Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.
Câu 2: Lí do để nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương đó là lời nói của ba: Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”
Câu 3: Việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa:
- Khi chúng ta dạy cho con cái mình những điều tốt đẹp, chúng sẽ mang những điều tốt đẹp đó để cư xử với tất cả mọi người xung quanh và dạy dỗ thế hệ sau.
- Những điều tốt đẹp ấy sẽ lan tỏa, có sức ảnh hưởng tích cực đến muôn đời sau.
- Làm tăng ý nghĩa, tính triết lí cho văn bản.
- Làm tăng sức thuyết phục, tin cậy cho nội dung mà tác giả muốn gửi gắm.
Câu 4:
- Trong cuộc đời mỗi người luôn có nhiều người thầy nhưng cha mẹ luôn là người thầy đầu tiên của con.
- Mỗi chúng ta sẽ cảm thấy ấm áp và hạnh phúc vô cùng khi được học những điều bình dị từ chính người cha yêu quý của mình. Cha luôn là người dành cả tình yêu thương và tấm lòng bao la của tình phụ tử thiêng liêng để chỉ bảo ta trên đường đời.
- Bài học từ người thầy đầu tiên ấy là điều vô cùng quý giá, sẽ để lại dấu ấn sâu sắc và gợi nhiều kỉ niệm để nhớ về trên chặng đường sau này.
Dưới đây là gợi ý trả lời cho các câu hỏi đọc hiểu dựa trên đoạn trích từ tác phẩm Nếu biết trăm năm là hữu hạn của Phạm Lữ Ân:
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
- Phương thức biểu đạt chính: Tự sự kết hợp với nghị luận.
- Đoạn trích kể lại câu chuyện về lời dạy của ba dành cho nhân vật "tôi" (tự sự), đồng thời thể hiện quan điểm, suy nghĩ về giá trị của sự chính trực và tình yêu thương (nghị luận).
Câu 2: Vì sao nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương?
- Nhân vật "tôi" muốn trở thành người chính trực và biết yêu thương vì ba mẹ đã dạy rằng dù con có sai lầm, ba mẹ vẫn yêu thương con vô điều kiện.
- Nhưng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành người chính trực và biết yêu thương.
- Lời dạy đó là động lực và lí do duy nhất để nhân vật "tôi" quyết tâm trở thành người như vậy.
Câu 3: Theo em, việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa gì?
- Câu trích nhấn mạnh tính liên tục của việc giáo dục và truyền lại giá trị đạo đức qua các thế hệ.
- Việc dạy con không chỉ ảnh hưởng đến con cái mà còn ảnh hưởng đến cả các thế hệ tiếp theo (cháu chắt).
- Điều này thể hiện trách nhiệm và tầm quan trọng của việc giáo dục con cái trong gia đình.
Câu 4: Em rút ra được thông điệp gì từ những câu văn sau:
“Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.”
- Thông điệp:
- Sự học hỏi từ người thân, đặc biệt là từ cha mẹ, có ý nghĩa sâu sắc và đặc biệt hơn so với việc học từ người khác.
- Những bài học đời thường, kỹ năng sống khi được truyền đạt từ người thân yêu mang giá trị tinh thần và tình cảm lớn lao.
- Mối quan hệ gắn bó, sự tin tưởng và tình cảm gia đình làm cho việc học trở nên ý nghĩa và đáng trân trọng hơn.
Nếu bạn cần mình giải thích thêm hoặc hỗ trợ làm bài tập khác, cứ hỏi nhé!
câu1
Biển đảo – Nơi mà hàng triệu người đang luôn bảo vệ. Biển đảo là một phần máu thịt của Tổ quốc, vì vậy có muôn vàn trái tim ngày đêm hướng về biển đảo, dành tình yêu cho những người lính biển cùng các chiến sĩ, các lực lượng ngày đêm bảo vệ chủ quyền biển đảo nước nhà. Những tưởng biển đảo bình yên với những con sóng nhẹ xô bờ, thế nhưng những ngày tháng này cả nước vẫn đang chống chịu với cơn sóng ngầm, bão giông, sóng gió chưa bao giờ lặng im trên mảnh đất xanh của Tổ quốc … Là một học sinh, bản thân em luôn mang trong tim tình yêu biển đảo, tình yêu và lòng khâm phục tới những người lính biển, những ngư dân chân chất nơi đảo xa. Có chút chạnh lòng, xót xa, lo lắng khi biển xanh dậy sóng,… em mong rằng biển đảo sẽ bình yên, rạng rỡ nụ cuoiw
Để bảo vệ chủ quyền biển đảo, trước hết thanh niên và thanh niên học sinh nói riêng phải xác định phải giữ biển đảo bằng tri thức về chủ quyền biển đảo. Chúng ta cần nghiên cứu và nhận thức sâu sắc về ý nghĩa thiêng liêng chủ quyền biển đảo và giá trị to lớn chủ quyền mà ông cha ta đã đổ xương máu để xây dựng; về lịch sử Việt Nam đặc biệt là lịch sử địa lý liên quan đến chủ quyền biển đảo, về lịch sử hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa… tìm hiểu rõ chính sách ngoại giao nhất quán của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề biển Đông. Thanh niên cần hưởng ứng và tích cực tham gia các diễn đàn hợp pháp trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên internet, khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên các diễn đàn, đồng thời kịch liệt lên án và đấu tranh tham gia ngăn chặn các hành vi xâm phạm phạm chủ quyền biển đảo Việt Nam. Thanh niên là hậu phương chỗ dựa tình cảm vững chắc đối với các lính biển đảo, bằng những việc làm thiết thực như gửi thư đến các lính hải đảo để chia sẻ động viên và tiếp sức cho các anh thêm nghị lực để trông giữ biển đảo. Điều quan trọng, thanh niên cần không ngừng tu dưỡng phẩm chất người Việt Nam mới, tích cực tham gia xây dựng đất nước giàu mạnh, có định hướng lý tưởng yêu nước và đoàn kết để tạo nên sức mạnh bảo vệ chủ quyền biển đảo. Bên cạnh đó, mỗi người chúng ta cần sẵn sàng chuẩn bị tinh thần tham gia trực tiếp vào công cuộc giữ gìn biển đảo quê hương bằng tất cả những gì mình có thể.
Biển đảo Việt Nam là một phần lãnh thổ thiêng liêng không thể tách rời của Tổ quốc được cha ông truyền lại. Trách nhiệm của tuổi trẻ nói riêng là ra sức gìn giữ toàn vẹn phần lãnh thổ này như lời Bác Hồ năm xưa đã dặn “các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước
Câu 2
Truyện ngắn “ Vợ nhặt” của Kim Lân được sáng tác sau cách mạng tháng Tám nhưng lấy bối cảnh là nạn đói năm 1945. Đặt trong bối cảnh ra đời của tác phẩm, nhà văn đã làm toát lên tấm long yêu thương, đùm bọc lẫn nhau và khát vọng hạnh phúc của những người người khổ. Vẻ đẹp nhân bản ấy được tác giả xây dựng thành công ở hình tượng nhân vật “bà cụ Tứ” – mẹ anh Tràng- người “nhặt vợ”.Bà cụ Tứ trước hết là người mẹ nghèo khổ đã già yếu với cái lưng “long khòng”, khẽ mắt “lèm nhèm “,”khuôn mặt bủng beo, u ám “. Những hành động cử chỉ của cụ “nhấp nháy hai con mắt”,”chậm chạp hỏi”, “lập cập bước đi”, “lật đật:, “lễ mễ” cũng thể hiện cụ là một người đã già, không còn khỏe mạnh. Hơn nữa người phụ nữ ấy còn bị đặt trong hoàn cảnh nghèo nàn, đói khổ mà cụ nói “ cuộc đời cực khổ dài đằng đẵng”.
Trong tác phẩm, bà cụ Tứ chỉ xuất hiện ở giữa truyện khi anh Tràng đưa vợ về nhà, nhưng nhân vật này vẫn thu hút được sự quan tâm của người đọc bởi những vẻ đẹp tâm hồn, tính cách.
Trong người mẹ già nua, đói khổ ấy có một tình yêu thương dành cho con cái sâu sắc. Cụ thương người con trai của mình “cảm thấy ai oán xót thương cho số phận đứa con mình”. Trong kẽ mắt kèm nhàm của cụ rỉ ra hai dòng nước mắt. Cụ đã sớm lo lắng cho cuộc sống tương lai của đứa con mình” không biết chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua cơn đói này không”. Bà còn dành tình yêu thương cho người con dâu mới của mình. Bà nhìn thị nghĩ :”Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này người ta mới lấy con mình, con mình mới có vợ được”. Đó là tấm lòng người mẹ không khinh rẻ mà tỏ ra thông cảm thấu hiểu hoàn cảnh con dâu, thậm chí bà còn cho đó là may mắn của con trai mình, gia đình mình khi có con dâu mới. Điều đo chứng tỏ bà cụ Tứ rất hiểu mình, hiểu người. Tình yêu thương còn thể hiên qua những lời nói của bà cụ dành cho con “Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi may ra ông giời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời?…". Bà nói với con dâu bằng lời của một người từng trải – vừa lo lắng, vừa thương xót, đồng thời động viên con bằng triết lý dân gian”ai giàu ba họ ai khó ba đời, hướng con tới tương lai tươi sáng. "… Năm nay thì đói to đấy. Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá…". Câu nói thể hiện tấm long thương xót cho số phận của những đứa con. Và để ngày vui của các con thêm trọn vẹn, sáng hôm sau cụ” xăm xắn quét tước nhà cửa”. Hành động giản dị thôi nhưng thể hiện tấm lòng người mẹ tuy nghèo nhưng hết lòng thương yêu con. Và thế là đám cưới không nghi lễ, không đón đưa của đôi vợ chồng trẻ được chan đầy bằng tình yêu thương và tấm long lo lắng của người mẹ nghèo.
Nhân vật bà cụ Tứ bị đặt trong hoàn cảnh éo le, qua đó ta thấy được tinh thần lạc quan của người mẹ già yếu, tuy sắp đến độ gần đất xa trời nhưng luôn hướng về tương lai thể hiện qua những hành động và lời nói. Cụ tin vào triết lý dân gian: ai giàu ba họ ai khó ba đời- lạc quan về một ngày mai tươi sáng.Cụ đồng tình khi thấy Tràng thắp đèn mặc dù cụ biết lúc đó dầu rất đắt, dầu là thứ xa xỉ. Nếu để ý ta sẽ thấy chính bà lão “gần đất xa trời”này lại là người nói về tương lai nhiều nhất” cụ nói toàn chuyện vui, chuyện sung sướng về sau. Đó không đơn thuần chỉ là niềm lạc quan của người lao động mà còn là ước mơ về cuộc sống có phần tươi sáng hơn cho các con. Bà cụ trông cũng” tươi tỉnh khác hẳn ngày thường”. Chính tâm trạng vui tươi phấn khởi của người mẹ già đã làm sáng lên cái không gian u ám và góp phần vào ngày vui trọng đại của cuộc đời người con trai. Sáng hôm sau cụ xăm xắn quét dọn nhà cửa, đó là những công việc sinh hoạt thường ngày nhưng đặt trong hoàn cảnh này, hành động quét dọn làm nhà cửa trông sạch sẽ, tinh tươm hơn giống như cụ đang muốn tự tay quét đi những tăm tối của ngày cũ và đón chờ những điều tươi sáng hơn. Và hình ảnh người mẹ già, cười đon đả: “Cám đây mày ạ, hì. Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem. Xóm ta khối nhà chả có cám mà ăn đấy", cứ quẩn quanh, ám ảnh tâm chí người đọc. Cái lạc quan không những không bị mất đi mà lại càng trở nên mãnh liệt hơn trong mưa nắng cuộc đời. Trong buổi sáng đầu tiên đón tiếp nang dâu mới, nồi cháo cám “ chát xít, nghẹn bứ trong miệng” mà ngon ngọt trong long, ngọt bởi tâm lòng người mẹ nghèo đang cố xua đi cái không khí ảm đạm bằng thái độ lạc quan và sự tươi tỉnh động viên con cố gắng vượt qua hoàn cảnh. Nhưng sự thật là vị đắng ngắt của cháo cám và tiếng thúc thuế từ xa vọng lại đã không làm niềm vui nhỏ của những con người nghèo khổ cất cánh lên được.
