Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1: Ý nghĩa của sự tử tế trong cuộc sống.
- Giải thích “sự tử tế” là tấm lòng lương thiện, phẩm chất tốt đẹp của con người, luôn hướng đến mọi người, sẵn sàng giúp đỡ người khác khi gặp khó khăn, sẵn sàng sẻ chia với người khác.
- Ý nghĩa của sự tử tế trong cuộc sống:
+ Khi giúp đỡ người khác bằng tấm lòng chân thành, ta sẽ thấy vui vẻ, thoải mái, hạnh phúc, được mọi người yêu quý, kính trọng.
+ Những người nhận được sự tử tế, quan tâm, sẻ chia cảm thấy có động lực để vững vàng, có niềm tin hơn vào cuộc đời.
+ Khi tất cả mọi người đều đối xử với nhau bằng sự tử tế, tốt bụng, xã hội trở nên tốt đẹp hơn.
- Phản đề:
+ Phê phán những người sống vô cảm, xấu xa.
+ Không phải sự tử tế nào cũng chân thành, có những người làm việc tốt để đánh bóng tên tuổi bản thân -> lên án.
- Liên hệ bản thân.
Câu 2:
Bài làm của học sinh đảm bảo các ý sau:
1. Giới thiệu tác phẩm “Chinh phụ ngâm” và tác giả, dịch giả.
a. Tác giả Đặng Trần Côn (?):
- Sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII.
- Là người thông minh, tài hoa, hiếu học.
- Tính cách “đuyềnh đoàng ko buộc”- tự do, phóng túng nên ko đỗ đạt cao, chỉ đỗ Hương cống và giữ các chức quan thấp.
- Các tác phẩm: Chinh phụ ngâm, thơ và phú bằng chữ Hán.
b. Dịch giả:
- Đoàn Thị Điểm (1705- 1748):
+ Hiệu: Hồng Hà nữ sĩ.
+ Quê: Giai Phạm - Văn Giang - xứ Kinh Bắc.
+ Là người nổi tiếng tài sắc, tính cách khác thường.
+ 37 tuổi kết hôn với ông Nguyễn Kiều- một tiến sĩ góa vợ. Năm 1743, ông Nguyễn Kiều đi xứ Trung Quốc. Trong thời gian ông đi xứ, Đoàn Thị Điểm sống cuộc sống ko khác người chinh phụ là mấy " đồng cảm
c. Hoàn cảnh ra đời tác phẩm:
- Đầu đời vua Lê Hiển Tông có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra quanh kinh thành.
- Triều đình cất quân đánh dẹp.
" Đặng Trần Côn “cảm thời thế mà làm ra”.
d. Đoạn trích
- Vị trí: từ câu 9 – câu 16 trong đoạn trích sách giáo khoa.
2. Cảm nhận tâm trạng người chinh phụ trong đoạn trích.
a. Cảm nhận ngoại cảnh (câu 9 – 16)
- Tiếng gà: “gà eo óc gáy sương năm trống”: “eo óc” từ láy tượng thanh diễn tả âm thanh nhức nhối, thê lương, vang lên, vọng từ xa đến cho thấy không gian tĩnh mịch, vắng vẻ.
-> Chinh phụ đã thao thức qua cả một đêm dài
- Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.
-> Báo hiện đã hết một ngày dài: “phất phơ” là từ láy tượng hình, gợi nhịp điệu chậm rãi, tẻ nhạt.
-> tâm trạng con người buồn chán, ngao ngán.
=> Hai hình ảnh tương hỗ để diễn tả sự thao thức triền miên, khắc khoải của chinh phụ trong cô đơn, lê loi.
=> Đau khổ trong vô vọng
=> Từ nỗi cô đơn bủa vây, chinh phụ cảm nhận thấm thía nỗi cô đơn hơn bao giờ hết:
- Khắc giờ đằng đẵng như niên: thời gian trôi qua rất nặng nề, vô vị.
- Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa: nỗi buồn trải dài mênh mông đến không cùng.
-> Dùng biện pháp so sánh để diễn tả cụ thể tâm trạng của chinh phụ để thấy nỗi buồn mênh mông.
b. Thể hiện qua sự gắng gượng chạy trốn nỗi cô đơn (câu 13- câu 16)
- Gương đốt hương:
+ để tìm sự thanh thản trong mùi trầm thoang thoảng
+ tìm sự che chở ở thế giới siêu nhiên, thần bí.
-> Trái với mục đích hướng đến của chinh phụ, thực tế lại “hồn đà mê mải”, chinh phụ càng chìm đắm sâu hơn trong sầu muộn.
- Gượng soi gương: để tìm thú vui trong việc chỉnh trang nhan sắc.
-> Nhưng khi soi gương lại phải đối diện với hai điều:
+ Đối mặt với sự cô đơn, thấm thía tình cảnh bi đát của mình: chỉ một mình mình một bóng
+ Nhận thấy tuổi xuân đang dần tàn phai.
-> Nước mắt càng thêm chan chứa “lệ lại châu chan”, càng thấy buồn khổ hơn bao giờ hết.
=> Người chinh phụ thấm thía hơn tuổi xuân của mình tàn phai trong cô đơn, sầu muộn.
- Gượng đánh đàn: nhưng khi chạm đến đàn lại tự ý thức về tình cảnh của mình:
+ Thấy tủi thân trước những biểu tượng của đôi lứa ẩn chứa trong các nhạc cụ:
· Đàn sắt, đàn cầm: gảy hòa âm với nhau được ví cảnh vợ chồng hòa thuận.
· Dây uyên: dây đàn uyên ương – biểu tượng cho lứa đôi gắn bó, hòa hợp.
· Phím đàn loan phượng – biểu tượng của lứa đôi gắn bó.
=> Tất cả các nhạc cụ để có đôi có lứa, chỉ có mình mình cô đơn, lẻ bóng.
=> Càng cô đơn, tủi thân
-> Thậm chí thấy lo lắng, khi chơi đàn rất sợ:
+ Dây đàn bị đứt
+ Phím đàn bị chùng
-> Biểu hiện cho sự không may mắn của lứa đôi, là điềm gở.
=> Tìm đến những nhạc cụ nhưng cũng không chạy trốn được nỗi cô đơn.
=> Chinh phụ cố gắng tìm quên bằng cách tìm đến những thú vui của phụ nữ quý tộc xưa. Càng tìm quên lại càng đối diện với bi kịch của mình, càng thấm thía bi kịch của mình và càng đau khổ hơn bao giờ hết.
Caau1: Thể thơ được sử dụng trong đoạn trích: song thất lục bát.
Câu 2: Nhân vật trữ tình trong đoạn trích là người chinh phụ/ người phụ nữ có chồng đi chinh chiến nơi xa/ người vợ có chồng đi chinh chiến nơi xa.
Câu 3: “Mẹ già, con thơ” trong đoạn trích được miêu tả qua những hình ảnh, từ ngữ;
Mẹ già phơ phất mái sương,/ Lòng lão thân buồn khi tựa cửa,
Còn thơ măng sữa, / Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm.
Câu 4: Tâm trạng của nhân vật trữ tình qua hai câu thơ: cô đơn, buồn tủi, nhớ thương chồng.
Câu 5: Nhân vật trữ tình hiện lên với những phẩm chất:
- Đảm đang, tần tảo.
- Giàu đức hi sinh.
Câu 6:
- Người phụ nữ trong xã hội xưa là nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa, số phận bất hạnh nhưng sáng ngời phẩm chất tốt đẹp.
-> Tình cảm, suy nghĩ:
+ Xót thương, cảm thông với số phận bất hạnh, không được hạnh phúc.
+ Ngợi ca, trân trọng, cảm phục những phẩm chất tốt đẹp của họ.
Gợi ý trả lời
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ là: biểu cảm.
Câu 2: Theo tác giả, chúng ta cần phải kính trọng những điều sau: : tuổi già, nỗi khổ, tình mẹ con, kẻ tật nguyền, sự vất vả và cái chết.
Câu 3:
Điệp cấu trúc “nếu là … con hãy (con phải) được lặp lại 4 lần có tác dụng:
- Nhấn mạnh lời cha dạy con có cách ứng xử phù hợp với những tình huống có thể gặp trong cuộc đời để con trở thành một người tử tế, biết quan tâm, không bị ảnh hưởng bởi cái xấu.
- Tạo sự liên kết, logic cho văn bản.
