Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
câu 1:chủ đề cuả bài thơ là:sự nhận thưć cuả người con về công ơn cuả mẹ
câu 2 :phép điệp trong khổ thơ 1 là:những muà quả
phép đối:lũ chúng tôi lớn lên-bí và bầu lớn xuống
câu 3:
chữ "quả"mang ý nghiã tả thực:dòng 1 và dòng 3 cuả khổ đâù.
chữ "quả"mang ý nghĩa biểu tượng:dòng 1 và dòng 4 cuả khổ cuối.
câu 4:nghĩa cuả cuṃtừ quả non xanh :chưa đến độ chín ,chưa trưởng thành;chưa làm được nhưng điều xưng đáng với sự mong đợi cuả mẹ,chưa thanh̀ người tốt.
Caau1: Thể thơ được sử dụng trong đoạn trích: song thất lục bát.
Câu 2: Nhân vật trữ tình trong đoạn trích là người chinh phụ/ người phụ nữ có chồng đi chinh chiến nơi xa/ người vợ có chồng đi chinh chiến nơi xa.
Câu 3: “Mẹ già, con thơ” trong đoạn trích được miêu tả qua những hình ảnh, từ ngữ;
Mẹ già phơ phất mái sương,/ Lòng lão thân buồn khi tựa cửa,
Còn thơ măng sữa, / Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm.
Câu 4: Tâm trạng của nhân vật trữ tình qua hai câu thơ: cô đơn, buồn tủi, nhớ thương chồng.
Câu 5: Nhân vật trữ tình hiện lên với những phẩm chất:
- Đảm đang, tần tảo.
- Giàu đức hi sinh.
Câu 6:
- Người phụ nữ trong xã hội xưa là nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa, số phận bất hạnh nhưng sáng ngời phẩm chất tốt đẹp.
-> Tình cảm, suy nghĩ:
+ Xót thương, cảm thông với số phận bất hạnh, không được hạnh phúc.
+ Ngợi ca, trân trọng, cảm phục những phẩm chất tốt đẹp của họ.
Câu 1: Thể thơ: lục bát.
Câu 2: Những hình ảnh của thiên nhiên được miêu tả trong đoạn thơ: rừng phong, dặm hồng bụi cuốn, ngàn dâu, vầng trăng.
Câu 3:
- Điệp từ: người, kẻ.
- Tác dụng của phép điệp:
+ Diễn tả tình cảnh chia li và tâm trạng lưu luyến, nhớ nhung của Thúy Kiều và Thúc Sinh.
+ Giúp cho lời thơ nhịp nhàng, giàu giá trị biểu cảm.
Câu 4:
Tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều:
- Nỗi buồn li biệt và sự nhớ thương khôn nguôi dành cho Thúc Sinh.
- Sự cô đơn, trống trải khi vò võ nơi phòng vắng.
1. thể thơ lục bát
2.rừng phong, dặm hồng bụi
3 ko biết
4. buồn khi bị chia xa. (nhớ k mình nha
1. Thể thơ: Lục bát.
2. Những hình ảnh thiên nhiên được miên tả trong đoạn thơ: Rừng phong, vầng trăng
3. -Điệp từ: Người, kẻ.
- Tác dụng của phép điệp ngữ:
+ Diễn tả tình cảnh chia li và tâm trạng lưu luyến, nhớ nhung của Thúy Kiều và Thúc Sinh.
+ Giúp cho lời thơ nhịp nhàng, giàu giá trị biểu cảm.
4. Tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều:
- Nỗi buồn li biệt và sự nhớ nhung dành cho Thúc Sinh.
- Sự cô đơn, trống trải khi vò võ nơi phòng vắng.
Gợi ý trả lời
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ là: biểu cảm.
Câu 2: Theo tác giả, chúng ta cần phải kính trọng những điều sau: : tuổi già, nỗi khổ, tình mẹ con, kẻ tật nguyền, sự vất vả và cái chết.
