K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu từ 1 đến 5.

     Cũng có kẻ mắc vào khóa lính,

     Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan,

         Nước khe cơm vắt gian nan,

Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời.

     Buổi chiến trận mạng người như rác,

     Phận đã đành đạn lạc tên rơi,

         Lập lòe ngọn lửa ma trơi,

Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!

     Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp,

     Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa,

         Ngẩn ngơ khi trở về già,

Ai chồng con tá biết là cậy ai?

     Sống đã chịu một đời phiền não,

     Thác lại nhờ hớp cháo lá đa,

         Đau đớn thay phận đàn bà,

Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

     Cũng có kẻ nằm cầu gối đất,

     Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi,

     Thương thay cũng một kiếp người,

Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan.

                                  (Nguyễn Du, Văn tế thập loại chúng sinh(1))

Chú thích: 

Văn tế thập loại chúng sinh còn được gọi là Văn chiêu hồn, là một sáng tác xuất sắc bằng chữ Nôm của đại thi hào Nguyễn Du, hiện chưa rõ thời điểm sáng tác. Trong văn bản do Đàm Quang Thiện hiệu chú có dẫn lại ý của ông Trần Thanh Mại trên Đông Dương tuần báo năm 1939 thì Nguyễn Du viết bài văn tế này sau một mùa dịch khủng khiếp làm hàng triệu người chết, khắp non sông đất nước âm khí nặng nề, và ở khắp các chùa, người ta đều lập đàn giải thoát để cầu siêu cho hàng triệu linh hồn. Tuy nhiên, GS. Hoàng Xuân Hãn lại cho rằng có lẽ Nguyễn Du viết tác phẩm này trước cả Truyện Kiều, tức khi ông còn làm cai bạ ở Quảng Bình (1802 - 1812).

Câu 1. Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích trên. 

Câu 2. Liệt kê những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích.

Câu 3. Trình bày hiệu quả của việc sử dụng từ láy trong hai dòng thơ dưới đây:

Lập lòe ngọn lửa ma trơi

Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!

Câu 4. Phát biểu chủ đề và cảm hứng chủ đạo của đoạn trích.

Câu 5. Từ cảm hứng chủ đạo của đoạn trích, anh/chị hãy bày tỏ suy nghĩ về truyền thống nhân đạo của dân tộc ta (trình bày khoảng 5 - 7 dòng).

89
12 tháng 11 2024

Tiếp

BÀI 3

 

16 tháng 12 2025

Câu 1: Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn thơ trên là: Biểu cảm, Tự sự, Miêu tả.

Câu 2: Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích là: người lính, người phụ nữ lỡ làng, người hành khuất

Câu 3:

18 tháng 12 2025

Câu 1. Đoạn trích sử dụng các phương thức biểu đạt: tự sự, miêu tả và biểu cảm (biểu cảm là phương thức nổi bật). Câu 2. Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích: Người lính trận chết nơi chiến trường. Người phụ nữ lỡ làng, buôn nguyệt bán hoa. Người đàn bà chịu nhiều đau khổ, chết trong cô độc. Người hành khất, sống lang thang đầu đường xó chợ. Câu 3. Các từ láy “lập lòe”, “văng vẳng” gợi cảm giác mờ ảo, rờn rợn của thế giới âm linh, làm không gian thêm u tối, tang thương. Qua đó, nỗi oan khuất và bi thương của các linh hồn được khắc sâu, khơi dậy mạnh mẽ lòng xót thương nơi người đọc. Câu 4. Chủ đề: Thương xót cho những kiếp người bất hạnh, chết trong đau khổ và lãng quên. Cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng nhân đạo sâu sắc, chan chứa lòng từ bi và nỗi đau trước số phận con người. Câu 5. Đoạn trích thấm đẫm tinh thần nhân đạo – truyền thống đẹp của dân tộc ta. Từ bao đời, người Việt luôn biết thương người cùng khổ, sẻ chia với những phận đời bị bỏ quên. Lòng nhân ái ấy vượt qua ranh giới sống – chết, giàu – nghèo. Nó nhắc ta sống tử tế hơn, biết cúi xuống trước nỗi đau của người khác. Nhân đạo không phải điều lớn lao, mà bắt đầu từ một trái tim biết đau cùng con người.

18 tháng 12 2025

C1 các phương thức biểu đạt được sử dụng là tự sự , trữ tình và nghị luận.

C2 liệt kê những kiếp người:

tướng sĩ, quan lại , kẻ bôn ba .

C3 biện pháp tu từ láy lập loè văng vẳng :

Tác dụng:

Nhấn mạnh tăng sức gợi hình gợi cảm làm cho câu văn thêm sinh động hấp dẫn cuốn hút người đọc.

các từ láy này góp phần tạo nên 1 bức tranh tang thương , aam khí nặng nề , lay động lòng người . Từ đó đã cho ta thấy nỗi bi thương và nỗi thương cảm sâu sắc của tác giả.

C4 chủ đề và cảm hứng chủ đạo của bài là:

Chủ đề của đoạn trích là nỗi thương cảm vô hạn đối với những kiếp người bất hạnh, chết chóc do dịch bệnh và chiến tranh.

Cảm hứng chủ đạo: cảm hứng nhân đạo sâu sắc, lòng từ bi, sự đồng cảm đối với tất cả chúng sinh, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn.

C5 suy nghĩ về truyền thống nhân đạở của dân tộc ta :

Truyền thống nhân đạo của dân tộc ta là sự cảm thông sâu sắc, tình yêu thương con người, đặc biệt đối với những kiếp người bất hạnh, khổ đau.


18 tháng 12 2025

Câu 1.

-Phương thức biểu đạt chính là: Biểu cảm

Câu 2.

-Các kiếp người xuất hiện:

- Người lính: Đi lính xa nhà, bỏ mạng nơi chiến trận.

- Người phụ nữ: Kiếp "buôn nguyệt bán hoa" cô độc, không nơi nương tựa khi về già

- Người hành khất: Nghèo khổ, lang thang, chết gục nơi đường sá

Câu 3.

- Hiệu quả của việc sử dụng từ láy

+Hai câu thơ: "Lập lòe ngọn lửa ma trơi", "tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương"

+ tác dụng: làm tăng sức gợi hình, gợi cảm, tạo nhịp điệu cho câu thơ, làm cho câu thơ trở nên sinh động và hấp dẫn. Từ đó, tái hiện sinh động không gian cõi âm thê lương, lạnh lẽo , đồng thời lột tả sâu sắc nỗi oan khuất, bi kịch của những linh hồn bơ vơ và tấm lòng xót thương vô hạn của tác giả

Câu 4. 

- Chủ đề: Tiếng khóc thương cho những linh hồn bơ vơ, những kiếp người nhỏ bé, bất hạnh bị gạt ra lề xã hội, không ai thờ cúng

-Cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng nhân đạo sâu sắc. Đó là lòng trắc ẩn, sự đồng cảm bao dung và tiếng lòng đau đớn của Nguyễn Du trước nỗi đau khổ chung của kiếp người

Câu 5:

Từ cảm hứng nhân đạo trong đoạn trích, ta thấy truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam vốn là một dòng chảy bền bỉ và cao đẹp. Đó không chỉ là sự thương xót giữa người với người khi còn sống, mà còn là lòng bao dung, sự an ủi dành cho cả những linh hồn đã khuất. Truyền thống "thương người như thể thương thân" giúp chúng ta biết trân trọng giá trị con người, biết thấu hiểu và sẻ chia với những mảnh đời bất hạnh, không phân biệt địa vị hay hoàn cảnh. Trong xã hội hiện đại, tinh thần ấy vẫn luôn tỏa sáng qua các hoạt động thiện nguyện và sự đùm bọc lẫn nhau trong hoạn nạn, khẳng định một đạo lý sống nhân văn và đầy tình nghĩa của cha ông ta



18 tháng 12 2025



_Câu 1:_ Phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích là *biểu cảm* (tả cảnh, tả tình) và *trữ tình*. Tác giả sử dụng nhiều hình ảnh, ngôn ngữ giàu cảm xúc để thể hiện sự thương xót với những kiếp người bất hạnh.


_Câu 2:_ Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích:

- Kẻ mắc vào khóa lính (bỏ nhà đi lính)

- Kẻ lỡ làng một kiếp (buôn nguyệt bán hoa)

- Đàn bà (phận khổ)

- Kẻ nằm cầu gối đất (hành khất)


_Câu 3:_ Từ láy "lập lòe", "văng vẳng":

- Tạo âm hưởng bi thương, não nề

- Gợi hình ảnh mờ ảo, tiếng kêu than vang vọng -> Tăng cảm giác đau xót, thương cảm với những oan hồn


_Câu 4:_

- *Chủ đề:* Thương xót những kiếp người bất hạnh, khổ đau trong xã hội

- *Cảm hứng:* Nhân đạo, thương cảm với những người khổ


_Câu 5:_

Truyền thống nhân đạo của dân tộc ta thể hiện qua lòng thương người, cảm thông với những khổ đau. "Đói cho sạch, rách cho thơm", "Lá lành đùm lá rách", "Thương người như thể thương thân" là những giá trị nhân văn sâu sắc. Dân tộc ta luôn đề cao sự cảm thông, giúp đỡ người gặp khó khăn.



18 tháng 12 2025

câu 1:

biểu cảm

Câu 2.

Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích gồm:


  • Người lính trận chết nơi chiến trường.
  • Người phụ nữ lỡ làng, buôn nguyệt bán hoa.
  • Người đàn bà khổ đau, sống cả đời phiền não.
  • Người ăn xin, hành khất, chết vùi nơi đầu đường xó chợ.

câu 3

-biện pháp tu từ láy “lập loè” “văng vẳng”

-tác dụng: làm cho câu thơ có nhịp điệu, tăng sức gợi hình.Gợi tả không gian mờ ảo,u tối,lạnh lẽo của cói âm. Âm thanh và hình ảnh mơ hồ làm tăng cảm giác thê lương, rợn ngợp.Góp phần thể hiện nỗi oan khuất, đau thương của những linh hồn không nơi nương tựa, khơi dậy lòng xót thương nơi người đọc

Câu 4.


  • Chủ đề: Cảm thương sâu sắc cho những kiếp người bất hạnh, chết oan khuất trong xã hội cũ.
  • Cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng nhân đạo, xuất phát từ tấm lòng yêu thương con người của Nguyễn Du.

câu 5:

Câu 5.