Câu 4:
Thông điệp:
Phải biết giúp đỡ những người gặp hoạn nạn.
Câu 1:
Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là: biểu cảm
Câu 2:
Theo tác giả, chúng ta cần phải kính trọng những điều: tuổi già, nỗi khổ, tình mẹ con, kẻ tật nguyền, sự vất vả và cái chết
Câu 3:
Phép điệp cấu trúc: nếu là….con hãy.
Được lặp di lặp lại 4 lần có tác dụng:
- Nhấn mạnh lời cha dạy con có cách ứng xử phù hợp với những tình huống có thể gặp trong cuộc đời để con trở thành 1 người tử tế, biết quan tâm, không bị ảnh hưởng bởi cái xấu
- Tạo sự liên kết, logic cho văn bản
Câu 4:
Theo em, thông điệp có ý nghĩa nhất là: phải biết giúp đỡ những người gặp hoạn nạn. Vì khi chúng ta mở rộng tấm lòng, chia sẻ với người khác những niềm vui,nỗi buồn của mình, học cách lắng nghe, đồng cảm, sẻ chia với những buồn vui, khó khăn của người khác. Khi đó, ta sẽ thấy yêu đời và yêu người hơn, cuộc sống này ấm áp yêu thương và đáng sống biết bao.
câu 1 :
Nhân dân ta có rất nhiều câu ca dao hay viết về cha mẹ như:
"Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kinh́ cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con''.
Người mẹ là người cùng ta thực hiện mơ ước cuả ta mẹ luôn hy sinh bản thân minh̀ để cho con cómột cuộc sống tốt đẹp hơn
Câu 1
1. Mở bài:
- Dẫn dắt vào bài bằng các tình càm cao quý trong cuộc sống của mỗi người: tình cảm gia đình, tình anh em, tình cảm bạn bè,..
- Nhấn mạnh tình mẫu tử là loại tình cảm có vị trí đặc biệt quan trọng
2. Thân bài:
* Khái quát chung thế nào là tình mẫu tử:
+ Đây là một tình cảm thiêng liêng giữa mẹ và con
+ Tình mẫu tử thể hiện sự gắn bó, yêu thương và chăm sóc
* Bình luận về tình mẫu tử:
+ Tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng và có vai trò đặc biệt với mỗi con người:
- Từ khi con người sinh ra đã có mẹ ở bên, có sự yêu thương che chở của mẹ: mẹ mang thai, sinh chúng ta, chăm chúng ta,….
- Mẹ là người có tấm lòng cao cả, tha thứ mọi lội lầm dù lớn đến mức nào của chúng ta
- Tình mẫu tử cũng là truyền thống đạo lí của dân tộc ta từ xưa
+ Tình mẫu tử đối với mỗi người:
- Một người có tình mẫu tử sẽ có cuộc sống hạnh phúc, được yêu thương
- Ai không có tình mẫu tử thì rất bất hạnh và là một thiệt thòi
+ Vai trò của tình mẫu tử:
- Tình mẫu tử soi sáng đường cho chúng ta đi
- Giúp chúng ta thức tỉnh khi có chút vấp ngã trong cuộc sống
* Trách nhiệm của chúng ta trước tình mẫu tử:
+ Chúng ta cần giữ gìn và tôn trọng tình cảm thiêng liêng này
+ Không ngừng học tập và báo đáp công ơn mẹ cha
+ Không có những hành động thiếu tình mẫu tử
3. Kết bài
Đưa ra cảm nghĩ của bản thân về tình mẫu tử
- Đây là một tình cảm rất thiêng liêng
- Chúng ta phải tự hào vì được có tình mẫu tử
- Cố gắng học tập để báo hiếu cha mẹ
Câu 2:
1. Mở Bài
- Giới thiệu vài nét về tác giả Nguyễn Du và đoạn trích “Trao duyên”.
- Nêu nội dung chính của 12 câu thơ đầu trong đoạn trích “Trao duyên”.
2. Thân Bài
a. Hai câu thơ đầu
- Thúy Kiều nhờ cậy Thúy Vân nối duyên với Kim Trọng.
- Lời nói, hành động trang trọng (từ “cậy”, “lạy”, “thưa”) nhưng cũng mang sắc thái nài ép Thúy Vân nhận lời giúp đỡ.
b. Sáu câu thơ tiếp theo
- Thúy Kiều giãi bày nguyên nhân dẫn đến việc nhờ cậy Thúy Vân giúp mình. Đó là sự dang dở trong tình yêu với Kim Trọng: “Giữa đường đứt gánh tương tư”.
- Hình ảnh ẩn dụ “gánh tương tư”: Chỉ tình yêu của Thúy Kiều và Kim Trọng.
- Nàng chia sẻ với em gái về câu chuyện tình yêu của mình. Kể từ khi gặp Kim Trọng, hai người đã nảy sinh tình cảm cùng thề nguyền, đính ước nhưng bỗng nhiên sóng gió xảy ra với gia đình Kiều, nàng đành hi sinh chữ “tình” để làm tròn chữ “hiếu” với cha mẹ.
c. Bốn câu cuối
- Thúy Kiều thuyết phục Thúy Vân bằng những lí lẽ xác đáng. Nàng nhắc đến “ngày xuân”, tuổi trẻ của Thúy Vân vẫn còn dài và nhắc đến tình nghĩa chị em máu mủ khiến Thúy Vân không thể từ chối việc nàng cậy nhờ.
- Dù cho bản thân mình có “thịt nát xương mòn” thì Kiều vẫn vui vẻ, “ngậm cười” nơi chín suối. Nàng quả là người con gái sống tình nghĩa và có đức hi sinh.
-Thành ngữ “thịt nát xương mòn”, “ngậm cười chín suối” được Nguyễn Du sử dụng tài tình và khéo léo.
- Giọng điệu xót xa, đau đớn.
3. Kết Bài
- Nêu cảm nhận riêng của bản thân về 12 câu thơ đầu.
- Khẳng định giá trị của 12 câu thơ đầu trong đoạn trích “Trao duyên”.
Câu 1: Thể thơ: lục bát.
Câu 2: Những hình ảnh của thiên nhiên được miêu tả trong đoạn thơ: rừng phong, dặm hồng bụi cuốn, ngàn dâu, vầng trăng.
Câu 3:
- Điệp từ: người, kẻ.
- Tác dụng của phép điệp:
+ Diễn tả tình cảnh chia li và tâm trạng lưu luyến, nhớ nhung của Thúy Kiều và Thúc Sinh.
+ Giúp cho lời thơ nhịp nhàng, giàu giá trị biểu cảm.
Câu 4:
Tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều:
- Nỗi buồn li biệt và sự nhớ thương khôn nguôi dành cho Thúc Sinh.
- Sự cô đơn, trống trải khi vò võ nơi phòng vắng.
1. thể thơ lục bát
2.rừng phong, dặm hồng bụi
3 ko biết
4. buồn khi bị chia xa. (nhớ k mình nha
1. Thể thơ: Lục bát.
2. Những hình ảnh thiên nhiên được miên tả trong đoạn thơ: Rừng phong, vầng trăng
3. -Điệp từ: Người, kẻ.
- Tác dụng của phép điệp ngữ:
+ Diễn tả tình cảnh chia li và tâm trạng lưu luyến, nhớ nhung của Thúy Kiều và Thúc Sinh.
+ Giúp cho lời thơ nhịp nhàng, giàu giá trị biểu cảm.
4. Tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều:
- Nỗi buồn li biệt và sự nhớ nhung dành cho Thúc Sinh.
- Sự cô đơn, trống trải khi vò võ nơi phòng vắng.
câu 1:chủ đề cuả bài thơ là:sự nhận thưć cuả người con về công ơn cuả mẹ
câu 2 :phép điệp trong khổ thơ 1 là:những muà quả
phép đối:lũ chúng tôi lớn lên-bí và bầu lớn xuống
câu 3:
chữ "quả"mang ý nghiã tả thực:dòng 1 và dòng 3 cuả khổ đâù.
chữ "quả"mang ý nghĩa biểu tượng:dòng 1 và dòng 4 cuả khổ cuối.
câu 4:nghĩa cuả cuṃtừ quả non xanh :chưa đến độ chín ,chưa trưởng thành;chưa làm được nhưng điều xưng đáng với sự mong đợi cuả mẹ,chưa thanh̀ người tốt.
