Mày có bạn thân không?
Câu hỏi khá là quen thuộc với mọi người. Câu trả lời là có, không, nhiều lắm… Đấy là tùy thuộc vào mỗi người. Còn câu trả lời của tôi là “đã từng”. Tôi đã từng có một người bạn thân, thân thiết như chị em trong nhà. Nhưng một căn bệnh quái ác đã mang bạn tôi đi khỏi vòng tay của gia đình, bạn bè và tôi, một cách đột ngột và đau đớn.
Chúng tôi quen nhau từ những ngày tiểu học, chính xác là từ năm lớp 4. Ngày đó, tôi vốn cực kỳ nhút nhát, ít giao tiếp với các bạn học trong lớp. Rồi một ngày, cậu ấy tới, chủ động bắt chuyện với tôi. “Cậu có con gấu bông xinh thế!”, cậu ấy nói như vậy về con gấu của tôi, mặc dù các bạn cùng lớp chê nó kỳ quái, chỉ vì nó không giống những con gấu bông thông thường khác. Câu nói đó đã bắt đầu cho một tình bạn đẹp, cho những kỷ niệm không thể nào quên giữa hai người bạn.
Ban đầu chỉ là chơi chung gấu bông, nhưng rồi đến đọc truyện cũng đọc chung, hay cùng chơi, cùng vẽ tranh… Tôi dần mở lòng hơn, làm quen với những người bạn mà cậu ấy giới thiệu cho tôi. Và rồi tôi nhận ra, chúng tôi đã thành tri kỷ lúc nào chẳng hay.
Tôi đã rất buồn vào ngày cuối cùng của năm lớp 5, ngày mà tôi cứ nghĩ rằng sẽ không còn học chung với cô bạn thân của mình nữa. Nhưng cuối cùng thì lên cấp hai, hai đứa vẫn học chung với nhau, thân với nhau còn hơn cả trước kia nữa. Cùng yêu thích truyện tranh, cùng sáng tác truyện tranh về cuộc sống mơ ước của hai đứa. Cho tới bây giờ, tôi mới thực sự để ý đến dung mạo của nó. Tóc đen dài, mắt to, lúc nào cũng cười thật tươi. Da hơi ngăm ngăm, cao hơn trung bình các cô bạn học khác. Có thể đám con trai trong lớp gọi nó là hung dữ, bà chằn, còn tôi chỉ thấy một cô gái mạnh mẽ và cá tính. Ngày tháng cứ êm đềm trôi qua. Tâm sự vào giờ nghỉ trưa về những rung động đầu đời, những khúc mắc gia đình. Hai đứa gắn với nhau như hình với bóng vậy.
Một trong những kỷ niệm đáng nhớ nhất là sinh nhật năm lớp 7. Vốn có ít bạn bè nên tôi không tổ chức sinh nhật, chỉ rủ một vài người bạn thân tới chơi. Vậy mà, nó đã gọi thêm rất nhiều bạn cùng lớp khác, tới “đập phá” tại sinh nhật tôi thành một bữa ra trò. Từ bé tới giờ, chưa bao giờ có một bữa tiệc sinh nhật nào của tôi có nhiều bạn bè tới như vậy. Vui mừng, bất ngờ, hạnh phúc, những cảm xúc hòa lẫn vào với nhau, tạo thành một kỷ niệm vui cho tôi.
Lớp 8, nó trở thành một vị gia sư, bổ túc thêm các môn Toán và Anh cho tôi.
Ngược lại, tôi giúp nó trong các môn Sử, Địa, Sinh. Một “đôi bạn cùng tiến” ăn ý. Nó càng ngày càng cao, ăn khỏe hơn, đánh tôi đau hơn, chạy nhanh hơn. Một bữa ăn năm bát cơm, ăn nhiều thịt nhưng không ăn rau nên bị thiếu chất xơ trầm trọng. Tôi phải làm một chế độ dinh dưỡng mới, bắt nó phải tuân thủ.
Những tài năng của nó ngày càng được thể hiện rõ ràng. Vốn nổi tiếng viết chữ rất đẹp, từng đoạt giải năm lớp 5 nên nó được giao nhiệm vụ viết sổ, viết đề mục cho các cô. Vẽ đẹp hơn, bộ truyện tranh mà hai đứa cùng thực hiện năm lớp 6 lại tiếp tục dày hơn rồi. Luôn nhắc nhở tôi khắc phục những khuyết điểm của bản thân, “viết nhanh lên mày!”, “đứng thẳng cái lưng lên!”. Những lời nói này, dần đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống học sinh của tôi.
“Mày ơi, tao mệt quá”.
Năm lớp 9, sức khỏe của nó đột ngột suy giảm. Sau một trận sốt xuất huyết, tỷ lệ hồng cầu trong máu của nó giảm tới mức nguy hiểm và không thể hồi phục. Nghỉ học hai tuần liền bặt vô âm tín. Rồi nó đi học trở lại, sụt năm cân. Từ đó, nó chỉ ngồi im vào mỗi giờ ra chơi, không chơi bóng, không đuổi bắt với tôi, không đi ăn trưa cùng nhau nữa. Vẫn vui tính, hay cười, hay trêu đùa như trước, nhưng bây giờ lại đi kèm với một sự đau đớn, mệt mỏi ẩn sâu trong đôi mắt đen láy đó. Rồi tần suất những ngày nghỉ học tăng lên, kéo dài hơn. Chỉ có thể gặp nhau vào những ngày ôn thi học sinh giỏi, nên sự tiều tụy của nó càng trở nên rõ nét hơn sau mỗi lần gặp.
Cô gái mà tôi biết khi xưa, mỗi bữa ăn năm bát cơm, mà bây giờ hai má hóp lại, tay chân teo tóp, không còn lực. Đôi mắt vô hồn, tràn đầy sự mệt mỏi đau đớn. Ngay cả việc đi lại bây giờ với nó cũng khó khăn, phải có người dìu đi, không tự đạp xe đến trường như vẫn làm bao lâu nay. Nó rất yêu thích môn Tiếng Anh, và thực sự rất mong chờ tới kỳ thi học sinh giỏi để thể hiện khả năng của mình. Nhưng cơn bệnh đó đã ngăn cản ước mơ của nó được thực hiện. Tôi đi thi, đoạt giải và bước tiếp tới vòng thành phố. Còn ước mơ của nó, đành dừng lại ở đây, vì cơn bạo bệnh ấy.
Sau kỳ thi ấy, nó nghỉ học liền một tháng. Và ở lớp rộ lên những tin đồn. “Mày ơi, con Khánh bị làm sao thế?”, “Nó bị bệnh gì liên quan đến sức đề kháng ấy”, “Dạo này nó yếu lắm”, “Nó nghỉ học được cả tháng rồi ấy nhỉ?”. Lần đầu tiên, cả tập thể lớp 9A1 chúng tôi thật lòng quan tâm tới một người, lo lắng cho một người. Thay phiên nhau chép vở trên lớp, ghé thăm nó để giảng bài cho nó, chuẩn bị cho kỳ kiểm tra cuối kỳ sắp tới. Những ngày cuối cùng nó tới lớp, mọi người đều động viên, cố gắng hết sức để giúp đỡ nó. Chỉ bài, giảng bài, pha nước, giúp nó ăn sáng, chỉ nó cách làm bài thi… Tạo điều kiện kết sức có thể đưa nó qua kỳ thi này, một bước tới gần hơn với kỳ thi cấp ba - kỳ thi quan trọng mà chúng tôi sắp phải đối mặt.
Một ngày cuối tháng 12 năm 2016, tôi và một người bạn tới thăm nó tại nhà riêng. Nó nằm đó, trên cái giường mà chúng tôi hay ngồi chơi với nhau khi xưa, đang ngủ. Có lẽ là một giấc ngủ yên bình, vì nó không còn phải đối mặt với đau đớn, với những cơn co giật, nhức khớp luôn thường trực. Tôi ngồi chờ cho tới khi nó thức dậy. Ban đầu là cau có, tức giận và mệt mỏi, nhưng có lẽ, trong giây phút ấy, nó nhận ra đây có thể là lần cuối cùng chúng tôi được gặp nhau, nên đã ngồi dậy, để chúng tôi có thể cùng ngồi nói chuyện.
Chúng tôi kể về những chuyện thú vị trên lớp, những câu chuyện hài hước. Nó cười, nụ cười tươi rói mà tôi vẫn luôn chờ mong bấy lâu nay, cùng với ước mơ nó được khỏe lại, có thể cùng tới trường với tôi như trước. Cùng học, cùng vẽ, cùng đọc truyện, sẻ chia những tâm sự… Đó là mong ước thiết tha nhất của tôi trong giây phút ấy.
