Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
a. Từ "chân" được dùng với nghĩa gốc.
b. Từ "chân" được dùng với nghĩa chuyển.
Chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ.
a. Từ "chân" được hiểu theo nghĩa chuyển theo phương thức hoán dụ
b. Từ "chân" được hiểu theo nghĩa chuyển theo phương thức ẩn dụ.
1 .
Hàn Mặc Tử - một trái tim, một tâm hồn lãng mạn dạt dào yêu thương đã bật lên những tiếng thơ, tiếng khóc của nghệ thuật trước cuộc đời. Những phút giây xót và sung sướng, những phút giây mà ông đã thả hồn mình vào tronq thơ, những giây phút ông đã chắc lọc, đã thăng hoa từ nỗi đau của tâm hồn mình để viết lên những bài thơ tuyệt bút. Và bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ đã được ra đời ngay trong những phút giây tuyệt diệu ấy. Ở bài thơ, cái tình mặn nồng trong sáng đã hòa quyện với thiên nhiên tươi đẹp, mối tình riêng đã ở trong mối tình chung hồn thơ vẫn đượm vẻ buồn đau.
Đây thôn Vĩ Dạ là một trong những bài thơ tình hay nhất của Hàn Mặc Tử. Một tình yêu thiết tha man mác, đượm vẻ u buồn ẩn hiện giữa khung cảnh thiên nhiên hoà vào lòng người, cái thực và mộng, huyền ảo và cụ thể hoà vào nhau.
Mở bài đầu thơ là một lời trách móc nhẹ nhàng của nhân vật trữ tình.
Sao anh không về chơi thôn Vĩ.
Chỉ một câu hỏi thôi! Một câu hỏi của cô gái thôn Vĩ nhưng chan chứa bao yêu thương mong đợi. Câu thơ vừa có ý trách móc vừa có ý tiếc nuối của cô gái đối với người yêu vì đã bỏ qua được chiêm ngưỡng vẻ đẹp mặn mà, ấm áp tình quê của thôn Vĩ - vùng nông thôn ngoại ô xinh xắn thơ mộng, một phương diện của cảnh Huế.
Chúng ta hãy chú ý quan sát, tận hưởng vẻ đẹp của thôn Vĩ:
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Nét đặc sắc của thôn Vĩ - quê hương người con gái gợi mở ở câu đầu liên đây đã được tả rõ nét. Một bức tranh thiên nhiên tuyệt tác rộng mở trước mắt người đọc. Hình ảnh nắng tưới lên trên ngọn cau tươi đẹp, tràn đầy sức sống. Nắng mới là nắng sớm bắt đầu của một ngày, những hàng cau cao vút vươn mình đón lấy những lia nắng sớm kia, và tất cả tràn ngập ánh nắng và buổi bình minh. Cái nắng hàng cau nắng mới lên sao lại gợi một nỗi niềm làng quê hương đến thế. Câu thơ này bất chợt khiến ta nghĩ tới những câu thơ Tố Hữu trong bài thơ Xuân lòng.
Nắng xuân tươi trên thân dừa xanh dịu Tàu cau non lấp loáng muôn gươm xanh Ánh nhởn nhơ đùa quả non trắng phếu Và chảy tan qua kẽ lá cành chanh.