Đoạn trích thể hiện rõ truyền thống nhân đạo sâu sắc của dân tộc ta: luôn biết cảm thông, sẻ chia với những số phận đau khổ. Dù sống hay đã khuất, con người vẫn được nhìn nhận bằng sự trân trọng và yêu thương. Từ xưa đến nay, dân tộc Việt Nam luôn đề cao tình nghĩa, “thương người như thể thương thân”. Chính truyền thống ấy đã tạo nên sức mạnh tinh thần bền bỉ, giúp con người biết sống nhân ái, bao dung và hướng thiện hơn tro







18 tháng 12 2025

câu 1

Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích: biểu cảm tư sự miêuu tả

câu 2

Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích:


  • Người chết trận, bỏ mạng nơi chiến trường.
  • Kẻ lỡ làng, chết trẻ, tình duyên dang dở.
  • Người phụ nữ bất hạnh, cả đời chịu nhiều đau khổ.
  • Người ăn xin, lang thang, chết nơi đầu đường xó chợ.


Câu 3:

Việc sử dụng từ láy “lập lòe”, “văng vẳng” trong hai câu thơ đã mang lại hiệu quả nghệ thuật rõ nét. Trước hết, các từ láy này gợi lên không gian mờ ảo, lạnh lẽo, rùng rợn của cõi âm, làm hiện lên cảnh ngọn lửa ma trơi và tiếng oan khuất trong đêm tối

nhấn mạnh nỗi đau thương, oan khuất kéo dài và day dứt của những linh hồn bất hạnh, qua đó thể hiện sâu sắc tấm lòng xót thương, nhân đạo của Nguyễn Du đối với thập loại chúng sinh.

Câu 4:

Đoạn trích thể hiện chủ đề thương xót những kiếp người bất hạnh trong xã hội cũ, những con người chết trong đau khổ, cô độc và bị lãng quên. Qua đó, cảm hứng chủ đạo của đoạn trích là cảm hứng nhân đạo sâu sắc, thể hiện tấm lòng cảm thông, xót xa và tình thương bao la của Nguyễn Du đối với thập loại chúng sinh, khẳng định giá trị nhân văn bền vững của tác phẩm.

Câu 5:

Lòng nhân đạo là một truyền thống tốt đẹp, bền vững của dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay. Từ cảm hứng chủ đạo của đoạn trích Văn tế thập loại chúng sinh, ta càng thấm thía tinh thần yêu thương con người, nhất là những số phận bất hạnh, khổ đau. Truyền thống ấy được thể hiện qua sự cảm thông, sẻ chia và sẵn sàng giúp đỡ người khác trong hoạn nạn. Ngày nay, người trẻ cần tiếp nối giá trị nhân văn đó bằng những hành động cụ thể, biết sống nhân ái, trách nhiệm và giàu tình ng



18 tháng 12 2025

Câu 1.

Đoạn trích sử dụng phương thức biểu đạt chính là biểu cảm, kết hợp với tự sự , miêu tả và nghị luận trữ tình

Câu 2.

Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích:Người lính bị bắt đi lính, chết nơi chiến trận.Những nạn nhân chiến tranh chết oan uổng.Người phụ nữ lỡ làng, buôn nguyệt bán hoa.Người đàn bà chịu nhiều đau khổ, chết trong cô độc.Người hành khất, sống nhờ người đời, chết vùi nơi đường sá.

Câu 3. Từ láy “lập lòe” gợi ánh lửa lúc tỏ lúc mờ, tạo cảm giác rờn rợn, hoang lạnh của thế giới âm linh.Từ láy “văng vẳng” gợi âm thanh xa xôi, day dứt, như tiếng kêu oan không dứt.→ Hai từ láy làm tăng giá trị biểu cảm, khắc sâu nỗi đau thương, thê lương của những linh hồn bất hạnh.

Câu 4.Chủ đề: Thương xót, cảm thông sâu sắc cho những kiếp người bất hạnh, chết oan khuất trong xã hội cũ.Cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng nhân đạo, chan chứa lòng từ bi, thương người của Nguyễn Du.

Câu 5.Từ cảm hứng nhân đạo của đoạn trích, có thể thấy truyền thống dân tộc ta luôn đề cao tình thương và lòng nhân ái. Người Việt biết xót xa cho nỗi đau của đồng loại, dù sống hay đã khuất. Chính tinh thần “thương người như thể thương thân” đã tạo nên sức mạnh đạo đức bền vững của dân tộc. Ngày nay, truyền thống ấy vẫn cần được gìn giữ và lan tỏa bằng những hành động sẻ chia thiết thực trong cuộc sống.

18 tháng 12 2025

Câu 1.

Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích:

  • Biểu cảm (phương thức chính): bộc lộ niềm xót thương, đau đớn trước số phận bi thảm của con người.
  • Tự sự: kể lại những cảnh đời, những kiếp người bất hạnh.
  • Miêu tả: khắc họa cảnh chết chóc, oan khuất, thê lương.

Câu 2.

Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích:

  • Kẻ mắc vào vòng khóa lính, bỏ nhà đi lính.
  • Người chết trận, phơi thây nơi chiến địa.
  • Người lỡ làng một kiếp, tuổi xuân tàn lụi.
  • Người đàn bà bất hạnh, sống một đời phiền não.
  • Kẻ ăn mày, hành khất, sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan.

→ Đây đều là những kiếp người nhỏ bé, đau khổ, bị xã hội và số phận vùi dập

Câu 3:

-Từ láy:’’lập loè’’,’’vẳng vẳng’’

-Hiệu quả của từ láy trong hai dòng thơ: tăng sức gợi hình gợi cảm, sinh động hấp dẫn , làm nổi bật bài thơ , bộc lộ được tấm lòng xót thương của tác giả , giúp người đọc cảm nhận được rõ hơn

-Các từ láy “lập lòe”, “vẳng vẳng” nhấn mạnh không gian u tối, thê lương, làm nổi bật nỗi oan khuất, đau thương của các kiếp người, qua đó thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc của Nguyễn Du.

Câu 4:

Đoạn trích thể hiện chủ đề thương xót sâu sắc đối với những kiếp người bất hạnh, oan khuất trong xã hội cũ. Qua đó, tác giả bộc lộ cảm hứng nhân đạo thấm thía, luôn hướng về con người, đặc biệt là những thân phận nhỏ bé. Nguyễn Du không phân biệt giàu nghèo, sang hèn mà dành cho tất cả tấm lòng cảm thông chân thành. Điều này làm nổi bật giá trị nhân văn bền vững của tác phẩm.

Câu 5:

Từ đoạn trích, có thể thấy truyền thống nhân đạo là một giá trị cao đẹp của dân tộc Việt Nam. Con người Việt luôn biết cảm thông, yêu thương và sẻ chia với những số phận bất hạnh. Tấm lòng xót thương của Nguyễn Du thể hiện rõ tinh thần ấy trong văn học. Mỗi người hôm nay cần trân trọng và tiếp nối truyền thống nhân ái đó trong cuộc sống.


18 tháng 12 2025


Câu 1.

- Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm.

Câu 2.

Những kiếp người được nhắc tới trong đoạn trích gồm:

  1. Người lính: mắc vào khóa lính, chịu cảnh chiến tranh, bom đạn.
  2. Người dân trong chiến tranh: buổi chiến trận mang người như rác, chết chóc, oan khuất.
  3. Người phụ nữ lỡ làng: lỡ một kiếp, tuổi xuân buôn nguyệt bán hoa.
  4. Người mẹ / người đàn bà nghèo khổ: sống một đời phiền não, đau đớn vì số phận.
  5. Kẻ hành khất, người nghèo khổ: nằm cầu gối đất, sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan.

-> Tất cả đều là những con người nhỏ bé, bất hạnh trong xã hội cũ.

Câu 3.

Hiệu quả:

- Các từ láy “lập lòe”, “vẳng vẳng” gợi:
+/ Âm thanh mờ ảo, lúc gần lúc xa

+/ Không gian u ám, lạnh lẽo, rờn rợ

- Làm nổi bật:
+/ Nỗi oan khuất của con người

+/ Không khí tang thương, thê lương của chiến tranh và xã hội

+/ Tăng giá trị biểu cảm, khơi dậy sự xót thương, ám ảnh trong lòng người đọc.

Câu 4.
Đoạn trích phản ánh những số phận con người bất hạnh trong xã hội cũ, đặc biệt là những người dân nghèo, yếu thế, bị chiến tranh và định kiến xã hội vùi dập. Cảm hứng nhân đạo sâu sắc, thể hiện niềm thương xót, cảm thông trước nỗi đau của con người và sự lên án xã hội tàn nhẫn đã đẩy họ vào bi kịch

Câu 5.

Truyền thống nhân đạo là một giá trị tốt đẹp đã ăn sâu vào tâm hồn dân tộc Việt Nam. Từ xưa đến nay, con người Việt luôn biết yêu thương, cảm thông và sẻ chia với những mảnh đời bất hạnh. Chính tinh thần “thương người như thể thương thân” đã giúp dân tộc ta vượt qua biết bao gian khổ, mất mát. Trong cuộc sống hôm nay, truyền thống ấy vẫn cần được gìn giữ và phát huy. Mỗi người trẻ cần biết sống nhân ái, bao dung và có trách nhiệm với cộng đồng.


18 tháng 12 2025

câu 1

phương thức biểu đạt chíh trong câu là :biểu cảm và tự sự

câu 2

Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích là hàng triệu linh hồn, những kiếp người đau khổ, bất hạnh.

câu 3

  • Lập lòe": Gợi hình ảnh ngọn lửa ma trơi mờ nhạt, chập chờn, không ổn định, thể hiện sự yếu ớt, mong manh của những linh hồn. 
  • "Văng vẳng": Gợi âm thanh tiếng oan vọng lại từ xa, nghe không rõ ràng nhưng dai dẳng, ám ảnh, thể hiện nỗi đau đớn, uất ức kéo dài của các linh hồn. 
  • Tác dụng chung: Cả hai từ láy đều góp phần tạo nên không khí u ám, rùng rợn, đồng thời khơi gợi sự thương cảm, xót xa sâu sắc trong lòng người đọc đối với những kiếp người bất hạnh.
18 tháng 12 2025

Câu 1. Đoạn trích sử dụng phương thức biểu đạt chính là biểu cảm, kết hợp với tự sự , miêu tả và nghị luận trữ tình Câu 2. Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích: Người lính bị bắt đi lính, chết nơi chiến trận. Những nạn nhân chiến tranh chết oan uổng. Người phụ nữ lỡ làng, buôn nguyệt bán hoa. Người đàn bà chịu nhiều đau khổ, chết trong cô độc. Người hành khất, sống nhờ người đời, chết vùi nơi đường sá. Câu 3. Từ láy “lập lòe” gợi ánh lửa lúc tỏ lúc mờ, tạo cảm giác rờn rợn, hoang lạnh của thế giới âm linh. Từ láy “văng vẳng” gợi âm thanh xa xôi, day dứt, như tiếng kêu oan không dứt. → Hai từ láy làm tăng giá trị biểu cảm, khắc sâu nỗi đau thương, thê lương của những linh hồn bất hạnh. Câu 4. Chủ đề: Thương xót, cảm thông sâu sắc cho những kiếp người bất hạnh, chết oan khuất trong xã hội cũ. Cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng nhân đạo, chan chứa lòng từ bi, thương người của Nguyễn Du. Câu 5. Cảm hứng nhân đạo của đoạn trích, có thể thấy truyền thống dân tộc ta luôn đề cao tình thương và lòng nhân ái. Người Việt biết xót xa cho nỗi đau và sự hi sinh xương máu của thế hệ đi trước . Chính tinh thần “Lá lành đùm lá rách .” đã tạo nên sức mạnh đạo đức bền vững của dân tộc. Ngày nay, truyền thống ấy vẫn cần được gìn giữ và lan tỏa bằng những hành động sẻ chia thiết thực trong cuộc sống.

