Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
mày đừng so sánh tao với nó\n_vì nó là chó còn tao là người\n_Mày đừng bật cười khi nghe điều đó\n_vì cả mày và nó đều chó như nhau
Phần I
Câu 1:
Văn bản tập trung vào vấn đề nghị luận bàn về niềm tin vào bản thân, nỗ lực phấn đấu không bỏ cuộc để vượt qua những khó khăn, thác ghềnh bằng tự lực để chinh phục thành công.
Câu 2:
Biện pháp ẩn dụ:"thác ghềnh, chông gai trên đường" vì tác giả so sánh những chướng ngại vật trên đường đi hàng ngày của mỗi người cũng giống như những khó khăn, gian nan trên đường đời mỗi người phải trải qua để thành công.
Câu 3:
Tác giả đưa hai dẫn chứng về Walt Disney và Helen Keller là để làm dẫn chứng thuyết phục cho vấn đề cần nghị luận của mình đó là đã có những tấm gương gặp muôn vàn khó khăn trắc trở trong cuộc sống nhưng họ không buông xuôi hay dựa dẫm vào người khác mà biết cách đứng dậy sau vấp ngã và thành công.
Câu 4:
Em đồng ý với quan điểm:"Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ là học từ người khác". Những người đi trước và câu chuyện xoay quanh sự thành bại của họ chính là những bài học quý báu cho người sau. Những con người đi trước và thành công sau 1 quá trình gian nan đó chính là những bằng chứng sống để người đời sau tin tưởng vào mình dù có trải qua bao thác ghềnh, chông gai.
Phần II
Có một câu chuyện ngụ ngôn mà hồi bé chúng ta hay được nghe kể về cuộc đua của rùa và thỏ, con thỏ nhanh nhẹn nhưng lại tự phụ, xem thường đối thủ,tuy con rùa chậm chạp nhưng lại nỗ lực không ngừng, kết quả ai cũng biết, con rùa đã thắng con thỏ. Xuyên suốt câu truyện Rùa và Thỏ là ý chí của con rùa, nó không đầu hàng trước những thất bại. Rõ ràng, con thỏ có năng lực nhưng ý chí lại không tốt bằng con rùa, nó vẫn có thể về đến được vách đích nhưng con rùa vẫn chiến thắng nó,đó cũng là sự biểu trưng cho quyết tâm và ý chí của con rùa . Cũng có người từng nói “ Không phải đời người quá khó khăn, mà là do bạn nỗ lực chưa đủ”. Từ câu chuyện trên và câu nói trên, chúng ta có thể thấy được ý chí đóng 1 vai trò cực kì quan trọng trong mỗi bước tiến đến con đường thành công của mỗi con người.
Sức mạnh, trí tuệ hay thiên phú chỉ góp phần nào cho sự khác biệt giữa những người thành công và những người thất bại, nhưng hơn thế nữa quyết định chủ yếu là ở ý chí. Vậy ý chí hay sự quyết tâm là gì mà nó lại đóng góp không nhỏ vào chính cuộc đời chúng ta? Ý chí, nghị lực là ý thức, tính tự giác, mạnh mẽ, quyết tâm dồn nén sức lực, trí tuệ để đạt được tiêu chí, mục đích. Ý chí cũng là phẩm chất tâm lí đặc trưng của con người, thể hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có nỗ lực khắc phục khó khăn.Ngay từ những điều đơn giản nhất trong cuộc sống, bạn được giao một công việc trong nhiều ngày, nhưng bạn đã cố gắng, tập trung để hoàn thành trước thời hạn và nhận thêm một việc làm mới, từ đó năng suất làm việc, hiệu quả công việc và sự tin tưởng từ người giao việc cũng từ đó tăng theo. Chỉ từ một sự quyết tâm nhỏ ấy thôi mà cũng kéo theo được vô cùng nhiều giá trị và lợi ích không chỉ đối với bản than mà còn đối với những người xung quanh chúng ta. Ý chí như thôi thúc bản thân mỗi chúng ta, như tiếp thêm cho ta phần nào sức mạnh để ngày càng tới gần hơn mục tiêu đã đề ra. Câu chuyện được minh chứng bởi Thomas Edison – nhà phát minh tài ba của thế kỉ XX, hơn 10.000 lần thất bại để đem được ánh sáng đến với nhân loại, nếu không có ông thì dường như việc bóng đèn xuất hiện với thế giới sẽ bị đẩy lùi đi mười mấy năm, rõ ràng, chính ý chí quyết tâm của Edison đã khiến con đường của nền văn minh hiện đại của con người trở nên ngắn lại.
Ý chí giúp chúng ta toàn sức tập trung vào mục tiêu bằng cách ngăn cản các suy nghĩ không liên quan khác xảy đến. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ hoàn thành công việc một cách nhanh chóng và hiểu quả. Chủ tịch Hồ chí đã nói:
“Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên”
Câu nói này càng như khẳng định vai trò quan trọng và to lớn của sức mạnh ý chỉ và quyết tâm, đáng sợ nhất không phải là những người có tài năng thiên bẩm mà là những người có nghị lực vươn lên. Ý chí rèn luyện bản thân sự quyết đoán và nhạy bén trong mọi vấn đề cuộc sống từ đó thúc đẩy hành trình của bản thân trở nên tinh gọn. Nghị lực là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với bản thân mỗi người, tuy nhiên không phải ai cũng nhận ra được giá trị cốt lõi của nó. Trái ngược với những người có ý chí là những người thờ ơ, không đủ quyết tâm, nhụt trí trước những thử thách cuộc sống. Giới trẻ bây giờ không ít người chưa làm đã vội bỏ cuộc, thấy khó khăn đã nản chí, gặp thất bại thì hủy hoại và sống bất cần đời. Những người như thế thật đáng chê trách. Là học sinh, chúng ta cần khẳng định tư cách, ý chí, nghị lực vượt qua những khó khăn thử thách .Tài năng của con người được tạo bởi nhiều yếu tố. Trong đó yếu tố tự rèn là yếu tố quan trọng nhất để đi đến thành công. Để thấy mình không thấp hơn người khác, bản thân phải có sự lao động chăm chỉ, cần cù, không chùn bước trước gian nguy, phải biết tự tin vào chính bản thân trên bước đường đời.
Nhìn chung, một lần nữa cần phải khẳng định lại giá trị của câu nói “ Ý chí tốt làm con đường ngắn lại”. Ý chí mang đến thành công và giúp ta chinh phục mọi khó khăn trên con đường gập ghềnh phía trước. Những con người thành công và nổi tiếng nhất đều là những người có ý chí rất mạnh mẽ.Vậy nên việc rèn luyện và giữ vững một ý chí kiên cường luôn là điều tất yếu trên chặng đường của cuộc đời
- Tự vấn bản thân: Trong những khoảnh khắc yên tĩnh, con người có cơ hội nhìn lại hành động, suy nghĩ, sai lầm và cả những ước mơ của mình. Sự thinh lặng giúp ta trung thực hơn với chính mình.