Câu 3:
Điệp cấu trúc “nếu là … con hãy (con phải) được lặp lại 4 lần có tác dụng:
- Nhấn mạnh lời cha dạy con có cách ứng xử phù hợp với những tình huống có thể gặp trong cuộc đời để con trở thành một người tử tế, biết quan tâm, không bị ảnh hưởng bởi cái xấu.
- Tạo sự liên kết, logic cho văn bản.
Câu 4:
Thông điệp:
Phải biết giúp đỡ những người gặp hoạn nạn.
Câu 1:
Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là: biểu cảm
Câu 2:
Theo tác giả, chúng ta cần phải kính trọng những điều: tuổi già, nỗi khổ, tình mẹ con, kẻ tật nguyền, sự vất vả và cái chết
Câu 3:
Phép điệp cấu trúc: nếu là….con hãy.
Được lặp di lặp lại 4 lần có tác dụng:
- Nhấn mạnh lời cha dạy con có cách ứng xử phù hợp với những tình huống có thể gặp trong cuộc đời để con trở thành 1 người tử tế, biết quan tâm, không bị ảnh hưởng bởi cái xấu
- Tạo sự liên kết, logic cho văn bản
Câu 4:
Theo em, thông điệp có ý nghĩa nhất là: phải biết giúp đỡ những người gặp hoạn nạn. Vì khi chúng ta mở rộng tấm lòng, chia sẻ với người khác những niềm vui,nỗi buồn của mình, học cách lắng nghe, đồng cảm, sẻ chia với những buồn vui, khó khăn của người khác. Khi đó, ta sẽ thấy yêu đời và yêu người hơn, cuộc sống này ấm áp yêu thương và đáng sống biết bao.

PHẦN ĐỌC HIỂU: (3.0 điểm)
Trong đời sống con người của chúng ta không phải thứ gì cũng mua được bằng tiền. Chúng ta thường nghĩ rằng có được đồng tiền thì sẽ có được mọi thứ nhưng không , có một số thứ không thể giải quyết được bằng tiền.Những thứ có nhiều tiền cách máy như trăm triệu , trăm tỉ , nghìn tỉ , trăm triệu đô , tỷ đô gọi chung nó là vô giá như sức khoẻ, thời gian ,chính trực , sự thật, đạo đức , giáo dục , chữ tính, tâm thành tĩnh, lương thiện, tốt bụng. Nên hãy bỏ cái quần niệm có tiêng là có tất cả.
Câu 1:
Trong xã hội hiện đại ngày nay, nhiều người vẫn quan niệm rằng "Có tiền là có tất cả", coi đồng tiền như một thước đo duy nhất cho sự thành công và hạnh phúc. Tuy nhiên, điều này không hoàn toàn đúng, bởi tiền bạc chỉ là một công cụ hỗ trợ để con người có được cuộc sống tiện nghi hơn, nó không thể là yếu tố quyết định tất cả mọi giá trị của cuộc sống. Thứ nhất, những giá trị tinh thần như tình yêu thương, hạnh phúc gia đình, tình bạn chân thành đều là những điều tiền bạc không thể mua được. Một gia đình hạnh phúc không phải là gia đình giàu nhất, mà là nơi mọi người sẽ biết yêu thương và chia sẻ lẫn nhau. Thứ hai, sức khỏe, thứ tài sản quý giá nhất trong đời người, cũng không thể hoàn toàn đảm bảo bằng tiền bạc. Nhiều căn bệnh nan y hay sự suy giảm sức khỏe vì lối sống thiếu lành mạnh, dù có bao nhiêu tiền cũng khó lòng khắc phục. Cuối cùng, chạy theo đồng tiền một cách mù quáng dễ khiến con người đánh mất bản ngã, dẫn đến ham mê vật chất và quên đi những giá trị đạo đức cốt lõi. Vì vậy, thay vì coi tiền là tất cả, chúng ta cần nhìn nhận đúng vai trò của nó và xây dựng cuộc sống dựa trên những giá trị bền vững như tình cảm, tri thức và đạo đức. Tiền bạc chỉ nên đóng vai trò phụ giúp cuộc sống thêm trọn vẹn chứ không phải đích đến tối thượng.