1.Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn là: biểu cảm.
2.- "Quê hương tôi có cây bầu, cây nhị
Tiếng đàn kêu tính tịch tình tang..." (Truyện cổ tích "Thạch Sanh")
-"Có cô Tấm náu mình trong quả thị" (Truyện cổ tích "Tấm Cám")
-"Có người em may túi đúng ba gang."(Truyện cổ tích "Cây khế")
-"...Một dây trầu cũng nhắc chuyện lứa đôi." (Truyện cổ tích "Sự tích trầu cau")
3.Biện pháp nghệ thuật trong đoạn thơ là: điệp cấu trúc "Quê hương tôi có..."
Tác dụng:
-Nghệ thuật: Làm cho lời thơ hài hòa cân đối,giàu giá trị gợi hình gợi cảm cho đoạn thơ, gây hứng thú cho bạn đọc.
-Nội dung:
+Tác giả làm nổi bật lên giá trị của những câu chuyện cổ, những câu ca dao tục ngữ,đồng thời khẳng định vai trò và ý nghĩa của văn học dân gian nước nhà, ca ngợi truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta: yêu công lí,chuộng hòa bình chính nghĩa;tình nghĩa thủy chung; nghĩa tình.
+Bên cạnh đó chúng ta cần tự hào và giữ gìn những truyền thống quý báu đó,học tập để trau dồi kiến thức và nhân cách.
4. Văn học dân gian đối vs mỗi nhà văn, nhà thơ... là nguồn mạch cảm xúc, là sản phẩm tinh hoa của dân tộc Việt được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ nghệ thuật, đc chọn lọc từ những từ ngữ trau chuốt, đc gọt dũa cẩn thận từ bao đời nay.Song ai cũng có thể tham gia được,ai cũng được sửa chữa để tác phẩm được hay hơn,đầy đủ, phong phú hơn.Văn học dân gian là kho tí thức vô cùng phong phú về đời sống các dân tộc, có giá trị giáo dục sâu sắc đạo lí làm người,có giá trị thẩm mĩ to lớn, góp phần quan trọng tạo bản sắc riêng cho nền văn hóa dân tộc.Đoạn thơ trên là vậy, nó mang đến cho tác giả tình cảm tự hào, yêu mến, trân trọng; đồng thời cũng là niềm tự hào trước những giá trị văn hóa tinh thần, trước những truyền thống tốt đẹp của cội nguồn.Bản thân mỗi chúng ta ai cũng tự hào, yêu mến những giá trị văn hóa đó, và cần giữ gìn nó vì đó là biểu hiện của lòng yêu nước ở mỗi người.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ là: biểu cảm.
Câu 2: Những câu ca dao, tục ngữ hoặc truyện cổ được gợi nhớ trong đoạn trích là: Thạch Sanh, Tấm Cám, Cây khế, Sự tích Trầu Cau, Tay bưng chén muối đĩa gừng – Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau…
Câu 3: Biện pháp điệp cấu trúc “Một … cũng…” Tác dụng: - Khẳng định giá trị nội dung của những câu truyện cổ, những câu ca dao tục ngữ. - Làm nổi bật vẻ đẹp truyền thống của dân tộc: thủy chung, nghĩa tình.
Câu 4: Đoạn thơ là tình cảm tự hào, yêu mến, trân trọng của nhà thơ về những tác phẩm văn học dân gian. Đó cũng là niềm tự hào trước những giá trị trị văn hóa tinh thần, trước những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Văn học dân gian là nguồn mạch, tinh hoa của văn hóa dân tộc, là tâm hồn Việt Nam được hun đúc bao đời. Tự hào, yêu mến những giá trị văn hóa, những truyền thống tốt đẹp đó cũng là tự hào về nguồn cội, là biểu hiện của lòng yêu nước trong mỗi con người.
Câu 1. Câu văn nêu khái quát chủ đề của văn bản: Song sách vẫn luôn cần thiết, không thể thiếu trong cuộc sống phẳng hiện nay.
Câu 2 Tác giả cho rằng “cuộc sống hiện nay dường như “cái đạo” đọc sách cũng dần phôi pha” vì ở thời đại công nghệ số, con người chỉ cần gõ bàn phím máy tính hoặc điện thoại di động đã có thể tiếp cận thông tin ở nhiều phương diện của đời sống, tại bất cứ nơi đâu, trong bất kì thời gian nào, nên việc đọc sách đã dần trở nên phôi pha.
Câu 3
theo em, em không đồng tình với ý kiến đó. Bởi vì sách có những tác dụng rất to lớn. Những cuốn sách cung cấp cho ta kiến thức, bồi dưỡng tâm hồn ta, rèn luyện tư duy và khả năng con người. Muốn hoàn thiện nhân cách tốt, cần phải năng đọc sách. Và đọc sách là một việc làm không thể thiếu đối với quá trình hoàn thiện nhân cách con người, nhất là với lứa tuổi thanh thiếu niên học sinh trong guồng quay cuộc sống đầy hối hả, vội vã của cuộc sống hiện đại. Nhận định rằng Internet cũng có những lợi ích nhất đinhj đối với con người, song ta không thể nào phủ nhận được vai trò của sách. Có những điều, những trải nghiêm chỉ có những ai đọc sách, yêu sách mới hiểu; dĩ nhiên Internet không thể nào đem lại cho ta những điều như vậy....
–Câu 4
Sách tốt là loại sách mở ra cho ta chân trời mới, giúp ta mở mang kiến thức về nhiều mặt: cuộc sống, con người, trong nước, thế giới, đời xưa, đời nay, thậm chí cả những dự định tương lai, khoa học viễn tưởng.
– Bạn hiền đó là người bạn có thể giúp ta chia sẻ những nỗi niềm trong cuộc sống, giúp ta vươn lên trong học tập, cuộc sống.
→ Do tác dụng tốt đẹp như nhau mà có nhận định ví von Một quyển sách tốt là một người bạn hiền.
– Sách cung cấp cho ta những tri thức, kinh nghiệm quý báu về mọi lĩnh vực trong cuộc sống để ta giải quyết được những nhiệm vụ của cuộc sống.
– Sách tốt là người bạn hiển kể cho ta bao điều yêu thương, bao kiếp người điêu linh đói khổ mà vẫn giữ trọn vẹn nghĩa tình.
– Sách cho ta hiểu và cảm thông với bao kiếp người, với những mảnh đời ở những nơi xa xôi, giúp ta vươn tới chân trời của ước mơ, ước mơ một xã hội tốt đẹp.
– Sách giúp ta chia sẻ, an ủi những lúc buồn chán.
=> Sách giúp ta nâng cao hiểu biết và hoàn thiện nhân cách, nuôi dưỡng tâm hồn.
Ý kiến là một chân lí rút ra từ thực tiễn học tập và giao tiếp của con người, có tác dụng định hướng con người tiếp cận tri thức trong cuộc sống.
– Trong xã hội có sách tốt và sách xấu, bạn tốt và bạn xấu do đó cần chọn bạn mà chơi cũng như chọn sách mà đọc.
– Phê phán những người lười đọc sách.