- Thấu hiểu thế giới xung quanh: Như cái cây của Lovelock, vạn vật trong tự nhiên vận hành trong sự thinh lặng tuyệt đối. Lắng nghe sự thinh lặng giúp ta cảm nhận được nhịp đập của sự sống, sự biến đổi tinh tế của thiên nhiên mà những âm thanh huyên náo thường che lấp.
- Tăng cường sự tập trung và sáng tạo: Khi không bị phân tán bởi tiếng ồn, trí óc con người hoạt động hiệu quả hơn, ý tưởng mới mẻ dễ dàng nảy sinh.
- Văn học hiện thực phê phán: Các nhà văn như Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Ngô Tất Tố (Tắt đèn) đã sử dụng ngòi bút sắc bén để phơi bày những thói hư tật xấu, sự bất công của xã hội, nhằm thức tỉnh cộng đồng. Cái đẹp trong tác phẩm của họ là cái đẹp của sự thật trần trụi, có sức lay động mạnh mẽ.
- Văn học cách mạng: Các nhà thơ như Tố Hữu (Việt Bắc) đã gắn thơ ca với sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Thơ của ông vừa giàu tính trữ tình, vừa mang tính chính trị sâu sắc, là tiếng nói chung của cộng đồng trong công cuộc giải phóng dân tộc.
Câu 1: Nghị luận xã hội (8 điểm)
Chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng
Bài làm:
Con người thường bị cuốn vào những ồn ào, náo nhiệt của cuộc sống, đến mức quên mất rằng sự thinh lặng cũng có thể nói lên rất nhiều điều quan trọng. Trong đoạn văn của James Lovelock, Trái Đất được ví như một cái cây lặng lẽ tồn tại và phát triển một cách âm thầm. Điều đó khiến ta nhận ra: có những thay đổi lớn lao, những câu chuyện sâu sắc không cần lời nói vẫn đang diễn ra ngay bên cạnh chúng ta, trong sự yên tĩnh và tĩnh lặng.
Lắng nghe sự thinh lặng chính là một cách để ta thấu hiểu, cảm nhận sâu sắc hơn về thế giới xung quanh. Sự thinh lặng không phải là khoảng trống, không phải là sự vắng mặt của âm thanh, mà là một trạng thái tích cực, chứa đựng sự sống động và những thông điệp mà tiếng ồn không thể mang lại. Khi ta biết dừng lại, lắng nghe thinh lặng, ta sẽ nhận ra những vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, sự biến đổi của cuộc sống và cả tiếng nói của chính tâm hồn mình.
Trong cuộc sống hiện đại, con người dễ bị cuốn vào guồng quay công việc, công nghệ, xã hội mà quên mất việc dành thời gian để yên tĩnh suy ngẫm, tĩnh tâm. Việc lắng nghe sự thinh lặng không chỉ giúp ta lấy lại cân bằng tinh thần mà còn giúp ta hiểu rõ hơn về bản thân và những giá trị cuộc sống. Sự thinh lặng là nguồn sức mạnh để ta đối diện với khó khăn, là không gian để nuôi dưỡng trí tuệ và lòng nhân ái.
Thực tế, nhiều bậc vĩ nhân, nhà sáng tạo nghệ thuật, nhà tư tưởng đều trân trọng khoảng lặng để sáng tạo và suy nghĩ sâu sắc. Thiên nhiên cũng dạy chúng ta bài học quý giá về sự kiên nhẫn và phát triển bền vững qua sự thinh lặng của cây cối, đất trời. Lắng nghe sự thinh lặng là học cách quan sát, trân trọng những điều nhỏ bé mà bền vững.
Như vậy, trong cuộc sống bộn bề ngày nay, mỗi người cần biết tôn trọng và dành thời gian lắng nghe sự thinh lặng. Đó là con đường dẫn ta đến sự thấu hiểu, cảm thông và yêu thương. Sự thinh lặng không phải là khoảng cách, mà là kết nối sâu sắc với thế giới và chính bản thân mình.
Kết luận:
Lắng nghe sự thinh lặng là nghệ thuật sống, là cách để ta khám phá những giá trị chân thật và trường tồn. Hãy học cách dừng lại, lắng nghe và cảm nhận, để cuộc sống thêm ý nghĩa và sâu sắc hơn.
Câu 2: Nghị luận văn học (12 điểm)
Bàn luận câu nói của A. Camus:
“Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”
Bài làm:
Albert Camus – nhà văn, triết gia lỗi lạc của thế kỷ XX đã đưa ra một quan điểm sâu sắc về người nghệ sĩ và vị trí của họ trong xã hội. Theo ông, người nghệ sĩ không tồn tại tách biệt mà luôn vận động trong mối quan hệ hai chiều: giữa cá nhân với cái đẹp và giữa cá nhân với cộng đồng.
Thứ nhất, cái đẹp không thể bỏ qua là mục tiêu, là lý tưởng mà người nghệ sĩ theo đuổi. Người nghệ sĩ luôn không ngừng tìm kiếm, sáng tạo ra cái đẹp qua tác phẩm của mình – đó có thể là vẻ đẹp thẩm mỹ, vẻ đẹp tư tưởng hay vẻ đẹp nhân văn. Cái đẹp ấy vượt lên trên sự tầm thường, cái đẹp là nguồn cảm hứng và là tiếng nói riêng của người nghệ sĩ, giúp họ khẳng định giá trị và bản sắc cá nhân.
Tuy nhiên, người nghệ sĩ cũng không thể tách rời cộng đồng – nơi họ sinh sống và làm việc. Cộng đồng là nơi cung cấp chất liệu sáng tạo, là đối tượng truyền tải thông điệp, là nguồn cảm hứng và cũng là nơi tác phẩm được đón nhận. Người nghệ sĩ có trách nhiệm phản ánh, phê phán xã hội, góp phần định hướng những giá trị tích cực, đồng thời thấu hiểu, đồng cảm với cuộc sống con người. Nghệ thuật vì thế luôn mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc.
Mối tương quan liên tục giữa cái đẹp và cộng đồng tạo nên một con đường mà người nghệ sĩ phải đi – đó là quãng đường tôi luyện bản thân không ngừng nghỉ. Họ vừa phải giữ vững lý tưởng sáng tạo, vừa phải lắng nghe, giao tiếp và đồng hành với con người và xã hội. Nếu chỉ theo đuổi cái đẹp mà quên cộng đồng, nghệ thuật sẽ trở nên hời hợt, xa rời thực tế; ngược lại, nếu chỉ chú trọng cộng đồng mà thiếu cái đẹp, nghệ thuật sẽ mất đi giá trị thẩm mỹ và chiều sâu nhân văn.