Rồi nó bắt đầu kể cho chúng tôi nghe về những ngày ở bệnh viện. Thời gian nó ở bệnh viện thậm chí còn nhiều hơn ở nhà mình. Liên tục phải trải qua những xét nghiệm, sinh thiết, chọc tủy… Những cơn đau nhức khắp người, ngay cả việc ăn uống cũng khó khăn, liên tục hành hạ cả thể xác lẫn tinh thần của cô gái kiên cường ấy. Có những lúc, tưởng chừng như bạo bệnh đã đánh gục nó, nhưng chiến binh ấy vẫn đứng vững, vẫn vươn lên như bông hoa hướng dương hướng về mặt trời.
Mái tóc đen bết lại vì không thể tắm gội thường xuyên, tóc cũng thưa dần, để lộ ra những mảng da đầu trắng bệch. Nước da vàng bủng, trên người chi chít những vết tím bầm do chọc kim hay bị tụ máu. Tay chân teo lại, việc cử động cũng trở nên yếu ớt. Trước kia, bữa nào nó cũng ăn năm bát cơm, vậy mà vẫn than đói suốt ngày. Còn bây giờ, ngay cả việc húp vài thìa cháo cũng trở nên khó khăn. Kể từ ngày bị ốm cách đây bốn tháng, nó đã sụt hơn 10 cân. Hôm đó, lúc chuẩn bị về, nó đã nói với tôi một câu: “Có lẽ là bọn mày nên chuẩn bị sẵn tinh thần đi. Tao không nghĩ là tao qua được Tết năm nay đâu”.
Đêm hôm ấy, tôi không ngủ được. Không ngừng nghĩ về câu nói ấy. Cho tới lúc ấy, tôi vẫn không biết được tình trạng bệnh tình thật của nó. Chỉ biết là nó đang bệnh rất nặng. Mặc dù ngoài miệng luôn động viên nó, nhắc nó rằng phải có niềm tin, nhưng chính niềm hy vọng lớn nhất, vững chãi nhất trong lòng tôi lúc này lại đang dao động. Lần đầu tiên, tôi nghĩ đến viễn cảnh một ngày, tôi không còn được nhìn thấy nó, cái ngày mà nó rời xa tôi mãi mãi. Một nỗi sợ vô hình dâng lên trong lòng, và mong ước phép màu xảy ra chưa bao giờ trở nên mạnh mẽ như lúc ấy.
Sau buổi gặp gỡ cuối cùng ấy, tôi phải đối mặt với nhiều áp lực. Đối mặt với kỳ thi cấp thành phố. Áp lực học trên trường tăng lên. Nhưng tôi không ngừng nghĩ tới nó, với khát vọng cháy bỏng về một điều kỳ diệu sẽ xảy ra, ngày mà nó sẽ khỏe lại, sẽ lại tới trường. Nhưng phép màu đã không xảy ra. Mồng 3 Tết Đinh Dậu (tức ngày 30/1/2017), nó đã ra đi, bỏ lại gia đình, bạn bè và tôi, để đi tới một nơi khác, không có đau đớn, mệt mỏi.
Hai ngày sau, tôi về Hà Nội. Việc làm đầu tiên là tới nhà nó. Để chia buồn với gia đình nó, những người yêu thương tôi như con ruột. Tôi đã rất bình tĩnh và nghĩ rằng mọi chuyện sẽ đơn giản thôi. Nhưng khi tới trước cửa nhà nó, những kỷ niệm tràn về, như một thước phim quay chậm chạy trong ký ức. Tôi đã dặn lòng mình rằng không được khóc, phải làm điểm tựa cho cha mẹ nó, nhất là trong những giây phút đau lòng này. Nhưng, khi nhìn thấy mẹ nó, mở cửa cho tôi, nhìn thấy vị trí của cái giường nơi nó thường nằm trước kia đã được thay thế bằng một cái bàn thờ mới dựng, bát hương vẫn còn nghi ngút khói, nước mắt đã tuôn rơi không ngừng. Bức ảnh nhỏ trên bàn thờ cũng không phải là một tấm ảnh thẻ tử tế, là bức ảnh chụp vào một ngày nó khỏe mạnh, đang cười. Bầu không khí ấy, như bóp nghẹt trái tim tôi vậy. Đau đớn, xót xa, hụt hẫng.
Trong tiếng nấc nghẹn, mẹ nó kể cho tôi về căn bệnh thực sự của nó. Là ung thư máu. Một căn bệnh di căn rất nhanh và có những dấu hiệu giống như cảm cúm thông thường. Lúc phát hiện ra căn bệnh này đã là giữa tháng 11 năm 2016, tức là chỉ ba tháng trước khi nó ra đi. Buổi chiều hôm trước đó, nó có dấu hiệu phát bệnh. Đau đớn, quằn quại, vùng vẫy, gào thét hàng tiếng liền, trước khi lịm đi. Tỉnh dậy một chút vào ban đêm, để nhìn mặt những người thân yêu lần cuối trước khi chìm vào giấc ngủ, mãi mãi. Lúc đó là 0 giờ 15 phút sáng. Bố nó động viên tôi và trước khi ra về, dặn rằng, “Con đừng buồn quá, phải tiếp tục cố gắng, cố gắng thay cả phần của bạn nữa”.
Chưa có một đám tang nào mà tôi khóc nhiều như vậy. Dặn lòng rằng không được khóc, phải mạnh mẽ lên, khóc là nó không siêu thoát được đâu, nhưng một lần nữa, nước mắt lại trào ra, trước linh cữu nó. Cả tập thể lớp, những người bạn đã gắn bó với nhau nhiều năm, cũng có mặt đông đủ. Những tiếng thút thít vang lên không ngừng, và lần đầu tiên, tôi nhìn thấy những chàng trai rơi lệ nhiều đến vậy. Khoảnh khắc linh cữu nó được đưa vào lò hỏa thiêu, là lúc những tiếng khóc vang lên to nhất. Có thể lúc còn sống, nó không nói chuyện với những người bạn khác, nhưng một khi đã ra đi, dù còn thù hằn gì trong lòng, những lời trân trọng, cao quý nhất đều dành cho nó. Vì chúng ta là một gia đình. Dù nước mắt rồi sẽ ngừng rơi, nhưng nỗi nhớ trong lòng sẽ không bao giờ nguôi ngoai.
Sau đó, tôi bị khủng khoảng một thời gian. Thành tích học tập có sự sa sút, kết quả thi học sinh giỏi thành phố cũng không được như mong muốn. Nhưng câu nói của bố nó như một lời nhắc nhở tôi phải nỗ lực, bởi mình đang cõng trên vai cả phần của nó. Cắm đầu vào học, chuẩn bị sẵn sàng cho kỳ thi, cho ước mơ của cả tao với mày.
Bọn tôi tới thăm nó vào lễ 100 ngày. Bàn thờ đã dời lên tầng ba, cái giường đã đặt vào chỗ cũ, như xưa. Cảm giác buồn bã, hụt hẫng là điều không thể tránh khỏi. Nhưng bên cạnh đó, bây giờ có thêm mục tiêu, thêm quyết tâm để mà hướng tới. Là tiếp tục bước đi trên con đường đời, dù không có mày sánh bước bên cạnh. Là đi tiếp cả phần của mày, bởi tao biết rằng mày luôn đồng hành với bọn tao, theo một cách nào đó. Hôm đó, một đại diện của lớp được đề nghị đứng lên, để thay mặt lớp, bày tỏ cảm nghĩ. Tôi đã từ chối không đảm nhiệm vai trò ấy. Thương nhớ chỉ để ở trong lòng là đủ, bởi không lời nào có thể diễn tả được nó.
Tôi đã vượt qua được kỳ thi ấy. Ngay hôm tôi thi xong môn cuối, tôi đã tới mộ thăm nó, không nói gì cả. Chỉ lặng lẽ ngồi, tựa lưng vào tấm bia mộ. Từ xưa tới nay, tôi vốn đã kém khoản ăn nói, ngay cả trong những giây phút quan trọng như thế này. Những lời muốn nói như một mớ tơ vò, muốn thốt ra nhưng lại mắc lại trong họng. Và lại tiếp tục kéo dài sự im lặng. Những tia nắng vàng lọt qua kẽ lá của cây xà cừ cổ thụ, rủ bóng xuống ngôi mộ nhỏ. Những giọt nắng ấy chứ dập dờn, nhảy nhót như đàn bướm ánh sáng, lượn quanh những ngôi mộ đá, như một điềm báo từthế giới bên kia. Hãy luôn ủng hộ tao nhé, trên con đường đầy chông gai này, để tao có một điểm tựa vững chắc, vươn tới tương lai.
