K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: 

GẶP QUỶ DỮ VÀ THẦN RỪNG (HỔ)

(Trích chèo Trương Viên)

Mụ:                                − Con ơi, bây giờ mẹ đói bụng khát nước, nhọc lắm... Mẹ không thể đi được nữa, con xem có gần nhà ai thì con xin cho mẹ một chút đỡ đói lòng.

Thị Phương: (Nói sử)     − Mẹ ơi,

                                        Con trông bên đông có lửa

                                        Mẹ ngồi đây, con thử vào coi

                                        Có cơm cháo xin người thí bỏ

Quỷ: (Ra)                        − Động ta đây nghiêm chỉnh sắp bày

                                        Ủa kìa người họa phúc tới đây

                                        Sai chúng quỷ ra vây bắt lấy

(Xưng danh)                    Mỗ bạch yêu tinh

                                        Chiếm cao san nhất động

                                        Ngày ngày thường bắt người nuốt sống

                                        Đêm thời đón khách nhai gan

                                        Lộc thiên trù đưa đến tự nhiên

                                        Nay được bữa no say... cha chả!

                                        Này người kia,

                                        Sơn lâm rừng vắng

                                        Đỉnh thượng non cao

                                        Chốn hang sâu sao dám tìm vào

                                        Đi đâu đó, kìa con, nọ mẹ?

Thị Phương:                   − Trình lạy ông thương đoái

                                        Mẹ con tôi đói khát lắm thay

                                        Xẩy nhà lạc bước đến đây

                                        Có cơm cháo xin người thí bỏ

Quỷ:                                − Không khiến kêu van kể lể

                                        Ta quyết nhai tuổi, nuốt sống không tha

Quỷ cái: (Ra)                  − Chàng ăn thịt gì cho thiếp tôi ăn với!

Quỷ:                                 − Ta ăn thịt Thị Phương.

(Lược một đoạn: Quỷ nói chuyện với Quỷ cái. Thương cho Thị Phương, Quỷ cái nhận Thị Phương là em kết nghĩa để nàng không bị ăn thịt. Quỷ cái còn cho Thị Phương năm lạng vàng để nàng đem về nuôi mẹ.)

Thị Phương: (Quay ra) − Mẹ thức hay ngủ mẹ ơi!

Mụ:                                 − Con vào đấy có được tí gì không?

Thị Phương:                 − Thưa mẹ, con vào đó, quỷ đông đòi ăn thịt.

Mụ:                               − Ăn cơm với thịt đông à?

Thị Phương:                 − Quỷ đông đòi ăn thịt con, mẹ ạ. Quỷ cái ra can rồi lại cho vàng.

Mụ: (Cầm vàng)          − Ở hiền rồi lại gặp lành (Hát sắp)

                                     Gặp vợ chú quỷ cho thanh tre già

(Nói sử)                         Ới con ơi, 

                                     Mẹ cảm thương thân mẹ

                                     Mẹ lại ngại thân con (Hát văn)

                                     Như dao cắt ruột mẹ ra

                                     Trăm sầu, nghìn thảm chất đà nên con!

(Nói)                              − Con ơi, trời còn sớm hay đã tối mà con cứ dắt mẹ đi mãi thế này?

Thị Phương:                − Trình lạy mẹ,

                                     Vầng ô đã lặn

                                     Vắng vẻ cửa nhà

                                     Mẹ con ta vào gốc cây đa

                                     Nằm nghỉ tạm qua đêm sẽ liệu (ngồi nghỉ).

Thần rừng (Hổ): (Ra)  − Ra oai hùm gầm kêu ba tiếng

                                     Phóng hào quang chuyển động phong lôi

                                     Xa chẳng tỏ, nhảy lại ngó coi

                                     Giống chi chi như thể hình người

                                     Đi đâu đó? − Kìa con, nọ mẹ

                                     Muốn sống thời ai chịu cho ai

                                     Vào nộp mệnh cho ta nhai một.

Thị Phương:                − Trăm lạy ông,

                                     Nhẽ ngày hôm qua một tận không còn

                                     Tôi kêu trời khấn đất đã vang

                                     Qua nạn ấy, nạn này lại phải

                                     Ơn ông vạn bội

                                    Ông ăn thịt một, còn một ông tha

                                     Ông để mẹ già, tôi xin thế mạng.

Mụ: (Nói sử)                 − Trình lạy ông

                                     Con tôi còn trẻ

                                     Công sinh thành, ông để tôi đền

                                     Ông ăn thịt tôi, ông tha cháu nó.

Thị Phương:                Thưa mẹ, mẹ để con chịu cho.

Mụ:                               − Ới con ơi, con còn trẻ người non dạ, để mẹ chịu cho.

Thần rừng (Hổ):         − Nhẽ ra thời ăn thịt cả không tha

                                     Thấy mẹ con tiết nghĩa thay là

                                     Tha cho đó an toàn tính mệnh.

(Trích Trương Viên, in trong Tuyển tập chèo cổ, Hà Văn Cầu, NXB Sân khấu, 1999)

Tóm tắt đoạn trích: Trương Viên quê đất Võ Lăng, nhờ mẹ sang hỏi cưới Thị Phương, người con gái của Tể tướng đã hồi hưu. Thấy chàng học giỏi, cha Thị Phương đồng ý và cho đôi ngọc lưu ly làm của hồi môn. Giữa lúc chàng đang dùi mài kinh sử thì được chiếu đòi đi dẹp giặc, chàng từ biệt mẹ già, vợ trẻ để ra chiến trường. Trong cảnh chạy giặc, Thị Phương đã dắt mẹ chồng lưu lạc suốt mười tám năm. Hai người bị quỷ dữ trong rừng sâu đòi ăn thịt, song may nhờ người vợ quỷ nhận làm chị em xin tha rồi cho vàng. Tiếp đó họ lại bị hổ dữ đòi ăn thịt. Thị Phương tình nguyện dâng mạng mình để cứu mẹ chồng. Hổ tha mạng cho cả hai mẹ con.

Câu 1. Xác định chủ đề của văn bản trên.

Câu 2. Chỉ ra những lối nói, làn điệu xuất hiện trong văn bản. 

Câu 3. Qua hai lần suýt chết, Thị Phương hiện lên là một người phụ nữ như thế nào?

Câu 4. Nhận xét về thái độ, cách ứng xử của người mẹ chồng đối với Thị Phương.

Câu 5. Anh/Chị rút ra được những bài học gì cho bản thân qua đoạn trích trên? Chia sẻ suy nghĩ của anh/chị về một bài học mà anh/chị cảm thấy tâm đắc.

19
24 tháng 12 2025

Câu 1. Chủ đề của văn bản

Văn bản ca ngợi sự hi sinh, lòng hiếu thảo và phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam, tiêu biểu là nhân vật Thị Phương trong hoàn cảnh chiến tranh, hoạn nạn.

Câu 2. Những lối nói, lối diễn đạt xuất hiện trong văn bản

Lối tự sự: kể lại các sự việc theo trình tự thời gian (lấy chồng, tiễn chồng đi lính, chạy giặc, gặp quỷ – hổ dữ).

Lối miêu tả: miêu tả hoàn cảnh hiểm nguy, rừng sâu, quỷ dữ, hổ đói.

Lối kì ảo, hoang đường: quỷ dữ, hổ ăn thịt người.

Lối đối lập: cái ác (quỷ, hổ dữ) ↔ cái thiện (sự hi sinh của Thị Phương).

Câu 3. Qua hai lần suýt chết, Thị Phương hiện lên là người phụ nữ như thế nào?

Thị Phương hiện lên là người phụ nữ:

Hiếu thảo, nhân hậu, hết lòng vì mẹ chồng.

Dũng cảm, giàu đức hi sinh, sẵn sàng đánh đổi mạng sống để cứu người khác, Giàu tình nghĩa, thủy chung,

Câu 4. Nhận xét về thái độ, cách ứng xử của người mẹ chồng đối với Thị Phương

Người mẹ chồng:

Yêu thương, tin tưởng và trân trọng con dâu.Biết ghi nhận công lao, đức hi sinh của Thị Phương.
→ Thể hiện mối quan hệ mẹ chồng – nàng dâu nhân hậu, giàu tình người, hiếm thấy trong xã hội phong kiến.

Câu 5. Bài học rút ra từ đoạn trích

Qua đoạn trích, em rút ra bài học sâu sắc về lòng hiếu thảo và sự hi sinh trong cuộc sống. Thị Phương đã đặt tính mạng của người khác lên trên bản thân mình, cho thấy vẻ đẹp cao quý của con người khi sống vì tình thương. Điều đó nhắc nhở chúng ta cần biết yêu thương gia đình, sống nhân ái và sẵn sàng chia sẻ với những người xung quanh.


