, đặc biệt đối với thế hệ trẻ – những chủ nhân tương lai của đất nước.
Giữ gìn và bảo tồn văn hóa truyền thống trước hết là gìn giữ những giá trị tốt đẹp được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử như tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán, đạo lí “uống nước nhớ nguồn”, “tôn sư trọng đạo”, các lễ hội truyền thống, làn điệu dân ca, trang phục dân tộc. Phát huy văn hóa truyền thống không có nghĩa là giữ nguyên một cách máy móc, mà là tiếp nối, làm giàu và lan tỏa những giá trị ấy trong đời sống hiện đại. Đối với giới trẻ, đây vừa là trách nhiệm, vừa là cách để khẳng định bản sắc dân tộc trong dòng chảy hội nhập.
Thực tế cho thấy, nhiều bạn trẻ hiện nay đã có ý thức trân trọng và quảng bá văn hóa truyền thống thông qua việc mặc áo dài trong các dịp quan trọng, tham gia các hoạt động lễ hội, tìm hiểu lịch sử dân tộc, đưa văn hóa Việt Nam lên các nền tảng mạng xã hội bằng những cách sáng tạo, gần gũi. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn không ít bạn trẻ thờ ơ, chạy theo lối sống thực dụng, sính ngoại, coi nhẹ các giá trị truyền thống, thậm chí có hành vi lệch chuẩn, làm mai một bản sắc văn hóa dân tộc.
Nguyên nhân của thực trạng này xuất phát từ tác động mạnh mẽ của văn hóa ngoại lai, sự bùng nổ của công nghệ thông tin và mạng xã hội, cùng với nhận thức chưa đầy đủ của một bộ phận giới trẻ. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao ý thức trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc giữ gìn và phát huy văn hóa truyền thống.
Là người trẻ hôm nay, mỗi chúng ta cần chủ động học tập, tìm hiểu lịch sử, văn hóa dân tộc; có thái độ trân trọng, tự hào về những giá trị truyền thống. Đồng thời, cần biết chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, tiếp thu cái mới một cách có bản lĩnh, không đánh mất bản sắc của mình. Việc sống nhân ái, trung thực, có trách nhiệm với gia đình và xã hội cũng chính là cách thiết thực để gìn giữ văn hóa truyền thống.
Tóm lại, giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống là nhiệm vụ lâu dài, đòi hỏi sự chung tay của toàn xã hội, trong đó giới trẻ giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Khi người trẻ ý thức rõ trách nhiệm của mình, văn hóa dân tộc sẽ được tiếp nối bền vững và tỏa sáng trong thời đại mới.
Câu 1:thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật
Câu 2:Bài thơ được viết theo luật bắng của thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
Câu 3:
Biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong câu thơ: "Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong” (hình ảnh: núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió). Tác dụng: Gợi lên vẻ đẹp phong phú, thơ mộng, quen thuộc của thiên nhiên trong thơ ca cổ. Làm nổi bật đặc điểm của thơ xưa: thiên về cảm hứng lãng mạn, thưởng ngoạn cái đẹp. Tạo tiền đề để tác giả so sánh, đối chiếu với yêu cầu mới của thơ ca hiện đại ở hai câu sau. ↓
Câu 4:
“Hiện đại thi trung ưng hữu thiết, Thi gia dã yếu hội xung phong”?** → Vì trong hoàn cảnh đất nước mất độc lập, nhân dân chịu áp bức, thơ ca không thể chỉ dừng lại ở việc ngợi ca thiên nhiên hay cảm xúc cá nhân.
Thơ ca hiện đại cần có "thép” – tức tinh thần chiến đấu, ý chí cách mạng. Nhà thơ không chỉ là người nghệ sĩ mà còn phải là chiến sĩ, sẵn sàng dấn thân, cổ vũ đấu tranh vì dân tộc. Quan niệm này thế hiện rõ chức năng xã hội, chính trị của thơ ca cách mạng.