Đã hơn một năm kể từ ngày nó ra đi. Tôi đã bước được một nửa tuổi mười sáu, cái tuổi mạnh nhất, khỏe khoắn nhất. Đạt được ước mơ, vào được ngôi trường mà mình hằng mong ước. Còn nó mãi dừng ở đó, ngưỡng cửa mười lăm đầy khát vọng, hoài bão. Mãi mãi ra đi, để lại mọi thứ, để lại một ước mơ còn đang dang dở, để lại sự đau buồn trong trái tim của những người ở lại. Nhưng tôi biết rằng, ít ra ở thế giới bên kia, nó sẽ không còn phải chịu đau đớn nữa. Không còn những xét nghiệm dài đằng đẵng, những ngày xạ trị đau đớn. Hy vọng ở nơi ấy, thế giới của nó sẽ tốt đẹp hơn.
Mất đi một người bạn thân thiết là rất đau đớn, nhưng mong rằng, cuộc sống của nó sẽ tốt đẹp hơn nơi miền cực lạc. Nó để lại cho tôi những kỷ niệm đẹp, một tuổi thơ hạnh phúc, những ký ức không thể nào quên. Nó cũng đã để lại cho tôi một bài học về nghị lực sống, về sự kiên cường chống chọi trước cơn bạo bệnh. Những bài học đáng giá sẽ theo tôi suốt cuộc đời. Vĩnh biệt, tao hứa sẽ không quên mày, bạn thân”.
Câu 1: Thể thơ lục bát
Câu 2:Gần mực thì đen, gần son thì đỏ
Câu3:Biện pháp tu từ ẩn dụ vàđối.
Ẩn dụ: "Mực" và "son" ẩn dụ cho môi trường xấu và tốt, người xấu và người tốt. Đối: Tạo sự cân xứng, nhấn mạnh mối quan hệ nhân quả giữa môi trường sống và sự hình thành tính cách, phẩm chất con người.
Câu 4:Đề tài: Bài thơ nói về mối quan hệ giữa môi trường sống, việc chọn bạn bè và sự hình thành nhân cách con người.
Câu 5:Sau khi đọc văn bản, em rút ra được những bài học sau:
Câu 1. Người kể chuyện là ngôi thứ nhất (nhân vật “tôi”), tức là người kể chuyện hạn tri vì chỉ kể lại những gì mình thấy, nghe, cảm nhận và suy nghĩ. Câu 2. Thành phần chêm xen trong đoạn văn là: “(to và nặng gấp đôi một cái ba lô bình thường của khách đi đường)” → Đây là phần chú thích, bổ sung thông tin cho “đống tranh của tôi”. Câu 3. Khi được người chiến sĩ nhờ vẽ chân dung, người họa sĩ tỏ thái độ lạnh lùng, tự ái và từ chối khéo. Vì: Anh cho rằng mình là một họa sĩ có tên tuổi, không phải “thợ vẽ truyền thần”, nên cảm thấy bị xem thường, bị xúc phạm lòng tự trọng. Câu 4. Tác dụng của điểm nhìn trần thuật ngôi thứ nhất: Giúp câu chuyện trở nên chân thực, tự nhiên, giàu cảm xúc. Thể hiện rõ diễn biến tâm lí, sự tự nhận thức và thay đổi của nhân vật “tôi”. Làm nổi bật bài học về lòng độ lượng và cách nhìn lại bản thân. Câu 5. Bài học rút ra: Cần sống khiêm tốn, biết tôn trọng người khác, không nên tự cao, định kiến. Phải biết nhìn lại mình, nhận ra sai lầm để thay đổi. Trân trọng lòng tốt, sự độ lượng và hi sinh thầm lặng của người khác.
Câu 1: Người kể chuyện là nhân vật “tôi”, kể theo ngôi hạn tri. Câu 2: Thành phần chêm xen là: “(to và nặng gấp đôi một cái ba lô bình thường của khách đi đường)”. Tác dụng: bổ sung, giải thích thêm về kích thước và trọng lượng của đống tranh, làm nổi bật sự vất vả của người chiến sĩ khi mang giúp. Câu 3: Khi được người chiến sĩ nhờ vẽ chân dung, người họa sĩ tỏ thái độ lạnh lùng và từ chối vì ông tự ái, cho rằng mình là họa sĩ có tên tuổi, không phải thợ vẽ truyền thần. Câu 4: Điểm nhìn trần thuật được đặt ở nhân vật “tôi” (người họa sĩ). Tác dụng: giúp câu chuyện trở nên chân thực, thể hiện rõ suy nghĩ và cảm xúc của nhân vật “tôi”. Câu 5: Bài học rút ra là mỗi người cần sống khiêm tốn, biết trân trọng và biết ơn sự giúp đỡ của người khác, không nên tự cao hay coi thường người khác.
Câu 1 : Là Người kể chuyện hạn trị
Câu 2 to và nặng gấp đôi một cái ba lô bình thường của khách đi đường "Anh và tôi"
Câu 3: thái độ của người hoạ sĩ nhi nhờ vẽ một bức chân dung để gửi về cho gia đình người hoạ sĩ đã có thái độ miễn cưỡng hời hợt và thấy trách nhiệm Vì sao nhân vật này lại có thái độ như vậy Sự mệt mỏi và ích kỷ: Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, người họa sĩ đang phải đối mặt với sự mệt mỏi về thể xác và lo lắng cho sự an toàn của bản thân.Sự vô tâm: Ông không thấu hiểu được ý nghĩa tinh thần to lớn của bức ảnh đối với người chiến sĩ và gia đình họ ở quê nhà, mà chỉ coi đó là một việc vặt phiền toái.
Câu 4: Trong đoạn văn này, điểm nhìn trần thuật được đặt ở nhân vật "tôi" (ngôi kể thứ nhất). Việc sử dụng điểm nhìn này mang lại những tác dụng nghệ thuật sâu sắc:Tính chân thực và chiều sâu tâm lí: Điểm nhìn từ bên trong giúp người đọc đi thẳng vào thế giới nội tâm của nhân vật. Những dòng độc thoại nội tâm về sự tự trọng, những mặc cảm tội lỗi và sự tự vấn ("Độ lượng? Thế nhưng tôi nhiều tuổi hơn?...") trở nên sống động và chân thực hơn bao giờ hết.Tạo sự đồng cảm: Người đọc dễ dàng thấu hiểu và cùng nhân vật trải qua những dằn vặt, trăn trở, từ đó rút ra những bài học cho riêng mình về cách nhìn nhận con người và cuộc sống.
Câu 5: Từ cách ứng xử của người chiến sĩ và sự tự vấn của nhân vật họa sĩ, chúng ta có thể rút ra một số bài học quý giá:
Lòng độ lượng và sự vị tha: Trong cuộc sống, sự bao dung và giúp đỡ vô tư (như anh chiến sĩ dành cho người họa sĩ) có sức mạnh cảm hóa rất lớn, giúp người khác nhận ra sai lầm và hoàn thiện bản thân.
Giá trị con người không nằm ở địa vị: Đừng nhìn nhận người khác qua vẻ bề ngoài, tuổi tác hay danh tiếng. Một "người dưới" (về địa vị xã hội) vẫn có thể có tâm hồn cao thượng hơn cả một "kẻ bề trên" có tên tuổi.
Sự dũng cảm đối diện với bản thân: Bài học về lòng tự trọng và sự trung thực với chính mình. Biết nhìn nhận lại những thiếu sót, ích kỷ của bản thân để sống tốt hơn là biểu hiện của một nhân cách văn hóa.
Đoạn văn nhắc nhở chúng ta về lối sống khiêm nhường, biết trân trọng những giá trị đạo đức tốt đẹp giữa người với người.
Câu1: người kể chuyện trong văn bản là người kể hạn tri
Câu2: - Thành phần chêm xen là: ( to và nặng gấp đôi một cái balo bình thường của khách đi đường)
- Tác dụng: Bổ sung thông tin, làm rõ mức độ nặng nề, cồng kềnh của đống tranh mà người chiến sĩ phải mang vác,từ đó nhấn mạnh sự vất vả và lòng tận tuỵ của anh chiến sĩ
Câu3: - Khi được người chiến sĩ nhờ vẽ một bức tranh chân dung, người hoạ sĩ đã có thái độ cảm thấy tự ái, từ chối chéo bằng khuôn mặt lạnh lùng.
