K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

Nghĩ thêm về chi tiết cái bóng trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương

ThS. Đinh Văn Thiện

         (1) Truyện “Chuyện người con gái Nam Xương” được Nguyễn Dữ viết lại với rất nhiều sáng tạo từ một cốt truyện dân gian. Truyện kể về một người chồng vì ghen tuông quá mức, dẫn tới những hành động mù quáng, làm tan nát cả một gia đình yên ấm, lẽ ra sẽ rất hạnh phúc. Hành động ghen tuông của người chồng đã đẩy người vợ đến chỗ uất ức quá phải nhảy xuống sông Hoàng Giang tự vẫn để chứng tỏ sự trong trắng thuỷ chung của mình. Từ góc độ đề tài, truyện không có gì mới mẻ. Tuy nhiên truyện vẫn rất hấp dẫn bởi đã xây dựng được một tình huống rất độc đáo. Đó là tình huống, sau bao nhiêu năm chinh chiến ngoài biên ải theo lệnh của triều đình, người chồng may mắn thoát chết trở về, những mong được ôm ấp đứa con của mình trong tình cha con đằm thắm, nào ngờ chính đứa con lại nói: “Ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia, chỉ nín thin thít”. Đứa con còn kể tiếp: “Trước đây thường có một người đàn ông, đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả”. Người vợ nói thế nào người chồng cũng không tin. Hàng xóm phân giải mọi điều về sự hiếu thảo, thuỷ chung của người vợ ở nhà, người chồng cũng chỉ cho là người vợ do khéo mồm khéo miệng mà được hàng xóm bao che. Tình huống ấy buộc người đọc phải theo dõi câu chuyện đến tận cùng xem kết cục là vì sao lại như vậy. Vì chuyện ghen tuông xưa nay vẫn có đến một ngàn lẻ một cách lí giải khác nhau, làm sao cắt nghĩa hết được! Người chồng chỉ sáng mắt ra khi chính đứa con chỉ vào cái bóng của anh ta nói: “Cha Đản đấy”.

        (2) Tuy nhiên, để tình huống ấy diễn ra một cách tự nhiên, hợp lí, người kể chuyện đã khéo léo cài đặt sẵn một chi tiết hết sức tự nhiên, một chi tiết lấy ra từ chính đời sống thường ngày. Đó là chi tiết lấy từ “trò chơi soi bóng trên tường”. Ngày xưa chưa có tivi, đến cả “rối hình" cũng không có, tối tối con cái thường quây quần quanh cha mẹ, ông bà, chơi trò soi bóng trên tường, nhờ ánh sáng ngọn đèn dầu, mỡ. Trò chơi này hết sức thú vị, vì từ hai bàn tay người chơi có thể tạo ra bao nhiêu hình thù vừa quen thuộc vừa kì lạ khác nhau, dựa vào tài khéo léo, óc tưởng tượng của cả người chơi và người xem. Trong trò chơi này ai cũng là người chơi, ai cũng là người xem nên có cái vui nhộn của không khí dân chủ và bình đẳng. Người vợ, vì chồng vắng nhà dằng dặc như thế, tối tối cũng chỉ còn biết chơi đùa với con bằng trò chơi ấy. Có lẽ vì muốn con luôn cảm thấy người cha vẫn có mặt ở nhà, và để tự an ủi mình, thấy mình với chồng vẫn luôn bên nhau như hình với bóng, nên người vợ đã chỉ vào cái bóng của mình mà nói với con rằng đó là cha của Đản - tên của đứa con. Gia đình, vì thế, lúc nào cũng cảm thấy sum vầy đông đủ, sự trống trải đã được khỏa lấp bằng hình ảnh của cái bóng êm đềm.

        (3) Từ một trò chơi dân dã, hết sức phổ biến, người kể chuyện đã đẩy lên thành một cái cớ để xây dựng thành một tình huống truyện độc đáo. Đó chính là sự tài hoa, sâu sắc của người kể chuyện. Cái bóng chỉ là cái cớ để xây dựng tình huống, là một chi tiết nghệ thuật, sao chúng ta lại gọi nó là “cái bóng oan khiên"? Đừng gán cho nó cái giá trị tư tưởng vốn không phải của nó mà quên mất cái đặc sắc trong nghệ thuật kể chuyện của người xưa. Trò chơi ấy cũng còn cho thấy tấm lòng của người vợ nhớ chồng da diết nhường nào, thương con đến nhường nào. Người vợ làm sao có thể nghĩ tới việc sau này đứa con sẽ nói với người cha của nó những câu như ta đã thấy để tránh né câu chuyện vui đùa mà tình nghĩa và xúc động kia. Vì thế làm sao ta lại có thể phán xét rằng chính người vợ cũng có lỗi về cái chết của nàng một khi biết tính chồng hay đa nghi lại còn đùa với con như vậy. Lỗi và tội ở đây là cái sự ghen tuông đến mù quáng như một căn bệnh truyền đời của nhân loại.

        (4) Cũng chính vì mục đích sâu xa là lên án một cách gay gắt, quyết liệt thói ghen tuông (chứ không phải để lên án chiến tranh phong kiến loạn lạc, như một số nhận xét thường thấy) mà Nguyễn Dữ đã viết thêm đoạn kết (không có trong văn bản truyện cổ dân gian) có tính chất “thần kỳ”. Đoạn kết ấy không phải chỉ để câu chuyện thêm hấp dẫn! Đó là một kết thúc “mở” có ý nghĩa trả lại cho Vũ Nương sự trong sạch của một tấm lòng thuỷ chung, trong sáng, đồng thời thể hiện một thái độ bao dung đối với sai lầm của người chồng và của chính nàng mà thôi.

        (5) Truyện đã không để Vũ Nương về với chồng con. Điều đó buộc người đọc phải suy nghĩ sâu hơn về bài học mà truyện đặt ra. Người bị oan, cuộc đời có thể giải oan giúp họ. Còn hậu quả của những sai lầm do chính con người gây ra thì khôn lường và không phải bao giờ cũng khắc phục được. Đoạn kết của truyện đã xoáy vào lòng người đọc nỗi xót xa bởi cảnh đứa trẻ mất mẹ, suốt đời trong cảnh mồ côi, chỉ do thói ghen tuông của người cha...

(Văn học và Tuổi trẻ, số 7 (190), năm 2009)

Câu 1. Xác định luận đề của văn bản.

Câu 2. Theo người viết, truyện Chuyện người con gái Nam Xương hấp dẫn bởi tình huống truyện độc đáo nào?