Bằng tài năng và tấm lòng đồng cảm sâu sắc, Kim Lân đã dựng lên “hình ảnh chân thật và cảm động về người mẹ nông dân nghèo khổ trong trận đói khủng khiếp năm 1945". Nhân vật bà cụ Tứ được khắc họa chủ yếu qua sự vận động trong nội tâm nhân vật. Ngoài ra, qua những lời nói, cử chủ, hành động của nhân vật ta cũng có thể cảm nhận được tấm lòng yêu thương con sâu sắc. Ở bà cụ Tứ thấp thoáng hình ảnh của nhân vật lão Hạc, của mẹ Dần, vợ chồng Dần ( Nam Cao) những người nông dân nghèo nhưng chỉ sống vì con, hết lòng yêu thương con. Dẫu chỉ là một nhân vật phụ nhưng bằng tài năng, và tình cảm thiết tha trừu mến đối với tấm lòng người mẹ nghèo, Kim Lân đã khắc họa được chân dung nhân vật vừa sinh động, chân thực, vừa cảm động, day dứt với người đọc. Chính những hành động, lời nói của cụ, nụ cười trên khuôn mặt bủng beo u ám đã làm sáng bừng thiên truyện sau cái tối tăm, cái bế tắc của đói nghèo. Ý nghĩa nhân bản mà nhà văn muốn gửi gắm qua nhân vật này là con người dù có đặt vào hoàn cảnh khốn cùng, cận kề cái chết nhưng vẫn không mất đi những giá trị tinh thần và phẩm chất tốt đẹp: lòng yêu thương con người và thái độ lạc quan hi vọng vào tương lai tươi sáng dù cho chỉ có một tia hi vọng mỏng manh. Kim Lân đã khám phá và thể hiện thành công điều đó ở nhân vật bà cụ Tứ. qua đó thể hiện rõ tấm lòng nhân hậu , bao dung, tình yêu thương con của bà cụ Tứ
Vợ nhặt của Kim Lân là một trong những tác phẩm xuất sắc và tiêu biểu nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại khi viết về chủ đề người nông dân dưới xã hội cũ, đặc biệt là trong giai đoạn đau thương nhất của đất nước. Tuy nhiên trong tác phẩm nội dung chính mà tác giả muốn đề cập đến không phải là phản ánh, tố cáo hiện thực mà là tấm lòng trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp trong tâm hồn con người, cùng với sức mạnh của tình người, tình thân trong gia định đã trở thành cơ sở cho những khát vọng sống, niềm hy vọng và tin tưởng vào tương lai mãnh liệt ngay trong những hoàn cảnh khốn cùng nhất. Bên cạnh hai nhân vật là Tràng và thị với những nét phẩm chất riêng, thì nhân vật cụ Tứ lại hiện lên với vẻ đẹp của tình mẫu tử, thương con sâu sắc.
Giữa nạn đói hoành hành năm 1945, hàng triệu đồng bào ta phải chịu chết đói, nhiều người phải lìa xa quê cha đất tổ đi tha hương cầu thực nơi xứ người, mẹ con bà cụ Tứ là một trong số đó. Bà cụ là một phụ nữ nông dân nghèo khổ, có lẽ rằng cả cuộc đời bà đã phải chịu nhiều đắng cay vất vả, bởi lẽ cả cuộc đời bà nằm trọn trong những ngày tháng đất nước chất chứa nhiều đau thương, lầm than dưới chế độ thực dân nửa phong kiến. Cả cuộc đời bà dành để kiếm từng đồng, từng hào chắt bóp nuôi con khôn lớn, cho đến khi tuổi đã gần đất xa trời, bà cụ tội nghiệp vẫn không được hưởng những ngày tháng sung sướng. Thay vào đó cụ vì già cả, ốm yếu phải sống dựa vào đứa con trai là anh Tràng với một công việc bấp bênh, bữa đói bữa no, và bên ngoài kia thần chết đang chực chờ những con người khốn khổ, cùng đường vì cái đói, trong đó có cả hai mẹ con bà cụ Tứ. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt như vậy tình mẫu tử của bà cụ lại càng hiện lên rõ rệt, cả đời làm lụng nuôi con khôn lớn, đến khi Tràng đã lớn khôn thì bà cụ lại sầu khổ vì không kiếm nổi cho con một tấm vợ, một người đàn bà đỡ đần hôm sớm. Tất cả chỉ tại bà nghèo quá, người ta cưới vợ khi có của ăn của để, khi ăn nên làm ra, còn bà lại chẳng có gì trong tay thành thử phải tội con bà cô đơn lẻ bóng. Mà có khi đến lúc mà mất đi thì đứa con trai tội nghiệp lại phải chịu cảnh côi cút một mình trên đời. Điều ấy làm bà cụ Tứ tủi phận nhiều lắm.
Cho đến một hôm thấy Tràng dẫn một người phụ nữ lạ mặt về nhà, trong lòng bà cụ nổi lên biết bao nhiêu là cớ sự thắc mắc, thế nhưng bà không hề tỏ ra bối rối mà quay sang nhìn con tỏ ý không hiểu, để chờ Tràng giải thích, để cho Tràng có cơ hội được phân trần câu chuyện, chứ không lên tiếng trách móc. Đó là tấm lòng của một người mẹ trải đời, thương con bằng một tình thương dịu dàng, săn sóc. Rồi đến khi đã rõ sự mười mươi, bà cụ "hiểu ra bao nhiêu là cớ sự" rồi thì bà im lặng, những dòng suy nghĩ chảy trôi, quẩn quanh liên tục bên ngoài cái sự việc con bà lấy vợ, một người vợ theo không. Nhưng không chần chừ quá lâu, bà cụ Tứ đã sống trên cuộc đời này ngót nghét vài chục năm trời đằng đẵng, có cái khổ, cái sự lạ nào mà bà không hiểu thấu. Đứng trên vai trò là một người mẹ có tấm lòng thương con sâu sắc, bà hiểu được chuyện anh Tràng lấy vợ âu cũng là chuyện hợp tình hợp lý, bởi Tràng đã đến cái tuổi ấy lâu lắm rồi. Thế nhưng vừa nghĩ thông chuyện này thì bà cụ lại chợt nghĩ đến chuyện khác, bao nhiêu mối lo toan bỗng đổ dồn về lòng người mẹ già tội nghiệp, bà thương con "ai oán xót thương cho số kiếp con trai mình", cũng lại tủi cho phận người làm mẹ, nhưng không thể lo nổi cho con một cái đám cưới, dựng vợ gả chồng tử tế cho con, để nó phải tự thân đi kiếm về một người vợ. Càng nghĩ bà lại càng lấy làm buồn lòng, xúc động "trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai hàng nước mắt". Ấy rồi ăn ở với nhau như thế "biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau qua cơn đói khát này không", là những suy nghĩ quẩn quanh trong lòng bà cụ Tứ. Một người mẹ thương con không nề hà, trách mắng con mình tự tiện cưới gả, bởi bà hiểu phận mình và phận con, bà chỉ lo lắng mãi chuyện cuộc sống tương lai của hai vợ chồng Tràng, sợ con chịu khổ cực, rồi đương không lại liên lụy cả người khác nữa. Cái đám cưới chớp nhoáng khác thường này đem đến cho cụ niềm vui có dâu con, nhưng cũng lại mang đến cho bà biết bao nhiêu trăn trở, rối rắm. u cũng là lòng người mẹ yêu thương và suy nghĩ cho con trăm bề. Cuối cùng sau khi đã đi qua những xúc động, buồn tủi, bà cụ Tứ đã nhanh chóng vực lại tinh thần, thông suốt mọi vấn đề rằng "Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này, người ta mấy lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được. Thôi bổn phận bà là mẹ, bà đã chẳng lo lắng được cho con...Chẳng may ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế nào mà lo cho hết được?". Bà nhanh chóng thấu hiểu và thông cảm cho hoàn cảnh đáng thương của thị, đồng thời lòng bà đã dấy lên những tình cảm thương yêu người con dâu mới về. Bà nhẹ nhàng giục thị ngồi xuống, rồi nhỏ nhẹ khuyên giải, nhắc nhở động viên, vun vén vào cho hai vợ chồng Tràng, dặn dò họ cách ăn ở với nhau bằng những lời phấn khởi "Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời?". Mặc dầu rằng trong lòng bà vẫn còn trăm mối tơ vò cảm xúc, nhưng không vì thế mà bà làm các con bối rối, mất vui, bà quyết giữ cho riêng bà những lo lắng, những buồn tủi để cho đôi tân nhân một sự động viên trước khi bước vào cuộc đời mới.
Sau đêm tân hôn của vợ chồng Tràng, căn nhà tàn tạ dưới đôi bàn tay của mẹ chồng nàng dâu bỗng trở nên sáng sủa lạ thường, thấy được những đức tính tốt đẹp, sự cẩn thận chu đáo của thị và cụ mừng lắm "cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên". Trong bữa cơm sáng, dẫu rằng mâm cơm ngày đói kém trông thật thảm hại với mớ rau chuối thái mỏng và cháo loãng thế nhưng không khí trong nhà vẫn rất vui vẻ đầm ấm. Bà cụ thương con, thương dâu, thành thử bà cố xua đi cái nghèo đói đang hiện hữu trước mắt cặp tân nhân bằng cách liên tục kể những chuyện vui, kế hoạch làm ăn, nuôi gà, mở ra trước mắt những tương lai tốt đẹp đầy hy vọng. Đặc biệt người mẹ nghèo khó còn chiêu đãi con trai và con dâu bằng một nồi "chè khoán", mà thực tế đó là là cháo cám để mừng tân hôn. Dù vị của món ăn này vô cùng cùng khó ăn thế nhưng đó là cả tấm lòng của một người mẹ thương con, bà cụ tội nghiệp vì nghèo xác xơ không lấy gì để làm cỗ làm bàn, thế nên chỉ còn cách cố kiếm cho được ít cám về nấu làm món ăn đổi bữa. Ở một nét suy diễn sâu xa nào đó thì nồi cháo cám còn mang ý nghĩa là lời nhắc nhở của cụ Tứ dành cho các con về những ngày gian khó đang chờ đợi trước mắt, hy vọng rằng vợ chồng Tràng vẫn được vững lòng như ngày hôm nay, ăn nồi cháo cám đắng ghét, nghẹn ứ nơi cổ họng mà vẫn cảm thấy vui vẻ hạnh phúc.
Nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt là một hình tượng tiêu biểu cho những bà mẹ Việt Nam xưa, cả cuộc đời hy sinh sinh vì con cái, yêu thương con sâu sắc bằng những tình cảm thấu hiểu, bao dung và vị tha. Dù rằng bà sống trong cảnh nghèo khó tột cùng, thế nhưng với sự từng trải của mình bà vẫn giành lấy được những sự lạc quan, vui vẻ trong cuộc sống, trở thành kim chỉ nam hướng vợ chồng Tràng đến một tương lai tươi sáng, tốt đẹp hơn.
- Tự vấn bản thân: Trong những khoảnh khắc yên tĩnh, con người có cơ hội nhìn lại hành động, suy nghĩ, sai lầm và cả những ước mơ của mình. Sự thinh lặng giúp ta trung thực hơn với chính mình.
- Thấu hiểu thế giới xung quanh: Như cái cây của Lovelock, vạn vật trong tự nhiên vận hành trong sự thinh lặng tuyệt đối. Lắng nghe sự thinh lặng giúp ta cảm nhận được nhịp đập của sự sống, sự biến đổi tinh tế của thiên nhiên mà những âm thanh huyên náo thường che lấp.
- Tăng cường sự tập trung và sáng tạo: Khi không bị phân tán bởi tiếng ồn, trí óc con người hoạt động hiệu quả hơn, ý tưởng mới mẻ dễ dàng nảy sinh.
- Văn học hiện thực phê phán: Các nhà văn như Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Ngô Tất Tố (Tắt đèn) đã sử dụng ngòi bút sắc bén để phơi bày những thói hư tật xấu, sự bất công của xã hội, nhằm thức tỉnh cộng đồng. Cái đẹp trong tác phẩm của họ là cái đẹp của sự thật trần trụi, có sức lay động mạnh mẽ.
- Văn học cách mạng: Các nhà thơ như Tố Hữu (Việt Bắc) đã gắn thơ ca với sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Thơ của ông vừa giàu tính trữ tình, vừa mang tính chính trị sâu sắc, là tiếng nói chung của cộng đồng trong công cuộc giải phóng dân tộc.
Câu 1: Nghị luận xã hội (8 điểm)
Chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng
Bài làm:
Con người thường bị cuốn vào những ồn ào, náo nhiệt của cuộc sống, đến mức quên mất rằng sự thinh lặng cũng có thể nói lên rất nhiều điều quan trọng. Trong đoạn văn của James Lovelock, Trái Đất được ví như một cái cây lặng lẽ tồn tại và phát triển một cách âm thầm. Điều đó khiến ta nhận ra: có những thay đổi lớn lao, những câu chuyện sâu sắc không cần lời nói vẫn đang diễn ra ngay bên cạnh chúng ta, trong sự yên tĩnh và tĩnh lặng.