-Vì ông tự coi mình là một hoạ sĩ có tên tuổi, là một người nghệ sĩ thực thụ chứ không phải là người thợ vẽ thuê. Lúc đó ông chưa thực sự hiểu và cảm thông được tâm hồn, sự hy sinh thầm lặng của người chiến sĩ, vẫn còn giữ cái tôi cao ngạo của một người “ bề trên”
Câu4: - Điểm nhìn: Điểm nhìn từ bên trong ( nhân vật tôi tự nhìn vào tâm hồn mình)
-Tác dụng: Diễn tả một cách chân thực và sâu sắc quá trình biến đổi tâm lý của người họa sĩ. Từ chỗ tự cao, ông nhận ra sự nhỏ bé của mình trước sự cao thượng, bao dung của người chiến sĩ.Và đồng thời còn tạo nên được tính tự vấn, giúp câu chuyện giàu chất triết lý. Nó cho thấy cái nhìn đa chiều về con người: không phải cứ có địa vị, tuổi tác hay danh tiếng là cao thượng hơn một người lính bình thường. Điều này làm tăng sức thuyết phục và sự đồng cảm nơi người đọc.
Câu 5: Qua văn bản, em rút ra bài học sâu sắc về lòng khiêm tốn và cách đánh giá giá trị con người. Trước hết, chúng ta cần gỡ bỏ cái tôi kiêu ngạo và những định kiến về địa vị, học vấn để nhận ra rằng sự cao thượng có thể đến từ những người bình dị nhất. Bài học còn nhắc nhở về sự tự vấn: biết soi chiếu lại bản thân để thấy được những khiếm khuyết và học cách trân trọng sự hy sinh thầm lặng của người khác. Cuối cùng, đó là bài học về lòng biết ơn và sự thấu cảm; hãy nhìn nhận cuộc đời bằng đôi mắt tử tế để thấu hiểu những vẻ đẹp khuất lấp trong tâm hồn mỗi con người, từ đó hoàn thiện nhân cách của chính mình.
Câu1 :
Người kể chuyện trong văn bản là người kể hạn tri.
Câu2 :
Thành phần chêm xen trong đoạn văn là: "to và nặng gấp đôi một cái ba lô bình thường của khách đi đường"
Câu3:
- Thái độ của người họa sĩ: Cảm động, hứa hẹn một cách chân thành và đầy nhiệt huyết: "Đến mai, thế nào tôi cũng phải vẽ đồng chí. Một bức, thật đẹp!". Vì sao có thái độ đó: Vì nhân vật "tôi" chứng kiến sự hy sinh, lòng tốt và sự chịu đựng cam lai của người chiến sĩ. Anh ta không chỉ giúp "tôi" đi qua suối, bóp chân cho "tôi" mà còn mang vác thay tất cả hành lý nặng nề dù bản thân cũng không khỏe mạnh gì. Sự bao dung và tử tế đó đã chạm đến lòng biết ơn và cảm hứng nghệ thuật của người họa sĩ.
Câu4 :
Ngôi thứ 1 , nhân vật " tôi "
-Tính chân thực: Giúp người đọc đi sâu vào thế giới nội tâm, những trăn trở và sự tự vấn lương tâm của nhân vật. -Sự khách quan trong chủ quan: Nhân vật tự nhận xét về sự "tự trọng" và "biết suy nghĩ" của mình, nhưng đồng thời bộc lộ sự ngỡ ngàng khi nhận ra vị thế của mình lại đang được nhận lòng độ lượng từ một người "bề dưới". -Tạo sự đồng cảm: Điểm nhìn này giúp người đọc cùng nhân vật trải qua quá trình nhận thức lại bản thân, từ đó làm nổi bật chủ đề về lòng nhân ái và sự khiêm nhường.
Câu5:
Đừng bao giờ lấy địa vị, tuổi tác hay danh tiếng để làm thước đo giá trị con người. Sự tử tế và lòng độ lượng có thể đến từ những con người bình thường nhất.Con người cần biết nhìn lại bản thân, biết xấu hổ và biết ơn trước những nghĩa cử cao đẹp của người khác để hoàn thiện nhân cách của chính mình.Đừng coi việc người khác giúp đỡ mình là "lẽ phải" hay điều hiển nhiên, hãy thấu hiểu những vất vả mà họ phải gánh vác thay mình.
câu 1:
Người kể chuyện hạn tri
câu 2:
Thành phần chêm xen: " to và nặng gấp đôi một cái ba lô bình thường của khách đi đường"
câu 3:
Hoạ sĩ đã có thái độ ngỡ ngàng , xúc động và có phần tự trọng , day dứt . Vì người chiến sĩ không hề quản ngại khó khăn, gánh vác thay "tôi" một trọng lượng cực lớn bản thân anh cũng kh khoẻ và sự nhiệt tình ấy hoạ sĩ cảm thấy nể phục
câu4:
+Điểm nhìn từ nhân vật tôi
+Giúp diễn tả một cách chân thực và sâu sắc những diễn biến tâm lý, suy nghĩ nội tâm của nhân vật. Người đọc như được thâm nhập vào thế giới cảm xúc của họa sĩ.
câu 5:
Qua văn bản này, em rút ra bài học quý giá:+Sống biết ơn và rộng lượng: Lòng tốt và sự bao dung có sức mạnh cảm hóa to lớn hơn bất kỳ lời giáo huấn nào
+Sự thức tỉnh: Con người cần biết nhìn lại chính mình, dũng cảm thừa nhận những sai lầm, ích kỷ để hoàn thiện nhân cách
+Giá trị của một người không nằm ở danh tiếng hay địa vị (như người họa sĩ có tên tuổi), mà nằm ở tấm lòng chân thành và sự hy sinh thầm lặng (như người chiến sĩ).
Câu 1: Người kể chuyện là ngôi thứ nhất
Câu 2:
Thành phần chêm xen là: “to và nặng gấp đôi một cái ba lô bình thường của khách đi đường”
Tác dụng: bổ sung, giải thích rõ hơn về độ nặng của bọc tranh → làm nổi bật sự vất vả của người chiến sĩ.
Câu 3:
Thái độ của người họa sĩ: lạnh lùng, tự ái, từ chối vẽ
Vì:Tự cao, cho rằng mình là nghệ sĩ, không phải “thợ vẽ”.
Có chút kiêu hãnh nghề nghiệp, coi nhẹ lời đề nghị của người chiến sĩ.
Câu 4:
→ Tác dụng của điểm nhìn trần thuật (ngôi “tôi”):
Giúp câu chuyện chân thực, gần gũi.
Thể hiện rõ diễn biến tâm lí nhân vật (từ tự ái → xấu hổ → thức tỉnh).
Làm nổi bật sự đối lập giữa cái “tôi” kiêu ngạo và lòng độ lượng của người chiến sĩ.
Tăng tính tự nhận thức, tự phê phán của nhân vật.
Câu 5: Bài học rút ra:
Không nên kiêu ngạo, coi thường người khác.Phải biết khiêm tốn, biết ơn và trân trọng lòng tốt.Sống cần có lòng bao dung, độ lượng như người chiến sĩ.Biết nhìn lại bản thân để hoàn thiện mình.
Câu 1: Người kể chuyện hạn tri.
Câu 2: Thành phần chêm xen là ( To và nặng gấp đôi mooti cái ba lô bình thường của khách đi đường).
Câu 3: Khi được người chiến sĩ nhờ vẽ tranh chân dung anh hoạ sĩ đã cảm thấy tự ái và đã từ chối khéo anh chiến sĩ.
Vì anh hoạ sĩ nghĩ rằng mình là một người hoạ sĩ chừ không phải là một anh thợ truyền thần.
Câu 4: Điểm nhìn trần thuật được đặt ở ngôi thứ nhất.
-Tác dụng: +Nhằm tăng tính thuyết phục cho sự sám hối ,khi nhân vật tự phơi bày sự tự cao và ích kỉ của bản thân
+Đồng thời làm cho đoạn văn trở nên sinh động, hấp dẫn người đọc. Từ đó thể hiện lòng kính trọng và biết ơn của tác giả dành cho những chiến sĩ những người anh hùng dân tộc
Câu 5: Bài làm:
Qua đoạn văn, em rút ra bài học sâu sắc về lòng độ lượng và sự khiêm tốn trong cuộc sống. Lòng độ lượng không phân biệt địa vị xã hội, tuổi tác vai vế mà xuất phát từ sự thấu hiểu và tình người chân thành. Người chiến sĩ trong câu chuyện đã cho thấy một tấm lòng cao đẹp vượt lên trên những quan niệm xã hội. Bài học đó nhắc nhở e rằng cúng ta phải biết cư xử sao cho đúng mực, bằng sự tôn trọng, sẵn sàng giúp đỡ nhau trong mọi hoàn cảnh. Và đồng thời cũng cần biết nhìn nhận lại bản thân, sẵn sàng học hỏi và biết ơn những người đã chỉ dạy giúp đỡ mình.
Câu 1: Người kể chuyện trong văn bản là người kể hạn tri.