18 tháng 12 2025


Câu 1

phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích

Biểu cảm (chủ yếu): bộc lộ niềm thương xót, đau đớn trước số phận con người làm nổi bật giá trị nhân đạo của tác phẩm.

Câu 2.

Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích:

Người lính chết trận.Người làm quan phải gánh việc triều đình.Người dân nghèo đói, lam lũ.Người phụ nữ lỡ làng, bất hạnh.Người già cô độc, không nơi nương tựa.Những con người chết oan, chết đói, chết vì chiến tranh.



Tất cả đều là những kiếp người đau khổ, bất hạnh trong xã hội cũ.

Câu 3.

Hiệu quả của việc sử dụng từ láy

Từ láy “lập lòe” gợi ánh lửa yếu ớt, chập chờn tạo không khí âm u, lạnh lẽo.

Từ láy “văng vẳng” gợi âm thanh xa xôi, dai dẳng làm nổi bật tiếng oan khuất không dứt.

Các từ láy góp phần:
Tăng sức gợi hình, gợi cảm.Khắc sâu nỗiđau, sự thê lương của những linh hồn bất hạnh.Thể hiện rõ tấm lòng xót thương sâu sắc của tác giả.


câu4

Chủ đề: Thương xót những kiếp người đau khổ, oan khuất trong xã hội phong kiếnCảm hứng chủ đạo: Cảm hứng nhân đạo, xuất phát từ tấm lòng yêu thương con người, đặc biệt là những số phận thấp cổ bé họng.

caua5

Từ cảm hứng nhân đạo của đoạn trích, ta càng thấm thía truyền thống nhân ái tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Từ xưa đến nay, con người Việt luôn biết yêu thương, đùm bọc nhau, nhất là với những số phận bất hạnh. Lòng nhân đạo không chỉ thể hiện trong văn chương mà còn trong cách sống, cách ứng xử hằng ngày. Chính tình thương ấy đã giúp dân tộc ta vượt qua bao khó khăn, mất mát. Mỗi người hôm nay cần biết sống nhân ái hơn để gìn giữ và phát huy truyền thống quý báu đó.


20 tháng 12 2025


Câu 1.



Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích:


  • Biểu cảm (chủ đạo): bộc lộ niềm xót thương sâu sắc đối với những kiếp người bất hạnh.
  • Tự sự: kể lại các cảnh đời, số phận khác nhau của con người.
  • Miêu tả: khắc họa cảnh chết chóc, thê lương (chiến trận, đói khát, lưu lạc…).


Câu 2.

Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích:


  • Người chết trận nơi chiến trường
  • Kẻ làm quan vất vả, lao lực
  • Người dân nghèo đói, chết đường chết chợ
  • Kẻ chết vì chiến tranh, loạn lạc
  • Người lỡ làng, sống cô độc, không nơi nương tựa
  • Những con người lưu lạc, hành khất, chết nơi đất khách


Câu 3.

Hiệu quả của việc sử dụng từ láy trong hai dòng thơ:


Lập lòe ngọn lửa ma trơi

Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!


  • “lập lòe”: gợi ánh sáng yếu ớt, chập chờn → tạo cảm giác ma mị, rùng rợn.
  • “văng vẳng”: gợi âm thanh xa xăm, đứt quãng → làm tăng nỗi ám ảnh, bi thương.



Câu 4.

Chủ đề và cảm hứng chủ đạo của đoạn trích:


  • Chủ đề: Niềm xót thương sâu sắc đối với những kiếp người bất hạnh trong xã hội.
  • Cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng nhân đạo, lòng thương người bao la, vượt qua ranh giới sống – chết.


Câu 5

Từ cảm hứng nhân đạo của đoạn trích, có thể thấy truyền thống nhân đạo của dân tộc ta được thể hiện rất sâu sắc. Người Việt luôn biết yêu thương, đùm bọc những số phận bất hạnh trong cuộc sống. Nguyễn Du đã thay tiếng nói cho những con người khổ đau, bị lãng quên, thể hiện tinh thần “thương người như thể thương thân”. Truyền thống ấy không chỉ là giá trị văn học mà còn là nền tảng đạo đức của dân tộc. Ngày nay, tinh thần nhân đạo đó vẫn cần được gìn giữ và phát huy trong đời sống hiện đại.





→ Tất cả đều là những kiếp người đau khổ, bất hạnh trong xã hội phong kiến.


21 tháng 12 2025

Câu 1:

Phương thức biểu đạt:Biểu cảm , tự sự , miêu tả .

Câu 2:


-Liệt kê những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích gồm:

+Người mắc vào chốn khóa lính, chết nơi chiến trận.

+Người dân nghèo, chết đói, chết vì bệnh tật.

+Người lỡ làng một kiếp, chết khi tuổi xuân chưa trọn.

+Người đàn bà, chịu nhiều đau đớn, tủi phận.

+Người ăn xin, hành khất, sống lang thang, chết nơi đầu đường xó chợ.

Câu 3:

-Hiệu quả của việc sử dụng từ láy trong hai dòng thơ:

+Các từ láy “lập lòe”, “văng vẳng” có tác dụng gợi hình, gợi âm thanh mờ ảo, ám ảnh.

+Làm nổi bật không khí thê lương, rùng rợn của thế giới linh hồn.

+Tăng sức gợi cảm, gợi cảm ,thể hiện sâu sắc nỗi xót thương của tác giả đối với những kiếp người oan khuất.

Câu 4:

-Chủ đề: Thể hiện niềm thương xót sâu sắc đối với những kiếp người chết thảm, không nơi nương tựa trong xã hội cũ.

+Cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng nhân đạo, xuất phát từ tấm lòng từ bi, nhân ái của Nguyễn Du.

Câu 5:

Bài làm:

Từ cảm hứng nhân đạo của đoạn trích, có thể thấy truyền thống nhân ái là một giá trị bền vững của dân tộc ta. Người Việt Nam luôn biết yêu thương, cảm thông và sẻ chia với những số phận bất hạnh trong cuộc sống. Dù sống trong hoàn cảnh nào, con người vẫn hướng đến lòng từ bi và nghĩa tình. Truyền thống ấy giúp gắn kết cộng đồng, làm nên sức mạnh tinh thần của dân tộc. Ngày nay, mỗi người cần tiếp nối truyền thống ấy bằng những hành động nhân văn, thiết thực.






23 tháng 12 2025

Câu 1

Phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích trên là tự sự và biểu cảm

24 tháng 12 2025


Câu 1.


Đoạn trích trên sử dụng các phương thức biểu đạt: biểu cảm

Câu 2.


Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích là: những người oan khuất (thể hiện qua "tiếng oan văng vẳng tối trời"), và có thể hiểu rộng hơn là những người nghèo khổ, bất hạnh trong xã hội đương thời.Câu 3.


Việc sử dụng từ láy trong hai dòng thơ "Lập lòe ngọn lửa ma trơi/ Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!" có hiệu quả đặc biệt:"Lập lòe": Gợi hình ảnh ngọn lửa ma trơi chập chờn, lúc ẩn lúc hiện, tạo cảm giác rùng rợn, huyền bí, đồng thời gợi sự mong manh, yếu ớt của những kiếp người."Văng vẳng": Diễn tả âm thanh tiếng oan vọng lại từ xa xăm, không rõ ràng nhưng dai dẳng, ám ảnh, gợi sự đau khổ, uất ức kéo dài.Kết hợp hai từ láy này, đoạn thơ không chỉ tái hiện một khung cảnh u ám, mà còn tăng cường khả năng gợi cảm, thể hiện sâu sắc nỗi xót thương của tác giả đối với những số phận bất hạnh.Câu 4.


Chủ đề của đoạn trích là sự thương cảm, xót xa đối với những kiếp người oan trái, bất hạnh trong xã hội. Cảm hứng chủ đạo là cảm hứng nhân đạo, thể hiện lòng yêu thương, trân trọng con người, đặc biệt là những người yếu thế, chịu nhiều đau khổ.Câu 5.


Từ cảm hứng chủ đạo của đoạn trích, ta thấy truyền thống nhân đạo của dân tộc ta luôn đề cao lòng yêu thương, sự sẻ chia đối với những người gặp khó khăn, bất hạnh. Truyền thống này thể hiện qua sự đồng cảm, xót thương của Nguyễn Du đối với những kiếp người trong "Truyện Kiều", và nó vẫn tiếp tục được kế thừa, phát huy trong xã hội hiện đại, khi chúng ta luôn hướng đến những giá trị tốt đẹp, nhân văn, và sẵn sàng giúp đỡ những người cần giúp đỡ.

24 tháng 12 2025

câu 1 : miêu tả và biểu cảm

Câu 2: Người lính: Những người phải bỏ nhà đi lính, chịu cảnh gian khổ "nước khe cơm vắt" và hy sinh nơi chiến trận.

Người kỹ nữ: Những người phụ nữ "buôn nguyệt bán hoa", đánh đổi tuổi trẻ để mưu sinh, về già cô độc, không nơi nương tựa.

Người hành khất: Những người nghèo khổ, lang thang cầu bất cầu bơ, sống nhờ lòng thương hại và chết bên đường

Câu 3. Hiệu quả của việc sử dụng từ láy:

Lập lòe: Gợi tả hình ảnh ánh sáng yếu ớt, lúc ẩn lúc hiện, tạo nên không gian rùng rợn, thê lương của bãi chiến trường đầy âm khí.