Thực tế trong văn học Việt Nam và thế giới đã có nhiều nghệ sĩ tiêu biểu sống và sáng tạo theo tinh thần này. Họ luôn hướng tới cái đẹp – cái đẹp của sự chân thực, nhân hậu và tự do; đồng thời luôn giữ mối liên hệ mật thiết với đời sống nhân dân, phản ánh những vấn đề xã hội, con người một cách sâu sắc và thuyết phục.
Như vậy, câu nói của A. Camus đã nhấn mạnh sự cân bằng cần thiết trong đời sống nghệ sĩ, giữa cá nhân và xã hội, giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng. Người nghệ sĩ không chỉ là người sáng tạo mà còn là người đồng hành, người truyền cảm hứng và người bảo vệ những giá trị cao đẹp của nhân loại.
Kết luận:
Người nghệ sĩ thực sự là người tôi luyện trong hành trình kết nối giữa chính mình và cộng đồng, giữa cái đẹp không thể bỏ qua và trách nhiệm đối với xã hội. Chỉ khi đó, nghệ thuật mới phát huy được sức mạnh và giá trị đích thực của nó.
Câu 1:
Từ thuở xa xưa thanh niên Việt Nam đã ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình đối với đất nước. Trong thời chiến họ luôn là lực lượng tiên phong trong các phong trào đánh giặc cứu nước, luôn là lực lượng nòng cốt của cách mạng, xả thân vì tổ quốc mà không tiếc thời tuổi trẻ. Vậy chúng ta những thanh niên may mắn được sinh ra trong thời bình, chúng là phải có trách nhiệm như thế nào để gìn giữ và bảo vệ tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng đã được đổi bằng xương máu của biết bao thế hệ đi trước, phải làm gì để xứng đáng hưởng được những thành quả ngày hôm nay. Mỗi chúng ta phải xác định cho mình một lí tưởng sống cao đẹp, phải có ước mơ và hoạch định ra cho mình một kế hoạch cụ thể, phải rèn đức luyện tài, phải hiểu được vai trò đất nước đối với chúng ta, có như vậy chúng ta mới xác định được đúng đắn nhiệm vụ của mình đối với đất nước. Chúng ta ra sức học tập cũng là đang thực hiện nhiệm của của mình với đất nước, nó không phải là một cái gì đó sâu xa như các bạn nghĩ nó chỉ đơn giản là làm tốt bổn phận của mình để phấn đấu trở thành một công dân tốt góp phần xây dựng một đất nước giàu đẹp vững mạnh. Như vậy trách nhiệm của thanh niên ở thời chiến hay thời bình đều do ý thức mỗi con người tuy nhiên nó lại được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau.
Câu 2:
Bàn về kết thúc đoạn trích "Vợ chồng A Phủ"
– Ý kiến thứ nhất: hành động cắt nút dây mây cởi trói cứu A Phủ rồi chạy theo A Phủ của nhân vật Mị thật bất ngờ, đột ngột, không thể dự đoán trước: Đánh giá kết thúc của truyện Vợ chồng A Phủ là bất ngờ với mạch truyện, tâm trạng nhân vật Mị và cả người đọc.
– Ý kiến thứ hai: Đó là là một kết thúc tự nhiên, tất yếu: ý kiến này nhìn nhận, đánh giá kết thúc của tác phẩm trong mối quan hệ với lô gíc diễn biến tâm trạng nhân vật Mị và mạch vận động tất yếu của đời sống con người: khi bị dồn đẩy đến bước đường cùng, con người sẽ vùng lên tìm ánh sáng cho mình.
Bình luận các ý kiến:
Cả hai ý kiến đều đúng, không đối lập mà bổ sung cho nhau, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tài năng kể chuyện, miêu tả nội tâm nhân vật của nhà văn Tô Hoài. Đồng thời, ta càng trân trọng hơn .tấm lòng yêu thương, đồng cảm của tác giả đối với người dân nơi đây.

Tiếp
BÀI 3
Câu 1: Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn thơ trên là: Biểu cảm, Tự sự, Miêu tả.
Câu 2: Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích là: người lính, người phụ nữ lỡ làng, người hành khuất
Câu 3:
Câu 1. Đoạn trích sử dụng các phương thức biểu đạt: tự sự, miêu tả và biểu cảm (biểu cảm là phương thức nổi bật). Câu 2. Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích: Người lính trận chết nơi chiến trường. Người phụ nữ lỡ làng, buôn nguyệt bán hoa. Người đàn bà chịu nhiều đau khổ, chết trong cô độc. Người hành khất, sống lang thang đầu đường xó chợ. Câu 3. Các từ láy “lập lòe”, “văng vẳng” gợi cảm giác mờ ảo, rờn rợn của thế giới âm linh, làm không gian thêm u tối, tang thương. Qua đó, nỗi oan khuất và bi thương của các linh hồn được khắc sâu, khơi dậy mạnh mẽ lòng xót thương nơi người đọc. Câu 4. Chủ đề: Thương xót cho những kiếp người bất hạnh, chết trong đau khổ và lãng quên. Cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng nhân đạo sâu sắc, chan chứa lòng từ bi và nỗi đau trước số phận con người. Câu 5. Đoạn trích thấm đẫm tinh thần nhân đạo – truyền thống đẹp của dân tộc ta. Từ bao đời, người Việt luôn biết thương người cùng khổ, sẻ chia với những phận đời bị bỏ quên. Lòng nhân ái ấy vượt qua ranh giới sống – chết, giàu – nghèo. Nó nhắc ta sống tử tế hơn, biết cúi xuống trước nỗi đau của người khác. Nhân đạo không phải điều lớn lao, mà bắt đầu từ một trái tim biết đau cùng con người.
C1 các phương thức biểu đạt được sử dụng là tự sự , trữ tình và nghị luận.
C2 liệt kê những kiếp người:
tướng sĩ, quan lại , kẻ bôn ba .
C3 biện pháp tu từ láy lập loè văng vẳng :
Tác dụng:
Nhấn mạnh tăng sức gợi hình gợi cảm làm cho câu văn thêm sinh động hấp dẫn cuốn hút người đọc.
các từ láy này góp phần tạo nên 1 bức tranh tang thương , aam khí nặng nề , lay động lòng người . Từ đó đã cho ta thấy nỗi bi thương và nỗi thương cảm sâu sắc của tác giả.
C4 chủ đề và cảm hứng chủ đạo của bài là:
Chủ đề của đoạn trích là nỗi thương cảm vô hạn đối với những kiếp người bất hạnh, chết chóc do dịch bệnh và chiến tranh.
Cảm hứng chủ đạo: cảm hứng nhân đạo sâu sắc, lòng từ bi, sự đồng cảm đối với tất cả chúng sinh, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn.