Câu 2: Thành phần chêm xen trong đoạn văn là: Anh và tôi, To và nặng gấp đôi một cái ba lô bình thường của khách đi đường.
Câu 3: Người họa sĩ cảm thấy xúc động, bối rối và có phần ngần ngại, hổ thẹn. Do ông nhận thấy sự hy sinh và lòng tốt vô điều kiện của người chiến sĩ đối với mình. Và ông cảm thấy mình mắc nợ người chiến sĩ một ân tình quá lớn. Việc vẽ một bức chân dung lúc này dường như là quá nhỏ bé so với sự giúp đỡ cao cả kia, đồng thời ông cũng lo lắng liệu ngòi bút của mình có lột tả hết được vẻ đẹp tâm hồn của người chiến sĩ ấy hay không.
Câu 4: Đoạn văn sử dụng điểm nhìn từ nhân vật "tôi"(điểm nhìn bên trong).Nhằm giúp câu chuyện trở nên gần gũi, như một lời tự sự, trải lòng thực tế của người trong cuộc.Diễn tả một cách sinh động những biến chuyển tâm lý, sự tự vấn lương tâm và lòng tự trọng của nhân vật họa sĩ.Qua cái nhìn đầy biết ơn và trân trọng của "tôi", hình ảnh người chiến sĩ hiện lên càng thêm cao đẹp, giản dị và giàu đức hy sinh. Nó tạo ra sự đối lập giữa cái "tôi" cá nhân nhỏ bé với sự cao cả của người chiến sĩ cách mạng.
Câu 5: Qua đoạn trích, giúp em có thể rút ra những bài học sâu sắc. Đừng bao giờ lấy địa vị, tuổi tác hay danh tiếng để tự coi mình là "bề trên" rồi xem nhẹ người khác. Sự tử tế và lòng vị tha của người chiến sĩ đã trở thành tấm gương soi giúp người họa sĩ nhận ra sự ích kỷ của bản thân. Bài học về việc dám nhìn thẳng vào những thiếu sót, những phần "tối" trong tâm hồn để tự sửa đổi và hoàn thiện bản thân.
Câu 1:Người kể chuyện trong văn bản trên là người kể hạn tri
Câu 2:Thành phần chêm xen trong đoạn văn là: "- tôi nói khẽ bên tai anh -".
Câu 3:Thái độ:Khi được nhờ vẽ chân dung, người họa sĩ đã có thái độ lạnh nhạt, thờ ơ và có phần tự ái, coi thường. Ông tìm cách từ chối khéo léo nhưng đầy vẻ kiêu kỳ của một "bậc bề trên".
Lý do:
Ông tự coi mình là một nghệ sĩ thực thụ, chỉ vẽ khi có cảm hứng hoặc vẽ những gì mang tầm vóc nghệ thuật cao siêu.
Ông coi yêu cầu của người chiến sĩ là tầm thường, giống như công việc của một "anh thợ vẽ truyền thần" rẻ tiền, không xứng đáng với tài năng và danh tiếng của mình.
Đây là biểu hiện của cái tôi cá nhân quá lớn và sự xa rời đời sống thực tế của người lính
Câu 4:Trong đoạn văn này, tác giả sử dụng điểm nhìn từ ngôi thứ nhất
-với việc sử dụng điểm nhìn từ ngôi thứ nhất Điểm nhìn này làm nổi bật sự tương phản giữa vẻ ngoài nhỏ bé, khắc khổ của người chiến sĩ với tâm hồn cao thượng của anh, đồng thời đối lập với sự "tự trọng" hão huyền ban đầu của người họa sĩ.
-Điểm nhìn từ bên trong giúp độc giả thấu hiểu trực tiếp những biến chuyển phức tạp trong nội tâm nhân vật. Đó là quá trình từ kiêu ngạo, tự cho mình là "kẻ bề trên" đến việc tự soi chiếu, dằn vặt và nhận ra sự nhỏ bé, ích kỷ của bản thân
-Vì là lời tự bạch, những suy nghĩ về "lòng độ lượng", "kẻ bề trên - người dưới" trở nên khách quan và đau đớn hơn. Nhân vật tự bóc trần những định kiến sai lầm của mình, khiến bài học về cách nhìn nhận con người trở nên sâu sắc và thấm thía
Câu 5:Văn bản "Bức tranh" để lại nhiều bài học nhân sinh sâu sắc, bạn có thể chọn một trong các ý sau hoặc kết hợp chúng:
Đừng nhìn người qua vẻ bề ngoài hoặc địa vị.Giá trị của một con người không nằm ở danh tiếng hay vẻ ngoài mà nằm ở nhân cách và hành động của họ. Người chiến sĩ giản dị, "thấp bé" lại có tâm hồn cao thượng hơn cả người họa sĩ có tên tuổi.
Sức mạnh của lòng độ lượng.Sự tử tế và lòng bao dung của người chiến sĩ đã trở thành "tấm gương" soi chiếu, giúp người họa sĩ nhận ra lỗi lầm và thức tỉnh lương tâm.
Sự cần thiết của việc tự soi xét bản thân.Con người cần biết dũng cảm nhìn thẳng vào những khiếm khuyết, sự ích kỷ của chính mình để hoàn thiện nhân cách. Đôi khi, chúng ta cần học cách khiêm nhường để thấy được những vẻ đẹp khuất lấp quanh mình.
Câu 1.
• Người kể chuyện trong văn bản là người kể hạn tri
Câu 2.
• Thành phần chêm xen là:
• anh và tôi
• to và nặng gấp đôi 1 chiếc cái ba lô bình thường của khách đi đường
Câu 3
• Thái độ: Người họa sĩ thấy tự ái, tỏ vẻ phật ý, từ chối với khuôn mặt lạnh lùng.
• Lý do: Ông xem mình là người họa sĩ có tên tuổi, là nghệ sĩ sáng tạo "chứ không phải là "anh thợ vẽ truyền thần". Mà còn là lòng tự trọng khiến ông thấy người chiến sĩ đang xúc phạm mình.
Câu 4.
• Đoạn văn sử dụng Điểm nhìn bên trong (tâm tư, suy nghĩ của NV Tôi)
• Tác dụng:
• Tăng tính chân thực: Giúp người đọc đi sâu vào thế giới nội tâm phức tạp, dằn vặt và sự thay đổi nhận thức
• Làm nổi bật chủ đề: Sự đối lập sâu sắc về cái tôi cao ngạo của nghệ sĩ và tấm lòng hi sinh
Câu 5.
• Bài học: Qua văn bản, em rút ra rằng: Đừng vội vàng đánh giá người khác hay quá tự cao. Sự cao ngạo có thể làm cho chúng ta có cái nhìn không tốt về những giá trị đẹp đẽ xung quanh.
Câu 1
Người kể chuyện là người kể hạn tri
Câu 2
Các thành phần chêm xen trong phần bao gồm:
+ anh và tôi, chỉ có 2 người,đi trong rừng
Tác dụng: Bổ sung thông tin chi tiết về hoàn cảnh đơn độc của hai người và sự nặng nề của đống tài sản (tranh) mà người chiến sĩ phải mang giúp, từ đó làm nổi bật sự vất vả và lòng độ lượng của người chiến sĩ.
Câu 3
+Thái độ: Người họa sĩ cảm thấy tự ái và từ chối khéo bằng cái mặt lạnh lùng.
+Lý do: Ông coi mình là một "họa sĩ có tên tuổi", một nghệ sĩ sáng tạo thực thụ chứ không phải là một "anh thợ vẽ truyền thần".
+ Ông cảm thấy yêu cầu của người chiến sĩ là tầm thường, không hiểu gì về nghệ thuật, làm tổn thương lòng tự trọng nghề nghiệp cao ngạo của mình.
Câu 4
+ Về nội dung: Thể hiện sự thức tỉnh và tự vấn lương tâm của nhân vật "tôi". Điểm nhìn bên trong giúp người đọc thấy được sự thay đổi từ thái độ kiêu ngạo sang sự nể phục, hối lỗi trước vẻ đẹp tâm hồn của người chiến sĩ.
+ Về nghệ thuật: Làm cho câu chuyện trở nên sâu sắc, mang tính triết lý về cách nhìn nhận con người. Nó tạo ra sự đối lập giữa cái "tôi" bé nhỏ, ích kỷ với sự cao thượng, bao dung vô tư của người chiến sĩ, từ đó gây xúc động mạnh cho người đọc.