Văng vẳng: Gợi âm thanh mơ hồ nhưng dai dẳng, xoáy sâu vào tâm trí, thể hiện nỗi đau đớn, oan ức không được giải tỏa của những linh hồn tử sĩ.

Hiệu quả chung: Tăng tính hình tượng, tạo không khí u ám, gợi sự đồng cảm, xót thương sâu sắc của tác giả trước những cái chết bi thảm.

Câu 4. Chủ đề và cảm hứng chủ đạo:

Chủ đề: Tiếng khóc thương cho những kiếp người nhỏ bé, bất hạnh, có cái chết đau đớn, cô độc trong xã hội cũ.

Cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng nhân đạo và lòng trắc ẩn sâu sắc. Đó là sự thấu cảm, đau xót của Nguyễn Du trước nỗi đau nhân thế và khát vọng an ủi những linh hồn bơ vơ.

Câu 5. Suy nghĩ về truyền thống nhân đạo của dân tộc:

Truyền thống nhân đạo là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt lịch sử dân tộc Việt Nam, được thể hiện rõ nét qua tinh thần "thương người như thể thương thân". Từ lòng trắc ẩn của Nguyễn Du trong văn chương đến những hành động nghĩa cử trong đời thực (như các chiến dịch thiện nguyện, cứu trợ thiên tai hiện nay), nhân đạo không chỉ là sự sẻ chia vật chất mà còn là sự thấu hiểu, tôn trọng phẩm giá con người. Trong bối cảnh hiện đại, truyền thống này chính là sức mạnh gắn kết cộng đồng, giúp chúng ta vượt qua những biến động và giữ vững bản sắc văn hóa tốt đẹp của cha ông.





24 tháng 12 2025

Câu 1

Phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích trên là tự sự, miêu tả, biểu cảm .

Câu 2

Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích là những kiếp người đau khổ, bất hạnh.

Câu 3

Các từ láy sử dụng trong đoạn trích là “lập lòe ”; “ Văng vẳng ”.

Hiệu quả sử dụng từ láy là tăng sức gợi hình gợi cảm của dòng thơ và nhấn mạnh nỗi đau thương rùng rợn.

Câu 4

Chủ đề là nỗi đau của những kiếp người bất hạnh trong xã hội cũ , cảm hứng chủ đạo là lòng thương người mênh mông sâu sắc của tác giả .

Câu 5

Từ cảm hứng chủ đạo của đoạn trích ,có thể thấy truyền thống nhân đạo của dân tộc ta là sự đồng cảm sẻ chia sâu sắc với nỗi khổ đau của đồng loại đặc biệt là những người yếu thế bất hạnh . Đây là một giá trị văn hoá cốt lõi thể hiện tình thần “ thương người như thể thương thân ”. Trong xã hội hiện nay truyền thống này ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết ,giúp gắn kết cộng đồng ,xây dựng một xã hội công bằng văn minh và giàu tình thương . Mỗi người cần ý thức trách nhiệm gìn giữ và phát huy truyền thống này thông qua những hành động cụ thể như giúp đỡ người nghèo, ủng hộ các hoạt động từ thiện, và đấu tranh chống lại sự bất công .


24 tháng 12 2025

Câu 1

-các phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích là tự sự và nghị luận

Câu 2

-Những kiếp người trong đoạn trích bao gồm hàng triệu người chết vì dịch bệnh và những linh hồn oan khuất

Câu 3

- sử dụng từ láy "lập lòe" và "văn vẳng" có hiệu quả trong việc tăng sức gợi hình gợi cảm cho câu văn

-Mô tả hình ảnh ngọn mờ ảo chập chờn, không ổn định, tạo cảm giác rùng rợn

-Diễn tả âm thanh tiếng oan vọng lại từ xa, mơ hồ, day dứt, làm nổi bật sự ai.

Câu 4

Chủ đề của đoạn trích là sự thương cảm đối với những số phận bi thảm, chết chóc do dịch bệnh, cảm hứng chủ đạo là tinh thần nhân đạo sâu sắc, xót thương cho những kiếp người bất hạnh.

Câu 5

Truyền thống nhân đạo của dân tộc ta là một giá trị văn hóa cao đẹp và bền vững. Nó thể hiện qua lòng yêu thương sự đồng cảm sâu sắc trước những đau khổ mất mát của người đồng bào. Cảm hứng chủ đạo từ đoạn trích càng khẳng định rõ nét tinh thần nhắc nhở về việc trân trọng sinh mạng con người và luôn sẵn sàng cứu mạng giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn. Cần được gìn giữ và phát huy mạnh mẽ trong mọi hoàn cảnh đặc biệt là trong thiên tai, dịch bệnh, để xây dựng một xã hội đoàn kết .

24 tháng 12 2025

Câu 1

24 tháng 12 2025

câu 5:

Từ cảm hứng chủ đạo của đoạn trích, có thể thấy truyền thống nhân đạo là một giá trị cốt lõi, lâu đời của dân tộc Việt Nam. Đó là tình yêu thương, sự đồng cảm sâu sắc giữa con người với con người, đặc biệt là với những số phận kém may mắn, bất hạnh. Truyền thống này không chỉ thể hiện qua sự sẻ chia, giúp đỡ trong cuộc sống hàng ngày mà còn được gửi gắm tinh tế, sâu sắc qua các tác phẩm văn học, nghệ thuật. Nó nhắc nhở mỗi người về trách nhiệm quan tâm, bảo vệ những người yếu thế, đấu tranh cho công bằng xã hội và giữ gìn những giá trị đạo đức tốt đẹp.


24 tháng 12 2025

Câu 1:

Tự sự

Câu 2:

Người lính chết trận

Người phụ nữ "buôn phấn bán hoa"

Kẻ ăn mày hành khất

Câu 3:

Từ láy "lập lòe" gợi hình ảnh ma mị, âm u và "văng vắng" gợi âm thanh mơ hồ, day dứt kết hợp tạo không gian tang thương, nhấn mạnh nỗi oan khuất và khơi gợi lòng thương cảm.

Câu 4:

Chủ đề: Số phận đau khổ của những kiếp người bất hạnh trong xã hội.

Cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng nhân đạo xót thương, đồng cảm sâu sắc.

Câu 5:

Từ cảm hứng nhân đạo của tác phẩm, có thể thấy truyền thống nhân đạo là một mạch nguồn sâu xa trong văn hóa Việt.Đó là tình thương người, sự đồng cảm với nỗi đau của những kiếp người nhỏ bé, cùng khổ. Truyền thống ấy không chỉ thể hiện trong văn chương mà còn trong lối sống “thương người như thể thương thân", tinh thần tương thân tương ái, là nền tảng đạo lý quý báu của dân tộc.

24 tháng 12 2025

Câu 1.

Đoạn trích sử dụng các phương thức biểu đạt chính: biểu cảm (bày tỏ niềm thương xót, cảm thông sâu sắc), tự sự (kể về các số phận, kiếp người), kết hợp miêu tả (khắc họa cảnh chiến trận, thân phận lầm than).


Câu 2.

Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích gồm:


  • Người lính ra trận, chết vì chiến tranh.
  • Người phụ nữ lỡ làng, buôn nguyệt bán hoa.
  • Người ăn xin, hành khất chết nơi đầu đường xó chợ.



Câu 3.

Từ láy “lập lòe” gợi ánh sáng yếu ớt, chập chờn của lửa ma trơi, tạo cảm giác u ám, rờn rợn.

Từ láy “văng vẳng” diễn tả âm thanh mơ hồ, dai dẳng, làm nổi bật nỗi oan khuất không nguôi.

→ Hai từ láy góp phần tăng sức gợi tả, gợi cảm, thể hiện rõ nỗi đau thương, xót xa cho các linh hồn bất hạnh.


Câu 4.


  • Chủ đề: Thương xót, cảm thông sâu sắc cho những số phận con người khổ đau, bị lãng quên trong xã hội.
  • Cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng nhân đạo, xuất phát từ tấm lòng yêu thương con người của Nguyễn Du.



Câu 5.

Từ cảm hứng nhân đạo của đoạn trích, có thể thấy truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta là luôn biết yêu thương, đùm bọc con người. Dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, người Việt vẫn dành sự cảm thông cho những phận đời bất hạnh. Truyền thống ấy thể hiện tinh thần “lá lành đùm lá rách”, coi trọng nghĩa tình. Chính lòng nhân ái đã giúp dân tộc ta vượt qua nhiều đau thương, mất mát. Ngày nay, truyền thống ấy vẫn cần được gìn giữ và phát huy trong cuộc sống hiện đại.


24 tháng 12 2025

c1 tư sự

24 tháng 12 2025

Câu 1: Tự sự và nghị luận

Câu 2 : Các kiếp người bất hạnh, khổ đau trong xã hội cũ.

Câu 3 tăng sức gợi hình gợi cảm cho câu thơ

Nhấn mạnh sự thê lương, bi thương của khung cảnh và số phận con người

Câu 4 Số phận bi thảm của những con người nhỏ bé, bất hạnh trong xã hội cũ và cảm thông sâu sắc

Câu 5 : Truyền thống nhân đạo là một trong những giá trị cốt lõi của dân tộc Việt Nam. Nó thể hiện qua lòng yêu thương, sự đồng cảm và sẻ chia đối với những người bất hạnh, khổ đau. Truyền thống này nhắc nhở mỗi người cần biết sống vị tha, bao dung, sẵn sàng giúp đỡ người khác vượt qua khó khăn. Việc giữ gìn và phát huy truyền thống nhân đạo càng trở nên quan trọng, góp phần xây dựng một xã hội đoàn kết, văn minh và giàu tình người.