C5 suy nghĩ về truyền thống nhân đạở của dân tộc ta :
Truyền thống nhân đạo của dân tộc ta là sự cảm thông sâu sắc, tình yêu thương con người, đặc biệt đối với những kiếp người bất hạnh, khổ đau.
Câu 1.
-Phương thức biểu đạt chính là: Biểu cảm
Câu 2.
-Các kiếp người xuất hiện:
- Người lính: Đi lính xa nhà, bỏ mạng nơi chiến trận.
- Người phụ nữ: Kiếp "buôn nguyệt bán hoa" cô độc, không nơi nương tựa khi về già
- Người hành khất: Nghèo khổ, lang thang, chết gục nơi đường sá
Câu 3.
- Hiệu quả của việc sử dụng từ láy
+Hai câu thơ: "Lập lòe ngọn lửa ma trơi", "tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương"
+ tác dụng: làm tăng sức gợi hình, gợi cảm, tạo nhịp điệu cho câu thơ, làm cho câu thơ trở nên sinh động và hấp dẫn. Từ đó, tái hiện sinh động không gian cõi âm thê lương, lạnh lẽo , đồng thời lột tả sâu sắc nỗi oan khuất, bi kịch của những linh hồn bơ vơ và tấm lòng xót thương vô hạn của tác giả
Câu 4.
- Chủ đề: Tiếng khóc thương cho những linh hồn bơ vơ, những kiếp người nhỏ bé, bất hạnh bị gạt ra lề xã hội, không ai thờ cúng
-Cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng nhân đạo sâu sắc. Đó là lòng trắc ẩn, sự đồng cảm bao dung và tiếng lòng đau đớn của Nguyễn Du trước nỗi đau khổ chung của kiếp người
Câu 5:
Từ cảm hứng nhân đạo trong đoạn trích, ta thấy truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam vốn là một dòng chảy bền bỉ và cao đẹp. Đó không chỉ là sự thương xót giữa người với người khi còn sống, mà còn là lòng bao dung, sự an ủi dành cho cả những linh hồn đã khuất. Truyền thống "thương người như thể thương thân" giúp chúng ta biết trân trọng giá trị con người, biết thấu hiểu và sẻ chia với những mảnh đời bất hạnh, không phân biệt địa vị hay hoàn cảnh. Trong xã hội hiện đại, tinh thần ấy vẫn luôn tỏa sáng qua các hoạt động thiện nguyện và sự đùm bọc lẫn nhau trong hoạn nạn, khẳng định một đạo lý sống nhân văn và đầy tình nghĩa của cha ông ta
_Câu 1:_ Phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích là *biểu cảm* (tả cảnh, tả tình) và *trữ tình*. Tác giả sử dụng nhiều hình ảnh, ngôn ngữ giàu cảm xúc để thể hiện sự thương xót với những kiếp người bất hạnh.
_Câu 2:_ Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích:
- Kẻ mắc vào khóa lính (bỏ nhà đi lính)
- Kẻ lỡ làng một kiếp (buôn nguyệt bán hoa)
- Đàn bà (phận khổ)
- Kẻ nằm cầu gối đất (hành khất)
_Câu 3:_ Từ láy "lập lòe", "văng vẳng":
- Tạo âm hưởng bi thương, não nề
- Gợi hình ảnh mờ ảo, tiếng kêu than vang vọng -> Tăng cảm giác đau xót, thương cảm với những oan hồn
_Câu 4:_
- *Chủ đề:* Thương xót những kiếp người bất hạnh, khổ đau trong xã hội
- *Cảm hứng:* Nhân đạo, thương cảm với những người khổ
_Câu 5:_
Truyền thống nhân đạo của dân tộc ta thể hiện qua lòng thương người, cảm thông với những khổ đau. "Đói cho sạch, rách cho thơm", "Lá lành đùm lá rách", "Thương người như thể thương thân" là những giá trị nhân văn sâu sắc. Dân tộc ta luôn đề cao sự cảm thông, giúp đỡ người gặp khó khăn.
câu 1:
biểu cảm
Câu 2.
Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích gồm:
câu 3
-biện pháp tu từ láy “lập loè” “văng vẳng”
-tác dụng: làm cho câu thơ có nhịp điệu, tăng sức gợi hình.Gợi tả không gian mờ ảo,u tối,lạnh lẽo của cói âm. Âm thanh và hình ảnh mơ hồ làm tăng cảm giác thê lương, rợn ngợp.Góp phần thể hiện nỗi oan khuất, đau thương của những linh hồn không nơi nương tựa, khơi dậy lòng xót thương nơi người đọc
Câu 4.
câu 5:
Câu 5.
Đoạn trích thể hiện rõ truyền thống nhân đạo sâu sắc của dân tộc ta: luôn biết cảm thông, sẻ chia với những số phận đau khổ. Dù sống hay đã khuất, con người vẫn được nhìn nhận bằng sự trân trọng và yêu thương. Từ xưa đến nay, dân tộc Việt Nam luôn đề cao tình nghĩa, “thương người như thể thương thân”. Chính truyền thống ấy đã tạo nên sức mạnh tinh thần bền bỉ, giúp con người biết sống nhân ái, bao dung và hướng thiện hơn tro
câu 1
Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích: biểu cảm tư sự miêuu tả
câu 2
Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích:
Câu 3:
Việc sử dụng từ láy “lập lòe”, “văng vẳng” trong hai câu thơ đã mang lại hiệu quả nghệ thuật rõ nét. Trước hết, các từ láy này gợi lên không gian mờ ảo, lạnh lẽo, rùng rợn của cõi âm, làm hiện lên cảnh ngọn lửa ma trơi và tiếng oan khuất trong đêm tối
nhấn mạnh nỗi đau thương, oan khuất kéo dài và day dứt của những linh hồn bất hạnh, qua đó thể hiện sâu sắc tấm lòng xót thương, nhân đạo của Nguyễn Du đối với thập loại chúng sinh.
Câu 4:
Đoạn trích thể hiện chủ đề thương xót những kiếp người bất hạnh trong xã hội cũ, những con người chết trong đau khổ, cô độc và bị lãng quên. Qua đó, cảm hứng chủ đạo của đoạn trích là cảm hứng nhân đạo sâu sắc, thể hiện tấm lòng cảm thông, xót xa và tình thương bao la của Nguyễn Du đối với thập loại chúng sinh, khẳng định giá trị nhân văn bền vững của tác phẩm.
Câu 5:
Lòng nhân đạo là một truyền thống tốt đẹp, bền vững của dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay. Từ cảm hứng chủ đạo của đoạn trích Văn tế thập loại chúng sinh, ta càng thấm thía tinh thần yêu thương con người, nhất là những số phận bất hạnh, khổ đau. Truyền thống ấy được thể hiện qua sự cảm thông, sẻ chia và sẵn sàng giúp đỡ người khác trong hoạn nạn. Ngày nay, người trẻ cần tiếp nối giá trị nhân văn đó bằng những hành động cụ thể, biết sống nhân ái, trách nhiệm và giàu tình ng
Câu 1.