Câu 3. Mục đích của việc người viết nhắc đến tình huống truyện ở phần mở đầu văn bản là gì?

Câu 4. Chỉ ra một chi tiết được trình bày khách quan và một chi tiết được trình bày chủ quan trong đoạn (2). Nhận xét về mối quan hệ giữa cách trình bày khách quan và cách trình bày chủ quan đó trong văn bản. 

Câu 5. Từ văn bản, cho biết vì sao người viết lại cho rằng chi tiết cái bóng là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc?

10
17 tháng 12 2025

Câu 1. Luận đề của văn bản: Ý nghĩa và giá trị nghệ thuật đặc sắc của chi tiết “cái bóng” trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương. Câu 2. Theo người viết, truyện hấp dẫn bởi tình huống người chồng trở về sau chiến tranh, đứa con ngây thơ nhầm “cái bóng” là cha, gây nên bi kịch ghen tuông và cái chết oan khuất của Vũ Nương. Câu 3. Mục đích nêu tình huống truyện ở phần mở đầu là làm nổi bật sự độc đáo của cốt truyện, thu hút người đọc và dẫn dắt vào việc phân tích chi tiết “cái bóng”. Câu 4. Chi tiết khách quan: trò chơi soi bóng trên tường. Chi tiết chủ quan: cảm nhận, suy luận của người vợ và đứa con về cái bóng. → Hai cách trình bày kết hợp hài hòa, giúp câu chuyện vừa chân thực vừa giàu cảm xúc. Câu 5. Chi tiết “cái bóng” là chi tiết nghệ thuật đặc sắc vì tạo nên tình huống truyện độc đáo, hợp lí, thể hiện bi kịch ghen tuông mù quáng và số phận oan khuất của người phụ nữ, qua đó làm nổi bật giá trị nhân đạo của tác phẩm.

17 tháng 12 2025

PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4 điểm) Câu 1. Luận đề của văn bản: Chi tiết cái bóng trong Chuyện người con gái Nam Xương là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc, được Nguyễn Dữ sáng tạo khéo léo nhằm xây dựng tình huống truyện độc đáo và qua đó lên án thói ghen tuông mù quáng, đồng thời làm nổi bật bi kịch của Vũ Nương. Câu 2. Theo người viết, truyện Chuyện người con gái Nam Xương hấp dẫn bởi tình huống người chồng trở về sau chiến tranh, bị chính lời nói ngây thơ của đứa con về “người cha chỉ nín thin thít” làm nảy sinh nghi ngờ, dẫn đến bi kịch gia đình. Chỉ đến khi đứa trẻ chỉ vào cái bóng và nói “Cha Đản đấy” thì sự thật mới được sáng tỏ. Câu 3. Mục đích của việc người viết nhắc đến tình huống truyện ở phần mở đầu là: Thu hút sự chú ý của người đọc, tạo hứng thú theo dõi vấn đề được bàn luận Đặt nền tảng cho việc phân tích chi tiết cái bóng – trung tâm lập luận của văn bản Làm rõ tính độc đáo trong nghệ thuật xây dựng tình huống của Nguyễn Dữ Câu 4. Chi tiết trình bày khách quan trong đoạn (2): “Ngày xưa chưa có tivi, đến cả ‘rối hình’ cũng không có, tối tối con cái thường quây quần quanh cha mẹ, ông bà, chơi trò soi bóng trên tường...” Chi tiết trình bày chủ quan: “Có lẽ vì muốn con luôn cảm thấy người cha vẫn có mặt ở nhà, và để tự an ủi mình…” Nhận xét: Cách trình bày khách quan giúp người đọc hiểu bối cảnh sinh hoạt đời sống xưa, còn cách trình bày chủ quan thể hiện suy nghĩ, cảm xúc và quan điểm đánh giá của người viết. Hai cách trình bày này bổ sung cho nhau, làm cho lập luận vừa có cơ sở thực tế, vừa giàu chiều sâu cảm xúc và thuyết phục. Câu 5. Người viết cho rằng chi tiết cái bóng là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc vì: Nó được lấy từ một trò chơi dân gian quen thuộc, rất đời thường và tự nhiên Được nâng lên thành cái cớ để xây dựng tình huống truyện độc đáo Góp phần thể hiện tình yêu thương con, nỗi nhớ chồng sâu nặng của Vũ Nương Là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến bi kịch, qua đó tố cáo thói ghen tuông mù quáng của con người PHẦN II. LÀM VĂN Câu 1. (2 điểm) Đoạn văn phân tích nhân vật Dung (khoảng 200 chữ) Nhân vật Dung trong truyện ngắn Hai lần chết của Thạch Lam là hình ảnh tiêu biểu cho số phận đau khổ của người phụ nữ trong xã hội cũ. Sinh ra trong một gia đình sa sút, Dung lớn lên trong sự hờ hững của cha mẹ và cuối cùng bị chính mẹ già bán gả để đổi lấy tiền bạc. Cuộc sống làm dâu của nàng đầy tủi nhục khi phải lao động cực nhọc, bị mẹ chồng cay nghiệt, em chồng hành hạ, còn chồng thì vô tâm, nhu nhược. Không chỉ bị đày đọa về thể xác, Dung còn chịu nỗi cô đơn tinh thần khi không nhận được sự an ủi từ chính gia đình ruột thịt. Bị dồn đến bước đường cùng, nàng đã từng tìm đến cái chết như một cách trốn chạy số phận. Qua nhân vật Dung, Thạch Lam thể hiện niềm xót thương sâu sắc đối với người phụ nữ bị chà đạp quyền sống, đồng thời lên án xã hội bất công đã đẩy con người vào ngõ cụt bi thảm. Câu 2. (4 điểm) Bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ): Suy nghĩ về vấn đề bình đẳng giới hiện nay Bình đẳng giới là một trong những vấn đề quan trọng của xã hội hiện đại, thể hiện sự tiến bộ trong nhận thức về quyền con người. Tuy nhiên, trên thực tế, bình đẳng giới vẫn chưa được thực hiện một cách đầy đủ và triệt để. Trước hết, bình đẳng giới là việc nam và nữ có quyền, nghĩa vụ và cơ hội ngang nhau trong học tập, lao động và tham gia các hoạt động xã hội. Ngày nay, phụ nữ đã có nhiều cơ hội học tập, làm việc và khẳng định bản thân hơn trước. Tuy vậy, định kiến giới vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi: phụ nữ bị đánh giá thấp trong công việc, gánh nặng gia đình thường đổ dồn lên vai họ, trong khi nam giới đôi khi bị áp đặt phải mạnh mẽ, không được bộc lộ cảm xúc. Để thực hiện bình đẳng giới, trước hết cần thay đổi nhận thức của mỗi cá nhân. Mỗi người phải biết tôn trọng, lắng nghe và đánh giá người khác dựa trên năng lực chứ không phải giới tính. Gia đình cần giáo dục con cái về sự công bằng ngay từ nhỏ, không phân biệt việc nhà là của nữ hay việc lớn là của nam. Nhà trường và xã hội cũng cần đẩy mạnh tuyên truyền, tạo môi trường học tập và làm việc công bằng cho cả hai giới. Bản thân học sinh cần có thái độ đúng đắn: biết tôn trọng bạn bè, không trêu chọc hay định kiến về giới, đồng thời chủ động rèn luyện năng lực của mình. Tóm lại, bình đẳng giới không chỉ là quyền lợi của phụ nữ mà là thước đo sự văn minh của xã hội. Khi bình đẳng giới được thực hiện đúng đắn, xã hội sẽ phát triển hài hòa và bền vững hơn.

