(1,0 điểm) Từ khát vọng của chim yến, em nghĩ gì về khát vọng của con người trong cuộc số...">
K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Ta hoá phù sa: Hình ảnh hoán dụ nhân hóa, tượng trưng cho việc mỗi người nguyện hiến dâng sức lực, tuổi trẻ (phù sa) để bồi đắp, làm giàu cho mảnh đất quê hương. Mỗi bến chờ: Tượng trưng cho những nơi, những thời điểm đất nước cần, thể hiện sự sẵn sàng, âm thầm đợi chờ để cống hiến. => Ý thơ ca ngợi tình yêu quê hương sâu sắc, tinh thần trách nhiệm và sự gắn bó máu thịt với đất nước.

1 tháng 3

Tự luận

Sự hy sinh cao cả

1 tháng 3

​Khi viết đoạn văn về bài thơ "Mẹ", hãy chú ý sử dụng các từ ngữ biểu cảm mạnh để tăng sức thuyết phục cho bài viết. ​Đối với câu hỏi về chim yến, hãy liên hệ thực tế về những tấm gương vượt khó trong cuộc sống hiện nay để bài làm sinh động hơn.

Yến chỉ muốn đc sống yên bình,tự do,không muốn đấu dấ

1 tháng 3

Trong thế giới tự nhiên bao la, có những sinh vật nhỏ bé nhưng lại mang trong mình một sức mạnh tâm linh kỳ diệu, đủ sức lay động trái tim con người. Hình ảnh con chim yến "chắt máu mình làm tổ" nơi vách đảo cheo leo, giữa trùng khơi đầy sóng gió đã trở thành một biểu tượng bất hủ về sự kiên trì và hy sinh.Từ những vần thơ xúc động ấy, ta không chỉ thấy một hiện thực thiên nhiên nghiệt ngã mà còn tìm thấy một triết lý sống sâu sắc về khát vọng của con người trong cuộc sống hôm nay. Khát vọng không chỉ là đích đến của một hành trình, mà nó chính là ngọn lửa thiêng liêng giúp con người tự khẳng định mình và dâng hiến cho đời những giá trị tinh túy nhất.​Nhìn vào hành trình của loài chim yến, ta thấy hiện lên một nghịch lý đầy kiêu hãnh: một thân hình nhỏ bé đối đầu với "sóng thần bão tố", một sinh linh thầm lặng nhưng dám "chắt máu mình" để xây dựng tổ ấm. Chim yến không xây tổ bằng rác rưởi hay bùn đất thông thường; nó dùng chính dịch tiết từ cơ thể, thứ được ví như dòng máu nóng của sự sống. Điều này gợi nhắc chúng ta rằng: Khát vọng chân chính của con người không phải là những mong muốn hời hợt, những tham vọng phù phiếm, mà là những mục tiêu được kết tinh từthần bão tố". Khát vọng của con người cũng vậy, nó thường nảy mầm từ những mảnh đất cằn cỗi nhất và chỉ thực sự nở hoa trong những hoàn cảnh ngặt nghèo nhất. Khát vọng không phải là ngồi chờ thời cơ hay mong cầu sự may mắn, mà là sự chủ động kiến tạo tương lai ngay trong bão tố. Thực tế cuộc sống hôm nay cho thấy, những người thành công rực rỡ thường là những người đã đi qua nhiều thất bại cay đắng nhất. Họ giống như chim yến, biết rằng để có được một "tổ ấm cho đời" – dù đó là một sự nghiệp vững vàng, một gia đình hạnh phúc hay một lý tưởng sống cao đẹp – họ phải chấp nhận thử thách như một phần tất yếu của cuộc chơi. Nghịch cảnh không sinh ra để quật ngãcó / Đã hóa thành quà tặng thế gian". Chim yến làm tổ vì bản năng sinh tồn, vì khát vọng xây tổ ấm cho thế hệ mai sau, nhưng chính sự nỗ lực đến cùng kiệt, sự hy sinh âm thầm ấy đã tạo ra yến sào – một sản vật quý báu cho nhân loại. Đây chính là điểm giao thoa cao nhất giữa cá nhân và xã hội. Khi con người theo đuổi khát vọng một cách tử tế và mãnh liệt, họ không chỉ làm giàu cho chính mình mà còn vô tình để lại những giá trị tốt đẹp cho cộng đồng. Những nhà khoa học miệt mài trong phòng thí nghiệm để tìm ra phương thuốc mới, những người thầy giáo cắm bản nơi vùng cao hẻo lánh, hay những bạn trẻ khởi nghiệp vớithời gian không phải là những gì ta đã lấy đi cho riêng mình, mà chính là những "tổ ấm", những "tiếng hót" tự do và những giá trị nhân văn mà ta đã trân trọng để lại cho cuộc đời nàytâm huyết, niềm tin và cả sự đánh đổi. Trong cuộc sống hiện đại, khi con người dễ bị cuốn vào vòng xoáy của vật chất và những giá trị nhất thời, khát vọng chính là "mỏ neo" giữ cho ta không bị chìm nghỉm giữa đại dương hư ảo. Khát vọng giống như ngọn hải đăng giữa trùng khơi, giúp mỗi cá nhân định vị được bản thân mình là ai và mình thực sự muốn đi về đâu. Một người sống không có khát vọng chẳng khác nào một con thuyền không lái, mặc cho sóng gió xô đẩy vào những bờ bến vô định của sự tẻ nhạt và vô nghĩa.