24 tháng 12 2025

Câu 1 : chủ đề của văn bản

Văn bản ca ngời lòng hiếu thảo , đức hi sinh cao cả của người phụ nữ và tình mẫu tử thiêng liêng đồng thời lên án cái ác đề cao lẽ công bằng và nhân nghĩa

Câu2: Những lối nói làn điệu xuất hiện trong văn bản

Nói sử, hát sắp, hát vãn, lời thoại nhân vật

- đây là đặc chưng của chèo cổ giúp câu truyện sinh động giàu cảm xúc

Câu3:

-hiếu thảo yêu thương mẹ chồng sâu sắc

-giàu đức hi sinh sẵn sàng nhận cái chết về mình để cứu mẹ

- nhân hậu vị tha không nghĩ cho bản thân

-giàu nghị lực can đảm đôí diện nguy hiểm không lùi bước

Câu 4:

-

-Yêu thương lo lắng cho con dâu

- sẵn sàng hi sinh bản thân để bảo vệ con

- cư sử nhân hậu đầy tình người xem con dâu như con ruột

Thể hiện vẻ đẹp của tình mẹ chồng - nàng dâu chan chứa yêu thương

Câu5:

- phải sống hiếu thảo biết yêu thương mà hi sinh vì người thân

- sống nhân ái vị tha lẽ phải cuối cùng sẽ chiến thắng cái ác

Trân trọng tình cảm gia đình đặc biệt là tình mẫu tử

Bài học mà em tâm đắc nhất là lòng hiếu thảo mà sự hi sinh chân thành luôn có sức mạnh cảm hoá con người

24 tháng 12 2025

câu 1

Văn bản ca ngợi phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam, đặc biệt là lòng hiếu thảo, đức hi sinh, tình nghĩa mẹ chồng – nàng dâu và tấm lòng nhân hậu của nhân vật Thị Phương.

câu 2

Văn bản sử dụng các lối nói dân gian, truyền thống của văn học dân tộc, như: Lối kể chuyện theo kiểu truyền kì – huyền thoại (quỷ dữ, hổ dữ, thử thách sinh tử). Các chi tiết cường điệu, kì ảo (quỷ ăn thịt người, hổ tha mạng). Làn điệu mang màu sắc sân khấu chèo/tuồng: đề cao đạo lí, thiện thắng ác.

câu 3

Qua hai lần đối mặt với cái chết, Thị Phương hiện lên là người phụ nữ: Hiếu thảo, giàu tình nghĩa với mẹ chồng. Nhân hậu, vị tha, biết xin tha cho người khác. Dũng cảm, sẵn sàng hi sinh bản thân để cứu mẹ chồng. → Là hình ảnh người phụ nữ có đạo đức cao đẹp, đáng trân trọng.

câu 4

Người mẹ chồng: Yêu thương, tin tưởng và trân trọng con dâu. Biết ghi nhận công lao, đức hi sinh của Thị Phương. → Thể hiện mối quan hệ mẹ chồng – nàng dâu chan hòa, nhân văn, khác với định kiến thường thấy.

câu 5

Qua đoạn trích, em rút ra bài học sâu sắc về lòng hiếu thảo và sự hi sinh vì người thân. Trong cuộc sống, mỗi người cần biết yêu thương, sống nhân hậu, đặt tình nghĩa lên trên lợi ích cá nhân. Bài học em tâm đắc nhất là: sống tốt, sống có đạo lí thì sẽ nhận được sự yêu thương và báo đáp xứng đáng.

24 tháng 12 2025

1 là lòng hiếu thảo hay là lòng dũng cảm của ng con hay là lòng tốt một cô gái đã không mạng gì đến tính mạng của mình để cứu mẹ chồng và tạo nên một niềm tin vững chắc là cái thiện cuối cùng cũng sẽ chiến thắng cái ác

2 nói

Sưng đánh

Hỏi đáp

Hát nói

Hát kể



24 tháng 12 2025

câu 1:

chủ đề: tấm lòng chung thủy ,hiếu thảo của người phụ nữ có chồng đi chinh chiến ở nơi xa.

câu 2:

Những lối nói, làn điệu xuất hiện trong văn bản: nói sử, hát sắp, hát văn

câu 3:

Thị Phương là người phụ nữ rất hiếu thảo, chính sự chân thành của nang mà mẹ chồng mới yêu thương bà đến vậy.

câu 4:

mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu là mối quan hệ khó mà gần gũi biết bao đời nay. Thế nhưng, mẹ chồng của Thị Phương lại yêu thương con dâu, đối đãi với nàng như con ruột.

câu 5:

Bài học rút ra : hãy yêu thương nhau và đối xử tốt với người khác

24 tháng 12 2025

Câu 1.

Chủ đề: tấm lòng hiếu thảo của người chinh phụ có chồng đi chinh chiến nơi xa

Câu 2.

Những lối nói, làn điệu xuất hiện trong văn bản: nói sử, hát sắp, hát vãn.

Câu 3. Khi bị quỷ bắt, nàng may mắn thoát chết nhờ sự giúp đỡ của quỷ cái. Đứng trước hoàn cảnh: Chồng đi lính, mẹ chồng già yếu, nàng suýt bị quỷ ăn thịt, Thị Phương có thể vì quá cùng quẫn mà bỏ lại mẹ chồng, ra đi. Nhưng không, nàng vẫn quay về bên mẹ chồng, thu xếp cho mẹ chỗ nghỉ ngơi. Khi thần rừng xuất hiện và đòi ăn thịt một trong hai người, Thị Phương không ngần ngại, nguyện hiến mạng để mẹ chồng được sống. => Thị Phương là người phụ nữ rất hiếu thảo. Có lẽ, cũng chính vì sự chân thành của nàng mà mẹ chồng mới thương yêu nàng đến thế. Bà cũng nguyện thí mạng mình để con dâu được sống

Câu 4. Người mẹ chồng rất thương yêu và đồng cảm với hoàn cảnh của Thị Phương: + Bà thương thân và cũng thương con dâu vất vả: Mẹ cảm thương thân mẹ/ Mẹ lại ngại thân con/ Như dao cắt ruột mẹ ra/ Trăm sầu, nghìn thảm chất đà lên con!. + Trước cảnh thần rừng đòi một người hiến mạng, bà cũng không ngần ngại dâng mạng mình để con dâu được sống. => Mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu là mối quan hệ khó mà gần gũi biết bao đời nay. Thế nhưng, mẹ chồng của Thị Phương lại yêu thương con dâu, đối đãi với nàng như con ruột.

Câu 5.Từ hành động của nhân vật Thị Phương trong đoạn trích, bài học lớn nhất mà tôi rút ra được chính là: Lòng tốt và sự chân thành có sức mạnh cảm hóa mãnh liệt, có thể làm thay đổi cả những bản tính hung tàn nhất.

Bài học về sự cảm hóa bằng lòng tốt là điều tôi cảm thấy tâm đắc nhất. Trong đoạn trích, chính lòng hiếu thảo và sự hy sinh quên mình của Thị Phương đã khiến Quỷ cái mủi lòng kết nghĩa chị em, và khiến Hổ dữ phải thốt lên "Thấy mẹ con tiết nghĩa thay là" rồi tha mạng. Điều này chứng minh rằng sự tử tế và tình yêu thương chân thành có sức mạnh vô biên, có thể chiến thắng cái ác và sự hung bạo. Trong cuộc sống hiện đại, khi đối mặt với những mâu thuẫn, thay vì dùng sự giận dữ, nếu chúng ta dùng sự chân thành và lòng tốt để đối đãi, mọi nút thắt đều có thể được tháo gỡ.

24 tháng 12 2025

Câu 1:

Chủ thể:  Tấm lòng hiếu thảo của người phụ nữ có chồng đi chinh chiến ở nơi xa.

Câu 2:

Những lối nói, làn điệu xuất hiện trong văn bản: nói sử, nói sắp,  hát vãn.

 Câu 3:

Thị Phương là một người phụ nữ rất hiếu thảo.  Có lẽ cũng chính vì sự chân thành của nàng mà nàng được mẹ chồng yêu thương. Bà nguyện thế mạng mình để cho con dâu được sống.

câu 4:

Mối quan hệ  mẹ chồng nàng dâu là mối quen hệ khó gần gũi biết bao đời nay. Thế nhưng mẹ chồng của Thị Phương lại yêu thương con dâu, đối xử với nàng như con ruột .

24 tháng 12 2025

Câu1:Văn bản ca ngợi tấm lòng hiếu thảo, đức hi sinh cao cả và tình nghĩa gia đình của nhân vật Thị Phương; đồng thời đề cao vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam trong hoàn cảnh hiểm nguy.

Câu2:Lối nói kể chuyện dân gian, có yếu tố hoang đường (quỷ dữ, hổ dữ).

Câu3:Qua hai lần suýt chết, Thị Phương hiện lên là người phụ nữ nhân hậu, dũng cảm, giàu đức hi sinh và có tấm lòng hiếu thảo sâu sắc. Nàng sẵn sàng đánh đổi cả tính mạng để cứu mẹ chồng, cho thấy vẻ đẹp đạo đức cao quý và tình nghĩa gia đình bền chặt.

Câu4:Người mẹ chồng là người nhân từ, giàu tình nghĩa và biết trân trọng ân nghĩa. Trước tấm lòng hi sinh của Thị Phương, bà cảm động, yêu thương và đối xử với con dâu bằng sự chân thành, xem Thị Phương như ruột thịt.

Câu5:Qua đoạn trích, em rút ra bài học sâu sắc về lòng hiếu thảo, sự yêu thương và hi sinh vì gia đình. Trong cuộc sống, mỗi người cần biết quan tâm, trân trọng những người thân yêu, sống nhân ái và giàu tình nghĩa. Bài học khiến em tâm đắc nhất là hãy sống tốt với gia đình, bởi đó là giá trị bền vững và thiêng liêng nhất của mỗi con người.