24 tháng 12 2025

Câu 1

Biểu cảm

Câu 3

Biện pháp tu từ :Từ láy "văng vẳng'

Tác dụng :- Nhấn mạnh sự thảm khốc của dịch bệnh đã gây ra

-Giúp cho câu văn trở nên sinh động hấp dẫn hơn

Câu 2

Những người mắc vào khoá lính , những người phụ nữ lỡ làng một kiếp, những người hành khất

Câu 4

Nỗi thương xót của Nguyễn Du về một kiếp người bất hạnh cô đơn cõi âm và lời kêu gọi lòng từ bi nhân đạo đối với những số phận bi thảm

Câu 5

Truyền thống nhân đạo của dân tộc ta là một dòng chảy xuyên suốt lịch sử ,thể hiện qua lòng yêu thương con người,sự chia sẻ đùm bọc lẫn nhau trong khoá khăn hoạn nạn.Đó là tình thần lá lành đùm lá rác , thương người như thể thương thân,luôn đặt con người là vị trí trung tâm của mọi giá trị .Mỗi người cần ý thức được trách nhiệm của mình trong việc giữ gìn và phát huy những giá trị tốt đẹp

24 tháng 12 2025

Câu 1

Phương thức: biểu đạt

24 tháng 12 2025

câu 1: phương thức biểu đạt chính là : biểu cảm

câu 2: những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích

- Kiều cũng là một kiếp người đau khổ

câu 3:

- Từ láy được sử dụng ở 2 câu thơ là : lập lèo , văng vẳng

- Hậu quả:

+ Tăng sức gợi hình , gợi cảm

+ Thể hiện sâu sắc tâm trạng của nhân vật trữ tình và bức tranh xã hội đầy bất công

câu 4: chủ đề và cảm hứng chủ đạo

- Chủ đ chính của đoạn trích là số phận bi thảm của co người trong xã hội phong kiến đầy rẫy bất công. Cảm hứng chủ đạo là cảm hứng nhân đạo thể hiện sự xót thương, đồng cảm sâu sắc với những người đau khổ

câu 5:

Truyền kiều thể hiện truyền thống nhân đạo sâu sắc của dân tộc ta , đó là sự yêu thương, trân trọng con người, đặc biệt là những yếu thế , bất hạnh. Tinh thần này được thể hiện qua sự đồng cảm, thương xót của Nguyễn Du đối với số phận của Kiều và những người dân nghèo khổ. Truyện Kiều không chỉ là tiếng khóc cho số phận , cá nhân mà còn là tiếng nói tố cáo xã hội bất công đồng thời khẳng định giá trị nhân văn cao đẹp của dân tộc

    Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm) Mặc dù chúng ta đang có một cuộc sống đầy đam mê và có những mục tiêu rõ ràng để phấn đấu, nhưng chúng ta hẳn cũng khó lòng tránh được có lúc lâm vào nghịch cảnh. Liệu chúng ta sẽ đứng dậy sau cơn phong ba đó, hay hoàn toàn bị gục ngã. Điều này phụ thuộc vào cách chúng ta đối đầu với chúng. Trước những thác ghềnh, chông gai trên đường khiến...
Đọc tiếp

 

 

Phn I. Đọc hiu (3,0 đim)

Mặc dù chúng ta đang có một cuộc sống đầy đam mê và có những mục tiêu rõ ràng để phấn đấu, nhưng chúng ta hẳn cũng khó lòng tránh được có lúc lâm vào nghịch cảnh. Liệu chúng ta sẽ đứng dậy sau cơn phong ba đó, hay hoàn toàn bị gục ngã. Điều này phụ thuộc vào cách chúng ta đối đầu với chúng. Trước những thác ghềnh, chông gai trên đường khiến chúng ta cảm thấy nản lòng và hoài nghi, thì niềm tin mãnh liệt vào bản thân là điều cần thiết hơn bao giờ hết để chúng ta vượt qua những trắc trở đó.

Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ đơn giản là học được từ người khác. Tìm hiểu xem những người đi trước đã đối phó với khó khăn tương tự như thế nào giúp chúng ta tìm ra giải pháp cho mình. Những tấm gương về những con người đầy nghị lực và giàu lòng quả cảm, có khả năng trụ vững sau bao cơn giông tố của cuốc đời luôn là tâm điểm cho chúng ta noi theo.

Đó là nghị lực của Walt Disney trong việc thực hiện ước mơ của mình sau năm lần phá sản. Bất chấp số phận, Helen Keller đã không cam chịu để người đời thương hại. Ngược lại bà đã dũng cảm vượt qua nghịch cảnh, trở thành tấm gương sáng cho hàng triệu người noi theo…

Niềm tin vào bản thân là nội lực thúc đẩy thái độ tích cực, dẫn dắt chúng ta đạt được mục tiêu của mình. Thành công không bao giờ đến với những ai yếu đuối và có thái độ buông xuôi.

          ( Điều kì diệu của thái độ sống, Mac Anderson, NxbTổng hợp TP.Hồ Chí Minh năm 2008, tr14)

Đọc văn bản trên và thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Văn bản tập trung bàn về vấn đề gì?

Câu 2. Chỉ ra và nêu tác dụng biện pháp tu từ trong câu:"Trước những thác ghềnh, chông gai trên đường khiến chúng ta cảm thấy nản lòng và hoài nghi, thì niềm tin mãnh liệt vào bản thân là điều cần thiết hơn bao giờ hết để chúng ta vượt qua những trắc trở đó."

Câu 3. Theo anh/ chị, việc đưa ra dẫn chứng hai nhân vật Walt Disney Helen Keller có tác dụng gì?

Câu 4. Anh chị có đồng tình với quan điểm: Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ đơn giản là học được từ người khác hay không? Vì sao?

 Phn II. Làm văn (7,0 đim)

Câu 1. (2,0 đim)

Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/ chị hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ về sức mạnh nghị lực của con người trong cuộc sống.

41
19 tháng 8 2021

mày đừng so sánh tao với nó\n_vì nó là chó còn tao là người\n_Mày đừng bật cười khi nghe điều đó\n_vì cả mày và nó đều chó như nhau

19 tháng 8 2021

Phần I 

Câu 1:

Văn bản tập trung vào vấn đề nghị luận bàn về niềm tin vào bản thân, nỗ lực phấn đấu không bỏ cuộc để vượt qua những khó khăn, thác ghềnh bằng tự lực để chinh phục thành công.

Câu 2:

Biện pháp ẩn dụ:"thác ghềnh, chông gai trên đường" vì tác giả so sánh những chướng ngại vật trên đường đi hàng ngày của mỗi người cũng giống như những khó khăn, gian nan trên đường đời mỗi người phải trải qua để thành công.

Câu 3:

Tác giả đưa hai dẫn chứng về Walt Disney và Helen Keller là để làm dẫn chứng thuyết phục cho vấn đề cần nghị luận của mình đó là đã có những tấm gương gặp muôn vàn khó khăn trắc trở trong cuộc sống nhưng họ không buông xuôi hay dựa dẫm vào người khác mà biết cách đứng dậy sau vấp ngã và thành công.

Câu 4:

Em đồng ý với quan điểm:"Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ là học từ người khác". Những người đi trước và câu chuyện xoay quanh sự thành bại của họ chính là những bài học quý báu cho người sau. Những con người đi trước và thành công sau 1 quá trình gian nan đó chính là những bằng chứng sống để người đời sau tin tưởng vào mình dù có trải qua bao thác ghềnh, chông gai.

Phần II

Có một câu chuyện ngụ ngôn mà hồi bé chúng ta hay được nghe kể về cuộc đua của  rùa và thỏ, con thỏ nhanh nhẹn nhưng lại tự phụ, xem thường đối thủ,tuy con rùa chậm chạp nhưng lại nỗ lực không ngừng, kết quả ai cũng biết, con rùa đã thắng con thỏ. Xuyên suốt câu truyện Rùa và Thỏ là ý chí của con  rùa, nó  không đầu hàng trước những thất bại. Rõ ràng, con thỏ có năng lực nhưng ý chí lại không tốt bằng con rùa, nó vẫn có thể về đến được vách đích nhưng con rùa vẫn chiến thắng nó,đó cũng là sự biểu trưng cho quyết tâm và ý chí của con rùa . Cũng có người từng nói “ Không phải đời người quá khó khăn, mà là do bạn nỗ lực chưa đủ”. Từ câu chuyện trên và câu nói trên, chúng ta có thể thấy được ý chí đóng 1 vai trò cực kì quan trọng trong mỗi bước tiến đến con đường thành công của mỗi con người.

Sức mạnh, trí tuệ hay thiên phú chỉ góp phần nào cho sự khác biệt giữa những người thành công và những người thất bại, nhưng hơn thế nữa quyết định chủ yếu là ở ý chí. Vậy ý chí hay sự quyết tâm là gì mà nó lại đóng góp không nhỏ vào chính cuộc đời chúng ta? Ý chí, nghị lực là ý thức, tính tự giác, mạnh mẽ, quyết tâm dồn nén sức lực, trí tuệ để đạt được tiêu chí, mục đích. Ý chí cũng là phẩm chất tâm lí đặc trưng của con người, thể hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có nỗ lực khắc phục khó khăn.Ngay từ những điều đơn giản nhất trong cuộc sống, bạn được giao một công việc trong nhiều ngày, nhưng bạn đã cố gắng, tập trung để hoàn thành trước thời hạn và nhận thêm một việc làm mới, từ đó năng suất làm việc, hiệu quả công việc và sự tin tưởng từ người giao việc cũng từ đó tăng theo. Chỉ từ một sự quyết tâm nhỏ ấy thôi mà cũng kéo theo được vô cùng nhiều giá trị và lợi ích không chỉ đối với bản than mà còn đối với những người xung quanh chúng ta. Ý chí như thôi thúc bản thân mỗi chúng ta, như tiếp thêm cho ta phần nào sức mạnh để ngày càng tới gần hơn mục tiêu đã đề ra. Câu chuyện được minh chứng bởi Thomas Edison – nhà phát minh tài ba của thế kỉ XX, hơn 10.000 lần thất bại để đem được ánh sáng đến với nhân loại, nếu không có ông thì dường như việc bóng đèn xuất hiện với thế giới sẽ bị đẩy lùi đi mười mấy năm, rõ ràng, chính ý chí quyết tâm của Edison đã khiến con đường của nền văn minh hiện đại của con người trở nên ngắn lại.

Ý chí giúp chúng ta toàn sức tập trung vào mục tiêu bằng cách ngăn cản các suy nghĩ không liên quan khác xảy đến. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ hoàn thành công việc một cách nhanh chóng và hiểu quả. Chủ tịch Hồ chí đã nói:

“Không có việc gì khó

Chỉ sợ lòng không bền

Đào núi và lấp biển

Quyết chí ắt làm nên”

Câu nói này càng như khẳng định vai trò quan trọng và to lớn của sức mạnh ý chỉ và quyết tâm, đáng sợ nhất không phải là những người có tài năng thiên bẩm mà là những người có nghị lực vươn lên. Ý chí rèn luyện bản thân sự quyết đoán và nhạy bén trong mọi vấn đề cuộc sống từ đó thúc đẩy hành trình của bản thân trở nên tinh gọn. Nghị lực là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với bản thân mỗi người, tuy nhiên không phải ai cũng nhận ra được giá trị cốt lõi của nó. Trái ngược với những người có ý chí là những người thờ ơ, không đủ quyết tâm, nhụt trí trước những thử thách cuộc sống. Giới trẻ bây giờ không ít người chưa làm đã vội bỏ cuộc, thấy khó khăn đã nản chí, gặp thất bại thì hủy hoại và sống bất cần đời. Những người như thế thật đáng chê trách. Là học sinh, chúng ta cần khẳng định tư cách, ý chí, nghị lực vượt qua những khó khăn thử thách .Tài năng của con người được tạo bởi nhiều yếu tố. Trong đó yếu tố tự rèn là yếu tố quan trọng nhất để đi đến thành công. Để thấy mình không thấp hơn người khác, bản thân phải có sự lao động chăm chỉ, cần cù, không chùn bước trước gian nguy, phải biết tự tin vào chính bản thân trên bước đường đời.