Câu 5
Qua văn bản "Bức tranh" của Nguyễn Minh Châu, bài học sâu sắc nhất mà em rút ra được chính là sự khiêm tốn và lòng độ lượng trong cách đối nhân xử thế. Câu chuyện về sự đối lập giữa cái "tôi" kiêu ngạo, vị kỷ của anh họa sĩ và sự hy sinh, bao dung vô tư của người chiến sĩ đã thức tỉnh chúng ta về giá trị đích thực của một con người. Đôi khi, những người có địa vị hay tri thức lại dễ rơi vào cái bẫy của sự tự mãn, xem thường người khác, trong khi những tâm hồn bình dị nhất lại chứa đựng sức mạnh của lòng nhân ái cao cả. Bài học ở đây không chỉ là việc biết giúp đỡ người khác mà còn là năng lực tự soi chiếu, nhìn nhận lại những góc khuất ích kỷ của bản thân để sửa đổi. Chúng ta cần học cách trân trọng những giá trị tâm hồn bên trong hơn là những danh hiệu phù phiếm bên ngoài, đồng thời luôn giữ thái độ cầu thị, biết ơn trước những tấm lòng nhân hậu mà mình may mắn gặp được trong đời.
câu1 Người kể chuyện là ngôi thứ nhất (nhân vật “tôi”), thuộc kiểu hạn tri → chỉ kể những gì mình chứng kiến, cảm nhận.
Câu 2:
Thành phần chêm xen là:
“(to và nặng gấp đôi một cái ba lô bình thường của khách đi đường)”
→ Đây là phần bổ sung, giải thích thêm cho “đống tranh của tôi”, giúp người đọc hiểu rõ mức độ nặng, cồng kềnh.
Câu 3: Thái độ của người họa sĩ khi được người chiến sĩ nhờ vẽ chân dung
Thái độ: Người họa sĩ ban đầu nhận lời một cách khá hời hợt, xem đó như một việc làm mang tính "ban ơn" hoặc hoàn thành một nghĩa vụ thông thường. Ông không thực sự đặt tâm huyết hay sự trân trọng vào yêu cầu của người chiến sĩ lúc bấy giờ.
Lý do:
Vì lúc đó ông đang là một họa sĩ có tên tuổi, tự cho mình là "bề trên".
Ông nhìn nhận mối quan hệ theo lối mòn: người có địa vị, tuổi tác và tài năng hơn đang làm một việc tử tế cho người "dưới" mình.
Sự tự mãn và cái tôi cá nhân quá lớn khiến ông không nhận thấy được giá trị tinh thần cao đẹp từ lời nhờ vả giản dị của người chiến sĩ.
Câu 4: Phân tích tác dụng của điểm nhìn trần thuật
Đoạn văn sử dụng điểm nhìn bên trong (ngôi thứ nhất - nhân vật "tôi").
Tác dụng:
Đi sâu vào nội tâm: Giúp người đọc khám phá những diễn biến tâm lý phức tạp, những trăn trở và sự tự vấn lương tâm của nhân vật họa sĩ một cách chân thực nhất.
Tăng tính thuyết phục: Khi nhân vật tự phơi bày những khiếm khuyết, sự ích kỷ và cái nhìn hạn hẹp của chính mình, câu chuyện trở nên khách quan và có sức lay động mạnh mẽ hơn về mặt đạo đức.
Tạo sự đồng cảm: Người đọc như đang cùng nhân vật trải qua quá trình thức tỉnh, nhận ra sự cao thượng của người khác để soi rọi lại bản thân.
Câu5: Qua văn bản, bài học sâu sắc nhất là sự trân trọng thời gian, yêu thương con người, hoặc nỗ lực vượt qua khó khăn. Bạn cần sống chân thành, hiền lương, biết chia sẻ và không ghen ghét, đố kỵ. Bài học này hướng đến việc hoàn thiện bản thân, sống có trách nhiệm và ý nghĩa hơn trong cuộc sống.
Câu 1
Người kể chuyện trong văn bản trên là người kể hạn tri
Câu 2
Thành phần chêm xen trong đoạn văn là : To và nặng gấp đôi một cái ba lô bình thường của khách đi đường
Câu 3
Thái độ của nhân vật tôi : từ chối bằng cái mắt lạnh lùng
Vì nhân vật tôi là một họa sĩ chứ không phải một anh thợ vẽ truyền thần
Câu 4
Trong đoạn văn tác giả sử dụng điểm nhìn thứ nhất ( ngôi kể thứ nhất) đây là điểm nhìn của của nhân vật ông hoạ sĩ một người có trải nghiệm có có địa vị và sự tự trọng
Tăng tính chân thực và sức thuyết phục
Đi vào giới nội tâm phức tạp
Tạo ra sự đồng cảm
Thể hiện tư tưởng của tác giả
Câu 5
Em giúp ra bài học là : Hãy luôn mở lòng để nhận ra và trân trọng sự giúp đỡ , lòng tốt của mọi người xung quanh , từ đó hoàn thiện nhân cách của chính mình
Câu 1: Người kể hạn tri.
Câu 2: -Thành phần chêm xen là: "to và nặng gấp đôi một cái balo bình thường của khách đi đường"
-Tác dụng: Bổ sung thông tin làm rõ "đống tranh" nặng như thế nào, nhấn mạnh sự vất vả của người chiến sĩ, tăng tính biểu cảm cho câu văn.
Câu 3: Thái độ lúc đầu của người hoạ sĩ là lạn lùng, tự ái, từ chối vẽ. Lúc sau thì xấu hổ, ân hận và thay đổi su nghĩ.
-Vì do cái "tôi" kiêu ngạo, tự cho mình là hoạ sĩ có giá trị. Sau khi được người chiến sĩ giúp đỡ tận tình, nhận ra được tấm lòng bao dung của anh và tự thấy bản thân mình nhỏ bé.
Câu 5: Qua bài văn trên, em rút ra cho bản thân mình được một bài học rằng mỗi người cần phải sống khiêm tốn, biết ơn và trân trọng những tấm lòng cao cả, tốt đẹp xung quanh, đồng thời cũng phải biết cách yêu thương và giúp đỡ người khác.
Câu 1:
Người kể chuyện là ngôi thứ nhất (xưng “tôi”) - người kể hạn tri.
Câu 2:
Thành phần chêm xen là:
“(to và nặng gấp đôi một cái ba lô bình thường của khách đi đường)”.
-Tác dụng: bổ sung, giải thích rõ độ nặng của bọc tranh
Câu 3:
-Thái độ của người họa sĩ: lạnh lùng, từ chối, có phần kiêu ngạo.
-Nguyên nhân: vì tự ái, cho rằng mình là họa sĩ có tên tuổi, không phải vẽ theo yêu cầu.
Câu 4:
Tác dụng của điểm nhìn trần thuật:
-Giúp thể hiện chân thực tâm lí nhân vật “tôi”.
-Làm câu chuyện gần gũi, chân thật.
-Làm nổi bật sự thay đổi nhận thức của nhân vật.
Câu 5:
Bài học:
-Cần sống khiêm tốn, không kiêu ngạo.
-Biết trân trọng, biết ơn người khác.
-Đánh giá con người qua nhân cách, tấm lòng, không phải địa vị.