21 tháng 12 2025

Dgfntnt

22 tháng 12 2025

HDPE

25 tháng 12 2025

Luận đề của văn bản: Nghĩ thêm (phân tích) về chi tiết cái bóng trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương.

Câu 2:

Theo tác giả, tình huống truyện độc đáo trong chuyện là tình huống: sau khi đi lính về người chồng om ấp đứa con lại thấy nó bảo: “Ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia, chỉ nín thin thít” liền nổi cơn ghen không nghe ai giải thích.

Câu 3:   

Tác giả nhắc lại tình huống chuyện ở phần mở đầu nhằm mục đích giới thiệu chi tiết tác giả đang bàn luận là "cái bóng" - nguyên nhân của tình huống chuyện được nêu ở phần mở đầu.

Câu 4:

_ Chi tiết chủ quan:   Tuy nhiên, để tình huống ấy diễn ra một cách tự nhiên, hợp lí, người kể chuyện đã khéo léo cài đặt sẵn một chi tiết hết sức tự nhiên, một chi tiết lấy ra từ chính đời sống thường ngày. 

_ Chi tiết khách quan:  Đó là chi tiết lấy từ “trò chơi soi bóng trên tường”

-> Ý kiến chủ quan trong văn bản được tác giả nêu ra để trình bày quan điểm, suy nghĩ của bản thân về chi tiết "cái bóng" rồi nêu lên ý kiến khách quan trong "Chuyện người con gái Nam Xương" để làm rõ ý kiến của mình và làm tăng tính thuyết phục cho ú kiến của bản thân.

Câu 5:

Người viết cho rằng cái bóng là 1 chi tiết nghệ thuật đặc sắc vì: nó là "một chi tiết hết sức tự nhiên, một chi tiết lấy ra từ chính đời sống thường ngày" nên Vũ Nương " vì muốn con luôn cảm thấy người cha vẫn có mặt ở nhà, và để tự an ủi mình, thấy mình với chồng vẫn luôn bên nhau như hình với bóng, nên người vợ đã chỉ vào cái bóng của mình mà nói với con rằng đó là cha của Đản - tên của đứa con" nhưng đó là nguồn cơn cho sự tan nát hạnh phúc trong đời Vũ Nương.

27 tháng 12 2025


Câu 1.

Luận đề của văn bản là: phân tích và làm rõ ý nghĩa nghệ thuật của chi tiết “cái bóng” trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương, qua đó khẳng định đây là một chi tiết sáng tạo, độc đáo, góp phần thể hiện chủ đề lên án thói ghen tuông mù quáng.

Câu 2.

Theo người viết, truyện hấp dẫn bởi tình huống người chồng sau nhiều năm đi lính trở về, chỉ vì lời nói ngây thơ của đứa con về “người cha chỉ biết im lặng” mà nghi ngờ vợ không chung thủy, từ đó dẫn đến bi kịch gia đình và cái chết oan khuất của Vũ Nương. Sự thật chỉ được sáng tỏ khi đứa con chỉ vào cái bóng của người cha.

Câu 3.

Mục đích người viết nhắc đến tình huống truyện ở phần mở đầu là:

+ Thu hút sự chú ý của người đọc

+ Định hướng cho toàn bộ nội dung phân tích phía sau, làm nền tảng để bàn sâu về ý nghĩa nghệ thuật của chi tiết cái bóng

Câu 4.

Chi tiết trình bày khách quan:

“Ngày xưa chưa có tivi, đến cả ‘rối hình’ cũng không có, tối tối con cái thường quây quần quanh cha mẹ, ông bà, chơi trò soi bóng trên tường…”

Chi tiết trình bày chủ quan:

“Có lẽ vì muốn con luôn cảm thấy người cha vẫn có mặt ở nhà… nên người vợ đã chỉ vào cái bóng của mình mà nói với con rằng đó là cha của Đản.”

Nhận xét: Cách trình bày khách quan giúp tạo cơ sở thực tế, tự nhiên, còn cách trình bày chủ quan thể hiện suy nghĩ, cảm xúc và sự cảm thông của người viết đối với nhân vật Vũ Nương. Hai cách trình bày này bổ sung cho nhau, làm cho lập luận vừa thuyết phục vừa giàu tính nhân văn.

Câu 5.

Vì chi tiết cái bóng:

