Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
mày đừng so sánh tao với nó\n_vì nó là chó còn tao là người\n_Mày đừng bật cười khi nghe điều đó\n_vì cả mày và nó đều chó như nhau
Phần I
Câu 1:
Văn bản tập trung vào vấn đề nghị luận bàn về niềm tin vào bản thân, nỗ lực phấn đấu không bỏ cuộc để vượt qua những khó khăn, thác ghềnh bằng tự lực để chinh phục thành công.
Câu 2:
Biện pháp ẩn dụ:"thác ghềnh, chông gai trên đường" vì tác giả so sánh những chướng ngại vật trên đường đi hàng ngày của mỗi người cũng giống như những khó khăn, gian nan trên đường đời mỗi người phải trải qua để thành công.
Câu 3:
Tác giả đưa hai dẫn chứng về Walt Disney và Helen Keller là để làm dẫn chứng thuyết phục cho vấn đề cần nghị luận của mình đó là đã có những tấm gương gặp muôn vàn khó khăn trắc trở trong cuộc sống nhưng họ không buông xuôi hay dựa dẫm vào người khác mà biết cách đứng dậy sau vấp ngã và thành công.
Câu 4:
Em đồng ý với quan điểm:"Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ là học từ người khác". Những người đi trước và câu chuyện xoay quanh sự thành bại của họ chính là những bài học quý báu cho người sau. Những con người đi trước và thành công sau 1 quá trình gian nan đó chính là những bằng chứng sống để người đời sau tin tưởng vào mình dù có trải qua bao thác ghềnh, chông gai.
Phần II
Có một câu chuyện ngụ ngôn mà hồi bé chúng ta hay được nghe kể về cuộc đua của rùa và thỏ, con thỏ nhanh nhẹn nhưng lại tự phụ, xem thường đối thủ,tuy con rùa chậm chạp nhưng lại nỗ lực không ngừng, kết quả ai cũng biết, con rùa đã thắng con thỏ. Xuyên suốt câu truyện Rùa và Thỏ là ý chí của con rùa, nó không đầu hàng trước những thất bại. Rõ ràng, con thỏ có năng lực nhưng ý chí lại không tốt bằng con rùa, nó vẫn có thể về đến được vách đích nhưng con rùa vẫn chiến thắng nó,đó cũng là sự biểu trưng cho quyết tâm và ý chí của con rùa . Cũng có người từng nói “ Không phải đời người quá khó khăn, mà là do bạn nỗ lực chưa đủ”. Từ câu chuyện trên và câu nói trên, chúng ta có thể thấy được ý chí đóng 1 vai trò cực kì quan trọng trong mỗi bước tiến đến con đường thành công của mỗi con người.
Sức mạnh, trí tuệ hay thiên phú chỉ góp phần nào cho sự khác biệt giữa những người thành công và những người thất bại, nhưng hơn thế nữa quyết định chủ yếu là ở ý chí. Vậy ý chí hay sự quyết tâm là gì mà nó lại đóng góp không nhỏ vào chính cuộc đời chúng ta? Ý chí, nghị lực là ý thức, tính tự giác, mạnh mẽ, quyết tâm dồn nén sức lực, trí tuệ để đạt được tiêu chí, mục đích. Ý chí cũng là phẩm chất tâm lí đặc trưng của con người, thể hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có nỗ lực khắc phục khó khăn.Ngay từ những điều đơn giản nhất trong cuộc sống, bạn được giao một công việc trong nhiều ngày, nhưng bạn đã cố gắng, tập trung để hoàn thành trước thời hạn và nhận thêm một việc làm mới, từ đó năng suất làm việc, hiệu quả công việc và sự tin tưởng từ người giao việc cũng từ đó tăng theo. Chỉ từ một sự quyết tâm nhỏ ấy thôi mà cũng kéo theo được vô cùng nhiều giá trị và lợi ích không chỉ đối với bản than mà còn đối với những người xung quanh chúng ta. Ý chí như thôi thúc bản thân mỗi chúng ta, như tiếp thêm cho ta phần nào sức mạnh để ngày càng tới gần hơn mục tiêu đã đề ra. Câu chuyện được minh chứng bởi Thomas Edison – nhà phát minh tài ba của thế kỉ XX, hơn 10.000 lần thất bại để đem được ánh sáng đến với nhân loại, nếu không có ông thì dường như việc bóng đèn xuất hiện với thế giới sẽ bị đẩy lùi đi mười mấy năm, rõ ràng, chính ý chí quyết tâm của Edison đã khiến con đường của nền văn minh hiện đại của con người trở nên ngắn lại.
Ý chí giúp chúng ta toàn sức tập trung vào mục tiêu bằng cách ngăn cản các suy nghĩ không liên quan khác xảy đến. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ hoàn thành công việc một cách nhanh chóng và hiểu quả. Chủ tịch Hồ chí đã nói:
“Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên”
Câu nói này càng như khẳng định vai trò quan trọng và to lớn của sức mạnh ý chỉ và quyết tâm, đáng sợ nhất không phải là những người có tài năng thiên bẩm mà là những người có nghị lực vươn lên. Ý chí rèn luyện bản thân sự quyết đoán và nhạy bén trong mọi vấn đề cuộc sống từ đó thúc đẩy hành trình của bản thân trở nên tinh gọn. Nghị lực là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với bản thân mỗi người, tuy nhiên không phải ai cũng nhận ra được giá trị cốt lõi của nó. Trái ngược với những người có ý chí là những người thờ ơ, không đủ quyết tâm, nhụt trí trước những thử thách cuộc sống. Giới trẻ bây giờ không ít người chưa làm đã vội bỏ cuộc, thấy khó khăn đã nản chí, gặp thất bại thì hủy hoại và sống bất cần đời. Những người như thế thật đáng chê trách. Là học sinh, chúng ta cần khẳng định tư cách, ý chí, nghị lực vượt qua những khó khăn thử thách .Tài năng của con người được tạo bởi nhiều yếu tố. Trong đó yếu tố tự rèn là yếu tố quan trọng nhất để đi đến thành công. Để thấy mình không thấp hơn người khác, bản thân phải có sự lao động chăm chỉ, cần cù, không chùn bước trước gian nguy, phải biết tự tin vào chính bản thân trên bước đường đời.
Nhìn chung, một lần nữa cần phải khẳng định lại giá trị của câu nói “ Ý chí tốt làm con đường ngắn lại”. Ý chí mang đến thành công và giúp ta chinh phục mọi khó khăn trên con đường gập ghềnh phía trước. Những con người thành công và nổi tiếng nhất đều là những người có ý chí rất mạnh mẽ.Vậy nên việc rèn luyện và giữ vững một ý chí kiên cường luôn là điều tất yếu trên chặng đường của cuộc đời
Câu 1:
Từ thuở xa xưa thanh niên Việt Nam đã ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình đối với đất nước. Trong thời chiến họ luôn là lực lượng tiên phong trong các phong trào đánh giặc cứu nước, luôn là lực lượng nòng cốt của cách mạng, xả thân vì tổ quốc mà không tiếc thời tuổi trẻ. Vậy chúng ta những thanh niên may mắn được sinh ra trong thời bình, chúng là phải có trách nhiệm như thế nào để gìn giữ và bảo vệ tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng đã được đổi bằng xương máu của biết bao thế hệ đi trước, phải làm gì để xứng đáng hưởng được những thành quả ngày hôm nay. Mỗi chúng ta phải xác định cho mình một lí tưởng sống cao đẹp, phải có ước mơ và hoạch định ra cho mình một kế hoạch cụ thể, phải rèn đức luyện tài, phải hiểu được vai trò đất nước đối với chúng ta, có như vậy chúng ta mới xác định được đúng đắn nhiệm vụ của mình đối với đất nước. Chúng ta ra sức học tập cũng là đang thực hiện nhiệm của của mình với đất nước, nó không phải là một cái gì đó sâu xa như các bạn nghĩ nó chỉ đơn giản là làm tốt bổn phận của mình để phấn đấu trở thành một công dân tốt góp phần xây dựng một đất nước giàu đẹp vững mạnh. Như vậy trách nhiệm của thanh niên ở thời chiến hay thời bình đều do ý thức mỗi con người tuy nhiên nó lại được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau.
Câu 2:
Bàn về kết thúc đoạn trích "Vợ chồng A Phủ"
– Ý kiến thứ nhất: hành động cắt nút dây mây cởi trói cứu A Phủ rồi chạy theo A Phủ của nhân vật Mị thật bất ngờ, đột ngột, không thể dự đoán trước: Đánh giá kết thúc của truyện Vợ chồng A Phủ là bất ngờ với mạch truyện, tâm trạng nhân vật Mị và cả người đọc.
– Ý kiến thứ hai: Đó là là một kết thúc tự nhiên, tất yếu: ý kiến này nhìn nhận, đánh giá kết thúc của tác phẩm trong mối quan hệ với lô gíc diễn biến tâm trạng nhân vật Mị và mạch vận động tất yếu của đời sống con người: khi bị dồn đẩy đến bước đường cùng, con người sẽ vùng lên tìm ánh sáng cho mình.
Bình luận các ý kiến:
Cả hai ý kiến đều đúng, không đối lập mà bổ sung cho nhau, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tài năng kể chuyện, miêu tả nội tâm nhân vật của nhà văn Tô Hoài. Đồng thời, ta càng trân trọng hơn .tấm lòng yêu thương, đồng cảm của tác giả đối với người dân nơi đây.
- Tự vấn bản thân: Trong những khoảnh khắc yên tĩnh, con người có cơ hội nhìn lại hành động, suy nghĩ, sai lầm và cả những ước mơ của mình. Sự thinh lặng giúp ta trung thực hơn với chính mình.
- Thấu hiểu thế giới xung quanh: Như cái cây của Lovelock, vạn vật trong tự nhiên vận hành trong sự thinh lặng tuyệt đối. Lắng nghe sự thinh lặng giúp ta cảm nhận được nhịp đập của sự sống, sự biến đổi tinh tế của thiên nhiên mà những âm thanh huyên náo thường che lấp.
- Tăng cường sự tập trung và sáng tạo: Khi không bị phân tán bởi tiếng ồn, trí óc con người hoạt động hiệu quả hơn, ý tưởng mới mẻ dễ dàng nảy sinh.
- Văn học hiện thực phê phán: Các nhà văn như Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Ngô Tất Tố (Tắt đèn) đã sử dụng ngòi bút sắc bén để phơi bày những thói hư tật xấu, sự bất công của xã hội, nhằm thức tỉnh cộng đồng. Cái đẹp trong tác phẩm của họ là cái đẹp của sự thật trần trụi, có sức lay động mạnh mẽ.
- Văn học cách mạng: Các nhà thơ như Tố Hữu (Việt Bắc) đã gắn thơ ca với sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Thơ của ông vừa giàu tính trữ tình, vừa mang tính chính trị sâu sắc, là tiếng nói chung của cộng đồng trong công cuộc giải phóng dân tộc.
Câu 1: Nghị luận xã hội (8 điểm)
Chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng
Bài làm:
Con người thường bị cuốn vào những ồn ào, náo nhiệt của cuộc sống, đến mức quên mất rằng sự thinh lặng cũng có thể nói lên rất nhiều điều quan trọng. Trong đoạn văn của James Lovelock, Trái Đất được ví như một cái cây lặng lẽ tồn tại và phát triển một cách âm thầm. Điều đó khiến ta nhận ra: có những thay đổi lớn lao, những câu chuyện sâu sắc không cần lời nói vẫn đang diễn ra ngay bên cạnh chúng ta, trong sự yên tĩnh và tĩnh lặng.
Lắng nghe sự thinh lặng chính là một cách để ta thấu hiểu, cảm nhận sâu sắc hơn về thế giới xung quanh. Sự thinh lặng không phải là khoảng trống, không phải là sự vắng mặt của âm thanh, mà là một trạng thái tích cực, chứa đựng sự sống động và những thông điệp mà tiếng ồn không thể mang lại. Khi ta biết dừng lại, lắng nghe thinh lặng, ta sẽ nhận ra những vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, sự biến đổi của cuộc sống và cả tiếng nói của chính tâm hồn mình.
Trong cuộc sống hiện đại, con người dễ bị cuốn vào guồng quay công việc, công nghệ, xã hội mà quên mất việc dành thời gian để yên tĩnh suy ngẫm, tĩnh tâm. Việc lắng nghe sự thinh lặng không chỉ giúp ta lấy lại cân bằng tinh thần mà còn giúp ta hiểu rõ hơn về bản thân và những giá trị cuộc sống. Sự thinh lặng là nguồn sức mạnh để ta đối diện với khó khăn, là không gian để nuôi dưỡng trí tuệ và lòng nhân ái.
Thực tế, nhiều bậc vĩ nhân, nhà sáng tạo nghệ thuật, nhà tư tưởng đều trân trọng khoảng lặng để sáng tạo và suy nghĩ sâu sắc. Thiên nhiên cũng dạy chúng ta bài học quý giá về sự kiên nhẫn và phát triển bền vững qua sự thinh lặng của cây cối, đất trời. Lắng nghe sự thinh lặng là học cách quan sát, trân trọng những điều nhỏ bé mà bền vững.
Như vậy, trong cuộc sống bộn bề ngày nay, mỗi người cần biết tôn trọng và dành thời gian lắng nghe sự thinh lặng. Đó là con đường dẫn ta đến sự thấu hiểu, cảm thông và yêu thương. Sự thinh lặng không phải là khoảng cách, mà là kết nối sâu sắc với thế giới và chính bản thân mình.
Kết luận:
Lắng nghe sự thinh lặng là nghệ thuật sống, là cách để ta khám phá những giá trị chân thật và trường tồn. Hãy học cách dừng lại, lắng nghe và cảm nhận, để cuộc sống thêm ý nghĩa và sâu sắc hơn.
Câu 2: Nghị luận văn học (12 điểm)
Bàn luận câu nói của A. Camus:
“Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”
Bài làm:
Albert Camus – nhà văn, triết gia lỗi lạc của thế kỷ XX đã đưa ra một quan điểm sâu sắc về người nghệ sĩ và vị trí của họ trong xã hội. Theo ông, người nghệ sĩ không tồn tại tách biệt mà luôn vận động trong mối quan hệ hai chiều: giữa cá nhân với cái đẹp và giữa cá nhân với cộng đồng.