Câu 2:
Nguyễn Bỉnh Khiêm, một trong những nhà thơ lớn của văn học Việt Nam thời kỳ trung đại, đã để lại cho hậu thế nhiều bài thơ sâu sắc, phản ánh chân thực về cuộc sống và tư tưởng của ông. Trong số đó, bài thơ "Thế gian biến đổi" nổi bật với nội dung đầy ý nghĩa triết lý và nghệ thuật đặc sắc, khắc họa rõ nét sự suy tư của nhà thơ về sự thay đổi của cuộc đời và thái độ con người trước những biến thiên của thế gian. Trước hết, xét về nội dung, bài thơ phản ánh một cách trực diện và sâu sắc những mặt trái đang hiện hữu trong xã hội thời bấy giờ. Nguyễn Bỉnh Khiêm mở đầu bằng hình ảnh thế gian biến đổi như một quy luật tất yếu: "Thế gian biến cải vũng lên đồi". Đây là cách ông diễn đạt sinh động sự chuyển đổi liên tục của cuộc đời, sự thay đổi không chỉ về mặt thiên nhiên mà cả trong lòng người. "Mặn nhạt chua cay lẫn ngọt bùi", câu thơ gợi lên hình ảnh về cuộc sống đa sắc màu, nơi con người phải đối mặt với cả niềm vui và nỗi đau, hạnh phúc và bất hạnh. Tất cả những trải nghiệm này đều là những mảnh ghép quan trọng hình thành nên bức tranh thế gian đầy phức tạp. Bên cạnh đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm không ngần ngại chỉ ra sự thực phũ phàng về thái độ con người trước tiền bạc và danh lợi. Những câu như: "Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử / Hết cơm, hết bạn, hết ông tôi" đã nói lên sự thật đắng cay rằng lòng người thường thay đổi theo vật chất; khi còn giàu sang, danh vọng thì được người đời vây quanh, nhưng lúc khó khăn, tay trắng lại bị xa lánh. Bài thơ cũng bày tỏ niềm tin của nhà thơ vào giá trị chân thật trong cuộc sống: "Xưa nay đều trọng người chân thật / Ai nấy nào ưa kẻ đãi buôi". Điều này phản ánh một triết lý sống nhân văn, đề cao những phẩm chất cao quý trong con người dù xã hội có biến đổi đến đâu. Về nghệ thuật, bài thơ gây ấn tượng bởi cách sử dụng ngôn ngữ giản dị mà sâu sắc. Nguyễn Bỉnh Khiêm không cần đến những hình ảnh hoa mỹ hay câu từ cầu kỳ để thể hiện ý tưởng của mình. Ngôn từ ông dùng vừa gần gũi, dễ hiểu lại hàm chứa triết lý sâu xa. Những vần thơ ngắn gọn mà giàu hình ảnh đã truyền tải thông điệp một cách sắc bén và thấm thía. Kết cấu bài thơ mạch lạc với hai phần rõ ràng: phần đầu khái quát sự thay đổi trong thế gian, phần sau hướng đến thái độ con người trước thực trạng ấy. Ngoài ra, nhà thơ còn khéo léo sử dụng các biện pháp đối lập để làm nổi bật sự tương phản trong tâm lý và hành động của con người, góp phần tăng sức gợi hình và sức biểu cảm cho bài thơ. Không dừng lại ở việc chỉ trích hay phê phán những thói đời xấu xí, bài thơ "Thế gian biến đổi" còn là lời khuyên và chiêm nghiệm sâu sắc về cách ứng xử trong cuộc sống. Nguyễn Bỉnh Khiêm nhắn nhủ chúng ta rằng hãy sống chân thật, giữ vững phẩm chất đạo đức tốt đẹp dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào. Đây không chỉ là thông điệp dành riêng cho xã hội thời ông mà còn là bài học quý giá đối với mỗi con người trong mọi thời đại. Tóm lại, bài thơ "Thế gian biến đổi" của Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa là một bức tranh sống động về hiện thực xã hội vừa mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc về cách ứng xử đạo đức. Với nghệ thuật ngôn từ tinh tế cùng tư tưởng giàu chiều sâu triết lý, nhà thơ đã để lại cho hậu thế một tác phẩm có giá trị vượt thời gian, khiến cho người đọc không chỉ đồng cảm mà còn suy ngẫm về chính mình trong dòng chảy bất tận của cuộc đời.