+ Được lấy từ đời sống sinh hoạt dân gian, rất tự nhiên

+ Là nút thắt của tình huống truyện, gây ra hiểu lầm bi kịch

+ Thể hiện tình yêu thương chồng con sâu sắc của Vũ Nương

+ Góp phần lên án thói ghen tuông mù quáng, chứ không phải lỗi của người phụ nữ


29 tháng 12 2025

Câu 1. Xác định luận đề của văn bản. Luận đề: Ý nghĩa nghệ thuật và giá trị tư tưởng sâu sắc của chi tiết "cái bóng" trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ). Câu 2. Theo người viết, truyện "Chuyện người con gái Nam Xương" hấp dẫn bởi tình huống truyện độc đáo . Theo văn bản, tình huống độc đáo đó là: Sau bao nhiêu năm chinh chiến ngoài biên ải, người chồng (Trương Sinh) may mắn thoát chết trở về, mong được ôm ấp con nhưng đứa con lại không nhận cha. Nó khẳng định có một người đàn ông khác đêm nào cũng đến, mẹ đi cũng đi, mẹ ngồi cũng ngồi nhưng không bao giờ bế nó. Tình huống này đẩy sự ghen tuông của người chồng lên đỉnh điểm, dẫn đến cái chết oan khuất của người vợ. Câu 3. Mục đích của việc người viết nhắc đến tình huống truyện ở phần mở đầu văn bản . Mục đích là: Tóm tắt cốt truyện: Giúp người đọc nắm bắt được bối cảnh và diễn biến chính của câu chuyện. Dẫn dắt vào vấn đề: Tạo tiền đề để khẳng định sức hấp dẫn của tác phẩm không nằm ở đề tài cũ mà nằm ở cách xây dựng tình huống độc đáo xoay quanh "cái bóng". Tạo sự chú ý: Khơi gợi sự tò mò của người đọc về nguyên nhân và hệ quả của thói ghen tuông mù quáng. Câu 4. Chỉ ra chi tiết khách quan, chủ quan trong đoạn (2) và nhận xét mối quan hệ là . Chi tiết khách quan: Những lời kể về trò chơi "soi bóng trên tường" ngày xưa (không có tivi, trẻ con quây quần bên đèn dầu, dùng bàn tay tạo hình thù...). Chi tiết chủ quan: Những suy đoán, cảm nhận của tác giả về tâm trạng Vũ Nương: "Có lẽ vì muốn con luôn cảm thấy người cha vẫn có mặt ở nhà, và để tự an ủi mình... nên người vợ đã chỉ vào cái bóng của mình mà nói với con rằng đó là cha của Đản". Nhận xét mối quan hệ: Cách trình bày khách quan (sự thật về trò chơi dân gian) làm nền tảng vững chắc, tạo sự tin cậy cho những nhận định chủ quan (phân tích tâm lý nhân vật). Sự kết hợp này giúp bài phê bình vừa có tính thực tế, vừa có chiều sâu cảm xúc và sức thuyết phục cao. Câu 5. Vì sao người viết lại cho rằng chi tiết cái bóng là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc là . Theo văn bản, chi tiết cái bóng đặc sắc vì: Về mặt cốt truyện: Nó là "cái cớ" khéo léo để thắt nút và mở nút câu chuyện một cách tự nhiên, bất ngờ. Về mặt ý nghĩa nhân văn: Nó thể hiện tấm lòng yêu chồng, thương con tha thiết nhưng cũng đầy bi kịch của Vũ Nương (dùng bóng làm cha để an ủi con và chính mình). Về mặt tư tưởng: Nó là hiện thực hóa của thói ghen tuông mù quáng – một "căn bệnh truyền đời" của nhân loại. Cái bóng tuy vô hình nhưng lại có sức công phá khủng khiếp, làm tan nát một gia đình. Về tính triết lý: Nó buộc người đọc phải suy ngẫm về những sai lầm do chính con người gây ra và những hậu quả không thể khắc phục được.

4 tháng 1

Câu 1: luận đề tập trung vào số phận bi kịch và nỗi oan khuất của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến, ca ngợi vẻ đẹp đức hạnh , thủy chung của họ và phê phán những định kiến, luật lệ bất công đã vùi dập con người

Câu 2: theo người viết, Tru

11 tháng 1

Câu 1. Xác định luận đề của văn bản.

Luận đề của văn bản là:

→ Chi tiết “cái bóng” trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc, góp phần tạo nên tình huống truyện độc đáo, đồng thời thể hiện sâu sắc bi kịch oan khuất của Vũ Nương và lên án thói ghen tuông mù quáng.

Câu 2. Theo người viết, truyện Chuyện người con gái Nam Xương hấp dẫn bởi tình huống truyện độc đáo nào

Theo người viết, truyện hấp dẫn bởi tình huống người chồng đi lính nhiều năm trở về, đứa con không nhận cha mà chỉ nhận “người cha” trong bóng, từ đó khiến người chồng hiểu lầm vợ, dẫn đến bi kịch gia đình và cái chết oan uổng của Vũ Nương.

Câu 3. Mục đích của việc người viết nhắc đến tình huống truyện ở phần mở đầu văn bản là gì?

Việc nhắc đến tình huống truyện ở phần mở đầu nhằm:

  • Giới thiệu khái quát nội dung và điểm hấp dẫn của tác phẩm
  • Làm cơ sở để phân tích sâu chi tiết “cái bóng” ở các phần sau
  • Dẫn dắt người đọc đi vào luận đề một cách tự nhiên, logic

Câu 4.

a. Chỉ ra một chi tiết trình bày khách quan và một chi tiết trình bày chủ quan trong đoạn (2).

  • Chi tiết trình bày khách quan:
    → Trò chơi “soi bóng trên tường” là một trò chơi dân dã, phổ biến trong đời sống sinh hoạt xưa.
  • Chi tiết trình bày chủ quan:
    → Nhận xét: trò chơi ấy thể hiện tấm lòng người vợ nhớ chồng da diết, thương con sâu sắc.

b. Nhận xét mối quan hệ giữa cách trình bày khách quan và chủ quan.

→ Cách trình bày khách quan giúp sự việc trở nên chân thực, đáng tin; cách trình bày chủ quan giúp bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ của người viết. Hai cách trình bày này bổ sung cho nhau, làm cho lập luận vừa chặt chẽ vừa giàu sức thuyết phục.

Câu 5. Từ văn bản, cho biết vì sao người viết cho rằng chi tiết “cái bóng” là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc?

Người viết cho rằng chi tiết “cái bóng” là đặc sắc vì:

  • Được lấy từ đời sống sinh hoạt bình thường nhưng mang ý nghĩa nghệ thuật sâu sắc
  • Là nguyên nhân trực tiếp gây ra hiểu lầm bi kịch trong truyện
  • Góp phần khắc họa số phận oan khuất của Vũ Nương
  • Thể hiện tư tưởng nhân đạo và lời lên án thói ghen tuông mù quáng trong xã hội phong kiến



2 tháng 3

Câu 1 : Luận đề của văn bản là phân tích, đánh giá về giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn "Chuyện người con gái Nam Xương" của Nguyễn Dữ, đặc biệt nhấn mạnh vào tình huống truyện độc đáo và chi tiết nghệ thuật "cái bóng" để làm nổi bật bi kịch của nhân vật Vũ Nương và lên án thói ghen tuông phi lý trong xã hội phong kiến.

Câu 2 :

Theo người viết, truyện "Chuyện người con gái Nam Xương" hấp dẫn bởi tình huống truyện độc đáo: "người chồng đi lính về, chỉ vì lời nói ngây thơ của đứa con mà nghi oan cho vợ".