Nắng mới cũng còn có ý nghĩa là nắng của mùa xuân, mở đầu cho một năm mới nên bao giờ nó cũng bừng lên rực rõ nồng nàn. Đó là những tia nắng đầu tiên rọi xuống làng quê mà trước nó chiếu vào những vườn cau làm cho những hạt sương đêm đọng lại sáng lên, lấp lánh như những viên ngọc được dính vào chiếc choàng nhung xanh mịn:
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Cái nhìn như chạm khẽ vào sắc màu của sự vật để rồi bật lên một sự ngạc nhiên đên thẫn thờ. Đến câu thơ này, ta bắt gặp cái nhìn của thi nhân đã hạ xuống thấp hơn và bao quát ở chiều rộng. Một khoảng xanh của vườn tược hiện ra, nhắm mắt lại ta cũng hình dung ra ngay cái màu xanh mượt mà, mỡ màng của vườn cây. Ta không chỉ cảm nhận ở đó màu xanh của vẻ đẹp mà nó còn tràn trề sức sống mơn mởn. Những tán lá cành cây được sương đêm gột rửa trở thành cành lá ngọc. Không phải xanh mượt, cũng không phải xanh mỡ màng mà chỉ có xanh như ngọc mới diễn tả được vẻ đẹp ngồn ngộn, sự sống của vườn tược. Một màu xanh cao quí, lấp lánh, trong trẻo làm cho vườn cây càng sáng bóng lên. Hình như cả vườn cây đều tắm trong luồng không khí đang còn run rẩy sự trinh bạch nguyên sơ chưa hề nhuốm bụi. Lăng kính không khí ấy làm hiện rõ hơn đường nét màu sắc của cảnh sắc mà mắt thường chúng ta bỏ qua. Nếu không có một tình yêu sâu nặng nồng nàn đối với Vĩ Dạ thì Hàn Mặc Tử không thể có được những vần thơ trong trẻo như vậy. Ai từng sinh ra và lớn lên ở Việt Nam, đặc biệt ở xứ Huế thì mới thấm thìa những vần thơ này:
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Trong vườn thôn Vĩ Dạ kia, nhành lá trúc và khuôn mặt chữ điền sao lại có mối liên quan bất ngờ mà đẹp thế: những chiếc lá trúc thanh mảnh, thon thả che ngang gương mặt chữ điền. Mặt chữ điền - khuôn mặt ấy càng hiện ra thấp thoáng sau lá trúc mơ màng, hư hư thực thực.
Thôn Vĩ Dạ nằm cảnh ngay bờ sông Hương êm đềm. Vì thế mà từ cách tả cảnh làng quê ở khổ thơ đầu hé mở tình yêu, tác giả chuyển sang tả cảnh sông với niềm bâng khuâng, nỗi nhớ mong sầu muộn hư ảo nhưưong giấc mộng:
Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay ?
Gió và mây để gợi buồn vì nó trôi nổi, lang thang thì nay lại càng buồn hơn gió đi theo đường gió, mây đi theo đường mây, gió và mây xa nhau; không thể là bạn đồng hành, không thể gặp gỡ và sự xa cách của nhà thơ đối với người yêu có thể là vĩnh viễn. Phải chăng đây là cảm giác của nhà thơ trong xa cách nhớ thương, và đây cũng là mặc cảm của những con người xưa trong cuộc sống. Nỗi buồn về sự chia li, tiễn biệt đọng lại trong lòng người phảng phất buồn và mang một nỗi niềm xao xác. Chúng ta không còn thấy giọng tươi mát đầy sức sống ở đoạn trước nữa, chúng ta gặp lại Hàn Mặc Tử - một tâm hồn đau buồn, u uất:
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Dòng sông Hương hiện ra mới buồn làm sao với những bông hoa bắp màu xám tẻ nhạt, ảm đạm như màu khói. Với một tâm hồn mãnh liệt như Hàn Mặc Tr thì dòng sông trôi lững lờ của xứ Huế chỉ là dòng sông buồn thiu gợi cảm giác buồn lặng, quạnh quẽ. Hoa hắp cũng lay nhè nhẹ trong một nỗi buồn xa vắng. Sự thay đổi tâm trạng chính là thái độ của những người sông trong vòng đời tối lăm, bế tắc. Mặt nước sông Hương êm quá gợi đến những bế bờ xa vắng, những mảnh bèo trôi dạt lênh đênh của số kiếp người. Tâm trạng thoắt vui - thoắt buồn mà buồn thì nhiều hơn, ta đã gặp rất nhiều ở các nhà thơ lãng mạng khác sống cùng với thời Hàn Mặc Tử. Ý thơ thật buồn, được nối tiếp trong hai câu sau nhưng với cách diễn đạt, thật tuyệt diệu, thực đấy mà mộng đấy:
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Cỏ chở trăng về kịp tối nay?