Câu 1:
“Tiền bạc là một người đầy tớ tốt nhưng là một ông chủ tồi” (Francis Bacon). Trong xã hội hiện đại, khi đồng tiền hiện diện ở hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống, không ít người cho rằng chỉ cần có tiền thì sẽ có tất cả: hạnh phúc, địa vị, sự tôn trọng và thành công. Tuy nhiên, quan niệm “có tiền là có tất cả” tuy phổ biến nhưng phiến diện, bởi nó đã tuyệt đối hóa vai trò của tiền bạc và làm lu mờ nhiều giá trị nhân văn cốt lõi của đời sống con người.
Trước hết, cần khẳng định rằng tiền bạc có vai trò quan trọng và không thể phủ nhận. Tiền giúp con người đáp ứng những nhu cầu thiết yếu như ăn, ở, học tập, chữa bệnh; tạo điều kiện để con người mở rộng tri thức, nâng cao chất lượng sống và theo đuổi ước mơ chính đáng. Trong nhiều trường hợp, tiền còn là kết quả xứng đáng của lao động trí óc và lao động chân tay nghiêm túc. Tuy nhiên, quan trọng không nằm ở chỗ có bao nhiêu tiền, mà ở cách con người nhìn nhận và sử dụng đồng tiền. Khi tiền bị xem là thước đo duy nhất của giá trị con người, nó sẽ dễ dàng chi phối suy nghĩ, hành động và cả nhân cách.
Thực tế cho thấy, tiền có thể mua được ngôi nhà khang trang nhưng không mua được mái ấm gia đình; mua được thuốc men hiện đại nhưng không mua được sức khỏe lâu dài; mua được sách vở, bằng cấp nhưng không mua được tri thức và nhân cách; mua được sự tung hô ồn ào nhưng không mua được sự tôn trọng chân thành. Không ít người vì chạy theo đồng tiền bằng mọi giá mà sẵn sàng đánh đổi tình thân, tình bạn, danh dự và đạo đức. Khi đạt được sự giàu có, họ lại rơi vào cô đơn, bất an, thậm chí khủng hoảng tinh thần. Ngược lại, trong cuộc sống vẫn có rất nhiều con người tuy không dư dả vật chất nhưng sống lương thiện, biết yêu thương, có gia đình êm ấm và được xã hội quý trọng. Những giá trị ấy tuy không thể định giá bằng tiền nhưng lại làm nên hạnh phúc bền vững.
Dĩ nhiên, phủ nhận hoàn toàn vai trò của tiền bạc cũng là một quan điểm cực đoan. Thiếu tiền, con người dễ rơi vào cảnh thiếu thốn, bị hạn chế cơ hội phát triển. Tuy vậy, tiền chỉ nên là phương tiện phục vụ con người, chứ không phải mục tiêu tối thượng để con người bất chấp tất cả mà theo đuổi. Khi đồng tiền trở thành “ông chủ”, con người rất dễ đánh mất chính mình.
Đối với người trẻ hôm nay, việc kiếm tiền bằng năng lực, lao động chân chính là điều đáng trân trọng, nhưng song song với đó cần biết sống có trách nhiệm, biết đủ và giữ gìn những giá trị đạo đức, tinh thần. Chỉ khi đặt tiền bạc đúng vị trí, con người mới có thể vừa làm chủ vật chất, vừa làm chủ cuộc đời mình.
Như Albert Einstein từng nói: “Không phải mọi thứ có thể đếm được đều có giá trị, và không phải mọi thứ có giá trị đều có thể đếm được.” Từ bỏ quan niệm “có tiền là có tất cả” chính là cách để con người hướng đến một cuộc sống giàu có hơn – giàu nhân cách, giàu yêu thương và giàu ý nghĩa.