Lắng nghe sự thinh lặng chính là một cách để ta thấu hiểu, cảm nhận sâu sắc hơn về thế giới xung quanh. Sự thinh lặng không phải là khoảng trống, không phải là sự vắng mặt của âm thanh, mà là một trạng thái tích cực, chứa đựng sự sống động và những thông điệp mà tiếng ồn không thể mang lại. Khi ta biết dừng lại, lắng nghe thinh lặng, ta sẽ nhận ra những vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, sự biến đổi của cuộc sống và cả tiếng nói của chính tâm hồn mình.
Trong cuộc sống hiện đại, con người dễ bị cuốn vào guồng quay công việc, công nghệ, xã hội mà quên mất việc dành thời gian để yên tĩnh suy ngẫm, tĩnh tâm. Việc lắng nghe sự thinh lặng không chỉ giúp ta lấy lại cân bằng tinh thần mà còn giúp ta hiểu rõ hơn về bản thân và những giá trị cuộc sống. Sự thinh lặng là nguồn sức mạnh để ta đối diện với khó khăn, là không gian để nuôi dưỡng trí tuệ và lòng nhân ái.
Thực tế, nhiều bậc vĩ nhân, nhà sáng tạo nghệ thuật, nhà tư tưởng đều trân trọng khoảng lặng để sáng tạo và suy nghĩ sâu sắc. Thiên nhiên cũng dạy chúng ta bài học quý giá về sự kiên nhẫn và phát triển bền vững qua sự thinh lặng của cây cối, đất trời. Lắng nghe sự thinh lặng là học cách quan sát, trân trọng những điều nhỏ bé mà bền vững.
Như vậy, trong cuộc sống bộn bề ngày nay, mỗi người cần biết tôn trọng và dành thời gian lắng nghe sự thinh lặng. Đó là con đường dẫn ta đến sự thấu hiểu, cảm thông và yêu thương. Sự thinh lặng không phải là khoảng cách, mà là kết nối sâu sắc với thế giới và chính bản thân mình.
Kết luận:
Lắng nghe sự thinh lặng là nghệ thuật sống, là cách để ta khám phá những giá trị chân thật và trường tồn. Hãy học cách dừng lại, lắng nghe và cảm nhận, để cuộc sống thêm ý nghĩa và sâu sắc hơn.
Câu 2: Nghị luận văn học (12 điểm)
Bàn luận câu nói của A. Camus:
“Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”
Bài làm:
Albert Camus – nhà văn, triết gia lỗi lạc của thế kỷ XX đã đưa ra một quan điểm sâu sắc về người nghệ sĩ và vị trí của họ trong xã hội. Theo ông, người nghệ sĩ không tồn tại tách biệt mà luôn vận động trong mối quan hệ hai chiều: giữa cá nhân với cái đẹp và giữa cá nhân với cộng đồng.
Thứ nhất, cái đẹp không thể bỏ qua là mục tiêu, là lý tưởng mà người nghệ sĩ theo đuổi. Người nghệ sĩ luôn không ngừng tìm kiếm, sáng tạo ra cái đẹp qua tác phẩm của mình – đó có thể là vẻ đẹp thẩm mỹ, vẻ đẹp tư tưởng hay vẻ đẹp nhân văn. Cái đẹp ấy vượt lên trên sự tầm thường, cái đẹp là nguồn cảm hứng và là tiếng nói riêng của người nghệ sĩ, giúp họ khẳng định giá trị và bản sắc cá nhân.
Tuy nhiên, người nghệ sĩ cũng không thể tách rời cộng đồng – nơi họ sinh sống và làm việc. Cộng đồng là nơi cung cấp chất liệu sáng tạo, là đối tượng truyền tải thông điệp, là nguồn cảm hứng và cũng là nơi tác phẩm được đón nhận. Người nghệ sĩ có trách nhiệm phản ánh, phê phán xã hội, góp phần định hướng những giá trị tích cực, đồng thời thấu hiểu, đồng cảm với cuộc sống con người. Nghệ thuật vì thế luôn mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc.
Mối tương quan liên tục giữa cái đẹp và cộng đồng tạo nên một con đường mà người nghệ sĩ phải đi – đó là quãng đường tôi luyện bản thân không ngừng nghỉ. Họ vừa phải giữ vững lý tưởng sáng tạo, vừa phải lắng nghe, giao tiếp và đồng hành với con người và xã hội. Nếu chỉ theo đuổi cái đẹp mà quên cộng đồng, nghệ thuật sẽ trở nên hời hợt, xa rời thực tế; ngược lại, nếu chỉ chú trọng cộng đồng mà thiếu cái đẹp, nghệ thuật sẽ mất đi giá trị thẩm mỹ và chiều sâu nhân văn.
Thực tế trong văn học Việt Nam và thế giới đã có nhiều nghệ sĩ tiêu biểu sống và sáng tạo theo tinh thần này. Họ luôn hướng tới cái đẹp – cái đẹp của sự chân thực, nhân hậu và tự do; đồng thời luôn giữ mối liên hệ mật thiết với đời sống nhân dân, phản ánh những vấn đề xã hội, con người một cách sâu sắc và thuyết phục.
Như vậy, câu nói của A. Camus đã nhấn mạnh sự cân bằng cần thiết trong đời sống nghệ sĩ, giữa cá nhân và xã hội, giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng. Người nghệ sĩ không chỉ là người sáng tạo mà còn là người đồng hành, người truyền cảm hứng và người bảo vệ những giá trị cao đẹp của nhân loại.
Kết luận:
Người nghệ sĩ thực sự là người tôi luyện trong hành trình kết nối giữa chính mình và cộng đồng, giữa cái đẹp không thể bỏ qua và trách nhiệm đối với xã hội. Chỉ khi đó, nghệ thuật mới phát huy được sức mạnh và giá trị đích thực của nó.
1, nghị luận
2, Tác dụng: nhấn mạnh thông điệp mà văn bản muốn truyền đạt đó là vai trò của hy vọng đối với đời sống tinh thần của mỗi con người.
3,
Tác giả cho rằng "hy vọng duy trì cuộc sống của chúng ta mà không có gì có thể thay thế được" bởi vì hy vọng chính là những niềm tin vào những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, là những niềm tin vững chắc vào những điều tuyệt vời sẽ xảy ra. Chính vì vậy, nhờ có hy vọng mà con người dù trong hoàn cảnh tồi tệ và tối tăm nhất vẫn sẽ luôn vững tin và có sức mạnh để tiếp tục nỗ lực và vượt qua được những thử thách chông gai. Nói cách khác, hy vọng chính là nguồn sức mạnh tinh thần của mỗi người trong cuộc sống.
4,
Thông điệp mà em tâm đắc nhất chính là "đừng bao giờ đánh mất hy vọng". Bởi vì hy vọng chính là nguồn sức mạnh giúp mỗi cá nhân vượt qua những thử thách, chông gai và mở ra con đường cho mỗi người định hướng trong tương lai. Nhờ có hy vọng mà con người vẫn tích cực và hạnh phúc sống dù trong hoàn cảnh bế tắc vì còn hy vọng là còn sức mạnh tinh thần để đạt được điều mà mình mong muốn.
DÀN Ý
1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhân vật Nguyệt và cảm nhận của Lãm về nhân vật.
2. Cảm nhận trên của Lãm tập trung vào vẻ đẹp tâm hồn và đề cao sức mạnh từ vẻ đẹp tâm hồn ấy.
3. Giới thiệu chung về nhân vật Nguyệt .
- Là nhân vật chính của tác phẩm. Nguyệt là một nữ thanh niên xung phong làm việc tại Cầu Đá Xanh ( một vị trí trọng yếu trên tuyến đường Trường Sơn)
- Nguyệt được miêu tả có vẻ đẹp lí tưởng cả ngoại hình lẫn tâm hồn.
- Vài nét về ngoại hình ( D/c). Nhưng quan trọng nhất là vẻ đẹp bên trong tâm hồn.
4. Vẻ đẹp trong tâm hồn: Thể hiện ở các mặt sau:
- Có lý tưởng cao đẹp: Cô tự nguyện rời ghế nhà trường lên đường xây dựng Cầu Đá Xanh theo tiếng gọi của tổ quốc. Chấp nhận nhiều khó khăn gian khổ.
- Có tình yêu đẹp đẽ, trong sáng, lãng mạn: Yêu một người (Lãm) chưa hề gặp mặt và rất chung thủy dù bom đạn chiến tranh rất ác liệt.
- Có tinh thần đồng đội: thể hiện qua chi tiết giúp Lãm cứu xe. Cũng ở chi tiết này, ta nhận ra ở Nguyệt những phẩm chất của một nữ thanh niên xung phong: Nhanh nhẹn, tháo vác, bình tĩnh dầy bản lĩnh, gan dạ, dũng cảm...
=> Nguyệt có tình yêu và niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống. Và điều đó giúp cô vượt qua những khó khăn, khốc liệt của chiến tranh. Rõ ràng Lãm cẩm nhận khá sâu sắc và chính xác về vẻ đẹp trong tâm hồn của Nguyệt.
5. Vẻ đẹp ấy của Nguyệt - sợi chỉ xanh óng ánh trong tâm hồn - cũng chính là hạt ngọc mà Nguyễn Minh Châu cần tìm.
“Làng ở trong tầm đại bác...” - truyện của Nguyễn Trung Thành đã mở đầu như vậy. Chỉ trong chưa đầy mười chữ làm dựng lên được cả một tư thế của sự sống trong sự đối diện cùng cái chết, của cái tồn sinh trong vòng đe dọa của sự huỷ diệt bạo tàn, cái mở của truyện thật đã cô đúc gọn gàng mà vẫn đầy uy nghi, tầm vóc. “Làng ở trong tầm đại bác..”. Một cây viết truyện ngắn đã không sai khi quả quyết rằng câu đầu trong một đoản thiên luôn luôn “là một thứ âm chuẩn” nó “giúp vào việc tạo nên âm hưởng chung của toàn bộ tác phẩm”. Ông còn nhắc nhở, trước hết là tự nhắc nhở mình, rằng “phải tập cho mình nghe được nhạc điệu” của cái câu đầu tiên đó.
Vậy thì chúng ta hãy lắng nghe âm hình chủ đạo của Rừng xà nu qua câu mở đầu vừa dẫn. Câu văn hứa hẹn về một khúc bi tráng của chiến tranh. Và cái cảm hứng bi tráng ấy, được nén, được tích tụ trong câu văn cầm trịch, sẽ đợc thi triển trong những câu còn lại của thiên truyện ngắn.











câu 1: Vẻ đẹp trong tâm hồn con người và vẻ đẹp của thiên nhiên trong truyện ngắn "Muối của rừng"
Câu 2 : Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó.
câu 3
Mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất.
Câu 4
BPTT : Liệt Kê
Tác dụng
Tăng sức gợi hình gợi cảm : Liệt kê hàng loạt các hình ảnh (chim xanh, gà rừng, khỉ, núi non, hang động, rừng xanh, tiếng súng, tiếng kêu buồn thảm, tiếng rú) giúp người đọc hình dung một cách toàn diện và sinh động về không gian rừng núi, sự phong phú của thế giới tự nhiên và các âm thanh đang diễn ra.
Nhấn mạnh sự đối lập và xung đột
Làm nổi bật nguyên nhân
Câu 5
Mục Đích : Nhằm khẳng định và ca ngợi vẻ đẹp của sự hướng thiện trong tâm hồn con người và vẻ đẹp của thiên nhiên. Đồng thời, kêu gọi nhận thức về trách nhiệm của con người đối với sự sống và môi trường tự nhiên.
Quan điểm : Quan điểm tiến bộ, nhân văn và tích cực. Người viết tin rằng: Cái đẹp của thiên nhiên có khả năng thức tỉnh lương tri của con người (Quan điểm Thiên nhiên thức tỉnh nhận thức). Sự thay đổi, hướng thiện là một quá trình đáng trân trọng và cần được nhìn nhận một cách nhân ái (Quan điểm Hướng thiện là vẻ đẹp).
Tình cảm :
Trân trọng, ngợi ca và yêu mến đối với thiên nhiên và những hành động thiện lương. Thể hiện sự đồng cảm với quá trình chuyển biến nội tâm phức tạp của nhân vật ông Diểu, kết hợp với thái độ phê phán nhẹ nhàng hành động hủy hoại thiên nhiên ban đầu của con người.Câu 1.