Tất cả như tan loãng trong vầng trăng thân thuộc của Hàn Mặc Tử. Cảnh vật thiên nhiên tràn ngập ánh sáng, một ánh trăng vàng sáng loáng chiếu xuống dòng sông, làm cho cả dòng sông và những bãi bồi lung linh, huyền ảo. Cảnh nên thơ quá, thơ mộng quá! Và cũng đa tình quá! Dòng nước buồn thiu đã hoá thành dòng sông trăng lung linh, con thuyền khách đã trở thành thuyền trăng. Tác giả đã gửi gắm một tình yêu khát khao, nỗi ngóng trông, mong nhớ vào con thuyền trăng, vào cả dòng sông trăng. Thơ lồng trong ngôn ngữ thơ thật là tài tình, thật là đẹp với xứ Huế mộng mơ. Tác giả đã lướt bút viết nên những câu thơ nhẹ nhàng, sâu kín nhưng hàm chứa cả tình yêu bao la, nồng cháy đến vô cùng. Vầng trăng trong hai câu thơ này là vầng trăng nguyên vẹn của thi nhân trước mảnh tình yêu chưa bị phôi pha. Hàn Mặc Tử rất yêu trăng nhưng vầng trăng ở các hài thơ khác không giống thế này. Một ánh trăng gắt gao, kì quái, một ánh trăng khêu gởi, lả lơi:
Gió tít tầng cao trăng ngã ngửa
Vờ tan thành vũng đọng vàng kho.
Hay:
Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi.
Trăng trở thành một khí quyển bao quanh mọi cảm giác, mọi suy nghĩ của Hàn Mặc Tử, hơn nữa nó còn lẫn vào thân xác ông. Nó là ông là trời đất, là người ta. Trăng biến thành vô lường trong thơ ông, khi hữu thể khi vô hình, khi mê hoặc khi kinh hoàng:
Thuyền ai đậu đên sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tôi nay?
Vầng trăng ở đây phải chăng là vầng trăng hạnh phúc và con thuyền không kịp trở về cho người trên bến đợi? Câu hỏi biểu lộ niềm lo lắng của một số phận không có tương lai. Hàn Mặc Tử hiểu căn bệnh của mình nên ông mặc cảm về thời gian cuộc đời ngắn ngủi, vầng trăng không về kịp và Hàn Mặc Tử cũng không đợi vầng trăng hạnh phúc đó nữa, một năm sau ông vĩnh biệt cuộc đời.
Nhưng hiện tại, con người đang sống và đang tiếp tục giấc mơ:
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo trắng quá nhìn không ra;
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà ?
Trái tim khao khái yêu thương, những nỗi đau kỉ niệm tình yêu ấy, ông đã gửi tất cả vào những trang thơ. Và rồi tất cả như trôi trong những giấc mơ của ước ao, hi vọng. Màu áo trắng cũng là màu ánh nắng của Vĩ Dạ mà nhìn vào đó tác giả choáng ngợp, thấy ngây ngất trước sự trong trắng, thanh khiết, cao quý của người yêu.
Hình như giữa những giai nhân áo trắng ấy với thi nhân có một khoảng cách nào đó khiến thi nhân không khỏi không nghi ngờ:
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
Câu thơ đã tả thực cảnh Huế - kinh thành sương khói. Trong màn sương khói đó con người như nhoà đi và có thể tình người cũng nhoà đi? Nhà thơ không tả cảnh mà tả tâm trạng mình, biết bao tình cảm trong câu thơ ấy. Những cô gái Huế kín đáo quá, ẩn hiện trong sương khói, trở nên xa vời quá, liệu khi họ yêu họ có đậm đà chăng? Tác giả đâu dám khẳng định về tình cảm của người con gái Huế, ông chỉ nói:
Ai biết tình ai có đậm đà ?
Lời thơ như nhắc nhở, không phải bộc lộ một sự tuyệt vọng hay hy vọng, đó chỉ là sự thất vọng. Sự thất vọng của một trái tim khao khát yêu thương mà không bao giờ và mãi mãi không có tình yêu trọn vẹn. Bài thơ càng hay càng ngậm ngùi, nó đã khép lại nhưng lòng người vẫn thổn thức. Cả bài thơ được liên kết bởi từ ai mở đầu: Vườn ai mướt quá xanh như ngọc; tiếp đến Thuyền ai đậu bến sông trăng đó; và kết thúc là Ai biết tình ai có đậm đà? Càng làm cho Đây thôn Vĩ Dạ sương khói hơn, huyền bí hơn.