Câu 1 : người kể chuyện trong văn bản là người kể chuyện ngôi thứ nhất _ Hàn tri
Câu 2: thành phần chêm xen trong đoạn văn là: "( to và nặng gấp đôi một cái ba lô bình thường của khách đi đường)"
tác dụng :
_ bổ sung thông tin về độ nặng của đống tranh
_ nhấn mạnh sự vất vả , hi sinh của người chiến sĩ khi phải mang vác nặng nề
Câu 3 : khi được người chiến sĩ nhờ vẽ chân dung , người họa sĩ có thái độ tự ái , lạnh lùng , từ chối khéo
nguyên nhân: vì người họa sĩ cho rằng mình là họa sĩ có tuổi , không phải “ thợ vẽ truyền thần” , nên cảm thấy bị coi thường -> dẫn đến thái độ kiêu hãnh , thiếu cảm thông
Câu 4 : tác dụng của điểm nhìn trần thuật:
_giúp câu chuyện trở nên chân thực , gầ gũi , vì được kể từ trải nghiệm trực tiếp của người trong cuộc
_thể hiện rõ diễn biến tâm lí của nhân vật “ Tôi " : từ tự cao, ích kỉ -> nhận ra sai lầm -> xấu hổ , ân hận
_làm nổi bật vẻ đẹp của người chiến sĩ qua sự tuwj nhận thức của người họa sĩ
_tăng tính thuyeets phục và chiều sâu cảm xucs cho đoạn văn
Câu 5 : bài học rút ra
_không nên kiêu ngaoj, tự cao, coi thường người khacs
_ cần biết tôn trọng , cảm thông và giúp đỡ mọi người trong cuộc sống
_sống phải có lòng bao dung , độ lượng , biết tha thứ cho lỗi lầm của người khác
_bieetd nhìn nhận laij bản thân , nhận lỗi và sửa sai khi mắc khuyết điểm
Câu 1
Người kể chuyện trong văn bản là : hạn tri
Câu 2
Thành phần chênh xen là : to và nặg gấp đôi một cái ba lô cụa khách đi đường
Câu 3
Thái độ cụa họa sĩ khi đc người chiến sĩ nhờ vẽ chân dung : nhận lời tuy nhiên khong tận tâm , coi như 1 côg việc thôg thường , khog có sự tâm huyết
Lí do : Ôg cho bản thân là người có tiếng tăm , coi mình hơn ngkhac , cho mình là người có địa vị , kinh nghiệm
Câu 4
Đoạn văn sử dụng điểm nhìn bên trog
Tác dụng : thu hút người đọc kì thú với diễn biến cũng như tâm lý , lương tâm cụa người họa sĩ 1 cách rõ ràng , chân thật tạo nên sức hút cho đoạn văn nhằm sáng tỏ hơn sâu trog nội tâm của nhân vật . Ngoài ra sau những diến biến cs thể thây đc tình huống , bối cảnh tăng tính thiết phực khi ta thấy đc mặt xấu ích kỉ từ đs thấy rõ đc nội tâm , đạo đức và cũng từ đó tạo ra đc người đọc là sự đồng cam , cảm xúc sâu sắc
Câu 1: Người kể chuyện trong văn bản trên là: hạn trị ( xưng " tôi " )
Câu 2: Thành phần chêm xen trong văn bản dưới đây là: " Có lẽ tất cả đến sáu bảy chục lần"
Câu 3: Khi được người chiến sĩ nhờ vẽ một bức chân dung, người họa sĩ đã có thái độ ngạc nhiên và bối rối. Vì anh cảm thấy không xứng đáng và không đủ khả năng để vẽ chân dung người chân dung người chiến sĩ, người đã giúp đỡ anh và có phẩm chất vô cùng cao quý
Câu 4: Đoạn văn trên đã sử dụng thành công điểm nhìn trần thuật. Nhằm tăng tính chân thực và khách quan cho câu chuyện. Giúp người đọc cảm nhận được trực tiếp những suy nghĩ, cảm xúc và trải nghiệm của nhân vật chính, tạo sự đồng cảm và tin cậy hơn vào những gì được kể
Câu 5 : Qua câu văn bản, em đã rút ra được cho bản thân mình nhiều bài học ý nghĩa cho cuộc sống. Mỗi con người phải tự rèn luyện và nhận thức về thái độ sống.Phải có lòng độ lượng và sự tử tế , có lòng bao dung với mọi người , không phân biệt tuổi tác hay địa vị xã hội . Đôi khi chính sự vị tha của người khác lại là tấm gương soi sáng cho ta để có thể hoàn thiện bản thân hơn. Bên cạnh đó , cần phải biết nhìn nhận lại bản thân, gạt bỏ những định kiến để học hỏi những điều tốt đẹp từ mọi người xung quanh. Cách cư xử chân thành không vụ lợi sẽ có sức lan toả mạnh mẽ và giúp xóa bỏ được những khoảng cách và hiểu lầm trong cuộc sống.
Câu 1: Người kể chuyện là người kể hạn tri, kể theo ngôi thứ nhất “tôi”. Câu 2: Thành phần chêm xen: “(to và nặng gấp đôi một cái ba lô bình thường của khách đi đường)”. Câu 3: Thái độ của người họa sĩ: Lạnh lùng, từ chối khéo khi người chiến sĩ nhờ vẽ chân dung. Vì Người họa sĩ tự ái, cho rằng mình là họa sĩ có tên tuổi, không phải thợ vẽ truyền thần nên không muốn vẽ theo yêu cầu. Câu 4: Tác dụng của điểm nhìn trần thuật: Giúp câu chuyện chân thực, gần gũi và sinh động. Thể hiện trực tiếp suy nghĩ, cảm xúc, sự tự nhận thức và hối hận của nhân vật “tôi”. Làm nổi bật vẻ đẹp độ lượng của người chiến sĩ và sự thay đổi trong nhận thức của người họa sĩ. Câu 5: Bài học rút ra: Cần sống khiêm tốn, biết trân trọng và đối xử chân thành với người khác, không nên tự cao hay đánh giá người khác qua địa vị; đồng thời học được lòng nhân hậu và sự bao dung.
Câu 1
Nguời kể chuyện trong văn bản là người hạn tri
Câu2
Thành phần chêm xen là:
‘‘To và nặng gấp đôi một cái ba lô của một khách đi đường ”
Câu 3
Người hoạ sĩ có thái độ:
Lạnh lùng ,kiêu ngạo , từ chối vẽ chân dung
Vì người hoạ sĩ bị tự ái nghề nghiệp,cho mình là hoạ sĩ có tên tuổi ,xem thường yêu cầu của chiến sĩ
Câu 4
Tác dụng của điểm nhìn trần thuật
-Giúp câu chuyện trở nên chân thực, gần gũi.
-Thể hiện rõ diễn biến tâm lí của nhân vật
-Làm nổi bật sự đối lập giữa người họa sĩ và người chiến sĩ.
-Tăng sức biểu cảm và tính tự sự , tự nhận thức.
câu 5
Bài học rút ra là:
Không nên kiêu ngạo, coi thường người khác.Cần biết trân trọng, biết ơn những con người giản dị mà cao đẹp.Sống phải có lòng nhân ái, khiêm tốn và biết nhìn lại bản thân.Đôi khi người ở dưới có nhân cách lớn hơn người ở trên
Câu 1: Người kể chuyện trong văn bản trên là người kể hạn tri, vì người kể chỉ biết và kể lại những gì mình đã trải qua và cảm nhận. Câu 2: Thành phần chêm xen trong đoạn văn là: "(to và nặng gấp đôi một cái ba lô bình thường của khách đi đường)" - Đây là một thành phần giải thích thêm về cái ba lô của người họa sĩ. Câu 3: Khi được người chiến sĩ nhờ vẽ một bức chân dung, người họa sĩ đã từ chối khéo bằng cái mặt lạnh lùng. Nhân vật này có thái độ như vậy vì anh ta tự ái, cho rằng mình là một họa sĩ, không phải là một anh thợ vẽ truyền thần. Câu 4: Điểm nhìn trần thuật trong đoạn văn này giúp người đọc hiểu rõ hơn về sự thay đổi trong tâm trạng và suy nghĩ của người họa sĩ. Qua đó, tác giả muốn thể hiện sự nhận thức và thay đổi trong cách nhìn nhận của người họa sĩ về lòng độ lượng của người chiến sĩ. Câu 5: Qua văn bản này, em rút ra bài học về sự độ lượng và lòng nhân ái của con người. Người chiến sĩ đã thể hiện lòng độ lượng và sự giúp đỡ chân thành đối với người họa sĩ, dù anh ta đã từ chối vẽ chân dung của mình. Điều này giúp người họa sĩ nhận ra và thay đổi cách nhìn nhận của mình về người khác.
Câu 1: Người kể chuyện trong văn bản trên là người kể hạn tri. Câu 2: Thành phần chêm xen trong đoạn văn là: "to và nặng gấp đôi một cái ba lô bình thường của khách đi đường" Câu 3: Thái độ của họa sĩ: Thấy tự ái, từ chối khéo bằng cái "mặt lạnh lùng". Lý do: Vì ông cho rằng mình là một họa sĩ thực thụ (nghệ sĩ sáng tạo), chứ không phải là một "anh thợ vẽ truyền thần" (người vẽ thuê, sao chép lại chân dung). Đây là cái tôi sĩ diện, có phần kiêu ngạo của một người làm nghệ thuật có tên tuổi.
Câu 4: Điểm nhìn: Từ bên trong nhân vật "tôi" (người họa sĩ). Tác dụng: +) Giúp việc bộc lộ tâm trạng, những suy nghĩ trăn trở và sự thức tỉnh về đạo đức trở nên chân thực, sâu sắc hơn. +) Tạo ra cái nhìn đa chiều: nhân vật tự soi xét, đánh giá lại bản thân mình. Từ chỗ coi mình là "bề trên", người họa sĩ nhận ra sự nhỏ bé về tâm hồn trước sự bao dung, độ lượng của người chiến sĩ "bề dưới". +) Tăng tính thuyết phục cho bài học về cách nhìn nhận con người và lòng trắc ẩn.
Câu 5 Qua văn bản,em rút ra cho mình bài học : Đừng bao giờ đánh giá người khác qua vẻ bề ngoài hay địa vị xã hội.Lòng độ lượng và sự hy sinh thầm lặng của những người bình thường đôi khi cao cả hơn rất nhiều so với những danh xưng hào nhoáng.Cần biết dẹp bỏ cái tôi ích kỷ, sự kiêu ngạo để sống chân thành và biết ơn.