Câu 5:
Bài thơ có cấu tứ chặt chẽ, mạch lạc:
Hai câu đầu: Nêu đặc điểm của thơ ca cổ (thiên về vẻ đẹp thiên nhiên). Hai câu sau: Khẳng định quan niệm thơ ca hiện đại (phải có tinh thần chiến đấu). → Cấu tứ theo lối đối lập - chuyển hướng, thể hiện rõ tư tưởng mới mẻ, tiến bộ của tác giả
Câu 1 Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt đường luật Câu2
Luật: Trắc (căn cứ vào chữ thứ 2 của câu 1 là "thi" - thanh bằng, nhưng xét tổng thể bài thơ này Bác viết theo thi pháp truyền thống, chữ thứ 2 câu 1 là "thi" thuộc thanh Bằng, nên bài thơ thuộc Luật Bằng, vần bằng).
Câu 3
Biện pháp: Liệt kê các hình ảnh thiên nhiên cổ điển (Sơn, thủy, yên, hoa, tuyết, nguyệt, phong - Núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió). • Tác dụng: * Tái hiện trọn vẹn những đề tài quen thuộc, ước lệ của thơ ca cũ. • Nhấn mạnh vẻ đẹp thanh cao, mĩ lệ của thiên nhiên nhưng cũng đồng thời chỉ ra sự hạn chế của thơ xưa khi quá thiên về hưởng lạc, tĩnh tại mà thiếu đi hơi thở
của thời đại.
Câu 4
Tác giả đưa ra quan điểm này vì: • Hoàn cảnh lịch sử: Đất nước đang trong cuộc kháng chiến cứu nước, đòi hỏi mọi nguồn lực, bao gồm cả văn chương, phải phục vụ cách mạng. • Chức năng của văn học: Thơ ca không chỉ để ngâm vịnh hoa lá mà phải có tính chiến đấu ("có thép"). "Thép" ở đây là tinh thần thép, ý chí kiên cường và khát vọng tự do. • Vai trò của nhà thơ: Người nghệ sĩ không được đứng ngoài cuộc chiến. Nhà thơ cũng là một chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, phải biết "xung phong", dùng ngòi bút làm vũ khí để cổ vũ tinh thần dân tộc.
Câu 5
Sự kết hợp hài hòa giữa cổ điển và hiện đại: * Hai câu đầu mang phong vị cổ điển với những thi liệu quen thuộc. • Hai câu cuối chuyển sang tinh thần hiện đại, khỏe khoắn của thời đại cách mạng. • Sự vận động của tư tưởng: Cấu tứ đi từ việc chiêm nghiệm quá khứ (thơ xưa) đến khẳng định yêu cầu của hiện tại (thơ nay). Đó là sự chuyển biến từ thái độ thưởng ngoạn sang thái độ hành động, từ "thi nhân" thuần túy sang "thi sĩ - chiến sĩ".
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản → Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật (mỗi câu 7 chữ, 4 câu). Câu 2. Xác định luật của bài thơ → Bài thơ viết theo luật bằng của thơ Đường. Câu 3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ mà em ấn tượng Biện pháp tu từ nổi bật: Liệt kê “Sơn thủy, yên hoa, tuyết, nguyệt, phong” (núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió). Tác dụng: Gợi ra vẻ đẹp phong phú, nên thơ của thiên nhiên trong thơ ca cổ. Làm nổi bật đặc điểm của thơ xưa: thiên về cảm hứng thiên nhiên, trữ tình. Tạo cơ sở để tác giả đối chiếu với yêu cầu của thơ ca hiện đại ở hai câu sau. Câu 4. Vì sao tác giả cho rằng: “Hiện đại thi trung ưng hữu thiết, Thi gia dã yếu hội xung phong”? → Vì theo Nguyễn Ái Quốc: Thơ ca hiện đại không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cái đẹp, cảm xúc cá nhân. Trong hoàn cảnh đất nước mất độc lập, xã hội đầy biến động, thơ ca cần mang tinh thần chiến đấu, phục vụ cách mạng. Nhà thơ không chỉ là người nghệ sĩ mà còn phải là chiến sĩ, biết xung phong vì dân tộc, vì đất nước. Câu 5. Nhận xét về cấu tứ của bài thơ → Bài thơ có cấu tứ chặt chẽ, rõ ràng: Hai câu đầu: Nói về đặc điểm của thơ ca cổ (thiên về vẻ đẹp thiên nhiên). Hai câu sau: Khẳng định quan niệm thơ ca hiện đại (phải có tinh thần chiến đấu). → Cấu tứ theo lối đối sánh xưa – nay, làm nổi bật tư tưởng tiến bộ của tác giả.
Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, mỗi câu 7 chữ, kết cấu chặt chẽ, hàm súc, giàu tính khái quát.
Câu 2.
Bài thơ tuân theo luật bằng, gieo vần “ong” ở các câu 2 và 4 (“phong”), tạo âm hưởng chắc khỏe, vang ngân, phù hợp với tinh thần mạnh mẽ của nội dung.
Câu 3.
Một biện pháp tu từ nổi bật là phép đối lập giữa “cổ thi” và “hiện đại thi”. Nếu thơ xưa thiên về miêu tả cảnh sắc thiên nhiên đẹp đẽ, thanh nhã thì thơ hiện đại phải “có thép”, phải gắn với đời sống đấu tranh. Sự đối lập ấy không nhằm phủ nhận giá trị thơ ca truyền thống mà để nhấn mạnh yêu cầu mới của thời đại: thơ ca phải mang sức mạnh tinh thần, góp phần thúc đẩy con người hành động. Nhờ đó, tư tưởng của bài thơ trở nên rõ nét, mạnh mẽ và giàu sức thuyết phục.
Câu 4.
Tác giả khẳng định “Hiện đại thi trung ứng hữu thiết / Thi gia dã yếu hội xung phong” bởi thơ ca không thể đứng ngoài cuộc sống dân tộc. Trong thời đại đất nước cần đấu tranh giành độc lập, thơ phải chứa “chất thép” — tức là ý chí, tinh thần chiến đấu, niềm tin và sức cổ vũ con người. Người làm thơ không chỉ là người quan sát mà còn là người chiến sĩ trên mặt trận tinh thần, biết dùng ngòi bút để thức tỉnh lòng yêu nước, khơi dậy khát vọng hành động.
Câu 5.
Bài thơ có cấu tứ chặt chẽ, logic:
Sự chuyển ý gọn gàng nhưng dứt khoát, từ quá khứ đến hiện tại, từ miêu tả đến khẳng định, làm nổi bật tư tưởng: thơ ca chân chính không chỉ đẹp mà còn phải có sức mạnh, phải đồng hành cùng vận mệnh dân tộc.
Nếu bạn muốn, mình sẽ viết lại thành một đoạn văn hoàn chỉnh (kiểu bài làm 9–10 điểm) để bạn học thuộc nhanh trước khi kiểm tra.
Câu 1.
• Trả lời: Thể thơ của văn bản là thất ngôn tứ tuyệt Đường luật
Câu 2.
• Trả lời: Bài thơ tuân theo luật trắc.
• Giải thích: Xét chữ thứ hai của câu thứ nhất là "thị" (thanh nặng - thuộc vần Trắc).
Câu 3.
• Biện pháp: Liệt kê các hình ảnh thiên nhiên cổ điển (núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió).
• Tác dụng: -Tái hiện không gian nghệ thuật đặc trưng của thơ xưa: thanh cao, đài các và tràn ngập vẻ đẹp thiên nhiên.
-Tạo nhịp điệu dồn dập, nhấn mạnh sự phong phú của đề tài cũ, từ đó làm nền để tác giả đưa ra quan điểm mới mẻ về thơ ca hiện đại ở những câu sau.
Câu 4.
• Trả lời: Tác giả đưa ra quan điểm này vì:
• Hoàn cảnh lịch sử: Đất nước đang trong cuộc đấu tranh sinh tử chống thực dân, đòi hỏi mọi nguồn lực (bao gồm cả văn chương) phải phục vụ kháng chiến.
• Chức năng của thơ ca: Thơ không chỉ để thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên mà còn là vũ khí sắc bén. "Thép" ở đây chính là tinh thần chiến đấu, tính chiến đấu của người nghệ sĩ.
• Trách nhiệm người nghệ sĩ: Nhà thơ không thể đứng ngoài cuộc mà phải là người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, biết "xung phong" vào thực tiễn cách mạng.
Câu 5.
• Nhận xét: Bài thơ có cấu tứ vận động từ đối lập đến thống nhất, từ truyền thống đến hiện đại.
• Sự đối lập: Hai câu đầu nói về thơ xưa (thiên nhiên, mây gió) đối lập với hai câu sau nói về thơ nay (chất thép, tinh thần xung phong).