           Nhìn chung, một lần nữa cần phải khẳng định lại giá trị của câu nói “ Ý chí tốt làm con đường ngắn lại”. Ý chí mang đến thành công và giúp ta chinh phục mọi khó khăn trên con đường gập ghềnh phía trước. Những con người thành công và nổi tiếng nhất đều là những người có ý chí rất mạnh mẽ.Vậy nên việc rèn luyện và giữ vững một ý chí kiên cường luôn là điều tất yếu trên chặng đường của cuộc đời

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng...
Đọc tiếp

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)

“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng chất dinh dưỡng để lớn lên và thay đổi. Song, tất cả sự thay đổi đó lặng lẽ tới mức, với tôi, cây sồi già trong sân trông vẫn như khi tôi nhìn thấy nó thuở ấu thơ.” (James Lovelock) (1)

Từ văn bản trên, anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận về chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng.

Câu 2. Nghị luận văn học (12,0 điểm)

Trong diễn văn đọc tại lễ bế mạc các hoạt động vinh danh giải Nobel ngày 10 tháng 12 năm 1957 ở Stockholm, A. Camus cho rằng: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”(2)

Bằng trải nghiệm văn học, anh/ chị hãy bàn luận ý kiến trên.

1
1. Lắng nghe sự thinh lặng Answer: Bài văn mẫu về chủ đề lắng nghe sự thinh lặng. Mở bài Trong cuộc sống ồn ào, vội vã, con người thường mải mê chạy theo những thanh âm, những tiếng nói từ bên ngoài mà quên mất đi một điều vô cùng quan trọng: lắng nghe sự thinh lặng. Sự thinh lặng không phải là sự im bặt, trống rỗng, mà là một không gian để tâm hồn nghỉ ngơi, để trí não soi chiếu những suy tư sâu sắc. James Lovelock từng ví Trái Đất như một cái cây tồn tại thầm lặng, trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai, cho thấy sự vận động và biến đổi kỳ diệu diễn ra trong im lặng. Chủ đề "Lắng nghe sự thinh lặng" mời gọi mỗi chúng ta nhìn nhận lại cách sống, cách cảm nhận thế giới và thấu hiểu chính mình. Thân bài 1. Giải thích và ý nghĩa của sự thinh lặng Sự thinh lặng là trạng thái không có tiếng động hoặc âm thanh. Tuy nhiên, trong ngữ cảnh nghị luận xã hội, thinh lặng mang ý nghĩa sâu sắc hơn: đó là sự tĩnh tâm, là khoảng không gian nội tâm để con người suy ngẫm, chiêm nghiệm. Lắng nghe sự thinh lặng là khả năng tạm gác lại những xô bồ, náo nhiệt của cuộc sống, để tâm trí được thanh lọc và tập trung vào những giá trị cốt lõi. 2. Biểu hiện của việc lắng nghe sự thinh lặng Việc lắng nghe sự thinh lặng được thể hiện qua nhiều khía cạnh:
  • Tự vấn bản thân: Trong những khoảnh khắc yên tĩnh, con người có cơ hội nhìn lại hành động, suy nghĩ, sai lầm và cả những ước mơ của mình. Sự thinh lặng giúp ta trung thực hơn với chính mình.
  • Thấu hiểu thế giới xung quanh: Như cái cây của Lovelock, vạn vật trong tự nhiên vận hành trong sự thinh lặng tuyệt đối. Lắng nghe sự thinh lặng giúp ta cảm nhận được nhịp đập của sự sống, sự biến đổi tinh tế của thiên nhiên mà những âm thanh huyên náo thường che lấp.
  • Tăng cường sự tập trung và sáng tạo: Khi không bị phân tán bởi tiếng ồn, trí óc con người hoạt động hiệu quả hơn, ý tưởng mới mẻ dễ dàng nảy sinh.
3. Bàn luận mở rộng Trong xã hội hiện đại, con người ngày càng khó tìm thấy sự thinh lặng. Mạng xã hội, thông tin liên tục, công việc áp lực khiến chúng ta luôn trong trạng thái "bận rộn". Điều này dẫn đến sự căng thẳng, lo âu và mất kết nối với chính mình. Do đó, việc chủ động tìm kiếm và lắng nghe sự thinh lặng là vô cùng cần thiết. Nó là liều thuốc chữa lành tâm hồn, giúp cân bằng cảm xúc và sống chậm lại. Kết bài "Lắng nghe sự thinh lặng" không phải là một hành động thụ động mà là một nghệ thuật sống, một sự chủ động tìm kiếm bình yên trong tâm hồn. Giống như cây sồi già vẫn giữ nguyên dáng vẻ qua bao năm tháng dù có nhiều sự thay đổi lặng lẽ, sự thinh lặng giúp chúng ta giữ vững bản ngã giữa dòng đời vạn biến. Hãy dành cho mình những khoảng lặng cần thiết để thấu hiểu bản thân, yêu thương cuộc sống và cảm nhận thế giới một cách trọn vẹn hơn. 2. Bàn luận về ý kiến của A. Camus Answer: Bài văn mẫu bàn luận về ý kiến của A. Camus về người nghệ sĩ. Mở bài Albert Camus, trong diễn văn nhận giải Nobel năm 1957, đã đưa ra một nhận định sâu sắc về vai trò và sứ mệnh của người nghệ sĩ: "Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi." (2) Ý kiến này khẳng định mối quan hệ biện chứng, không thể tách rời giữa cá nhân người nghệ sĩ, cái đẹp trong nghệ thuật và trách nhiệm với cộng đồng. Bằng trải nghiệm văn học, ta thấy nhận định của Camus là kim chỉ nam cho mọi hoạt động sáng tạo chân chính. Thân bài 1. Mối tương quan giữa người nghệ sĩ và cộng đồng Người nghệ sĩ không tồn tại biệt lập mà luôn trong mối tương quan với xã hội, với "người khác". Cuộc sống, con người là chất liệu vô tận cho sáng tạo. Các tác phẩm văn học lớn đều phản ánh hiện thực, số phận con người, và những vấn đề của thời đại. Ví dụ, Nam Cao với tác phẩm Chí Phèo, đã phơi bày bi kịch của người nông dân bị bần cùng hóa, bị xã hội vùi dập, qua đó thể hiện sự gắn bó sâu sắc với cộng đồng, lên tiếng bênh vực những số phận bất hạnh. 2. Cân bằng giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng "Cái đẹp không thể bỏ qua" là mục tiêu hướng tới của nghệ thuật. Văn chương phải là cái đẹp, là sự tinh tế trong ngôn từ, cấu trúc, hình ảnh. Tuy nhiên, cái đẹp đó không phải là sự phù phiếm, thoát ly thực tế mà phải gắn liền với "cộng đồng không thể tách khỏi". Tác phẩm đạt đến cái đẹp chân chính khi nó vừa mang giá trị thẩm mỹ cao, vừa chứa đựng thông điệp nhân văn sâu sắc, phục vụ con người, thức tỉnh lương tri. 3. Trải nghiệm văn học chứng minh Qua các tác phẩm văn học, ta thấy rõ sự tôi luyện của người nghệ sĩ trong mối tương quan này.
  • Văn học hiện thực phê phán: Các nhà văn như Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Ngô Tất Tố (Tắt đèn) đã sử dụng ngòi bút sắc bén để phơi bày những thói hư tật xấu, sự bất công của xã hội, nhằm thức tỉnh cộng đồng. Cái đẹp trong tác phẩm của họ là cái đẹp của sự thật trần trụi, có sức lay động mạnh mẽ.
  • Văn học cách mạng: Các nhà thơ như Tố Hữu (Việt Bắc) đã gắn thơ ca với sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Thơ của ông vừa giàu tính trữ tình, vừa mang tính chính trị sâu sắc, là tiếng nói chung của cộng đồng trong công cuộc giải phóng dân tộc.
4. Bàn luận mở rộng Nhận định của Camus vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay. Người nghệ sĩ hiện đại cần tránh hai khuynh hướng: hoặc quá chú trọng vào cái tôi cá nhân, cái đẹp thuần túy mà xa rời thực tế cuộc sống; hoặc biến nghệ thuật thành công cụ tuyên truyền khô khan, thiếu tính thẩm mỹ. Con đường chân chính của nghệ thuật là sự dung hòa giữa cái đẹp và trách nhiệm xã hội. Kết bài Tóm lại, ý kiến của Albert Camus là một triết lý sâu sắc về nghệ thuật và người nghệ sĩ. Sứ mệnh của người nghệ sĩ không chỉ là sáng tạo ra cái đẹp mà còn là gắn bó mật thiết với cộng đồng, dùng nghệ thuật để phục vụ con người. Sự tôi luyện bản thân trên "quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi" chính là con đường dẫn đến những tác phẩm văn học vĩ đại, có giá trị vượt thời gian.
Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng...
Đọc tiếp

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)

“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng chất dinh dưỡng để lớn lên và thay đổi. Song, tất cả sự thay đổi đó lặng lẽ tới mức, với tôi, cây sồi già trong sân trông vẫn như khi tôi nhìn thấy nó thuở ấu thơ.” (James Lovelock) (1)

Từ văn bản trên, anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận về chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng.

Câu 2. Nghị luận văn học (12,0 điểm)

Trong diễn văn đọc tại lễ bế mạc các hoạt động vinh danh giải Nobel ngày 10 tháng 12 năm 1957 ở Stockholm, A. Camus cho rằng: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”(2)

Bằng trải nghiệm văn học, anh/ chị hãy bàn luận ý kiến trên.