Câu 3 : Mục đích của việc người viết nhắc đến tình huống truyện ở phần mở đầu văn bản là để dẫn dắt vấn đề, khơi gợi sự tò mò và chú ý của người đọc, đồng thời khẳng định ngay từ đầu sức hấp dẫn đặc biệt của tác phẩm, từ đó tạo tiền đề cho việc phân tích sâu hơn về các chi tiết nghệ thuật, đặc biệt là chi tiết "cái bóng".

Câu 4 : Trong đoạn (2) của văn bản, chi tiết được trình bày khách quan là "cảnh đứa trẻ mất mẹ, suốt đời trong cảnh mồ côi". Chi tiết được trình bày chủ quan là "nỗi xót xa" hay "thói ghen tuông của người cha". Mối quan hệ giữa cách trình bày khách quan (sự kiện, tình tiết trong truyện) và cách trình bày chủ quan (cảm xúc, đánh giá của người viết) là mối quan hệ bổ trợ, đan xen lẫn nhau: chi tiết khách quan là cơ sở để người viết bộc lộ cảm xúc, đưa ra nhận định chủ quan, từ đó làm tăng sức thuyết phục và lay động lòng người đọc.

Câu 5 : Từ văn bản, người viết cho rằng chi tiết cái bóng là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc vì nó là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến bi kịch gia đình, là đỉnh điểm của mâu thuẫn, và là chi tiết "xoáy vào lòng người đọc nỗi xót xa" về số phận oan nghiệt của Vũ Nương.


  Nguyễn Dữ - Cây bút văn xuôi xuất sắc sống ở thời kì chế độ phong kiến bắt đầu bước vào giai đoạn suy vong,vốn không đồng tình với chế độ phong kiến bất công, thối nát, ông đã thể hiện kín đáo tình cảm ấy của mình qua tác phẩm Truyền kì mạn lục gồm hai mươi truyện ngắn, trong đó tiêu biểu là Chuyện người con gái Nam Xương và nhân vật Vũ Nương.     Vũ Nương trong...
Đọc tiếp

  Nguyễn Dữ - Cây bút văn xuôi xuất sắc sống ở thời kì chế độ phong kiến bắt đầu bước vào giai đoạn suy vong,vốn không đồng tình với chế độ phong kiến bất công, thối nát, ông đã thể hiện kín đáo tình cảm ấy của mình qua tác phẩm Truyền kì mạn lục gồm hai mươi truyện ngắn, trong đó tiêu biểu là Chuyện người con gái Nam Xương và nhân vật Vũ Nương.
     Vũ Nương trong "Chuyện người con gái Nam Xương" là một người phụ nữ hội tụ tất cả phẩm chất quý báu của phụ nữ truyền thống Việt Nam. Trước hết, Vũ Nương là một người vợ yêu thương chồng hết mực. Khi Trương Sinh đi lính, nàng chỉ mong chồng trở về bình an lành lặn chứ không hè mong tước phong hầu trở về. Khi chồng đi lính, mẹ chồng ở nhà ốm nặng, nàng cũng chăm sóc vô cùng chu đáo. Đến khi mẹ chồng mất nàng lo ma chay tế lễ cẩn thận như đối với chính cha mẹ đẻ mình. Không chỉ là một người vợ yêu chồng, một người con dâu hiếu thảo mà Vũ Nương còn là một người mẹ yêu thương con hết mực. Vì sợ bé Đản không cảm nhận được tình thương của cha mà Vũ Nương đã trỏ bóng mình trên vách và nói đó là cha Đản. Đồng thời, Vũ Nương còn là một người phụ nữ có lòng tự trọng. Khi bị Trương Sinh nghi oan, nàng giải thích hết lời mà chàng không tin, Vũ Nương đã nhảy xuống sông tự vẫn để chúng minh sự trong sạch của mình. Nàng thà chết để được chứng minh trong sạch còn hơn là sống một cuộc đời bị mọi người sỉ vả. Không những thế, Vũ Nương còn là một người phụ nữ giàu lòng vị tha. Khi ở dưới thủy cung nàng vẫn một lòng nhớ về chồng và con mặc dù chính chồng nàng là nguyên nhân gây ra cái chết cho nàng. Khi được Trương Sinh lập đàn giải oan, nàng còn cảm ơn chồng vì đã nghĩ đến nghĩa vợ chồng mà giải oan cho nàng. Qua đây ta thấy được Vũ Nương là một người phụ nữ đẹp người đẹp nết nhưng lại chịu số phận đầy bất hạnh.

TÌM MỘT CÂU GHÉP

0
27 tháng 9 2021

Bn tham khảo dàn ý nha:

Chi tiết Vũ Nương chỉ cái bóng của mình rồi nói với đứa con là Cha Đản chứng tỏ:
- Vũ Nương là một người mẹ rất thương con, không muốn cho con thiếu thốn tình cảm của cha.
- Vũ Nương là một người vợ thủy chung với chồng, lúc nào cũng nghĩ đến chồng.
- Vũ Nương rất cô đơn chỉ biết chỉ biết truyện trò cùng bóng.
Việc đưa vào những yếu tố kì ảo, để Vũ Nương hiện hồn về trong chốc lát có làm dịu đi chút ít tính bi kịch của tác phẩm vì như thế là Vũ Nương không chết, với chồng nàng đã được minh oan. Nhưng dù sao nàng vẫn không được sống với chồng con, hạnh phúc trần gian đâu còn nữa.Đó vẫn là một bi kịch

26 tháng 8 2016

1, Giới thiệu tác giả, tác phẩm và vấn đề nghị luận

2, Tóm tắt ngắn gọn câu chuyện

3, Nêu được những chi tiết hé mở trong truyện để có thể tránh được thảm kịch cho Vũ Nương:

  • Truyện không phải không hé mở khả năng có thể tránh được thảm kịch đau thương của Vũ Nương:
  • Lời con trẻ chứa đựng không ít điều vô lí không thể tin ngay được: "mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi", "chỉ nín thin thít", "chẳng bao giờ bế Đản cả",... Câu nói đó của đứa trẻ như là một câu đố, nếu Trương Sinh biết suy nghĩ thì cái chết của Vũ Nương sẽ không xảy ra. Nhưng Trương Sinh cả ghen, ít học, đã vô tình bỏ dở khả năng giải quyết tấm thảm kịch, dẫn tới cái chết oan uổng của người vợ.
  • Bi kịch có thể tránh được khi vợ hỏi chuyện kia ai nói, chỉ cần Trương Sinh kể lại lời con nói mọi chuyện sẽ rõ ràng.