Câu 1: Bài làm:
Con người chúng ta chỉ sống một lần duy nhất trên đời, hãy là những đóa hoa nở rộ, cống hiến những điều tốt đẹp nhất cho xã hội bằng sự sáng tạo của mình. Sáng tạo là phát minh ra những thứ mới lạ giúp cho cuộc sống chúng ta trở nên thuận tiện, dễ dàng, hiện đại, tiện nghi hơn để thay thế cho những thứ có sẵn. Sự sáng tạo vô cùng quan trọng và cần thiết trong thời kì phát triển của xã hội hiện nay. Người có sự sáng tạo là những người luôn cố gắng tìm tòi, học hỏi, phát minh ra những cái hay nhằm mục đích để cuộc sống luôn dễ dàng. Họ luôn muốn tìm ra cái mới để cải thiện những cái cũ, thậm chí là đi trước xu hướng của thời đại.Như giáo sư người Anh Sarah Gilbert trước mối hiểm họa của covid 19, bà đã nghiên cứu và chế tạo thành công vaccine AstraZeneca. Dù đã 59 tuổi nhưng bà luôn là người chăm chỉ làm việc, nghiên cứu từ 4 giờ sáng đến khi tối muộn. Nhờ vậy mà vaccine AstraZeneca được ra đời, hàng triệu người trên thế giới được cứu sống. Qua đó ta cũng thấy quá trình sáng tạo chưa bao giờ là đơn giản, chúng ta sẽ gặp muôn vàn khó khăn, phải đánh đổi nhiều thứ, là thời gian, công sức, tiền bạc, thế nhưng sau tất cả, thành quả của những sáng tạo ấy lại thật ngọt ngào. Sự sáng tạo giúp con người làm được những điều tưởng như không thể, nó giúp con người vượt qua những khó khăn và rút ngắn được thời gian khi làm việc. Bên cạnh đó, sự sáng tạo khiến cho cuộc sống của con người trở nên tiện ích hơn, không chỉ giải quyết được những nhu cầu cần thiết mà còn khiến cho cuộc sống con người thêm thú vị hơn. Tuy nhiên, trong cuộc sống vẫn còn không ít người có tư duy, lối sống lạc hậu không chịu tiếp thu, sáng tạo để tiến bộ mà cứ ôm khư khư cách nghĩ của mình, những người này đáng bị xã hội phê phán, chỉ trích. Chúng ta được lựa chọn cách sống của mình để phát triển bản thân cũng như giúp ích cho xã hội, hãy sáng tạo trong công việc và cuộc sống để đạt hiệu quả cao nhất cũng như phát triển bản thân mình để trở thành phiên bản tốt nhất.
Câu 2: Bài làm:
Chiến tranh nổ ra! Bao gia đình phải chia ly, bấy nhiêu bóng dáng hào kiệt đã ngã xuống, máu hòa với nỗi hận chôn sâu dưới làn mưa bom đạn. Vậy mà, mặc cho chiến tranh có tàn phá nặng nề đến mức nào, thì hình ảnh Phi và ông Sáu Đèo trong tác phẩm “Biển người mênh mông” của Nguyễn Ngọc Tư vẫn đậm sâu, đẹp đẽ một cách lạ thường. Đặc biệt, 2 nhân vật này là đại diện cho con người Nam Bộ đã để lại trong lòng người đọc nhiều cảm xúc khó tả, để rồi người ta thêm vững lòng tin vào một thứ tình cảm thiêng liêng, bất diệt.
Chuyện kể về ông Sáu Đèo được về quê sau chín năm xa cách dài đằng đẵng. Ông là một người chiến sĩ nông dân vùng Nam Bộ. Với lòng yêu nước mãnh liệt cùng sự căm ghét quân giặc sâu sắc, ông đã tham gia vào cuộc kháng chiến. Ngày ông đi, ông đã cố gắng gạt đi sự quyến luyến, tình yêu thương gia đình. Để lại sau lưng là ánh mắt non nớt cùng người vợ tảo tần để đi theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc. Quyết hy sinh đến tận hơi thở cuối cùng để bảo vệ từng mảnh đất, ngọn cỏ của dân tộc. Có thể nói, ông chính là hình ảnh đại diện cho lòng yêu nước của người nông dân Nam Bộ chân chất, mộc mạc.
Phi sinh ra đã không có ba, năm tuổi rưỡi, má Phi cũng theo chồng ra chợ sống. Phi ở với bà ngoại, chiu chít quanh quẩn bên chân bà như gà mẹ gà con. Thấy Phi suốt ngày thui thủi một mình, ngoại biểu đi hàng xóm chơi, Phi lắc đầu, "Đi đâu ai người ta cũng bảo giống ông Hiểu nào, trưởng đồn Vàm Mấm nào á. Con với ổng nước lã, người dưng mà, ngoại?" Ngoại không nói gì, lặng lẽ ngồi đương thúng, dường như trong mình có chỗ nào đó đau lắm, nhói lắm.
Khi Phi lên mười, mười lăm tuổi đã biết rất nhiều chuyện. Thì ra, đã không còn cách nào khác, má mới bỏ Phi lại. Sau giải phóng, ba Phi về, xa nhau biền biệt chín năm trời, về nhà thấy vợ mình có đứa con trai chưa đầy sáu tuổi, ông chết lặng. Đây là kết quả cưỡng bức của tên đồn trưởng Rạch Vàm Nấm với mẹ của Phi. Ngoại Phi bảo, "Tụi bây còn thương thì mai mốt ra tỉnh nhận công tác, rủ nhau mà đi, để thằng Phi lại cho má". Má cũng hay về thăm Phi, thường là về một mình. Tất bật, vội vã, không làm gì cũng vội vã. Lần nào cũng hối hả kéo Phi vào lòng hỏi còn tiền xài không, lúc rày học hành thế nào, có tiếp ngoại vót nan không, sao mà ốm nhom vậy? Rồi từ từ má chỉ hỏi anh chuyện tiền xài thôi.
Hết cấp hai, Phi lên thị xã mướn nhà trọ học, một năm mấy lần lại nhờ má đi họp phụ huynh. Ba Phi thì hội họp, công tác liên miên, Phi ít gặp. Ông thay đổi nhiều, diện mạo, tác phong nhưng gặp Phi, cái nhìn vẫn như xưa, lạnh lẽo, chua chát, đắng caỵ, dứt khoát không nhìn con như vậy. Ông hay chê Phi với má, "Cái thằng, lừ đừ lừ đừ không biết giống ai" . Hết lớp mười, Phi vừa học vừa tìm việc làm thêm. Má anh rầy, "Bộ má nuôi không nổi sao?" Phi cười, "Má còn cho mấy đứa em, phải lo cho tụi nó học cao hơn nữa. Tự mình con sống cũng được, má à. Rồi Phi thôi học đi theo đoàn hát, má anh giận tím ruột bầm gan, "Ai đời ba mầy làm tới chức phó chủ tịch, không lẽ không lo cho mầy một chỗ làm tử tế, sao lại vác cây đờn đi hò hát lông bông. Làm vậy khác nào làm ổng mất mặt". Chỉ ngoại Phi là không rầy, ngoại anh hỏi, "Bộ làm nghề đó vui lắm hả con? Thoải mái chớ gì? Phải rồi, hồi xưa má con đẻ rớt con trên bờ mẫu, mở mắt ra đã thấy mênh mông trời đất rồi, bây giờ bị bó buộc con đâu có chịu". Phi chỉ cười cười mà không nói. Nhờ vậy, mà người ở xóm lao động nghèo nầy biết thằng Phi "nghệ sỹ" vẫn còn ở đây, trong căn nhà cửa trước lúc nào cũng khép im ỉm. Ở trong cái tổ bê bối của mình, Phi ngủ vùi đến trưa hôm sau. Ngoại biểu anh cưới vợ hoài, nhưng Phi nghĩ mãi, có ai chịu đựng được anh chồng lang thang say xỉn như mình, hồi còn là một hòn máu thoi thót anh đã làm khổ bao nhiêu người rồi, bây giờ lấy vợ không phải lại làm khổ thêm một người nữa sao?
Rồi ngoại Phi nằm xuống dưới ba tấc đất, đôi bông tai bằng cẩm thạch ngoại để dành cho cháu dâu vẫn còn nằm im trong hộc tủ thờ. Còn một mình, anh đâm ra lôi thôi, ba mươi ba tuổi rồi mà sống lôi thôi, nghèo hoài. Ngó cảnh nhà, Phi tự hỏi, mình sống bê bối từ hồi nào vậy cà. Từ hồi nào thì phong trần, bụi bặm, khắc khổ, ăn bận lôi thôi, quần Jean bạc lổ chổ, lai rách te tua, áo phông dài quá mông, râu ria rậm rạp, móng tay dài, tóc dài. Từ hồi nào muốn soi kiếng phải lấy tay vẹt mớ râu tóc ra như người ta vẹt bụi ô rô. Không biết, có ai la rầy, có ai để ý đâu mà biết. Má anh lâu lâu lại hỏi anh đủ tiền xài không, bà có nhìn anh nhưng không quan tâm lắm chuyện ăn mặc, tóc tai. Ngoài ngoại ra, chỉ có ông Sáu Đèo nhắc anh chuyện đó. Cuộc đời của ông Sáu Đèo sau khi người vợ bỏ đi, không con cái, chỉ làm bạn với con chim bìm bịp, lang thang bán vé số nay đây mai đó ở tuổi xế chiều, cô đơn. Nỗi nhớ và tiếng kêu thắt lòng của con chim bìm bịp nhắc về ông Sáu Đèo đang tiếp tục lưu lạc trên chặng đường nào. Nỗi cô đơn của Phi giữa biển người mênh mông.