Câu 2:
“Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm không ồn ào cảm xúc mà lặng lẽ đúc kết những trải nghiệm sâu xa về đời người.” Nhận định ấy đặc biệt đúng khi đọc bài thơ “Thế gian biến đổi” – một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ triết lí của Trạng Trình. Qua tám câu thơ ngắn gọn, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khắc họa chân thực sự đổi thay của thế gian và lòng người, đồng thời thể hiện nghệ thuật thơ Đường luật giản dị mà hàm súc.
Trước hết, bài thơ gây ấn tượng bởi giá trị nội dung hiện thực gắn với chiều sâu triết lí. Ngay câu mở đầu:
“Thế gian biến cải vũng nên đồi,”
tác giả đã khái quát bản chất của cuộc đời là sự biến đổi không ngừng, đến mức đảo lộn trật tự vốn có: cái thấp hèn có thể thành cao sang, cái nhỏ bé có thể trở nên lớn lao. Hình ảnh “vũng – đồi” không chỉ tả sự thay đổi của cảnh vật mà còn là ẩn dụ cho những thăng trầm của kiếp người và xã hội. Tiếp đó, câu thơ:
“Mặn nhạt chua cay lẫn ngọt bùi.”
gợi lên một đời sống đa vị, nơi con người phải nếm trải đủ mọi cung bậc cảm xúc, từ khổ đau đến hạnh phúc. Qua đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện cái nhìn tỉnh táo, từng trải, không ảo tưởng cũng không né tránh sự thật.
Hai câu thực phơi bày trực diện bộ mặt thực dụng của nhân tình thế thái:
“Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử,
Hết cơm, hết bạn, hết ông tôi.”
Tiền bạc trở thành tiêu chí chi phối các mối quan hệ. Khi giàu có, con người được vây quanh bởi kẻ theo hầu, xưng tụng; khi rơi vào cảnh nghèo khó, tình nghĩa cũng nhanh chóng phai nhạt. Giọng thơ thẳng thắn, sắc lạnh như một lời tổng kết rút ra từ trải nghiệm sâu sắc của tác giả, vừa chua chát vừa tỉnh táo.
Ở hai câu luận, nhà thơ đối chiếu giữa đạo lí và thực tế:
“Xưa nay đều trọng người chân thật,
Ai nấy nào ưa kẻ đãi buôi.”
Về mặt lí thuyết, xã hội luôn đề cao sự chân thành, ghét bỏ thói giả dối. Nhưng chính thực tế đời sống lại cho thấy những chuẩn mực ấy không phải lúc nào cũng được thực hiện. Sự vỡ mộng ấy được đẩy lên cao trào ở hai câu kết:
“Ở thế mới hay người bạc ác,
Giàu thì tìm đến, khó thì lui.”
Chỉ khi sống giữa cuộc đời, con người mới thấm thía sự bạc bẽo của lòng người. Qua đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ phê phán thói đời mà còn gửi gắm lời cảnh tỉnh: hãy tỉnh táo trong các mối quan hệ, đừng đặt niềm tin vào những tình cảm được xây dựng trên vật chất.
Không chỉ đặc sắc về nội dung, bài thơ còn gây ấn tượng bởi giá trị nghệ thuật hàm súc. Tác phẩm được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, kết cấu chặt chẽ, lập luận rõ ràng. Nghệ thuật đối lập và liệt kê (vũng – đồi, mặn – ngọt, còn – hết, giàu – khó) được vận dụng linh hoạt, làm nổi bật sự biến đổi và tương phản của đời sống. Ngôn ngữ thơ giản dị, gần với lời nói hằng ngày nhưng giàu sức khái quát, tạo nên giọng điệu điềm tĩnh, khách quan – phong thái đặc trưng của một bậc trí giả am hiểu lẽ đời.
“Thơ hay là thơ giúp con người hiểu thêm về chính mình và về cuộc đời” – và “Thế gian biến đổi” của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã làm trọn vẹn điều đó. Bài thơ không chỉ phản ánh chân thực nhân tình thế thái trong xã hội xưa mà còn mang ý nghĩa bền vững với mọi thời đại, để lại cho người đọc hôm nay những suy ngẫm sâu sắc về giá trị sống và nhân cách con người.