Thứ nhất, cái đẹp không thể bỏ qua là mục tiêu, là lý tưởng mà người nghệ sĩ theo đuổi. Người nghệ sĩ luôn không ngừng tìm kiếm, sáng tạo ra cái đẹp qua tác phẩm của mình – đó có thể là vẻ đẹp thẩm mỹ, vẻ đẹp tư tưởng hay vẻ đẹp nhân văn. Cái đẹp ấy vượt lên trên sự tầm thường, cái đẹp là nguồn cảm hứng và là tiếng nói riêng của người nghệ sĩ, giúp họ khẳng định giá trị và bản sắc cá nhân.
Tuy nhiên, người nghệ sĩ cũng không thể tách rời cộng đồng – nơi họ sinh sống và làm việc. Cộng đồng là nơi cung cấp chất liệu sáng tạo, là đối tượng truyền tải thông điệp, là nguồn cảm hứng và cũng là nơi tác phẩm được đón nhận. Người nghệ sĩ có trách nhiệm phản ánh, phê phán xã hội, góp phần định hướng những giá trị tích cực, đồng thời thấu hiểu, đồng cảm với cuộc sống con người. Nghệ thuật vì thế luôn mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc.
Mối tương quan liên tục giữa cái đẹp và cộng đồng tạo nên một con đường mà người nghệ sĩ phải đi – đó là quãng đường tôi luyện bản thân không ngừng nghỉ. Họ vừa phải giữ vững lý tưởng sáng tạo, vừa phải lắng nghe, giao tiếp và đồng hành với con người và xã hội. Nếu chỉ theo đuổi cái đẹp mà quên cộng đồng, nghệ thuật sẽ trở nên hời hợt, xa rời thực tế; ngược lại, nếu chỉ chú trọng cộng đồng mà thiếu cái đẹp, nghệ thuật sẽ mất đi giá trị thẩm mỹ và chiều sâu nhân văn.
Thực tế trong văn học Việt Nam và thế giới đã có nhiều nghệ sĩ tiêu biểu sống và sáng tạo theo tinh thần này. Họ luôn hướng tới cái đẹp – cái đẹp của sự chân thực, nhân hậu và tự do; đồng thời luôn giữ mối liên hệ mật thiết với đời sống nhân dân, phản ánh những vấn đề xã hội, con người một cách sâu sắc và thuyết phục.
Như vậy, câu nói của A. Camus đã nhấn mạnh sự cân bằng cần thiết trong đời sống nghệ sĩ, giữa cá nhân và xã hội, giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng. Người nghệ sĩ không chỉ là người sáng tạo mà còn là người đồng hành, người truyền cảm hứng và người bảo vệ những giá trị cao đẹp của nhân loại.
Kết luận:
Người nghệ sĩ thực sự là người tôi luyện trong hành trình kết nối giữa chính mình và cộng đồng, giữa cái đẹp không thể bỏ qua và trách nhiệm đối với xã hội. Chỉ khi đó, nghệ thuật mới phát huy được sức mạnh và giá trị đích thực của nó.
Trong đoạn trích Hòn Đất, việc lựa chọn người kể chuyện và điểm nhìn nghệ thuật thể hiện sự phù hợp sâu sắc với chủ đề tác phẩm – ca ngợi tinh thần chiến đấu kiên cường, bất khuất của người cách mạng, đặc biệt là nhân vật chị Sứ. Tác phẩm sử dụng ngôi kể thứ ba toàn tri, nhưng điểm nhìn trần thuật lại chủ yếu đặt vào nhân vật Tư – người đồng đội gần gũi với chị Sứ. Chính qua góc nhìn đầy xúc động của Tư, người đọc cảm nhận được rõ nét hình tượng chị Sứ: một người phụ nữ nhỏ bé nhưng giàu lý tưởng, gan góc, sẵn sàng hi sinh vì quê hương. Điểm nhìn từ Tư không chỉ làm tăng tính chân thực, khách quan mà còn tạo chiều sâu cảm xúc, giúp người đọc thêm thấu hiểu và cảm phục. Việc lựa chọn người kể chuyện như vậy đã góp phần thể hiện rõ chủ đề của đoạn trích: ngợi ca phẩm chất anh hùng cách mạng, tôn vinh vẻ đẹp của con người Việt Nam trong kháng chiến. CHO MÌNH XIN TICK
Trong một thế giới nơi mọi giá trị đều có thể bị thay thế, và mọi chân lý đều có thể bị diễn giải lại, liệu niềm tin còn có thể là thật, hay nó chỉ là một ảo tưởng đẹp mà con người tự tạo ra để không sụp đổ?
Hãy viết một bài nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về bản chất của niềm tin trong thời đại mất phương hướng.
PLS PLS PLS !!!
+ Văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975 vận động và phát triển trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt kéo dài suốt 30 năm.
+ Trong hoàn cảnh ấy, vấn đề dân tộc nổi lên hàng đầu, văn học tất yếu phải đề cập tới số phận chung của cả cộng đồng, của toàn dân tộc.
+Văn học Việt Nam từ năm 1945-1975 vận động và phát triển trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt kéo dài suốt 30 năm
+ Trong hoàn cảnh ấy, vấn đề dân tộc lên hàng đầu, văn học tất yếu phải đề cập tới số phận chung của cả cộng đồng, toàn dân tộc.
Câu 6. Từ nào sau đây không thể thay thế cho từ “quyến” trong câu văn số (1) “Gió tây lướt thướt bay qua rừng, quyến hương thảo quả đi, rải theo triền núi, đưa hương thảo quả ngọt lựng, thơm nồng vào những thôn xóm Chin San” của đoạn trích?
A Mang. B. Đem. C. Rủ. D. Đuổi.
Câu 7. Câu văn số (1) “Gió tây lướt thướt bay qua rừng, quyến hương thảo quả đi, rải theo triền núi, đưa hương thảo quả ngọt lựng, thơm nồng vào những thôn xóm Chin San” trong đoạn trích có mấy vị ngữ?
A. 1 B. 2 C. 3 D. 4
Câu 8. Chủ ngữ của câu “Hương thơm đậm ủ ấp trong từng nếp áo, nếp khăn” là:
A. “Hương thơm”. B. “Hương thơm đậm C. “Nếp áo”. D. “Nếp khăn”.
Câu 9. Xét theo mục đích nói, câu văn số (3) “Cây cỏ thơm.” của đoạn trích thuộc kiểu câu gì?
A. Trần thuật. B. Nghi vấn. C. Cầu khiến. D. Cảm thán.
Câu 10. Ý nào sau đây không phải là tác dụng của việc lặp lại từ “thơm” trong các câu số “(2) Gió thơm. (3) Cây cỏ thơm. (4) Đất trời thơm”?
A. Liên kết câu (3), (4) với câu (2).
B. Nhấn mạnh hương thơm của thảo quả trải khắp không gian.
C. Làm cho câu ngắn gọn hơn.
câu 2
Lịch sử là dòng chảy không ngừng của thời gian, ghi lại những sự kiện đã qua, những bước thăng trầm của một dân tộc và của nhân loại. Thế nhưng, thực tế cho thấy nhiều người trong chúng ta thường thờ ơ với những bài giảng lịch sử khô khan, đầy mốc thời gian và sự kiện. Ngược lại, ta lại dễ dàng xúc động, thậm chí rơi nước mắt trước những con người đã làm nên lịch sử. Chính vì vậy, ý kiến: “Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử” đã nêu lên một suy ngẫm sâu sắc về cách con người tiếp nhận và cảm nhận lịch sử.Trước hết, cần hiểu rằng những bài giảng lịch sử trong sách vở thường được trình bày dưới dạng hệ thống hóa sự kiện, con số, ngày tháng. Cách tiếp cận này giúp người học nắm được kiến thức cơ bản nhưng lại thiếu đi hơi thở của cuộc sống và cảm xúc con người. Vì thế, nhiều học sinh cảm thấy lịch sử khô cứng, khó nhớ, khó tạo được sự rung động trong tâm hồn. Không phải lịch sử nhàm chán, mà là cách truyền tải lịch sử chưa chạm được đến trái tim người học.Ngược lại, khi lịch sử được kể thông qua số phận và câu chuyện của những con người cụ thể, cảm xúc trong ta lập tức được đánh thức. Đó là hình ảnh những người lính sẵn sàng hy sinh tuổi xuân nơi chiến trường, là những bà mẹ tiễn con ra trận với nước mắt lặng thầm, là những anh hùng ngã xuống để đất nước được độc lập, tự do. Chính những con người bằng xương bằng thịt ấy đã khiến lịch sử trở nên sống động, gần gũi và lay động lòng người. Ta xúc động không chỉ vì chiến thắng hay thất bại, mà vì những mất mát, đau thương và lý tưởng cao đẹp mà con người đã mang theo trong hành trình làm nên lịch sử.Hơn thế nữa, con người chính là trung tâm của lịch sử. Mọi sự kiện đều bắt nguồn từ hành động, lựa chọn và khát vọng của con người. Khi ta hiểu được nỗi đau, niềm tin, sự hy sinh của họ, ta mới thấu cảm được giá trị thật sự của lịch sử. Sự xúc động ấy không chỉ dừng lại ở cảm xúc nhất thời, mà còn khơi dậy trong ta lòng biết ơn, ý thức trách nhiệm và niềm tự hào dân tộc.Tuy nhiên, ý kiến trên không có nghĩa là phủ nhận vai trò của bài giảng lịch sử. Vấn đề đặt ra là cần đổi mới cách dạy và học lịch sử, gắn kiến thức với câu chuyện con người, với trải nghiệm và cảm xúc. Khi lịch sử được kể bằng trái tim, người học sẽ không chỉ “biết” lịch sử mà còn “cảm” được lịch sử.Tóm lại, chúng ta có thể không dễ xúc động trước những trang sách ghi chép sự kiện, nhưng luôn rung động trước những con người đã sống, đã chiến đấu và đã hy sinh để làm nên lịch sử. Chính sự xúc động ấy giúp lịch sử trở thành ký ức sống động, là hành trang tinh thần để mỗi thế hệ hôm nay và mai sau tiếp tục viết tiếp những trang sử mới cho dân tộc.
Câu 1:
Trong văn bản Đất nước của Bằng Việt, hình tượng đất nước hiện lên vừa gần gũi, vừa thiêng liêng, mang ý nghĩa sâu sắc. Đất nước không được cảm nhận qua những khái niệm trừu tượng mà hiện ra từ những hình ảnh rất đời thường: con đường, nhịp cầu, lớp học, áo cưới, những bàn tay lao động. Đó là đất nước của nhân dân, của những con người bình dị đã sống, chiến đấu và hy sinh trong chiến tranh. Đặc biệt, hình tượng đất nước còn gắn liền với những mất mát đau thương do bom đạn gây ra, nhưng từ trong tàn phá ấy, con người vẫn kiên cường đứng lên, dựng xây cuộc sống mới. Đất nước vì thế mang vẻ đẹp của sức sống bền bỉ, của sự hồi sinh mạnh mẽ sau chiến tranh. Không chỉ là quá khứ gian khổ, đất nước còn là hiện tại và tương lai, nơi các thế hệ tiếp nối truyền cho nhau “sức sống hôm qua vào sức sống bây giờ”. Qua hình tượng đất nước, tác giả bày tỏ niềm tự hào, lòng biết ơn sâu sắc đối với những con người đã làm nên lịch sử dân tộc, đồng thời khơi gợi ở người đọc ý thức trách nhiệm trong việc trân trọng hòa bình và xây dựng đất nước hôm nay.
Câu 2:
Có ý kiến cho rằng: “Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử.” Đây là một nhận định sâu sắc, gợi cho mỗi người suy nghĩ về cách cảm nhận lịch sử và giá trị con người trong dòng chảy của thời gian.
Lịch sử thường được truyền đạt qua sách vở, bài giảng với những mốc thời gian, sự kiện, con số cụ thể. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở những dữ kiện khô khan, lịch sử rất dễ trở nên xa cách và khó chạm tới cảm xúc con người. Điều khiến chúng ta thực sự xúc động không phải là ngày tháng hay tên gọi của một trận đánh, mà là số phận, là cuộc đời, là sự hy sinh thầm lặng của những con người đã trực tiếp sống và làm nên lịch sử ấy. Chính con người đã thổi hồn vào lịch sử, khiến lịch sử trở nên sống động và có ý nghĩa.
Những người làm nên lịch sử có thể là những anh hùng được ghi danh, nhưng cũng có thể là những con người vô danh, bình dị. Đó là người lính ngã xuống nơi chiến trường, là người mẹ tiễn con ra trận, là em bé lớn lên giữa bom đạn hay người phụ nữ cần mẫn hậu phương. Khi ta hiểu được những đau thương, mất mát, khát vọng và niềm tin của họ, lịch sử không còn là câu chuyện của quá khứ xa xôi mà trở thành câu chuyện của con người, của trái tim. Chính điều đó tạo nên sự xúc động sâu sắc và bền lâu.
Ý kiến trên cũng nhắc nhở chúng ta về cách học và dạy lịch sử. Lịch sử sẽ trở nên ý nghĩa hơn khi được kể bằng những câu chuyện đời người, bằng cảm xúc và sự đồng cảm. Khi hiểu rằng hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng máu xương của bao thế hệ, con người sẽ biết trân trọng hiện tại và sống có trách nhiệm hơn với tương lai. Sự xúc động trước những người làm nên lịch sử chính là nền tảng để hình thành lòng yêu nước chân thành, không sáo rỗng.
Đối với thế hệ trẻ hôm nay, việc cảm nhận lịch sử qua con người càng trở nên quan trọng. Điều đó giúp mỗi cá nhân nhận ra rằng lịch sử không chỉ thuộc về quá khứ, mà đang tiếp tục được viết nên bằng chính hành động, lựa chọn và trách nhiệm của mình trong hiện tại. Khi biết trân trọng những người đi trước, con người sẽ có động lực sống tốt hơn, góp phần xây dựng đất nước ngày càng phát triển.
Tóm lại, ý kiến trên đã khẳng định vai trò trung tâm của con người trong lịch sử. Lịch sử trở nên xúc động và có sức lay động không phải bởi những trang sách, mà bởi những con người đã sống, hy sinh và cống hiến cho dân tộc. Nhận thức đúng điều đó giúp chúng ta học lịch sử bằng trái tim, từ đó nuôi dưỡng lòng biết ơn và ý thức trách nhiệm đối với đất nước.