Trời trở chướng, ông Sáu than đau nhức mình. Phi qua nhà cạo gió cho ông. Lần theo những chiếc xương gồ ra trên thân mình nhỏ thó, ốm teo, Phi buột miệng "Bác Sáu ốm quá". Ông già Sáu cười. Ông biểu, "Sống một mình thì buồn lắm, chú em nên nuôi con gì đó, con... vợ thì tốt nhất, nếu chưa tính chuyện đó được thì nuôi chó, mèo, chim chóc. Đừng nuôi sáo, nuôi sáo kết cục rồi cũng chia ly hà, nó hay sổ lồng, chết yểu. Kiếm thứ dân dã mà nuôi, để nhớ quê, nhớ gốc rễ mình, để đi đâu cũng muốn về nhà. Cuộc sống nghèo vậy mà vui lắm. Phi hỏi, "Vậy bác Sáu gái đâu rồi ?" Ông già rên khẽ, gương mặt ràn rụa nước mắt, Phi giật mình, hỏi quýnh quáng. Ông già Sáu mếu máo chỉ về phía tim, ông đã tìm người vợ gần bốn mươi năm, dời nhà cả thảy ba mươi ba bận, bỏ cả sông nước vốn gắn bó như máu thịt, lên bờ tìm kiếm để nói lời xin lỗi với vợ; cử chỉ “lấy tay quệt nước mắt” và câu hỏi day dứt trong ông: “Cái con bìm bịp quỷ nầy nó cũng bỏ qua mấy lần nhưng ngủ một đêm trên đọt dừa nó lại quay về. Sao cổ không quay lại?”,ông bảo đã ở đây một năm hai tháng mười chín ngày rồi, ngõ nào cũng đi hẻm nào cũn...
3
2
1

II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1.
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu ý nghĩa của tính sáng tạo đối với thế hệ trẻ hiện nay
Trong xã hội hiện đại, tính sáng tạo có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với thế hệ trẻ. Sáng tạo giúp người trẻ không bị bó buộc trong những lối suy nghĩ cũ, biết tìm ra những cách làm mới, hiệu quả hơn trong học tập, lao động và cuộc sống. Nhờ sáng tạo, con người có thể thích nghi nhanh với sự thay đổi không ngừng của khoa học – công nghệ và môi trường sống. Đối với học sinh, sinh viên, sáng tạo giúp việc học trở nên chủ động, hứng thú, phát huy được năng lực cá nhân thay vì học tập máy móc. Trong công việc, sáng tạo là yếu tố giúp người trẻ khẳng định bản thân, tạo ra giá trị riêng và đóng góp tích cực cho xã hội. Tuy nhiên, sáng tạo cần được xây dựng trên nền tảng tri thức, đạo đức và trách nhiệm, tránh chạy theo cái mới một cách mù quáng. Vì vậy, mỗi người trẻ cần rèn luyện tư duy độc lập, ham học hỏi, dám nghĩ, dám làm để nuôi dưỡng và phát huy khả năng sáng tạo của mình, từ đó góp phần xây dựng một xã hội tiến bộ và phát triển.
Câu 2.
Viết bài văn trình bày cảm nhận về con người Nam Bộ qua nhân vật Phi và ông Sáu Đèo trong truyện Biển người mênh mông (Nguyễn Ngọc Tư)
Qua truyện ngắn Biển người mênh mông, Nguyễn Ngọc Tư đã khắc họa sâu sắc vẻ đẹp con người Nam Bộ thông qua hai nhân vật Phi và ông Sáu Đèo. Phi là người đàn ông mang số phận nhiều mất mát, thiệt thòi. Sinh ra không trọn vẹn tình thân, lớn lên trong thiếu thốn tình cha, Phi sớm phải tự lập, lặng lẽ chịu đựng nỗi cô đơn và những tổn thương tinh thần. Tuy vậy, Phi vẫn là con người giàu tình cảm, biết quan tâm đến người khác, sống chân thành và nhẫn nại trước cuộc đời nhiều bất công.
Ông Sáu Đèo lại hiện lên như một hình ảnh tiêu biểu của người dân Nam Bộ nghèo khó nhưng giàu nghĩa tình. Cuộc đời ông lênh đênh sông nước, chịu nhiều đau khổ, mất mát trong tình cảm, song ông vẫn giữ được sự hiền lành, bao dung và lòng thương người sâu sắc. Ông quan tâm, chia sẻ và nâng đỡ Phi bằng sự chân thành mộc mạc, không toan tính.
Qua hai nhân vật, tác giả đã làm nổi bật vẻ đẹp con người Nam Bộ: giàu tình nghĩa, chịu thương chịu khó, sống nhân hậu và bền bỉ trước những biến động khắc nghiệt của cuộc đời. Đó chính là giá trị nhân văn sâu sắc mà truyện ngắn mang lại.
Câu 1
Tính sáng tạo có ý nghĩa rất quan trọng đối với thế hệ trẻ hiện nay. Trong xã hội hiện đại, sáng tạo giúp người trẻ chủ động thích nghi với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học - công nghệ và cuộc sống. Nhờ sáng tạo con người có thể tìm ra cách giải quyết vấn đề hiệu quả, nâng cao chất lượng học tập, lao động và khẳng định bản thân. Đối với học sinh, sáng tạo giúp việc học trở nên hứng thú hơn không, không rập khuôn máy móc.Tuy nhiên, thực tế vẫn còn nhiều bạn trẻ thụ động , ngại đổi mới, chỉ làm Theo lối mòn có sẵn. Vì vậy mỗi người trẻ cần rèn luyện tư duy sáng tạo từ những việc nhỏ như: học tập ,sinh hoạt hằng ngày, dám nghĩ, giám làm không sợ thất bại. Có như vậy, thế hệ trẻ mới phát triển, toàn diện và đóng góp tích cực cho xã hội
Câu 2
Qua nhân vật Phi và ông sáu đèo trong truyện Biển người mênh mông,con người hiện lên chân chất, giàu tình nghĩa và lòng nhân ái.Phi là người có hoàn cảnh bất hạnh nhưng sống hiền lành chịu đựng và luôn khao khát được yêu thương . Ông Sáu đèo tuy nghèo khó, cuộc đời nhiều mất mát, nhưng sống nghĩa tình,bao dung sẵn sàng cưu mang và lo lắng cho người khác. Dù cuộc sống chênh đênh,cơ cực họ vẫn giữ được lạc quan và tấm lòng nhân hậu. Qua đó tác giả Nguyễn Ngọc Tư đã khắc họa sâu sắc vẻ đẹp tâm hồn của con người nam bộ: giàu tình thương và bền bỉ trước cuộc đời nhiều biến động
Câu 1
Trong bối cảnh thế giới không ngừng vận động và thay đổi như hiện nay, tính sáng tạo đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với thế hệ trẻ. Sáng tạo không chỉ là khả năng tạo ra những ý tưởng mới mẻ, độc đáo, mà còn là sự tư duy linh hoạt, dám nghĩ dám làm để giải quyết vấn đề và thích ứng với sự phát triển của xã hội. Đối với các bạn trẻ, việc nuôi dưỡng và phát huy tính sáng tạo giúp các bạn tự tin hơn trong học tập, khám phá những tiềm năng bản thân và tìm ra những con đường đi mới cho tương lai. Một thế hệ trẻ giàu tính sáng tạo sẽ là những người tiên phong, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong kỷ nguyên số.
Câu 2
Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, với giọng văn mộc mạc, giàu âm hưởng phương Nam, đã thành công khắc họa chân dung những con người bình dị, lam lũ nhưng mang trong mình những tâm hồn sâu sắc, những nỗi niềm ẩn giấu. Tác phẩm "Biển người mênh mông" là một minh chứng rõ nét, đặc biệt là qua việc xây dựng hai nhân vật Phi và ông Sáu Đèo, truyện ngắn đã chạm đến những góc khuất của số phận và tôn vinh vẻ đẹp tình người chân chất, dung dị của con người Nam Bộ.