=>Thể hiện tài năng kể chuyện của Nguyễn Dữ (thắt nút truyện làm cho mâu thuẫn đẩy lên đỉnh điểm tăng sự li kỳ, hấp dẫn cho câu chuyện)

4, Suy nghĩ về cái chết của Vũ Nương:

  • Tìm đến cái chết là tìm đến giải pháp tiêu cực nhất nhưng dường như đó là cách duy nhất của Vũ Nương. Hành động trẫm mình tự vẫn của nàng là hành động quyết liệt cuối cùng để bảo toàn danh dự, đối với nàng phẩm giá còn cao hơn cả sự sống.
  • Một phụ nữ đức hạnh, tâm hồn như ngọc sáng mà bị nghi oan bởi một chuyện không đâu ở một lời con trẻ, một câu nói đùa của mẹ với con mà phải tìm đến cái chết bi thảm, ai oán trong lòng sông thăm thẳm.
  • Câu chuyện bắt đầu từ một bi kịch gia đình, một chuyện trong nhà, một vụ ghen tuông. Vũ Nương lấy phải người chồng cả ghen, nguyên nhân trực tiếp dẫn nàng đến cái chết bi thảm là "máu ghen" của người chồng nông nổi. Không phải chỉ vì cái bóng trên tường mà chính là cái bóng đen trong tâm hồn Trương Sinh đã giết chết Vũ Nương.
  • Câu chuyện đau lòng vượt ra ngoài khuôn khổ cuả một gia đình, nó buộc chúng ta phải suy nghĩ tới số phận mong manh của con người trong một xã hội mà những oan khuất, bất công, tai họa có thể xảy ra bất cứ lúc nào đối với họ mà những nguyên nhân dẫn đến nhiều khi không thể lường trước được. Đó là xã hội phong kiến ở nước ta, xã hội đã sinh ra những chàng Trương Sinh, những người đàn ông mang nặng tư tưởng nam quyền, độc đoán, đã chà đạp lên quyền sống của người phụ nữ. Hậu quả là cái chết thảm thương của Vũ Nương.
  • Chiến tranh phong kiến cũng là một nguyên nhân dẫn đến bi kịch của Vũ Nương. Nó gây nên cảnh sinh li rồi góp phần dẫn đến cảnh tử biệt.
  • Cái chết của Vũ Nương là lời tố cáo xã hội phong kiến đã dung túng cho cái ác, cái xấu xa đồng thời bày tỏ niềm cảm thông đối với số phận người phụ nữ.
  • Bi kịch của Vũ Nương đem đến bài học thấm thía về việc giữ gìn hạnh phúc gia đình.

5, Đánh giá, liên hệ, mở rộng:

  • Nghệ thuật xây dựng chi tiết có ý nghĩa trong tác phẩm, tạo tình huống có vấn đề .
  • Nỗi đau, số phận của Vũ Nương cũng chính là hình ảnh cuộc sống của người phụ nữ xưa.
  • Trân trọng, cảm thông, thấu hiểu của tác giả với người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
  • Suy nghĩ của bản thân về cuộc sống gia đình hiện nay.
(4,0 điểm) Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:BẾP LỬA – VẺ ĐẸP LẶNG THẦM CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT (1) Đọc xong bài thơ, nhắm mắt lại tưởng tượng bạn sẽ hình dung thấy ngay hình ảnh bếp lửa hồng và dáng người bà lặng lẽ ngồi bên. Hình ảnh có tính sóng đôi này được hiện lên thật sống động, rõ ràng, như thể nét khắc, nét chạm vậy. Khi viết...
Đọc tiếp

(4,0 điểm) Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

BẾP LỬA – VẺ ĐẸP LẶNG THẦM CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT

(1) Đọc xong bài thơ, nhắm mắt lại tưởng tượng bạn sẽ hình dung thấy ngay hình ảnh bếp lửa hồng và dáng người bà lặng lẽ ngồi bên. Hình ảnh có tính sóng đôi này được hiện lên thật sống động, rõ ràng, như thể nét khắc, nét chạm vậy. Khi viết bài thơ này, tác giả đang là sinh viên theo học ở nước ngoài. Không gian xa cách. Bên này nỗi nhớ thương là người bà và bên kia là cháu. Nỗi nhớ gọi về kỉ niệm. Trong vô vàn những kỉ niệm không đầu không cuối hiện về, có lẽ kỉ niệm ám ảnh nhất là hình dáng người bà và bếp lửa bà nhóm lên mỗi sớm mỗi chiều. Và cứ thế, như một thôi thúc tự nhiên, kỉ niệm và nỗi nhớ ấy bật lên thành các chữ: "Một bếp lửa…", "Một bếp lửa…", "Cháu thương bà biết mấy nắng mưa".

(2) Mở đầu bài thơ, hình ảnh bếp lửa xuất hiện ngay lập tức và được điệp lại. Và thế là từ đây, hình ảnh bếp lửa với sức ấm và ánh sáng của nó quán xuyến, lan toả toàn bài. Tựa như bếp lửa, nỗi nhớ của cháu đối với bà cũng ấm nóng, da diết, thấm thía trong từng câu chữ.

(3) Đi ra từ nỗi nhớ, tất cả mọi ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu bị cuốn theo dòng hoài niệm. Một thời quá khứ được tái hiện lại trong tâm tưởng với những chi tiết rất mực cụ thể. Tác giả nâng niu từng mảnh kí ức hiện về. Bà, bếp lửa, tuổi thơ của cháu trong những năm nạn đói và trong những năm giặc giã. Bà, bếp kí ức của chính bà. Và cuối cùng sẽ là bà, bếp lửa của thì hiện tại, của hôm nay. Trong mấy dòng thơ mở đầu có một bếp lửa chập chờn mang màu cổ tích…

(4) Khổ thơ thứ hai nhắc đến nạn đói năm bốn nhăm, trước ngày cả nước giành chính quyền, người chết đói thê thảm khắp nơi. Cái mùi khói, khói hun trong khổ thơ có sức gợi rất nhiều, nhắc người đọc nhớ đến cảnh hun khói xua đuổi mùi tử khí được miêu tả trong thiên truyện "Vợ nhặt" nổi tiếng của Kim Lân. Ông viết: "Mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt.". Nhà thơ Bằng Việt chỉ với chi tiết rất tiêu biểu này đã gợi ra được một quá khứ tang thương, đầy những thảm cảnh gắn liền với những thân phận trong đó có người bà, người bố. Tình cảm của nhà thơ mang bao nỗi ngậm ngùi, xót xa.