Đoạn trích sử dụng phương thức biểu đạt chính là biểu cảm, kết hợp với tự sự , miêu tả và nghị luận trữ tình
Câu 2.
Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích:Người lính bị bắt đi lính, chết nơi chiến trận.Những nạn nhân chiến tranh chết oan uổng.Người phụ nữ lỡ làng, buôn nguyệt bán hoa.Người đàn bà chịu nhiều đau khổ, chết trong cô độc.Người hành khất, sống nhờ người đời, chết vùi nơi đường sá.
Câu 3. Từ láy “lập lòe” gợi ánh lửa lúc tỏ lúc mờ, tạo cảm giác rờn rợn, hoang lạnh của thế giới âm linh.Từ láy “văng vẳng” gợi âm thanh xa xôi, day dứt, như tiếng kêu oan không dứt.→ Hai từ láy làm tăng giá trị biểu cảm, khắc sâu nỗi đau thương, thê lương của những linh hồn bất hạnh.
Câu 4.Chủ đề: Thương xót, cảm thông sâu sắc cho những kiếp người bất hạnh, chết oan khuất trong xã hội cũ.Cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng nhân đạo, chan chứa lòng từ bi, thương người của Nguyễn Du.
Câu 5.Từ cảm hứng nhân đạo của đoạn trích, có thể thấy truyền thống dân tộc ta luôn đề cao tình thương và lòng nhân ái. Người Việt biết xót xa cho nỗi đau của đồng loại, dù sống hay đã khuất. Chính tinh thần “thương người như thể thương thân” đã tạo nên sức mạnh đạo đức bền vững của dân tộc. Ngày nay, truyền thống ấy vẫn cần được gìn giữ và lan tỏa bằng những hành động sẻ chia thiết thực trong cuộc sống.
Câu 1.
Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích:
Câu 2.
Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích:
→ Đây đều là những kiếp người nhỏ bé, đau khổ, bị xã hội và số phận vùi dập
Câu 3:
-Từ láy:’’lập loè’’,’’vẳng vẳng’’
-Hiệu quả của từ láy trong hai dòng thơ: tăng sức gợi hình gợi cảm, sinh động hấp dẫn , làm nổi bật bài thơ , bộc lộ được tấm lòng xót thương của tác giả , giúp người đọc cảm nhận được rõ hơn
-Các từ láy “lập lòe”, “vẳng vẳng” nhấn mạnh không gian u tối, thê lương, làm nổi bật nỗi oan khuất, đau thương của các kiếp người, qua đó thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc của Nguyễn Du.
Câu 4:
Đoạn trích thể hiện chủ đề thương xót sâu sắc đối với những kiếp người bất hạnh, oan khuất trong xã hội cũ. Qua đó, tác giả bộc lộ cảm hứng nhân đạo thấm thía, luôn hướng về con người, đặc biệt là những thân phận nhỏ bé. Nguyễn Du không phân biệt giàu nghèo, sang hèn mà dành cho tất cả tấm lòng cảm thông chân thành. Điều này làm nổi bật giá trị nhân văn bền vững của tác phẩm.
Câu 5:
Từ đoạn trích, có thể thấy truyền thống nhân đạo là một giá trị cao đẹp của dân tộc Việt Nam. Con người Việt luôn biết cảm thông, yêu thương và sẻ chia với những số phận bất hạnh. Tấm lòng xót thương của Nguyễn Du thể hiện rõ tinh thần ấy trong văn học. Mỗi người hôm nay cần trân trọng và tiếp nối truyền thống nhân ái đó trong cuộc sống.
Câu 1.
- Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm.
Câu 2.
Những kiếp người được nhắc tới trong đoạn trích gồm:
-> Tất cả đều là những con người nhỏ bé, bất hạnh trong xã hội cũ.
Câu 3.
Hiệu quả:
- Các từ láy “lập lòe”, “vẳng vẳng” gợi:
+/ Âm thanh mờ ảo, lúc gần lúc xa
+/ Không gian u ám, lạnh lẽo, rờn rợ
- Làm nổi bật:
+/ Nỗi oan khuất của con người
+/ Không khí tang thương, thê lương của chiến tranh và xã hội
+/ Tăng giá trị biểu cảm, khơi dậy sự xót thương, ám ảnh trong lòng người đọc.
Câu 4.
Đoạn trích phản ánh những số phận con người bất hạnh trong xã hội cũ, đặc biệt là những người dân nghèo, yếu thế, bị chiến tranh và định kiến xã hội vùi dập. Cảm hứng nhân đạo sâu sắc, thể hiện niềm thương xót, cảm thông trước nỗi đau của con người và sự lên án xã hội tàn nhẫn đã đẩy họ vào bi kịch
Câu 5.
Truyền thống nhân đạo là một giá trị tốt đẹp đã ăn sâu vào tâm hồn dân tộc Việt Nam. Từ xưa đến nay, con người Việt luôn biết yêu thương, cảm thông và sẻ chia với những mảnh đời bất hạnh. Chính tinh thần “thương người như thể thương thân” đã giúp dân tộc ta vượt qua biết bao gian khổ, mất mát. Trong cuộc sống hôm nay, truyền thống ấy vẫn cần được gìn giữ và phát huy. Mỗi người trẻ cần biết sống nhân ái, bao dung và có trách nhiệm với cộng đồng.
câu 1
phương thức biểu đạt chíh trong câu là :biểu cảm và tự sự
câu 2
Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích là hàng triệu linh hồn, những kiếp người đau khổ, bất hạnh.
câu 3
Câu 1. Đoạn trích sử dụng phương thức biểu đạt chính là biểu cảm, kết hợp với tự sự , miêu tả và nghị luận trữ tình Câu 2. Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích: Người lính bị bắt đi lính, chết nơi chiến trận. Những nạn nhân chiến tranh chết oan uổng. Người phụ nữ lỡ làng, buôn nguyệt bán hoa. Người đàn bà chịu nhiều đau khổ, chết trong cô độc. Người hành khất, sống nhờ người đời, chết vùi nơi đường sá. Câu 3. Từ láy “lập lòe” gợi ánh lửa lúc tỏ lúc mờ, tạo cảm giác rờn rợn, hoang lạnh của thế giới âm linh. Từ láy “văng vẳng” gợi âm thanh xa xôi, day dứt, như tiếng kêu oan không dứt. → Hai từ láy làm tăng giá trị biểu cảm, khắc sâu nỗi đau thương, thê lương của những linh hồn bất hạnh. Câu 4. Chủ đề: Thương xót, cảm thông sâu sắc cho những kiếp người bất hạnh, chết oan khuất trong xã hội cũ. Cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng nhân đạo, chan chứa lòng từ bi, thương người của Nguyễn Du. Câu 5. Cảm hứng nhân đạo của đoạn trích, có thể thấy truyền thống dân tộc ta luôn đề cao tình thương và lòng nhân ái. Người Việt biết xót xa cho nỗi đau và sự hi sinh xương máu của thế hệ đi trước . Chính tinh thần “Lá lành đùm lá rách .” đã tạo nên sức mạnh đạo đức bền vững của dân tộc. Ngày nay, truyền thống ấy vẫn cần được gìn giữ và lan tỏa bằng những hành động sẻ chia thiết thực trong cuộc sống.