Đây thôn Vĩ Dạ là một bức tranh đẹp về cảnh người và người của miền đất nước qua tâm hồn giàu tưởng tượng và đầy yêu thương của nhà thơ với nghe thuật gợi liên tưởng, hoà quyện thiên nhiên với lòng người.
Trải qua bao năm tháng, cái tình Hàn Mặc Tử vẫn còn nguyên nóng hổi, lay động day dứt lòng người đọc.
Xem thêm tại: https://loigiaihay.com/phan-h-bai-tho-day-thon-vi-da-cua-han-mac-tu-ngu-van-12-c30a18925.html#ixzz5h78CMRYL
2 . Cảm nhận về đoạn thơ sau:
“Mình đi có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ nhữ...
Trả lời :
Từ láy : tà tà, thơ thẩn, thanh thanh, nao nao, nho nhỏ
Từ ghép: dan tay, tiểu khê, phong cảnh, dòng nước, uốn quanh, dịp cầu, bắc ngang
Từ ghép: dan tay, tiểu khê, phong cảnh, dòng nước, uốn quanh, dịp cầu, bắc ngang
Từ láy: tà tà, thơ thẩn, thanh thanh, nao nao,nho nhỏ
Mình rất vui vì có người lạ hiểu mình về việc quay trở lại trường học :
Mình thấy rất vui vì có nhiều trai đẹp trong trường từ lp 6 đến 9 .
Mình thấy hãm hãm mấy bọn con trai hay giơ ngón giữa , điều đấy làm mình ghét họ hơn .
Mình chọ ý kiến 2 , cho xin .
Mình chọn đáp án 1 : Em cảm thấy vui vì em đã bước vào một năm học mới đầy niềm vui và bất ngờ.
Đáp án 1 là Liệt kê thực tế!
Người quốc sắc, kẻ thiên tài
Tình trong như đã mặt ngoài còn e
Sương in mặt tuyết pha thân
Sen vàng lãng đãng nhơ gần như xa
Làm cho rõ mặt phi thường=>Mặt theo nghĩa là phần phía trước, từ trán đến cằm của người, hay phần phía trước của đầu con thú, nơi có các bộ phận như mắt, mũi, mồm.
Bấy giờ ta sẽ nước nàng nghi gia
Buồn trông lỗi cỏ dầu dầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh=>Mặt theo nghĩa là phần phẳng ở phía trên hoặc phía ngoài của vật, phân biệt với phần bên dưới hoặc bên trong.
a) Lời dẫn trực tiếp: "- Thiếp cảm ơn..."
Dấu hiệu nhận biết có dấu gạch ngang đầu dòng.
b) ND: Vũ Nương trở về trên bến Hoàng Giang.
Qua đó em hiểu đc VN là 1 người vợ thương chồng, mẹ yêu con, thủy chung, vị tha.
a. Giải thích ý thơ:
- Niềm thương cảm của Nguyễn Du dành cho những người phụ nữ. "Phận" là thân phận,"mệnh" là số phận do trời định. "Lời bạc mệnh" là "lời chung" dành cho những người phụ nữ => Đó là kiếp "đàn bà" đều phải chịu đắng cay, khổ cực.
b. Trình bày suy nghĩ về số phận người phụ nữ xưa và nay:
- Suy nghĩ về người phụ nữ trong xã hội xưa
- Thân phận: thân phận của những con người chịu nhiều bất công, oan ức và bị chà đạp về nhân phẩm.
- Số phận Vũ Nương, Thúy Kiều hội đủ những bi kịch của người phụ nữ, là "tấm gương oan khổ";
- Suy nghĩ về người phụ nữ trong xã hội ngày nay
- Ngày nay trong xã hội mới, xã hội hiện đại khi nam nữ đã bình quyền, phụ nữ đã được tôn trọng, đánh giá ngang với đàn ông. Pháp luật đã bảo vệ họ
- Người phụ nữ ngày nay vẫn kế thừa và phát huy được truyền thống tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam: vẫn coi trọng tứ đức, tam tòng nhưng không chỉ dừng lại ở đó. Tứ đức cùng với đạo tam tòng không phải là tư tưởng chính thống quyết định số phận họ. Ngày nay phụ nữ có quyền bình đẳng như nam giới: tự mình quyết định hạnh phúc, tương lai, cuộc đời mình.