-Luận đề của văn bản là: làm rõ và khẳng định cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp, thể hiện qua vẻ đẹp thiên nhiên, sự hướng thiện của con người và sự hài hòa giữa con người với thiên nhiên.
Câu 2.
-Một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định trong văn bản là:
“Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó.”
Câu 3.
Mối quan hệ giữa nhan đề và nội dung văn bản:
-Nhan đề nêu trực tiếp vấn đề nghị luận là “cái đẹp” trong truyện ngắn Muối của rừng.
-Nội dung văn bản phân tích cụ thể các biểu hiện của cái đẹp, làm sáng tỏ và khẳng định ý nghĩa của nhan đề.
Câu 4.
-Biện pháp liệt kê được sử dụng ở các chi tiết: “chim xanh, gà rừng, khỉ, núi non, hang động, rừng xanh, ba con khỉ” và “tiếng súng săn dữ dội, tiếng kêu buồn thảm của khỉ đực, tiếng rú kinh hoàng của khỉ con”.
-Tác dụng: làm nổi bật sự phong phú, sinh động của thiên nhiên và tạo sự đối lập giữa vẻ đẹp yên bình của rừng với bạo lực săn bắn, qua đó nhấn mạnh sự thức tỉnh lương tri của nhân vật ông Diểu.
Câu 5.
-Mục đích, quan điểm: khẳng định giá trị thẩm mĩ và nhân văn của truyện ngắn, đề cao vẻ đẹp thiên nhiên và khả năng cảm hóa, hướng con người đến điều thiện.
-Tình cảm: thể hiện sự trân trọng thiên nhiên, sự đồng cảm với nhân vật và niềm tin vào những điều tốt đẹp trong cuộc sống.
câu 1
Luận đề của văn bản là: Vẻ đẹp trong truyện ngắn "Muối của rừng" của Nguyễn Huy Thiệp được thể hiện qua sự thức tỉnh của nhân vật trước vẻ đẹp của thiên nhiên, sự hướng thiện, và sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người, phản ánh vẻ đẹp trong tâm hồn của nhân vật và người kể chuyện.
câu 2
Một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định trong văn bản là: "Vẻ đẹp trong tâm hồn ông Diểu xét cho cùng cũng là vẻ đẹp trong tâm hồn người kể chuyện."
câu 3
Nhan đề "CÁI ĐẸP TRONG TRUYỆN NGẮN MUỐI CỦA RỪNG CỦA NGUYỄN HUY THIỆP" bao quát toàn bộ nội dung phân tích. Nội dung văn bản đã đi sâu làm rõ các khía cạnh của cái đẹp trong tác phẩm, bao gồm vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp của sự hướng thiện, và vẻ đẹp của sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên, tất cả đều góp phần làm nên ý nghĩa của nhan đề.
câu 4
Liệt kê các hình ảnh, âm thanh một cách sinh động, gợi tả, làm nổi bật sự phong phú, đa dạng và sức sống mãnh liệt của thiên nhiên, đồng thời đối lập với sự tàn khốc của hành động săn bắn.
Việc liệt kê hai vế đối lập (vẻ đẹp thiên nhiên vs. hành động săn bắn) làm nổi bật sự xung đột, giằng xé trong tâm trạng của nhân vật ông Diểu.
Các chi tiết được liệt kê gợi lên những cảm xúc mạnh mẽ cho người đọc, từ sự yên bình, hùng vĩ của thiên nhiên đến sự đau đớn, kinh hoàng khi thiên nhiên bị hủy hoại, từ đó dẫn đến sự thức tỉnh của nhân vật.
Biện pháp liệt kê giúp người đọc hiểu rõ hơn về nguyên nhân dẫn đến sự "đánh thức" trong tâm hồn ông Diểu, đó là sự đối lập gay gắt giữa cái đẹp và cái ác.
câu 5
Người viết có mục đích phân tích, làm sáng tỏ các biểu hiện của cái đẹp trong truyện ngắn "Muối của rừng" của Nguyễn Huy Thiệp, tập trung vào sự biến chuyển tâm lý của nhân vật ông Diểu dưới tác động của vẻ đẹp thiên nhiên và tình yêu thương. Qua đó, người viết muốn khẳng định giá trị nghệ thuật và thông điệp nhân văn mà tác phẩm mang lại.
Người viết có quan điểm đánh giá cao giá trị của thiên nhiên trong việc thức tỉnh những khía cạnh tốt đẹp trong tâm hồn con người. Người viết tin rằng cái đẹp có sức mạnh cảm hóa, giúp con người nhận ra lỗi lầm, hướng thiện và tìm thấy sự hài hòa với cuộc sống. Quan điểm này được thể hiện rõ qua cách phân tích sự "thức tỉnh" của ông Diểu và sự "hướng thiện" của ông.
Người viết thể hiện tình cảm yêu mến, trân trọng đối với tác phẩm "Muối của rừng" và đối với các giá trị nhân văn mà tác phẩm đề cập. Người viết có một cái nhìn sâu sắc, đồng cảm với nhân vật ông Diểu trong quá trình chuyển biến tâm lý. Tình cảm này được bộc lộ qua giọng văn phân tích tinh tế, giàu cảm xúc, và những nhận định mang tính khẳng định về vẻ đẹp trong tâm hồn nhân vật.
câu 1 Luận đề của văn bản trên là: "Vẻ đẹp trong tâm hồn ông Diểu xét cho cùng cũng là vẻ đẹp trong tâm hồn người kể chuyện. Đó cũng là ý nghĩa vẻ đẹp trong truyện ngắn 'Muối của rừng'."
câu 2Câu 1.
Luận đề của văn bản là:
Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp, cụ thể là vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp của sự hướng thiện và sự hài hòa giữa con người với thiên nhiên.
Câu 2.
Một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định là:
“Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó.”
Câu văn dùng từ ngữ khẳng định dứt khoát (“rõ ràng”) để nhấn mạnh vai trò và giá trị của cái đẹp thiên nhiên.
Câu 3.
→ Nội dung phù hợp, làm sáng tỏ và cụ thể hóa nhan đề, thể hiện mối quan hệ thống nhất, chặt chẽ.
Câu 4.
Trong câu văn, tác giả đã liệt kê hàng loạt hình ảnh, âm thanh:
Tác dụng:
Câu 5.
Làm rõ giá trị tư tưởng và nghệ thuật của truyện Muối của rừng, qua đó khẳng định vai trò của cái đẹp thiên nhiên trong việc cảm hóa con người.
Người viết đề cao cái đẹp của thiên nhiên, coi đó là nguồn sức mạnh tinh thần giúp con người thức tỉnh lương tri, hướng thiện và sống có trách nhiệm với môi trường.
Thể hiện sự trân trọng, yêu mến thiên nhiên; cảm thông và đồng cảm với sự chuyển biến nội tâm của nhân vật ông Diểu; đồng thời kín đáo phê phán hành vi tàn phá thiên nhiên.
→ Văn bản mang giọng điệu sâu lắng, nhân văn, giàu ý nghĩa giáo dục.
Câu 1:
- Luận đề của văn bản là: làm rõ và khẳng định vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp của sự hướng thiện và vẻ đẹp của mối quan hệ hài hòa giữa con người với thiên nhiên.
Câu 2:
- Một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định là:
“Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó.”
Câu 3:
Nhan đề “Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp” có mối quan hệ thống nhất, bao quát và định hướng nội dung toàn văn bản. Nhan đề vừa khái quát vấn đề, vừa dẫn dắt người đọc tiếp cận đúng mục đích nghị luận của người viết.
Câu 4:
-Trong câu văn, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ liệt kê hàng loạt hình ảnh, âm thanh, trạng thái:
+) Các loài muông thú: chim xanh, gà rừng, khỉ
+) Cảnh vật thiên nhiên: núi non, hang động, rừng xanh
+) Trạng thái, cảm xúc: sự tĩnh lặng, sự quấn quít
+) Âm thanh đối lập: tiếng súng săn dữ dội, tiếng kêu buồn thảm, tiếng rú kinh hoàng
- Tác dụng:
+) Làm nổi bật sự phong phú, đa dạng và sống động của thiên nhiên rừng núi.
+) Tạo nên sự đối lập gay gắt giữa vẻ đẹp bình yên, nhân ái của thiên nhiên với hành động tàn nhẫn của con người.
+) Qua đó, nhấn mạnh tác động mạnh mẽ của thiên nhiên đến tâm trạng và nhận thức của ông Diểu, góp phần lí giải sự thức tỉnh và chuyển biến hướng thiện của nhân vật.
Câu 5:
- Mục đích: Người viết nhằm làm sáng tỏ giá trị tư tưởng và giá trị thẩm mĩ của truyện ngắn Muối của rừng, đặc biệt là vẻ đẹp nhân văn thể hiện qua mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên.
- Quan điểm: Người viết thể hiện quan điểm rõ ràng: thiên nhiên không chỉ là đối tượng chinh phục mà còn là thực thể sống có linh hồn, có khả năng cảm hóa và thức tỉnh con người; cái đẹp chân chính luôn gắn liền với sự hướng thiện và ý thức trách nhiệm của con người trước tự nhiên.
- Tình cảm: Văn bản thấm đượm sự trân trọng, yêu mến thiên nhiên, cảm thông sâu sắc với sự thức tỉnh của nhân vật ông Diểu, đồng thời bộc lộ niềm tin vào khả năng hướng thiện, vào những giá trị tốt đẹp trong con người.
→ Qua đó, văn bản không chỉ phân tích tác phẩm mà còn gửi gắm thông điệp nhân văn sâu sắc về lối sống nhân ái, hòa hợp với thiên nhiên.
Câu 1. Xác định luận đề của văn bản trên. Luận đề của văn bản là: Cái đẹp trong truyện ngắn “Muối của rừng” của Nguyễn Huy Thiệp được thể hiện qua vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên, sự hướng thiện trong tâm hồn con người và mối quan hệ hài hòa giữa thiên nhiên với con người. Câu 2. Dẫn ra một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định trong văn bản. Một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định trong văn bản là: > “Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diều về vẻ đẹp của chính nó.” Câu 3. Nhận xét về mối quan hệ giữa nội dung và nhan đề của văn bản. Nhan đề “Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp” hoàn toàn phù hợp và thống nhất chặt chẽ với nội dung văn bản. Nội dung bài viết tập trung phân tích các phương diện biểu hiện của cái đẹp trong truyện: vẻ đẹp thiên nhiên rừng núi, vẻ đẹp của sự hướng thiện và vẻ đẹp hài hòa giữa con người với thiên nhiên. Qua đó, nhan đề không chỉ khái quát nội dung chính mà còn định hướng rõ ràng cho toàn bộ lập luận của văn bản. Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn đã cho. Biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng với hàng loạt hình ảnh: chim xanh, gà rừng, khỉ, núi non, hang động, rừng xanh, tiếng súng săn, tiếng kêu của khỉ… đã làm nổi bật sự đa dạng, phong phú và sống động của thế giới tự nhiên. Đồng thời, phép liệt kê còn tạo ra sự đối lập mạnh mẽ giữa vẻ đẹp yên bình của thiên nhiên và âm thanh dữ dội của súng săn, từ đó nhấn mạnh nỗi đau, sự tổn thương của rừng núi trước hành động tàn phá của con người, góp phần làm sâu sắc thông điệp nhân văn của văn bản. Câu 5. Phân tích, đánh giá mục đích, quan điểm và tình cảm của người viết qua văn bản. Qua văn bản, người viết nhằm mục đích làm nổi bật giá trị tư tưởng và nhân văn sâu sắc của truyện ngắn “Muối của rừng”. Quan điểm của người viết rõ ràng, nhất quán: đề cao vẻ đẹp của thiên nhiên, phê phán hành vi tàn sát, đồng thời ca ngợi sự thức tỉnh lương tri và hướng thiện của con người. Tình cảm của người viết thể hiện sự trân trọng thiên nhiên, niềm tin vào khả năng cảm hóa của cái đẹp và lòng nhân ái trong con người. Văn bản vì thế không chỉ mang giá trị nghị luận văn học mà còn gửi gắm thông điệp nhân văn sâu sắc về trách nhiệm của con người đối với thiên nhiên và cuộc sống.
Kalak
Câu 1:
-Luận đề của văn bản là:
Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp
Câu 2:
-Câu văn thể hiện rõ tính khẳng định là:
“Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diếu về vẻ đẹp của chính nó.”
Câu 3:
-Nhan đề khái quát vấn đề trọng tâm mà văn bản bàn luận, đó là vẻ đẹp được thể hiện trong truyện Muối của rừng.