• Sự vận động: Cấu tứ đi từ việc thừa nhận vẻ đẹp cổ điển đến việc khẳng định yêu cầu cấp thiết của thời đại. Nó cho thấy sự chuyển biến từ cái "tôi" nhàn tản sang cái "ta" cách mạng, biến trang giấy thành chiến trường và ngòi bút thành vũ khí.
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản
→ Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật (mỗi câu 7 chữ, 4 câu).
Câu 2. Xác định luật của bài thơ
→ Bài thơ viết theo luật bằng của thơ Đường.
Câu 3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ mà em ấn tượng
Biện pháp tu từ nổi bật: Liệt kê
“Sơn thủy, yên hoa, tuyết, nguyệt, phong” (núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió).
Tác dụng:
Gợi ra vẻ đẹp phong phú, nên thơ của thiên nhiên trong thơ ca cổ.
Làm nổi bật đặc điểm của thơ xưa: thiên về cảm hứng thiên nhiên, trữ tình.
Tạo cơ sở để tác giả đối chiếu với yêu cầu của thơ ca hiện đại ở hai câu sau.
Câu 4. Vì sao tác giả cho rằng:
“Hiện đại thi trung ưng hữu thiết,
Thi gia dã yếu hội xung phong”?
→ Vì theo Nguyễn Ái Quốc:
Thơ ca hiện đại không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cái đẹp, cảm xúc cá nhân.
Trong hoàn cảnh đất nước mất độc lập, xã hội đầy biến động, thơ ca cần mang tinh thần chiến đấu, phục vụ cách mạng.
Nhà thơ không chỉ là người nghệ sĩ mà còn phải là chiến sĩ, biết xung phong vì dân tộc, vì đất nước.
Câu 5. Nhận xét về cấu tứ của bài thơ
→ Bài thơ có cấu tứ chặt chẽ, rõ ràng:
Hai câu đầu: Nói về đặc điểm của thơ ca cổ (thiên về vẻ đẹp thiên nhiên).
Hai câu sau: Khẳng định quan niệm thơ ca hiện đại (phải có tinh thần chiến đấu).
→ Cấu tứ theo lối đối sánh xưa – nay, làm nổi bật tư tưởng tiến bộ của tác giả.
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên.
→ Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật (4 câu, mỗi câu 7 chữ).
Câu 2. Xác định luật của bài thơ.
→ Bài thơ viết theo luật bằng của thơ Đường luật.
Câu 3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ mà em ấn tượng trong bài thơ.
Biện pháp tu từ nổi bật là liệt kê trong câu:
“Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong”
(Núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió)
Tác dụng:
Gợi lên vẻ đẹp quen thuộc, cổ điển của thiên nhiên trong thơ xưa.
Làm nổi bật nội dung thơ cổ chủ yếu ca ngợi cảnh đẹp, ít phản ánh hiện thực xã hội.
Tạo tiền đề để tác giả so sánh với thơ hiện đại ở hai câu sau.
Câu 4. Vì sao tác giả cho rằng:
“Hiện đại thi trung ưng hữu thiết,
Thi gia dã yếu hội xung phong”?
Vì:
Thời đại lúc bấy giờ đất nước đang trong cảnh mất nước, nhân dân đau khổ, cách mạng cần đấu tranh.
Thơ ca không chỉ ca ngợi thiên nhiên mà phải phục vụ cuộc sống, phục vụ cách mạng.
Nhà thơ phải có tinh thần chiến đấu, dấn thân, cổ vũ con người đứng lên chống áp bức.
→ Thơ hiện đại cần “có thép”, nhà thơ phải biết “xung phong”.
Câu 5. Nhận xét về cấu tứ của bài thơ.
Cấu tứ bài thơ theo kiểu so sánh – đối chiếu:
Hai câu đầu: nói về đặc điểm của thơ ca xưa (thiên về vẻ đẹp thiên nhiên).
Hai câu sau: khẳng định yêu cầu của thơ ca hiện đại (phải có tinh thần chiến đấu).
→ Cấu tứ chặt chẽ, rõ ràng, thể hiện tư tưởng tiến bộ về chức năng của thơ ca.
Câu 1 : Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2 : Bài thơ viết theo luật bằng của thơ Đường.
Cầu 3 Biện pháp tu từ ẩn dụ – đối lập được sử dụng nổi bật trong bài thơ.