Trong văn bản, hình tượng Đất Nước không còn là khái niệm trừu tượng mà hiện lên rất gần gũi, cụ thể và giàu cảm xúc. Đất Nước được cảm nhận qua những con người bình dị, qua những thế hệ sinh ra và lớn lên giữa bom đạn chiến tranh nhưng vẫn mang trong mình khát vọng sống, khát vọng học tập và hạnh phúc. Đất Nước vì thế gắn liền với số phận của nhân dân, với những đau thương, mất mát nhưng cũng thấm đẫm tinh thần kiên cường và lạc quan. Hình tượng Đất Nước còn mang “vị ngọt” của hòa bình – vị ngọt được đánh đổi bằng biết bao hi sinh xương máu của cha ông. Qua đó, tác giả khẳng định Đất Nước được làm nên không chỉ bởi lịch sử hào hùng mà còn bởi những con người vô danh, âm thầm cống hiến. Hình tượng Đất Nước trong văn bản vì vậy vừa thiêng liêng, lớn lao, vừa gần gũi, thân thương, khơi dậy trong mỗi người lòng yêu nước, sự trân trọng quá khứ và ý thức trách nhiệm đối với hiện tại, tương lai của dân tộc.
Câu 2
Lịch sử dân tộc là dòng chảy nối tiếp của những sự kiện, mốc thời gian và chiến công vang dội. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng: “Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử.” Đây là một nhận định sâu sắc, nhấn mạnh vai trò của con người trong việc tạo nên sức sống và cảm xúc cho lịch sử.
Thực tế, những bài giảng lịch sử thường cung cấp kiến thức, giúp người học hiểu về các sự kiện đã qua. Nhưng nếu lịch sử chỉ dừng lại ở con số, ngày tháng hay chiến thắng, nó sẽ trở nên khô khan và khó chạm đến trái tim con người. Điều khiến chúng ta xúc động chính là số phận, là cuộc đời của những con người đã sống, đã chiến đấu, đã hi sinh để làm nên lịch sử. Đó là những người lính ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, những người mẹ tiễn con không hẹn ngày về, hay những con người bình thường sẵn sàng chịu gian khổ để bảo vệ Tổ quốc.
Chính con người đã thổi hồn vào lịch sử. Mỗi chiến thắng không chỉ là kết quả của chiến lược hay vũ khí mà còn là mồ hôi, nước mắt và cả máu xương của biết bao thế hệ. Khi ta nghe câu chuyện về một người lính ngã xuống để đồng đội tiến lên, hay về những em nhỏ sinh ra giữa bom đạn nhưng vẫn nuôi ước mơ học tập, ta không thể không xúc động. Những con người ấy khiến lịch sử trở nên gần gũi, chân thực và đầy cảm xúc.
Bên cạnh đó, việc xúc động trước những người làm nên lịch sử còn giúp thế hệ sau hiểu rằng lịch sử không phải là điều xa vời. Mỗi con người, dù nhỏ bé, đều có thể góp phần tạo nên giá trị cho đất nước. Điều này khơi dậy ý thức trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc tiếp nối truyền thống, sống có lý tưởng và cống hiến cho xã hội.
Tuy nhiên, không thể phủ nhận vai trò của việc học lịch sử qua bài giảng. Bài giảng là nền tảng giúp ta hiểu đúng, hiểu đủ về quá khứ. Nhưng để lịch sử thực sự “sống”, cần đặt con người vào trung tâm của lịch sử, để từ đó nuôi dưỡng lòng biết ơn, niềm tự hào dân tộc và tình yêu nước.
Tóm lại, ý kiến trên là hoàn toàn xác đáng. Chúng ta có thể ghi nhớ lịch sử qua sách vở, nhưng chỉ khi thấu hiểu và trân trọng những con người làm nên lịch sử, lịch sử mới thực sự chạm đến trái tim mỗi người. Điều đó nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay hãy sống xứng đáng với những hi sinh của cha ông, góp phần viết tiếp những trang lịch sử tốt đẹp cho đất nước.
Câu1:
Hình tượng đất nước trong văn bản ở phần Đọc hiểu mang ý nghĩa sâu sắc và giàu cảm xúc, được khắc họa từ hiện thực đời sống sau chiến tranh. Đất nước hiện lên trước hết là một không gian hồi sinh, đang từng ngày vươn dậy từ đổ nát, đau thương: “gạch vụn”, “nhịp cầu đã sập”, “tàn tro” nhưng vẫn “nhú nhành hoa”. Đó là biểu tượng cho sức sống bền bỉ, mãnh liệt của dân tộc Việt Nam. Đất nước còn được cảm nhận qua con người lao động và chiến đấu, những “bàn tay vun quén”, những em bé, cô gái trưởng thành từ bom đạn, từ gian khổ mà vẫn hướng tới tương lai. Qua đó, tác giả khẳng định đất nước được làm nên bởi sự hi sinh thầm lặng, bền bỉ của nhân dân. Đồng thời, hình tượng đất nước còn là sự tiếp nối giữa quá khứ – hiện tại – tương lai, nơi ký ức chiến tranh trở thành nguồn sức mạnh tinh thần cho hòa bình hôm nay. Với giọng thơ trữ tình, giàu xúc cảm, hình tượng đất nước trong đoạn thơ vừa thiêng liêng, gần gũi, vừa gợi niềm tự hào và tin yêu sâu sắc vào dân tộc và con đường phía trước.
Câu 2:
Lịch sử dân tộc không chỉ là những mốc thời gian khô khan hay những trang sách đầy sự kiện, mà trước hết là câu chuyện về con người. Bởi vậy, ý kiến “Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử” đã gợi ra một cách nhìn sâu sắc về giá trị đích thực của lịch sử và cách con người tiếp nhận lịch sử.
Trước hết, lịch sử trong các bài giảng thường được trình bày bằng số liệu, niên đại, sự kiện. Những thông tin ấy rất cần thiết để hiểu đúng quá khứ, nhưng nếu chỉ dừng lại ở việc ghi nhớ, lịch sử dễ trở nên khô cứng, xa lạ. Con người khó có thể rung động trước những con số vô cảm nếu không thấy được phía sau đó là mồ hôi, nước mắt, thậm chí là máu của bao thế hệ. Vì thế, cảm xúc không tự nhiên nảy sinh từ bài giảng, mà từ chiều sâu nhân văn ẩn sau mỗi sự kiện lịch sử.
Chính những con người làm nên lịch sử mới là điều chạm tới trái tim chúng ta. Đó là những anh hùng dân tộc sẵn sàng hi sinh cả cuộc đời vì độc lập, tự do; là những người mẹ tiễn con ra trận mà không hẹn ngày trở lại; là những em bé lớn lên giữa bom đạn nhưng vẫn nuôi dưỡng ước mơ về hòa bình. Khi hiểu rằng đằng sau chiến thắng là sự đánh đổi to lớn của con người, chúng ta không chỉ “biết” lịch sử mà còn “cảm” được lịch sử. Lúc ấy, lịch sử trở thành câu chuyện sống động về lòng yêu nước, sự hi sinh và ý chí quật cường.
Ý kiến trên cũng nhắc nhở chúng ta về cách học và cách truyền đạt lịch sử. Lịch sử sẽ trở nên có hồn khi được kể bằng số phận con người, bằng những câu chuyện đời thường mà cao cả. Khi người học nhận ra rằng những con người làm nên lịch sử cũng từng rất gần gũi, rất bình thường, nhưng đã sống và lựa chọn một cách phi thường, sự xúc động sẽ biến thành lòng kính trọng và biết ơn. Từ đó, lịch sử không còn là quá khứ xa xôi mà trở thành nền tảng tinh thần cho hiện tại và tương lai.
Tuy nhiên, không thể vì thế mà phủ nhận vai trò của bài giảng lịch sử. Bài giảng là chiếc cầu nối giúp thế hệ sau hiểu đúng, hiểu đủ về quá khứ. Vấn đề không nằm ở bản thân lịch sử, mà ở cách chúng ta tiếp cận lịch sử: cần đặt con người vào trung tâm của mọi sự kiện, để mỗi bài học lịch sử trở thành bài học về nhân cách, trách nhiệm và tình yêu Tổ quốc.
Tóm lại, chúng ta xúc động không phải vì lịch sử được ghi chép như thế nào, mà vì những con người đã sống, đã hi sinh để làm nên lịch sử ấy. Khi hiểu và trân trọng con người trong lịch sử, chúng ta sẽ biết sống xứng đáng hơn với quá khứ, có trách nhiệm hơn với hiện tại và tương lai của dân tộc.
Câu 1
Hình tượng đất nước trong văn bản đọc hiểu (ví dụ: đoạn trích từ "Đất Nước" của Nguyễn Khoa Điềm) có ý nghĩa vô cùng sâu sắc, làm hiện lên một đất nước vừa gần gũi, thân thương, vừa lớn lao, thiêng liêng. Trước hết, đất nước hiện lên qua những hình ảnh bình dị, gắn liền với đời sống nhân dân: "những con đường", "mái nhà", "hạt lúa", "cọng giò" – những điều quen thuộc làm nên hồn cốt dân tộc, giúp ta cảm nhận đất nước được dệt nên từ những điều nhỏ bé nhất của cuộc sống. Tiếp đến, đất nước còn được cảm nhận qua chiều dài lịch sử, văn hóa, qua những phong tục tập quán, những phẩm chất tốt đẹp của con người, tạo nên một bản sắc độc đáo, tự hào. Ý nghĩa quan trọng nhất là hình tượng đất nước không chỉ là không gian địa lý, mà là tình cảm, là máu thịt, là một phần tâm hồn của mỗi con người. Nó thôi thúc tình yêu quê hương, khơi gợi niềm tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm bảo vệ, xây dựng đất nước, cho thấy đất nước là thiêng liêng, trường tồn và gắn bó mật thiết với vận mệnh mỗi cá nhân
Câu 2
Ý kiến "Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử" hoàn toàn chính xác. Nó nhấn mạnh rằng cảm xúc chân thực khi học lịch sử không đến từ những dữ kiện khô khan hay lời giảng chung chung, mà đến từ việc thấu hiểu, cảm nhận về cuộc đời, sự hy sinh và những giá trị nhân văn của các cá nhân, tập thể đã tạo nên lịch sử. Giải thíchBài giảng lịch sử thường tập trung vào niên đại, sự kiện, con số. Những yếu tố này cung cấp nền tảng kiến thức, nhưng có thể thiếu đi sự kết nối cảm xúc, khiến người học cảm thấy xa lạ, nhàm chán.Những người làm nên lịch sử là những con người thật, với những câu chuyện, phẩm chất, lý tưởng sống và hành động cụ thể. Khi tìm hiểu về họ (qua lời kể sống động, văn học, hoặc tư liệu chân thực), chúng ta thấy được sự dũng cảm, trí tuệ, tình yêu quê hương đất nước, hay những bi kịch, mất mát của họ. Chính những điều này chạm đến trái tim, khơi dậy sự đồng cảm, ngưỡng mộ và lòng biết ơn sâu sắc.Mục đích của việc học lịch sử không chỉ là ghi nhớ sự kiện, mà quan trọng hơn là rút ra bài học, nuôi dưỡng tình yêu dân tộc, và phát triển nhân cách. Cảm xúc là cầu nối quan trọng để đạt được mục đích này.Tại sao ý kiến lại đúng,Ý kiến này không phủ nhận vai trò của bài giảng lịch sử, mà chỉ ra giới hạn trong việc khơi gợi cảm xúc. Bài giảng là phương tiện, nhưng nội dung cốt lõi – những con người lịch sử – mới là yếu tố truyền cảm hứng mạnh mẽ nhất.Ví dụ: Khi nghe giảng về "Chiến thắng Điện Biên Phủ", chúng ta ghi nhớ mốc thời gian 1954. Nhưng khi đọc về tấm gương anh Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai, hay hình ảnh hàng vạn dân công hỏa tuyếngánh gạo, mở đường trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt, chúng ta không khỏi xúc động và khâm phục.Do đó, để bài học lịch sử trở nên sống động và có ý nghĩa, cần tập trung vào việc tái hiện những câu chuyện, con người cụ thể, để người học có thể "cảm" lịch sử bằng trái tim, chứ không chỉ bằng lý trí.
Câu 1.
Trong đoạn trích bài thơ Đất nước của Bằng Việt, hình tượng đất nước hiện lên vừa gần gũi vừa thiêng liêng. Đó không phải là khái niệm trừu tượng mà là hình ảnh cụ thể của những con đường, nhịp cầu, bàn tay lao động cần cù đang dựng xây lại cuộc sống sau chiến tranh. Đất nước còn hiện thân trong những con người bình dị: em bé đến trường, cô gái may áo cưới – những biểu tượng của sự sống, của tương lai hòa bình được nảy mầm từ bom đạn. Qua đó, tác giả nhấn mạnh rằng đất nước được làm nên từ sự hy sinh to lớn của nhân dân trong kháng chiến và tiếp nối bằng nỗ lực xây dựng không ngừng trong hòa bình. Hình tượng đất nước vì thế mang ý nghĩa nhắc nhở thế hệ hôm nay phải trân trọng những giá trị đã được đánh đổi bằng máu xương, đồng thời có trách nhiệm giữ gìn, bồi đắp để “vị ngọt” của độc lập, tự do mãi theo cùng dân tộc.
Câu 5.