-Nội dung bài viết đã triển khai cụ thể cái đẹp ấy qua ba phương diện: vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên, vẻ đẹp của sự hướng thiện trong tâm hồn con người và vẻ đẹp hài hòa giữa con người với thiên nhiên.
-Nhan đề vừa định hướng nội dung, vừa phản ánh đúng tư tưởng và giá trị thẩm mĩ của văn bản.
Câu 4:
-Bptt liệt kê: chim xanh, gà rừng, khỉ, núi non, hang động, rừng xanh, tiếng súng săn, tiếng kêu của khỉ…
-Tác dụng:
+ Làm nổi bật sự phong phú, đa dạng và giàu sức sống của thiên nhiên rừng núi.
+ Nhấn mạnh tác động mạnh mẽ của thiên nhiên và tiếng kêu đau đớn của muông thú trong việc đánh thức lương tri, cảm xúc và nhận thức của ông Diểu.
Câu 5:
-Mục đích:
Người viết nhằm làm sáng tỏ vẻ đẹp và ý nghĩa nhân văn sâu sắc của truyện ngắn Muối của rừng, đồng thời khẳng định giá trị thức tỉnh lương tri con người trước thiên nhiên.
-Quan điểm:
Tác giả cho rằng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ có giá trị thẩm mĩ mà còn có sức cảm hóa con người, giúp con người nhận ra lỗi lầm, hướng đến sự thiện lương và sống có trách nhiệm với môi trường.
-Tình cảm:
Văn bản thể hiện tình yêu thiên nhiên sâu sắc, sự trân trọng những giá trị nhân bản và niềm tin vào khả năng hướng thiện của con người. Người viết bày tỏ sự đồng cảm, yêu mến đối với nhân vật ông Diểu trong hành trình thay đổi nhận thức và tâm hồn.
Câu 1:
- Luận đề của văn bản là: làm rõ và khẳng định vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp của sự hướng thiện và vẻ đẹp của mối quan hệ hài hòa giữa con người với thiên nhiên.
Câu 2:
- Một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định là: “Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó.”
Câu 3:
-Nhan đề “Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp” có mối quan hệ thống nhất, bao quát và định hướng nội dung toàn văn bản.
+Nhan đề vừa khái quát vấn đề, vừa dẫn dắt người đọc tiếp cận đúng mục đích nghị luận của người viết.
Câu 4:
- Trong câu văn, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ liệt kê hàng loạt hình ảnh, âm thanh, trạng thái:
+ Các loài muông thú: chim xanh, gà rừng, khỉ
+ Cảnh vật thiên nhiên: núi non, hang động, rừng xanh
+ Trạng thái, cảm xúc: sự tĩnh lặng, sự quấn quít
+ Âm thanh đối lập: tiếng súng săn dữ dội, tiếng kêu buồn thảm, tiếng rú kinh hoàng
- Tác dụng:
+ Về mặt diễn đạt: Làm nổi bật sự phong phú, đa dạng và sống động của thiên nhiên rừng núi.
+ Về mặt nội dung:Tạo nên sự đối lập gay gắt giữa vẻ đẹp bình yên, nhân ái của thiên nhiên với hành động tàn nhẫn của con người
- Qua đó, nhấn mạnh tác động mạnh mẽ của thiên nhiên đến tâm trạng và nhận thức của ông Diểu, góp phần lí giải sự thức tỉnh và chuyển biến hướng thiện của nhân vật.
Câu 5 :
- Mục đích: Người viết nhằm làm sáng tỏ giá trị tư tưởng và giá trị thẩm mĩ của truyện ngắn Muối của rừng, đặc biệt là vẻ đẹp nhân văn thể hiện qua mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên.
- Quan điểm: Người viết thể hiện quan điểm rõ ràng: thiên nhiên không chỉ là đối tượng chinh phục mà còn là thực thể sống có linh hồn, có khả năng cảm hóa và thức tỉnh con người; cái đẹp chân chính luôn gắn liền với sự hướng thiện và ý thức trách nhiệm của con người trước tự nhiên.
- Tình cảm: Văn bản thấm đượm sự trân trọng, yêu mến thiên nhiên, cảm thông sâu sắc với sự thức tỉnh của nhân vật ông Diểu, đồng thời bộc lộ niềm tin vào khả năng hướng thiện, vào những giá trị tốt đẹp trong con người.
Câu1:
Luận đề của văn bản: Văn bản tập trung phân tích, đánh giá Vẻ đẹp trong truyện ngắn “Muối của rừng” của Nguyễn Huy Thiệp.
Luận điểm chính được triển khai: Sự thức tỉnh của nhân vật trước vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên. Vẻ đẹp của sự hướng thiện (quá trình thay đổi nhận thức và hành động của ông Diểu). Vẻ đẹp hài hòa giữa thiên nhiên và con người
Câu 2:
Một số câu văn thể hiện rõ tính khẳng định: Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của nó.
Hành động tha cho khỉ cái, phóng sinh khỉ đực của ông Diểu là minh chứng cho sự hướng thiện, tình yêu đời với thiên nhiên và tình yêu cuộc sống của nhân vật.
Đó cũng là ý nghĩa vẻ đẹp trong truyện ngắn “Muối của rừng”.
Câu 3:
Nội dung: Văn bản đi sâu vào phân tích và làm rõ các khía cạnh của cái đẹp được thể hiện trong tác phẩm “Muối của rừng”.
Nhận xét về mối quan hệ: Mối quan hệ trực tiếp và thống nhất: Nhan đề đã khái quát chính xác nội dung trọng tâm của toàn bộ bài viết. Nhan đề đóng vai trò là luận đề. Nội dung làm sáng tỏ nhan đề: Toàn bộ nội dung văn bản là quá trình triển khai, phân tích, và chứng minh cho luận đề được nêu ở nhan đề.
Câu 4:
Sự đa dạng của các loài muông thú: chim xanh, gà rừng, khỉ, sự hùng vĩ của núi non, hang động, sự tĩnh lặng của rừng xanh, sự quấn quýt của ba con khỉ đối lập với tiếng súng săn dữ dội, tiếng kêu buồn thảm của khỉ đực, tiếng rú kinh hoàng của khỉ con đã đánh thức ông
Biện pháp tu từ: Liệt kê.
Tác dụng: Nhấn mạnh sự phong phú và sống động của thiên nhiên. Tạo sự đối lập kịch tính và gây ấn tượng mạnh giữa vẻ bình yên của thiên nhiên và sự tàn phá của con người. Làm sâu sắc thêm ý nghĩa thức tỉnh: tổng hòa các yếu tố đã tác động mạnh mẽ và sâu sắc, dẫn đến sự thức tỉnh nhận thức trong nhân vật ông Diểu.
Câu 5:
Mục đích: Mục đích chính là phân tích, làm rõ và ca ngợi vẻ đẹp về nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn “Muối của rừng”. Mục đích sâu xa là khẳng định thông điệp nhân văn: con người cần có sự thức tỉnh, hướng thiện và sống hòa hợp với thiên nhiên.
Quan điểm: Quan điểm rõ ràng: Truyện ngắn “Muối của rừng” là tác phẩm thành công trong việc thể hiện cái đẹp. Quan điểm tích cực về sự thức tỉnh: Người viết tin vào khả năng hướng thiện và sự thay đổi tích cực của con người. Quan điểm bảo vệ thiên nhiên: Gián tiếp thể hiện quan điểm phản đối sự tàn phá thiên nhiên.
Tình cảm: Trân trọng, ngưỡng mộ đối với giá trị nhân văn và nghệ thuật của truyện ngắn. Yêu mến thiên nhiên. Thiện chí, tin tưởng vào khả năng hướng thiện trong tâm hồn nhân vật.
Câu 1:
-Luận đề của văn bản là:
Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp
Câu 2:
-Câu văn thể hiện rõ tính khẳng định là:
“Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diếu về vẻ đẹp của chính nó.”
Câu 3:
-Nhan đề khái quát vấn đề trọng tâm mà văn bản bàn luận, đó là vẻ đẹp được thể hiện trong truyện Muối của rừng.
-Nội dung bài viết đã triển khai cụ thể cái đẹp ấy qua ba phương diện: vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên, vẻ đẹp của sự hướng thiện trong tâm hồn con người và vẻ đẹp hài hòa giữa con người với thiên nhiên.
-Nhan đề vừa định hướng nội dung, vừa phản ánh đúng tư tưởng và giá trị thẩm mĩ của văn bản.
Câu 4:
-Bptt liệt kê: chim xanh, gà rừng, khỉ, núi non, hang động, rừng xanh, tiếng súng săn, tiếng kêu của khỉ…
-Tác dụng:
+ Làm nổi bật sự phong phú, đa dạng và giàu sức sống của thiên nhiên rừng núi.
+ Nhấn mạnh tác động mạnh mẽ của thiên nhiên và tiếng kêu đau đớn của muông thú trong việc đánh thức lương tri, cảm xúc và nhận thức của ông Diểu.
Câu 5:
-Mục đích:
Người viết nhằm làm sáng tỏ vẻ đẹp và ý nghĩa nhân văn sâu sắc của truyện ngắn Muối của rừng, đồng thời khẳng định giá trị thức tỉnh lương tri con người trước thiên nhiên.
-Quan điểm:
Tác giả cho rằng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ có giá trị thẩm mĩ mà còn có sức cảm hóa con người, giúp con người nhận ra lỗi lầm, hướng đến sự thiện lương và sống có trách nhiệm với môi trường.
-Tình cảm:
Văn bản thể hiện tình yêu thiên nhiên sâu sắc, sự trân trọng những giá trị nhân bản và niềm tin vào khả năng hướng thiện của con người. Người viết bày tỏ sự đồng cảm, yêu mến đối với nhân vật ông Diểu trong hành trình thay đổi nhận thức và tâm hồn.
Câu1
Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng được thể hiện qua vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp hướng thiện trong tâm hồn con người và mối quan hệ hài hòa giữa con người với thiên nhiên.
Câu 2
“Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diều về vẻ đẹp của chính nó.”
Câu 3
Nhan đề “Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng” đã khái quát đúng nội dung của văn bản.
Nội dung triển khai cụ thể, sâu sắc những biểu hiện của “cái đẹp” trong truyện: vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ đẹp đạo đức, sự thức tỉnh nhân tính của nhân vật ông Diều.
→ Nhan đề và nội dung thống nhất, bổ sung, làm rõ ý nghĩa tư tưởng của văn bản
Câu 4
Trong câu văn, tác giả sử dụng biện pháp liệt kê hàng loạt hình ảnh, âm thanh, sự vật của rừng:
Tác dụng:
Làm nổi bật sự phong phú, đa dạng và sinh động của thiên nhiên rừng núi.
Tạo sự đối lập mạnh mẽ giữa vẻ đẹp yên bình của thiên nhiên và hành động săn bắn tàn nhẫn của con người.
Qua đó, góp phần thức tỉnh lương tri, khơi gợi ý thức bảo vệ thiên nhiên và lòng nhân ái ở con người.
Câu 5
Mục đích: Làm rõ giá trị thẩm mĩ và nhân văn của truyện ngắn Muối của rừng, đặc biệt là thông điệp về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên.
Quan điểm: Tác giả đề cao cái đẹp của thiên nhiên, phê phán hành vi tàn sát thiên nhiên, đồng thời khẳng định khả năng hướng thiện, thức tỉnh lương tri của con người.
Tình cảm: Thể hiện sự trân trọng, yêu mến thiên nhiên; cảm thông, tin tưởng vào bản chất tốt đẹp của con người khi biết sống hài hòa với tự nhiên.
Câu 1.
-Luận đề của văn bản là:
Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp, thể hiện qua vẻ đẹp của thiên nhiên, sự hướng thiện của con người và mối quan hệ hài hòa giữa con người với thiên nhiên.
Câu 2.
-Một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định là:
“Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó.”
Câu 3.
-Mối quan hệ giữa nội dung và nhan đề:
Nhan đề khái quát đúng nội dung văn bản; nội dung bài viết làm rõ cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng qua các phương diện khác nhau.
Câu 4.
-Tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê:
Làm nổi bật sự phong phú, đa dạng và vẻ đẹp sinh động của thiên nhiên rừng núi, đồng thời tăng sức gợi hình, gợi cảm và góp phần đánh thức nhận thức của nhân vật.
Câu 5.
-Mục đích, quan điểm và tình cảm của người viết:
Tác giả nhằm khẳng định giá trị nhân văn của truyện ngắn Muối của rừng, đề cao vẻ đẹp của thiên nhiên và sự hướng thiện của con người; thể hiện tình yêu thiên nhiên và niềm tin vào những giá trị tốt đẹp.