Hình ảnh “thi gia”, “thi trung”, “hội xung phong” mang tính ẩn dụ, cho thấy sự vận động mạnh mẽ, sôi nổi của thơ ca hiện đại, đồng thời đặt trong thế đối lập với thơ cũ đã yếu thế, lạc hậu. Biện pháp này giúp tác giả thể hiện rõ thái độ trân trọng cái mới và phê phán sự bảo thủ của thơ ca cũ.
Câu 4 : Tác giả cho rằng thơ ca hiện đại cần có tinh thần đổi mới mạnh mẽ, dấn thân vào đời sống xã hội, phản ánh hiện thực sôi động của thời đại. Người làm thơ không thể đứng ngoài cuộc mà phải xông pha, nhập cuộc, bắt kịp nhịp sống mới. Quan niệm này thể hiện ý thức cách tân thơ ca và tinh thần tiến bộ của tác giả.
Câu 5 : Bài thơ có cấu tứ chặt chẽ, theo bố cục quen thuộc của thơ Đường luật (đề – thực – luận – kết), nhưng nội dung lại mang tinh thần hiện đại. Tác giả kết hợp hình thức truyền thống với tư tưởng đổi mới, tạo nên nét độc đáo và giá trị riêng cho tác phẩm.
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản
→ Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật (mỗi câu 7 chữ, 4 câu).
Câu 2. Xác định luật của bài thơ
→ Bài thơ viết theo luật bằng của thơ Đường.
Câu 3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ mà em ấn tượng
Biện pháp tu từ nổi bật: Liệt kê
“Sơn thủy, yên hoa, tuyết, nguyệt, phong” (núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió).
Tác dụng:
Gợi ra vẻ đẹp phong phú, nên thơ của thiên nhiên trong thơ ca cổ.
Làm nổi bật đặc điểm của thơ xưa: thiên về cảm hứng thiên nhiên, trữ tình.
Tạo cơ sở để tác giả đối chiếu với yêu cầu của thơ ca hiện đại ở hai câu sau.
Câu 4. Vì sao tác giả cho rằng:
“Hiện đại thi trung ưng hữu thiết,
Thi gia dã yếu hội xung phong”?
→ Vì theo Nguyễn Ái Quốc:
Thơ ca hiện đại không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cái đẹp, cảm xúc cá nhân.
Trong hoàn cảnh đất nước mất độc lập, xã hội đầy biến động, thơ ca cần mang tinh thần chiến đấu, phục vụ cách mạng.
Nhà thơ không chỉ là người nghệ sĩ mà còn phải là chiến sĩ, biết xung phong vì dân tộc, vì đất nước.
Câu 5. Nhận xét về cấu tứ của bài thơ
→ Bài thơ có cấu tứ chặt chẽ, rõ ràng:
Hai câu đầu: Nói về đặc điểm của thơ ca cổ (thiên về vẻ đẹp thiên nhiên).
Hai câu sau: Khẳng định quan niệm thơ ca hiện đại (phải có tinh thần chiến đấu).
→ Cấu tứ theo lối đối sánh xưa – nay, làm nổi bật tư tưởng tiến bộ của tác giả.
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản
→ Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật (mỗi câu 7 chữ, 4 câu).
Câu 2. Xác định luật của bài thơ
→ Bài thơ viết theo luật bằng của thơ Đường.
Câu 3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ mà em ấn tượng
Biện pháp tu từ nổi bật: Liệt kê
“Sơn thủy, yên hoa, tuyết, nguyệt, phong” (núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió).
Tác dụng:
Gợi ra vẻ đẹp phong phú, nên thơ của thiên nhiên trong thơ ca cổ.
Làm nổi bật đặc điểm của thơ xưa: thiên về cảm hứng thiên nhiên, trữ tình.
Tạo cơ sở để tác giả đối chiếu với yêu cầu của thơ ca hiện đại ở hai câu sau.
Câu 4. Vì sao tác giả cho rằng:
“Hiện đại thi trung ưng hữu thiết,
Thi gia dã yếu hội xung phong”?
→ Vì theo Nguyễn Ái Quốc:
Thơ ca hiện đại không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cái đẹp, cảm xúc cá nhân.
Trong hoàn cảnh đất nước mất độc lập, xã hội đầy biến động, thơ ca cần mang tinh thần chiến đấu, phục vụ cách mạng.
Nhà thơ không chỉ là người nghệ sĩ mà còn phải là chiến sĩ, biết xung phong vì dân tộc, vì đất nước.