Câu 1 Hình tượng đất nước trong văn bản đọc hiểu (ví dụ: đoạn trích từ "Đất Nước" của Nguyễn Khoa Điềm) có ý nghĩa vô cùng sâu sắc, làm hiện lên một đất nước vừa gần gũi, thân thương, vừa lớn lao, thiêng liêng. Trước hết, đất nước hiện lên qua những hình ảnh bình dị, gắn liền với đời sống nhân dân: "những con đường", "mái nhà", "hạt lúa", "cọng giò" – những điều quen thuộc làm nên hồn cốt dân tộc, giúp ta cảm nhận đất nước được dệt nên từ những điều nhỏ bé nhất của cuộc sống. Tiếp đến, đất nước còn được cảm nhận qua chiều dài lịch sử, văn hóa, qua những phong tục tập quán, những phẩm chất tốt đẹp của con người, tạo nên một bản sắc độc đáo, tự hào. Ý nghĩa quan trọng nhất là hình tượng đất nước không chỉ là không gian địa lý, mà là tình cảm, là máu thịt, là một phần tâm hồn của mỗi con người. Nó thôi thúc tình yêu quê hương, khơi gợi niềm tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm bảo vệ, xây dựng đất nước, cho thấy đất nước là thiêng liêng, trường tồn và gắn bó mật thiết với vận mệnh mỗi cá nhân Câu 2 Ý kiến "Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử" hoàn toàn chính xác. Nó nhấn mạnh rằng cảm xúc chân thực khi học lịch sử không đến từ những dữ kiện khô khan hay lời giảng chung chung, mà đến từ việc thấu hiểu, cảm nhận về cuộc đời, sự hy sinh và những giá trị nhân văn của các cá nhân, tập thể đã tạo nên lịch sử. Giải thíchBài giảng lịch sử thường tập trung vào niên đại, sự kiện, con số. Những yếu tố này cung cấp nền tảng kiến thức, nhưng có thể thiếu đi sự kết nối cảm xúc, khiến người học cảm thấy xa lạ, nhàm chán.Những người làm nên lịch sử là những con người thật, với những câu chuyện, phẩm chất, lý tưởng sống và hành động cụ thể. Khi tìm hiểu về họ (qua lời kể sống động, văn học, hoặc tư liệu chân thực), chúng ta thấy được sự dũng cảm, trí tuệ, tình yêu quê hương đất nước, hay những bi kịch, mất mát của họ. Chính những điều này chạm đến trái tim, khơi dậy sự đồng cảm, ngưỡng mộ và lòng biết ơn sâu sắc.Mục đích của việc học lịch sử không chỉ là ghi nhớ sự kiện, mà quan trọng hơn là rút ra bài học, nuôi dưỡng tình yêu dân tộc, và phát triển nhân cách. Cảm xúc là cầu nối quan trọng để đạt được mục đích này.Tại sao ý kiến lại đúng,Ý kiến này không phủ nhận vai trò của bài giảng lịch sử, mà chỉ ra giới hạn trong việc khơi gợi cảm xúc. Bài giảng là phương tiện, nhưng nội dung cốt lõi – những con người lịch sử – mới là yếu tố truyền cảm hứng mạnh mẽ nhất.Ví dụ: Khi nghe giảng về "Chiến thắng Điện Biên Phủ", chúng ta ghi nhớ mốc thời gian 1954. Nhưng khi đọc về tấm gương anh Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai, hay hình ảnh hàng vạn dân công hỏa tuyếngánh gạo, mở đường trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt, chúng ta không khỏi xúc động và khâm phục.Do đó, để bài học lịch sử trở nên sống động và có ý nghĩa, cần tập trung vào việc tái hiện những câu chuyện, con người cụ thể, để người học có thể "cảm" lịch sử bằng trái tim, chứ không chỉ bằng lý trí.
Hình tượng đất nước trong văn bản Đất nước của Bằng Việt mang ý nghĩa sâu sắc và giàu tính nhân văn. Đất nước hiện lên không phải là khái niệm trừu tượng hay thiêng liêng xa vời, mà gắn liền với hiện thực đời sống sau chiến tranh: những con đường bụi bặm, những nhịp cầu gãy được nối lại, những bàn tay cần cù dựng xây. Đó là đất nước của sự hồi sinh mạnh mẽ, của niềm tin và khát vọng hướng về tương lai. Đồng thời, hình tượng đất nước còn thấm đẫm kí ức đau thương nhưng hào hùng của chiến tranh: bom đạn, sơ tán, công sự, những hi sinh thầm lặng của bao thế hệ. Chính từ mất mát ấy, đất nước hôm nay mới có được “vị ngọt” của hòa bình, độc lập. Qua hình tượng đất nước, nhà thơ bày tỏ niềm tự hào, biết ơn và trân trọng sâu sắc đối với con người Việt Nam – những con người đã làm nên lịch sử bằng mồ hôi, xương máu và lòng yêu nước bền bỉ. Đất nước vì thế vừa là quá khứ gian lao, vừa là hiện tại tươi sáng và tương lai đầy hi vọng.
“Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử.” Ý kiến trên đã gợi ra một cách nhìn sâu sắc về lịch sử và cách con người tiếp nhận lịch sử. Lịch sử không chỉ là những sự kiện khô khan, những mốc thời gian cần ghi nhớ, mà trước hết là câu chuyện về con người – những số phận, những hi sinh và khát vọng đã làm nên dòng chảy của dân tộc.
Thực tế cho thấy, những bài giảng lịch sử nếu chỉ dừng lại ở việc truyền đạt kiến thức một chiều thường khó chạm tới cảm xúc người học. Con số, ngày tháng, chiến dịch hay hiệp định, nếu tách rời khỏi con người cụ thể, dễ trở nên xa lạ và khó ghi nhớ. Ngược lại, khi lịch sử được kể qua hình ảnh những con người bình dị mà vĩ đại – người lính ra trận, người mẹ tiễn con đi không hẹn ngày về, em bé lớn lên giữa bom đạn – lịch sử trở nên sống động, gần gũi và lay động lòng người. Chính con người, với máu, nước mắt và niềm tin, đã thổi hồn cho lịch sử.
Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử bởi họ đại diện cho tinh thần của thời đại. Đó là lòng yêu nước, ý chí quật cường, sự hi sinh thầm lặng vì độc lập, tự do. Những cảm xúc ấy không thể đến từ trang sách đơn thuần, mà đến từ sự đồng cảm giữa con người hôm nay với con người của quá khứ. Khi hiểu rằng hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng tuổi trẻ, sinh mạng của biết bao người, ta không chỉ “biết” lịch sử, mà còn “cảm” được lịch sử bằng trái tim.
Ý kiến trên cũng đặt ra một yêu cầu đối với cách học và dạy lịch sử. Lịch sử cần được tiếp cận như một câu chuyện nhân văn, lấy con người làm trung tâm. Khi học sinh được tiếp xúc với những tấm gương cụ thể, những câu chuyện chân thực, lịch sử sẽ không còn là môn học thuộc lòng, mà trở thành bài học về trách nhiệm, lòng biết ơn và ý thức công dân. Đó cũng là cách để lịch sử sống mãi trong hiện tại, chứ không nằm yên trong quá khứ.
Tuy nhiên, không thể phủ nhận vai trò của kiến thức lịch sử hệ thống. Những bài giảng lịch sử vẫn cần thiết để giúp con người hiểu đúng, hiểu đủ về tiến trình phát triển của dân tộc. Vấn đề không phải là phủ nhận bài giảng, mà là làm cho bài giảng ấy thấm đẫm hơi thở của con người và cuộc sống.
Tóm lại, chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử bởi chính họ là linh hồn của lịch sử. Khi lịch sử được nhìn qua số phận con người, nó không chỉ giúp ta hiểu về quá khứ, mà còn nuôi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào và trách nhiệm đối với tương lai của dân tộc.
Câu 1.
bài làm
Hình tượng đất nước trong đoạn trích bài thơ Đất nước của Bằng Việt hiện lên vừa gần gũi, cụ thể, vừa thiêng liêng, lớn lao. Đất nước không chỉ là khái niệm trừu tượng mà là những con đường, nhịp cầu, bàn tay lao động cần cù đang dựng xây cuộc sống mới sau chiến tranh. Đó còn là những em bé tung tăng đến trường, những cô gái chuẩn bị may áo cưới – những biểu tượng sinh động của hòa bình và tương lai. Đặc biệt, đất nước trong thơ Bằng Việt mang chiều sâu lịch sử khi hiện tại tươi đẹp luôn gắn với quá khứ đau thương, mất mát. Hạnh phúc hôm nay được xây dựng từ bom đạn, hy sinh và lòng quả cảm của bao thế hệ. Qua hình tượng đất nước, tác giả bày tỏ niềm tự hào, biết ơn sâu sắc, đồng thời khơi gợi trong lòng người đọc ý thức trách nhiệm giữ gìn, xây dựng và tiếp nối những giá trị thiêng liêng của dân tộc.
Câu 2.
bài làm
Lịch sử dân tộc không chỉ được ghi lại bằng những con số, mốc thời gian hay sự kiện khô khan trong sách vở, mà còn được viết nên bằng máu, nước mắt và cả sinh mạng của con người. Bởi vậy, ý kiến: “Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử” là một nhận định sâu sắc, chạm đến bản chất của cảm xúc con người khi tiếp cận lịch sử.Những bài giảng lịch sử, nếu chỉ dừng lại ở việc truyền đạt kiến thức một cách máy móc, dễ khiến người học cảm thấy xa lạ, nặng nề. Con người khó rung động trước những con số lạnh lùng như “triệu tấn bom”, “hàng vạn liệt sĩ” nếu không nhìn thấy phía sau đó là những số phận cụ thể. Trái lại, khi lịch sử được kể bằng câu chuyện của con người – một người mẹ tiễn con ra trận, một em bé sinh ra giữa bom đạn, một chiến sĩ ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ – thì lịch sử trở nên sống động và lay động lòng người. Chính những con người bình dị ấy đã làm nên lịch sử. Họ không phải anh hùng trong huyền thoại, mà là những người rất đỗi đời thường: nông dân, học sinh, công nhân… Khi ta hiểu được nỗi đau, sự hy sinh và khát vọng của họ, lịch sử không còn là chuyện của quá khứ mà trở thành mạch sống chảy trong hiện tại. Như trong bài thơ Đất nước của Bằng Việt, hình ảnh những em bé, cô gái bước ra từ bom đạn khiến người đọc xúc động hơn bất kỳ lời diễn giải nào về chiến tranh. Tuy nhiên, không thể phủ nhận vai trò của những bài giảng lịch sử. Vấn đề không nằm ở lịch sử, mà ở cách chúng ta tiếp cận và truyền tải lịch sử. Khi bài giảng biết đặt con người vào trung tâm, biết kể lại lịch sử bằng cảm xúc, bằng sự thấu hiểu và trân trọng, thì lịch sử sẽ không còn khô cứng mà trở nên gần gũi, truyền cảm hứng. Trong xã hội hiện đại, khi giới trẻ có nguy cơ xa rời lịch sử dân tộc, việc học lịch sử thông qua câu chuyện của con người càng trở nên quan trọng. Đó là cách để nuôi dưỡng lòng biết ơn, niềm tự hào và ý thức trách nhiệm đối với đất nước.
Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử bởi họ chính là linh hồn của lịch sử. Khi lịch sử được kể bằng số phận con người, lịch sử sẽ sống mãi trong trái tim mỗi thế hệ, chứ không chỉ nằm lại trên trang sách.
Câu 1: hình tượng đất nước trong văn bản có ý nghĩa sâu sắc thể hiện sự gắn bó máu thịt với đời sống hàng ngày của nhân dân và tôn vinh đóng góp thầm lặng của họ. Hình tượng của đất nước được tác giả định nghĩa không phải bằng khái niệm to lớn trừu tượng và bằng hình ảnh giản dị đời thường gần gũi như "chiếc chổi đót,chăn bông,quả bầu ,bát cơm ,giếng nước, hoa bưởi,..".Điều này cho thấy đất nước hiện hữu trong từng kỷ niệm, từng con người cụ thể ,gắn bó chặt chẽ với đời sống vật chất tinh thần của mỗi người dân. Đặc biệt là hình ảnh "những vô danh đối đầu với giông bão " nhấn mạnh đất nước còn được tạo nên từ sự hi sinh thầm lặng, vĩ đại của biết bao thế hệ nhân dân vô danh.Qua đó tác giả ca ngợi tinh thần đoàn kết, lòng kiên trung và sức mạnh phi thường của dân tộc, dù khiêm nhường nhưng có khả năng "làm được những điều phi thường"
Câu 1:
Trong đoạn trích bài thơ đất nước của Bằng Việt, hình tượng đất nước hiện lên vừa gần gũi vừa thiêng liêng, mang chiều sâu lịch sử và số phận con người. Đất nước không chỉ là khái niệm trừu tượng mà được cảm nhận qua cuộc sống đời thường của mỗi con người hiện nay như việc em bé đến trường, cô gái may áo cưới. Nhưng đằng sau những hình ảnh bình dị ấy là cả một quá khứ chiến chiến tranh khốc liệt với bom rơi, công sự bom vùi. Qua đó, tác giả khẳng định đất nước được làm nên từ những hy sinh, mất mát to lớn của các thế hệ đi trước. Hình tượng đất nước vì thế mang ý nghĩa của sự tiếp nối từ đau thương đến hòa bình, gian khổ đến hạnh phúc. Đất nước không ở đâu xa mà hiện diện trong từng con người, từng số phận, từng niềm vui hôm nay. Qua hình tượng ấy, bài thơ gợi lên lòng biết ơn sâu sắc và nhắc nhở thế hệ trẻ phải trân trọng, giữ gìn và có trách nhiệm với đất nước.
Câu 2:
Trong quá trình học tập lịch sử, có ý kiến cho rằng: “ chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử.” Đây là một nhận định đúng đắn, giúp chúng ta hiểu rõ hơn ý nghĩa của việc học lịch sử và vai trò to lớn của con người trong dòng chảy của thời gian.
Lịch sử thường được truyền đạt qua những bài giảng với nhiều sự kiện, mốc thời gian và con số cụ thể. Nếu chỉ tiếp cận lịch sử bằng việc ghi nhớ kiến thức, học thuộc lòng, con người dễ cảm thấy khô khan, khó tiếp nhận. Những bài giảng lịch sử, xét cho cùng chỉ là phương tiện để chuyển tải nội dung, còn điều làm nên giá trị sâu sắc của lịch sử chính là những con người đã trực tiếp sống, chiến đấu và hy sinh để tạo nên các sự kiện ấy.
Chúng ta xúc động không phải vì những trang sách vô tri, mà vì số phận, cuộc đời và sự hy sinh của những con người làm nên lịch sử. Đó là những người lính sẵn sàng ra trận vì độc lập dân tộc, là những con người bình thường nhưng mang trong mình lòng yêu nước lớn lao. Khi biết rằng phía sau mỗi chiến thắng là máu xương, nước mắt và mất mát, chúng ta không thể động. Chính con người đã làm cho lịch sử trở nên gần gũi, chân thực và có sức lay động mạnh mẽ.