1
2 tháng 10 2025

Câu 1: Nghị luận xã hội (8 điểm)

Chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng


Bài làm:

Con người thường bị cuốn vào những ồn ào, náo nhiệt của cuộc sống, đến mức quên mất rằng sự thinh lặng cũng có thể nói lên rất nhiều điều quan trọng. Trong đoạn văn của James Lovelock, Trái Đất được ví như một cái cây lặng lẽ tồn tại và phát triển một cách âm thầm. Điều đó khiến ta nhận ra: có những thay đổi lớn lao, những câu chuyện sâu sắc không cần lời nói vẫn đang diễn ra ngay bên cạnh chúng ta, trong sự yên tĩnh và tĩnh lặng.

Lắng nghe sự thinh lặng chính là một cách để ta thấu hiểu, cảm nhận sâu sắc hơn về thế giới xung quanh. Sự thinh lặng không phải là khoảng trống, không phải là sự vắng mặt của âm thanh, mà là một trạng thái tích cực, chứa đựng sự sống động và những thông điệp mà tiếng ồn không thể mang lại. Khi ta biết dừng lại, lắng nghe thinh lặng, ta sẽ nhận ra những vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, sự biến đổi của cuộc sống và cả tiếng nói của chính tâm hồn mình.

Trong cuộc sống hiện đại, con người dễ bị cuốn vào guồng quay công việc, công nghệ, xã hội mà quên mất việc dành thời gian để yên tĩnh suy ngẫm, tĩnh tâm. Việc lắng nghe sự thinh lặng không chỉ giúp ta lấy lại cân bằng tinh thần mà còn giúp ta hiểu rõ hơn về bản thân và những giá trị cuộc sống. Sự thinh lặng là nguồn sức mạnh để ta đối diện với khó khăn, là không gian để nuôi dưỡng trí tuệ và lòng nhân ái.

Thực tế, nhiều bậc vĩ nhân, nhà sáng tạo nghệ thuật, nhà tư tưởng đều trân trọng khoảng lặng để sáng tạo và suy nghĩ sâu sắc. Thiên nhiên cũng dạy chúng ta bài học quý giá về sự kiên nhẫn và phát triển bền vững qua sự thinh lặng của cây cối, đất trời. Lắng nghe sự thinh lặng là học cách quan sát, trân trọng những điều nhỏ bé mà bền vững.

Như vậy, trong cuộc sống bộn bề ngày nay, mỗi người cần biết tôn trọng và dành thời gian lắng nghe sự thinh lặng. Đó là con đường dẫn ta đến sự thấu hiểu, cảm thông và yêu thương. Sự thinh lặng không phải là khoảng cách, mà là kết nối sâu sắc với thế giới và chính bản thân mình.


Kết luận:

Lắng nghe sự thinh lặng là nghệ thuật sống, là cách để ta khám phá những giá trị chân thật và trường tồn. Hãy học cách dừng lại, lắng nghe và cảm nhận, để cuộc sống thêm ý nghĩa và sâu sắc hơn.


Câu 2: Nghị luận văn học (12 điểm)

Bàn luận câu nói của A. Camus:
“Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”


Bài làm:

Albert Camus – nhà văn, triết gia lỗi lạc của thế kỷ XX đã đưa ra một quan điểm sâu sắc về người nghệ sĩ và vị trí của họ trong xã hội. Theo ông, người nghệ sĩ không tồn tại tách biệt mà luôn vận động trong mối quan hệ hai chiều: giữa cá nhân với cái đẹp và giữa cá nhân với cộng đồng.

Thứ nhất, cái đẹp không thể bỏ qua là mục tiêu, là lý tưởng mà người nghệ sĩ theo đuổi. Người nghệ sĩ luôn không ngừng tìm kiếm, sáng tạo ra cái đẹp qua tác phẩm của mình – đó có thể là vẻ đẹp thẩm mỹ, vẻ đẹp tư tưởng hay vẻ đẹp nhân văn. Cái đẹp ấy vượt lên trên sự tầm thường, cái đẹp là nguồn cảm hứng và là tiếng nói riêng của người nghệ sĩ, giúp họ khẳng định giá trị và bản sắc cá nhân.

Tuy nhiên, người nghệ sĩ cũng không thể tách rời cộng đồng – nơi họ sinh sống và làm việc. Cộng đồng là nơi cung cấp chất liệu sáng tạo, là đối tượng truyền tải thông điệp, là nguồn cảm hứng và cũng là nơi tác phẩm được đón nhận. Người nghệ sĩ có trách nhiệm phản ánh, phê phán xã hội, góp phần định hướng những giá trị tích cực, đồng thời thấu hiểu, đồng cảm với cuộc sống con người. Nghệ thuật vì thế luôn mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc.

Mối tương quan liên tục giữa cái đẹp và cộng đồng tạo nên một con đường mà người nghệ sĩ phải đi – đó là quãng đường tôi luyện bản thân không ngừng nghỉ. Họ vừa phải giữ vững lý tưởng sáng tạo, vừa phải lắng nghe, giao tiếp và đồng hành với con người và xã hội. Nếu chỉ theo đuổi cái đẹp mà quên cộng đồng, nghệ thuật sẽ trở nên hời hợt, xa rời thực tế; ngược lại, nếu chỉ chú trọng cộng đồng mà thiếu cái đẹp, nghệ thuật sẽ mất đi giá trị thẩm mỹ và chiều sâu nhân văn.

Thực tế trong văn học Việt Nam và thế giới đã có nhiều nghệ sĩ tiêu biểu sống và sáng tạo theo tinh thần này. Họ luôn hướng tới cái đẹp – cái đẹp của sự chân thực, nhân hậu và tự do; đồng thời luôn giữ mối liên hệ mật thiết với đời sống nhân dân, phản ánh những vấn đề xã hội, con người một cách sâu sắc và thuyết phục.

Như vậy, câu nói của A. Camus đã nhấn mạnh sự cân bằng cần thiết trong đời sống nghệ sĩ, giữa cá nhân và xã hội, giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng. Người nghệ sĩ không chỉ là người sáng tạo mà còn là người đồng hành, người truyền cảm hứng và người bảo vệ những giá trị cao đẹp của nhân loại.


Kết luận:

Người nghệ sĩ thực sự là người tôi luyện trong hành trình kết nối giữa chính mình và cộng đồng, giữa cái đẹp không thể bỏ qua và trách nhiệm đối với xã hội. Chỉ khi đó, nghệ thuật mới phát huy được sức mạnh và giá trị đích thực của nó.

1. Đặt vấn đềSử thi "Đăm Săn" là pho sử thi nổi tiếng của người Ê-đê. Đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" là một trong những trích đoạn tiêu biểu kể lại hành trình chinh phục Nữ Thần Mặt Trời của người anh hùng Đăm Săn. Đồng thời, nó còn phản ánh diện mạo đời sống tinh thần, niềm tin cộng đồng người Ê-đê. Thông qua đoạn trích, không gian sinh hoạt của người...
Đọc tiếp

1. Đặt vấn đề

Sử thi "Đăm Săn" là pho sử thi nổi tiếng của người Ê-đê. Đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" là một trong những trích đoạn tiêu biểu kể lại hành trình chinh phục Nữ Thần Mặt Trời của người anh hùng Đăm Săn. Đồng thời, nó còn phản ánh diện mạo đời sống tinh thần, niềm tin cộng đồng người Ê-đê. Thông qua đoạn trích, không gian sinh hoạt của người Ê-đê được hiện lên rõ nét và trở thành một điểm nhấn thú vị, đáng để khám phá.

2. Giải quyết vấn đề

a. Kiến trúc nhà ở của người Ê-đê trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời"

Trước hết, kiến trúc nhà ở của người Ê-đê trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" gắn liền với hình ảnh nhà sàn dài. Nhà sàn dài là kiến trúc độc đáo và đặc biệt của người Ê-đê ở Tây Nguyên. Đặc trưng của nhà dài Tây Nguyên bao gồm: hình thức của thang, cột sàn và cách bố trí vật dụng trên mặt bằng sinh hoạt. Điều này được miêu tả rất rõ trong đoạn trích ở các chi tiết: "Chồm lên hai lần, chàng leo hết cầu thang. Chàng giậm chân trên sàn sân, hai lần sàn sân làm như vỗ cánh, bảy hàng cột nhà chao qua chao lại từ đông sang tây", "cầu thang trông như cái cầu vồng", "tòa nhà dài dằng dặc", "voi vây chặt sàn sân", "các xà ngang xà dọc đều thếp vàng". Hình ảnh nhà sàn dài dằng dặc, cầu thang, xà ngang xuất hiện nhiều lần và được lặp đi lặp lại cho thấy dấu ấn kiến trúc nhà ở đặc trưng của đồng bào người Ê-đê. Tuy kiến trúc nhà ở không được miêu tả một cách tỉ mỉ nhưng những hình ảnh tiêu biểu như vậy cũng đủ để làm đồng hiện nền văn hóa đặc sắc của vùng Tây Nguyên.

b. Sinh hoạt của người Ê-đê trong không gian nhà ở trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời"

Không gian nhà dài chính là nơi cư trú của người dân Ê-đê. Tại đây diễn ra rất nhiều hoạt động gắn liền với văn hóa của người Ê-đê như hội họp, ăn mừng, kể chuyện sử thi, tổ chức nghi lễ thờ cúng thần linh,... Đoạn văn trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" đã miêu tả lại khung cảnh của người dân như sau: "tôi tớ trải dưới một chiếu trắng, trải trên một chiếu đỏ làm chỗ ngồi cho nhà tù trưởng. Rồi họ đem thuốc sợi cả hòm đồng, thuốc lá cả sọt đại, trầu vỏ cả gùi to, không còn sợ thiếu thuốc thiếu trần cho Đăm Săn ăn, hút. Họ đốt một gà mái ấp, giết một gà mái đẻ, giã gạo trắng như hoa êpang, sáng như ánh mặt trời, nấu cơm mời khách. Họ đi lấy rượu, đem một ché tuk da lươn, một ché êbah Mnông, trên vẽ hoa kơ-ụ, dưới lượn hoa văn, tai ché hình mỏ vẹt xâu lỗ. Đó là những cái ché ngã giá phải ba voi. Ai đi lấy nước cứ đi lấy nước, ai đánh chiêng cứ đánh chiêng, ai cắm cần cứ cắm cần. Cần cắm rồi, người ta mời Đăm Săn vào uống.". Các vật dụng xuất hiện trong đoạn văn như: ché tuk, ché êbah, là những đồ vật được làm bằng gốm với hình hoa văn đa dạng, được xem là những đồ vật quý của người Ê-đê. Nó biểu thị cho sự sung túc, giàu có, phải "ngã giá bằng ba voi" mới có được.

