Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Tham khảo:
TRƯỜNG THCS HOÀNG LIỆT CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM LỚP: 6A1 Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN
Họp thống nhất kế hoạch tổ chức hoạt động dã ngoại
Thời gian bắt đầu: 10h30, ngày 25 tháng 3 năm 2021
Địa điểm: tại phòng D36 (phòng học của lớp 6A1)
Thành phần tham dự:
– Giáo viên chủ nhiệm: cô Lê Mai Ngọc
– Toàn thể hoạc sinh lớp 6A1
Chủ trị (chủ tọa): Trần Hải Đăng – Lớp trưởng
Thư kí (người ghi biên bản): Trương Diệp Thảo Chi
Nội dung:
Chủ tọa Trần Hải Đăng phổ biến đến tập thể lớp kế hoạch tổ chức dã ngoại.
Tập thể lớp chọn ngày đi dã ngoại một trong bốn ngày chủ nhật trong tháng 4:
– Chủ nhật ngày 4/4: 5/35 biểu quyết
– Chủ nhật ngày 11/4: 10/35 biểu quyết
– Chủ nhật ngày 18/4: 5/35 biểu quyết
– Chủ nhật ngày 25/4: 15/ 35 biểu quyết
Tập thể lớp thống nhất chọn ngày 25/4.
Chủ tọa tiến hành phân chia công việc:
– Tổ 1 chuẩn bị tiết mục múa, hát trong hoạt động dã ngoại.
– Tổ 2 chuẩn bị các hoạt động như trò chơi,….
– Tổ 3 và tổ 4 dọn dẹp đồ, vệ sinh trước khi ra về.
Bạn Nguyễn Thanh Hằng xung phong mang trại vì gia đìnhh có sẵn.
Bạn Lê Bảo An đề xuất ý kiến may đồng phục lớp cho chuyến đi dã ngoại.
Cuộc họp kết thúc vào 11h30, ngày 25 tháng 3 năm 2021.
Thư kí Chủ tọa
(Đã kí) (Đã kí)
Trương Diệp Thảo Chi Trần Hải Đăng
Vào thời giặc Minh xâm lược nước ta, chúng coi nhân dân ta như cỏ rác, làm nhiều điều bạo ngược. Bấy giờ ở vùng núi Lam Sơn, nghĩa quân nổi dậy chống lại chúng, nhưng buổi đầu thế lực còn non yếu nên nhiều lần thất bại. Thấy vậy, đức Long Quân quyết định cho nghĩa quân mượn gươm thần để giết giặc.
Hồi ấy, ở Thanh Hóa, có một người làm nghề đánh cá tên là Lê Thận. Một đêm nọ, Thận thả lưới ở một bến vắng như thường lệ. Đến khi kéo lưới lên thấy nằng nặng, nghĩ rằng sẽ kéo được mẻ cá to. Nhưng khi thò tay vào bắt cá thì chỉ thấy một thanh sắt. Chàng vứt xuống sông, rồi lại thả lưới ở chỗ khác. Kì lạ thay, liên tiếp ba lần đều vớt được thanh sắt nọ. Thận liền đưa thanh sắt lại mồi lửa thì phát hiện ra đó là một thanh gươm.
Về sau, Thận gia nhập vào nghĩa quân Lam Sơn. Một lần nọ, chủ tướng Lê Lợi cùng tùy tùng đến thăm nhà Thận. Bỗng nhiên thấy phía góc nhà lóe sáng, Lê Lợi tiến đến gần xem là cầm lên xem là vật thì gì thì thấy hai chữ “Thuận Thiên”. Song lại không ai nghĩ đó là lưỡi gươm thần.
Một hôm, bị giặc đuổi, Lê Lợi và các tướng rút mỗi người một ngả. Lúc đi ngang qua một khu rừng, Lê Lợi thấy có ánh sáng trên ngọn cây đa. Ông trèo lên mới biết đó là một cái chuôi gươm nạm ngọc quý giá. Bỗng nhớ đến lưỡi gươm nhà Lê Thận, ông mang chuôi về tra vào lưỡi gươm thì vừa như in.
Một năm trôi qua, nhờ có gươm thần giúp sức, nghĩa quân của Lê Lợi đánh đến đâu thắng đến đó. Thanh thế ngày một vang xa. Quân Minh được dẹp tan. Lê Lợi lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Lê Thái Tổ. Vua cho cưỡi thuyền trên hồ Tả Vọng thì thấy Rùa Vàng nổi lên đòi lại thanh gươm thần:
- Việc lớn đã thành. Xin bệ hạ trả lại gươm báu cho đức Long Quân.
Sau khi nghe Rùa Vàng nói, Lê Lợi bèn đem gươm báu trả lại rồi nói:
- Xin cảm tạ ngài cùng đức Long Quân đã cho mượn gươm báu để đánh tan quân giặc, bảo vệ nước nhà.