24 tháng 12 2025

Câu 1. Xác định chủ đề của văn bản ​Chủ đề của đoạn trích là ca ngợi tấm lòng hiếu thảo, sự thủy chung và lòng kiên trinh của người phụ nữ (Thị Phương) trong hoàn cảnh hoạn nạn, đầy thử thách nghiệt ngã. Đồng thời, văn bản cũng thể hiện sự bảo trợ của các lực lượng siêu nhiên (thần linh) đối với những người ăn ở hiền lành, đức độ.

Câu 2. Những lối nói, làn điệu xuất hiện trong văn bản ​Trong kịch bản chèo này, bạn có thể tìm thấy các đặc điểm hình thức sau: ​Lối nói: Nói sử, nói lệch. ​Làn điệu: Thường xuất hiện các điệu như Vãn, Sắp, Cách... (Tùy vào đoạn trích cụ thể bạn đang đọc, nhưng phổ biến nhất trong cảnh Thị Phương đi trong rừng là điệu Vãn - thể hiện sự buồn bã, than thân trách phận).

Câu 3. Thị Phương hiện lên là một người phụ nữ như thế nào? ​Qua hai lần suýt chết (gặp quỷ đòi ăn thịt và gặp hổ), Thị Phương hiện lên với những phẩm chất cao đẹp: ​Lòng hiếu thảo tuyệt vời: Sẵn sàng hy sinh thân mình, xin quỷ ăn thịt mình để cứu mẹ chồng. ​Sự can trường và đức hy sinh: Dù đối mặt với cái chết, cô không mưu cầu sự sống cho riêng mình mà luôn nghĩ đến bổn phận làm dâu, làm vợ. ​Sự thuần khiết, đức độ: Chính tấm lòng chân thành của cô đã làm "cảm động đến cả quỷ thần", khiến quỷ dữ cũng phải tha mạng.

Câu 4. Thái độ, cách ứng xử của người mẹ chồng đối với Thị Phương ​Sự gắn kết và yêu thương: Mẹ chồng và nàng dâu không hề có khoảng cách; họ nương tựa vào nhau trong cảnh mù lòa, khốn khó. ​Sự xót xa, đau đớn: Khi thấy con dâu định hy sinh thân mình, người mẹ chồng đã vô cùng đau xót, ngăn cản. Điều này cho thấy mối quan hệ mẹ chồng - nàng dâu trong tác phẩm là biểu tượng của tình thân gia đình vượt lên trên mọi nghịch cảnh.

Câu 5. Bài học rút ra và suy nghĩ về bài học tâm đắc

Trong cuộc sống hiện đại, đôi khi chúng ta quên mất giá trị của sự tử tế. Qua nhân vật Thị Phương, ta thấy rằng khi đối diện với "quỷ dữ" (những khó khăn, người xấu), chính sự chân thành và tâm hồn trong sáng là vũ khí mạnh nhất để bảo vệ bản thân và những người mình thương yêu. "Ở hiền gặp lành" không chỉ là một câu nói an ủi, mà là một niềm tin vào luật nhân quả và giá trị của đạo đức con người.



24 tháng 12 2025

Bài học em rút ra là: Khi đối đãi với người khác bằng tình yêu thương và sự chân thành, ta sẽ nhận lại tình yêu tương xứng. Trong cuộc sống ,nếu ta biết quan tâm, lắng nghe và cư xử tử tế với mọi người thì sẽ tạo được sự tin tưởng và gắn bó. Tình cảm chân thành có sức lan tỏa ,giúp con người xích lại gần với nhau hơn và hạn chế hiểu lầm, mâu thuẫn .Vì vậy, mỗi người cần học cách sống nhân hậu ,chân thành để xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp và bền vững.

24 tháng 12 2025

.

24 tháng 12 2025

Câu 1:

Chủ đề của văn bản: tấm lòng hiếu thảo của người chinh phụ có chồng đi chinh chiến nơi xa

Câu 2 : những lời nói, làn điệu xuất hiện trong văn bản: nói sử, hát cắp , hát văn

Câu 3: sau hai lần suýt chết Thị Phương hiện lên là một người phụ nữ có hiếu , nàng không ngại hiến mạng sống của mình cho quỷ để mẹ chồng được sống, với sự hiếu thuận ấy và sự hy sinh cao cả của nàng mẹ chồng cũng sẵn sàng chết để nàng được sống , bà c

Câu 4: người mẹ chồng là một người mẹ chồng tốt bà xót thương cho con dâu cũng như thân phận mình thương con vất vả lam lũ, đồng cảm thấu hiểu cho hoàn cảnh của Thị Phương lúc bấy giờ

24 tháng 12 2025

Câu 1:

- Chủ đề: Tấm lòng hiếu thảo của người phụ nữ có chống đi chinh triến nơi xa.

Câu 2:

- Những lời nói , làn điệu xuất hiện trong văn bản : nói sử , hát sắp , hát văn...

Câu 3:

- Thị Phương là một người phụ nữ rất hiếu thảo , có lẽ cũng chính vì sự chân thạhf của nàng mà mẹ chồng mới thương yêu nàng đến thế . Bà cũng nguyện thí mạng mình để con dâu được sống.

Câu 4:

- Mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu là mối quan hệ khó gần gũi biết bao đời nay . Thế nhưng mẹ chồng của Thị Phương lại yêu thương con dâu , đối đãi với nàng như con ruột

Câu 5:

- Bài học em rút ra trong đoạn trích " Gặp Quỷ Dữ Và Thần Rừng " là về lòng kiên trì , dũng cảm và không bao giờ bỏ cuộc trước khó khăn , thử thách.

+) Kiên trì : trong doạn trích nhân vật đã đối mặt với những thử thavhs và khó khăn đáng sợ do quỷ dữ và thần rừng tạo ra nhưng vẫn không nản lòng . Điều này lòng kiên trì là chìa khóa để vượt qua mọi chướng ngại .

+) Dũng cảm : Đối mặt với những thế lực thiên nhiên đáng sợ , đòi hỏi dũng cảm phi thường . Bài học nhở rằng dũng cảm không phải là không sợ , mà đó là hành động bất chấp sự sợ hãi .

+) Không bỏ cuộc : Dù tình huống tưởng chừng như vô vọng , nhân vật vẫn tiếp tụt tìm cách giải quyết vấn đề , cuối cùng đạt được muc tiêu .

- Suy nghĩ mà em tâm đắc nhất là : Trong cuốc sống , những thử thách lớn nhất thường mang lại bài học quý giá nhất . Chỉ cần giữ vững tinh thần vad coa lòng dũng cảm , moin khó khăn đều có thể vượt qua .


24 tháng 12 2025

Câu 1:

Chủ đề: Ca ngợi tấm lòng hiếu thảo, lòng trung trinh của người phụ nữ (Thị Phương) trong hoàn cảnh chồng đi chinh chiến xa nhà.

Câu 2:

Văn bản sử dụng các làn điệu đặc trưng của nghệ thuật sân khấu truyền thống (chèo) như: Nói sử, hát sắp, hát vãn.

Câu 3:

Khi bị quỷ bắt, nàng may mắn thoát chết nhờ sự giúp đỡ của quỷ cái.

Đứng trước hoàn cảnh: Chồng đi lính, mẹ chồng già yếu, nàng suýt bị quỷ ăn thịt, Thị Phương có thể vì quá cùng quẫn mà bỏ lại mẹ chồng, ra đi.

Nhưng không, nàng vẫn quay về bên mẹ chồng, thu xếp cho mẹ chỗ nghỉ ngơi.

Khi thần rừng xuất hiện và đòi ăn thịt một trong hai người, Thị Phương không ngần ngại, nguyện hiến mạng để mẹ chồng được sống.

=> Thị Phương là người phụ nữ rất hiếu thảo.

Có lẽ, cũng chính vì sự chân thành của nàng mà mẹ chồng mới thương yêu nàng đến thế.

Bà cũng nguyện thí mạng mình để con dâu được sống.

Câu 4:

Người mẹ chồng rất thương yêu và đồng cảm với hoàn cảnh của Thị Phương:

+ Bà thương thân và cũng thương con dâu vất vả:

Mẹ cảm thương thân mẹ/ Mẹ lại ngại thân con/ Như dao cắt ruột mẹ ra/ Trăm sầu, nghìn thảm chất đà lên con!.

+ Trước cảnh thần rừng đòi một người hiến mạng, bà cũng không ngần ngại dâng mạng mình để con dâu được sống.

=> Mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu là mối quan hệ khó mà gần gũi biết bao đời nay.

Thế nhưng, mẹ chồng của Thị Phương lại yêu thương con dâu, đối đãi với nàng như con ruột.