(5) Cũng có thể hình dung hình ảnh bếp lửa trong tâm tưởng nhà thơ tựa như những thước phim đang chạy, làm hiện lên những khung cảnh quá khứ đầy cảm động. Đây là hình ảnh người bà: "Tu hú kêu trên những cánh đồng xa…", "Bà hay kể truyện những ngày ở Huế". Đến đây, hình ảnh người bà và bếp lửa gắn liền với tiếng kêu khắc khoải của loài chim tu hú. Tiếng kêu của loài chim này trong truyền thống văn học của ta thường gợi nhắc đến những nhớ nhung, xa cách, trông ngóng mòn mỏi… Đó là những âm thanh mang một sắc điệu buồn. Có thể bên bếp lửa, bà bỗng nhớ về những vui buồn thời con gái. Hình ảnh tiếng chim tu hú còn được nhắc lại ở cuối khổ tiếp theo. Phải nói rằng, sự có mặt của tiếng chim tu hú trong khổ thơ làm cho không gian kỉ niệm có chiều sâu. Nỗi nhớ của bà về quá khứ của mình, và nỗi nhớ của cháu về bà bỗng trở nên thăm thẳm, vời vợi. Câu thơ "Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa" như treo lên một nỗi khắc khoải khôn nguôi.

(6) Khổ thơ tiếp theo với hình ảnh bà cháu và bếp lửa trong những năm giặc giã. Bố mẹ ở chiến khu. Lời người bà dặn cháu thật nôm na, nhưng chân thực và cảm động: "Bố ở chiến khu bố còn việc bố/ Mày có viết thư chớ kể này kể nọ". Gian khổ, thiếu thốn, nhớ nhung đều phải giấu đi cho người ở xa được yên lòng. Tấm lòng của người bà thương con, thương cháu, ân cần, chu đáo xiết bao.

(7) Nếu từ đây hắt trở lên là hình ảnh bếp lửa, thì những câu thơ cuối của khổ thơ này, đã chuyển đổi cách gọi thành ngọn lửa. Và như vậy, từ bếp lửa trong sự tả thực, cụ thể, đến đây đã trở thành ngọn lửa trong ý nghĩa tượng trưng, khái quát. Bếp lửa với những ấm áp, tâm tình bình lặng của tình cảm gia đình, của tình bà cháu đã thành ngọn lửa của trái tim, của niềm tin và sức sống con người. Nhà thơ đã khái quát vẻ đẹp ngọn lửa là một vẻ đẹp "kì lạ và thiêng liêng". Tình thương và lòng nhân ái bao la của con người mãi ấm nóng, bền bỉ toả sáng, trường tồn. Kết thúc bài thơ, hình ảnh người bà và ngọn lửa được kết lại trong một câu hỏi tu từ: "Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?". Đó là một nỗi nhớ đau đáu, da diết, thường trực. Trong mọi trường hợp, người đàn bà dưới mái ấm gia đình thường gắn liền với những gì thường nhật, thân thiết nhất. Họ giữ cho nhịp sống của tổ ấm được duy trì. Họ là nơi cuối cùng để cho người ta có chỗ trở về sau những thăng trầm, thành bại ở đời. Trong dáng hình bình dị, thầm lặng khiêm nhường quá đỗi ấy, ẩn dấu một trái tim lớn đầy lòng nhân ái, khoan dung. Các dòng thơ như những làn ánh sáng hắt ra từ ngọn lửa ấm nóng, gợi nhắc, thấm thía tâm can người đọc. Nếu ai đã đọc "Đa-ghe-xtan của tôi" của nhà văn Ra-xun Gam-da-tốp, hẳn còn nhớ trong một thiên tuyệt bút với nhan đề "Cha và mẹ, lửa và nước" có nói về người mẹ dân tộc A-va trong cuộc đời chỉ có ba việc diễn ra đều đặn, nhưng bao giờ cũng khoan thai, chậm rãi, cẩn trọng, tựa hồ như những gì cần thiết và quý giá nhất, đó là: đi lấy nước, đưa nôi và nhóm lửa. Toàn bộ ý nghĩa cuộc sống của người đàn bà này chỉ ở trong ba việc thường nhật mà trọng đại đó. Ba công việc ấy vừa cổ sơ, nguyên thuỷ vừa bền bỉ vĩnh hằng. Người đàn bà ấy đã sinh thành, nhen nhóm và duy trì sự sống. Thế thì người bà trong "Bếp lửa" đã nuôi con nuôi cháu, đã đi qua đói khát và giặc giã, đã cho con đi kháng chiến vì nước vì dân, đã âm thầm trụ lại nhà giữ mảnh đất truyền đời tổ tiên để lại, đã âm thầm chờ đợi và hi vọng… đó chẳng phải là biểu tượng về sự sống lớn lao và cao cả của con người đó sao? Bà là người phụ nữ Việt Nam, như ngọn lửa cháy sáng và ấm mãi!...

(Văn Giá, theo Văn học và Tuổi trẻ, tập 44, 1999)

Câu 1. Vấn đề được nghị luận trong văn bản trên là gì?

Câu 2. Chỉ ra một câu văn cho thấy cảm nhận, đánh giá chủ quan của người viết trong đoạn (5).

Câu 3. Trong đoạn (4), tác giả so sánh mùi khói hun trong Bếp lửa với cảnh hun khói trong Vợ nhặt nhằm mục đích gì?

Câu 4. Chỉ ra những luận điểm được sử dụng trong văn bản. Em ấn tượng với luận điểm nào nhất? Vì sao?

Câu 5. Tình bà cháu – một ngọn lửa ấm áp và thiêng liêng – dường như đang đứng trước nguy cơ phai nhạt trong bối cảnh xã hội hiện đại với nhiều biến động. Làm thế nào để chúng ta có thể giữ gìn và phát huy mối liên kết vô giá này? Từ góc nhìn và trải nghiệm của bản thân, em hãy đề xuất những cách thức ý nghĩa để tăng cường sự gắn bó giữa bà và cháu trong cuộc sống hôm nay.

0
Dưới đây là một đoạn trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ: "Đoạn rồi nàng tắm gội sạch chay, ra bến Hoàng Giang ngửa mặt lên trời mà than rằng: - Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám. Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị...
Đọc tiếp

Dưới đây là một đoạn trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ:

"Đoạn rồi nàng tắm gội sạch chay, ra bến Hoàng Giang ngửa mặt lên trời mà than rằng:

- Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám. Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ, và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ."

a. Trong tác phẩm, lời thoại trên là độc thoại hay đối thoại? Vì sao?

b. Những lời thoại này được Vũ Nương nói trong hoàn cảnh nào? Qua đó, nhân vật muốn khẳng định những phẩm chất gì? Ghi ngắn gọn khoảng 6 câu suy nghĩ của em về những phẩm chất ấy của nhân vật.

c. Làm nên sức hấp dẫn cũng truyện truyền kì là các chi tiết kì ảo. Hãy nêu hai chi tiết kì ảo có trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương?