- Thực tế xã hội ngày nay bạo lực gia đình không hẳn đã chấm hết, người phụ nữ chưa hẳn đã được bình đẳng tuyệt đối như nam giới vốn do thiên bẩm là thế nhưng họ đã thực sự có một cuộc đời mới, số mệnh mới...
Câu 1. Văn bản Kim Trọng tìm Kiều kể về việc gì? Văn bản kể về sự việc Kim Trọng sau khi chịu tang chú ở Liêu Dương trở về, vội vã sang tìm Thúy Kiều thì thấy cảnh nhà xưa đã hoang tàn. Chàng tìm đến nơi ở mới của gia đình họ Vương, được nghe kể về bi kịch gia đình Kiều và việc nàng đã bán mình chuộc cha. Đoạn trích tập trung diễn tả nỗi đau đớn tột cùng của Kim Trọng và quyết tâm đi tìm nàng của chàng. Câu 2. Một số hình ảnh thơ tả thực trong văn bản: Cảnh vườn Thúy hoang vắng: “Cỏ mọc, lau thưa”, “vách mưa rã rời”, “gai gốc mọc đầy”, “rêu phong dấu giày”. Cảnh nhà mới của gia đình Kiều: “Nhà tranh, vách đất tả tơi”, “lau treo rèm nát, trúc gài phên thưa”, “sân đất cỏ dầm mưa”. Câu 3. Cảm xúc của Kim Trọng khi chứng kiến khung cảnh nhà Thúy Kiều: Ngỡ ngàng, hụt hẫng: Trước sự thay đổi quá lớn của cảnh vật vốn là nơi hẹn hò thơ mộng (“Nhìn phong cảnh cũ, nay đà khác xưa”). Cô đơn, trống trải: Cảm giác quạnh quẽ khi đối diện với lầu không, cỏ dại, không thấy bóng dáng người thương (“Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai?”). Ngao ngán, xót xa: Khi tận mắt thấy nơi ở mới rách nát của gia đình Kiều, chàng cảm thấy bàng hoàng và thương cảm sâu sắc cho hoàn cảnh sa sút của người yêu. Câu 4. Biện pháp nghệ thuật trong hai câu thơ: Biện pháp: Điệp cấu trúc (điệp từ “càng”) kết hợp với phép đối (Gan càng tức tối / ruột càng xót xa). Hiệu quả: Nhấn mạnh mức độ tăng dần, dồn dập của nỗi đau đớn, uất ức trong lòng Kim Trọng. Cụ thể hóa nỗi đau từ cảm xúc tinh thần sang sự đau đớn về thể xác (gan, ruột). Thể hiện sự đồng cảm, trân trọng và tình yêu sâu nặng mà chàng dành cho Kiều; cho thấy Kim Trọng là người trọng tình trọng nghĩa. Câu 5. Tình cảm của Kim Trọng dành cho Thuý Kiều: Tình cảm của Kim Trọng là một tình yêu thủy chung, son sắt, vượt qua mọi định kiến và rào cản. Nỗi đau đớn đến cuồng nhiệt: Chàng không chỉ khóc mà còn “vật mình”, “ngất đi sống lại” khi nghe tin dữ. Điều này cho thấy Kiều chiếm vị trí độc tôn trong trái tim chàng. Sự trân trọng và khẳng định nghĩa vợ chồng: Mặc dù chưa chính thức cưới hỏi, chàng vẫn khẳng định: “Chưa chăn gối, cũng vợ chồng”. Chàng coi lời thề xưa là “vàng đá”, không hề thay lòng khi nàng gặp nạn. Quyết tâm tìm kiếm vô điều kiện: Câu thơ “Còn tôi, tôi gặp mặt nàng mới thôi!” và “Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua” thể hiện ý chí mãnh liệt, sẵn sàng hy sinh cả sự nghiệp (treo ấn từ quan) để đi tìm người yêu, dù phải vào sinh ra tử.