Nghe xong, Rùa Vàng gật đầu rồi lặn xuống hồ. Từ đó, người dân đổi tên hồ Tả Vọng thành hồ Gươm hay còn gọi là hồ Hoàn Kiếm
Ngày xưa, có một người con trai thần Long Nữ, tên là Lạc Long Quân thuộc giống rồng. Thần có sức khỏe vô địch, lại nhiều phép lạ. Thần giúp dân trừ yêu quái, dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi và ăn ở. Ở vùng núi cao phương Bắc, có nàng Âu Cơ thuộc dòng họ Thần Nông, xinh đẹp tuyệt trần. Nàng đến thăm vùng đất Lạc Việt có nhiều hoa thơm cỏ lạ. Hai người gặp nhau, yêu nhau và trở thành vợ chồng.
Ít lâu sau Âu Cơ mang thai và sinh ra một cái bọc trăn trứng, nở ra trăm người con, người nào cũng đều hoàn hảo, đẹp lạ thường. Lạc Long Quân vốn quen sống ở dưới nước, nên thường xuyên trở về dưới thuỷ cung.
Âu Cơ ở lại nuôi đàn con, tháng ngày chờ đợi Lạc Long Quân trở lại, nhưng nỗi nhớ chồng khiến nàng buồn tủi. Cuối cùng nàng gọi chồng lên than thở:
- Sao chàng đành bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi đàn con nhỏ?
Lạc Long Quân nói:
- Ta vốn ở miền nước thẳm, nàng thì ở chốn núi cao. Nhiều điều khác nhau, khó mà ở cùng nhau một nơi được lâu dài được. Nay ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các phương. Khi có việc gì cần giúp đỡ lẫn nhau, đừng quên lời hẹn, đây là giao ước của vợ chồng, con cái.
Âu Cơ ưng thuận. Trước khi đưa năm mươi con lên núi, nàng nói với chồng:
- Thiếp xin nghe lời chàng. Vợ chồng ta đã sống với nhau thắm thiết, nay phải chia hai, lòng thiếp thật là đau xót.
Lạc Long Quân cũng cố nén nỗi buồn trong buổi chia li, chàng khuyên giải vợ:
- Tuy xa nhau nhưng tình cảm đôi ta không hề phai nhạt, khi nào cần chúng ta lại gặp nhau.
Âu Cơ vẫn quyến luyến, rồi buồn bã nói
- Thiếp rất nhớ chàng và thương các con, biết đến khi nào chúng ta mới gặp nhau.
Lạc Long Quân nắm chặt tay vợ, an ủi:
- Xa nàng và các con lòng ta cũng đau lắm! Âu cũng là mệnh trời, mong nàng hiểu và cảm thông cùng ta.
Âu Cơ và các con nghe theo lời cùng nhau chia tay lên đường.
Lạc Long Quân và các con về nơi biển cả, Âu Cơ đưa các con về đất Phong Châu. Người con trưởng được tôn lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang. Cũng bởi sự tích này mà người Việt Nam ta đều luôn tự hào mình là dòng dõi con Rồng cháu Tiên.
Kể lại câu chuyện cổ tích "Cô bé quàng khăn đỏ"
Ngày xưa, có một cô bé rất ngoan và xinh xắn, mọi người gọi em là Cô bé quàng khăn đỏ vì em luôn đội chiếc khăn đỏ xinh xắn do bà ngoại tặng. Một hôm, mẹ cô bé nhờ em mang giỏ bánh và bình sữa sang cho bà ngoại đang ốm nằm một mình trong rừng.
Trên đường đi, cô bé quàng khăn đỏ gặp một con sói gian ác. Con sói nảy ra kế hoạch bắt bà và cô bé. Nó đi trước đến nhà bà, ăn thịt bà và giả làm bà nằm trên giường đợi cô bé. Khi cô bé đến, cô cảm thấy có gì đó lạ, nhưng chưa kịp phản ứng thì con sói định ăn thịt cô.
May mắn thay, một người thợ săn đi qua nghe tiếng kêu của cô bé, đã chạy đến cứu cô và bà ngoại. Người thợ săn giết con sói hung dữ, cứu cả hai bà cháu an toàn. Từ đó, cô bé quàng khăn đỏ luôn nhớ lời mẹ dặn là không được nói chuyện hay đi lối khác khi qua rừng.
Câu chuyện “Cô bé quàng khăn đỏ” dạy chúng ta bài học quý giá về sự cảnh giác và vâng lời người lớn để giữ an toàn cho bản thân. Em rất thích câu chuyện này vì nó vừa hấp dẫn vừa có ý nghĩa sâu sắc.
- "Chim ơi, nhà tôi chỉ có cây khế này là tài sản quý giá nhất. Chim ăn hết khế, tôi lấy gì mà sống?"
- "Ăn một quả, trả một cục vàng. May túi ba gang, mang đi mà đựng."
1. văn bản thuộc loại văn bản thuyết minh
2. sự kiện được thuật lại trong đoạn trích là lễ hội đền Cuông. Sự kiện đó diễn ra tại Nghệ An. Lễ hội diễn ra vào rằm tháng hai âm lịch hàng năm.