Câu 5. Nhận xét về cấu tứ của bài thơ
→ Bài thơ có cấu tứ chặt chẽ, rõ ràng:
Hai câu đầu: Nói về đặc điểm của thơ ca cổ (thiên về vẻ đẹp thiên nhiên).
Hai câu sau: Khẳng định quan niệm thơ ca hiện đại (phải có tinh thần chiến đấu).
→ Cấu tứ theo lối đối sánh xưa – nay, làm nổi bật tư tưởng tiến bộ của tác giả.
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản
Bài thơ “Khán ‘Thiên gia thi’ hữu cảm” được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật
→ mỗi câu 7 chữ, gồm 4 câu, cô đọng, hàm súc.
Câu 2. Xác định luật của bài thơ
Bài thơ được viết theo luật bằng của thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
(Cách gieo vần, phối thanh bằng – trắc đúng quy phạm thơ Đường.)
Câu 3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ mà em ấn tượng
👉 Biện pháp tu từ tiêu biểu: liệt kê
Câu 4. Vì sao tác giả cho rằng:
“Hiện đại thi trung ưng hữu thiết,
Thi gia dã yếu hội xung phong.”
Theo em, tác giả cho rằng như vậy vì:
→ Đây là quan niệm mới mẻ, tiến bộ về chức năng xã hội của thơ ca.
Câu 5. Nhận xét về cấu tứ của bài thơ
Câu 1: Thể thơ Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật. Câu 2: * Luật: Luật Bằng Câu 3: Biện pháp liệt kê Tác dụng: Tóm gọn những hình ảnh ước lệ đặc trưng của thơ cổ điển, tạo ra một "nền" nghệ thuật lãng mạn để làm nổi bật sự cần thiết của chất "thép" trong thơ hiện đại ở các câu sau. Câu 4: Vì tác giả quan niệm: Trong hoàn cảnh đất nước có giặc ngoại xâm, thơ ca không thể chỉ có mây gió mà phải là vũ khí sắc bén. Nhà thơ không chỉ là nghệ sĩ mà phải là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, dùng ngòi bút để cổ vũ tinh thần cách mạng. Câu 5: Cấu tứ bài thơ dựa trên sự đối lập và vận động: Đối lập giữa "thơ xưa" (thiên nhiên) và "thơ nay" (chất thép); chuyển biến từ thái độ thưởng ngoạn sang thái độ hành động cách mạng. Qua đó khẳng định sứ mệnh mới của văn học.
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản → Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật (mỗi câu 7 chữ, 4 câu). Câu 2. Xác định luật của bài thơ → Bài thơ viết theo luật bằng của thơ Đường. Câu 3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ mà em ấn tượng Biện pháp tu từ nổi bật: Liệt kê “Sơn thủy, yên hoa, tuyết, nguyệt, phong” (núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió). Tác dụng: Gợi ra vẻ đẹp phong phú, nên thơ của thiên nhiên trong thơ ca cổ. Làm nổi bật đặc điểm của thơ xưa: thiên về cảm hứng thiên nhiên, trữ tình. Tạo cơ sở để tác giả đối chiếu với yêu cầu của thơ ca hiện đại ở hai câu sau. Câu 4. Vì sao tác giả cho rằng: “Hiện đại thi trung ưng hữu thiết, Thi gia dã yếu hội xung phong”? → Vì theo Nguyễn Ái Quốc: Thơ ca hiện đại không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cái đẹp, cảm xúc cá nhân. Trong hoàn cảnh đất nước mất độc lập, xã hội đầy biến động, thơ ca cần mang tinh thần chiến đấu, phục vụ cách mạng. Nhà thơ không chỉ là người nghệ sĩ mà còn phải là chiến sĩ, biết xung phong vì dân tộc, vì đất nước. Câu 5. Nhận xét về cấu tứ của bài thơ → Bài thơ có cấu tứ chặt chẽ, rõ ràng: Hai câu đầu: Nói về đặc điểm của thơ ca cổ (thiên về vẻ đẹp thiên nhiên). Hai câu sau: Khẳng định quan niệm thơ ca hiện đại (phải có tinh thần chiến đấu). → Cấu tứ theo lối đối sánh xưa – nay, làm nổi bật tư tưởng tiến bộ của tác giả.