C1
nỗi đau đớn và sự tìm kiếm tuyệt vọng của Kim Trọng khi trở về nhà, phát hiện Thúy Kiều đã phải bán mình chuộc cha, và mọi thứ thay đổi, tình yêu đẹp đẽ thuở xưa giờ tan vỡ, thể hiện nỗi xót xa, day dứt của chàng trước bi kịch số phận của nàng.
C2
vườn tược hoang tàn, Cửa đóng then cài,ảnh hoa đào,biến đổi của đồ vật
C3
Bàng hoàng và ngỡ ngàng.Khi đến nơi, trước mắt chàng không còn là cảnh nhộn nhịp, ấm cúng mà là sự hoang tàn: "Đầy rẫy cỏ mọc, lối đi rêu phong", "cửa đóng then cài". Sự đối lập gay gắt giữa hình ảnh "hoa đào năm ngoái" vẫn nở và sự vắng bóng của người yêu "Trước sau nào thấy bóng người" khiến chàng rơi vào trạng thái hẫng hụt, sửng sốt.
C4
-bptt Điệp ngữ:"càng... càng" được lặp lại nhiều lần -t/d: hàm tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt. nhấn mạnh nỗi đau đớn, xót xa và tình yêu thương, sự tức giận dâng trào không ngừng, mỗi lúc một mãnh liệt hơn.
C5
-Qua đoạn trích Kim Trọng trở lại tìm Kiều, tình cảm của Kim Trọng dành cho Thúy Kiều là một tình yêu thủy chung, sâu nặng, vượt lên trên mọi biến cố và định kiến. Chàng không chỉ yêu nhan sắc, tài năng mà còn trân trọng nhân cách và thấu hiểu cho nỗi đau của nàng.
- Sự đau đớn tột cùng khi mất người yêu của kim trọng còn được thể hiện rõ hơn ở câu thơ "sinh cảm trông thấy càng thương/gan càng tức tối ruột càng xót xa".Việc sử dụng các hình ảnh cơ thể như "gan", "ruột" cho thấy đây là nỗi đau hữu hình, giày vò trực tiếp vào thể xác và tâm hồn Kim Trọng.
Câu 1: Văn bản "Kim Trọng tìm Kiều" kể về việc Kim Trọng trở lại vườn Thúy sau nửa năm xa cách, chứng kiến cảnh nhà Kiều xơ xác, tiêu điều và nghe tin nàng Kiều đã bán mình để chuộc cha, từ đó thể hiện nỗi đau đớn, xót thương của chàng.
Câu 2:"Đầy vườn cỏ mọc, lau thưa": gợi cảnh hoang vắng, không người chăm sóc. "Song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời": diễn tả sự đổ nát, thiếu hơi ấm. "Nhà tranh, vách đất tả tơi": gợi sự nghèo khó, cơ cực.
Câu 3: Cảm xúc của Kim Trọng khi chứng kiến khung cảnh nhà Thúy Kiều sau nửa năm: Đau xót, bàng hoàng trước sự thay đổi quá lớn: từ một gia đình hạnh phúc, êm ấm trở nên tiêu điều, xơ xác. Thất vọng, hụt hẫng khi không thấy bóng dáng người yêu. Xót thương cho số phận của Kiều khi biết nàng phải bán mình chuộc cha.
Câu 4: Biện pháp nghệ thuật trong câu thơ "Sinh càng trông thấy, càng thương/ Gan càng tức tối, ruột càng xót xa": Điệp từ "càng" được sử dụng liên tiếp, nhấn mạnh sự gia tăng về cường độ của cảm xúc. Sử dụng các từ ngữ mạnh: "tức tối", "xót xa" thể hiện rõ sự giằng xé trong lòng Kim Trọng.Câu thơ diễn tả sâu sắc nỗi đau đớn, giận dữ của Kim Trọng khi chứng kiến cảnh ngộ bi thảm của Kiều, đồng thời thể hiện sự bất lực của chàng trước số phận nghiệt ngã.