Câu 1
phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích
Biểu cảm (chủ yếu): bộc lộ niềm thương xót, đau đớn trước số phận con người làm nổi bật giá trị nhân đạo của tác phẩm.
Câu 2.
Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích:
Người lính chết trận.Người làm quan phải gánh việc triều đình.Người dân nghèo đói, lam lũ.Người phụ nữ lỡ làng, bất hạnh.Người già cô độc, không nơi nương tựa.Những con người chết oan, chết đói, chết vì chiến tranh.
Tất cả đều là những kiếp người đau khổ, bất hạnh trong xã hội cũ.
Câu 3.
Hiệu quả của việc sử dụng từ láy
Từ láy “lập lòe” gợi ánh lửa yếu ớt, chập chờn tạo không khí âm u, lạnh lẽo.
Từ láy “văng vẳng” gợi âm thanh xa xôi, dai dẳng làm nổi bật tiếng oan khuất không dứt.
Các từ láy góp phần:
Tăng sức gợi hình, gợi cảm.Khắc sâu nỗiđau, sự thê lương của những linh hồn bất hạnh.Thể hiện rõ tấm lòng xót thương sâu sắc của tác giả.
câu4
Chủ đề: Thương xót những kiếp người đau khổ, oan khuất trong xã hội phong kiếnCảm hứng chủ đạo: Cảm hứng nhân đạo, xuất phát từ tấm lòng yêu thương con người, đặc biệt là những số phận thấp cổ bé họng.
caua5
Từ cảm hứng nhân đạo của đoạn trích, ta càng thấm thía truyền thống nhân ái tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Từ xưa đến nay, con người Việt luôn biết yêu thương, đùm bọc nhau, nhất là với những số phận bất hạnh. Lòng nhân đạo không chỉ thể hiện trong văn chương mà còn trong cách sống, cách ứng xử hằng ngày. Chính tình thương ấy đã giúp dân tộc ta vượt qua bao khó khăn, mất mát. Mỗi người hôm nay cần biết sống nhân ái hơn để gìn giữ và phát huy truyền thống quý báu đó.
Câu 1.
Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích:
Câu 2.
Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích:
Câu 3.
Hiệu quả của việc sử dụng từ láy trong hai dòng thơ:
Lập lòe ngọn lửa ma trơi
Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!
Câu 4.
Chủ đề và cảm hứng chủ đạo của đoạn trích:
Câu 5
Từ cảm hứng nhân đạo của đoạn trích, có thể thấy truyền thống nhân đạo của dân tộc ta được thể hiện rất sâu sắc. Người Việt luôn biết yêu thương, đùm bọc những số phận bất hạnh trong cuộc sống. Nguyễn Du đã thay tiếng nói cho những con người khổ đau, bị lãng quên, thể hiện tinh thần “thương người như thể thương thân”. Truyền thống ấy không chỉ là giá trị văn học mà còn là nền tảng đạo đức của dân tộc. Ngày nay, tinh thần nhân đạo đó vẫn cần được gìn giữ và phát huy trong đời sống hiện đại.
→ Tất cả đều là những kiếp người đau khổ, bất hạnh trong xã hội phong kiến.
Câu 1:
Phương thức biểu đạt:Biểu cảm , tự sự , miêu tả .
Câu 2:
-Liệt kê những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích gồm:
+Người mắc vào chốn khóa lính, chết nơi chiến trận.
+Người dân nghèo, chết đói, chết vì bệnh tật.
+Người lỡ làng một kiếp, chết khi tuổi xuân chưa trọn.
+Người đàn bà, chịu nhiều đau đớn, tủi phận.
+Người ăn xin, hành khất, sống lang thang, chết nơi đầu đường xó chợ.
Câu 3:
-Hiệu quả của việc sử dụng từ láy trong hai dòng thơ:
+Các từ láy “lập lòe”, “văng vẳng” có tác dụng gợi hình, gợi âm thanh mờ ảo, ám ảnh.
+Làm nổi bật không khí thê lương, rùng rợn của thế giới linh hồn.
+Tăng sức gợi cảm, gợi cảm ,thể hiện sâu sắc nỗi xót thương của tác giả đối với những kiếp người oan khuất.
Câu 4:
-Chủ đề: Thể hiện niềm thương xót sâu sắc đối với những kiếp người chết thảm, không nơi nương tựa trong xã hội cũ.
+Cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng nhân đạo, xuất phát từ tấm lòng từ bi, nhân ái của Nguyễn Du.
Câu 5:
Bài làm:
Từ cảm hứng nhân đạo của đoạn trích, có thể thấy truyền thống nhân ái là một giá trị bền vững của dân tộc ta. Người Việt Nam luôn biết yêu thương, cảm thông và sẻ chia với những số phận bất hạnh trong cuộc sống. Dù sống trong hoàn cảnh nào, con người vẫn hướng đến lòng từ bi và nghĩa tình. Truyền thống ấy giúp gắn kết cộng đồng, làm nên sức mạnh tinh thần của dân tộc. Ngày nay, mỗi người cần tiếp nối truyền thống ấy bằng những hành động nhân văn, thiết thực.
Câu 1
Phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích trên là tự sự và biểu cảm
Câu 1.
Đoạn trích trên sử dụng các phương thức biểu đạt: biểu cảm
Câu 2.
Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích là: những người oan khuất (thể hiện qua "tiếng oan văng vẳng tối trời"), và có thể hiểu rộng hơn là những người nghèo khổ, bất hạnh trong xã hội đương thời.Câu 3.
Việc sử dụng từ láy trong hai dòng thơ "Lập lòe ngọn lửa ma trơi/ Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!" có hiệu quả đặc biệt:"Lập lòe": Gợi hình ảnh ngọn lửa ma trơi chập chờn, lúc ẩn lúc hiện, tạo cảm giác rùng rợn, huyền bí, đồng thời gợi sự mong manh, yếu ớt của những kiếp người."Văng vẳng": Diễn tả âm thanh tiếng oan vọng lại từ xa xăm, không rõ ràng nhưng dai dẳng, ám ảnh, gợi sự đau khổ, uất ức kéo dài.Kết hợp hai từ láy này, đoạn thơ không chỉ tái hiện một khung cảnh u ám, mà còn tăng cường khả năng gợi cảm, thể hiện sâu sắc nỗi xót thương của tác giả đối với những số phận bất hạnh.Câu 4.
