Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
mày đừng so sánh tao với nó\n_vì nó là chó còn tao là người\n_Mày đừng bật cười khi nghe điều đó\n_vì cả mày và nó đều chó như nhau
Phần I
Câu 1:
Văn bản tập trung vào vấn đề nghị luận bàn về niềm tin vào bản thân, nỗ lực phấn đấu không bỏ cuộc để vượt qua những khó khăn, thác ghềnh bằng tự lực để chinh phục thành công.
Câu 2:
Biện pháp ẩn dụ:"thác ghềnh, chông gai trên đường" vì tác giả so sánh những chướng ngại vật trên đường đi hàng ngày của mỗi người cũng giống như những khó khăn, gian nan trên đường đời mỗi người phải trải qua để thành công.
Câu 3:
Tác giả đưa hai dẫn chứng về Walt Disney và Helen Keller là để làm dẫn chứng thuyết phục cho vấn đề cần nghị luận của mình đó là đã có những tấm gương gặp muôn vàn khó khăn trắc trở trong cuộc sống nhưng họ không buông xuôi hay dựa dẫm vào người khác mà biết cách đứng dậy sau vấp ngã và thành công.
Câu 4:
Em đồng ý với quan điểm:"Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ là học từ người khác". Những người đi trước và câu chuyện xoay quanh sự thành bại của họ chính là những bài học quý báu cho người sau. Những con người đi trước và thành công sau 1 quá trình gian nan đó chính là những bằng chứng sống để người đời sau tin tưởng vào mình dù có trải qua bao thác ghềnh, chông gai.
Phần II
Có một câu chuyện ngụ ngôn mà hồi bé chúng ta hay được nghe kể về cuộc đua của rùa và thỏ, con thỏ nhanh nhẹn nhưng lại tự phụ, xem thường đối thủ,tuy con rùa chậm chạp nhưng lại nỗ lực không ngừng, kết quả ai cũng biết, con rùa đã thắng con thỏ. Xuyên suốt câu truyện Rùa và Thỏ là ý chí của con rùa, nó không đầu hàng trước những thất bại. Rõ ràng, con thỏ có năng lực nhưng ý chí lại không tốt bằng con rùa, nó vẫn có thể về đến được vách đích nhưng con rùa vẫn chiến thắng nó,đó cũng là sự biểu trưng cho quyết tâm và ý chí của con rùa . Cũng có người từng nói “ Không phải đời người quá khó khăn, mà là do bạn nỗ lực chưa đủ”. Từ câu chuyện trên và câu nói trên, chúng ta có thể thấy được ý chí đóng 1 vai trò cực kì quan trọng trong mỗi bước tiến đến con đường thành công của mỗi con người.
Sức mạnh, trí tuệ hay thiên phú chỉ góp phần nào cho sự khác biệt giữa những người thành công và những người thất bại, nhưng hơn thế nữa quyết định chủ yếu là ở ý chí. Vậy ý chí hay sự quyết tâm là gì mà nó lại đóng góp không nhỏ vào chính cuộc đời chúng ta? Ý chí, nghị lực là ý thức, tính tự giác, mạnh mẽ, quyết tâm dồn nén sức lực, trí tuệ để đạt được tiêu chí, mục đích. Ý chí cũng là phẩm chất tâm lí đặc trưng của con người, thể hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có nỗ lực khắc phục khó khăn.Ngay từ những điều đơn giản nhất trong cuộc sống, bạn được giao một công việc trong nhiều ngày, nhưng bạn đã cố gắng, tập trung để hoàn thành trước thời hạn và nhận thêm một việc làm mới, từ đó năng suất làm việc, hiệu quả công việc và sự tin tưởng từ người giao việc cũng từ đó tăng theo. Chỉ từ một sự quyết tâm nhỏ ấy thôi mà cũng kéo theo được vô cùng nhiều giá trị và lợi ích không chỉ đối với bản than mà còn đối với những người xung quanh chúng ta. Ý chí như thôi thúc bản thân mỗi chúng ta, như tiếp thêm cho ta phần nào sức mạnh để ngày càng tới gần hơn mục tiêu đã đề ra. Câu chuyện được minh chứng bởi Thomas Edison – nhà phát minh tài ba của thế kỉ XX, hơn 10.000 lần thất bại để đem được ánh sáng đến với nhân loại, nếu không có ông thì dường như việc bóng đèn xuất hiện với thế giới sẽ bị đẩy lùi đi mười mấy năm, rõ ràng, chính ý chí quyết tâm của Edison đã khiến con đường của nền văn minh hiện đại của con người trở nên ngắn lại.
Ý chí giúp chúng ta toàn sức tập trung vào mục tiêu bằng cách ngăn cản các suy nghĩ không liên quan khác xảy đến. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ hoàn thành công việc một cách nhanh chóng và hiểu quả. Chủ tịch Hồ chí đã nói:
“Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên”
Câu nói này càng như khẳng định vai trò quan trọng và to lớn của sức mạnh ý chỉ và quyết tâm, đáng sợ nhất không phải là những người có tài năng thiên bẩm mà là những người có nghị lực vươn lên. Ý chí rèn luyện bản thân sự quyết đoán và nhạy bén trong mọi vấn đề cuộc sống từ đó thúc đẩy hành trình của bản thân trở nên tinh gọn. Nghị lực là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với bản thân mỗi người, tuy nhiên không phải ai cũng nhận ra được giá trị cốt lõi của nó. Trái ngược với những người có ý chí là những người thờ ơ, không đủ quyết tâm, nhụt trí trước những thử thách cuộc sống. Giới trẻ bây giờ không ít người chưa làm đã vội bỏ cuộc, thấy khó khăn đã nản chí, gặp thất bại thì hủy hoại và sống bất cần đời. Những người như thế thật đáng chê trách. Là học sinh, chúng ta cần khẳng định tư cách, ý chí, nghị lực vượt qua những khó khăn thử thách .Tài năng của con người được tạo bởi nhiều yếu tố. Trong đó yếu tố tự rèn là yếu tố quan trọng nhất để đi đến thành công. Để thấy mình không thấp hơn người khác, bản thân phải có sự lao động chăm chỉ, cần cù, không chùn bước trước gian nguy, phải biết tự tin vào chính bản thân trên bước đường đời.
Nhìn chung, một lần nữa cần phải khẳng định lại giá trị của câu nói “ Ý chí tốt làm con đường ngắn lại”. Ý chí mang đến thành công và giúp ta chinh phục mọi khó khăn trên con đường gập ghềnh phía trước. Những con người thành công và nổi tiếng nhất đều là những người có ý chí rất mạnh mẽ.Vậy nên việc rèn luyện và giữ vững một ý chí kiên cường luôn là điều tất yếu trên chặng đường của cuộc đời
Câu 1:
Từ thuở xa xưa thanh niên Việt Nam đã ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình đối với đất nước. Trong thời chiến họ luôn là lực lượng tiên phong trong các phong trào đánh giặc cứu nước, luôn là lực lượng nòng cốt của cách mạng, xả thân vì tổ quốc mà không tiếc thời tuổi trẻ. Vậy chúng ta những thanh niên may mắn được sinh ra trong thời bình, chúng là phải có trách nhiệm như thế nào để gìn giữ và bảo vệ tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng đã được đổi bằng xương máu của biết bao thế hệ đi trước, phải làm gì để xứng đáng hưởng được những thành quả ngày hôm nay. Mỗi chúng ta phải xác định cho mình một lí tưởng sống cao đẹp, phải có ước mơ và hoạch định ra cho mình một kế hoạch cụ thể, phải rèn đức luyện tài, phải hiểu được vai trò đất nước đối với chúng ta, có như vậy chúng ta mới xác định được đúng đắn nhiệm vụ của mình đối với đất nước. Chúng ta ra sức học tập cũng là đang thực hiện nhiệm của của mình với đất nước, nó không phải là một cái gì đó sâu xa như các bạn nghĩ nó chỉ đơn giản là làm tốt bổn phận của mình để phấn đấu trở thành một công dân tốt góp phần xây dựng một đất nước giàu đẹp vững mạnh. Như vậy trách nhiệm của thanh niên ở thời chiến hay thời bình đều do ý thức mỗi con người tuy nhiên nó lại được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau.
Câu 2:
Bàn về kết thúc đoạn trích "Vợ chồng A Phủ"
– Ý kiến thứ nhất: hành động cắt nút dây mây cởi trói cứu A Phủ rồi chạy theo A Phủ của nhân vật Mị thật bất ngờ, đột ngột, không thể dự đoán trước: Đánh giá kết thúc của truyện Vợ chồng A Phủ là bất ngờ với mạch truyện, tâm trạng nhân vật Mị và cả người đọc.
– Ý kiến thứ hai: Đó là là một kết thúc tự nhiên, tất yếu: ý kiến này nhìn nhận, đánh giá kết thúc của tác phẩm trong mối quan hệ với lô gíc diễn biến tâm trạng nhân vật Mị và mạch vận động tất yếu của đời sống con người: khi bị dồn đẩy đến bước đường cùng, con người sẽ vùng lên tìm ánh sáng cho mình.
Bình luận các ý kiến:
Cả hai ý kiến đều đúng, không đối lập mà bổ sung cho nhau, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tài năng kể chuyện, miêu tả nội tâm nhân vật của nhà văn Tô Hoài. Đồng thời, ta càng trân trọng hơn .tấm lòng yêu thương, đồng cảm của tác giả đối với người dân nơi đây.
Câu 6. Từ nào sau đây không thể thay thế cho từ “quyến” trong câu văn số (1) “Gió tây lướt thướt bay qua rừng, quyến hương thảo quả đi, rải theo triền núi, đưa hương thảo quả ngọt lựng, thơm nồng vào những thôn xóm Chin San” của đoạn trích?
A Mang. B. Đem. C. Rủ. D. Đuổi.
Câu 7. Câu văn số (1) “Gió tây lướt thướt bay qua rừng, quyến hương thảo quả đi, rải theo triền núi, đưa hương thảo quả ngọt lựng, thơm nồng vào những thôn xóm Chin San” trong đoạn trích có mấy vị ngữ?
A. 1 B. 2 C. 3 D. 4
Câu 8. Chủ ngữ của câu “Hương thơm đậm ủ ấp trong từng nếp áo, nếp khăn” là:
A. “Hương thơm”. B. “Hương thơm đậm C. “Nếp áo”. D. “Nếp khăn”.
Câu 9. Xét theo mục đích nói, câu văn số (3) “Cây cỏ thơm.” của đoạn trích thuộc kiểu câu gì?
A. Trần thuật. B. Nghi vấn. C. Cầu khiến. D. Cảm thán.
Câu 10. Ý nào sau đây không phải là tác dụng của việc lặp lại từ “thơm” trong các câu số “(2) Gió thơm. (3) Cây cỏ thơm. (4) Đất trời thơm”?
A. Liên kết câu (3), (4) với câu (2).
B. Nhấn mạnh hương thơm của thảo quả trải khắp không gian.
C. Làm cho câu ngắn gọn hơn.
Câu 1 (trang 53 sgk Tiếng Việt 4) :
Tìm danh từ chỉ khái niệm trong số các danh từ được in đậm dưới đây.
Một điểm nổi bật trong đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh là lòng thương người... Chính vì thấy nước mất, nhà tan... mà Người đã ra đi học tập kinh nghiệm của cách mạng thế giới để về giúp đồng bào.
Theo TRƯỜNG CHINH
Trả lời:
Danh từ chỉ khái niệm trong đoạn văn đã cho là: điểm, đạo đức, kinh nghiệm, cách mạng.
- Tự vấn bản thân: Trong những khoảnh khắc yên tĩnh, con người có cơ hội nhìn lại hành động, suy nghĩ, sai lầm và cả những ước mơ của mình. Sự thinh lặng giúp ta trung thực hơn với chính mình.
- Thấu hiểu thế giới xung quanh: Như cái cây của Lovelock, vạn vật trong tự nhiên vận hành trong sự thinh lặng tuyệt đối. Lắng nghe sự thinh lặng giúp ta cảm nhận được nhịp đập của sự sống, sự biến đổi tinh tế của thiên nhiên mà những âm thanh huyên náo thường che lấp.
- Tăng cường sự tập trung và sáng tạo: Khi không bị phân tán bởi tiếng ồn, trí óc con người hoạt động hiệu quả hơn, ý tưởng mới mẻ dễ dàng nảy sinh.
- Văn học hiện thực phê phán: Các nhà văn như Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Ngô Tất Tố (Tắt đèn) đã sử dụng ngòi bút sắc bén để phơi bày những thói hư tật xấu, sự bất công của xã hội, nhằm thức tỉnh cộng đồng. Cái đẹp trong tác phẩm của họ là cái đẹp của sự thật trần trụi, có sức lay động mạnh mẽ.
- Văn học cách mạng: Các nhà thơ như Tố Hữu (Việt Bắc) đã gắn thơ ca với sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Thơ của ông vừa giàu tính trữ tình, vừa mang tính chính trị sâu sắc, là tiếng nói chung của cộng đồng trong công cuộc giải phóng dân tộc.
Câu 1: Nghị luận xã hội (8 điểm)
Chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng
Bài làm:
Con người thường bị cuốn vào những ồn ào, náo nhiệt của cuộc sống, đến mức quên mất rằng sự thinh lặng cũng có thể nói lên rất nhiều điều quan trọng. Trong đoạn văn của James Lovelock, Trái Đất được ví như một cái cây lặng lẽ tồn tại và phát triển một cách âm thầm. Điều đó khiến ta nhận ra: có những thay đổi lớn lao, những câu chuyện sâu sắc không cần lời nói vẫn đang diễn ra ngay bên cạnh chúng ta, trong sự yên tĩnh và tĩnh lặng.
Lắng nghe sự thinh lặng chính là một cách để ta thấu hiểu, cảm nhận sâu sắc hơn về thế giới xung quanh. Sự thinh lặng không phải là khoảng trống, không phải là sự vắng mặt của âm thanh, mà là một trạng thái tích cực, chứa đựng sự sống động và những thông điệp mà tiếng ồn không thể mang lại. Khi ta biết dừng lại, lắng nghe thinh lặng, ta sẽ nhận ra những vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, sự biến đổi của cuộc sống và cả tiếng nói của chính tâm hồn mình.
Trong cuộc sống hiện đại, con người dễ bị cuốn vào guồng quay công việc, công nghệ, xã hội mà quên mất việc dành thời gian để yên tĩnh suy ngẫm, tĩnh tâm. Việc lắng nghe sự thinh lặng không chỉ giúp ta lấy lại cân bằng tinh thần mà còn giúp ta hiểu rõ hơn về bản thân và những giá trị cuộc sống. Sự thinh lặng là nguồn sức mạnh để ta đối diện với khó khăn, là không gian để nuôi dưỡng trí tuệ và lòng nhân ái.
Thực tế, nhiều bậc vĩ nhân, nhà sáng tạo nghệ thuật, nhà tư tưởng đều trân trọng khoảng lặng để sáng tạo và suy nghĩ sâu sắc. Thiên nhiên cũng dạy chúng ta bài học quý giá về sự kiên nhẫn và phát triển bền vững qua sự thinh lặng của cây cối, đất trời. Lắng nghe sự thinh lặng là học cách quan sát, trân trọng những điều nhỏ bé mà bền vững.
Như vậy, trong cuộc sống bộn bề ngày nay, mỗi người cần biết tôn trọng và dành thời gian lắng nghe sự thinh lặng. Đó là con đường dẫn ta đến sự thấu hiểu, cảm thông và yêu thương. Sự thinh lặng không phải là khoảng cách, mà là kết nối sâu sắc với thế giới và chính bản thân mình.
Kết luận:
Lắng nghe sự thinh lặng là nghệ thuật sống, là cách để ta khám phá những giá trị chân thật và trường tồn. Hãy học cách dừng lại, lắng nghe và cảm nhận, để cuộc sống thêm ý nghĩa và sâu sắc hơn.
Câu 2: Nghị luận văn học (12 điểm)
Bàn luận câu nói của A. Camus:
“Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”
Bài làm:
Albert Camus – nhà văn, triết gia lỗi lạc của thế kỷ XX đã đưa ra một quan điểm sâu sắc về người nghệ sĩ và vị trí của họ trong xã hội. Theo ông, người nghệ sĩ không tồn tại tách biệt mà luôn vận động trong mối quan hệ hai chiều: giữa cá nhân với cái đẹp và giữa cá nhân với cộng đồng.
Thứ nhất, cái đẹp không thể bỏ qua là mục tiêu, là lý tưởng mà người nghệ sĩ theo đuổi. Người nghệ sĩ luôn không ngừng tìm kiếm, sáng tạo ra cái đẹp qua tác phẩm của mình – đó có thể là vẻ đẹp thẩm mỹ, vẻ đẹp tư tưởng hay vẻ đẹp nhân văn. Cái đẹp ấy vượt lên trên sự tầm thường, cái đẹp là nguồn cảm hứng và là tiếng nói riêng của người nghệ sĩ, giúp họ khẳng định giá trị và bản sắc cá nhân.
Tuy nhiên, người nghệ sĩ cũng không thể tách rời cộng đồng – nơi họ sinh sống và làm việc. Cộng đồng là nơi cung cấp chất liệu sáng tạo, là đối tượng truyền tải thông điệp, là nguồn cảm hứng và cũng là nơi tác phẩm được đón nhận. Người nghệ sĩ có trách nhiệm phản ánh, phê phán xã hội, góp phần định hướng những giá trị tích cực, đồng thời thấu hiểu, đồng cảm với cuộc sống con người. Nghệ thuật vì thế luôn mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc.
Mối tương quan liên tục giữa cái đẹp và cộng đồng tạo nên một con đường mà người nghệ sĩ phải đi – đó là quãng đường tôi luyện bản thân không ngừng nghỉ. Họ vừa phải giữ vững lý tưởng sáng tạo, vừa phải lắng nghe, giao tiếp và đồng hành với con người và xã hội. Nếu chỉ theo đuổi cái đẹp mà quên cộng đồng, nghệ thuật sẽ trở nên hời hợt, xa rời thực tế; ngược lại, nếu chỉ chú trọng cộng đồng mà thiếu cái đẹp, nghệ thuật sẽ mất đi giá trị thẩm mỹ và chiều sâu nhân văn.
Thực tế trong văn học Việt Nam và thế giới đã có nhiều nghệ sĩ tiêu biểu sống và sáng tạo theo tinh thần này. Họ luôn hướng tới cái đẹp – cái đẹp của sự chân thực, nhân hậu và tự do; đồng thời luôn giữ mối liên hệ mật thiết với đời sống nhân dân, phản ánh những vấn đề xã hội, con người một cách sâu sắc và thuyết phục.
Như vậy, câu nói của A. Camus đã nhấn mạnh sự cân bằng cần thiết trong đời sống nghệ sĩ, giữa cá nhân và xã hội, giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng. Người nghệ sĩ không chỉ là người sáng tạo mà còn là người đồng hành, người truyền cảm hứng và người bảo vệ những giá trị cao đẹp của nhân loại.
Kết luận:
Người nghệ sĩ thực sự là người tôi luyện trong hành trình kết nối giữa chính mình và cộng đồng, giữa cái đẹp không thể bỏ qua và trách nhiệm đối với xã hội. Chỉ khi đó, nghệ thuật mới phát huy được sức mạnh và giá trị đích thực của nó.

bzjsjsns
.
Câu 1 (2 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ
Giấc mơ có ý nghĩa đặc biệt đối với đời sống tinh thần của con người. Trước hết, giấc mơ là nguồn nuôi dưỡng niềm tin và hi vọng, giúp con người hướng tới những điều tốt đẹp trong tương lai. Khi có giấc mơ, con người không sống buông xuôi mà biết đặt cho mình một mục tiêu để phấn đấu. Bên cạnh đó, giấc mơ còn là động lực giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách. Trong những lúc mệt mỏi, bế tắc, chính giấc mơ đã tiếp thêm sức mạnh tinh thần, giúp con người kiên trì bước tiếp. Không chỉ vậy, giấc mơ còn góp phần làm giàu đời sống tâm hồn, giúp con người sống nhân ái, biết yêu thương và sẻ chia hơn. Một cuộc sống thiếu giấc mơ sẽ trở nên khô cằn, vô nghĩa, bởi con người khi ấy chỉ tồn tại vì những nhu cầu vật chất trước mắt. Tuy nhiên, giấc mơ cần gắn liền với hành động và nỗ lực không ngừng; nếu chỉ mơ mộng viển vông mà không hành động, giấc mơ sẽ trở nên vô ích. Vì thế, mỗi người cần biết trân trọng và nuôi dưỡng những giấc mơ đẹp để sống một cuộc đời có ý nghĩa.
Câu 2 (4 điểm)
Viết bài văn khoảng 600 chữ phân tích bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính
Nguyễn Bính là nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới nhưng lại mang một phong vị rất riêng: hồn quê mộc mạc, chân thành và đậm đà bản sắc dân gian. Bài thơ Tương tư là một trong những tác phẩm đặc sắc nhất của ông, thể hiện sâu sắc nỗi nhớ thương da diết của chàng trai quê trong tình yêu đơn phương.
Mở đầu bài thơ, Nguyễn Bính đã khéo léo mượn không gian làng quê để nói hộ nỗi lòng nhân vật trữ tình:
“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,
Một người chín nhớ mười mong một người.”
Hai thôn Đoài – Đông vốn gần gũi, chung một làng, nhưng lại được nhân hóa như hai con người đang xa cách. Cách nói dân dã “chín nhớ mười mong” diễn tả nỗi nhớ khắc khoải, sâu nặng và đầy da diết. Nỗi nhớ ấy không còn là cảm xúc mơ hồ mà trở thành một “căn bệnh”:
“Gió mưa là bệnh của giời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.”
So sánh tình yêu với quy luật tự nhiên, Nguyễn Bính đã làm nổi bật sự tự nhiên, tất yếu của nỗi tương tư, đồng thời bộc lộ sự chân thành và táo bạo trong cách bày tỏ tình cảm.
Ở những khổ thơ tiếp theo, nỗi tương tư ấy ngày càng trở nên day dứt. Khoảng cách địa lí không đáng kể nhưng lại hóa thành khoảng cách của lòng người:
“Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?”
Thời gian trôi đi chậm chạp, mòn mỏi trong chờ đợi:
“Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.”
Hình ảnh lá xanh hóa vàng gợi sự tàn phai của thời gian, đồng thời phản ánh nỗi nhớ kéo dài, khiến lòng người thêm buồn tủi, lo âu.
Nỗi tương tư không chỉ hiện hữu trong suy nghĩ mà còn xâm chiếm cả giấc ngủ:
“Tương tư thức mấy đêm rồi,
Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!”
Đó là nỗi cô đơn của tình yêu đơn phương, không biết giãi bày cùng ai. Khát vọng được gặp gỡ, được yêu thương được thể hiện qua những hình ảnh mang đậm chất dân gian: bến – đò, hoa – bướm, trầu – cau. Những hình ảnh ấy vừa gợi ước mong gắn bó, vừa kín đáo bày tỏ khát khao lứa đôi.
Kết thúc bài thơ, Nguyễn Bính quay trở lại với hình ảnh thôn Đoài – thôn Đông, cau – trầu, tạo nên một vòng tròn cảm xúc khép kín nhưng vẫn còn dang dở. Tương tư vì thế không chỉ là tiếng lòng của một chàng trai đang yêu, mà còn là bản tình ca mộc mạc, chân thành của người nông thôn Việt Nam. Qua bài thơ, Nguyễn Bính đã thể hiện tài năng trong việc kết hợp chất trữ tình hiện đại với ngôn ngữ, hình ảnh dân gian, để lại dư âm sâu lắng trong lòng người đọc.
câu 1
Những giấc mơ có ý nghĩa đặc biệt đối với đời sống tinh thần của con người. Trước hết, giấc mơ là nơi con người gửi gắm những khát vọng sâu kín mà ở đời thực chưa thể hoặc chưa dám thực hiện. Khi mơ ước, con người nuôi dưỡng hi vọng, có thêm động lực để vượt qua khó khăn và thử thách. Một người có ước mơ sẽ không dễ buông xuôi trước nghịch cảnh, bởi phía trước họ luôn có một mục tiêu để hướng tới. Bên cạnh đó, giấc mơ còn giúp con người nhận ra giá trị của bản thân, hiểu mình thực sự mong muốn điều gì để lựa chọn con đường sống phù hợp. Tuy nhiên, giấc mơ chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi liền với hành động. Nếu chỉ mơ mộng viển vông mà không nỗ lực biến ước mơ thành hiện thực, con người dễ rơi vào lối sống thụ động, xa rời thực tế. Vì vậy, mỗi người cần biết trân trọng những giấc mơ của mình, đồng thời không ngừng học tập, rèn luyện và kiên trì phấn đấu. Khi đó, giấc mơ không chỉ là khát vọng trong tâm trí mà còn trở thành nguồn sức mạnh giúp con người sống ý nghĩa và trọn vẹn hơn.
câu 2
Nguyễn Bính là nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới, nổi bật với giọng thơ chân quê, mộc mạc mà đậm đà cảm xúc. Thơ ông thường viết về làng quê Bắc Bộ và những rung động tình yêu giản dị, trong sáng. Tương tư là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất, thể hiện rõ nét tâm trạng nhớ thương, khắc khoải của chàng trai quê trong tình yêu đơn phương, qua đó cho thấy vẻ đẹp hồn nhiên mà sâu sắc của tâm hồn con người Việt Nam.
Ngay từ những câu thơ mở đầu, Nguyễn Bính đã gợi lên nỗi tương tư triền miên, day dứt:
“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,
Một người chín nhớ mười mong một người.”
Không gian làng quê hiện lên với hai thôn Đoài – Đông tưởng như rất gần, nhưng lại trở thành biểu tượng cho khoảng cách trong tình yêu. Nỗi nhớ được diễn tả bằng cách nói dân gian “chín nhớ mười mong”, vừa giản dị vừa da diết, cho thấy tình cảm của chàng trai dành cho người con gái là sâu nặng và chân thành.
Nỗi tương tư ấy không chỉ tồn tại trong tâm tưởng mà lan tỏa ra cả cảnh vật xung quanh. Cảnh quê yên bình bỗng nhuốm màu tâm trạng:
“Nắng mưa là bệnh của trời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.”
So sánh tương tư với “bệnh” là một cách nói độc đáo, hóm hỉnh mà thấm thía. Tương tư trở thành trạng thái thường trực, không thể tránh khỏi, giống như quy luật tự nhiên. Qua đó, Nguyễn Bính vừa diễn tả sự khổ sở của người đang yêu, vừa bộc lộ sự cam chịu, chấp nhận nỗi nhớ như một phần tất yếu của tình yêu.
Càng về sau, nỗi nhớ càng trở nên cụ thể, gắn với sinh hoạt đời thường của làng quê:
“Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?”
Câu hỏi tu từ mang giọng điệu trách yêu, hờn dỗi. Khoảng cách địa lí không còn là vấn đề, mà điều khiến chàng trai day dứt chính là khoảng cách trong lòng người con gái. Tình yêu vì thế mang vẻ đẹp rất “quê”: kín đáo, rụt rè, không dám thổ lộ trực tiếp mà chỉ âm thầm mong đợi.
Đặc biệt, bài thơ thể hiện rõ tâm lí bẽn lẽn, e ấp của con người trong tình yêu truyền thống. Chàng trai mong mỏi một tín hiệu nhỏ bé từ người mình yêu:
“Bao giờ bến mới gặp đò,
Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau?”
Hình ảnh ẩn dụ bến – đò, hoa – bướm vừa gợi tình yêu đôi lứa, vừa phản ánh quan niệm kín đáo, tế nhị của người xưa. Ước mong được gặp gỡ, được gắn bó được thể hiện qua những hình ảnh quen thuộc của ca dao, dân ca, làm cho bài thơ mang đậm bản sắc dân tộc.
Về nghệ thuật, Tương tư gây ấn tượng bởi thể thơ lục bát truyền thống, ngôn ngữ giản dị, giàu chất khẩu ngữ. Giọng thơ khi thì tha thiết, khi hờn dỗi, lúc lại tự trào, tạo nên sức hấp dẫn riêng. Cách sử dụng hình ảnh làng quê, lối nói dân gian đã góp phần làm nổi bật phong cách “chân quê” rất riêng của Nguyễn Bính.
Tóm lại, Tương tư không chỉ là tiếng lòng của một chàng trai đang yêu mà còn là bức tranh sinh động về tình yêu mộc mạc, trong sáng của con người thôn quê Việt Nam. Bằng cảm xúc chân thành và nghệ thuật giản dị, Nguyễn Bính đã viết nên một bài thơ giàu sức lay động, khiến nỗi tương tư riêng trở thành cảm xúc chung của nhiều thế hệ người đọc.