Câu 5: Tình cảm của Kim Trọng dành cho Thúy Kiều được thể hiện qua: Nỗi đau xót khi chứng kiến cảnh nhà Kiều tiêu điều: "Nỗi nàng tai nạn đã đầy, Nỗi chàng Kim Trọng bấy chầy mới thương". Hành động tìm kiếm Kiều khắp nơi, dù biết rằng có thể vô vọng: "Vội sang vườn Thúy dò la". Sự quyết tâm, chung thủy, muốn cùng Kiều vượt qua mọi khó khăn: "Rắp mong treo ấn từ quan, Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng pha". Câu thơ tiêu biểu: "Sinh càng trông thấy, càng thương, Gan càng tức tối, ruột càng xót xa." Câu thơ này không chỉ thể hiện nỗi đau của Kim Trọng mà còn cho thấy tình yêu sâu sắc, sự đồng cảm và lòng trắc ẩn của chàng dành cho Kiều.
câu 1 : Văn bản kể về việc Kim Trọng tìm đến gia đình Thuý Kiều sau một thời gian dài phải về quê hộ tang. Chàng đến thăm nhà Kiều, chứng kiến cảnh gia đình Kiều thiếu thốn, nghèo khổ và biết được bi kịch của Kiều câu 2 một số hình ảnh tả thực Cảnh vườn nhà Thúy Kiều: Đầy vườn cỏ mọc, lau thưa, / Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày. – Cảnh nhà Kiều: Nhà tranh, vách đất tả tơi, / Lau treo rèm nát, trúc gài phên thưa. – Khung cảnh xung quanh: Cuối tường gai gốc mọc đầy, / Càng ngao ngán nỗi, càng ngơ ngẩn dường! câu 3 cảm xúc của Kim Trọng trước cảnh gia đình Thuý Kiều: + Bàng hoàng khi thấy cảnh vật khác xưa, hoang tàn và quạnh quẽ: Đầy vườn cỏ mọc, lau thưa, / Song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời. + Xót xa, cảm thấy mất mát và cô đơn khi mọi thứ thay đổi: Trước sau nào thấy bóng người, / Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông. + Nhớ tiếc những kỉ niệm xưa: Đi về, này những lối này ngày xưa. + Bối rối, bất lực, không biết chia sẻ với ai: Chung quanh lặng ngắt như tờ, / Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai? câu 4 biện pháp tu từ: Điệp từ ''càng '' [2 lần ] tác dụng : Làm tăng sức gợi hình gợi cảm . Nhấn mạnh sự tăng dần, dồn dập của cảm xúc trong lòng Kim Trọng. Qua đó tác giả bộc lộ sự thương nhớ, tức giận và xót xa khi được nghe về tình cảnh bi thảm của Kiều. n câu 5 tình cảm Kim Trọng dành cho Kiều: Than khóc trong cơn mê tỉnh; lần giở kỉ vật trong nỗi nhớ thương vô vàn và tự trách mình; khẳng định mối qquạhệ vợ chồng với Kiều và quyết tìm nàng. nhân vật Kim Trọng: Con người thuỷ chung, nặng tình nghĩa, yêu tha thiết, chân thành, mãnh liệt.
Câu 1 :
Văn bản "Kim Trọng tìm Kiều" kể về việc Kim Trọng trở về vườn Thúy, nơi từng hẹn thề với Thúy Kiều, nhưng giờ đây cảnh vật đã thay đổi, hoang tàn, và chàng nhận ra bi kịch của Kiều khi nàng phải bán mình chuộc cha.
Câu 2 :
Các hình ảnh thơ tả thực trong văn bản này có thể bao gồm những mô tả về khung cảnh hoang vắng, tiêu điều của vườn Thúy, thể hiện sự mất mát và thay đổi sau nửa năm Kim Trọng xa cách.
Câu 3 :
Cảm xúc của Kim Trọng khi chứng kiến khung cảnh nhà Thúy Kiều là nỗi đau đớn, xót xa và sự bàng hoàng trước sự đổi thay, mất mát. Chàng cảm nhận rõ bi kịch mà Kiều đang phải gánh chịu, từ đó thể hiện tình yêu sâu sắc và nỗi thương cảm vô hạn đối với nàng.