Chủ đề của đoạn trích là sự thương cảm, xót xa đối với những kiếp người oan trái, bất hạnh trong xã hội. Cảm hứng chủ đạo là cảm hứng nhân đạo, thể hiện lòng yêu thương, trân trọng con người, đặc biệt là những người yếu thế, chịu nhiều đau khổ.Câu 5.
Từ cảm hứng chủ đạo của đoạn trích, ta thấy truyền thống nhân đạo của dân tộc ta luôn đề cao lòng yêu thương, sự sẻ chia đối với những người gặp khó khăn, bất hạnh. Truyền thống này thể hiện qua sự đồng cảm, xót thương của Nguyễn Du đối với những kiếp người trong "Truyện Kiều", và nó vẫn tiếp tục được kế thừa, phát huy trong xã hội hiện đại, khi chúng ta luôn hướng đến những giá trị tốt đẹp, nhân văn, và sẵn sàng giúp đỡ những người cần giúp đỡ.
câu 1 : miêu tả và biểu cảm
Câu 2: Người lính: Những người phải bỏ nhà đi lính, chịu cảnh gian khổ "nước khe cơm vắt" và hy sinh nơi chiến trận.
Người kỹ nữ: Những người phụ nữ "buôn nguyệt bán hoa", đánh đổi tuổi trẻ để mưu sinh, về già cô độc, không nơi nương tựa.
Người hành khất: Những người nghèo khổ, lang thang cầu bất cầu bơ, sống nhờ lòng thương hại và chết bên đường
Câu 3. Hiệu quả của việc sử dụng từ láy:
Lập lòe: Gợi tả hình ảnh ánh sáng yếu ớt, lúc ẩn lúc hiện, tạo nên không gian rùng rợn, thê lương của bãi chiến trường đầy âm khí.
Văng vẳng: Gợi âm thanh mơ hồ nhưng dai dẳng, xoáy sâu vào tâm trí, thể hiện nỗi đau đớn, oan ức không được giải tỏa của những linh hồn tử sĩ.
Hiệu quả chung: Tăng tính hình tượng, tạo không khí u ám, gợi sự đồng cảm, xót thương sâu sắc của tác giả trước những cái chết bi thảm.
Câu 4. Chủ đề và cảm hứng chủ đạo:
Chủ đề: Tiếng khóc thương cho những kiếp người nhỏ bé, bất hạnh, có cái chết đau đớn, cô độc trong xã hội cũ.
Cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng nhân đạo và lòng trắc ẩn sâu sắc. Đó là sự thấu cảm, đau xót của Nguyễn Du trước nỗi đau nhân thế và khát vọng an ủi những linh hồn bơ vơ.
Câu 5. Suy nghĩ về truyền thống nhân đạo của dân tộc:
Truyền thống nhân đạo là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt lịch sử dân tộc Việt Nam, được thể hiện rõ nét qua tinh thần "thương người như thể thương thân". Từ lòng trắc ẩn của Nguyễn Du trong văn chương đến những hành động nghĩa cử trong đời thực (như các chiến dịch thiện nguyện, cứu trợ thiên tai hiện nay), nhân đạo không chỉ là sự sẻ chia vật chất mà còn là sự thấu hiểu, tôn trọng phẩm giá con người. Trong bối cảnh hiện đại, truyền thống này chính là sức mạnh gắn kết cộng đồng, giúp chúng ta vượt qua những biến động và giữ vững bản sắc văn hóa tốt đẹp của cha ông.
Câu 1
Phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích trên là tự sự, miêu tả, biểu cảm .
Câu 2
Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích là những kiếp người đau khổ, bất hạnh.
Câu 3
Các từ láy sử dụng trong đoạn trích là “lập lòe ”; “ Văng vẳng ”.
Hiệu quả sử dụng từ láy là tăng sức gợi hình gợi cảm của dòng thơ và nhấn mạnh nỗi đau thương rùng rợn.
Câu 4
Chủ đề là nỗi đau của những kiếp người bất hạnh trong xã hội cũ , cảm hứng chủ đạo là lòng thương người mênh mông sâu sắc của tác giả .
Câu 5
Từ cảm hứng chủ đạo của đoạn trích ,có thể thấy truyền thống nhân đạo của dân tộc ta là sự đồng cảm sẻ chia sâu sắc với nỗi khổ đau của đồng loại đặc biệt là những người yếu thế bất hạnh . Đây là một giá trị văn hoá cốt lõi thể hiện tình thần “ thương người như thể thương thân ”. Trong xã hội hiện nay truyền thống này ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết ,giúp gắn kết cộng đồng ,xây dựng một xã hội công bằng văn minh và giàu tình thương . Mỗi người cần ý thức trách nhiệm gìn giữ và phát huy truyền thống này thông qua những hành động cụ thể như giúp đỡ người nghèo, ủng hộ các hoạt động từ thiện, và đấu tranh chống lại sự bất công .
Câu 1
-các phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích là tự sự và nghị luận
Câu 2
-Những kiếp người trong đoạn trích bao gồm hàng triệu người chết vì dịch bệnh và những linh hồn oan khuất
Câu 3
- sử dụng từ láy "lập lòe" và "văn vẳng" có hiệu quả trong việc tăng sức gợi hình gợi cảm cho câu văn
-Mô tả hình ảnh ngọn mờ ảo chập chờn, không ổn định, tạo cảm giác rùng rợn
-Diễn tả âm thanh tiếng oan vọng lại từ xa, mơ hồ, day dứt, làm nổi bật sự ai.
Câu 4
Chủ đề của đoạn trích là sự thương cảm đối với những số phận bi thảm, chết chóc do dịch bệnh, cảm hứng chủ đạo là tinh thần nhân đạo sâu sắc, xót thương cho những kiếp người bất hạnh.
Câu 5
Truyền thống nhân đạo của dân tộc ta là một giá trị văn hóa cao đẹp và bền vững. Nó thể hiện qua lòng yêu thương sự đồng cảm sâu sắc trước những đau khổ mất mát của người đồng bào. Cảm hứng chủ đạo từ đoạn trích càng khẳng định rõ nét tinh thần nhắc nhở về việc trân trọng sinh mạng con người và luôn sẵn sàng cứu mạng giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn. Cần được gìn giữ và phát huy mạnh mẽ trong mọi hoàn cảnh đặc biệt là trong thiên tai, dịch bệnh, để xây dựng một xã hội đoàn kết .