Hơn nữa, đoạn văn còn làm nổi bật được hoạt động và tính cách của người dân Ê-đê. Để thiết đãi vị tù trưởng Đăm Săn - vị khách quý của buôn làng, người dân nô nức thi nhau mang ra những món ăn ngon nhất, những loại thuốc quý nhất để thiết đãi: thuốc sợi, thuốc lá, trầu vỏ, gà mái ấp, gà mái đẻ, gạo trắng. Người Ê-đê hiện lên với nét tính cách xởi lởi, hào phóng, nồng hậu. Những hoạt động thiết đãi tù trưởng Đăm Săn cũng chính là những hoạt động của dân làng khi tiếp đón những vị khách quý từ phương xa.

Bên cạnh đó, chi tiết "chiêng xếp đầy nhà ngoài", "cồng chất đầy nhà trong" và "ai đánh chiêng cứ đánh chiêng, ai cắm cần cứ cắm cần" đã phản ánh phong tục đánh cồng chiêng và uống rượu cần của người dân vùng Tây Nguyên. Cồng chiêng không chỉ là nhạc cụ mà nó còn chứa đựng giá trị văn hóa của cộng đồng người Ê-đê. Chính vì vậy, chi tiết Đăm Săn đến nhà Nữ Thần Mặt Trời thấy hình ảnh "chiêng xếp đầy nhà ngoài, cồng xếp đầy nhà trong" biểu thị cho sự quyền lực và giàu có. Người Ê-đê tin rằng: mỗi một chiếc cồng đều ẩn chứa một vị thần cho nên càng nhiều cồng, cồng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao. Ngoài ra, tục uống rượu cần cũng là một nét đẹp văn hóa trong đời sống của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Rượu cần trong đoạn trích chính là phương tiện để gắn kết tình cảm giữa người tù trưởng Đăm Săn và Đăm Par Kvây. Rượu không chỉ đóng vai trò trong các buổi thực hành nghi lễ để cầu xin đấng thần linh mà nó còn thể hiện đầy đủ tinh thần tập thể của cộng đồng, lòng mến khách của chủ nhà.

Có thể nói, những vật dụng trong căn nhà của người Ê-đê không chỉ gắn liền với hoạt động sống mà còn phản ánh được tính cách, sự giàu có, phồn vinh của cả một cộng đồng.

3. Kết luận

Đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" là đoạn trích quan trọng của sử thi "Đăm Săn". Đoạn trích không chỉ khắc họa vẻ đẹp phi thường, khát vọng mãnh liệt của người anh hùng Đăm Săn mà qua đó, chúng ta còn thấy được những nét đẹp văn hóa, đặc biệt là không gian sinh hoạt của người Ê-đê ở Tây Nguyên. Sử thi "Đăm Săn" cho thấy kiến trúc nhà dài, vật dụng gắn liền với sinh hoạt và lối sống, tính cách của đồng bào người Ê-đê. Các giá trị vật chất, tinh thần của người Ê-đê trong thời đại mới cần phải được bảo tồn và phát huy hơn nữa.

1
30 tháng 11 2025

Tài liệu tham khảo này tu đâu


Câu 1:

Từ thuở xa xưa thanh niên Việt Nam đã ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình đối với đất nước. Trong thời chiến họ luôn là lực lượng tiên phong trong các phong trào đánh giặc cứu nước, luôn là lực lượng nòng cốt của cách mạng, xả thân vì tổ quốc mà không tiếc thời tuổi trẻ. Vậy chúng ta những thanh niên may mắn được sinh ra trong thời bình, chúng là phải có trách nhiệm như thế nào để gìn giữ và bảo vệ tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng đã được đổi bằng xương máu của biết bao thế hệ đi trước, phải làm gì để xứng đáng hưởng được những thành quả ngày hôm nay. Mỗi chúng ta phải xác định cho mình một lí tưởng sống cao đẹp, phải có ước mơ và hoạch định ra cho mình một kế hoạch cụ thể, phải rèn đức luyện tài, phải hiểu được vai trò đất nước đối với chúng ta, có như vậy chúng ta mới xác định được đúng đắn nhiệm vụ của mình đối với đất nước. Chúng ta ra sức học tập cũng là đang thực hiện nhiệm của của mình với đất nước, nó không phải là một cái gì đó sâu xa như các bạn nghĩ nó chỉ đơn giản là làm tốt bổn phận của mình để phấn đấu trở thành một công dân tốt góp phần xây dựng một đất nước giàu đẹp vững mạnh. Như vậy trách nhiệm của thanh niên ở thời chiến hay thời bình đều do ý thức mỗi con người tuy nhiên nó lại được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau.

Câu 2:

Bàn về kết thúc đoạn trích "Vợ chồng A Phủ"

– Ý kiến thứ nhất: hành động cắt nút dây mây cởi trói cứu A Phủ rồi chạy theo A Phủ của nhân vật Mị thật bất ngờ, đột ngột, không thể dự đoán trước: Đánh giá kết thúc của truyện Vợ chồng A Phủ là bất ngờ với mạch truyện, tâm trạng nhân vật Mị và cả người đọc.

– Ý kiến thứ hai: Đó là là một kết thúc tự nhiên, tất yếu:  ý kiến này nhìn nhận, đánh giá kết thúc của tác phẩm trong mối quan hệ với lô gíc diễn biến tâm trạng nhân vật Mị và mạch vận động tất yếu của đời sống con người: khi bị dồn đẩy đến bước đường cùng, con người sẽ vùng lên tìm ánh sáng cho mình.

Bình luận các ý kiến:

 Cả hai ý kiến đều đúng, không đối lập mà bổ sung cho nhau, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tài năng kể chuyện, miêu tả nội tâm nhân vật của nhà văn Tô Hoài. Đồng thời, ta càng trân trọng hơn .tấm lòng yêu thương, đồng cảm của tác giả đối với người dân nơi đây.

12 tháng 12 2021

-

Tình mẫu tử là một trong những tình cảm thiêng liêng và cao cả nhất trong cuộc đời mỗi con người. Đó là tình yêu thương, chăm sóc, bảo vệ và hy sinh vô điều kiện của người mẹ dành cho con cái. Tình mẫu tử không chỉ thể hiện qua những hành động cụ thể mà còn thấm đẫm trong từng cảm xúc, là nguồn động lực mạnh mẽ giúp con người vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống. Tình mẫu...
Đọc tiếp

Tình mẫu tử là một trong những tình cảm thiêng liêng và cao cả nhất trong cuộc đời mỗi con người. Đó là tình yêu thương, chăm sóc, bảo vệ và hy sinh vô điều kiện của người mẹ dành cho con cái. Tình mẫu tử không chỉ thể hiện qua những hành động cụ thể mà còn thấm đẫm trong từng cảm xúc, là nguồn động lực mạnh mẽ giúp con người vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống.

Tình mẫu tử bắt đầu ngay từ khi con còn trong bụng mẹ. Mẹ là người đầu tiên chăm sóc, nuôi dưỡng con, bảo vệ con khỏi những yếu tố bên ngoài, sẵn sàng hy sinh tất cả để con có thể phát triển trong môi trường tốt nhất. Từ khi con chào đời, tình mẫu tử không ngừng lớn lên và được thể hiện qua sự yêu thương, chăm sóc. Mẹ là người thức khuya dậy sớm, lo lắng cho từng bữa ăn, giấc ngủ của con. Mẹ không chỉ cho con cái ăn mà còn dạy con cách sống, cách yêu thương, giúp con hình thành những nhân cách đầu tiên.

Một trong những biểu hiện rõ nét của tình mẫu tử là sự hy sinh vô điều kiện của mẹ. Mẹ có thể hy sinh tất cả để con có được cuộc sống tốt đẹp hơn. Những bà mẹ nghèo dù khó khăn, vất vả đến đâu vẫn sẵn sàng làm việc quần quật để kiếm tiền lo cho con ăn học. Họ luôn ưu tiên cho con cái, mong muốn con được học hành, trưởng thành, có tương lai tươi sáng. Tình yêu của mẹ là tình yêu vô điều kiện, không đòi hỏi bất kỳ điều kiện nào từ con cái. Mẹ yêu con không vì bất cứ lý do nào mà chỉ đơn giản vì con là con của mẹ.

Tình mẫu tử cũng là một nguồn động viên vô cùng lớn lao đối với mỗi người. Khi con gặp khó khăn, thử thách trong cuộc sống, mẹ là người luôn ở bên, sẻ chia và động viên. Mẹ là người luôn tin tưởng vào khả năng của con, giúp con vượt qua nỗi sợ hãi, tự ti để đứng dậy và tiếp tục phấn đấu. Khi trưởng thành, dù con có thể ra đi lập nghiệp, mẹ vẫn luôn là người chờ đón, là điểm tựa vững chắc giúp con vững tin vào bản thân mình.

Tình mẫu tử không bao giờ thay đổi, bất chấp thời gian. Dù con có trưởng thành hay có gia đình riêng, mẹ vẫn luôn là người lo lắng, chăm sóc và yêu thương. Dù con có đi xa đến đâu, mẹ vẫn dõi theo và mong muốn con được hạnh phúc. Sự hy sinh, tình yêu thương của mẹ là một nguồn động lực giúp con tiến bước trong cuộc sống. Tình mẫu tử là một nguồn năng lượng vô cùng mạnh mẽ, luôn thắp sáng trái tim mỗi con người.

Tình mẫu tử không chỉ là tình yêu thương giữa mẹ và con mà còn là nguồn động viên, sự hi sinh, bảo vệ, giúp đỡ con trên con đường đời. Chúng ta cần phải trân trọng và yêu thương mẹ, vì mẹ là người đã dành cả cuộc đời để chăm lo cho con. Để đáp đền tình yêu mẹ, chúng ta cần sống tốt, sống có ích, làm cho mẹ tự hào vì những gì chúng ta đã làm được trong cuộc sống.

Tóm lại, tình mẫu tử là một tình cảm vô cùng thiêng liêng và cao quý. Mỗi người đều cần trân trọng và biết ơn tình yêu thương vô bờ bến mà mẹ đã dành cho mình. Tình mẫu tử là nền tảng giúp con cái hình thành nhân cách, vượt qua khó khăn và trưởng thành trong cuộc sống.

Mong các bãn sẽ thấy hay, và biết ơn những công ơn cha mẹ đã dành tặng cho mình.

8
16 tháng 10 2021

chọn B

16 tháng 10 2021

thanks