Câu 5:

Qua câu chuyện cảm động về Thị Phương và mẹ chồng, bài học sâu sắc nhất mà chúng ta có thể rút ra chính là sức mạnh của lòng chân thành và sự tử tế trong cách đối nhân xử thế. Tấm lòng hiếu thảo của Thị Phương không chỉ dừng lại ở việc chăm sóc lúc ốm đau mà còn đạt đến đỉnh cao của sự hy sinh khi nàng nguyện hiến dâng mạng sống cho thần rừng để mẹ chồng được sống. Chính sự chân thành tuyệt đối ấy đã xóa tan định kiến về mối quan hệ "mẹ chồng nàng dâu" vốn thường được coi là khó gần gũi. Đáp lại, người mẹ chồng cũng dành cho nàng tình yêu thương như con ruột, sẵn sàng hy sinh bản thân để bảo vệ con dâu. Điều này minh chứng rõ nét cho bài học: khi chúng ta đối đãi với người khác bằng tình yêu và sự chân thành, chúng ta sẽ nhận lại được tình yêu thương tương xứng. Đồng thời, nó cũng khẳng định triết lý nhân sinh "Ở hiền gặp lành", nhắc nhở mỗi người hãy luôn sống vị tha và biết yêu thương những người xung quanh.

29 tháng 12 2025

Câu 1. (0,5 điểm) Chủ đề: Tấm lòng hiếu thảo của người chinh phụ/ phụ nữ có chồng đi chinh chiến nơi xa. Câu 2. (0,5 điểm) Những lối nói, làn điệu xuất hiện trong văn bản: Nói sử, hát sắp, hát vãn. Câu 3. (1,0 điểm) Khi bị quỷ bắt, nàng may mắn thoát chết nhờ sự giúp đỡ của quỷ cái. Đứng trước hoàn cảnh: Chồng đi lính, mẹ chồng già yếu, nàng suýt bị quỷ ăn thịt, Thị Phương có thể vì quá cùng quẫn mà bỏ lại mẹ chồng, ra đi. Nhưng không, nàng vẫn quay về bên mẹ chồng, thu xếp cho mẹ chỗ nghỉ ngơi. Khi thần rừng xuất hiện và đòi ăn thịt một trong hai người, Thị Phương không ngần ngại, nguyện hiến mạng để mẹ chồng được sống. => Thị Phương là người phụ nữ rất hiếu thảo. Có lẽ, cũng chính vì sự chân thành của nàng mà mẹ chồng mới thương yêu nàng đến thế. Bà cũng nguyện thí mạng mình để con dâu được sống. Câu 4. (1,0 điểm) Người mẹ chồng rất thương yêu và đồng cảm với hoàn cảnh của Thị Phương: Bà thương thân và cũng thương con dâu vất vả: "Mẹ cảm thương thân mẹ/ Mẹ lại ngại thân con/ Như dao cắt ruột mẹ ra/ Trăm sầu, nghìn thảm chất đà lên con!" Trước cảnh thần rừng đòi một người hiến mạng, bà cũng không ngần ngại dâng mạng mình để con dâu được sống. => Mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu là mối quan hệ khó mà gần gũi biết bao đời nay. Thế nhưng, mẹ chồng của Thị Phương lại yêu thương con dâu, đối đãi với nàng như con ruột. Câu 5. (1,0 điểm) - Ở hiền gặp lành. Đối đãi với người khác bằng tình yêu và sự chân thành, ta cũng sẽ nhận lại tình yêu tương xứng.

30 tháng 12 2025


Câu 1. Xác định chủ đề của văn bản

ca ngợi phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam, đặc biệt là lòng hiếu thảo, đức hi sinh, nghĩa tình và tiết hạnh của Thị Phương trong cảnh lưu lạc, hiểm nguy. Đồng thời, văn bản cũng đề cao tình cảm mẹ chồng – nàng dâu nhân hậu, gắn bó, coi trọng đạo lý làm người.

Câu 2. Chỉ ra những lối nói, làn điệu xuất hiện trong văn bản

Trong văn bản xuất hiện các lối nói, làn điệu đặc trưng của chèo cổ, như:

Nói (nói thường, nói sử): dùng để kể chuyện, dẫn dắt tình huống (lời của người mẹ, lời trình bày của Thị Phương).

Nói lối: lời nói có nhịp điệu, giàu tính biểu cảm, chuyển tiếp sang hát.

Lời nhân vật mang tính ước lệ, khoa trương

(lời Thần rừng/Hổ): tạo màu sắc huyền ảo, kịch tính cho sân khấu chèo.

Câu 3. Qua hai lần suýt chết, Thị Phương hiện lên là một người phụ nữ như thế nào?

Qua hai lần đối diện với cái chết, Thị Phương hiện lên là người phụ nữ

Hiếu thảo, giàu đức hi sinh: sẵn sàng dâng mạng sống của mình để cứu mẹ chồng.

Nhân hậu, vị tha: không nghĩ đến bản thân, chỉ lo cho người khác.

Kiên cường, giàu bản lĩnh: dù gặp cảnh hiểm nghèo vẫn giữ trọn đạo nghia

Đây là hình tượng tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam truyền thống: “giàu tình, nặng nghĩa”.

Câu 4. Nhận xét về thái độ, cách ứng xử của người mẹ chồng đối với Thị Phương

Người mẹ chồng:

Yêu thương, trân trọng con dâu như con ruột.Nhân hậu, giàu tình mẫu tử, sẵn sàng nhận cái chết về mình để cứu con dâu

.Ứng xử đạo đức, cảm động, thể hiện mối quan hệ mẹ chồng – nàng dâu lý tưởng, trái ngược với những định kiến khắt khe thường thấy Tình cảm ấy làm nổi bật hơn giá trị nhân vân của tpham

Câu 5. Bài học rút ra cho bản thân và chia sẻ suy nghĩ

Qua đoạn trích, có thể rút ra nhiều bài học ý nghĩa:

Sống nhân ái, biết hi sinh vì ngườikhác.

Giữ gìn và trân trọng đạo hiếu, đạo nghĩa trong gia đình.

Biết yêu thương, cảm thông giữa người với người, nhất là trong hoạn nạn.

Bài học tâm đắc nhất là bài học về lòng hiếu thảo và sự hi sinh. Trong cuộc sống hiện đại, không phải lúc nào sự hi sinh cũng lớn lao như trong tác phẩm, nhưng chỉ cần biết quan tâm, chia sẻ, sống có trách nhiệm với người thân thì đó đã là cách giữ gìn những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc.


31 tháng 12 2025

Câu 1 Chủ đề: Tấm lòng hiếu thảo của người chinh phụ (phụ nữ có chồng đi chinh chiến nơi xa). Câu 2 Những lối nói, làn điệu xuất hiện trong văn bản: nói sử, hát sắp, hát văn. Câu 3 Khi bị quỷ bắt, nàng may mắn thoát chết nhờ sự giúp đỡ của quỷ cái. Đứng trước hoàn cảnh chồng đi lính, mẹ chồng già yếu, nàng suýt bị quỷ ăn thịt, Thị Phương có thể vì quá cùng quẫn mà bỏ lại mẹ chồng, ra đi. Nhưng không, nàng vẫn quay về bên mẹ chồng, thu xếp cho mẹ chỗ nghỉ ngơi.

Khi thần rừng xuất hiện và đòi ăn thịt một trong hai người, Thị Phương không ngần ngại, nguyện hiến mạng để mẹ chồng được sống. ⇒ Thị Phương là người phụ nữ rất hiếu thảo. Có lẽ, cũng chính vì sự chân thành của nàng mà mẹ chồng mới thương yêu nàng đến thế. Bà cũng nguyện thí mạng mình để con dâu được sống.

Câu 4 Người mẹ chồng rất thương yêu và đồng cảm với hoàn cảnh của Thị Phương: Bà thương thân và cũng thương con dâu vất vả: “Mẹ cảm thương thân mẹ, Mẹ lại ngại thân con, Như dao cắt ruột mẹ ra, Trăm sầu, nghìn thảm chất đà lên con!” Trước cảnh thần rừng đòi một người hiến mạng, bà cũng không ngần ngại dâng mạng mình để con dâu được sống. ⇒ Mối quan hệ mẹ chồng – nàng dâu là mối quan hệ khó mà gần gũi biết bao đời nay. Thế nhưng, mẹ chồng của Thị Phương lại yêu thương con dâu, đối đãi với nàng như con ruột.

Câu 5

+Ở hiền gặp lành. +Đối đãi với người khác bằng tình yêu và sự chân thành, ta cũng sẽ được nhận lại tình yêu tương xứng. …

Chủ đề: Tấm lòng hiếu thảo của người chinh phụ/ phụ nữ có chồng đi chinh chiến nơi xa.

Câu 2.

Những lối nói, làn điệu xuất hiện trong văn bản:

Nói sử, hát sắp, hát vãn.

Câu 3.

- Khi bị quỷ bắt, nàng may mắn thoát chết nhờ sự giúp đỡ của quỷ cái. Đứng trước hoàn cảnh:

Chồng đi lính, mẹ chồng già yếu, nàng suýt bị quỷ ăn thịt, Thị Phương có thể vì quá cùng quẫn mà bỏ lại mẹ chồng, ra đi. Nhưng không, nàng vẫn quay về bên mẹ chồng, thu xếp cho mẹ chỗ nghỉ ngơi.

- Khi thần rừng xuất hiện và đòi ăn thịt một trong hai người, Thị Phương không ngần ngại, nguyện hiến mạng để mẹ chồng được sống.