Câu 1
câu 5:
Từ cảm hứng chủ đạo của đoạn trích, có thể thấy truyền thống nhân đạo là một giá trị cốt lõi, lâu đời của dân tộc Việt Nam. Đó là tình yêu thương, sự đồng cảm sâu sắc giữa con người với con người, đặc biệt là với những số phận kém may mắn, bất hạnh. Truyền thống này không chỉ thể hiện qua sự sẻ chia, giúp đỡ trong cuộc sống hàng ngày mà còn được gửi gắm tinh tế, sâu sắc qua các tác phẩm văn học, nghệ thuật. Nó nhắc nhở mỗi người về trách nhiệm quan tâm, bảo vệ những người yếu thế, đấu tranh cho công bằng xã hội và giữ gìn những giá trị đạo đức tốt đẹp.
Câu 1:
Tự sự
Câu 2:
Người lính chết trận
Người phụ nữ "buôn phấn bán hoa"
Kẻ ăn mày hành khất
Câu 3:
Từ láy "lập lòe" gợi hình ảnh ma mị, âm u và "văng vắng" gợi âm thanh mơ hồ, day dứt kết hợp tạo không gian tang thương, nhấn mạnh nỗi oan khuất và khơi gợi lòng thương cảm.
Câu 4:
Chủ đề: Số phận đau khổ của những kiếp người bất hạnh trong xã hội.
Cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng nhân đạo xót thương, đồng cảm sâu sắc.
Câu 5:
Từ cảm hứng nhân đạo của tác phẩm, có thể thấy truyền thống nhân đạo là một mạch nguồn sâu xa trong văn hóa Việt.Đó là tình thương người, sự đồng cảm với nỗi đau của những kiếp người nhỏ bé, cùng khổ. Truyền thống ấy không chỉ thể hiện trong văn chương mà còn trong lối sống “thương người như thể thương thân", tinh thần tương thân tương ái, là nền tảng đạo lý quý báu của dân tộc.
Câu 1.
Đoạn trích sử dụng các phương thức biểu đạt chính: biểu cảm (bày tỏ niềm thương xót, cảm thông sâu sắc), tự sự (kể về các số phận, kiếp người), kết hợp miêu tả (khắc họa cảnh chiến trận, thân phận lầm than).
Câu 2.
Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích gồm:
Câu 3.
Từ láy “lập lòe” gợi ánh sáng yếu ớt, chập chờn của lửa ma trơi, tạo cảm giác u ám, rờn rợn.
Từ láy “văng vẳng” diễn tả âm thanh mơ hồ, dai dẳng, làm nổi bật nỗi oan khuất không nguôi.
→ Hai từ láy góp phần tăng sức gợi tả, gợi cảm, thể hiện rõ nỗi đau thương, xót xa cho các linh hồn bất hạnh.
Câu 4.
Câu 5.
Từ cảm hứng nhân đạo của đoạn trích, có thể thấy truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta là luôn biết yêu thương, đùm bọc con người. Dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, người Việt vẫn dành sự cảm thông cho những phận đời bất hạnh. Truyền thống ấy thể hiện tinh thần “lá lành đùm lá rách”, coi trọng nghĩa tình. Chính lòng nhân ái đã giúp dân tộc ta vượt qua nhiều đau thương, mất mát. Ngày nay, truyền thống ấy vẫn cần được gìn giữ và phát huy trong cuộc sống hiện đại.
c1 tư sự
Câu 1: Tự sự và nghị luận
Câu 2 : Các kiếp người bất hạnh, khổ đau trong xã hội cũ.
Câu 3 tăng sức gợi hình gợi cảm cho câu thơ
Nhấn mạnh sự thê lương, bi thương của khung cảnh và số phận con người
Câu 4 Số phận bi thảm của những con người nhỏ bé, bất hạnh trong xã hội cũ và cảm thông sâu sắc
Câu 5 : Truyền thống nhân đạo là một trong những giá trị cốt lõi của dân tộc Việt Nam. Nó thể hiện qua lòng yêu thương, sự đồng cảm và sẻ chia đối với những người bất hạnh, khổ đau. Truyền thống này nhắc nhở mỗi người cần biết sống vị tha, bao dung, sẵn sàng giúp đỡ người khác vượt qua khó khăn. Việc giữ gìn và phát huy truyền thống nhân đạo càng trở nên quan trọng, góp phần xây dựng một xã hội đoàn kết, văn minh và giàu tình người.
Câu 1
Biểu cảm
Câu 3
Biện pháp tu từ :Từ láy "văng vẳng'
Tác dụng :- Nhấn mạnh sự thảm khốc của dịch bệnh đã gây ra
-Giúp cho câu văn trở nên sinh động hấp dẫn hơn
Câu 2
Những người mắc vào khoá lính , những người phụ nữ lỡ làng một kiếp, những người hành khất
Câu 4
Nỗi thương xót của Nguyễn Du về một kiếp người bất hạnh cô đơn cõi âm và lời kêu gọi lòng từ bi nhân đạo đối với những số phận bi thảm
Câu 5
Truyền thống nhân đạo của dân tộc ta là một dòng chảy xuyên suốt lịch sử ,thể hiện qua lòng yêu thương con người,sự chia sẻ đùm bọc lẫn nhau trong khoá khăn hoạn nạn.Đó là tình thần lá lành đùm lá rác , thương người như thể thương thân,luôn đặt con người là vị trí trung tâm của mọi giá trị .Mỗi người cần ý thức được trách nhiệm của mình trong việc giữ gìn và phát huy những giá trị tốt đẹp
Câu 1
Phương thức: biểu đạt
câu 1: phương thức biểu đạt chính là : biểu cảm
câu 2: những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích
- Kiều cũng là một kiếp người đau khổ
câu 3:
- Từ láy được sử dụng ở 2 câu thơ là : lập lèo , văng vẳng
- Hậu quả:
+ Tăng sức gợi hình , gợi cảm
+ Thể hiện sâu sắc tâm trạng của nhân vật trữ tình và bức tranh xã hội đầy bất công
câu 4: chủ đề và cảm hứng chủ đạo
- Chủ đ chính của đoạn trích là số phận bi thảm của co người trong xã hội phong kiến đầy rẫy bất công. Cảm hứng chủ đạo là cảm hứng nhân đạo thể hiện sự xót thương, đồng cảm sâu sắc với những người đau khổ
câu 5:
Truyền kiều thể hiện truyền thống nhân đạo sâu sắc của dân tộc ta , đó là sự yêu thương, trân trọng con người, đặc biệt là những yếu thế , bất hạnh. Tinh thần này được thể hiện qua sự đồng cảm, thương xót của Nguyễn Du đối với số phận của Kiều và những người dân nghèo khổ. Truyện Kiều không chỉ là tiếng khóc cho số phận , cá nhân mà còn là tiếng nói tố cáo xã hội bất công đồng thời khẳng định giá trị nhân văn cao đẹp của dân tộc