Câu 1:
- Luận đề của văn bản là: làm rõ và khẳng định vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp của sự hướng thiện và vẻ đẹp của mối quan hệ hài hòa giữa con người với thiên nhiên.
Câu 2:
- Một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định là:
"Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó."
Câu 3:
Nhan đề "Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp" có mối quan hệ thống nhất, bao quát và định hướng nội dung toàn văn bản.
Nhan đề vừa khái quát vấn đề, vừa dẫn dắt người đọc tiếp cận đúng mục đích nghị luận của người viết.
Câu 4:
-Trong câu văn, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ liệt kê hàng loạt hình ảnh, âm thanh, trạng thái:
+) Các loài muông thú: chim xanh, gà rừng, khỉ
+) Cảnh vật thiên nhiên: núi non, hang động, rừng xanh
+) Trạng thái, cảm xúc: sự tĩnh lặng, sự quấn quít
+) Âm thanh đối lập: tiếng súng săn dữ dội, tiếng kêu buồn thảm, tiếng rú kinh hoàng
- Tác dụng:
Câu 1.
-Luận đề của văn bản là: Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng được thể hiện qua vẻ đẹp của thiên nhiên và sự thức tỉnh, hướng thiện trong tâm hồn con người (nhân vật ông Diếu).
Câu 2.
- Một câu văn thể hiện rõ tính khắng định trong văn bản.
Ví dụ:
> "Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diếu vê vé đẹp của chính nó."
Câu 3.
Câu 4.
+ Về diễn đạt: Làm nổi bật sự phong phú, đa dạng, sống động của thiên nhiên rừng núi.
+Nội dung: Tạo sự đối lập gay gắt giữa vẻ đẹp yên bình của thiên nhiên và sự tàn bạo của hành vi săn bắn.
=>Qua đó nhấn mạnh sự thức tỉnh trong tâm hồn ông Diểu và giá trị nhân văn của tác phẩm.
Câu 5.
Câu 1. Xác định luận đề của văn bản trên.
• Luận đề (vấn đề chính) của văn bản là việc phân tích và đánh giá vẻ đẹp của thiên nhiên và vẻ đẹp trong tâm hồn hướng thiện của nhân vật ông Diểu, qua đó khẳng định ý nghĩa nhân văn của truyện ngắn "Muối của rừng."
• Các luận điểm phụ xoay quanh: Sự thức tỉnh của nhân vật về vẻ đẹp thiên nhiên và hành động tha cho con khỉ đực, thể hiện lòng hướng thiện, và vẻ đẹp hài hòa giữa thiên nhiên và con người.
Câu 2. Dẫn ra một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định trong văn bản.
• Có thể chọn một trong các câu sau (hoặc câu tương đương):
• "Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính mình."
• "Hành động tha cho khỉ cái, phóng sinh khỉ đực của ông Diểu là minh chứng cho sự hướng thiện, tình yêu đối với thiên nhiên và tình yêu cuộc sống của nhân vật."
• "Đó cũng là ý nghĩa về vẻ đẹp trong truyện ngắn 'Muối của rừng'."
Câu 3. Nhận xét về mối quan hệ giữa nội dung và nhan đề của văn bản.
• Nội dung của văn bản tập trung phân tích và làm nổi bật:
1. Vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên (thức tỉnh ông Diểu).
2. Sự thức tỉnh và lòng hướng thiện, nhân ái của nhân vật (tâm hồn ông Diểu).
3. Khẳng định ý nghĩa nhân văn, vẻ đẹp của sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên.
• Nhan đề của văn bản là "Vẻ đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp."
• Mối quan hệ:
• Nhan đề bao quát và định hướng cho nội dung. Nội dung của văn bản là sự triển khai cụ thể, chứng minh cho luận đề được nêu ra trong nhan đề ("Vẻ đẹp trong truyện ngắn...").
• Nội dung làm sáng tỏ nhan đề. Văn bản đã làm rõ "vẻ đẹp" được nhắc đến là vẻ đẹp của thiên nhiên và vẻ đẹp tâm hồn nhân văn của con người, thông qua phân tích hành động và sự thay đổi nhận thức của ông Diểu.
• Kết luận: Nhan đề và nội dung có mối quan hệ thống nhất, chặt chẽ, trong đó nội dung là lời giải thích, phân tích cụ thể cho nhận định tổng quát được đưa ra ở nhan đề.
Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong câu văn sau:
Sự đa dạng của các loài muông thú: chim xanh, gà rừng, khỉ, sự hùng vĩ của núi non, hang động, sự tĩnh lặng của rừng xanh, sự quấn quýt của ba con khỉ đối lập với tiếng súng săn dữ dội, tiếng kêu buồn thảm của khỉ đực, tiếng rú kinh hoàng của khỉ con đã đánh thức ông.
• Biện pháp tu từ: Liệt kê.
• Các yếu tố được liệt kê:
• Các loài muông thú: chim xanh, gà rừng, khỉ.
• Các yếu tố của thiên nhiên: núi non, hang động, rừng xanh.
• Các âm thanh và hình ảnh đối lập: sự quấn quýt của ba con khỉ, tiếng súng săn dữ dội, tiếng kêu buồn thảm, tiếng rú kinh hoàng.
• Tác dụng:
1. Gợi hình, gợi cảm: Tạo ra bức tranh phong phú, sống động về sự đa dạng của sinh vật và vẻ đẹp của thiên nhiên hoang dã.
2. Nhấn mạnh sự đối lập: Việc liệt kê các hình ảnh về sự sống (muông thú, sự quấn quýt) đặt cạnh các hình ảnh về sự tàn phá (tiếng súng, tiếng kêu đau đớn) có tác dụng nhấn mạnh sự đối lập gay gắt giữa vẻ đẹp của tự nhiên và hành động săn bắn tàn nhẫn của con người.
3. Tăng sức biểu cảm: Việc liệt kê các chi tiết cụ thể, dồn dập giúp người đọc cảm nhận rõ ràng hơn sự choáng ngợp của thiên nhiên và sự thức tỉnh mạnh mẽ trong nhận thức của nhân vật ông Diểu.
Câu 5. Phân tích, đánh giá mục đích, quan điểm và tình cảm của người viết qua văn bản.
• Mục đích:
• Phân tích, làm rõ giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn "Muối của rừng" (Nguyễn Huy Thiệp).
• Khẳng định và ca ngợi vẻ đẹp của sự hướng thiện, vẻ đẹp của thiên nhiên và ý nghĩa nhân văn sâu sắc của tác phẩm.
• Quan điểm:
• Người viết có quan điểm khách quan, sâu sắc khi phân tích truyện.
• Quan điểm ca ngợi, đề cao vai trò của thiên nhiên trong việc thức tỉnh nhận thức của con người.
• Khẳng định rằng lòng hướng thiện (qua hành động tha cho khỉ) chính là vẻ đẹp thực sự, vượt qua cả hành động "chinh phục" tự nhiên.
• Tình cảm:
• Trân trọng, yêu mến: Đối với vẻ đẹp bình dị và hùng vĩ của thiên nhiên.
• Đồng cảm, ngợi ca: Đối với sự thay đổi, lòng nhân ái, và hành động hướng thiện của nhân vật ông Diểu.
• Nhiệt thành: Trong việc khẳng định giá trị và ý nghĩa nhân văn của tác phẩm văn học.
Câu 1: Luận đề của văn bản
Luận đề của văn bản là vẻ đẹp trong truyện ngắn "Muối của rừng" của Nguyễn Huy Thiệp, tập trung vào sự thức tỉnh của nhân vật trước vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên và sự hướng thiện của con người.
Câu 2: Câu văn thể hiện rõ tính khẳng định
Một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định trong văn bản là: "Cái đẹp của thiên nhiên có khả năng gợi cho nhân vật thấy được bản chất của chính mình nơi thiên nhiên, gợi cho nhân vật những rung cảm trước tạo vật và ý thức trách nhiệm của mình trước thiên nhiên."
Câu 3: Mối quan hệ giữa nội dung và nhan đề
Nhan đề "Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp" phản ánh nội dung chính của văn bản, đó là phân tích và khám phá vẻ đẹp trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp. Nhan đề giúp người đọc hiểu rõ chủ đề và ý nghĩa của văn bản.
Câu 4: Tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê
Biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn giúp tạo ra một hình ảnh phong phú và đa dạng về thiên nhiên, đồng thời nhấn mạnh sự đối lập giữa vẻ đẹp của thiên nhiên và hành động tàn phá của con người. Liệt kê cũng giúp người đọc hình dung rõ hơn về cảnh vật và cảm xúc của nhân vật.
Câu 5: Mục đích, quan điểm và tình cảm của người viết
Mục đích của người viết là phân tích và khám phá vẻ đẹp trong truyện ngắn "Muối của rừng" của Nguyễn Huy Thiệp, đồng thời thể hiện quan điểm và tình cảm của mình về sự thức tỉnh của con người trước vẻ đẹp của thiên nhiên. Người viết thể hiện một quan điểm tích cực về con người và thiên nhiên, và tình cảm yêu thương, trân trọng đối với vẻ đẹp của cuộc sống.
câu 1:
luận đề của văn bản là cái đẹp trong truyện ngắn muối của rừng của nguyễn huy thiệp, được thể hiện qua vẻ đẹp của thiên nhiên, sự thức tỉnh và hướng thiện trong tâm hồn con người, cũng như mối quan hệ hài hòa giữa con người với thiên nhiên.
câu 2:
một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định trong văn bản là: “rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông diểu về vẻ đẹp của chính nó.”
câu 3:
nội dung văn bản thống nhất chặt chẽ với nhan đề. nhan đề khái quát đúng trọng tâm vấn đề nghị luận và định hướng cho toàn bộ bài viết khi tập trung làm rõ cái đẹp trong truyện ngắn muối của rừng trên nhiều phương diện khác nhau.
câu 4:
biện pháp tu từ liệt kê đã làm nổi bật sự đa dạng, phong phú và giàu sức sống của thiên nhiên rừng núi, đồng thời tạo sự đối lập gay gắt giữa vẻ đẹp yên bình của tự nhiên với tiếng súng săn và những âm thanh đau đớn của loài vật. qua đó, nhấn mạnh tác động mạnh mẽ của thiên nhiên đến tâm lí nhân vật, góp phần làm rõ sự thức tỉnh lương tri của ông diểu.
câu 5:
qua văn bản, người viết nhằm làm rõ giá trị tư tưởng và nhân văn của truyện ngắn muối của rừng. quan điểm của người viết đề cao vẻ đẹp của thiên nhiên và khẳng định thiên nhiên có khả năng cảm hóa con người, đánh thức lương tri và hướng con người tới cái thiện. văn bản cũng bộc lộ tình cảm yêu mến, trân trọng thiên nhiên, sự cảm thông với nhân vật và niềm tin vào những giá trị tốt đẹp của cuộc sống.
Câu 1:
- Vẻ đẹp trong tâm hồn con người và vẻ đẹp của thiên nhiên trong truyện ngắn "Muối của rừng''
Câu 2:
- Câu văn thể hiện rõ tính khẳng định trong văn bản: Rõ ràng cái đẹp của TN ko chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức ,suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó.
Câu 3:
-Mối qh chặt chẽ:
+Nhan đề:"vẻ đẹp của sự lg thiện"bao quát nd chính của vb.Nhan đề đã khái quát đc qtrinh chg biến từ hđ "hướng thiện"của nv ông Diểu.Thể hiện vể đẹp tâm hồn ông Diểu.
Câu 4:
- Biện pháp tu từ liệt kê:"chim xanh, gà rừng, khỉ, sự hùng vĩ của núi non, hang động, sự tĩnh lặng của rừng xanh, sự quấn quít của ba con khỉ đối lập với tiếng súng săn dữ dội, tiếng kêu buồn thảm của khỉ đực, tiếng rú kinh hoàng của khỉ con đã đánh thức ông"
-TD: tăng sức gợi hình gợi cảm,giúp ng đọc hình dung một cách toàn diện và sinh động về ko gian núi rừng.
Câu 5:
-Mục đích, quan điểm và tình cảm của người viết qua văn bản:
Khẳng định và ca ngợi vẻ đẹp của hg thiện trong tâm hồn của con ng và vẻ đẹp của thiên nhiên .Kêu gọi nhận thức về trách nhiệm bảo vệ mt tự nhiên.
Câu 1.
Luận đề của văn bản là: Cái đẹp trong truyện ngắn "Muối của rừng" của Nguyễn Huy Thiệp.
Luận đề này được làm rõ thông qua ba khía cạnh chính được phân tích trong bài viết:
- Sự thức tỉnh của nhân vật trước vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên.