262
10 tháng 5 2021

a. Lời thoại trên là lời đối thoại. Vì về hình thức có hai chấm và gạch đầu dòng.

b. Lời thoại được Vũ Nương nói khi bị Trương Sinh ruồng rẫy. Đây là lời nói trước khi nàng trẫm mình bên bến Hoàng Giang.

Qua lời thoại này cho thấy Vũ Nương là người phụ nữ đức hạnh, quyết dùng cả mạng sống để chứng minh sự trong sạch của mình.

c. Các chi tiết kì ảo có trong truyện là:

- Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa.

- Phan Lang gặp nạn, lạc vào động rùa, gặp Linh Phi, được Linh Phi cứu; lại gặp được Vũ Nương dưới cung điện.

- Vũ Nương hiện về trong lễ giải oan trên bến Hoàng Giang, giữa lung linh huyền ảo rồi lại biến đi mất.

10 tháng 5 2021

a. Lời thoại trên là lời đối thoại. Vì về hình thức có hai chấm và gạch đầu dòng.

b. Lời thoại được Vũ Nương nói khi bị Trương Sinh ruồng rẫy. Đây là lời nói trước khi nàng trẫm mình bên bến Hoàng Giang.

Qua lời thoại này cho thấy Vũ Nương là người phụ nữ đức hạnh, quyết dùng cả mạng sống để chứng minh sự trong sạch của mình.

c. Các chi tiết kì ảo có trong truyện là:

- Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa.

- Phan Lang gặp nạn, lạc vào động rùa, gặp Linh Phi, được Linh Phi cứu; lại gặp được Vũ Nương dưới cung điện.

- Vũ Nương hiện về trong lễ giải oan trên bến Hoàng Giang, giữa lung linh huyền ảo rồi lại biến đi mất.

Đề 2: Phần II:          Từ một truyện dân gian, bằng tài năng và sự cảm thương sâu sắc, Nguyễn Dữ đã viết thành Chuyện người con gái Nam Xương. Đây là một trong những truyện hay nhất được rút từ tập Truyền kì mạn lục.Câu 1:          Giải thích ý nghĩa nhan đề Truyền kì mạn lục.Câu 2:          Trong Chuyện người con gái Nam Xương, lúc vắng chồng, Vũ Nương hay đùa...
Đọc tiếp

Đề 2: Phần II:
          Từ một truyện dân gian, bằng tài năng và sự cảm thương sâu sắc, Nguyễn Dữ đã viết thành Chuyện người con gái Nam Xương. Đây là một trong những truyện hay nhất được rút từ tập Truyền kì mạn lục.
Câu 1:
          Giải thích ý nghĩa nhan đề Truyền kì mạn lục.

Câu 2:
          Trong Chuyện người con gái Nam Xương, lúc vắng chồng, Vũ Nương hay đùa con, chỉ vào bóng mình mà bảo là cha Đản. Chi tiết đó đã nói lên điều gì ở nhân vật này? Việc tác giả đưa vào cuối truyện yếu tố kỳ ảo nói về sự trở về chốc lát của Vũ Nương có làm cho tính bi kịch của tác phẩm mất đi không? Vì sao?  Bằng một đoạn văn 8-10 câu em hãy làm sáng tỏ ý nghĩa của  những chi tiết đó?

 

1
27 tháng 9 2021

Câu 1: Truyền kỳ mạn lục: Ghi chép tản mạn những chuyện kỳ lạ được lưu truyền.

 

Câu 2: 

- Chi tiết Vũ Nương chỉ cái bóng của mình rồi nói với đứa con là Cha Đản chứng tỏ:

+ Vũ Nương là một người mẹ rất thương con, không muốn cho con thiếu thốn tình cảm của cha.

+ Vũ Nương là một người vợ thủy chung với chồng, lúc nào cũng nghĩ đến chồng.

+ Vũ Nương rất cô đơn chỉ biết chỉ biết truyện trò cùng bóng.

- Việc đưa vào những yếu tố kì ảo, để Vũ Nương hiện hồn về trong chốc lát có làm dịu đi chút ít tính bi kịch.

27 tháng 9 2021

Tham khảo: câu 2

20 tháng 9 2021

Em tham khảo:

Vũ Nương là người vợ thủy chung. Thật vậy, khi Trương Sinh đi lính chỉ để lại Vũ Nương bụng mang dạ chửa với người mẹ già. Và nổi bật trong văn bản ta thấy Vũ Nương là một người vợ hết mực yêu thương chồng. Khi Trương sinh đi lính, nàng chẳng mong chàng áo gấm trở về mà chỉ muốn chồng được bình yên nơi chiến trường. Nàng lo lắng cho Trương sinh ở nơi biên ải chịu khó khăn vất vả không có người nương tựa. Một người như nàng, đáng lẽ phải xứng đáng được hạnh phúc. Khi bị Trương Sinh nghi oan nàng cũng chỉ hết mực giải thích để níu giữ hạnh phúc gia đình. Than ôi! Đến khi chết đi rồi, Vũ Nương cũng chẳng một lời trách móc, oán than Trương Sinh mà còn muốn về gặp chàng lần cuối. Qua tác phẩm này, Nguyễn Du đã vẽ ra trước mắt chúng ta là một người phụ nữ tài đức vẹn toàn.Câu thán từ+ Câu bị động: In đậm nghiêng
Bài 1: Từ một truyện dân gian, Nguyễn Dữ đã viết “Chuyện người con gái Nam Xương”, trong truyện có đoạn: “- Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu. Sum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia phôi , chia phôi vì động việc lửa binh. Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót. Đâu có sự mất nết hư thân như lời...
Đọc tiếp

Bài 1: Từ một truyện dân gian, Nguyễn Dữ đã viết “Chuyện người con gái Nam Xương”, trong truyện có đoạn: “- Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu. Sum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia phôi , chia phôi vì động việc lửa binh. Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót. Đâu có sự mất nết hư thân như lời chàng nói. Dám xin bày tỏ để cởi mối nghi ngờ. Mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp.” 2. Lời nói trong đoạn văn trên là lời đối thoại hay độc thoại, độc thoại nội tâm?Vì sao? Lời thoại giúp em hiểu gì về tâm trang, tính cách nhân vật? 3. Xét về cấu tạo, hai câu văn: “Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót.” thuộc kiểu câu gì ? Nêu tác dụng.

0