Câu 1:
Người kể chuyện hạn
Câu 2 :
Thành phần chêm xen là:
- To và nặng gấp đôi một cái ba lô bình thường của khách đi đường
- Anh và tôi
Câu 3 :
- Người họa sĩ từ chối người chiến sĩ với khuôn mặt lạnh lùng .Nhân vật họa sĩ có thái độ như vậy là vì cảm thấy tự ái , khó chịu khi được nhờ vẽ
Câu 4
Tác giả đã sử dụng thành công điểm nhìn trần thuật làm cho đoạn trích thêm tính chân thực, nhấn mạnh được vị trí người kể chuyện ở trong câu chuyện.Nói lên được sự day dứt,cảm thấy bản thân tội lỗi của họa sĩ đối với người chiến sĩ. Qua đó ,giúp người đọc thấu hiểu được lòng vị tha và những phẩm chất khác của con người
Câu 5 :
- Qua văn bản em rút ra bài học là phải biết cảm thông cho người khác khi họ làm sai , không nên chê bai , chỉ trích , hạ thấp người khác . Phải biết ơn những người đã giúp đỡ mình nhất là ở trong lúc bản thân khó khăn . Dám can đảm nhìn nhận khuyết điểm của bản thân để sửa đổi
Câu 1: người kể chuyện trong vb là người kể hạn tri(ngôi thứ nhất)
Câu 2: thành phần chêm xem là tổ và nặng gấp đôi một cái ba lô bình thường của khách đi đường
Câu 3: khi người chiến sĩ nhớ về một bức chân dung, người họa sĩ đã có thái độ lạnh lùng vì ông nghĩ mình là một họa sĩ, một anh thợ vẽ, vì thế ông đã từ chối vẽ chân dung cho người chiến sĩ
Câu 4: điểm nhìn của nhân vật "tôi"-người hoạ sĩ
Tác dụng: bộc lộ rõ nét tâm tư,suy nghĩ của nhân vật tôi trong cách ứng xử, lời nói hành động với người chiến sĩ. Qua đó người họa sĩ ân hận về cách ứng xử ko đúng của bản thân
Câu 5: Qua đó em rút ra đc bài học cho bản thân hay luôn tôn trọng người khác không nhìn vẻ bề ngoài mà đánh giá người khác chúng ta không đc tư cao về bản thân hay luôn đặt mình vào vị trí của người khác luôn phải tôn trọng kính trọng mới người xung quanh
câu1: người kể chuyện toàn tri
câu2: to va nặng gấp đôi 1 cái ba lô bình thường của khách đi đường
câu3: Khi được người chiến sĩ nhờ vẽ một bức chân dung, người họa sĩ đã có thái độ mặc cảm, tự ái. Nhân vật này có thái độ như vậy vì anh cảm thấy mình không đủ tư cách để vẽ chân dung người chiến sĩ - một người lính dũng cảm, độ lượng và giàu tình cảm. Anh nhận ra sự khác biệt giữa lý tưởng nghệ thuật của mình và thực tế cuộc sống, cảm thấy mình có lỗi và cần phải vượt qua lòng tự ti, mặc cảm để trân trọng người khác.
câu4: Tác dụng của điểm nhìn trần thuật (ngôi thứ nhất) trong đoạn văn là giúp bộc lộ trực tiếp tâm trạng, suy nghĩ, sự dằn vặt và nhận thức sâu sắc của nhân vật "tôi" (người họa sĩ) về bản thân và về người chiến sĩ. Qua đó, người đọc dễ dàng đồng cảm và hiểu được những thông điệp mà tác giả muốn truyền tải về sự hy sinh, lòng biết ơn và bản chất con người.
câu5: Truyện ngắn "Bức tranh" của Nguyễn Minh Châu gửi gắm bài học sâu sắc về sự trung thực với bản thân, lòng bao dung, và trách nhiệm đạo đức. Tác phẩm nhắc nhở con người cần dũng cảm đối mặt với lỗi lầm, vượt qua sự ích kỷ cá nhân để thấu hiểu, cảm thông và sống nhân hậu hơn, thay vì chỉ theo đuổi danh vọng ảo ảnh.
Câu 1: Vì xưng “tôi”, kể theo cảm nhận, suy nghĩ của chính mình, không biết hết mọi việc.
Câu 2: Thành phần chêm xen là:
→ “(to và nặng gấp đôi một cái ba lô bình thường của khách đi đường)”
→ Tác dụng: bổ sung, giải thích thêm cho “đống tranh”, làm rõ mức độ nặng.
Câu 3:
Thái độ của người họa sĩ:
→ Tỏ ra lạnh lùng, từ chối khéo, có phần tự ái khi được nhờ vẽ chân dung.
Nguyên nhân:
→ Vì anh tự cao, coi mình là họa sĩ “có giá trị”, không phải thợ vẽ bình thường, nên không muốn vẽ theo yêu cầu đơn giản.
Câu 4:
Tác dụng của điểm nhìn trần thuật (ngôi “tôi”):
Giúp thể hiện chân thực, sâu sắc diễn biến tâm lí của nhân vật (từ tự cao → xấu hổ → thức tỉnh).
Làm câu chuyện gần gũi, giàu cảm xúc, tăng tính thuyết phục.
Nhấn mạnh sự thay đổi nhận thức của nhân vật về lòng độ lượng và cách đối xử giữa con người.
Câu 5:
Bài học được rút ra là không kiêu ngạo, coi thường người khác.Chúng ta phải sống khiêm tốn , biết tôn trọng và yêu thương con người. Biết nhận ra sai lầm và sửa đổi bản thân .Cuối cùng là phải trân trọng lòng tốt và sự bao dung của người khác.
Câu 1 Người kể chuyện là :người kể hạn tri Câu 2 Thành phần chêm xen là: “to và nặng gấp đôi một cái ba lô bình thường của khách đi đường” - Tác dụng: bổ sung, giải thích rõ hơn về khối lượng, kích thước của đống tranh. Câu 3. *Thái độ của người họa sĩ: -Tự ái, khó chịu. -Từ chối vẽ một cách lạnh lùng. *Nguyên nhân: -Cho rằng mình là họa sĩ có giá trị, không phải “thợ vẽ truyền thần”. -Có phần kiêu hãnh, coi thường yêu cầu của người chiến sĩ. Câu 4. *Tác dụng của điểm nhìn trần thuật (ngôi “tôi”): -Giúp thể hiện chân thực, trực tiếp dòng suy nghĩ, dằn vặt nội tâm của nhân vật. -Làm nổi bật sự thay đổi nhận thức của người họa sĩ: từ kiêu ngạo → xấu hổ → thức tỉnh. -Tăng tính chân thực và sức thuyết phục cho câu chuyện. -Làm rõ vẻ đẹp của người chiến sĩ qua cảm nhận, so sánh của “tôi”. Câu 5. Bài học rút ra: -Không nên đánh giá người khác qua vẻ ngoài hay vị trí. -Cần sống khiêm tốn, biết tôn trọng và yêu thương người khác. -Trân trọng lòng tốt, sự hy sinh thầm lặng của người khác. -Biết nhận lỗi và thay đổi bản thân khi sai.
câu 1:Người kể chuyện hạn tri
câu 2:Thành phần chêm xen: " to và nặng gấp đôi một cái ba lô bình thường của khách đi đường"
câu 3:Hoạ sĩ đã có thái độ ngỡ ngàng , xúc động và có phần tự trọng , day dứt . Vì người chiến sĩ không hề quản ngại khó khăn, gánh vác thay "tôi" một trọng lượng cực lớn bản thân anh cũng kh khoẻ và sự nhiệt tình ấy hoạ sĩ cảm thấy nể phục
câu4:
+Điểm nhìn từ nhân vật tôi
+Giúp diễn tả một cách chân thực và sâu sắc những diễn biến tâm lý, suy nghĩ nội tâm của nhân vật. Người đọc như được thâm nhập vào thế giới cảm xúc của họa sĩ.
câu 5:Qua văn bản này, em rút ra bài học quý giá:
+Sống biết ơn và rộng lượng: Lòng tốt và sự bao dung có sức mạnh cảm hóa to lớn hơn bất kỳ lời giáo huấn nào. Con người cần biết nhìn lại chính mình, dũng cảm thừa nhận những sai lầm, ích kỷ để hoàn thiện nhân cách.Giá trị của một người không nằm ở danh tiếng hay địa vị (như người họa sĩ có tên tuổi), mà nằm ở tấm lòng chân thành và sự hy sinh thầm lặng (như người chiến sĩ).