Cuộc đời của Phi là một chuỗi những thử thách nghiệt ngã, minh chứng cho sự khắc nghiệt của hoàn cảnh và những vết thương lòng mà chiến tranh, ly tán để lại. Ngay từ khi sinh ra, Phi đã mang gánh nặng của sự thiếu vắng tình thương cha mẹ: cha mất sớm, mẹ bỏ đi theo chồng, để lại Phi bơ vơ nơi bà ngoại. Lớn lên trong sự thiếu thốn tình cảm, Phi phải tự mình vươn lên, tự lập từ rất sớm. "Hết cấp hai, Phi lên thị xã mướn nhà trọ học, một năm mấy lần lại nhờ má đi họp phụ huynh." Câu văn giản dị nhưng ẩn chứa biết bao tủi thân, thiếu thốn của một đứa trẻ thiếu vòng tay cha mẹ. Đến khi gặp lại cha, cuộc gặp gỡ cũng không mang lại sự ấm áp trọn vẹn, mà thay vào đó là sự xa cách, ánh nhìn "lạnh lẽo, chua chát, lại như giễu cợt, đắng cay". Chính những trải nghiệm này đã hun đúc nên một Phi mạnh mẽ, kiên cường, có khả năng tự lập nhưng cũng mang trong mình nỗi cô đơn sâu thẳm.Trong bức tranh cuộc đời đầy biến động của Phi, ông Sáu Đèo xuất hiện như một điểm sáng của tình người ấm áp. Ông là người hàng xóm nghèo khổ, sống đơn độc, nhưng lại có một tấm lòng nhân hậu, bao dung. Dù chỉ là "ông già mới dọn lại thuê một căn chung vách với nhà Phi", ông đã dành cho Phi sự quan tâm đặc biệt, thứ mà Phi thiếu vắng từ những người thân ruột thịt. Lời ông kể về cuộc đời mình, về người vợ đã bỏ đi, không mang nặng sự oán trách hay cay nghiệt, mà đong đầy sự xót xa, ân hận và cả sự thấu hiểu cho hoàn cảnh. Chi tiết ông Sáu Đèo dọn một bữa rượu để từ giã Phi, nhờ Phi chăm sóc cho "con quỷ sứ" của mình ("con bìm bịp") trước khi ông "lăn ra chết", càng làm nổi bật lên tình nghĩa, sự tin tưởng và tấm lòng cao cả của ông. Ông Sáu Đèo, dù nghèo khó, vẫn dang tay đón nhận và yêu thương Phi, một sự bao dung không vụ lợi, một tình cảm chân thành làm lay động lòng người.Nguyễn Ngọc Tư đã sử dụng ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ, với những từ ngữ thuần Việt như "bìm bịp", "bấy hấy", "rấy", "ròng", "tía", "cố" tạo nên một không khí văn học chân thực, gần gũi. Giọng văn trầm lắng, đầy suy tư, đôi khi nhuốm màu bi thương nhưng không hề bi lụy. Cách miêu tả tâm trạng nhân vật qua những chi tiết nhỏ, qua lời thoại mộc mạc, đã khắc họa sâu sắc thế giới nội tâm phức tạp, những nỗi niềm khó nói thành lời của con người nơi đây. Hình ảnh "con bìm bịp" trong lồng, được ông Sáu Đèo gửi gắm cho Phi, không chỉ là một chi tiết cụ thể mà còn là biểu tượng cho những phận đời nhỏ bé, mong manh, cần được chở che giữa cuộc đời mênh mông sóng gió.
Biển người mênh mông" của Nguyễn Ngọc Tư là một khúc tình ca dịu dàng về số phận con người Nam Bộ, về những cuộc đời tưởng chừng nhỏ bé, khuất lấp nhưng lại chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc. Qua hình tượng Phi và ông Sáu Đèo, nhà văn đã khẳng định sức mạnh của tình người, của sự bao dung, nhân ái, có khả năng xoa dịu những vết thương lòng và mang lại ý nghĩa cho cuộc đời, dù cuộc đời ấy có nhiều bất hạnh đến đâu. Những câu chuyện đời thường ấy đã để lại trong lòng người đọc những dư âm day dứt, suy tư về lẽ sống và tình người.
Cau 1. Trong kỷ nguyên số đầy biến động, tính sáng tạo không chỉ là một kỹ năng bổ trợ mà đã trở thành "chìa khóa vàng" mở ra cánh cửa thành công cho thế hệ trẻ. Sáng tạo là khả năng vượt thoát khỏi những tư duy lối mòn, dám nhìn nhận vấn đề từ những góc độ mới lạ để đưa ra các giải pháp đột phá. Đối với người trẻ, sáng tạo chính là nguồn sống giúp họ không bị hòa tan trong guồng quay của sự bão hòa. Khi một cá nhân biết sáng tạo, họ biến những điều khô khan trở nên thú vị, biến thách thức thành cơ hội và biến ước mơ thành hiện thực. Chính sự sáng tạo giúp thế hệ trẻ khẳng định bản sắc riêng, tạo ra những giá trị mới đóng góp cho cộng đồng. Tuy nhiên, sáng tạo không đồng nghĩa với sự bay bổng xa rời thực tế; nó cần được nuôi dưỡng bằng tri thức, bản lĩnh và lòng kiên trì. Một thế hệ trẻ biết sáng tạo là một thế hệ giàu sức sống, sẵn sàng thích nghi và làm chủ tương lai. Ngược lại, nếu thiếu đi tư duy sáng tạo, người trẻ sẽ sớm trở nên lạc hậu và đánh mất chính mình. Vì vậy, mỗi bạn trẻ hãy không ngừng rèn luyện tư duy, dám thử sai và không ngại làm mới bản thân mỗi ngày.
Cau2
Nguyễn Ngọc Tư từ lâu đã khẳng định vị thế là một trong những cây bút đương đại xuất sắc nhất của dòng văn học Nam Bộ. Những trang văn của chị không lộng lẫy, kiêu sa mà luôn thấm đẫm mùi bùn đất phù sa, vị mặn của mồ hôi và cả nỗi buồn mênh mang của những phận đời lênh đênh sông nước. Truyện ngắn "Biển người mênh mông" chính là một nét vẽ tinh tế, đầy ám ảnh trong bức tranh đời sống ấy. Qua cuộc gặp gỡ giữa hai thế hệ – chàng trai trẻ Phi và ông già Sáu Đèo – tác giả đã khéo léo bóc tách từng lớp vỏ tâm hồn để làm ngời sáng lên cốt cách con người miền Tây: dù trong nghịch cảnh trớ trêu hay sự cô độc bủa vây giữa dòng đời, họ vẫn sống với nhau bằng cái tình nồng hậu, sự bao dung và một lòng tin sắt son vào sự tử tế giữa "biển người" vô tận.
Trước hết, nhân vật Phi hiện lên trong tác phẩm với một số phận đầy thương cảm, là điển hình cho những đứa trẻ lớn lên trong sự khuyết thiếu tình thân. Sinh ra đã không biết mặt cha, năm tuổi rưỡi mẹ lại đi bước nữa theo chồng mới, Phi lớn lên trong vòng tay bảo bọc nhưng cũng đầy nghiêm khắc của bà ngoại. Sự thiếu vắng hơi ấm trực tiếp từ đấng sinh thành đã nhào nặn nên một chàng trai có vẻ ngoài "lôi thôi", "xấp xãi", mang dáng vẻ bất cần đời. Người đời nhìn vào chỉ thấy một kẻ "du côn" qua lời mắng của ngoại, một tâm hồn dường như đã bị chai sạn bởi nỗi cô đơn và những tổn thương sâu sắc từ quá khứ.
Tuy nhiên, nếu bình tâm quan sát, ta sẽ thấy Phi là một con người vô cùng nghị lực và giàu lòng tự trọng. Dù sống trong cảnh bầy hầy, Phi vẫn âm thầm nỗ lực vươn lên: anh lên thị xã mướn nhà trọ đi học, vừa học vừa làm thêm để tự lo cho bản thân mà không hề dựa dẫm hay than vãn. Sự bướng bỉnh, lầm lì của Phi thực chất là một lớp "giáp sắt" tự vệ để che giấu một trái tim nhạy cảm, khao khát được thấu hiểu. Phi chính là hình ảnh tiêu biểu của một bộ phận người trẻ Nam Bộ: có chút ngang tàng, bộc trực, đôi khi dùng vẻ lạnh lùng để che đậy nỗi cô độc giữa thế gian, nhưng sâu thẳm lại vô cùng trọng nghĩa tình và luôn nỗ lực vươn lên từ nghịch cảnh.