=> Thị Phương là người phụ nữ rất hiếu thảo. Có lẽ, cũng chính vì sự chân thành của nàng mà mẹ chồng mới thương yêu nàng đến thế. Bà cũng nguyện thí mạng mình đế con dâu được sống.

Câu 4. (1,0 điểm)

- Người mẹ chồng rất thương yêu và đồng cảm với hoàn cảnh của Thị Phương:

+ Bà thương thân và cũng thương con dâu vất vả:

Mẹ cảm thương thân mẹ/ Mẹ lại ngại thân con/ Như dao cắt ruột mẹ ra/ Trăm sâu, nghìn thảm

31 tháng 12 2025

thể hiện tấm lòng của người phụ nữ khi chồng đi chinh chiến nơi xa


CHUYÊN ĐỀ 1:Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tấm cám là một tác phẩm tiêu biểu phản ánh sinh động cuộc sống, tinh thần, đạo lý và niềm tin của người Việt. Chuyện xoay quanh hành trình của nhân vật tấm từ cô gái mồ côi bị áp bức đến người chiến thắng, cuối cùng vượt qua nhiều tai ương, bất công. Tuy nhiên, chuyện tấm cám không chỉ đơn thuần là cuộc đối đầu giữa thiện...
Đọc tiếp

CHUYÊN ĐỀ 1:

Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tấm cám là một tác phẩm tiêu biểu phản ánh sinh động cuộc sống, tinh thần, đạo lý và niềm tin của người Việt. Chuyện xoay quanh hành trình của nhân vật tấm từ cô gái mồ côi bị áp bức đến người chiến thắng, cuối cùng vượt qua nhiều tai ương, bất công. Tuy nhiên, chuyện tấm cám không chỉ đơn thuần là cuộc đối đầu giữa thiện và ác mà còn ẩn chứa nhiều chiều sâu văn hóa và tư tưởng. Báo cáo này tập trung khai thác vấn đề về cuộc đấu tranh giữa thiện và ác dưới góc nhìn nhân học và nữ quyền học. Tấm cám là một chuyện cổ tích thần kỳ thuộc loại hình người mồ côi gặp hoạn nạn nhưng sau cùng được hạnh phúc. Nhân vật chính là tấm, cô gái hiền lành bị mẹ con cám hãm hại nhiều lần nhưng được thần linh giúp đỡ và cuối cùng giành lại công lý. Cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác trong truyện đại diện bởi tấm tấm là hình ảnh tiêu biểu của người phụ nữ hiền lành, chăm chỉ, lương thiện. Dù bị hãm hại nhiều lần, tấm vẫn kiên cường vươn lên, thể hiện khát vọng hạnh phúc và công bằng. Cái ác đại diện bởi mẹ ghẻ và cám sự ghen ghét, mưu mô, sẵn sàng giết tấm nhiều lần để giành lấy địa vị, là biểu tượng cho sự tàn nhẫn của xã hội phong kiến, đặc biệt là trong quan hệ mẹ kế con chồng. Diễn biến cuộc đấu tranh, ban đầu, tấm bị áp bức, giết hại hóa thân nhiều lần, chim vàng, anh, cây xoan đào, khung cửi quả thị cuối cùng về làm người thắng lợi và xử phạt cái ác. Cuộc đấu tranh gay gắt và kéo dài cho thấy quá trình tự khẳng định, tự tái sinh của cải thiện trong xã hội đầy bất công. Góc nhìn nhân học văn hóa, chuyện phản ánh thực tế khắc nghiệt của xã hội phong kiến cũ, bất công giai cấp định kiến đi dân gian về sự tồn tại của thế lực siêu nhiên hỗ trợ người hiền. Quan niệm luôn hồi tái sinh gắn với niềm tin ở hiền gặp lành. Góc nhìn nữ quyền, tấm không chỉ là người hiền lành, cam chịu mà còn là người biết vúng lên, vùng lên trả thù, giành lại hạnh phúc. Các hình thức hóa thân của tấm cho thấy sự đấu tranh dai dẳng, bản lĩnh của người phụ nữ. Hành động xử lý cám ở cuối truyện nếu cám thành mắm gây tranh cãi, nhưng có thể hiểu sử nội nổi dậy của nữ giới bị áp bức trong xã hội nam quyền. Chuyện tấm cám trong không chỉ là cuộc đối đầu giữa thiện và ác, mà còn là biểu tượng của hành trình khẳng định giá trị sống của người phụ nữ trong xã hội xưa. Qua lăng kính nhân học và nữ quyền, ta thấy được chiều sâu văn học và tư tưởng phản kháng Khát vọng công lý ẩn trong truyện cổ tích. Việc nghiên cứu vấn đề này không chỉ giúp hiểu hơn về giá trị văn học dân gian mà còn gợi mở nhiều suy nghĩ về các vấn đề đương đại như bất bình đẳng giới, quyền sống và sự công bằng trong xã hội.

0
I. Đọc hiểu (3.0 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu bên dưới:             (1) Enrico, hãy nhớ điều này: mỗi khi con gặp một cụ già, một kẻ khó, một người đàn bà đang bế con, một người què chống nạng, một người đang còng lưng gánh nặng, một gia đình đang tang tóc, con đều phải nhường bước cung kính. Chúng ta phải kính trọng: tuổi già, nỗi khổ, tình...
Đọc tiếp

I. Đọc hiểu (3.0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu bên dưới:

            (1) Enrico, hãy nhớ điều này: mỗi khi con gặp một cụ già, một kẻ khó, một người đàn bà đang bế con, một người què chống nạng, một người đang còng lưng gánh nặng, một gia đình đang tang tóc, con đều phải nhường bước cung kính. Chúng ta phải kính trọng: tuổi già, nỗi khổ, tình mẹ con, kẻ tật nguyền, sự vất vả và cái chết.

            (2) Mỗi khi con thấy một kẻ sắp bị xe húc phải, nếu là một người lớn thì con phải thét lên báo cho người ta tránh, nếu là một em bé thì con hãy chạy đến cứu ngay. Thấy một đứa bé đứng khóc một mình, hãy hỏi tại sao nó khóc và an ủi nó, nếu con có thể làm được. Người già rơi cái gậy, con hãy nhặt lên cho người ta. Nếu hai đứa trẻ đánh nhau, con hãy can ngay chúng ta. Nhưng nếu là hai người lớn thì con hãy tránh xa ra, để khỏi phải chứng kiến cảnh hung dữ thô bao, làm cho tấm lòng thành ra sắt đá. (…) Con không được nhạo báng ai hết, đừng chen lấn ai hết, đừng la hét, phải tôn trọng trật tự của đường phố. Ở đâu mà con thấy cảnh thô lỗ diễn ra ngoài đường phố thì con chắc chắn sẽ thấy cảnh thô lỗ diễn ra trong các gia đình vậy.

         (Trích Edmondo De Amicis, Những tấm lòng cao cả,

NXB Văn học, Hà Nội, 2002)

Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của văn bản trên.

Câu 2. Theo tác giả, chúng ta cần phải kính trọng những điều gì?

Câu 3. Chỉ ra và phân tích hiệu quả của phép điệp cấu trúc được sử dụng trong đoạn (2)?

Câu 4. Thông điệp nào có ý nghĩa nhất với anh/chị? Vì sao?

26
15 tháng 5 2021

Gợi ý trả lời

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ là: biểu cảm.

Câu 2: Theo tác giả, chúng ta cần phải kính trọng những điều sau: : tuổi già, nỗi khổ, tình mẹ con, kẻ tật nguyền, sự vất vả và cái chết.

Câu 3:

Điệp cấu trúc “nếu là … con hãy (con phải) được lặp lại 4 lần có tác dụng:

- Nhấn mạnh lời cha dạy con có cách ứng xử phù hợp với những tình huống có thể gặp trong cuộc đời để con trở thành một người tử tế, biết quan tâm, không bị ảnh hưởng bởi cái xấu.

- Tạo sự liên kết, logic cho văn bản.

Câu 4:

Thông điệp:

 Phải biết giúp đỡ những người gặp hoạn nạn.

16 tháng 5 2021

Câu 1:

Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là: biểu cảm

Câu 2:

Theo tác giả, chúng ta cần phải kính trọng những điều: tuổi già, nỗi khổ, tình mẹ con, kẻ tật nguyền, sự vất vả và cái chết

Câu 3:

Phép điệp cấu trúc: nếu là….con hãy.

Được lặp di lặp lại 4 lần có tác dụng:

- Nhấn mạnh lời cha dạy con có cách ứng xử phù hợp với những tình huống có thể gặp trong cuộc đời để con trở thành 1 người tử tế, biết quan tâm, không bị ảnh hưởng bởi cái xấu

- Tạo sự liên kết, logic cho văn bản

Câu 4:

Theo em, thông điệp có ý nghĩa nhất là: phải biết giúp đỡ những người gặp hoạn nạn. Vì khi chúng ta mở rộng tấm lòng, chia sẻ với người khác những niềm vui,nỗi buồn của mình, học cách lắng nghe, đồng cảm, sẻ chia với những buồn vui, khó khăn của người khác. Khi đó, ta sẽ thấy yêu đời và yêu người hơn, cuộc sống này ấm áp yêu thương và đáng sống biết bao.

. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)Đọc I đoạn trích:           Thế rồi Gióng mặc giáp sắt, đội nón sắt, tay cầm gươm múa quanh mấy vòng. Đoạn từ biệt mẹ và dân làng, nhảy lên lưng ngựa. Ngựa sắt bỗng chồm lên, phun thẳng ra đằng trước một luồng lửa đỏ rực. Gióng thúc chân, ngựa phi như bay, sải từng bước dài hàng chục con sào. Chỉ trong chớp mắt, ngựa đã xông đến đồn trại giặc...
Đọc tiếp

. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc I đoạn trích:

           Thế rồi Gióng mặc giáp sắt, đội nón sắt, tay cầm gươm múa quanh mấy vòng. Đoạn từ biệt mẹ và dân làng, nhảy lên lưng ngựa. Ngựa sắt bỗng chồm lên, phun thẳng ra đằng trước một luồng lửa đỏ rực. Gióng thúc chân, ngựa phi như bay, sải từng bước dài hàng chục con sào. Chỉ trong chớp mắt, ngựa đã xông đến đồn trại giặc đang đóng la liệt cả mấy khu rừng. Lưỡi gươm của Gióng vung lên loang loáng như chớp giật. Quân giặc xông ra chừng nào chết chừng ấy. Ngựa thét ra lửa thiêu cháy từng dãy đồn trại, lửa thiêu luôn cả mấy khu rừng.

            Nhưng tướng giặc Ân vương vẫn còn cố gào thét hô quân xáp tới, Gióng càng đánh càng khỏe, thây giặc nằm ngổn ngang. Bỗng chốc gươm gãy, Gióng không chút bối rối, thuận tay nhổ những bụi tre hai bên đường quật tới tấp vào các toán giặc đang cố gắng trụ lại theo lệnh chủ tướng. Chẳng mấy chốc quân giặc đã tẩu tán bỏ chạy khắp nơi, Ân vương bị quật chết tan xác. Bọn tàn binh giặc lạy lục xin hàng. Quân đội của Hùng Vương cũng như dân các làng chỉ còn việc xông ra trói chúng lại. Không đầy một buổi, Gióng đã trừ xong nạn cho nước nhà. Lúc bấy giờ ngựa Gióng đã tiến đến chân núi Sóc Sơn. Đến đây, Gióng bèn cởi giáp bỏ nón lại, rồi cả người lẫn ngựa bay thẳng lên trời.

                                                                                                                                         (Trích Thánh Gióng)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Xác định PTBĐ chính của đoạn trích.

Câu 2. Nêu  những sự việc tiêu biểu được kể lại trong đoạn trích trên?

Câu 3. Liệt kê các chi tiết miêu tảsự thất bại của quân giặc được nói đến trong đoạn trích?

Câu 4. Nêu hiệu quả của phép so sánh được sử dụng trong câu văn: Gióng thúc chân, ngựa phi như bay, sải từng bước dài hàng chục con sào?

Câu 5. Anh/Chị hiểu như thế nào về chi tiết:  Lúc bấy giờ ngựa Gióng đã tiến đến chân núi Sóc Sơn. Đến đây, Gióng bèn cởi giáp bỏ nón lại, rồi cả người lẫn ngựa bay thẳng lên trời?

Câu 6. Anh/chị hãy nhận xét thông điệp của tác giả được thể hiện qua đoạn trích?

 

2
23 tháng 10 2021

Định cho người ta làm hộ luôn bài kiểm tra à

23 tháng 10 2021
Ừ đúng là bài kiểm tra nhưng được ra về nhà
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:     Tình gia thất nào ai chẳng có, Kìa lão thân khuê phụ nhớ thương.      Mẹ già phơ phất mái sương, Còn thơ măng sữa, vả đương phù trì.      Lòng lão thân buồn khi tựa cửa, Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm.      Ngọt bùi, thiếp đỡ hiếu nam Dạy con đèn sách, thiếp làm phụ thân.      Này một...
Đọc tiếp

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

    Tình gia thất nào ai chẳng có,

Kìa lão thân khuê phụ nhớ thương.

     Mẹ già phơ phất mái sương,

Còn thơ măng sữa, vả đương phù trì.

     Lòng lão thân buồn khi tựa cửa,

Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm.

     Ngọt bùi, thiếp đỡ hiếu nam

Dạy con đèn sách, thiếp làm phụ thân.

     Này một thân nuôi già dạy trẻ,

Nỗi quan hoài mang mể biết bao.

     Nhớ chàng trải mấy sương sao,

Xuân từng đổi mới đông nào còn dư.

   (Trích Chinh phụ ngâm khúc, Những khúc ngâm chọn lọc, Tập 1, Lương Văn Đang – Nguyễn Thạch Giang – Nguyễn Lộc, giới thiệu,

Biên thảo, chú giải, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1987, tr.44-45)

Câu 1. Xác định thể thơ được sử dụng trong đoạn trích.

Câu 2. Trong đoạn trích, nhân vật trữ tình là ai?

Câu 3. Chỉ ra những hình ảnh, từ ngữ được dùng để miêu tả về mẹ già, con thơ.

Câu 4. Anh/chị hiểu gì về tâm trạng của nhân vật trữ tình qua hai câu thơ sau:

     Này một thân nuôi già dạy trẻ,

Nỗi quan hoài mang mể biết bao.

Câu 5. Trong đoạn trích, nhân vật trữ tình hiện lên với những phẩm chất nào?

Câu 6. Đoạn trích gợi cho anh/chị tình cảm, suy nghĩ gì về người phụ nữ trong xã hội xưa?

6
14 tháng 5 2021

cả 2 đều sai

18 tháng 5 2021

Caau1: Thể thơ được sử dụng trong đoạn trích: song thất lục bát. 

Câu 2: Nhân vật trữ tình trong đoạn trích là người chinh phụ/ người phụ nữ có chồng đi chinh chiến nơi xa/ người vợ có chồng đi chinh chiến nơi xa.

Câu 3: “Mẹ già, con thơ” trong đoạn trích được miêu tả qua những hình ảnh, từ ngữ;

Mẹ già phơ phất mái sương,/ Lòng lão thân buồn khi tựa cửa,

Còn thơ măng sữa, /  Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm.

Câu 4: Tâm trạng của nhân vật trữ tình qua hai câu thơ: cô đơn, buồn tủi, nhớ thương chồng.

Câu 5: Nhân vật trữ tình hiện lên với những phẩm chất:

- Đảm đang, tần tảo.

- Giàu đức hi sinh.

Câu 6:

- Người phụ nữ trong xã hội xưa là nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa, số phận bất hạnh nhưng sáng ngời phẩm chất tốt đẹp.

-> Tình cảm, suy nghĩ:

+ Xót thương, cảm thông với số phận bất hạnh, không được hạnh phúc.

+ Ngợi ca, trân trọng, cảm phục những phẩm chất tốt đẹp của họ.

Phần 1: Đọc - hiểu (3.0 điểm)            Đọc bài thơ sau của Nguyễn Khoa Điềm và trả lời các câu hỏi:          MẸ VÀ QUẢ Những mùa quả mẹ tôi hái được Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng Những mùa quả lặn rồi lại mọc Như mặt trời, khi như mặt trăng​ Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên Còn những bí và bầu thì lớn xuống Chúng mang dáng giọt...
Đọc tiếp

Phần 1: Đọc - hiểu (3.0 điểm)

           Đọc bài thơ sau của Nguyễn Khoa Điềm và trả lời các câu hỏi:

         MẸ VÀ QUẢ

Những mùa quả mẹ tôi hái được
Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng
Những mùa quả lặn rồi lại mọc
Như mặt trời, khi như mặt trăng​

Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên
Còn những bí và bầu thì lớn xuống
Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn
Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi.

Và chúng tôi, một thứ quả trên đời
Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái
Tôi hoảng sợ, ngày bàn tay mẹ mỏi
Mình vẫn còn một thứ quả non xanh.

(Thơ Việt Nam 1945 - 1985, NXB Văn học, Hà Nội, 1985)

Câu 1: Nêu chủ đề của bài thơ? (0.5 điểm)    

Câu 2: Tìm phép điệp trong khổ thơ đầu và phép đối trong khổ thơ thứ hai. (0.5 điểm)

Câu 3: Trong nhan đề và bài thơ, chữ “quả” xuất hiện nhiều lần. Chữ “quả” ở dòng nào mang ý nghĩa tả thực? Chữ “quả” ở dòng nào mang ý nghĩa biểu tượng? (1.0 điểm)

Câu 4: Nghĩa của cụm từ in đậm trong hai dòng cuối của bài thơ “Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi -  Mình vẫn còn một thứ quả non xanh”. (1.0 điểm)

32
17 tháng 5 2021

câu 1:chủ đề cuả bài thơ là:sự nhận thưć cuả người con về công ơn cuả mẹ

câu 2 :phép điệp trong khổ thơ 1 là:những muà quả

phép đối:lũ chúng tôi lớn lên-bí và bầu lớn xuống

câu 3:

chữ "quả"mang ý nghiã tả thực:dòng 1 và dòng 3 cuả khổ đâù.

chữ "quả"mang ý nghĩa biểu tượng:dòng 1 và dòng 4 cuả khổ cuối.

câu 4:nghĩa cuả cuṃtừ quả non xanh :chưa đến độ chín ,chưa trưởng thành;chưa làm được nhưng điều xưng đáng với sự mong đợi cuả mẹ,chưa thanh̀ người tốt. 