- Vẻ đẹp của sự hướng thiện (thể hiện qua hành động tha và phóng sinh khỉ của ông Diểu).
- Cái đẹp hài hòa giữa thiên nhiên và con người (thể hiện qua hình ảnh hoa tử huyền).
Câu 2.
Một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định trong văn bản là:
"Hành động tha cho khỉ cái, phóng sinh khỉ đực của ông Diểu là minh chứng cho sự hướng thiện, tình yêu đối với thiên nhiên và tình yêu cuộc sống của nhân vật."
Câu 3.
Mối quan hệ giữa nội dung và nhan đề ("Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp") là mối quan hệ khái quát và cụ thể, thống nhất và làm sáng tỏ lẫn nhau.
• Nhan đề đóng vai trò khái quát, bao trùm toàn bộ nội dung, xác định rõ đối tượng và phạm vi phân tích (cái đẹp trong tác phẩm "Muối của rừng").
• Nội dung của văn bản tập trung vào việc cụ thể hóa, phân tích và chứng minh cho luận đề trong nhan đề. Nội dung đã làm sáng tỏ "cái đẹp" đó qua các phương diện: vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp của sự hướng thiện (tình yêu và lòng trắc ẩn), và vẻ đẹp của sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên (thể hiện qua hình ảnh hoa tử huyền và sự thay đổi của ông Diểu).
Câu 4.
Biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn này có những tác dụng sau:
1. Tô đậm và Phản ánh sự sống phong phú, đa dạng của thiên nhiên
2. Tạo sự tương phản mạnh mẽ
3. Nhấn mạnh sự thức tỉnh và day dứt của nhân vật
Câu 5.
1. Mục đích của người viết:
Mục đích chính của người viết là phân tích, làm nổi bật và khẳng định những giá trị thẩm mĩ (cái đẹp) sâu sắc mà nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã gửi gắm trong truyện ngắn "Muối của rừng".
Cụ thể, người viết muốn:
• Chứng minh quá trình thức tỉnh và hướng thiện của nhân vật ông Diểu.
• Khẳng định vẻ đẹp của thiên nhiên và tình yêu thương, lòng trắc ẩn là cốt lõi của giá trị nhân văn trong tác phẩm.
• Giải mã ý nghĩa biểu tượng của tác phẩm, đặc biệt là hình ảnh "Muối của rừng" (hoa tử huyền) như một thông điệp về sự thanh bình, may mắn và sự hài hòa giữa con người với tự nhiên.
2. Quan điểm của người viết:
Người viết thể hiện một quan điểm đánh giá tích cực, trân trọng và nhân văn về tác phẩm:
• Quan điểm về Thiên nhiên: Thiên nhiên không chỉ là đối tượng để chinh phục mà còn là một vẻ đẹp bình dị, hùng vĩ, có khả năng đánh thức lương tri con người.
• Quan điểm về Con người: Tin tưởng vào khả năng thay đổi và hướng thiện của con người. Quan điểm này được thể hiện qua việc phân tích hành động tha và phóng sinh khỉ của ông Diểu như một minh chứng cho "tình yêu đối với thiên nhiên và tình yêu cuộc sống".
• Quan điểm về Văn học: Coi trọng những tác phẩm văn học có khả năng khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực và vẻ đẹp trong tâm hồn con người.
3. Tình cảm của người viết:
Tình cảm của người viết là trân trọng, đồng cảm và ca ngợi:
• Trân trọng: Thể hiện sự trân trọng đối với vẻ đẹp của thiên nhiên được miêu tả trong truyện ("vừa trang trọng, vừa tình cảm," "xanh ngắt và ẩm ướt") và ngợi ca ý nghĩa nhân văn của tác phẩm.
• Đồng cảm: Đồng cảm với sự day dứt, sợ hãi và quá trình chuyển biến tâm lí của nhân vật ông Diểu.
• Ca ngợi: Ca ngợi hành động "tha cho khỉ cái, phóng sinh khỉ đực" là biểu hiện của "sự hướng thiện, tình yêu đối với thiên nhiên" và kết luận rằng vẻ đẹp trong tâm hồn ông Diểu (và người kể chuyện) chính là ý nghĩa vẻ đẹp của truyện ngắn.
Câu 1.
Đoạn văn phân tích, đánh giá tính thuyết phục của văn bản "Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp" có tính thuyết phục cao nhờ vào lập luận chặt chẽ và hệ thống luận điểm rõ ràng.Trước hết, văn bản đã xác lập được một hệ thống luận điểm logic và toàn diện (gồm: vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp của sự hướng thiện, và vẻ đẹp hài hòa giữa con người và thiên nhiên), bao quát được các tầng nghĩa quan trọng của tác phẩm. Tính thuyết phục đến từ việc sử dụng các bằng chứng cụ thể rút ra trực tiếp từ văn bản truyện ngắn. Chẳng hạn, dẫn chứng về khung cảnh thiên nhiên "vừa trang trọng, vừa tình cảm" hay các chi tiết hành động của ông Diểu như "cởi quần lót bó vết thương cho khỉ đực," "quyết định phóng sinh khỉ đực" đều là những chi tiết then chốt, không thể chối cãi, minh chứng đanh thép cho sự hướng thiện và tình yêu thiên nhiên. Hơn nữa, người viết đã phân tích được ý nghĩa biểu tượng của các chi tiết đắt giá như "tiếng kêu buồn thảm của khỉ đực" làm thức tỉnh ông Diểu, hay hình ảnh "hoa tử huyền" mang ý nghĩa điềm báo "may mắn, đất nước thanh bình," giúp nâng tầm giá trị phân tích. Tuy nhiên, để văn bản thêm hoàn hảo, người viết có thể tập trung phân tích sâu hơn mối liên hệ giữa nhan đề "Muối của rừng" và ý nghĩa biểu tượng của loài hoa tử huyền có "vị mặn," tạo sự liên kết chặt chẽ hơn giữa các luận điểm. Nhìn chung, bằng việc kết hợp lý lẽ với dẫn chứng tiêu biểu, văn bản đã làm sáng tỏ được luận đề và thuyết phục người đọc về vẻ đẹp nhân văn sâu sắc của truyện ngắn.
Câu 2.
Hiện nay, mạng xã hội đã trở thành tấm gương phản chiếu những vấn đề nóng của đời sống. Trong đó, những thước phim ghi lại cảnh các bạn trẻ không ngại khó khăn, dầm mình dưới bùn đất hay cọ rửa bờ biển để thu gom rác thải tại ao hồ, chân cầu, bãi biển đã trở thành nguồn cảm hứng mạnh mẽ. Từ góc nhìn của thế hệ trẻ, những hành động này không chỉ là phong trào, mà còn là minh chứng sống động cho trách nhiệm cộng đồng và tinh thần chủ động giải quyết vấn đề môi trường đang ngày càng nghiêm trọng.
Hành động thu gom rác của các bạn trẻ là một tuyên ngôn mạnh mẽ về ý thức bảo vệ môi trường. Các clip lan truyền trên mạng xã hội không đơn thuần là ghi hình, mà là một hình thức truyền thông không lời hiệu quả. Hình ảnh đôi bàn tay nhặt từng mảnh chai nhựa, vỏ hộp xốp... giữa một không gian ô nhiễm đã phơi bày trực diện thực trạng đáng báo động của rác thải, đồng thời khẳng định vai trò tiên phong của thế hệ trẻ. Đây là những hành động cụ thể, thiết thực, vượt qua những lời kêu gọi suông để tạo ra sự thay đổi ngay tại cộng đồng. Hành động này thể hiện lòng dũng cảm khi dám đối mặt với cái xấu, cái ô nhiễm, và lòng nhiệt huyết khi sẵn sàng hy sinh thời gian, công sức để làm sạch môi trường sống.
Tuy nhiên, ý nghĩa của những hành động này không chỉ dừng lại ở việc làm sạch một khu vực nhất định. Nó còn tạo ra một hiệu ứng domino tích cực trong xã hội. Các clip lan truyền đã kích hoạt sự lan tỏa tinh thần trách nhiệm từ cá nhân sang cộng đồng. Người xem, đặc biệt là giới trẻ khác, khi chứng kiến sự tận tâm đó sẽ được truyền cảm hứng và động lực để tham gia hoặc ít nhất là thay đổi thói quen xả rác của bản thân. Từ đó, những phong trào như "Green Up Vietnam," "Clean The Beach" không chỉ là hoạt động đơn lẻ mà trở thành những chiến dịch ý nghĩa, thu hút sự chú ý của dư luận và các cơ quan chức năng, đặt áp lực lên việc quản lý rác thải một cách bền vững hơn.
Dẫu vậy, từ góc độ của người trẻ, chúng ta cần nhận thức rõ rằng việc thu gom rác chỉ là giải quyết phần ngọn của vấn đề. Nếu không có giải pháp căn cơ về ý thức, chính sách và công nghệ, rác thải vẫn sẽ tiếp tục chất đống. Do đó, thế hệ trẻ cần tiếp tục đi xa hơn
Tích cực giáo dục, truyền thông về giảm thiểu rác thải nhựa, thực hiện nguyên tắc 3R (Reduce - Reuse - Recycle. Chủ động đề xuất các mô hình kinh tế tuần hoàn, ứng dụng công nghệ để phân loại và xử lý rác thải hiệu quả hơn, thúc đẩy việc sử dụng vật liệu thân thiện với môi trường.
Tóm lại, những hành động thu gom rác thải của người trẻ, được ghi lại và lan truyền qua mạng xã hội, là một điểm sáng đáng tự hào, thể hiện sự trưởng thành và trách nhiệm công dân. Đây là những "hạt mầm xanh" gieo hy vọng về một Việt Nam sạch đẹp hơn. Thế hệ trẻ cần tiếp tục duy trì ngọn lửa nhiệt huyết này, biến tinh thần chủ động hành động thành văn hóa sống có trách nhiệm với môi trường, để những nơi "chân cầu, bãi biển" không còn là nơi phải dọn dẹp, mà là nơi để thưởng ngoạn vẻ đẹp tự nhiên vốn có của nó.
Câu 1:
- Vẻ đẹp trong tâm hồn con người và vẻ đẹp của thiên nhiên trong truyện ngắn "Muối của rừng"
Câu 2:
- Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó.
Câu 3:
- Mối quan hệ chặt chẽ:
+Nhan đề " Vẻ đẹp của sự lương thiện" bao quát được nội dung chính của văn bản. Nhan đề đã khái quát được quá trình chuyển biến từ hành động "hướng thiện" của nhân vật ông Diểu. Hành động ấy thể hiệnver đẹp trong tâm hồn ông Diểu.
Câu 4:
- Biện pháp tu từ: Liệt kê "chim xanh, gà rừng, khỉ, sự hùng vĩ của núi non, hang động, sự tĩnh lặng của rừng xanh, sự quấn quít của ba con khỉ đối lập với tiếng súng săn dữ dội, tiếng kêu buồn thảm của khỉ đực, tiếng rú kinh hoàng của khỉ con đã đánh thức ông "
- Tác dụng: Tăng sức gợi hình gợi cảm, giúp người đọc hình dung một cách toàn diện và sinh động về không gian rừng núi.
Câu 5:
- Mục đích của người viết: Khẳng định và ca ngợi vẻ đẹp của hướng thiện trong tâm hồn của con người và vẻ đẹp của thiên nhiên. Kêu gọi nhận thức về trách nhiệm bảo vệ môi trường tự nhiên.
Câu 1.
Luận đề: Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp, thể hiện qua vẻ đẹp thiên nhiên, sự thức tỉnh lương tri và hướng thiện của con người.
Câu 2.
Câu văn thể hiện rõ tính khẳng định:
“Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó.”
Câu 3.
Nhan đề Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng phù hợp chặt chẽ với nội dung, vì toàn bộ văn bản tập trung phân tích và làm nổi bật các biểu hiện của cái đẹp trong tác phẩm: thiên nhiên, tâm hồn con người và sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên.
Câu 4.
Biện pháp tu từ liệt kê giúp:
Câu 5.
Người viết nhằm khẳng định giá trị nhân văn của truyện, bày tỏ quan điểm trân trọng thiên nhiên, đề cao sự hướng thiện của con người; đồng thời thể hiện tình cảm yêu mến, cảm phục trước vẻ đẹp tâm hồn nhân vật và thông điệp nhân đạo của tác phẩm.
Câu 1. Xác định luận đề của văn bản trên.