Đối lập với vẻ trẻ trung nhưng đầy ưu tư của Phi là sự già nua, cũ kỹ của ông Sáu Đèo. Ông dọn đến ở trọ sát vách nhà Phi với hành trang chỉ vẻn vẹn mấy cái thùng các-tông và một con bìm bịp làm bạn. Nhưng đằng sau vẻ ngoài khắc khổ ấy là một câu chuyện đời thắt lòng: vợ ông bỏ đi sau một lần hai người cãi vã. Điểm sáng lung linh nhất ở nhân vật này chính là hành trình đi tìm vợ ròng rã suốt mấy mươi năm trời qua bao nhiêu nẻo đường sông nước. Ông không đi tìm để trách móc, không đi tìm để đòi lại công bằng hay trút giận, mà ông đi tìm chỉ để được gặp lại và nói một lời "xin lỗi" chân thành.
Hình ảnh ông Sáu Đèo dời nhà đến "ba mươi ba bận", lội bộ đến rã cặp giò đã chạm đến tận cùng cảm xúc của người đọc về nghĩa nặng tình sâu của người chồng miền Tây. Đó chính là vẻ đẹp của sự thủy chung – một phẩm chất cao quý truyền thống của con người đất phương Nam. Ông Sáu sống nghèo khổ, chỉ có con bìm bịp làm bạn tâm giao, nhưng tâm hồn ông lại giàu có vô biên. Ông coi con vật như một thực thể sống, nâng niu, chăm chút và trò chuyện với nó như người thân ruột thịt. Sự hào sảng của ông còn thể hiện ở cách ông mở lòng với Phi. Ông không hề phán xét vẻ ngoài hay tính cách của anh, trái lại, ông dùng sự chân thành, ấm áp của một người đi trước để sưởi ấm tâm hồn đứa trẻ đang lạc lõng giữa dòng đời.
Giữa "biển người mênh mông" đầy xa lạ và đôi khi tàn nhẫn, hai tâm hồn cô độc ấy đã tình cờ tìm thấy nhau và bồi đắp cho nhau những khoảng trống lòng. Ông Sáu nhìn thấy ở Phi một đứa trẻ đáng thương cần sự định hướng, sẻ chia; còn Phi lại tìm thấy ở ông lão một điểm tựa tinh thần ấm áp, một người cha, người ông mà bấy lâu anh hằng thiếu hụt. Mối quan hệ giữa họ không đơn thuần là hàng xóm sát vách, mà đã trở thành một thứ tình thân thiêng liêng giữa những con người cùng khổ nhưng giàu lòng nhân ái
Chi tiết đắt giá nhất tác phẩm là khi ông Sáu Đèo, trước khi tiếp tục hành trình phiêu bạt tìm vợ, đã tin tưởng gửi gắm con bìm bịp – "gia tài" và cũng là niềm an ủi duy nhất đời mình – cho Phi chăm sóc. Lời dặn "Đừng phụ lòng qua" vang lên đầy sức nặng, khiến người đọc không khỏi xúc động. Đó không chỉ là việc gửi một con chim nhỏ, mà là gửi gắm cả niềm tin vào con người, là sự chuyển giao ngọn lửa tình thương từ thế hệ này sang thế hệ khác. Phi đã đón nhận nó bằng tất cả sự trân trọng và trách nhiệm. Kết thúc truyện, ông Sáu chưa trở lại, nhưng con bìm bịp vẫn ở đó với Phi, vẫn kêu lên những tiếng gọi tha thiết. Họ đã không còn cô đơn nữa, bởi họ đã chạm được vào trái tim của nhau, đã thắp lên một đốm lửa nhân văn rực sáng giữa dòng đời lạnh lẽo.
Vẻ đẹp của Phi và ông Sáu Đèo không thể tách rời khỏi bối cảnh sông nước miền Tây đặc trưng. Từ ngôn ngữ đối thoại rặt mùi bùn đất phù sa như "qua", "rầy", "xấp xãi" đến những hành động hào hiệp, trọng lời hứa, tất cả đều toát lên cốt cách của con người vùng đất chín rồng. Nguyễn Ngọc Tư đã rất thành công khi xây dựng nhân vật qua những chi tiết đời thường, giản dị nhưng có sức gợi hình, gợi cảm vô cùng lớn. Tác giả không hề tô hồng cuộc sống, chị để nhân vật chìm trong nỗi đau và sự cô độc, nhưng chính từ bóng tối của nỗi buồn đó, ánh sáng của lòng nhân hậu, sự vị tha mới tỏa ra rạng rỡ, chân thực và đầy thuyết phục nhất
Câu 1: Trong dòng chảy không ngừng của kỷ nguyên số 4.0, tính sáng tạo không chỉ là một kỹ năng ưu tiên mà đã trở thành chìa khóa vàng để thế hệ trẻ mở cánh cửa tương lai. Sáng tạo là khả năng tư duy khác biệt, dám rời bỏ những lối mòn cũ kỹ để tìm ra những giải pháp mới tối ưu và giá trị hơn. Đối với người trẻ, sáng tạo giúp chúng ta khẳng định bản sắc cá nhân, khiến mình không trở thành một "bản sao" mờ nhạt giữa đám đông. Trong học tập và công việc, tinh thần sáng tạo giúp biến những kiến thức khô khan thành những dự án sống động, nâng cao hiệu suất và tạo ra những giá trị đột phá cho cộng đồng. Chẳng hạn, những ứng dụng công nghệ hay các dự án khởi nghiệp xanh của người trẻ hiện nay chính là trái ngọt của tư duy không giới hạn. Tuy nhiên, sáng tạo không đồng nghĩa với việc lập dị hay phủ nhận giá trị truyền thống; đó phải là sự kế thừa có chọn lọc và phát triển. Tóm lại, mỗi bạn trẻ cần không ngừng tò mò, quan sát và rèn luyện tư duy để ngọn lửa sáng tạo luôn rực cháy, bởi "sáng tạo là cách để biến những điều bình thường thành phi thường".
Câu 2: Nếu có ai hỏi về mảnh đất Nam Bộ, người ta thường nhớ đến những dòng sông đỏ nặng phù sa, những cánh đồng thẳng cánh cò bay. Nhưng với Nguyễn Ngọc Tư, Nam Bộ hiện lên đẹp nhất, ám ảnh nhất chính là ở tâm hồn con người. Qua truyện ngắn “Biển người mênh mông”, hình ảnh anh Phi và ông già Sáu Đèo đã khắc họa chân thực cốt cách của những con người miền Tây: dù cuộc đời có trôi dạt, ba chìm bảy nổi nhưng vẫn luôn giữ lấy chữ "tình" làm gốc. Trước hết, con người Nam Bộ trong tác phẩm hiện lên với những số phận chìm nổi, khắc nghiệt. Nhân vật Phi là hiện thân của những đứa trẻ lớn lên trong sự thiếu khuyết tình thương, "sinh ra đã không có ba", mẹ lại đi bước nữa, anh sống dựa vào sự cưu mang của bà ngoại. Cuộc đời Phi là một chuỗi những ngày mưu sinh vất vả, hết cấp hai đã phải "lên thị xã mướn nhà trọ học", rồi vừa học vừa làm thêm. Trong khi đó, ông già Sáu Đèo lại đại diện cho kiếp người phiêu bạt sông nước. Cả đời ông là những chuyến dời nhà "ba mươi ba bận", tài sản vỏn vẹn trong bốn cái thùng các-tông. Cái nghèo, cái khổ như bủa vây lấy họ giữa "biển người" mênh mông, nhưng lại không thể làm héo mòn đi nhân cách. Vẻ đẹp lớn nhất của con người Nam Bộ chính là sự bao dung và tình nghĩa sâu nặng. Dù không phải máu mủ ruột rà, ông Sáu Đèo vẫn quan tâm đến Phi như một người thân trong gia đình, nhắc nhở anh chuyện tóc tai, ăn mặc. Đáp lại, Phi cũng dành cho người hàng xóm nghèo sự trân trọng và đồng cảm sâu sắc. Đặc biệt nhất là tấm lòng thủy chung của ông Sáu Đèo. Chỉ vì một lỗi lầm thời trẻ khiến vợ bỏ đi, ông đã dành suốt bốn mươi năm cuộc đời để tìm kiếm, "kiếm để làm gì hả? Để xin lỗi chớ làm gì bây giờ". Lời thoại chân chất ấy chứa đựng một sức nặng ghê gớm về lòng trung trinh và sự hối lỗi chân thành. Người miền Tây là vậy, yêu ghét rõ ràng, đã thương là thương đến tận cùng, đã sai là dành cả đời để sửa chữa. Bên cạnh đó, tính cách phóng khoáng, tự tại cũng là một nét đặc trưng. Cách họ xưng hô "qua" – "chú em", cách họ chia sẻ chén rượu chia tay hay việc ông Sáu tin tưởng gửi gắm con bìm bịp cho Phi trước khi đi xa đã cho thấy một niềm tin chân phương giữa người với người. Họ sống giữa đời thường lam lũ nhưng tâm hồn lại rộng mở như sông dài biển rộng, không toan tính thiệt hơn. Tóm lại, qua ngòi bút đậm chất Nam Bộ của Nguyễn Ngọc Tư, nhân vật Phi và ông già Sáu Đèo không chỉ là những cá thể cô đơn mà là biểu tượng cho vẻ đẹp bền bỉ của con người vùng đất chín rồng. Họ dạy chúng ta rằng: giữa thế gian rộng lớn này, dù ta có là ai, có nghèo khó thế nào, thì lòng tốt và sự tử tế vẫn là thứ ánh sáng rực rỡ nhất dẫn lối ta đi.