BÁO CÁO VỀ TÁC PHẨM VĂN HỌC DÂN GIAN: “CON RỒNG CHÁU TIÊN”1. Tên tác phẩm:Con Rồng Cháu Tiên2. Thể loại:Truyền thuyết3. Tóm tắt nội dung:Truyện kể về nguồn gốc dân tộc Việt Nam. Lạc Long Quân là con trai thần Long Nữ, có sức mạnh phi thường và giúp dân diệt trừ yêu quái. Âu Cơ là tiên nữ xinh đẹp ở vùng núi. Hai người gặp nhau, kết duyên và sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra một trăm...
Đọc tiếp

BÁO CÁO VỀ TÁC PHẨM VĂN HỌC DÂN GIAN: “CON RỒNG CHÁU TIÊN”

1. Tên tác phẩm:

Con Rồng Cháu Tiên

2. Thể loại:

Truyền thuyết

3. Tóm tắt nội dung:

Truyện kể về nguồn gốc dân tộc Việt Nam. Lạc Long Quân là con trai thần Long Nữ, có sức mạnh phi thường và giúp dân diệt trừ yêu quái. Âu Cơ là tiên nữ xinh đẹp ở vùng núi. Hai người gặp nhau, kết duyên và sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra một trăm người con.

Sau đó, vì không hợp nơi ở, Lạc Long Quân đưa 50 người con xuống biển, Âu Cơ đưa 50 người con lên núi. Họ chia tay nhau nhưng vẫn hẹn khi có việc sẽ giúp đỡ lẫn nhau. Người con trưởng được tôn làm vua – chính là vua Hùng đầu tiên, mở đầu thời đại Hùng Vương.

4. Nhân vật tiêu biểu:

  • Lạc Long Quân: biểu tượng của dòng giống Rồng, sức mạnh từ biển cả.
  • Âu Cơ: biểu tượng của dòng giống Tiên, dịu dàng, cao quý.
  • Trăm người con: đại diện cho cộng đồng người Việt, cùng huyết thống, cùng tổ tiên.

5. Ý nghĩa của tác phẩm:

  • Giải thích nguồn gốc dân tộc Việt Nam: con cháu Lạc Long Quân – Âu Cơ là "con Rồng cháu Tiên".
  • Thể hiện tinh thần đoàn kết dân tộc: tuy sống rải rác nhưng vẫn là một dòng giống, cùng cội nguồn.
  • Ca ngợi vẻ đẹp, sức mạnh của tổ tiên: Rồng và Tiên là biểu tượng thiêng liêng, thể hiện niềm tự hào dân tộc.
  • Gửi gắm khát vọng hòa hợp giữa các vùng miền: đồng bằng, miền núi, hải đảo – tất cả đều là anh em trong một đại gia đình.

6. Đặc điểm nghệ thuật:

  • Yếu tố kỳ ảo, thần thoại: sinh ra từ trứng, Rồng – Tiên kết duyên.
  • Ngôn ngữ giàu hình ảnh, trang trọng: phù hợp với tính chất truyền thuyết.
  • Có sự gắn bó giữa yếu tố thực và yếu tố tưởng tượng: địa danh, nhân vật gắn với văn hóa Việt Nam.

7. Kết luận:

Truyền thuyết "Con Rồng Cháu Tiên" không chỉ là câu chuyện về nguồn gốc dân tộc mà còn là biểu tượng của tinh thần yêu nước, niềm tự hào và ý chí vươn lên của người Việt. Tác phẩm góp phần nuôi dưỡng lòng biết ơn tổ tiên và ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

1
29 tháng 9 2025

Thánh Gióng là một tác phẩm dân gian tiêu biểu, em ấn tượng với nội dung và nghệ thuật truyện kì ảo. Đây là truyện thể loại truyền thuyết nói về các nhân vật , sự kiện lịch sử thần thánh hóa từ người dân. Cùng là truyện dân gian nhưng lại có khá nhiều bản kể điều đó giúp mỗi địa phương thêm phần sáng tạo và thêm thắt nổi bật biểu anh hùng người Việt đứng dậy chống giặc ngoại xâm. Truyện là thể loại truyền thuyết sẽ mang yếu tố kỳ ảo, phi thường: mẹ ướm vào vết chân khổng lồ rồi có thai ba tuổi không biết nói cười,nhưng sau khi nghe tin sứ giả liền lớn nhanh như thổi, có ngựa sắt , roi sắt .Gắn với sự kiện lịch sử – xã hội và mang yếu tố thiêng liêng.Câu chuyện được ra đời vào cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm (giặc Ân). Thánh Gióng là nhân vật chính cậu bé ra đời kỳ lạ, ba tuổi vẫn chưa biết nói cười. Khi giặc đến xâm lược, Gióng bỗng cất tiếng xin đi đánh giặc, rồi lớn nhanh như thổi, ăn bao nhiêu cũng không đủ. Được vua ban ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt, Gióng đã đánh tan quân giặc. Sau chiến thắng, Gióng cưỡi ngựa bay về trời, nhân dân lập đền thờ ghi nhớ công lao.Truyện có xuất xứ từ truyền thuyết dân gian thời Hùng Vương, và từ kho tàng văn học dân gian Việt Nam.Thánh Gióng có phương diện nghê thuật hợp yếu tố hiện thực và kỳ ảo từ đó làm cho truyện hâp dẫn hơn và thể hiện được tinh thần yêu nước và niềm tin của người dân. Về nhân vật được khác họa bằng nhiều chi tiết kỳ ảo ,chính những chi tiết nhỏ đã giúp nhân vật được thần thánh hóa, trở thành biểu tượng anh hùng dân tộc. Cốt truyện đơn giản và lối kể giản dị nhưng gần gũi giúp người đọc dễ nhớ .đặc sắc ở chỗ kết hợp kỳ ảo và hiện thực, phóng đại , xây dựng hình tượng.Truyền thuyết Thánh Gióng là biểu tượng của tinh thần yêu nước và sức mạnh kiên cường của dân tộc Việt Nam. Tác phẩm không chỉ mang giá trị lịch sử, nhân văn sâu sắc mà còn để lại dấu ấn nghệ thuật độc đáo với những chi tiết kỳ ảo giàu ý nghĩa tượng trưng

4 tháng 5 2021

1, 

- Bài thơ "Viếng lăng Bác" đã để lại trong lòng bạn đọc những cảm xúc sâu lắng và tha thiết. Với những hình ảnh ẩn dụ độc đáo và những biện pháp tu từ đặc sắc, Viễn Phương đã thể hiện một hồn thơ rất riêng. Qua bài thơ, Viễn Phương đã thay nhân dân miền Nam nói riêng và nhân dân cả nước nói chung dâng lên Bác niềm cảm xúc chân thành, lòng tôn kính thiêng liêng.

- Bài thơ sẽ tiếp tục sống trong lòng người đọc, gợi nhắc cho những thế hệ kế tục thành quả rực rỡ của cách mạng cách sống sao cho xứng đáng với sự hi sinh của một con người vĩ đại mà giản dị- Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đã sống trọn một đời:

"Chỉ biết quên mình cho hết thảy

Như dòng sông chảy nặng phù sa"

2, 

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ tài ba, người cha già của cả dân tộc Việt Nam. Bác là người đã tìm và dẫn đường cho cách mạng của dân tộc ta đi tới thành công, mang lại cuộc sống hòa bình ấm no và hạnh phúc như ngày hôm nay. Nói đến công lao của Người với dân tộc Việt Nam là không thể kể hết. Đã có rất nhiều tác phẩm văn chương viết về Bác, tiêu biểu là bài thơ “Viếng lăng Bác” của tác giả Viễn Phương.

Đây là một bài thơ thể hiện nỗi xúc động của người con nơi miền Nam sau bao ngày mong nhớ đã được ra thăm lăng Bác. Đó không còn là tình cảm riêng của nhà thơ đối với Bác mà là của tất cả người con dân miền Nam. Trong sự xúc động ấy, từ trong cảm nhận và tâm hồn của nhà thơ đã khắc họa hình tượng Bác Hồ thật cao đẹp:

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”

Hình ảnh mặt trời được nhắc đến hai lần, đây là một dụng ý nghệ thuật của nhà thơ. Ở câu thơ thứ nhất, mặt trời chính là mặt trời của tự nhiên, mang đến ánh sáng và năng lượng duy trì sự sống cho muôn loài vật trên trái đất, kể cả con người. Từ ý nghĩa của mặt trời tự nhiên, nhà thơ đã nhắc đến một mặt trời thứ hai.đố chính là một ẩn dụ về Bác. Bác cũng giống như mặt trời tự nhiên, là nguồn ánh sáng soi lối dẫn dắt cho con đường cách mạng của Việt Nam, bác chính là nguồn sống và hi vọng, niềm tin bào vệ hòa bình độc lập dân tộc.

“Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”

Bác Hồ là người mà cả dân tộc Việt Nam yêu kính, bác đã gắn mình với dân tộc, suốt một đời lo cho vận mệnh và an nguy của đất nước. Sự ra đi của bác là một mất mát, đau thương to lớn không thể nào bù đắp được của cả dân tộc Việt Nam. Tuy hiện thực là bác đã không còn nữa, bác đã ra đi mãi mãi nhưng đối với nhân dân Việt Nam, bác vẫn mãi sống bất diệt trong tâm thức mỗi người. Những con người vẫn luôn hướng về Bác, dâng lên bác những tràng hoa của lòng kính yêu và biết ơn sâu sắc.

“Bác nằm trong lăng giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền”

Trong tâm thức của con người Việt Nam, Bác không hề ra đi, bác vẫn còn sống mãi với dân tộc Việt Nam, Bác chỉ là đang ngủ một giấc ngủ sâu, một giấc ngủ bình yên. Đất nước đã hòa bình, thống nhất và phát triển, nhân dân được ấm no, hạnh phúc nên giấc ngủ của Bác càng được bình yên hơn. Dù Bác đang ngủ nhưng Bác vẫn đang dõi theo cả dân tộc, tình yêu của con người Việt Nam cũng vẫn mãi vằng vằng không bao giờ tắt như ánh trăng.

Bài thơ “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương là những tâm sự chân thành và sâu sắc nhất của nhà thơ, là sự nghẹn ngào, xúc động khi được ra thăm người cha già kính yêu. Đồng thời, nhà thơ đã mang đến cho người đọc bức chân dung thật đẹp về Bác, hình ảnh đẹp ấy mãi sáng rực trong lòng mỗi con người Việt Nam.

Báo cáo nghiên cứu truyện dân gian Sơn Tinh, Thủy Tinh1. Giới thiệu tác phẩmSơn Tinh, Thủy Tinh là một truyền thuyết tiêu biểu trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam. Tác phẩm vừa lý giải hiện tượng thiên nhiên, vừa phản ánh cuộc sống của cư dân nông nghiệp, đồng thời gửi gắm khát vọng chế ngự thiên nhiên và giữ gìn hạnh phúc.2. Nguồn gốc và thể loại- Truyện Sơn Tinh, Thủy...
Đọc tiếp

Báo cáo nghiên cứu truyện dân gian Sơn Tinh, Thủy Tinh

1. Giới thiệu tác phẩm
Sơn Tinh, Thủy Tinh là một truyền thuyết tiêu biểu trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam. Tác phẩm vừa lý giải hiện tượng thiên nhiên, vừa phản ánh cuộc sống của cư dân nông nghiệp, đồng thời gửi gắm khát vọng chế ngự thiên nhiên và giữ gìn hạnh phúc.

2. Nguồn gốc và thể loại

- Truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh thuộc thể loại truyền thuyết, phản ánh mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên.

-Xuất xứ: được ghi lại trong nhiều tập truyện dân gian, trong đó có Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi.

3. Nội dung chính và nhân vật

- Vua Hùng kén rể, đặt ra điều kiện: ai mang sính lễ đến trước sẽ được lấy Mỵ Nương. - Sơn Tinh (thần núi) đến sớm, rước dâu thành công. Thủy Tinh (thần nước) đến muộn, tức giận dâng nước đánh Sơn Tinh. Hai bên giao tranh kịch liệt, cuối cùng Sơn Tinh chiến thắng.

- Nhân vật Sơn Tinh tượng trưng cho sức mạnh con người trong công cuộc chế ngự thiên nhiên, còn Thủy Tinh tượng trưng cho thiên tai, lũ lụt.

4. Giá trị nội dung

- Giải thích hiện tượng lũ lụt hằng năm ở đồng bằng Bắc Bộ.

- Phản ánh cuộc sống lao động và cuộc đấu tranh chống thiên tai của nhân dân.

- Ca ngợi sức mạnh, ý chí kiên cường và khát vọng chế ngự thiên nhiên.

5. Giá trị nghệ thuật

- Cốt truyện có xung đột kịch tính, hấp dẫn.

- Nhân vật mang tính biểu tượng: Sơn Tinh tượng trưng cho con người, Thủy Tinh tượng trưng cho lũ lụt.

- Nghệ thuật kết hợp yếu tố kỳ ảo với yếu tố hiện thực, giàu trí tưởng tượng và màu sắc huyền thoại.

6. Kết luận
Truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh khẳng định tinh thần lạc quan, ý chí chinh phục thiên nhiên của nhân dân ta. Tác phẩm nhắc nhở con người phải kiên cường, sáng tạo để vượt qua khó khăn, đồng thời đề cao khát vọng sống hòa hợp, bền vững với thiên nhiên.

0
2 tháng 11 2021

Học hành có tầm quan trọng rất lớn đối với cuộc đời của mỗi con người. Người xưa đã nhắc nhở con cháu rằng: “Nếu còn trẻ mà không chịu học hành thì khi lớn lên sẽ chẳng thể làm được việc gì có ích”. Bên cạnh đó còn có những câu: “Có học thì như lúa như nếp, không học thì như rơm như cỏ”. Hoặc: “Bất học bất tri lý” (Không học thì không biết lí lẽ, lẽ phải).

Suốt lịch sử phát triển mấy ngàn năm, nhân loại đã tích lũy được một kho tàng tri thức khổng lồ về tự nhiên và xã hội. Những tri thức ấy được lưu truyền từ đời này sang đời khác qua hình thức truyền miệng và chữ viết (sách). Muốn tiếp thu tinh hoa trí tuệ, con người chỉ có một con đường duy nhất là học, học suốt đời.

Nói đến học là nói đến trí lực, một năng lực suy nghĩ, một trực quan nhạy bén, một tư duy hợp lý. Điều ấy hết sức cần thiết cho tất cả mọi người. Chính vì vậy, ngay từ lúc nhỏ, bất kì ai cũng phải được học hành.

Trong mười hai năm ở trường phổ thông, học sinh được cung cấp những kiến thức sơ đẳng của một số bộ môn cơ bản như Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Sử, Địa, Ngoại ngữ… Tuy thế, học sinh phải chăm chỉ học hành thì mới hiểu và nắm vững kiến thức một cách có hệ thống. Nếu lơ là, chểnh mảng, thiếu nghiêm túc trong việc học hành thì rốt cuộc là tốn thời gian, tiền bạc mà kết quả thu được chẳng đáng là bao.

Thực tế cho thấy là có học có hơn. Mục đích của việc học là nhằm phục vụ cho mọi công việc đạt hiệu quả cao. Nếu ta đơn thuần làm việc theo thói quen hoặc kinh nghiệm có sẵn thì công việc sẽ tiến triển chậm và chất lượng không tốt. Cách làm như trên chỉ thích hợp với các công việc giản đơn, không cần nhiều đến trí tuệ. Còn đối với những công việc phức tạp liên quan đến khoa học kĩ thuật thì cung cách làm việc ấy là lạc hậu, lỗi thời. Muốn đạt hiệu quả tốt trong mọi lĩnh vực, chúng ta bắt buộc phải học, phải được đào tạo chính quy theo từng chuyên ngành và trong suốt quá trình làm việc vẫn phải học tập không ngừng, bằng mọi hình thức khác nhau.

                  Thư gửi cho conCon yêu của mẹ!Đến khi mẹ bệnh nặng, cái hơi thở đã dần yếu ớt, con hãy ở gần mẹ con nhé, hãy năm lấy tay mẹ, và ngồi bên cạnh mẹ. Xin con đừng nghĩ vì mẹ không để lại một chút gì mà ghét bỏ, oán hờn! Bởi cả cuộc đời này, mẹ đã dành hết cho con rồi. Có những lúc mẹ run rẩy khi ăn, có những khi mẹ không nhớ đường về nhà, đôi lúc mẹ...
Đọc tiếp

                  Thư gửi cho con

Con yêu của mẹ!

Đến khi mẹ bệnh nặng, cái hơi thở đã dần yếu ớt, con hãy ở gần mẹ con nhé, hãy năm lấy tay mẹ, và ngồi bên cạnh mẹ. Xin con đừng nghĩ vì mẹ không để lại một chút gì mà ghét bỏ, oán hờn! Bởi cả cuộc đời này, mẹ đã dành hết cho con rồi. Có những lúc mẹ run rẩy khi ăn, có những khi mẹ không nhớ đường về nhà, đôi lúc mẹ lại trở nên lú lẫn, chậm chạp, lập cập những bước đi nặng nhọc, dẫu mẹ có lẩm bẩm hay nói đi nói lại một vài câu chuyện đâu đâu thì xin con đừng cười mẹ nhé!

Và trước khi chết, mẹ biết sẽ đau khổ và sợ hãi lắm. Vì yêu con mẹ không muốn ra đi, nhưng mẹ biết ai cũng sẽ có ngày đó, chỉ mong con mạnh mẽ để tiếp tục sống tốt, dù sau này không có mẹ ở bên nhưng con hãy nhớ rằng mẹ luôn dõi theo từng bước đi của con!

                                                                                                                                  Mẹ yêu con, con của mẹ!

1
26 tháng 8 2021

bài viết của bạn rất hay 

bạn đã tả được hết cảm xúc của người mẹ dành cho con trước khi mất 

và đồng thời bạn cũng đã tả được nõi đau của người mẹ

chúc bạn học tốt và có thể tả thêm được nhiều bài văn như vậy nữa