Bên cạnh đó, việc xúc động trước những người làm nên lịch sử giúp con người hôm nay biết trân trọng cuộc sống hiện tại. , tự do không phải tự nhiên mà có, mà được đánh đổi bằng sự hy sinh của bao thế hệ đi trước. Khi hiểu được điều đó, mỗi người sẽ có ý thức sống tốt hơn, có trách nhiệm hơn với bản thân, gia đình và xã hội. Lịch sử vì thế không chỉ là câu chuyện của quá khứ mà còn là bài học cho hiện tại và tương lai.
Đối với thế hệ trẻ, học lịch sử thông qua con người là cách học hiệu quả và có ý nghĩa. Điều đó giúp các em không học lịch sử một cách máy móc mà biết đồng cảm, biết tự hào và hình thành lòng yêu nước. Từ sự xúc động ấy, học sinh sẽ nhận thức rõ hơn trách nhiệm của mình trong việc học tập, rèn luyện để góp phần xây dựng đất nước.
Tóm lại, ý kiến “ chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử, mà xúc động trước những người làm nên lịch sử” đã khẳng định vai trò trung tâm của con người trong lịch sử. Chính con người với những hy sinh thầm lặng đã khiến lịch sử trở nên sống động, có ý nghĩa và lay động lòng người. Vì vậy, học lịch sử cũng là học cách trân trọng con người và những giá trị mà họ để lại.
Ghhh
Câu 1:
Trong đoạn trích Đất nước của Bằng Việt, hình tượng Đất nước hiện lên không trừu tượng hay xa vời mà gắn bó sâu sắc với con người và lịch sử dân tộc. Đất nước trước hết là kết tinh của những hi sinh thầm lặng trong chiến tranh, là nơi “đẫm hy sinh tất cả dành kháng chiến”, nơi mỗi con người sinh ra đều mang trong mình dấu ấn của bom đạn, mất mát. Đồng thời, Đất nước còn là sự tiếp nối bền bỉ của các thế hệ, khi sức sống của hôm qua được truyền sang hôm nay và mai sau. Hình tượng Đất nước vì thế mang vẻ đẹp vừa đau thương vừa cao cả, vừa khắc nghiệt nhưng cũng rất đỗi nhân văn. Qua đó, tác giả khẳng định: Đất nước không chỉ được làm nên bởi những sự kiện lịch sử lớn lao, mà còn bởi cuộc sống bình dị, niềm vui, ước mơ và hạnh phúc của nhân dân trong hòa bình. Hình tượng Đất nước trong đoạn trích gợi nhắc mỗi người cần biết trân trọng quá khứ, nâng niu hiện tại và sống có trách nhiệm với tương lai dân tộc.
Câu 2:
Lịch sử dân tộc là dòng chảy dài của những sự kiện, mốc thời gian và chiến công hiển hách. Tuy nhiên, ý kiến cho rằng “chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử, mà xúc động trước những người làm nên lịch sử” đã gợi ra một cách nhìn sâu sắc về cách con người tiếp cận và cảm nhận lịch sử.
Thực tế, những bài giảng lịch sử thường khô khan bởi được trình bày dưới dạng kiến thức, số liệu, sự kiện. Nếu chỉ dừng lại ở việc ghi nhớ ngày tháng, chiến dịch hay kết quả, lịch sử dễ trở thành những dòng chữ vô cảm. Con người khó rung động trước con số, nhưng lại dễ lay động trước số phận con người. Chính vì vậy, điều khiến lịch sử trở nên sống động và chạm đến trái tim không phải là bài giảng, mà là những con người bằng xương bằng thịt đã sống, chiến đấu, hi sinh để làm nên lịch sử ấy.
Những người làm nên lịch sử có thể là những anh hùng được ghi danh, nhưng cũng có thể là những con người vô danh: em bé sinh ra trong thời bom đạn, người mẹ tiễn con ra trận, người lính ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ. Khi lịch sử được kể qua những con người ấy, nó không còn xa lạ mà trở nên gần gũi, chân thực và giàu cảm xúc. Chính nỗi đau, sự mất mát, lòng dũng cảm và khát vọng sống của họ khiến người học lịch sử cảm thấy xúc động, biết ơn và trân trọng.
Tuy nhiên, không thể vì thế mà phủ nhận vai trò của những bài giảng lịch sử. Bài giảng là cầu nối giúp thế hệ sau hiểu đúng, hiểu đủ và hiểu sâu về quá khứ. Vấn đề nằm ở cách tiếp cận: khi lịch sử được giảng dạy gắn với con người, với số phận và cảm xúc, thì lịch sử sẽ không còn khô cứng mà trở nên sống động, giàu ý nghĩa.
Đối với thế hệ trẻ hôm nay, việc xúc động trước những người làm nên lịch sử cần được chuyển hóa thành ý thức trách nhiệm. Đó là trách nhiệm học tập, sống nhân ái, cống hiến và gìn giữ những giá trị mà cha ông đã đánh đổi bằng máu xương. Khi lịch sử được nhìn nhận bằng cả lý trí và trái tim, mỗi người sẽ hiểu rằng: lịch sử không chỉ để ghi nhớ, mà còn để soi sáng hiện tại và định hướng tương lai.
Câu 1:
Hình tượng đất nước trong đoạn trích thơ của Bằng Việt hiện lên vừa gần gũi, vừa thiêng liêng. Đất nước không chỉ là không gian địa lí mà còn là kết tinh của lịch sử, máu xương và kí ức chiến tranh. Đó là những con đường đầy gạch vụn, những nhịp cầu sập, những bàn tay vun quén trong gian khó. Đất nước được nuôi lớn từ hi sinh thầm lặng của nhân dân, từ những năm tháng bom đạn ác liệt. Tuy vậy, đất nước trong thơ Bằng Việt không chìm trong đau thương mà toả sáng bằng sức sống mạnh mẽ. Sự sống nảy mầm từ đổ nát, trẻ em đến trường, cô gái may áo cưới – tất cả làm nên “vị ngọt” của hoà bình hôm nay. Qua đó, tác giả khẳng định: đất nước là sự tiếp nối giữa quá khứ và hiện tại, là trách nhiệm của mỗi thế hệ trong việc gìn giữ và phát triển những giá trị đã được đánh đổi bằng hi sinh to lớn.
Câu 2:
Lịch sử không chỉ là những mốc thời gian hay sự kiện khô khan được ghi chép trong sách vở. Điều khiến con người xúc động, ghi nhớ và trân trọng lịch sử chính là những con người bằng xương bằng thịt đã sống, chiến đấu và hi sinh để làm nên lịch sử. Vì vậy, nhận định “Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử” là hoàn toàn xác đáng.
Một bài giảng lịch sử, nếu chỉ dừng lại ở số liệu và sự kiện, rất dễ trở nên xa lạ với người học. Nhưng khi lịch sử được kể bằng câu chuyện của con người – những người lính ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ, những bà mẹ tiễn con ra trận không ngày trở lại, những thế hệ sống trong đói nghèo, bom đạn – thì lịch sử trở nên sống động và lay động lòng người. Chính con người là linh hồn của lịch sử.
Lịch sử dân tộc Việt Nam là minh chứng rõ ràng nhất. Từ những chiến sĩ vô danh đến các anh hùng dân tộc, tất cả đều góp phần làm nên độc lập, tự do hôm nay. Sự xúc động không đến từ chiến thắng được ghi trong sách mà đến từ cái giá phải trả cho chiến thắng ấy – máu, nước mắt và cả tuổi thanh xuân. Như trong thơ Bằng Việt, hạnh phúc đời thường hôm nay được đặt trên nền “triệu tấn bom rơi”, khiến con người không thể vô cảm.
Hiểu lịch sử qua con người giúp thế hệ trẻ biết trân trọng hiện tại, sống có trách nhiệm hơn với đất nước. Khi nhận ra mình đang hưởng “vị ngọt” từ hi sinh của người khác, con người sẽ biết gìn giữ hoà bình, không sống thờ ơ hay vô ơn với quá khứ.
Tóm lại, lịch sử chỉ thực sự chạm đến trái tim khi được nhìn qua số phận con người. Chính những con người bình dị mà phi thường ấy đã khiến lịch sử trở nên đáng nhớ, đáng trân trọng và có ý nghĩa lâu dài đối với mỗi thế hệ.
Câu 1:
Trong đoạn trích bài thơ Đất nước của Bằng Việt, hình tượng đất nước hiện lên gắn liền với chiến tranh, hi sinh và sự hồi sinh mạnh mẽ sau đau thương. Đất nước không phải khái niệm trừu tượng mà được cảm nhận qua những hình ảnh rất cụ thể như con đường đầy bụi, nhịp cầu sập, bàn tay con người âm thầm dựng xây lại cuộc sống. Đất nước là nơi đã trải qua mất mát lớn lao, nơi mỗi tấc đất đều thấm mồ hôi, xương máu của nhân dân trong những năm tháng kháng chiến ác liệt. Tuy vậy, từ trong tàn phá, đất nước vẫn tươn lên đầy sức sống. Những đứa trẻ đến trường, những cô gái chuẩn bị cho hạnh phúc riêng cho thấy sự tiếp nối bền bỉ của sự sống. Qua hình tượng đất nước, tác giả bày tỏ niềm tự hào, lòng biết ơn sâu sắc đối với các thế hệ đi trước, đồng thời khẳng định giá trị của hoà bình và trách nhiệm của thế hệ hôm nay trong việc gìn giữ, phát triển đất nước.
Câu 2:
Lịch sử thường được tiếp cận qua những bài giảng với nhiều sự kiện, mốc thời gian và con số. Tuy nhiên, điều thực sự khiến con người rung động không nằm ở bản thân các bài giảng ấy, mà nằm ở những con người đã sống, chiến đấu và hi sinh để tạo nên dòng chảy lịch sử. Vì vậy, ý kiến cho rằng con người xúc động trước những người làm nên lịch sử chứ không phải trước bài giảng lịch sử là hoàn toàn đúng đắn.
Một bài giảng lịch sử, nếu chỉ dừng lại ở việc truyền đạt kiến thức, rất dễ trở nên khô khan và khó ghi nhớ. Ngược lại, khi lịch sử được soi chiếu qua số phận con người, qua những câu chuyện đời thực, nó lập tức trở nên gần gũi và giàu cảm xúc. Người nghe không chỉ "biết" lịch sử mà còn
"cảm" được lịch sử. Đó là cảm xúc xót xa trước sự hi sinh, là niềm tự hào trước tinh thần bất khuất, là sự trân trọng đối với những con người bình dị đã làm nên điều phi thường.
Lịch sử Việt Nam là lịch sử của nhân dân. Đó là những người lính ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, những hậu phương lặng lẽ chịu đựng mất mát, những con người sẵn sàng hi sinh hạnh phúc riêng vì độc lập dân tộc. Chính họ, chứ không phải những trang sách, đã khiến lịch sử trở nên sống động và đáng nhớ. Khi biết rằng cuộc sống yên bình hôm nay được đánh đổi bằng biết bao máu xương, con người khó có thể thờ ơ hay vô cảm.
Nhận thức lịch sử thông qua con người còn giúp thế hệ trẻ hình thành thái độ sống đúng đắn. Sự xúc động không chỉ dừng lại ở cảm giác nhất thời mà cần chuyển hóá thành lòng biết ơn và ý thức trách nhiệm. Hiểu được giá trị của quá khứ, mỗi người sẽ biết trân trọng hiện tại, sống có ích hơn và góp phần xây dựng tương lai đất nước tốt đẹp hơn.
Tóm lại, lịch sử chỉ thực sự chạm đến trái tim khi được kể bằng những con người cụ thể. Chính những con người đã làm nên lịch sử mới là nguồn cảm xúc sâu sắc nhất, giúp lịch sử không bị lãng quên mà tiếp tục sống mãi trong ý thức của các thế hệ sau.
Câu 1:
Trong đoạn trích Đất nước của Bằng Việt, hình tượng Đất nước hiện lên không trừu tượng hay xa vời mà gắn bó sâu sắc với con người và lịch sử dân tộc. Đất nước trước hết là kết tinh của những hi sinh thầm lặng trong chiến tranh, là nơi “đẫm hy sinh tất cả dành kháng chiến”, nơi mỗi con người sinh ra đều mang trong mình dấu ấn của bom đạn, mất mát. Đồng thời, Đất nước còn là sự tiếp nối bền bỉ của các thế hệ, khi sức sống của hôm qua được truyền sang hôm nay và mai sau. Hình tượng Đất nước vì thế mang vẻ đẹp vừa đau thương vừa cao cả, vừa khắc nghiệt nhưng cũng rất đỗi nhân văn. Qua đó, tác giả khẳng định: Đất nước không chỉ được làm nên bởi những sự kiện lịch sử lớn lao, mà còn bởi cuộc sống bình dị, niềm vui, ước mơ và hạnh phúc của nhân dân trong hòa bình. Hình tượng Đất nước trong đoạn trích gợi nhắc mỗi người cần biết trân trọng quá khứ, nâng niu hiện tại và sống có trách nhiệm với tương lai dân tộc.
Câu 2:
Lịch sử dân tộc là dòng chảy dài của những sự kiện, mốc thời gian và chiến công hiển hách. Tuy nhiên, ý kiến cho rằng “chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử, mà xúc động trước những người làm nên lịch sử” đã gợi ra một cách nhìn sâu sắc về cách con người tiếp cận và cảm nhận lịch sử.
Thực tế, những bài giảng lịch sử thường khô khan bởi được trình bày dưới dạng kiến thức, số liệu, sự kiện. Nếu chỉ dừng lại ở việc ghi nhớ ngày tháng, chiến dịch hay kết quả, lịch sử dễ trở thành những dòng chữ vô cảm. Con người khó rung động trước con số, nhưng lại dễ lay động trước số phận con người. Chính vì vậy, điều khiến lịch sử trở nên sống động và chạm đến trái tim không phải là bài giảng, mà là những con người bằng xương bằng thịt đã sống, chiến đấu, hi sinh để làm nên lịch sử ấy.
Những người làm nên lịch sử có thể là những anh hùng được ghi danh, nhưng cũng có thể là những con người vô danh: em bé sinh ra trong thời bom đạn, người mẹ tiễn con ra trận, người lính ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ. Khi lịch sử được kể qua những con người ấy, nó không còn xa lạ mà trở nên gần gũi, chân thực và giàu cảm xúc. Chính nỗi đau, sự mất mát, lòng dũng cảm và khát vọng sống của họ khiến người học lịch sử cảm thấy xúc động, biết ơn và trân trọng.