Câu 4 :
Biện pháp tu từ : điệp ngữ "càng" và phép đối. Tác dụng : Điệp ngữ "càng" nhấn mạnh, làm tăng cấp độ cảm xúc đau đớn, xót xa tột cùng của Kim Trọng khi chứng kiến cảnh tượng bi thương. Phép đối tạo sự cân xứng, hài hòa trong lời thơ, đồng thời làm nổi bật sự giằng xé nội tâm mãnh liệt giữa tình thương và sự tức tối, phẫn uất.
Câu 5 :
Tình cảm của Kim Trọng dành cho Thúy Kiều được thể hiện là tình yêu sâu đậm, thủy chung và đầy sự xót thương. Một số câu thơ tiêu biểu: "Sinh càng trông thấy, càng thương / Gan càng tức tối, ruột càng xót xa": Thể hiện nỗi đau đớn, sự đồng cảm sâu sắc trước bi kịch của Kiều. Những câu thơ mô tả sự tìm kiếm, nỗi niềm khắc khoải của chàng khi trở lại nơi hẹn ước mà không thấy người thương cũng là minh chứng rõ nét cho tình yêu mãnh liệt, không phai nhạt theo thời gian của Kim Trọng
Câu 1: Văn bản kể về sự việc Kim Trọng quay trở lại vườn Thúy sau nửa năm xa cách vì phải về quê chịu tang chú. Khi đến nơi, chàng bàng hoàng đối diện với cảnh tượng nhà cửa tan hoang, gia đình Thúy Kiều đã ly tán do biến cố "gia biến". Đoạn trích tập trung vào tâm trạng đau đớn, xót xa của Kim Trọng khi đi tìm người yêu nhưng chỉ thấy dấu vết cũ trong sự đổ nát.
Câu 2:Một số hình ảnh tả thực gợi sự hoang vắng, tan tác:
• "Rào thưa đồng vắng": Gợi sự trống trải, không còn người trông nom.
• "Áng can qua": Hình ảnh tượng trưng cho khói lửa chiến tranh/biến cố gia đình gây ra sự tàn phá.
• "Hoa tàn, lối cũ": Những dấu vết của quá khứ giờ đã phai nhạt, tiêu điều.
• "Bụi hồng": Gợi sự dâu bể, đổi thay của cuộc đời.
câu 3 : Cảm xúc của Kim Trọng chuyển biến từ hy vọng, mong chờ sang bàng hoàng, đau đớn:
• Ngỡ ngàng, sửng sốt: Chàng không tin vào mắt mình trước sự thay đổi quá lớn của cảnh vật.
• Đau đớn tột cùng: Cảm giác "tức tối", "xót xa" khi nhận ra người yêu đã gặp đại nạn.
• Sự hụt hẫng, vô vọng: Tìm kiếm trong vô vọng những dấu vết của Kiều nhưng chỉ thấy sự tan hoang, từ đó dẫn đến sự xót thương sâu sắc cho số phận của nàng.
câu 4:Biện pháp nghệ thuật:
• Điệp cấu trúc: "Càng... càng..." (lặp lại 4 lần).
• Liệt kê/Tăng tiến: Trông thấy thương tức tối xót xa.
• Từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể ẩn dụ tâm trạng: "gan", "ruột".
• Hiệu quả:
• Nhấn mạnh mức độ đau đớn tăng dần, cực độ của Kim Trọng.
• Diễn tả nỗi đau không chỉ dừng ở cảm xúc mà như cắt vào da thịt, thấu tận tâm can.
• Thể hiện tấm lòng thủy chung, sự đồng cảm và tình yêu sâu nặng mà Kim Trọng dành cho Thúy Kiều.
câu5: Tình cảm của Kim Trọng là một tình yêu thủy chung, sâu nặng và đầy trách nhiệm. Dù đối mặt với nghịch cảnh, chàng không hề thay lòng mà càng thương xót cho nàng hơn.
• Phân tích câu thơ tiêu biểu: "Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua."
• Sử dụng thành ngữ dân gian kết hợp với điệp từ "mấy".
• Khẳng định quyết tâm sắt đá, vượt qua mọi rào cản địa lý và khó khăn để tìm lại người thương. Nó cho thấy Kim Trọng không chỉ yêu bằng lời nói mà bằng hành động dấn thân, bất chấp gian khổ.