3. Tác giả đã thuật lại sự kiện theo trình tự thời gian vì tác giả liệt kê các sự kiện từ ngày 12 tháng 2, ngày 14 tháng 2, chiều tối ngày 14 tháng 2, tối ngày 14 tháng 2, sáng ngày 15 tháng 2, ngày 16 tháng 2 ....
4. Công dụng của dấu chấm phẩy trong câu văn là để tách 2 vế trong một câu ghép.
5. Học sinh viết đoạn văn trình bày ý nghĩa của sự kiện và giá trị của các lễ hội dân gian, chú ý hình thức từ 5-7 câu. Gợi ý:
- Ý nghĩa của sự kiện: thể hiện lòng biết ơn đối với người anh hùng có công lao to lớn với dân tộc, thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn.
- Giá trị của các lễ hội dân gian: giữ gìn và lưu truyền những phong tục văn hóa tốt đẹp; mang dấu ấn của những truyền thống dân tộc tốt đẹp....
khi bị bạn nói xấu ,bị bạn bắt nạt , rủ rê, cô lập ,hiểu lầm. em sẽ bảo bạn để bạn thay đổi lời nói và thói quen tốt hơn
những trường hợp em hay gặp phải là
bị nói xấu
bị rủ rê
bạo lực học đường
ganh tị
bị trêu nhiều lúc quá đáng
BIÊN Bản
Thời gian: Vào 2h chiều ngày 29 tháng 3.
Địa điểm: lớp 6C
Thành phần tham dự: toàn thể lớp 6C
Chủ trì: Lí Thị Mai L.
Trợ lí: Phan Trung K.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc BIÊN BẢN HỌP LỚP (V/v: Tổ chức hoạt động văn nghệ chào mừng ngày Giải phóng miền Nam 30/4) 1. Thời gian: 15 giờ 30 phút, ngày 20 tháng 04 năm 2026. 2. Địa điểm: Phòng học lớp 6b, trường TH và THCS Nguyễn Viết Xuân 3. Thành phần tham dự: Chủ tọa: Bạn Vũ Thị Anh Thư – Lớp trưởng. Thư ký: Bạn Lã Thị Xuân Nhi – Lớp phó học tập Thành phần: 26/26 học sinh lớp 6b và Giáo viên chủ nhiệm cô Hồ Lâm Uyên. 4. Nội dung cuộc họp: Thảo luận và thống nhất các tiết mục văn nghệ biểu diễn tại buổi lễ kỷ niệm ngày Giải phóng miền Nam 30/4 do Đoàn trường tổ chức. 5. Diễn biến cuộc họp: Sau khi nghe lớp trưởng Vũ Thị Anh Thư phổ biến mục đích và yêu cầu của Đoàn trường, các bạn học sinh đã sôi nổi đóng góp ý kiến: Bạn Hiếu (Tổ 1): Đề xuất lớp nên đăng ký một tiết mục múa tập thể trên nền nhạc "Dòng máu Lạc Hồng" để thể hiện hào khí dân tộc. Bạn Bình (Tổ 2): Đồng ý với ý kiến của bạn Hiếu. Ngoài ra, Bình đề xuất thêm một tiết mục kịch ngắn tái hiện không khí ngày 30/4/1975 để buổi diễn thêm phần ấn tượng và mang tính giáo dục. Bạn Phương Uyên (Tổ 3): Góp ý về phần phục trang, lớp nên thuê hoặc tự làm đạo cụ từ giấy bìa cứng để tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đảm bảo tính thẩm mỹ. Cô Hồ Lâm Uyên (GVCN): Nhấn mạnh cần chú trọng vào sự đồng đều và tinh thần đoàn kết, khuyến khích cả lớp cùng tham gia để tạo không khí sôi động, không cần đặt nặng về dàn dựng cầu kỳ. 6. Kết luận và phân công: Toàn thể lớp đã biểu quyết và thống nhất các nội dung sau: Tiết mục 1: Múa tập thể "Dòng máu Lạc Hồng" (Cả lớp tham gia). Tiết mục 2: Kịch ngắn "Ngày chiến thắng" (Nhóm kịch gồm 7 bạn do bạn Hùng làm trưởng nhóm). Tiết mục 3: Hát tốp ca "Đất nước trọn niềm vui" (Đội văn nghệ lớp). Phân công: Bạn Hiếu phụ trách biên đạo múa. Bạn Bình viết kịch bản kịch. Bạn Thư phụ trách mua sắm đạo cụ và thuê trang phục (dự kiến kinh phí 500.000 VNĐ từ quỹ lớp). Thời gian tập luyện: Các giờ ra chơi và 30 phút cuối buổi chiều thứ 3, thứ 5 hằng tuần. Cuộc họp kết thúc vào lúc 16 giờ 30 phút cùng ngày. Biên bản đã được thông qua và các thành viên đều nhất trí. Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2026 THƯ KÝ | CHỦ TỌA (Đã ký) | (Đã ký) Trần Thị B | Nguyễn Văn A
lớp em sẽ biểu diễn các tiết mục