Câu1:
Hình tượng đất nước trong đoạn trích “Đất nước” của Bằng Việt hiện lên vừa gần gũi, đời thường vừa mang vẻ đẹp thiêng liêng, sâu sắc. Đất nước không được cảm nhận bằng những khái niệm lớn lao, trừu tượng mà hiện hữu trong chính cuộc sống và số phận của mỗi con người Việt Nam. Đó là đất nước đã trải qua những năm tháng chiến tranh khốc liệt với “triệu tấn bom rơi”, nơi con người phải đối mặt với đau thương, mất mát và hi sinh. Tuy nhiên, từ trong gian khổ ấy, đất nước vẫn vươn lên mạnh mẽ, hồi sinh đầy sức sống. Hình ảnh những em bé tung tăng bước vào lớp Một, những cô gái bắt đầu may áo cưới đã gợi lên một đất nước của hòa bình, của niềm tin và hạnh phúc giản dị. Qua hình tượng đất nước, tác giả thể hiện niềm tự hào, sự trân trọng và lòng biết ơn sâu sắc đối với những thế hệ đã hi sinh vì độc lập, tự do của dân tộc. Có thể nói, hình tượng đất nước hiện lên như kết tinh của đau thương và hạnh phúc, của quá khứ và hiện tại, khiến người đọc không khỏi lắng mình suy ngẫm về trách nhiệm của bản thân trong công cuộc giữ gìn "vị ngọt" tự do của dân tộc.
Câu2:
Lịch sử của một dân tộc không nằm yên trên những trang sách cũ, mà âm thầm chảy trong ký ức, trong máu thịt và trong đời sống tinh thần của mỗi con người. Vậy điều gì đã làm nên sức lay động của lịch sử trong hiện tại và tương lai? Có ý kiến cho rằng: “Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử, chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử.”
Trước hết, “bài giảng lịch sử” là cách lịch sử được truyền đạt thông qua lời giảng, sách vở và chương trình học, thường nhấn mạnh vào sự kiện, mốc thời gian, diễn biến và kết quả. Đây là con đường cần thiết để tiếp nhận tri thức, nhưng nếu chỉ dừng lại ở việc ghi nhớ máy móc, bài giảng lịch sử dễ trở nên khô khan, thiếu sức gợi cảm. Trong khi đó, “những người làm nên lịch sử” là những con người cụ thể đã trực tiếp sống, chiến đấu, hi sinh và cống hiến để tạo ra những trang sử hào hùng của dân tộc. Qua đó, nhận định muốn khẳng định: lịch sử chỉ thực sự gây xúc động và có sức sống bền lâu khi được cảm nhận qua số phận, hành động và sự hi sinh của con người, chứ không phải qua những bài giảng thuần túy mang tính thông tin. Nhận định trên đã chạm đến cốt lõi của vấn đề tiếp nhận lịch sử: con người mới chính là linh hồn của lịch sử.
Khi con người biết xúc động trước những con người làm nên lịch sử, lịch sử không còn là những trang sách khô cứng mà trở thành ký ức sống động, giàu sức gợi. Những sự kiện, mốc thời gian vốn xa vời được “đánh thức” thông qua số phận, hành động và sự hi sinh của con người cụ thể. Nhờ đó, lịch sử được cảm nhận không chỉ bằng lí trí mà còn bằng cảm xúc, giúp con người thấu hiểu chiều sâu nhân văn của quá khứ.
Không chỉ vậy, việc biết xúc động trước những con người làm nên lịch sử khơi dậy trong con người lòng biết ơn sâu sắc đối với các thế hệ đi trước. Khi nhận ra rằng độc lập, tự do hôm nay được đánh đổi bằng máu xương và hi sinh thầm lặng, con người sẽ biết trân trọng hơn những giá trị tốt đẹp mình đang có. Lòng biết ơn ấy giúp con người sống nhân ái hơn, có trách nhiệm hơn với cộng đồng và với vận mệnh dân tộc. Đồng thời, đó cũng là nền tảng để hình thành ý thức gìn giữ hòa bình, bảo vệ những thành quả mà cha ông đã dày công vun đắp.
Bên cạnh đó, những người làm nên lịch sử trở thành nguồn cảm hứng lớn lao trong việc bồi dưỡng nhân cách và lí tưởng sống. Từ sự xúc động ban đầu, con người không chỉ dừng lại ở ngưỡng mộ hay cảm thương, mà dần hình thành khát vọng sống tốt đẹp, sống có ích và sẵn sàng cống hiến. Chính sự tiếp nối ấy khi được nhân rộng ra toàn xã hội sẽ khiến lịch sử không bị khép lại trong quá khứ, mà tiếp tục sống trong hiện tại, soi sáng con đường đi tới tương lai của dân tộc.
Mùa hè năm 2025, bộ phim "Mưa đỏ" ra đời và nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình từ đông đảo khán giả bởi nó không tái hiện trận đánh nảy lửa ở thành cổ Quảng Trị bằng các mốc sự kiện hay lời thuyết minh nặng tính thông tin mà nó lựa chọn khắc họa số phận, cảm xúc và sự hi sinh của những con người cụ thể trong chiến tranh. "Mưa đỏ" lay động độc giả bởi những con người đã làm nên lịch sử, từ cô thiếu nữ Hồng không ngại gian khổ ngày đêm lái đò đưa chiến sĩ qua sông, hay anh chàng sinh viên Cường gác lại bút nghiên tham gia chiến đấu, đến người đội trưởng xuất thân nhà quê chất phác, cục cằn nhưng giàu đức hy sinh-Tạ. Những chi tiết rất "đời" ấy đã làm nên sức hút của tác phẩm, đưa "Mưa đỏ" trở thành bộ phim có doanh thu kỉ lục ở phòng vé. Đó là minh chứng tiêu biểu cho việc chúng ta không xúc động bởi những bài giảng lịch sử mà xúc động trước những con người làm nên lịch sử.
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, bên cạnh những người biết ơn và trân trọng lịch sử dân tộc, vẫn còn một bộ phận có tư tưởng lệch lạc, tin vào những thông tin sai sự thật dẫn đến những hành vi sai trái.Đây là những bóng đen đẩy lùi bước tiến của xã hội và đáng bị phê phán,lên án.
Trong thời đại ngày nay, mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần nhận thức được tầm quan trong của lịch sử ,nó giúp con người thấu hiểu thế hệ đi trước, là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại. Bản thân học sinh hôm nay cần học lịch sử một cách nghiêm túc, chủ động tìm hiểu những câu chuyện con người phía sau mỗi sự kiện, từ đó nuôi dưỡng lòng biết ơn và ý thức trách nhiệm với cộng đồng. Chỉ khi biết trân trọng hòa bình, tiếp nối và phát huy truyền thống dân tộc, thế hệ trẻ mới thực sự góp phần làm nên giá trị bền vững cho đất nước.
c
Câu 1:
Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do.
Dấu hiệu nhận biết: số chữ trong mỗi dòng không đều, số câu trong mỗi khổ không cố định, nhịp điệu linh hoạt, không bị ràng buộc bởi niêm luật chặt chẽ như thơ lục bát hay thơ thất ngôn.
Câu 2:
Đoạn thơ thể hiện cảm xúc xúc động, tự hào, tin tưởng và yêu thương sâu sắc của nhân vật trữ tình trước sự hồi sinh của đất nước sau chiến tranh. Đó là niềm tự hào về tinh thần lao động cần cù, sự hy sinh to lớn của nhân dân, đồng thời là niềm tin lạc quan vào tương lai hòa bình, hạnh phúc.
Câu 3:
Trong đoạn thơ:
“Mỗi em bé phút này tung tăng vào lớp Một
Đều sinh trong thời có triệu tấn bom rơi,
Mỗi cô gái thu này bắt đầu may áo cưới
Đều đã đứng lên từ công sự bom vùi!”
Tác giả sử dụng biện pháp tu từ đối lập (giữa hiện tại hòa bình – quá khứ chiến tranh) kết hợp với liệt kê và điệp từ “mỗi”.
→ Ý nghĩa: làm nổi bật sự khốc liệt của chiến tranh và giá trị lớn lao của hòa bình. Những em bé hồn nhiên, những cô gái chuẩn bị hạnh phúc riêng đều trưởng thành từ bom đạn, mất mát. Qua đó, đoạn thơ ca ngợi sức sống bền bỉ của con người Việt Nam và nhấn mạnh cái giá rất đắt của cuộc sống yên bình hôm nay.
Câu 4:
“Vị ngọt” trong câu thơ cuối là vị ngọt của độc lập, tự do, hòa bình và hạnh phúc.
Vị ngọt ấy có được từ Cách mạng Tháng Tám, từ những năm tháng chiến tranh gian khổ, từ máu xương, nước mắt và sự hy sinh của bao thế hệ đi trước vì đất nước.
Câu 5:
Từ nội dung đoạn trích, có thể thấy lòng yêu nước là tình cảm thiêng liêng, được nuôi dưỡng qua thử thách, đau thương và hy sinh. Yêu nước không chỉ là cầm súng khi Tổ quốc cần, mà còn là lao động cần cù, sống có trách nhiệm, trân trọng hòa bình và tiếp nối những giá trị tốt đẹp của dân tộc. Với thế hệ trẻ hôm nay, lòng yêu nước được thể hiện bằng việc học tập tốt, sống nhân ái, biết ơn quá khứ và góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh.
Câu 1:
Trong đoạn trích Hãy chăm sóc mẹ của Shin Kyung Sook, nhân vật Chi-hon được khắc họa với diễn biến tâm lý phức tạp, sâu sắc khi hay tin mẹ bị lạc. Ban đầu, Chi-hon rơi vào trạng thái bực tức và trách móc, đổ lỗi cho các thành viên trong gia đình vì đã không ra ga đón mẹ. Tuy nhiên, đằng sau sự cáu giận ấy là cảm giác hoang mang và day dứt khi chính cô cũng là người biết tin quá muộn. Khi quay lại ga tàu điện ngầm Seoul – nơi mẹ biến mất, Chi-hon dần chìm trong dòng hồi ức về mẹ, những ký ức tưởng như đã lãng quên nay sống dậy rõ ràng. Cô nhớ lại sự hy sinh thầm lặng của mẹ, từ chiếc váy xếp nếp đến những hành động giản dị nhưng chan chứa yêu thương. Từ đó, tâm lý Chi-hon chuyển sang trạng thái ân hận, tự trách vì sự vô tâm của mình. Diễn biến tâm lý ấy thể hiện quá trình thức tỉnh trong nhận thức và tình cảm của người con, góp phần làm nổi bật thông điệp nhân văn sâu sắc về tình mẫu tử và sự quan tâm dành cho những người thân yêu.
Câu 2 (4 điểm)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về tầm quan trọng của kí ức về những người thân yêu trong cuộc đời mỗi người
Trong hành trình trưởng thành của mỗi con người, ký ức về những người thân yêu luôn giữ một vị trí đặc biệt và không thể thay thế. Đó không chỉ là những hồi ức đơn thuần, mà còn là nền tảng tinh thần nuôi dưỡng cảm xúc, nhân cách và lối sống của mỗi người. Ký ức về người thân chính là sợi dây vô hình gắn kết ta với quá khứ, giúp ta hiểu mình là ai và vì sao mình đang sống như hiện tại.
Trước hết, ký ức về những người thân yêu là nơi lưu giữ yêu thương và sự chở che. Những hình ảnh quen thuộc như bàn tay mẹ nắm chặt khi ta còn bé, lời dặn dò của cha mỗi lần ta vấp ngã hay những bữa cơm gia đình giản dị đều trở thành điểm tựa tinh thần vững chắc. Khi đối diện với khó khăn, chính những ký ức ấy giúp con người có thêm sức mạnh để bước tiếp. Nhớ về sự hy sinh thầm lặng của cha mẹ, ta học được cách sống có trách nhiệm và biết trân trọng những điều bình dị trong cuộc sống.
Bên cạnh đó, ký ức về người thân còn giúp con người hoàn thiện nhân cách. Từ những kỷ niệm yêu thương, ta hình thành lòng biết ơn, sự cảm thông và khả năng yêu thương người khác. Những bài học sống mà người thân để lại, dù bằng lời nói hay hành động, đều âm thầm dẫn dắt ta trong cách đối nhân xử thế. Một con người biết trân trọng ký ức gia đình thường là người sống giàu tình cảm và có chiều sâu tâm hồn.
Tuy nhiên, trong nhịp sống hiện đại, không ít người mải mê với công việc, danh vọng mà vô tình lãng quên người thân. Chỉ đến khi mất mát xảy ra, ký ức mới trở thành nỗi day dứt khôn nguôi. Đó là sự hối tiếc vì đã không kịp quan tâm, không kịp yêu thương khi còn có thể. Chính vì vậy, ký ức không chỉ để nhớ mà còn nhắc nhở con người phải sống trọn vẹn trong hiện tại.
Tóm lại, ký ức về những người thân yêu có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc đời mỗi người. Nó nuôi dưỡng tâm hồn, định hình nhân cách và giúp con người sống nhân văn hơn. Trân trọng ký ức cũng chính là trân trọng những người đang hiện diện bên ta, để khi nhìn lại, ta không phải sống trong ân hận mà trong sự bình yên và biết ơn.
Câu 1
Trong văn bản ở phần Đọc hiểu, hình tượng đất nước hiện lên không trừu tượng, xa vời mà rất gần gũi, sống động và giàu sức gợi. Đất nước được cảm nhận qua những con đường bụi gạch vụn, những nhịp cầu mới dựng, những bàn tay vun quén và những vóc dáng cần cù của con người sau chiến tranh. Đó là đất nước từng trải qua bom đạn, mất mát nhưng vẫn kiên cường hồi sinh, vươn lên mạnh mẽ. Đất nước còn được thể hiện qua sự tiếp nối của các thế hệ: em bé đến trường, cô gái may áo cưới – những hình ảnh tượng trưng cho hòa bình, hạnh phúc được đánh đổi bằng hy sinh to lớn. Qua đó, đất nước không chỉ là không gian địa lí hay khái niệm lịch sử, mà là kết tinh của máu xương, mồ hôi và niềm tin của nhân dân. Hình tượng đất nước trong đoạn trích vì thế mang ý nghĩa sâu sắc: vừa gợi nhắc quá khứ gian lao, vừa khẳng định giá trị của hòa bình hôm nay, đồng thời khơi dậy niềm tự hào và trách nhiệm của mỗi con người đối với Tổ quốc.