• Luận đề (chủ đề chính, ý bao trùm) của văn bản là: Cái đẹp trong truyện ngắn "Muối của rừng", được triển khai cụ thể thông qua Vẻ đẹp của sự hướng thiện (sự thức tỉnh lương tri) của nhân vật ông Diểu nhờ vào vẻ đẹp bình dị và sức mạnh cảm hóa của thiên nhiên.
Câu 2. Dẫn ra một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định trong văn bản.
• Các câu văn thể hiện tính khẳng định, tổng kết vấn đề một cách rõ ràng:
• “Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó.”
• “Khép lại trang truyện ngắn “Muối của rừng” (Nguyễn Huy Thiệp) người đọc không còn ám ảnh bởi bối cảnh đi săn của ông Diểu mà chỉ thấy quá trình nhân vật thấy được bản chất của chính mình nơi thiên nhiên, gợi cho nhân vật nhận thức rõ ràng cảm trước tạo vật và ý thức trách nhiệm của mình trước thiên nhiên.”
Câu 3. Nhận xét về mối quan hệ giữa nội dung và nhan đề của văn bản.
• Nội dung của văn bản tập trung vào việc phân tích vẻ đẹp và sự cảm hóa của thiên nhiên, dẫn đến sự thức tỉnh lương tri, tình yêu sự sống và sự hướng thiện của nhân vật (ông Diểu).
• Nhan đề là "Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng" (và tiêu đề phụ là "Vẻ đẹp của sự hướng thiện").
• Mối quan hệ:
• Mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất: Nhan đề đã bao quát chính xác nội dung phân tích.
• Văn bản không chỉ trích dẫn nội dung mà còn phân tích, đánh giá (Cái đẹp) và khẳng định (Hướng thiện) ý nghĩa tư tưởng của truyện ngắn, qua đó làm nổi bật được giá trị của tác phẩm. Nhan đề đã nêu lên đối tượng và khía cạnh phân tích chính.
câu 4
1,Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích:
Biểu cảm (chủ đạo): bộc lộ niềm xót thương, đau đớn trước số phận những kiếp người bất hạnh.
Tự sự: kể lại các cảnh đời, hoàn cảnh chết chóc khác nhau.
Miêu tả: tái hiện khung cảnh chiến trận, đói khát, chết chóc rất ám ảnh.
Nghị luận (ẩn): thể hiện quan niệm nhân sinh, lòng thương người, ý thức về kiếp người vô thường.
Câu 2.
Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích:
Người lính chết nơi chiến trận
Người dân chết vì đói khát, loạn lạc
Kẻ chết đường chết chợ, không nơi nương tựa
Người phụ nữ bất hạnh (góa bụa, lỡ làng, chịu nhiều đau khổ)
Những kẻ nghèo khổ, lưu lạc, chết không ai thờ cúng
→
Câu 1.
Luận đề: Vẻ đẹp của thiên nhiên và quá trình thức tỉnh, hướng thiện của con người (nhân vật ông Diểu) thông qua tác phẩm "Muối của rừng".
Câu 2.
Có nhiều câu văn mang tính khẳng định mạnh mẽ, bạn có thể chọn một trong các câu sau:
• "Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mĩ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu về vẻ đẹp của chính nó."
• "Đó cũng là ý nghĩa vẻ đẹp trong truyện ngắn 'Muối của rừng'."
Câu 3.
• Mối quan hệ: Quan hệ thống nhất, tương hỗ chặt chẽ.
• Nhận xét: Nhan đề "Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp" đã bao quát trọn vẹn nội dung phân tích của bài viết. Văn bản tập trung làm rõ "cái đẹp" ở nhiều khía cạnh: vẻ đẹp thiên nhiên bình dị, vẻ đẹp của lòng trắc ẩn và sự hướng thiện trong tâm hồn nhân vật. Nhan đề đóng vai trò là "kim chỉ nam" dẫn dắt người đọc đi sâu vào các tầng nghĩa thẩm mỹ của tác phẩm.
Câu 4.
"Sự đa dạng của các loài muông thú: chim xanh, gà rừng, khỉ, sự hùng vĩ của núi non, hang động, sự tĩnh lặng của rừng xanh, sự quấn quýt của ba con khỉ đối lập với tiếng súng săn dữ dội..."
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm (bày tỏ tình cảm, sự xót thương). Bên cạnh đó có kết hợp với phương thức tự sự (kể về số phận, cuộc đời các kiếp người).
Câu 2: Đoạn trích liệt kê 3 nhóm người khổ đau trong xã hội cũ: Người lính: Những người đi lính, phải rời xa quê hương, chịu cảnh gian nan, tử trận nơi chiến trường không người chôn cất. Người phụ nữ (kỹ nữ): Những người lỡ làng một kiếp, bán phấn buôn hương, khi về già cô độc, không nơi nương tựa. Người hành khất (người ăn xin): Những người sống cảnh nghèo khổ, đi lang thang xin ăn, chết dọc đường đường quán
Câu 3:
Hiệu quả của việc sử dụng từ láy Hai dòng thơ: "Lập lòe ngọn lửa ma trơi Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!" Các từ láy: Lập lòe, văng vẳng. Hiệu quả: Gợi hình, gợi thanh: Từ "lập lòe" gợi lên hình ảnh ánh sáng mờ ảo, hư thực của những linh hồn; "văng vẳng" gợi âm thanh xa xăm, u uất, không dứt. Tăng sức biểu cảm: Tạo nên không gian âm u, rùng rợn nhưng đầy bi thương. Qua đó, nhấn mạnh nỗi oan khiên, sự đau đớn của những linh hồn cô độc và thể hiện sự đồng cảm sâu sắc của tác giả.
Câu 4: Chủ đề: Tái hiện số phận bi kịch, khổ đau của những con người nhỏ bé, bất hạnh trong xã hội phong kiến và niềm thương xót đối với những linh hồn bơ vơ. Cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng nhân đạo sâu sắc. Đó là lòng thương người (từ tâm), sự đồng cảm mãnh liệt của Nguyễn Du trước những kiếp người "dưới đáy" xã hội.
Câu 5: Từ cảm hứng nhân đạo của Nguyễn Du, ta thấy truyền thống nhân đạo vốn là dòng máu chảy xuyên suốt lịch sử dân tộc Việt Nam. Đó là tinh thần "thương người như thể thương thân", là sự thấu hiểu và sẻ chia giữa người với người, nhất là với những số phận bất hạnh. Trong văn học, nó là tiếng lòng bênh vực quyền sống; trong đời sống, nó là những hành động thiện nguyện, "lá lành đùm lá rách". Truyền thống ấy không chỉ giúp gắn kết cộng đồng mà còn tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn để dân tộc ta vượt qua mọi nghịch cảnh, khẳng định giá trị cao đẹp của con người Việt Nam.
Câu 1. Xác định luận đề của văn bản trên.
Luận đề của đoạn văn bản trên là: Vẻ đẹp trong tâm hồn nhân vật (ông Diểu) và người kể chuyện, thể hiện qua quá trình thay đổi nhận thức, hướng thiện, và niềm tin vào những điều tốt đẹp sau khi khép lại trang truyện “Muối của rừng”.
Câu 2. Dẫn ra một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định trong văn bản.
Một câu văn thể hiện rõ tính khẳng định trong văn bản là:
• “Vẻ đẹp trong tâm hồn ông Diểu xét cho cùng cũng là vẻ đẹp trong tâm hồn người kể chuyện.”
Câu 3. Nhận xét về mối quan hệ giữa nội dung và nhan đề của văn bản.
Mối quan hệ giữa nội dung đoạn trích và nhan đề “Muối của rừng” là mối quan hệ thể hiện ý nghĩa sâu xa và chủ đề tư tưởng của tác phẩm:
• Nội dung đoạn trích tập trung vào sự thay đổi nhận thức của nhân vật và sự thức tỉnh về vẻ đẹp tâm hồn, về lòng hướng thiện và niềm tin vào cái thiện.
• Nhan đề “Muối của rừng” (thường được hiểu là giá trị tinh thần, đạo đức, hoặc sự sống còn/bản chất tốt đẹp nhất của tự nhiên và con người) chính là biểu tượng cho vẻ đẹp tinh thần mà nhân vật và người viết hướng tới.
• Mối quan hệ: Nội dung đã giải thích và làm nổi bật ý nghĩa của nhan đề, cho thấy “muối” không chỉ là vật chất mà là giá trị tinh thần cao quý, là vẻ đẹp tâm hồn được thức tỉnh.
Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong câu văn sau:
Câu văn sử dụng biện pháp tu từ liệt kê (kết hợp với đối lập).
Câu văn: Sự đa dạng của các loài muông thú: chim xanh, gà rừng, khỉ, sự hùng vĩ của núi non, hang động, sự tĩnh lặng của rừng xanh, sự quấn quít của ba con khỉ đối lập với tiếng súng săn dữ dội, tiếng kêu buồn thảm của khỉ đực, tiếng rú kinh hoàng của khỉ con đã đánh thức ông.
Tác dụng của biện pháp liệt kê:
• Nhấn mạnh sự phong phú và vẻ đẹp của tự nhiên: Các yếu tố chim xanh, gà rừng, khỉ, núi non, hang động, sự tĩnh lặng, sự quấn quít được liệt kê nhằm tái hiện một bức tranh thiên nhiên đa dạng, sống động, hài hòa và giàu sức sống.
• Làm nổi bật sự đối lập: Việc liệt kê các hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp, yên bình (quấn quít) ngay trước khi liệt kê các âm thanh bạo lực, đau thương (tiếng súng săn dữ dội, tiếng kêu buồn thảm, tiếng rú kinh hoàng) tạo ra sự tương phản mạnh mẽ, từ đó làm tăng tính bi kịch và mức độ ám ảnh của hành động săn bắn.
• Làm rõ sự thức tỉnh: Chuỗi liệt kê cuối cùng (tiếng súng, tiếng kêu, tiếng rú) chính là những tác nhân trực tiếp, được nhấn mạnh về mức độ khủng khiếp, có sức mạnh đánh thức nhận thức của ông Diểu về cái ác và sự mất mát.
Câu 5. Phân tích, đánh giá mục đích, quan điểm và tình cảm của người viết qua văn bản.
Dựa trên đoạn trích, có thể phân tích như sau:
Mục đích:
• Khẳng định giá trị nhân văn sâu sắc của truyện ngắn “Muối của rừng”.
• Nhấn mạnh sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của nhân vật chính (ông Diểu) từ chỗ là kẻ đi săn thành người biết trân trọng vẻ đẹp và lòng hướng thiện.
Quan điểm:
• Người viết có quan điểm ủng hộ cái đẹp, sự sống và đạo đức.
• Quan điểm này thể hiện sự phê phán gián tiếp đối với hành vi hủy hoại tự nhiên và bạo lực (qua việc cảnh săn bắn bị đẩy lùi về phía sau, nhường chỗ cho sự thức tỉnh).
• Tin tưởng vào khả năng tự điều chỉnh và hướng thiện của con người.
Tình cảm:
• Trân trọng và ngưỡng mộ: Tình cảm rõ rệt nhất là sự trân trọng đối với vẻ đẹp tâm hồn (yêu thiên nhiên, hướng thiện, có niềm tin vào những điều tốt đẹp).
• Thấu hiểu và đồng cảm: Người viết thể hiện sự thấu hiểu đối với quá trình đấu tranh nội tâm của nhân vật, coi sự thức tỉnh của ông Diểu là sự trưởng thành về mặt tinh thần.
Câu 1. Luận đề của văn bản
Luận đề của văn bản là:
👉 Vẻ đẹp trong truyện ngắn “Muối của rừng” của Nguyễn Huy Thiệp, bao gồm vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp của sự hướng thiện ở nhân vật ông Diểu và vẻ đẹp hài hòa giữa thiên nhiên – con người.
Câu 2. Câu văn thể hiện rõ tính khẳng định
👉 “Điều đáng quý, nhà văn đã để cho nhân vật tự nhận thức vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên qua dòng tâm trạng của nhân vật.”
Hoặc:
👉 “Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên không chỉ đánh thức mỹ quan mà còn khơi dậy nhận thức, suy nghĩ tích cực của ông Diểu…”
Câu 3. Nhận xét về mối quan hệ giữa nội dung và nhan đề văn bản
👉 Vì vậy, nhan đề thể hiện đúng trọng tâm và bao quát nội dung văn bản, định hướng rõ vấn đề nghị luận và phù hợp với luận điểm văn bản triển khai.
Câu 4. Tác dụng của phép liệt kê
Câu liệt kê:
“Sự đa dạng của các loài muông thú… tiếng rú kinh hoàng của khỉ con…”
Tác dụng:
Câu 5. Mục đích – quan điểm – tình cảm của người viết
câu 1: luận đề: cái đẹp trong chuyện ngắn muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp