Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
câu1
Biển đảo – Nơi mà hàng triệu người đang luôn bảo vệ. Biển đảo là một phần máu thịt của Tổ quốc, vì vậy có muôn vàn trái tim ngày đêm hướng về biển đảo, dành tình yêu cho những người lính biển cùng các chiến sĩ, các lực lượng ngày đêm bảo vệ chủ quyền biển đảo nước nhà. Những tưởng biển đảo bình yên với những con sóng nhẹ xô bờ, thế nhưng những ngày tháng này cả nước vẫn đang chống chịu với cơn sóng ngầm, bão giông, sóng gió chưa bao giờ lặng im trên mảnh đất xanh của Tổ quốc … Là một học sinh, bản thân em luôn mang trong tim tình yêu biển đảo, tình yêu và lòng khâm phục tới những người lính biển, những ngư dân chân chất nơi đảo xa. Có chút chạnh lòng, xót xa, lo lắng khi biển xanh dậy sóng,… em mong rằng biển đảo sẽ bình yên, rạng rỡ nụ cuoiw
Để bảo vệ chủ quyền biển đảo, trước hết thanh niên và thanh niên học sinh nói riêng phải xác định phải giữ biển đảo bằng tri thức về chủ quyền biển đảo. Chúng ta cần nghiên cứu và nhận thức sâu sắc về ý nghĩa thiêng liêng chủ quyền biển đảo và giá trị to lớn chủ quyền mà ông cha ta đã đổ xương máu để xây dựng; về lịch sử Việt Nam đặc biệt là lịch sử địa lý liên quan đến chủ quyền biển đảo, về lịch sử hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa… tìm hiểu rõ chính sách ngoại giao nhất quán của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề biển Đông. Thanh niên cần hưởng ứng và tích cực tham gia các diễn đàn hợp pháp trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên internet, khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên các diễn đàn, đồng thời kịch liệt lên án và đấu tranh tham gia ngăn chặn các hành vi xâm phạm phạm chủ quyền biển đảo Việt Nam. Thanh niên là hậu phương chỗ dựa tình cảm vững chắc đối với các lính biển đảo, bằng những việc làm thiết thực như gửi thư đến các lính hải đảo để chia sẻ động viên và tiếp sức cho các anh thêm nghị lực để trông giữ biển đảo. Điều quan trọng, thanh niên cần không ngừng tu dưỡng phẩm chất người Việt Nam mới, tích cực tham gia xây dựng đất nước giàu mạnh, có định hướng lý tưởng yêu nước và đoàn kết để tạo nên sức mạnh bảo vệ chủ quyền biển đảo. Bên cạnh đó, mỗi người chúng ta cần sẵn sàng chuẩn bị tinh thần tham gia trực tiếp vào công cuộc giữ gìn biển đảo quê hương bằng tất cả những gì mình có thể.
Biển đảo Việt Nam là một phần lãnh thổ thiêng liêng không thể tách rời của Tổ quốc được cha ông truyền lại. Trách nhiệm của tuổi trẻ nói riêng là ra sức gìn giữ toàn vẹn phần lãnh thổ này như lời Bác Hồ năm xưa đã dặn “các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước
Câu 2
Truyện ngắn “ Vợ nhặt” của Kim Lân được sáng tác sau cách mạng tháng Tám nhưng lấy bối cảnh là nạn đói năm 1945. Đặt trong bối cảnh ra đời của tác phẩm, nhà văn đã làm toát lên tấm long yêu thương, đùm bọc lẫn nhau và khát vọng hạnh phúc của những người người khổ. Vẻ đẹp nhân bản ấy được tác giả xây dựng thành công ở hình tượng nhân vật “bà cụ Tứ” – mẹ anh Tràng- người “nhặt vợ”.Bà cụ Tứ trước hết là người mẹ nghèo khổ đã già yếu với cái lưng “long khòng”, khẽ mắt “lèm nhèm “,”khuôn mặt bủng beo, u ám “. Những hành động cử chỉ của cụ “nhấp nháy hai con mắt”,”chậm chạp hỏi”, “lập cập bước đi”, “lật đật:, “lễ mễ” cũng thể hiện cụ là một người đã già, không còn khỏe mạnh. Hơn nữa người phụ nữ ấy còn bị đặt trong hoàn cảnh nghèo nàn, đói khổ mà cụ nói “ cuộc đời cực khổ dài đằng đẵng”.
Trong tác phẩm, bà cụ Tứ chỉ xuất hiện ở giữa truyện khi anh Tràng đưa vợ về nhà, nhưng nhân vật này vẫn thu hút được sự quan tâm của người đọc bởi những vẻ đẹp tâm hồn, tính cách.
Trong người mẹ già nua, đói khổ ấy có một tình yêu thương dành cho con cái sâu sắc. Cụ thương người con trai của mình “cảm thấy ai oán xót thương cho số phận đứa con mình”. Trong kẽ mắt kèm nhàm của cụ rỉ ra hai dòng nước mắt. Cụ đã sớm lo lắng cho cuộc sống tương lai của đứa con mình” không biết chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua cơn đói này không”. Bà còn dành tình yêu thương cho người con dâu mới của mình. Bà nhìn thị nghĩ :”Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này người ta mới lấy con mình, con mình mới có vợ được”. Đó là tấm lòng người mẹ không khinh rẻ mà tỏ ra thông cảm thấu hiểu hoàn cảnh con dâu, thậm chí bà còn cho đó là may mắn của con trai mình, gia đình mình khi có con dâu mới. Điều đo chứng tỏ bà cụ Tứ rất hiểu mình, hiểu người. Tình yêu thương còn thể hiên qua những lời nói của bà cụ dành cho con “Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi may ra ông giời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời?…". Bà nói với con dâu bằng lời của một người từng trải – vừa lo lắng, vừa thương xót, đồng thời động viên con bằng triết lý dân gian”ai giàu ba họ ai khó ba đời, hướng con tới tương lai tươi sáng. "… Năm nay thì đói to đấy. Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá…". Câu nói thể hiện tấm long thương xót cho số phận của những đứa con. Và để ngày vui của các con thêm trọn vẹn, sáng hôm sau cụ” xăm xắn quét tước nhà cửa”. Hành động giản dị thôi nhưng thể hiện tấm lòng người mẹ tuy nghèo nhưng hết lòng thương yêu con. Và thế là đám cưới không nghi lễ, không đón đưa của đôi vợ chồng trẻ được chan đầy bằng tình yêu thương và tấm long lo lắng của người mẹ nghèo.
Nhân vật bà cụ Tứ bị đặt trong hoàn cảnh éo le, qua đó ta thấy được tinh thần lạc quan của người mẹ già yếu, tuy sắp đến độ gần đất xa trời nhưng luôn hướng về tương lai thể hiện qua những hành động và lời nói. Cụ tin vào triết lý dân gian: ai giàu ba họ ai khó ba đời- lạc quan về một ngày mai tươi sáng.Cụ đồng tình khi thấy Tràng thắp đèn mặc dù cụ biết lúc đó dầu rất đắt, dầu là thứ xa xỉ. Nếu để ý ta sẽ thấy chính bà lão “gần đất xa trời”này lại là người nói về tương lai nhiều nhất” cụ nói toàn chuyện vui, chuyện sung sướng về sau. Đó không đơn thuần chỉ là niềm lạc quan của người lao động mà còn là ước mơ về cuộc sống có phần tươi sáng hơn cho các con. Bà cụ trông cũng” tươi tỉnh khác hẳn ngày thường”. Chính tâm trạng vui tươi phấn khởi của người mẹ già đã làm sáng lên cái không gian u ám và góp phần vào ngày vui trọng đại của cuộc đời người con trai. Sáng hôm sau cụ xăm xắn quét dọn nhà cửa, đó là những công việc sinh hoạt thường ngày nhưng đặt trong hoàn cảnh này, hành động quét dọn làm nhà cửa trông sạch sẽ, tinh tươm hơn giống như cụ đang muốn tự tay quét đi những tăm tối của ngày cũ và đón chờ những điều tươi sáng hơn. Và hình ảnh người mẹ già, cười đon đả: “Cám đây mày ạ, hì. Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem. Xóm ta khối nhà chả có cám mà ăn đấy", cứ quẩn quanh, ám ảnh tâm chí người đọc. Cái lạc quan không những không bị mất đi mà lại càng trở nên mãnh liệt hơn trong mưa nắng cuộc đời. Trong buổi sáng đầu tiên đón tiếp nang dâu mới, nồi cháo cám “ chát xít, nghẹn bứ trong miệng” mà ngon ngọt trong long, ngọt bởi tâm lòng người mẹ nghèo đang cố xua đi cái không khí ảm đạm bằng thái độ lạc quan và sự tươi tỉnh động viên con cố gắng vượt qua hoàn cảnh. Nhưng sự thật là vị đắng ngắt của cháo cám và tiếng thúc thuế từ xa vọng lại đã không làm niềm vui nhỏ của những con người nghèo khổ cất cánh lên được.
Bằng tài năng và tấm lòng đồng cảm sâu sắc, Kim Lân đã dựng lên “hình ảnh chân thật và cảm động về người mẹ nông dân nghèo khổ trong trận đói khủng khiếp năm 1945". Nhân vật bà cụ Tứ được khắc họa chủ yếu qua sự vận động trong nội tâm nhân vật. Ngoài ra, qua những lời nói, cử chủ, hành động của nhân vật ta cũng có thể cảm nhận được tấm lòng yêu thương con sâu sắc. Ở bà cụ Tứ thấp thoáng hình ảnh của nhân vật lão Hạc, của mẹ Dần, vợ chồng Dần ( Nam Cao) những người nông dân nghèo nhưng chỉ sống vì con, hết lòng yêu thương con. Dẫu chỉ là một nhân vật phụ nhưng bằng tài năng, và tình cảm thiết tha trừu mến đối với tấm lòng người mẹ nghèo, Kim Lân đã khắc họa được chân dung nhân vật vừa sinh động, chân thực, vừa cảm động, day dứt với người đọc. Chính những hành động, lời nói của cụ, nụ cười trên khuôn mặt bủng beo u ám đã làm sáng bừng thiên truyện sau cái tối tăm, cái bế tắc của đói nghèo. Ý nghĩa nhân bản mà nhà văn muốn gửi gắm qua nhân vật này là con người dù có đặt vào hoàn cảnh khốn cùng, cận kề cái chết nhưng vẫn không mất đi những giá trị tinh thần và phẩm chất tốt đẹp: lòng yêu thương con người và thái độ lạc quan hi vọng vào tương lai tươi sáng dù cho chỉ có một tia hi vọng mỏng manh. Kim Lân đã khám phá và thể hiện thành công điều đó ở nhân vật bà cụ Tứ. qua đó thể hiện rõ tấm lòng nhân hậu , bao dung, tình yêu thương con của bà cụ Tứ
Vợ nhặt của Kim Lân là một trong những tác phẩm xuất sắc và tiêu biểu nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại khi viết về chủ đề người nông dân dưới xã hội cũ, đặc biệt là trong giai đoạn đau thương nhất của đất nước. Tuy nhiên trong tác phẩm nội dung chính mà tác giả muốn đề cập đến không phải là phản ánh, tố cáo hiện thực mà là tấm lòng trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp trong tâm hồn con người, cùng với sức mạnh của tình người, tình thân trong gia định đã trở thành cơ sở cho những khát vọng sống, niềm hy vọng và tin tưởng vào tương lai mãnh liệt ngay trong những hoàn cảnh khốn cùng nhất. Bên cạnh hai nhân vật là Tràng và thị với những nét phẩm chất riêng, thì nhân vật cụ Tứ lại hiện lên với vẻ đẹp của tình mẫu tử, thương con sâu sắc.
Giữa nạn đói hoành hành năm 1945, hàng triệu đồng bào ta phải chịu chết đói, nhiều người phải lìa xa quê cha đất tổ đi tha hương cầu thực nơi xứ người, mẹ con bà cụ Tứ là một trong số đó. Bà cụ là một phụ nữ nông dân nghèo khổ, có lẽ rằng cả cuộc đời bà đã phải chịu nhiều đắng cay vất vả, bởi lẽ cả cuộc đời bà nằm trọn trong những ngày tháng đất nước chất chứa nhiều đau thương, lầm than dưới chế độ thực dân nửa phong kiến. Cả cuộc đời bà dành để kiếm từng đồng, từng hào chắt bóp nuôi con khôn lớn, cho đến khi tuổi đã gần đất xa trời, bà cụ tội nghiệp vẫn không được hưởng những ngày tháng sung sướng. Thay vào đó cụ vì già cả, ốm yếu phải sống dựa vào đứa con trai là anh Tràng với một công việc bấp bênh, bữa đói bữa no, và bên ngoài kia thần chết đang chực chờ những con người khốn khổ, cùng đường vì cái đói, trong đó có cả hai mẹ con bà cụ Tứ. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt như vậy tình mẫu tử của bà cụ lại càng hiện lên rõ rệt, cả đời làm lụng nuôi con khôn lớn, đến khi Tràng đã lớn khôn thì bà cụ lại sầu khổ vì không kiếm nổi cho con một tấm vợ, một người đàn bà đỡ đần hôm sớm. Tất cả chỉ tại bà nghèo quá, người ta cưới vợ khi có của ăn của để, khi ăn nên làm ra, còn bà lại chẳng có gì trong tay thành thử phải tội con bà cô đơn lẻ bóng. Mà có khi đến lúc mà mất đi thì đứa con trai tội nghiệp lại phải chịu cảnh côi cút một mình trên đời. Điều ấy làm bà cụ Tứ tủi phận nhiều lắm.
Cho đến một hôm thấy Tràng dẫn một người phụ nữ lạ mặt về nhà, trong lòng bà cụ nổi lên biết bao nhiêu là cớ sự thắc mắc, thế nhưng bà không hề tỏ ra bối rối mà quay sang nhìn con tỏ ý không hiểu, để chờ Tràng giải thích, để cho Tràng có cơ hội được phân trần câu chuyện, chứ không lên tiếng trách móc. Đó là tấm lòng của một người mẹ trải đời, thương con bằng một tình thương dịu dàng, săn sóc. Rồi đến khi đã rõ sự mười mươi, bà cụ "hiểu ra bao nhiêu là cớ sự" rồi thì bà im lặng, những dòng suy nghĩ chảy trôi, quẩn quanh liên tục bên ngoài cái sự việc con bà lấy vợ, một người vợ theo không. Nhưng không chần chừ quá lâu, bà cụ Tứ đã sống trên cuộc đời này ngót nghét vài chục năm trời đằng đẵng, có cái khổ, cái sự lạ nào mà bà không hiểu thấu. Đứng trên vai trò là một người mẹ có tấm lòng thương con sâu sắc, bà hiểu được chuyện anh Tràng lấy vợ âu cũng là chuyện hợp tình hợp lý, bởi Tràng đã đến cái tuổi ấy lâu lắm rồi. Thế nhưng vừa nghĩ thông chuyện này thì bà cụ lại chợt nghĩ đến chuyện khác, bao nhiêu mối lo toan bỗng đổ dồn về lòng người mẹ già tội nghiệp, bà thương con "ai oán xót thương cho số kiếp con trai mình", cũng lại tủi cho phận người làm mẹ, nhưng không thể lo nổi cho con một cái đám cưới, dựng vợ gả chồng tử tế cho con, để nó phải tự thân đi kiếm về một người vợ. Càng nghĩ bà lại càng lấy làm buồn lòng, xúc động "trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai hàng nước mắt". Ấy rồi ăn ở với nhau như thế "biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau qua cơn đói khát này không", là những suy nghĩ quẩn quanh trong lòng bà cụ Tứ. Một người mẹ thương con không nề hà, trách mắng con mình tự tiện cưới gả, bởi bà hiểu phận mình và phận con, bà chỉ lo lắng mãi chuyện cuộc sống tương lai của hai vợ chồng Tràng, sợ con chịu khổ cực, rồi đương không lại liên lụy cả người khác nữa. Cái đám cưới chớp nhoáng khác thường này đem đến cho cụ niềm vui có dâu con, nhưng cũng lại mang đến cho bà biết bao nhiêu trăn trở, rối rắm. u cũng là lòng người mẹ yêu thương và suy nghĩ cho con trăm bề. Cuối cùng sau khi đã đi qua những xúc động, buồn tủi, bà cụ Tứ đã nhanh chóng vực lại tinh thần, thông suốt mọi vấn đề rằng "Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này, người ta mấy lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được. Thôi bổn phận bà là mẹ, bà đã chẳng lo lắng được cho con...Chẳng may ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế nào mà lo cho hết được?". Bà nhanh chóng thấu hiểu và thông cảm cho hoàn cảnh đáng thương của thị, đồng thời lòng bà đã dấy lên những tình cảm thương yêu người con dâu mới về. Bà nhẹ nhàng giục thị ngồi xuống, rồi nhỏ nhẹ khuyên giải, nhắc nhở động viên, vun vén vào cho hai vợ chồng Tràng, dặn dò họ cách ăn ở với nhau bằng những lời phấn khởi "Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời?". Mặc dầu rằng trong lòng bà vẫn còn trăm mối tơ vò cảm xúc, nhưng không vì thế mà bà làm các con bối rối, mất vui, bà quyết giữ cho riêng bà những lo lắng, những buồn tủi để cho đôi tân nhân một sự động viên trước khi bước vào cuộc đời mới.
Sau đêm tân hôn của vợ chồng Tràng, căn nhà tàn tạ dưới đôi bàn tay của mẹ chồng nàng dâu bỗng trở nên sáng sủa lạ thường, thấy được những đức tính tốt đẹp, sự cẩn thận chu đáo của thị và cụ mừng lắm "cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên". Trong bữa cơm sáng, dẫu rằng mâm cơm ngày đói kém trông thật thảm hại với mớ rau chuối thái mỏng và cháo loãng thế nhưng không khí trong nhà vẫn rất vui vẻ đầm ấm. Bà cụ thương con, thương dâu, thành thử bà cố xua đi cái nghèo đói đang hiện hữu trước mắt cặp tân nhân bằng cách liên tục kể những chuyện vui, kế hoạch làm ăn, nuôi gà, mở ra trước mắt những tương lai tốt đẹp đầy hy vọng. Đặc biệt người mẹ nghèo khó còn chiêu đãi con trai và con dâu bằng một nồi "chè khoán", mà thực tế đó là là cháo cám để mừng tân hôn. Dù vị của món ăn này vô cùng cùng khó ăn thế nhưng đó là cả tấm lòng của một người mẹ thương con, bà cụ tội nghiệp vì nghèo xác xơ không lấy gì để làm cỗ làm bàn, thế nên chỉ còn cách cố kiếm cho được ít cám về nấu làm món ăn đổi bữa. Ở một nét suy diễn sâu xa nào đó thì nồi cháo cám còn mang ý nghĩa là lời nhắc nhở của cụ Tứ dành cho các con về những ngày gian khó đang chờ đợi trước mắt, hy vọng rằng vợ chồng Tràng vẫn được vững lòng như ngày hôm nay, ăn nồi cháo cám đắng ghét, nghẹn ứ nơi cổ họng mà vẫn cảm thấy vui vẻ hạnh phúc.
Nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt là một hình tượng tiêu biểu cho những bà mẹ Việt Nam xưa, cả cuộc đời hy sinh sinh vì con cái, yêu thương con sâu sắc bằng những tình cảm thấu hiểu, bao dung và vị tha. Dù rằng bà sống trong cảnh nghèo khó tột cùng, thế nhưng với sự từng trải của mình bà vẫn giành lấy được những sự lạc quan, vui vẻ trong cuộc sống, trở thành kim chỉ nam hướng vợ chồng Tràng đến một tương lai tươi sáng, tốt đẹp hơn.
I. Nội qui tham gia "Giúp tôi giải toán"
1. Không đưa câu hỏi linh tinh lên diễn đàn, chỉ đưa các bài mà mình không giải được hoặc các câu hỏi hay lên diễn đàn;
2. Không trả lời linh tinh, không phù hợp với nội dung câu hỏi trên diễn đàn.
3. Không "Đúng" vào các câu trả lời linh tinh nhằm gian lận điểm hỏi đáp.
Các bạn vi phạm 3 điều trên sẽ bị giáo viên của Online Math trừ hết điểm hỏi đáp, có thể bị khóa tài khoản hoặc bị cấm vĩnh viễn không đăng nhập vào trang web.
1. vì bả đi tàu ngầm
2. Lịch sử dài nhất
3.24 con
4.Đập con ma đỏ 2 lần con ma xanh sợ qá chết theo(chắc v có nghe qa rồi nhưng qên )
5.đường đời
Trả lời :
Cảm ơn e nha . Chúc e cx hok giỏi , xinh gái và nghe lời bmẹ nha !!! iu e nhìu ^_^
biết là thế nhưng mà
I. Nội qui tham gia "Giúp tôi giải toán"
1. Không đưa câu hỏi linh tinh lên diễn đàn, chỉ đưa các bài mà mình không giải được hoặc các câu hỏi hay lên diễn đàn;
2. Không trả lời linh tinh, không phù hợp với nội dung câu hỏi trên diễn đàn.
3. Không "Đúng" vào các câu trả lời linh tinh nhằm gian lận điểm hỏi đáp.
Các bạn vi phạm 3 điều trên sẽ bị giáo viên của Online Math trừ hết điểm hỏi đáp, có thể bị khóa tài khoản hoặc bị cấm vĩnh viễn không đăng nhập vào trang web.











Câu 1.
Văn bản thuộc thể loại truyện ngắn (văn xuôi tự sự).
Câu 2.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là tự sự.
Ngoài ra, văn bản còn kết hợp miêu tả (cảnh làng quê, cảnh bắt nhái, tâm trạng nhân vật) và biểu cảm (nỗi đau, sự bất lực của người cha, người mẹ).
Câu 3.
Trong câu văn:
“Khi anh gặp chị, thì đôi bên đã là cảnh xế muộn chợ chiều cả rồi, cũng dư dãi mà lấy nhau tự nhiên.”
Tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ với hình ảnh “xế muộn chợ chiều”.
→ Biện pháp này gợi sự muộn màng, lỡ dở của hai con người trong chuyện hôn nhân, cho thấy họ đến với nhau không vì tình yêu nồng nàn mà do hoàn cảnh nghèo khó, số phận đẩy đưa. Qua đó, tác giả thể hiện sự cảm thương sâu sắc đối với những phận người khổ cực.
Câu 4
Văn bản phản ánh cuộc sống nghèo đói, bế tắc của một gia đình nông dân, qua đó cho thấy những bi kịch đau lòng do cái nghèo gây ra. Tác phẩm bày tỏ niềm xót xa, cảm thông của nhà văn đối với con người lao động nghèo, đồng thời lên án những hoàn cảnh xã hội khiến con người rơi vào khổ đau và bất hạnh.
Câu 5
Em ấn tượng nhất với chi tiết người cha bàng hoàng, đau đớn khi nhận ra nỗi mất mát của con mình.
→ Vì chi tiết ấy thể hiện rõ bi kịch tột cùng của người cha nghèo: dù yêu thương con nhưng không đủ khả năng bảo vệ con trước sự khắc nghiệt của cuộc sống. Chi tiết này khiến người đọc xúc động, thương cảm sâu sắc và ám ảnh về hậu quả nặng nề của cái nghèo.
Câu 1.
Văn bản thuộc thể loại truyện ngắn
Câu 2.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là tự sự (kết hợp miêu tả và biểu cảm).
Câu 3.
Câu văn sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ qua hình ảnh "cảnh xế muộn chợ chiều".
→ Tác dụng: gợi lên hoàn cảnh muộn màng, tàn tạ, ít lựa chọn của hai con người ở bên lề xã hội.
Hình ảnh này làm nổi bật số phận nghèo khổ, cuộc hôn nhân đến với họ không phải từ tình yêu trọn vẹn mà từ sự cam chịu, tạm bợ, qua đó tăng sức gợi cảm và chiều sâu nhân đạo cho câu chuyện.
Câu 4.
Văn bản phản ánh cuộc sống bế tắc, nghèo đói và bi kịch của một gia đình nông dân dưới đáy xã hội.
Tác phẩm tố cáo cái nghèo và sự cùng quẫn đã đẩy con người đến tha hóa, đau khổ, đồng thời thể hiện niềm thương cảm sâu sắc đối với những phận người bất hạnh, đặc biệt là trẻ em.
Câu 5.
Em ấn tượng nhất với chi tiết cái Gái chết bên vệ ao, vẫn ôm khư khư giỏ nhái.
→ Vì chi tiết này vừa xót xa, ám ảnh, vừa thể hiện rõ bi kịch của cái nghèo: một đứa trẻ phải đánh đổi cả mạng sống chỉ để kiếm thêm chút thức ăn cho gia đình. Nó cho thấy sự tàn nhẫn của hoàn cảnh sống và khơi dậy mạnh mẽ lòng trắc ẩn nơi người đọc.
Câu 1. (2 điểm)
Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật bé Gái trong văn bản Nhà nghèo
Trong truyện ngắn Nhà nghèo, bé Gái là nhân vật để lại nhiều ám ảnh và xót thương cho người đọc.
Em là đứa con đầu trong một gia đình nghèo khố, đông con, sống giữa những trận cãi vã và bạo lực của cha mẹ. Tuổi thơ của bé Gái không có niềm vui hồn nhiên mà sớm phải đối diện với đói nghèo, lo toan. Hình ảnh em hăng hái đi bắt nhái sau cơn mưa cho thấy một đứa trẻ nhỏ bé nhưng đã sớm biết gánh vác, biết góp sức để cải thiện bữa ăn gia đình. Nụ cười hồn nhiên khi giỏ nhái lưng lửng càng làm nổi bật sự trong sáng, đáng thương của em. Thế nhưng, bi kịch đã xảy ra khi bé Gái chết bên vệ ao, vẫn ôm chặt chiếc giỏ nhái trong tay.
Cái chết ấy không chỉ là nỗi đau của một gia đình mà còn là lời tố cáo đanh thép về sự tàn nhẫn của cái nghèo và hoàn cảnh sống khắc nghiệt. Nhân vật bé Gái vì thế trở thành biểu tượng cho số phận bât hạnh của trẻ em nghèo, khơi dậy trong người đọc niêm thương cảm sâu sắc.
Gia đình vốn được xem là mái ấm yêu thương, là nơi trẻ em được bảo vệ và nuôi dưỡng cả về thể chất lẫn tinh thần. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, bạo lực gia đình vẫn tồn tại và để lại những hậu quả nghiêm trọng đối với sự phát triển của trẻ em. Đây là một vấn đề xã hội đáng báo động, cần được nhìn nhận nghiêm túc.
Trước hết, bạo lực gia đình gây tổn thương sâu sắc đến tâm lí của trẻ em. Những đứa trẻ thường xuyên chứng kiến cảnh cha mẹ cãi vã, đánh đập, chửi mắng sẽ sống trong trạng thái lo sợ, bất an. Các em dễ trở nên tự ti, trầm lặng hoặc ngược lại là cáu gắt, hung hăng. Tuổi thơ lẽ ra phải là quãng thời gian êm đềm thì lại bị bao phủ bởi ám ảnh và nỗi sợ, ảnh hưởng lâu dài đến nhân cách và cảm xúc của trẻ.
Không chỉ vậy, bạo lực gia đình còn tác động tiêu cực đến sự phát triển hành vi và đạo đức của trẻ. Trẻ em có xu hướng học theo những gì chúng nhìn thấy hằng ngày. Khi lớn lên trong môi trường đầy bạo lực, các em có thể coi hành vi đánh đập, to tiếng là cách giải quyết mâu thuẫn bình thường. Điều này làm gia tăng nguy cơ tái diễn bạo lực trong xã hội, tạo nên một vòng luẩn quẩn khó chấm dứt.
Bên cạnh đó, bạo lực gia đình còn ảnh hưởng trực tiếp đến việc học tập và tương lai của trẻ em. Sự căng thẳng kéo dài khiến các em khó tập trung học hành, kết quả học tập sa sút. Nhiều trẻ mất dần động lực vươn lên, thiếu niềm tin vào bản thân và cuộc sống. Thậm chí, có em còn rơi vào tình trạng cô lập, xa lánh xã hội, đánh mất những cơ hội phát triển quan trọng.
Từ thực tế đó, có thể thấy rằng bạo lực gia đình không chỉ làm tan vỡ hạnh phúc gia đình mà còn gây ra những hệ lụy lâu dài cho cả một thế hệ. Để hạn chế tình trạng này, mỗi gia đình cần xây dựng môi trường sống yêu thương, tôn trọng và thấu hiểu lẫn nhau. Cha mẹ cần ý thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong việc làm gương cho con cái. Đồng thời, xã hội và nhà trường cũng cần quan tâm hơn đến việc giáo dục kĩ năng sống, kĩ năng kiểm soát cảm xúc và hỗ trợ kịp thời những trẻ em sống trong hoàn cảnh có bạo lực.
Tóm lại, bạo lực gia đình là “vết thương” âm thầm nhưng vô cùng nguy hiểm đối với sự phát triển của trẻ em. Chỉ khi mỗi gia đình thực sự là một mái ấm an toàn, trẻ em mới có thể lớn lên khỏe mạnh, hạnh phúc và trở thành những công dân có ích cho xã hội.
Câu 1.
Văn bản thuộc thể loại truyện ngắn
Câu 2.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là tự sự
Câu 3 :
- Biện pháp tu từ so sánh qua hình ảnh “cánh xế muộn chợ chiều”.
-Tác dụng :
+ Biện pháp này gợi hình ảnh những con người đã đi gần hết chặng đường đời, tuổi trẻ không còn, cuộc sống nhiều vất vả.
+Qua đó, câu văn làm nổi bật mối quan hệ của hai nhân vật: họ đến với nhau không vì lãng mạn hay bồng bột mà vì sự đồng cảm, sẻ chia và gắn bó tự nhiên.
+ Cách so sánh mộc mạc, gần gũi góp phần thể hiện giọng văn chân thực, giàu cảm xúc nhân văn của tác giả.
Câu 4.
Nội dung chính của văn bản là khắc họa cuộc sống nghèo khó, nhiều bất hạnh của con người, đồng thời ca ngợi tình yêu thương, sự gắn bó và hi sinh thầm lặng giữa những con người cùng chung số phận. Qua câu chuyện, tác giả thể hiện niềm trân trọng đối với tình người ấm áp, giản dị nhưng sâu nặng, giúp con người có thêm sức mạnh để vượt qua đau khổ trong cuộc sống.
Câu 5.
Chi tiết khiến em ấn tượng nhất là hình ảnh người anh cõng xác con chạy về trong nước mắt. Chi tiết này gây xúc động mạnh bởi nó khắc họa nỗi đau tột cùng của người cha trước cái chết của con, đồng thời thể hiện tình phụ tử sâu nặng và sự bất lực của con người trước số phận nghiệt ngã. Qua đó, người đọc càng thấm thía hơn giá trị của tình thân và tình người trong cuộc sống.
Câu 1. Xác định thể loại của văn bản.
-Thể loại của văn bản là truyện ngắn.
Câu 2. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của văn bản.
-Phương thức biểu đạt chính là tự sự (kết hợp với miêu tả và biểu cảm).
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong câu văn: "Khi anh gặp chị, thì đôi bên đã là cảnh xế muộn chợ chiều cả rồi, cũng dư dãi mà lấy nhau tự nhiên."
-Biện pháp tu từ: Ẩn dụ ("cảnh xế muộn chợ chiều").
-Tác dụng:+Về nội dung: Gợi lên hình ảnh những con người đã qua thời thanh xuân, mang trên mình những khiếm khuyết (chị Duyên què chân, anh Duyên có bướu) và cái nghèo bủa vây. Họ như những món hàng còn sót lại buổi chợ tàn.
+Về nghệ thuật: Làm cho câu văn giàu hình ảnh, tăng sức gợi hình, gợi cảm. Qua đó thể hiện cái nhìn nhân đạo, cảm thông sâu sắc của tác giả đối với những kiếp người nhỏ bé, tội nghiệp tìm đến với nhau để nương tựa.
Câu 4. Nội dung của văn bản này là gì?
-Văn bản phản ánh cuộc sống nghèo khổ, cơ cực đến cùng cực của gia đình anh chị Duyên. Trong cái đói nghèo ấy, những mâu thuẫn, bạo lực nảy sinh nhưng trên hết vẫn là tình thương yêu và nỗi đau xót vô hạn trước cái chết tức tưởi của đứa con (bé Gái) – một nạn nhân của sự nghèo đói và khắc nghiệt của số phận.
Câu 5. Em ấn tượng với chi tiết nào nhất? Vì sao?
Em ấn tượng với chi tiết cái chết của bé Gái bên giỏ nhái.
- Vì nó thể hiện sự tận cùng của bi kịch. Bé Gái chết khi trong tay vẫn ôm khư khư giỏ nhái – thành quả lao động để giúp bố mẹ có bữa cơm ngon. Cái chết ấy vừa đáng thương, vừa là lời tố cáo đanh thép cái nghèo đã đẩy con người vào đường cùng.
Câu1 Văn bản thuộc thể loại truyện ngắn
Câu 2. Phương thức biểu đạt chính là tự sự.
Câu 3.
• Biện pháp tu từ được sử dụng là ẩn dụ “xế muộn chợ chiều”
• Tác dụng:
• Gợi hình ảnh con người đã qua thời son trẻ, cuộc đời nhiều vất vả, lỡ dở.
• Nhấn mạnh hoàn cảnh éo le, nghèo khổ của hai nhân vật khi đến với nhau.
• Thể hiện giọng văn cảm thương, xót xa cho số phận người lao động nghèo.
Câu 4
Văn bản Nhà nghèo của Tô Hoài đã khắc họa một bức tranh hiện thực buồn về cuộc sống của những người nông dân nghèo trong xã hội cũ, nơi mà cái nghèo không chỉ dừng lại ở việc thiếu ăn, thiếu mặc mà còn đeo bám con người suốt cả cuộc đời. Gia đình nhân vật trong truyện sống trong cảnh túng thiếu triền miên, lấy nhau khi đã “xế muộn chợ chiều”, sinh con trong lúc kinh tế kiệt quệ, để rồi từng ngày phải vật lộn với cái đói. Cái nghèo hiện lên vừa quen thuộc vừa ám ảnh, như một vòng luẩn quẩn không lối thoát, khiến con người dù có cố gắng đến đâu cũng khó thoát khỏi bất hạnh. Qua việc phản ánh chân thực hoàn cảnh sống ấy, Tô Hoài không chỉ tái hiện hiện jjj thực xã hội đầy khắc nghiệt mà còn bày tỏ sự cảm thông sâu sắc đối với những số phận nhỏ bé, lam lũ, đồng thời gián tiếp phê phán một xã hội đã để con người rơi vào cảnh nghèo khổ đến mức bi thương như vậy.
Câu 5
Chi tiết khiến em ấn tượng và ám ảnh nhất trong văn bản là hình ảnh người cha cõng xác đứa con chạy về nhà, một chi tiết tuy không dài nhưng lại mang sức nặng cảm xúc rất lớn. Trong khoảnh khắc ấy, người cha hiện lên vừa đáng thương vừa đau đớn, bởi ông yêu con, thương con nhưng lại hoàn toàn bất lực trước cái nghèo và bệnh tật. Hành động chạy về nhà trong tuyệt vọng cho thấy nỗi đau không nói thành lời của một người cha mất con trong cảnh tay trắng, không tiền, không thuốc, không cách cứu chữa. Chi tiết này không chỉ khắc họa bi kịch của một gia đình nghèo mà còn cho thấy số phận nghiệt ngã của con người trong xã hội cũ, nơi mà sự sống đôi khi bị quyết định chỉ vì thiếu thốn vật chất. Chính vì vậy, hình ảnh ấy để lại trong lòng người đọc sự xót xa sâu sắc và nỗi ám ảnh khó quên.
Câu 1. Xác định thể loại của văn bản
Văn bản thuộc thể loại truyện ngắn (văn xuôi tự sự), mang đậm khuynh hướng hiện thực, phản ánh cuộc sống nghèo khổ của người dân lao động.
Câu 2. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là tự sự, kết hợp với miêu tả và biểu cảm:
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong câu văn
“Khi anh gặp chị, thì đôi bên đã là cảnh xế muộn chợ chiều cả rồi, cũng dư dãi mà lấy nhau tự nhiên.”
Câu 4. Nội dung của văn bản
Văn bản phản ánh cuộc sống cơ cực, bế tắc của một gia đình nông dân nghèo, qua đó:
Câu 5. Em ấn tượng với chi tiết nào nhất? Vì sao?
Em ấn tượng nhất với chi tiết anh Duyên cõng xác đứa con đã chết, hai tay nó còn mềm hơi nóng nhưng hai chân đã cứng nhằng.
Câu 1
Thể loại văn nghị luận
Câu 2
Phương thức biểu đạt nghị luận
1. Xác định thể loại của văn bản: +truyện ngắn
2.phương thức biểu đạt chính
+ Tự sự
3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn: “Khi anh gặp chị, thì đôi bên đã là cảnh xế muộn chợ chiều cả rồi, cũng dư dãi mà lấy nhau tự nhiên.” : Ẩn dụ Biện pháp tu từ được sử dụng là ẩn dụ ("cảnh xế muộn chợ chiều"). Tác dụng của biện pháp này là:Gợi hình ảnh: So sánh tuổi tác và hoàn cảnh của hai nhân vật như "cảnh xế muộn chợ chiều" (buổi chiều tà, phiên chợ đã vãn). Biểu cảm: Nhấn mạnh sự muộn màng, lỡ làng, không còn trẻ trung hay sung sức.
Ý nghĩa: Diễn tả một cuộc hôn nhân không phải vì tình yêu mãnh liệt tuổi trẻ mà là sự chấp nhận, nương tựa vào nhau khi cả hai đều đã trải qua nhiều thăng trầm trong cuộc sống và tuổi đã cao.
4. Nội dung văn bản :Nỗi đau mất mát và sự đồng cảm
Câu 1. Thể loại của văn bản
→ Văn bản thuộc thể loại truyện ngắn
Câu 2. Phương thức biểu đạt chính
→ Tự sự, kết hợp với miêu tả và biểu cảm.
Câu 3. Phân tích tác dụng biện pháp tu từ
Câu văn: “Khi anh gặp chị, thì đôi bên đã là cảnh xế muộn chợ chiều cả rồi, cũng dữ dãi mà lấy nhau tự nhiên.”
Câu 4. Nội dung văn bản
→ Văn bản kể về bi kịch của một gia đình nghèo, đặc biệt là nỗi đau của người cha khi bế xác đứa con nhỏ. Qua đó tố cáo cuộc sống đói khổ, đồng thời thể hiện tình thương con sâu nặng và niềm xót xa trước kiếp người bất hạnh.
Câu 5. Chi tiết ấn tượng nhất
→ Em ấn tượng nhất chi tiết: “Hai tay nó còn mềm hơi nóng. Nhưng hai chân đã cứng nhẳng.”
em ăn tết cô oi
Làm nháp trước...
Câu 1:Truyện ngắn. Câu 2: Tự sự. Câu 3: Trong câu văn, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ qua hình ảnh “xé muộn chợ chiều”. Hình ảnh này giúp người đọc thấy được hoàn cảnh của anh chị Duyện rất muộn màng, nghèo khó. Qua đó, tác giả làm nổi bật số phận bất hạnh, đáng thương của những con người nghèo khổ trong xã hội. Câu 4: Văn bản kể về cuộc sống nghèo khổ, vất vả và đầy bi kịch của gia đình anh Duyện. Vì quá nghèo, đông con, cuộc sống thiếu thốn nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, con cái cũng khổ theo. Qua đó, tác giả thể hiện sự thương cảm đối với những người nông dân nghèo và tố cáo cuộc sống cơ cực đã đẩy con người vào đau khổ. Câu 5: Chi tiết em ấn tượng nhất là cảnh anh Duyện tìm thấy cái Gái đã chết mà vẫn ôm khư khư cái giỏ nhái. Chi tiết này khiến em rất xúc động và thương xót cho đứa bé. Nó cho thấy sự nghèo đói, bất hạnh của gia đình anh Duyện và làm cho câu chuyện trở nên ám ảnh hơn.
Câu 1. Văn bản thuộc thể loại :truyện ngắn
Câu 2. Phương thức biểu đạt chính: tự sự ( kết hợp miêu tả và biểu cảm).
Câu 3. Biện pháp tu từ: ẩn dụ - “cảnh xế muộn chợ chiều”.
=> Tác dụng:
+ Gợi lên hoàn cảnh ế ẩm, muộn màng, tàn tạ của cả hai con người khi đến với hôn nhân.
+ Nhấn mạnh sự thiếu thốn, không trọn vẹn cả về tuổi tác, ngoại hình lẫn điều kiện sống.Làm nổi bật cuộc hôn nhân mang tính tạm bợ, chắp vá, dự báo một cuộc sống gia đình nhiều khổ cực, bi kịch.
+ Làm cho cách diễn đạt giàu hình ảnh, gợi cảm, giúp người đọc dễ hình dung hoàn cảnh của hai nhân vật.
Câu 4 : Nội dung của văn bản là :
- Văn bản phản ánh cuộc sống nghèo đói, bế tắc và bi kịch của một gia đình nông dân. Cái nghèo không chỉ khiến con người khổ về vật chất mà còn làm tha hóa tình cảm, dẫn đến những xung đột, đau khổ và cuối cùng là cái chết thương tâm của đứa trẻ.
- Qua đó, tác giả bày tỏ niềm xót xa, cảm thương sâu sắc đối với những con người nghèo khổ trong xã hội cũ.
Câu 5 : Chi tiết em ấn tượng nhất là cái chết của con bé Gái khi vẫn ôm khư khư giỏ nhái. Bởi vì :
- Đây là chi tiết đau xót và ám ảnh nhất, đẩy bi kịch lên cao trào.Hình ảnh đứa bé chết trong lúc đang cố kiếm thức ăn cho gia đình cho thấy cái nghèo đã dồn con người đến tận cùng khổ cực.
- Chi tiết ấy còn làm nổi bật tình thương con muộn màng của người cha, khiến người đọc vừa thương xót đứa trẻ, vừa day dứt trước số phận con người.
- Chi tiết gợi lên một thông điệp sâu sắc: nghèo đói không chỉ hủy hoại cuộc sống mà còn cướp đi cả những điều thiêng liêng nhất của con người.
C1: Thể loại truyện ngắn
C2: Phương thức biểu đạt chính là tự sự
C3: Biện pháp ẩn dụ: cảnh xế muộn chợ chiều, ẩn dụ tình cảnh tuổi tác nhân vật
Tác dụng
- Giúp hình ảnh được diễn tả một cách cụ thể gợi cảm và sinh động hơn
-Nhấn mạnh hoàn cảnh éo le của nhân vật, gợi sự thương cảm chua xót cho số phận của họ
C4:
Nội dung của đoạn trích là sự xót thương nỗi đau đớn tột cùng của người bố trước cái chết của con gái cùng với sự ân hận vì để con bé chịu đựng cuộc sống cơ cực bấy lâu
C5:
Chi tiết “Trong người nó có bao nhiêu xương sườn giờ hết cả ra”
Vì chi tiết sử dụng biện pháp nói quá cường điệu hình ảnh nhằm nhấn mạnh sự gầy gò suy kiệt của đứa bé nghèo khổ và thiếu thốn. Nó gợi lên sự ám ảnh về cái đói cái nghèo và làm nổi bật tình thương nỗi ân hận day dứt của người cha.
Câu 1.Thể loại của văn bản là truyện ngắn
Câu 2.Phương thức biểu đạt chính của văn bản là tự sự.
Câu 3.Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn là ẩn dụ :"cảnh xế muộn chợ chiều" Tác dụng: + Hình ảnh "xế muộn chợ chiều" gợi lên sự muộn màng, lỡ dở về tuổi tác hoặc duyên phận của hai nhân vật khi đến với nhau. Họ không còn ở thời thanh xuân rực rỡ mà đã đi qua những thăng trầm, cơ cực của cuộc đời .Qua đó gợi lên sự đồng cảm của tác giả gửi gắm + Làm cho câu văn giàu sức gợi, tăng tính biểu cảm, giúp người đọc thấu hiểu và đồng cảm hơn với hoàn cảnh nghèo khó, đơn chiếc và sự kết nối giữa hai con người cùng khổ trong tác phẩm
Câu 4 Nội dung văn bản tái hiện lại nỗi đau xót tột cùng và tình cảnh bi đát của nhân vật Duyện khi chứng kiến đứa con nhỏ chết vì đói khát và bệnh tật ngay trong bối cảnh nạn đói hoặc cái nghèo bủa vây . Qua đó, tác giả tố cáo hiện thực xã hội tàn khốc đã đẩy con người vào đường cùng và bộc lộ niềm thương cảm sâu sắc đối với số phận những người nghèo khổ.
Câu 5.Chi tiết để lại cho em ấn tượng nhất:"Trong người nó có bao nhiêu xương sườn giơ hết cả ra."Bởi do chi tiết này có sức ám ảnh lớn vì nó lột tả trực diện sự khắc nghiệt của cái nghèo và cái đói. Hình ảnh đứa trẻ gầy gò chỉ còn bộ xương sườn không chỉ cho thấy sự đau đớn về thể xác mà còn khơi gợi lòng trắc ẩn, khiến người đọc không khỏi xót xa cho một kiếp người .
Câu 1: Thể loại của văn bản: Truyện ngắn
Câu 2: Phương thức biểu đạt chính: Tự sự
Câu 3: Biện pháp tu từ: Ẩn dụ (xế muộn - chợ chiều)
Tác dụng:
Nội dung: Gợi lên sự tàn tạ về sức khoẻ và nhan sắc của anh Duyện và chị Duyên khi họ tìm thấy nhau. Qua đó cho thấy họ là những con người dưới đáy xã hội, mang trong mình khiếm khuyết về cơ thể.
Nghệ thuật: Làm câu văn thêm hàm súc, sinh động và giàu hình ảnh.
Câu 4: Văn bản phản ánh hiện thực khốc liệt, bi thảm của những người nông dân nghèo trước Cách mạng tháng Tám. Không chỉ vậy còn làm nổi bật bi kịch gia đình anh chị Duyên: sự nghèo đói khiến gia đình lục đục, cái chết thương tâm của đứa con nhỏ đã cho thấy sự túng quẫn đẩy con người vào đường cùng và cướp đi mạng sống của những đứa trẻ vô tội.
Câu 5: Em ấn tượng với chi tiết đứa con gái chết bên giỏ nhái. Bởi lẽ đây là chi tiết xúc động và gợi nhiều xót thương cho người đọc. Hình ảnh đứa trẻ chết trong tư thế “hai tay ôm khư khư cái giỏ nhái“, “lưng trần xám ngắt” thể hiện sự tận cùng của cái nghèo và gây ám ảnh cho bạn đọc. Đó như là lời tố cáo đanh thép chế độ cũ đẩy người dân vào tình thế cùng cực phải đánh đổi cả sinh mạng.
Câu 1: Thể loại chính của văn bản trên là: truyện ngắn
Câu 2: Phương thức biểu đạt chính của văn bản là: tự sự
Câu 3:
- Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn là so sánh: “khi anh chị gặp nhau” với “cảnh xế muộn chợ chiều
- Tác dụng:
+ khắc hoạ hình ảnh của một buổi chiều tà, khi mọi thứ êm ả, trầm lắng. Từ đó vừa tạo nên bầu không khí bình dị, thân thuộc mà còn phản ánh thời điểm mà hai nhân vật gặp nhau, họ gặp nhau khi không còn nét đẹp trẻ trung. Ấy thế mà tình yêu lại ghé thăm họ một cách tự nhiên, không cần tính toán.
+ qua đó, tác giả mở ra trước mắt bạn đọc về sức mạnh của tình yêu, cho ta thấy rằng hạnh phúc không nhất thiết phải đến từ sự hoàn hảo, cao sang hay thời điểm lý tưởng, phù hợp mà nó có thể bắt nguồn từ những điều bình dị, tự nhiên, nhỏ bé trong đời sống.
+ Làm cho câu văn thêm sinh động, hấp dẫn, giàu hình ảnh, tăng tính hấp dẫn cho sự diễn đạt.
Câu 4:
Nội dung của văn bản trên là: phản ánh cuộc sống khó khăn của những con người lao động, lam lũ ở vùng nông thôn Việt Nam, một cuộc sống thiếu thổn cả về vật chất lẫn tinh thần nhưng vẫn tràn đầy hạnh phúc giản đơn.
Câu 5:
“Chi tiết là hạt bụi vàng của tác phẩm”. Với chi tiết “căn nhà của chị Duyên” đã thể hiện tất cả những điều mà nhà văn muốn gửi gắm, để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc. Chị Duyên dù sống trong hoàn cảnh bản thân bị khuyết tật ở chân phải nhưng lại rất chịu thương chịu khó, luôn hết mực yêu thương gia đình nhỏ của mình. Căn nhà dù đơn sơ, mộc mạc đầy khó khăn, thiếu thốn nhưng chị vẫn luôn yêu thương, chăm sóc, lo lắng đủ đầy cho các con từ bữa ăn đến giấc ngủ. Điều này làm nổi bật một tính cách kiên trì, mạnh mẽ đầy bản lĩnh trước nghịch cảnh cùng tâm hồn giàu đức hy sinh, tình yêu thương dành cho gia đình. Chị Duyên vì thế là đại diện cho hình mẫu của người phụ nữ Việt Nam tần tảo, chịu thương chịu khó trong thời kì khó khăn lúc bấy giờ
Câu 1. Xác định thể loại của văn bản
• Truyện ngắn.
• Giải thích: Văn bản có cốt truyện, hệ thống nhân vật (vợ chồng anh Duyên, cái Gái...), bối cảnh không gian thời gian cụ thể và tập trung phản ánh một lát cắt bi kịch của cuộc sống.
Câu 2. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của văn bản
•Tự sự.
• Giải thích: Tác giả dùng lời kể để thuật lại các sự việc nối tiếp nhau: từ hoàn cảnh gia đình, cuộc cãi vã vì cái đói, cảnh đi bắt nhái đêm mưa đến cái chết thương tâm của đứa con nhỏ. (Ngoài ra còn có sự kết hợp của miêu tả và biểu cảm).
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn: “Khi anh gặp chị, thì đôi bên đã là cảnh xế muộn chợ chiều cả rồi, cũng dư dãi mà lấy nhau tự nhiên.”
• Biện pháp tu từ: Ẩn dụ ("xế muộn chợ chiều").
• Tác dụng:
• Về nội dung: Gợi lên hình ảnh những con người đã quá lứa lỡ thì, không còn trẻ trung, có những khiếm khuyết về ngoại hình (chị Duyên thọt chân, anh Duyên có bướu). Nó nhấn mạnh sự rẻ rúng, tội nghiệp của thân phận những người nghèo khổ; họ đến với nhau không chỉ bằng tình yêu mà còn là sự nương tựa giữa những mảnh đời cùng cực.
• Về nghệ thuật: Làm cho câu văn giàu hình ảnh, tăng sức gợi hình, gợi cảm và thể hiện cái nhìn cảm thông, xót xa của tác giả.
Câu 4. Nội dung của văn bản này là gì?
• Đáp án: Văn bản phản ánh tấn bi kịch đau đớn của người nông dân nghèo trong xã hội cũ. Qua đó:
• Lột tả cái đói, cái nghèo cùng cực khiến con người trở nên tha hóa, nóng nảy (cảnh chửi bới, định đốt nhà).
• Tố cáo xã hội bất công đẩy con người vào đường cùng.
• Thể hiện tình cảnh đáng thương của trẻ em (cái Gái chết vì kiệt sức khi đang cố bắt nhái giúp bố mẹ).
• Bộc lộ niềm cảm thông sâu sắc của nhà văn trước những số phận "thấp cổ bé họng".
Câu 5. Em ấn tượng với chi tiết nào nhất? Vì sao?
Trong văn bản "Nhà nghèo", chi tiết ám ảnh nhất chính là hình ảnh cái Gái chết nhưng "hai tay vẫn ôm khư khư cái giỏ nhái". Chi tiết này lột tả chân thực bi kịch đau đớn của người nông dân nghèo trước Cách mạng. Hành động "ôm khư khư" cho thấy sự hiếu thảo đến xót xa; ngay cả khi cận kề cái chết, đứa trẻ vẫn không buông bỏ "hy vọng" duy nhất để giúp bố mẹ có bữa cơm no và vơi bớt nỗi lo mưu sinh. Hình ảnh ấy còn là lời tố cáo đanh thép xã hội cũ bất công, nơi cái đói đã tước đoạt quyền sống của những tâm hồn ngây thơ, bắt các em phải gánh vác trách nhiệm quá sức mình. Qua đó, nhà văn Tô Hoài đã bày tỏ niềm xót thương vô hạn trước những kiếp người nhỏ bé bị vùi dập bởi cái nghèo cùng cực, khiến người đọc không khỏi bàng hoàng và xúc động.
Câu 1: Thể loại văn bản: Truyện ngắn
Câu 2: Phương thức biểu đạt chính: Tự sự
Câu 3: Câu văn sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ: "cảnh xế muộn chợ chiều", ẩn dụ cho hoàn cảnh, tuổi tác của hai nhân vật khi gặp nhau đều đã lớn tuổi, không còn trẻ trung, đã trải qua nhiều thăng trầm trong cuộc sống.
Tác dụng: Tăng sức gợi hình, gợi cảm và làm cho câu văn thêm sâu sắc, hàm súc và sinh động. Ngoài ra, biện pháp ẩn dụ giúp làm nổi bật sự ngang trái, éo le trong tình duyên và hoàn cảnh sống của nhân vật, gợi lên sự thương cảm cho số phận của họ.
Câu 4: Đoạn văn bản miêu tả cảnh Duyên củi (người anh) phát hiện ra xác của "con bé" (người em gái hoặc người thân sống chung) và cảm xúc đau xót, thương xót tột cùng của anh trước cái chết của nó. Đoạn trích làm nổi bật sự nghèo khổ, bi kịch và tình cảm xót thương của người ở lại.
Câu 5: Em ấn tượng với chi tiết "Trong người nó có bao nhiêu xương sườn giơ hết cả ra" nhất. Bởi vì chi tiết này miêu tả trực tiếp và chân thực sự gầy gò, suy kiệt cùng cực về thể xác do nghèo đói và cực khổ, làm nổi bật hoàn cảnh bi thảm của nhân vật. Nó khơi gợi sự thương cảm sâu sắc và tố cáo hiện thực tàn khốc.
1. Thể loại Truyện ngắn. 2. Phương thức biểu đạt chính Tự sự (kể chuyện kết hợp miêu tả tâm lý và ngoại hình). 3. Phân tích biện pháp tu từ Biện pháp: Ẩn dụ ("xế muộn chợ chiều"). Tác dụng: Về nội dung: Hình tượng hóa sự lỡ thì, tàn tạ và khiếm khuyết về cả thể xác lẫn hoàn cảnh của anh Duyên và chị Duyên. Nó cho thấy họ đến với nhau không phải từ sự thăng hoa của tình yêu mà là sự "vét lại" của số phận. Về nghệ thuật: Làm tăng sức gợi hình, gợi cảm, tạo sắc thái chua chát cho tình cảnh của nhân vật, đồng thời thể hiện cái nhìn nhân đạo nhưng thực tế của Tô Hoài về thân phận con người dưới đáy xã hội. 4. Nội dung văn bản Văn bản phác họa bức tranh hiện thực tàn khốc về cái nghèo của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám. Nghèo đói không chỉ vắt kiệt sức lao động mà còn làm tha hóa tính cách (hay cáu gắt, chửi bới) và dẫn đến bi kịch đỉnh điểm: cái chết thương tâm của trẻ thơ vì kiệt sức và đói khát. 5. Chi tiết ấn tượng nhất và lý do Chi tiết: Cái Gái chết trên bờ ao trong tư thế "hai tay ôm khư khư cái giỏ nhái". Lý do: Đây là chi tiết đắt giá nhất, cô đọng toàn bộ bi kịch của tác phẩm. Nó tạo nên sự tương phản nghiệt ngã: đứa trẻ chết đi nhưng vẫn cố giữ chặt "nguồn sống" (giỏ nhái) cho gia đình. Hành động "ôm khư khư" khẳng định cái đói đã ám ảnh và tước đoạt bản năng sống của con người đến hơi thở cuối cùng, khiến người đọc phải ám ảnh về giá trị của một sinh mạng còn rẻ rúng hơn một giỏ nhái.