Câu 2
Lịch sử dân tộc được ghi lại qua những trang sách, những bài giảng, những con số và mốc thời gian. Tuy nhiên, có một ý kiến rất đáng suy ngẫm: “Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử.” Ý kiến ấy đã chạm đến bản chất sâu xa của sự cảm nhận lịch sử trong mỗi con người.
Thực tế cho thấy, nhiều người học lịch sử với tâm thế khô khan, nặng nề vì lịch sử thường được truyền đạt bằng sự kiện, năm tháng và khái niệm. Những bài giảng lịch sử đôi khi khiến người học cảm thấy xa lạ, khó đồng cảm. Tuy nhiên, khi lịch sử được kể lại qua số phận con người cụ thể – những chiến sĩ, những bà mẹ, những thế hệ đã sống, đã chiến đấu và hy sinh – lịch sử bỗng trở nên gần gũi và lay động lòng người. Bởi con người không chỉ tiếp nhận lịch sử bằng trí nhớ, mà còn bằng cảm xúc và trái tim.
Chính những người làm nên lịch sử đã tạo ra sức rung động mạnh mẽ ấy. Đó là những con người dám hy sinh tuổi trẻ, hạnh phúc riêng để đổi lấy độc lập, tự do cho dân tộc. Một em bé sinh ra giữa bom đạn, một cô gái bước ra từ công sự để may áo cưới cho ngày hòa bình – những hình ảnh ấy khiến lịch sử không còn là con số vô tri mà là cuộc đời thật, nỗi đau thật và niềm hạnh phúc thật. Khi ta xúc động trước họ, ta mới thực sự hiểu được giá trị của hòa bình và ý nghĩa của những trang sử đã qua.
Hơn nữa, lịch sử chỉ thực sự sống khi được kết nối với con người. Những bài giảng lịch sử sẽ trở nên có hồn nếu người học nhìn thấy đằng sau đó là máu, nước mắt, lòng quả cảm và niềm tin của bao thế hệ. Chính vì vậy, sự xúc động trước những người làm nên lịch sử không chỉ là cảm xúc cá nhân mà còn là biểu hiện của lòng biết ơn, của ý thức trách nhiệm đối với quá khứ dân tộc.
Đối với thế hệ trẻ hôm nay, việc xúc động trước những con người lịch sử có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đó là nền tảng để nuôi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc và ý thức sống có trách nhiệm. Khi hiểu rằng cuộc sống yên bình hôm nay được đánh đổi bằng bao hy sinh, mỗi người sẽ biết trân trọng hiện tại hơn, sống tốt hơn và cố gắng đóng góp cho tương lai đất nước.
Tóm lại, ý kiến trên là hoàn toàn đúng đắn. Lịch sử không chỉ nằm trong sách vở hay bài giảng, mà sống động trong những con người đã làm nên nó. Chính sự xúc động trước họ giúp lịch sử trở nên gần gũi, có ý nghĩa và trường tồn trong tâm hồn mỗi thế hệ.
Câu 1:
Trong đoạn trích của Bằng Việt, hình tượng đất nước không hiện lên qua những khái niệm trừu tượng mà vô cùng gần gũi, sống động. Đất nước ấy được tạo nên từ những mảng màu đối lập: một quá khứ "triệu tấn bom rơi", "công sự bom vùi" khốc liệt và một hiện tại hồi sinh mạnh mẽ với "em bé tung tăng", "cô gái may áo cưới". Qua ngòi bút của tác giả, đất nước mang gương mặt của những con người bình dị, cần cù, dám hy sinh tất cả cho kháng chiến. Đặc biệt, hình tượng đất nước còn là sự nối dài của sức sống: từ "Tháng Tám ban đầu" lịch sử đến nhịp cầu mới đang vươn tay nối nhịp. Ý nghĩa lớn nhất của hình tượng này chính là lời khẳng định về bản lĩnh dân tộc: đất nước có thể bị tàn phá bởi chiến tranh nhưng không bao giờ bị khuất phục, luôn tự làm mới mình từ những đau thương để hướng tới "vị ngọt" của hòa bình và tương lai.
Câu 2:
Lịch sử không chỉ là những con số khô khan về năm tháng, hay những bản đồ chiến dịch chằng chịt mũi tên. Đằng sau những trang sách giáo khoa ấy là nhịp đập của những trái tim, là xương máu và khát vọng của biết bao thế hệ. Có ý kiến cho rằng: "Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử." Câu nói này đã chạm đến bản chất cốt lõi của việc tiếp nhận quá khứ: Lịch sử chỉ thực sự sống dậy khi nó gắn liền với con người. "Bài giảng lịch sử" thường được hiểu là những kiến thức hàn lâm, những sự kiện được hệ thống hóa một cách khách quan, đôi khi là khô cứng trong nhà trường. Ngược lại, "những người làm nên lịch sử" là những con người bằng xương bằng thịt, có số phận, có cảm xúc và có sự hy sinh. Ý kiến này không phủ nhận vai trò của kiến thức, nhưng nhấn mạnh rằng sự kết nối về mặt tâm hồn và lòng biết ơn chỉ nảy sinh khi ta nhìn thấy chân dung con người trong dòng chảy thời gian. Tại sao chúng ta khó "xúc động" trước những bài giảng thuần túy? Bởi lẽ, nếu chỉ dừng lại ở việc liệt kê các mốc thời gian hay số lượng quân địch bị tiêu diệt, lịch sử chỉ còn là một bảng số liệu. Ngược lại, chúng ta rơi nước mắt khi nghe về người chiến sĩ ôm bom ba càng lao vào xe tăng địch, hay sự kiên cường của những nữ thanh niên xung phong ở ngã ba Đồng Lộc. Chúng ta xúc động trước một Trần Bình Trọng với câu nói bất hủ: "Thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc". Chính lý tưởng sống, lòng yêu nước thiết tha và sự lựa chọn giữa cái chết và danh dự của họ đã tạo nên sức mạnh truyền cảm hứng mãnh liệt. Hơn nữa, "người làm nên lịch sử" không chỉ là những bậc vĩ nhân, anh hùng lừng lẫy. Đó còn là những người dân lao động bình thường, là những người mẹ tiễn con đi chiến dịch không hẹn ngày về, là những người trí thức âm thầm cống hiến trong bóng tối. Khi nhìn lịch sử qua lăng kính thân phận con người, ta thấy mình trong đó, thấy được sợi dây liên kết vô hình giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Cảm xúc ấy giúp lịch sử không còn là "môn phụ" mà trở thành điểm tựa tinh thần cho mỗi cá nhân. Tuy nhiên, cũng cần nhận thức rằng để hiểu và trân trọng "người làm nên lịch sử", chúng ta vẫn cần những bài giảng khoa học và khách quan. Bài giảng chính là chiếc cầu nối, là công cụ cung cấp bối cảnh để ta hiểu vì sao cha ông ta lại hành động như vậy. Một bài giảng lịch sử hay phải là một bài giảng "có hồn", biết khơi gợi câu chuyện về con người đằng sau những con số. Tóm lại, lịch sử không phải là bảo tàng của những đồ vật vô tri, mà là sự tiếp nối của những cuộc đời. Thay vì tiếp cận lịch sử như một nghĩa vụ học thuật, hãy học cách lắng nghe tiếng vọng của cha ông. Khi biết rung động trước những nhân cách vĩ đại, chúng ta sẽ biết sống sao cho xứng đáng với những gì họ đã gây dựng.
Câu 1 (khoảng 200 chữ)
Phân tích ý nghĩa hình tượng “đất nước” trong văn bản ở phần Đọc hiểu
Hình tượng đất nước trong văn bản Đọc hiểu không chỉ được cảm nhận như một khái niệm địa lí hay hành chính đơn thuần mà hiện lên với ý nghĩa sâu sắc, thiêng liêng và giàu cảm xúc. Đất nước trước hết là không gian sinh tồn của dân tộc, nơi gắn bó với lịch sử lâu dài, với núi sông, làng mạc, phong tục và truyền thống văn hóa. Qua hình tượng ấy, tác giả gợi nhắc đến cội nguồn, đến những giá trị bền vững đã được bồi đắp qua bao thế hệ.
Bên cạnh đó, đất nước còn là kết tinh của mồ hôi, công sức và xương máu của biết bao con người vô danh đã hi sinh để bảo vệ và dựng xây. Đất nước vì thế mang vẻ đẹp của sự chịu đựng, kiên cường và bất khuất. Không chỉ thuộc về quá khứ, đất nước trong văn bản còn gắn liền với hiện tại và tương lai, đặt lên vai mỗi con người trách nhiệm gìn giữ, trân trọng và phát triển.
Qua hình tượng đất nước, tác giả gửi gắm thông điệp sâu sắc: tình yêu nước không phải điều trừu tượng mà bắt nguồn từ những gì gần gũi nhất, từ ý thức sống có trách nhiệm với quê hương, dân tộc. Đây chính là giá trị tư tưởng nổi bật mà hình tượng đất nước mang lại cho người đọc.
Câu 2 (khoảng 600 chữ)
Trình bày suy nghĩ về ý kiến:
“Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử.”
Lịch sử dân tộc là dòng chảy dài của thời gian, được ghi lại qua những trang sách, những bài giảng và những con số mốc sự kiện. Tuy nhiên, ý kiến: “Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử” đã gợi ra một cách nhìn sâu sắc và nhân văn về cách con người tiếp nhận lịch sử.
Thực tế, những bài giảng lịch sử thường mang tính hệ thống, khái quát, tập trung vào sự kiện, thời gian và kết quả. Nếu chỉ tiếp cận lịch sử như những dữ kiện khô khan, người học dễ cảm thấy xa cách, khó rung động. Điều đó không có nghĩa lịch sử nhàm chán, mà bởi lịch sử cần được thổi hồn bằng hình ảnh con người cụ thể – những con người đã sống, đã chiến đấu, đã hi sinh trong hoàn cảnh khắc nghiệt của thời đại.
Chính con người làm nên lịch sử mới là yếu tố tạo nên sự xúc động. Đó là những người lính ra trận với lòng yêu nước mãnh liệt, những bà mẹ tiễn con đi mà không hẹn ngày trở lại, những anh hùng vô danh chấp nhận hi sinh để bảo vệ độc lập dân tộc. Khi lịch sử được nhìn qua số phận, cảm xúc và lựa chọn của con người, nó trở nên gần gũi, chân thật và lay động lòng người hơn bất cứ con số nào.
Ý kiến trên cũng nhấn mạnh giá trị nhân văn của lịch sử: lịch sử không chỉ để ghi nhớ, mà để thấu hiểu và biết ơn. Khi xúc động trước những con người làm nên lịch sử, chúng ta học được lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm và ý thức sống vì cộng đồng. Đó chính là ý nghĩa sâu xa của việc học lịch sử – không phải học thuộc, mà là học để làm người.
Tuy nhiên, không thể phủ nhận vai trò của những bài giảng lịch sử. Bài giảng là cầu nối giúp thế hệ sau hiểu đúng, hiểu đủ về quá khứ. Vấn đề nằm ở cách truyền đạt: khi bài giảng biết đặt con người vào trung tâm, biết kể lại lịch sử bằng cảm xúc và sự thấu cảm, thì chính bài giảng cũng có thể trở thành nguồn xúc động sâu sắc.
Tóm lại, ý kiến đã khẳng định một chân lí quan trọng: lịch sử sống động nhất khi được kể bằng câu chuyện của con người. Xúc động trước những người làm nên lịch sử cũng chính là cách để mỗi chúng ta sống có trách nhiệm hơn với hiện tại và tương lai của đất nước
Câu 1
Trong "Đất Nước" của Bằng Việt, hình tượng đất nước hiện lên thật gần gũi, bình dị mà sâu sắc. Đó là đất nước trong những kỷ niệm tuổi thơ tôi: "một chú dế mèn gọi mùa thu", "trái bồ kết" thơm ngát, hay "ánh trăng khua gầu" vỡ tan trong đêm, gắn liền với những cảm xúc hồn nhiên, trong trẻo. Nhưng đất nước còn là vẻ đẹp của con người lao động Việt Nam cần cù, lam lũ: "những bàn tay vun quén", "chân lấm tay bùn làm ra lúa gạo", lặng lẽ xây dựng quê hương. Hơn thế, đất nước còn là sức sống mãnh liệt, sự tiếp nối không ngừng của các thế hệ: từ những gian lao "dành cho kháng chiến" đến hiện tại tươi đẹp với "em bé tung tăng vào lớp một", "cô gái may áo cưới", cho thấy một tương lai tươi sáng được vun đắp từ sự cống hiến của quá khứ. Qua đó, Bằng Việt đã khắc họa thành công một đất nước vừa thân thương, bình dị, vừa kiên cường, trù phú, nơi tình yêu quê hương hòa quyện vào vẻ đẹp tâm hồn dân tộc.
Câu 1:
Trong đoạn trích bài thơ Đất nước của Bằng Việt, hình tượng đất nước hiện lên vừa gần gũi, vừa thiêng liêng và giàu ý nghĩa. Đất nước không được cảm nhận qua những khái niệm trừu tượng mà hiện hữu trong những hình ảnh đời thường: con đường, nhịp cầu, bàn tay lao động, em bé đến lớp, cô gái may áo cưới. Đó là một đất nước từng chịu nhiều đau thương, mất mát bởi chiến tranh nhưng vẫn kiên cường đứng dậy, hồi sinh mạnh mẽ sau bom đạn. Đất nước còn là sự tiếp nối giữa các thế hệ: thế hệ đi qua chiến tranh đã truyền lại cho thế hệ hòa bình sức sống, niềm tin và khát vọng dựng xây. Qua đó, tác giả thể hiện niềm tự hào, lòng biết ơn sâu sắc đối với những hy sinh của cha ông để làm nên hòa bình hôm nay. Hình tượng đất nước trong đoạn thơ vì thế mang vẻ đẹp vừa gian khổ, vừa ngọt ngào, là kết tinh của lịch sử đấu tranh, của lòng yêu nước và ý chí bất khuất của dân tộcg Việt Nam.
Câu 2:
Lịch sử dân tộc là dòng chảy dài của những biến cố, chiến công và hy sinh. Tuy nhiên, nhiều người cho rằng chúng ta không thực sự xúc động trước những bài giảng lịch sử khô khan mà chỉ xúc động khi nghĩ về những con người đã làm nên lịch sử. Ý kiến trên là hoàn toàn xác đáng và gợi ra nhiều suy ngẫm sâu sắc. Trước hết, lịch sử trong sách vở thường được trình bày bằng các mốc thời gian, sự kiện, số liệu. Nếu chỉ tiếp cận lịch sử theo cách ghi nhớ máy móc, người học dễ cảm thấy khô cứng, nặng nề và xa rời cảm xúc. Những bài giảng lịch sử khi thiếu sự kết nối với con người cụ thể sẽ khó chạm tới trái tim người nghe. Chính vì vậy, nhiều người “không xúc động” trước lịch sử được kể lại một cách lạnh lùng, thiếu hơi thở cuộc sống. Tuy nhiên, lịch sử thực chất được tạo nên bởi con người – những con người bằng xương bằng thịt, có ước mơ, có tình yêu, có nỗi sợ nhưng sẵn sàng hy sinh vì đất nước. Khi ta biết đến những chiến sĩ ngã xuống nơi chiến trường, những bà mẹ tiễn con ra trận không hẹn ngày về, những con người âm thầm sống và chiến đấu trong gian khổ, ta không thể không xúc động. Chính số phận, ý chí và lòng yêu nước của họ đã làm cho lịch sử trở nên sống động, có hồn và giàu cảm xúc. Sự xúc động trước những người làm nên lịch sử giúp chúng ta hiểu rằng hòa bình hôm nay không phải điều tự nhiên mà có. Đó là thành quả được đánh đổi bằng máu xương, nước mắt và cả tuổi xuân của biết bao thế hệ. Khi cảm nhận được điều ấy, chúng ta sẽ trân trọng hơn những giá trị đang có, biết sống có trách nhiệm hơn với bản thân, gia đình và xã hội. Đối với thế hệ trẻ, việc xúc động trước con người trong lịch sử còn có ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Nó nuôi dưỡng lòng yêu nước, khơi dậy lý tưởng sống đẹp, sống có ích. Yêu lịch sử không phải chỉ để thuộc bài mà để học cách sống, cách cống hiến và cách gìn giữ những thành quả của dân tộc. Tóm lại, lịch sử chỉ thực sự lay động khi ta nhìn thấy phía sau những trang sách là hình bóng của con người. Xúc động trước những người làm nên lịch sử chính là cách để lịch sử sống mãi trong lòng mỗi chúng ta, trở thành động lực để tiếp nối và viết tiếp những trang sử tốt đẹp cho đất nước hôm nay và mai sau.
Đã hoàn thành
Câu 1:
Hình tượng “đất nước” trong đoạn thơ không chỉ là khái niệm địa lí quen thuộc mà còn là biểu tượng thiêng liêng gắn với lịch sử chiến đấu và hi sinh của dân tộc. Đất nước hiện lên qua những con đường, nhịp cầu, mái nhà… – tất cả đều mang dấu vết bom đạn chiến tranh. Nhưng giữa hoang tàn, con người Việt Nam vẫn bền bỉ dựng xây, chữa lành vết thương từ tro tàn đổ nát. Bên cạnh đó, đất nước còn gắn với những con người bình dị: em bé tung tăng đến lớp, cô gái chuẩn bị may áo cưới… Họ sinh ra và lớn lên giữa bom rơi đạn nổ nhưng vẫn nuôi dưỡng niềm tin và khát vọng sống. Như vậy, đất nước vừa mang vẻ đẹp đau thương vừa toả sáng sức sống diệu kì. Qua hình tượng ấy, nhà thơ muốn khẳng định: chính con người lao động và chiến đấu đã làm nên đất nước. Đồng thời, tác giả gửi gắm niềm tự hào, tình yêu và lòng biết ơn sâu sắc với quê hương – nơi đã kiên cường vượt qua chiến tranh để vươn tới hoà bình.
Câu 2:
Lịch sử là dòng chảy dài của thời gian với biết bao sự kiện, dấu mốc đã làm nên diện mạo của dân tộc và nhân loại. Nhiều bạn học sinh thường cho rằng lịch sử khô khan, chỉ là những con số, năm tháng, sự kiện phải ghi nhớ. Nhưng ý kiến: “Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử” đã giúp ta nhìn nhận lại: điều làm rung động lòng người không chỉ là kiến thức, mà chính là con người – những nhân vật đã sống, chiến đấu và hi sinh để tạo nên lịch sử.
Thật vậy, nếu chỉ tiếp cận lịch sử như một môn học với sách vở, bài giảng, ta dễ cảm thấy nặng nề và xa cách. Nhưng khi nhìn vào số phận, cuộc đời và trái tim của những con người cụ thể, ta mới thấy lịch sử trở nên gần gũi và đầy cảm xúc. Đó là những chiến sĩ ngã xuống trên chiến trường vì độc lập dân tộc; là những bà mẹ âm thầm nuôi giấu cán bộ; là những cô gái, chàng trai tuổi đôi mươi đi vào tiền tuyến. Cuộc đời họ có niềm vui, nỗi buồn, có ước mơ bình dị nhưng sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc. Chính điều đó khiến ta xúc động và kính phục.
Lịch sử vì thế không chỉ là quá khứ, mà là câu chuyện về lòng yêu nước, trách nhiệm và nhân cách. Khi ta hiểu rằng đằng sau mỗi trang sách là mồ hôi, nước mắt và máu xương, ta sẽ biết trân trọng hiện tại hơn. Đồng thời, ta cũng thấy rõ trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay: phải sống tốt, sống có ích để xứng đáng với những người đã làm nên lịch sử.
Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là bài giảng lịch sử không quan trọng. Chính bài giảng giúp ta tiếp cận, hiểu đúng và đầy đủ về các sự kiện. Nhưng chỉ khi bài giảng gắn với con người thật, cảm xúc thật, lịch sử mới thật sự “sống” trong lòng người học.
Qua đó ta thấy rằng ý kiến trên đã nhấn mạnh chiều sâu nhân văn của lịch sử. Chúng ta xúc động trước lịch sử không phải vì con chữ, mà vì những con người thầm lặng đã hi sinh, cống hiến cho Tổ quốc. Hiểu được điều đó, mỗi chúng ta sẽ thêm yêu lịch sử và biết trân trọng giá trị của cuộc sống hôm nay.
Câu1:
Hình tượng Đất nước trong văn bản mang ý nghĩa sâu sắc, không chỉ là một khái niệm địa lý mà còn là một thực thể sống động, kết tinh từ văn hóa và lịch sử. Trước hết, Đất nước hiện lên thật bình dị, gần gũi qua những hình ảnh thân thuộc của đời sống thường nhật như miếng trầu, cái kèo, cái cột hay hạt gạo nắng hai sương. Điều này khẳng định tư tưởng: Đất nước bắt đầu từ những gì nhỏ bé nhất trong mỗi gia đình. Ý nghĩa lớn lao hơn, Đất nước chính là sự hội tụ của vẻ đẹp tâm hồn và sức mạnh nhân dân. Đó là nơi chứng kiến những cuộc trường chinh không nghỉ, nơi lưu giữ truyền thống đánh giặc cứu nước và lòng thủy chung son sắt. Qua việc khai thác chất liệu văn hóa dân gian, tác giả đã nâng tầm hình tượng Đất nước thành một biểu tượng thiêng liêng nhưng không xa rời thực tế. Hình tượng này khơi dậy trong lòng người đọc niềm tự hào dân tộc, ý thức về cội nguồn và trách nhiệm của mỗi cá nhân trong việc bảo vệ, xây dựng quê hương. Tóm lại, Đất nước trong văn bản không chỉ là của các triều đại mà là "Đất Nước của Nhân dân", một khám phá mang tính nhân văn sâu sắc.
Câu 2:
Bài làm
Lịch sử là dòng chảy vĩnh hằng của dân tộc, là kho tàng tri thức, bài học quý giá mà cha ông để lại. Tuy nhiên, cách tiếp cận lịch sử của mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ, có thể rất khác nhau. Có ý kiến cho rằng: “Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử.” Đây là một nhận định sâu sắc, phản ánh đúng tâm lý, cách cảm nhận lịch sử của con người, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nhìn nhận lịch sử qua lăng kính của những con người, những nhân vật lịch sử cụ thể, chứ không chỉ qua những sự kiện, con số khô khan. Trước hết, cần hiểu rõ nội dung của ý kiến này. “Bài giảng lịch sử” ở đây có thể hiểu là những kiến thức lịch sử được truyền đạt một cách máy móc, sách vở, chỉ dừng lại ở việc ghi nhớ các mốc thời gian, sự kiện, nhân vật mà thiếu đi chiều sâu cảm xúc, thiếu sự liên kết với đời sống hiện tại. Ngược lại, “những người làm nên lịch sử” là những cá nhân kiệt xuất, những anh hùng dân tộc, những nhân vật bình dị nhưng có đóng góp lớn lao, họ sống, chiến đấu, hy sinh, tạo nên những trang sử hào hùng. Sức lay động đến từ họ là sức mạnh của tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường, sự hy sinh cao cả, lòng dũng cảm phi thường. Lịch sử không chỉ là những trang sách mà là máu thịt, là xương máu của bao thế hệ. Khi học về cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, chúng ta có thể thuộc lòng ngày tháng, chiến dịch. Nhưng chính câu chuyện về anh Kim Đồng hi sinh khi còn tuổi thiếu niên, chị Võ Thị Sáu hiên ngang ra pháp trường, hay những người lính Tây Tiến dãi dầu nơi núi rừng, mới thực sự chạm đến trái tim, khơi dậy lòng tự hào, niềm xúc động mãnh liệt. Đó là cảm nhận về lý tưởng sống, về tình yêu Tổ quốc, về sự hy sinh thầm lặng mà lớn lao. Những câu chuyện ấy, những con người ấy, đã biến lịch sử từ khái niệm trừu tượng thành những giá trị sống động, truyền cảm hứng. Ý kiến này cũng chỉ ra một thực trạng trong cách giáo dục và tiếp nhận lịch sử hiện nay. Nhiều bài giảng lịch sử còn thiếu tính thực tiễn, thiếu sự kết nối cảm xúc, khiến người học dễ trở nên nhàm chán. Khi đó, lịch sử trở thành một môn học phụ, một gánh nặng kiến thức, thay vì một nguồn cảm hứng và bài học quý giá. Chúng ta cần một sự thay đổi: biến những bài giảng khô khan thành những câu chuyện, những thước phim, những cuộc hành hương về cội nguồn, nơi những nhân vật lịch sử hiện lên sống động, gần gũi. Từ đó, ta thấy trách nhiệm của thế hệ trẻ: không chỉ dừng lại ở việc học thuộc lòng, mà phải tìm hiểu sâu sắc hơn về cuộc đời, tư tưởng, hành động của những con người làm nên lịch sử. Phải biết đặt mình vào vị trí của họ, cảm nhận những hy sinh, nỗ lực của họ. Chính sự đồng cảm, thấu hiểu ấy sẽ nuôi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, và biến những bài học lịch sử thành hành trang, động lực để chúng ta cống hiến cho đất nước hôm nay. Hãy biến sự xúc động trước những con người làm nên lịch sử thành hành động cụ thể, sống có ích, bảo vệ Tổ quốc, phát huy giá trị văn hóa dân tộc. Tóm lại, ý kiến đã chỉ ra một cách sâu sắc rằng giá trị cốt lõi của lịch sử nằm ở những con người đã tạo ra nó. Chúng ta cần hướng tới việc học lịch sử một cách nhân văn, cảm động, để những người làm nên lịch sử mãi là ngọnC2
Trong thời buổi công nghiệp hóa, hiện đại hóa như hiện nay. Học sinh chúng ta có nhiều cơ hội hơn để được trau dồi, tiếp thu kiến thức, mở mang tầm hiểu biết và hội nhập với thế giới. Tuy nhiên, để hoàn thiện bản thân mình hơn trong cách sống cũng như tâm hồn, chúng ta cần phải tích cực tìm hiểu, bảo vệ và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Một thực trạng mà ai cũng nhận thấy đó là xã hội đang phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, con người hòa nhập, cởi mở hơn với những nền văn hóa mới của nhiều quốc gia khác nhau. Tuy nhiên, đôi lúc chúng ta lại quên đi, bỏ bê nét đẹp, truyền thống văn hóa của chính đất nước mà chúng ta sinh ra, lớn lên. Nhiều bản sắc đã bị mai một, giới trẻ ngày càng ít quan tâm, tìm hiểu về những truyền thống, bản sắc đó.
Từ sự vô tâm, vô tư đó mà những giá trị truyền thống tốt đẹp ngày càng bị mai một dần đi, nhiều bản sắc đã và đang dần mất đi. Những lễ hội, nhưng cuộc thi dân gian không còn nhận được nhiều sự quan tâm của con người hoặc chỉ mang dáng dấp hình thức. Đối với những bạn trẻ hiện nay, họ không quá mặn mà với những truyền thống, bản sắc đó mà họ hướng đến những thứ hướng ngoại hơn, hiện đại hơn. Chính những điều này đã làm con người đánh mất đi giá trị cốt lõi của đất nước mình.
Để giải quyết thực trạng trên, mỗi cá nhân đặc biệt là học sinh chúng ta phải tìm hiểu những bản sắc văn hóa vốn có của dân tộc, giữ gìn và phát huy những giá trị đó với bạn bè năm châu. Bên cạnh đó, nhà trường cần tổ chức nhiều hơn những hoạt động để tuyên truyền, mang đến cho học sinh nguồn tri thức về bản sắc văn hóa dân tộc. Học sinh chúng ta cần phải đặt trách nhiệm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc lên hàng đầu, tích cực trau dồi hiểu biết của mình về những giá trị văn hóa tốt đẹp của nước nhà. Có như vậy, những bản sắc văn hóa dân tộc mới được giữ gìn và duy trì tốt đẹp.
Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là trách nhiệm chung của tất cả những con người Việt Nam mang dòng máu đỏ da vàng chúng ta. Chính vì thế, ta cần có ý thức giữ gìn và phát huy những truyền thống đó để nó ngày càng đẹp đẽ và phát triển rộng rãi hơn.
Đợi em viết