Câu 1 (khoảng 200 chữ):
Trong bối cảnh xã hội hiện đại không ngừng biến đổi, tính sáng tạo trở thành một phẩm chất đặc biệt quan trọng đối với thế hệ trẻ. Sáng tạo giúp người trẻ nhìn nhận vấn đề theo nhiều góc độ mới mẻ, từ đó tìm ra những giải pháp hiệu quả và khác biệt. Không chỉ dừng lại ở học tập, sáng tạo còn là chìa khóa để thích nghi với môi trường làm việc đầy cạnh tranh, nơi những ý tưởng độc đáo luôn được đánh giá cao. Người trẻ có tư duy sáng tạo thường chủ động, linh hoạt và dám thử nghiệm những điều mới, nhờ đó dễ đạt được thành công hơn.
Bên cạnh đó, sáng tạo còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Những phát minh, cải tiến hay cách làm mới đều bắt nguồn từ tư duy sáng tạo của con người, đặc biệt là thế hệ trẻ – lực lượng năng động và giàu tiềm năng. Tuy nhiên, sáng tạo không phải là điều tự nhiên có sẵn mà cần được rèn luyện thông qua học hỏi, trải nghiệm và dám vượt qua giới hạn bản thân. Vì vậy, mỗi người trẻ cần nuôi dưỡng trí tưởng tượng, tinh thần đổi mới để khẳng định giá trị của mình và đóng góp tích cực cho xã hội.
⸻
Câu 2 (khoảng 600 chữ):
Trong truyện ngắn Biển người mênh mông của Nguyễn Ngọc Tư, hình ảnh con người Nam Bộ hiện lên chân thực, giản dị mà giàu tình nghĩa qua hai nhân vật Phi và ông Sáu Đèo. Qua đó, nhà văn đã khắc họa vẻ đẹp tâm hồn của những con người sống giữa cuộc đời nhiều mất mát nhưng vẫn giữ được tình người ấm áp.
Trước hết, nhân vật Phi đại diện cho lớp người trẻ Nam Bộ với số phận nhiều thiệt thòi nhưng giàu nghị lực. Sinh ra trong hoàn cảnh éo le, thiếu thốn tình cảm gia đình, Phi lớn lên trong sự lạnh nhạt của cha và khoảng cách với mẹ. Những tổn thương ấy khiến anh sống lôi thôi, buông xuôi phần nào cuộc đời. Tuy nhiên, ẩn sâu bên trong vẫn là một con người giàu tình cảm. Phi biết quan tâm đến người khác, sẵn sàng giúp đỡ ông Sáu Đèo, nhận nuôi con bìm bịp và giữ lời hứa. Chính sự chân thành, nghĩa tình ấy thể hiện nét đẹp mộc mạc, thật thà của con người Nam Bộ.
Câu 1: Ý nghĩa của tính sáng tạo đối với thế hệ trẻ hiện nay (Khoảng 200 chữ) Trong kỷ nguyên số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, tính sáng tạo không còn là một lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu sống còn đối với thế hệ trẻ. Sáng tạo là khả năng tư duy khác biệt, không rập khuôn, từ đó tạo ra những giá trị mới mẻ và hữu ích. Trước hết, sự sáng tạo giúp người trẻ khẳng định bản sắc cá nhân và tạo ra lợi thế cạnh tranh trong thị trường lao động khắc nghiệt; nó biến những thách thức thành cơ hội để bứt phá. Khi dám nghĩ khác và làm khác, chúng ta không chỉ tối ưu hóa hiệu quả công việc mà còn tìm thấy niềm vui, sự hứng khởi trong cuộc sống thay vì sự nhàm chán của những lối mòn. Quan trọng hơn, sức sáng tạo của thanh niên chính là động lực then chốt thúc đẩy sự phát triển của quốc gia, đưa đất nước hội nhập và vươn tầm thế giới. Tuy nhiên, sáng tạo cần đi đôi với thực tế và đạo đức, tránh sự "dị biệt" vô nghĩa. Tóm lại, mỗi bạn trẻ cần không ngừng trau dồi kiến thức, nuôi dưỡng trí tò mò để ngọn lửa sáng tạo luôn rực cháy, góp phần xây dựng một tương lai rạng rỡ hơn.
Nguyễn Ngọc Tư từ lâu đã ghi dấu ấn trong lòng độc giả bằng những trang văn đẫm chất bùn đất và tình người sông nước miền Tây. Truyện ngắn "Biển người mênh mông" là một minh chứng tiêu biểu, nơi ta bắt gặp những con người Nam Bộ bình dị nhưng có tâm hồn bao la như biển cả qua nhân vật Phi và ông Sáu Đèo. Trước hết, nhân vật Phi hiện lên là một chàng trai có số phận chịu nhiều thiệt thòi: thiếu vắng hơi ấm của cha mẹ, sống nương tựa vào bà ngoại. Vẻ ngoài của Phi có chút phong trần, "xấp xãi" đến mức bị ngoại mắng là "hệt du côn", nhưng ẩn sau cái vỏ bọc ấy là một đứa cháu ngoan hiền, biết lắng nghe. Chi tiết Phi không cãi lại ngoại mà lẳng lặng đi cắt tóc cho thấy sự hiếu thảo và nhường nhịn. Khi lớn lên, bước vào "biển người" mênh mông, Phi không hề lạc lõng hay trở nên ích kỷ. Anh mang theo cái chất phác, thật thà của người dân quê để đối đãi với đời. Bên cạnh Phi là ông Sáu Đèo – một hình ảnh điển hình của người già Nam Bộ: bộc trực, phóng khoáng và giàu lòng trắc ẩn. Giữa dòng đời xuôi ngược, những con người xa lạ như ông Sáu, Phi và những nhân vật khác đã tìm thấy nhau, nương tựa vào nhau mà sống. Họ kết nối với nhau không bằng sợi dây huyết thống mà bằng "cái tình" – một đặc sản quý giá của vùng đất phương Nam. Ông Sáu Đèo không chỉ là người dẫn dắt mà còn là điểm tựa tinh thần, thể hiện rõ tính cách "trọng nghĩa khinh tài", sẵn sàng chia ngọt sẻ bùi của người dân nơi đây. Qua hai nhân vật, Nguyễn Ngọc Tư đã khéo léo khắc họa vẻ đẹp tâm hồn con người Nam Bộ: đó là sự bao dung, hay lam hay làm và đặc biệt là lòng nhân hậu vô bờ bến. Dù cuộc sống còn nhiều gian truân, vất vả, họ vẫn chọn cách sống tử tế, yêu thương nhau. Biển người dù có mênh mông, xa lạ đến đâu, nhưng khi con người đối xử với nhau bằng tấm lòng chân thành thì nơi đó chính là bến đỗ bình yên nhất. Tác phẩm không chỉ là câu chuyện về những số phận lẻ loi mà còn là bài ca về tình người ấm áp, nhắc nhở chúng ta về giá trị của sự thấu hiểu và sẻ chia trong cuộc sống này.