1 tháng 3

Từ khát vọng của chim yến trong đoạn thơ, em nhận ra rằng dù nhỏ bé, con người vẫn có quyền nuôi dưỡng ước mơ và khát vọng cho riêng mình. Chim yến “chắt máu mình làm tổ”, vượt qua sóng gió để xây dựng tổ ấm và được tự do hót giữa trời xanh. Điều đó gợi cho em suy nghĩ: trong cuộc sống hôm nay, mỗi người cũng cần có ước mơ, dám sống vì ước mơ và nỗ lực hết mình để thực hiện nó. Khát vọng không phụ thuộc vào việc ta lớn hay nhỏ, mà nằm ở ý chí và sự kiên trì. Khi con người biết sống có mục tiêu, dám vượt qua khó khăn, âm thầm cống hiến như chim yến, thì những điều nhỏ bé cũng có thể trở thành món quà ý nghĩa cho cuộc đời.

Em nghĩ về cuộc sống của con ng hiện nay rẫt chi là vất vả , người lớn làm việc mệt mỏi để kiểm ra những tờ tiền để cho con cái đc đi học , lo ăn lo uống cho gia đình . Cuộc sống trở nên bận rộn , những người làm công ty phải đi làm từ sớm , những người đi làm đồng phải giậy sớm về muộn , cũng gióng như chú chim yến vất vả để làm ra 1 cái tổ , động vật cũng có lúc mệt mỏi giống như con người cũng có lúc mệt mỏi, nhưng họ vẫn luôn cố gắng .

4 tháng 3

Ugggiggriggr

Qua đoạn thơ, em nhận thấy khát vọng của con người trong cuộc sống hiện đại không nên là sự đố kỵ hay chạy theo những giá trị bề nổi. Thay vào đó, mỗi cá nhân cần nuôi dưỡng một khát vọng chân chính: biết trân trọng giá trị của bản thân, dám sống đúng với bản sắc riêng và kiên trì cống hiến bằng tất cả tâm huyết. Dù là những nỗ lực nhỏ bé nhất, nếu ta sống hết mình và hướng tới sự tự do, tốt đẹp, cuộc đời ta sẽ trở thành một món quà ý nghĩa cho xã hội.

15 tháng 3

Qua khát vọng của chim yến trong đoạn thơ, em thấy rằng mỗi con người trong cuộc sống đều có khát vọng riêng của mình. Khát vọng giúp con người có mục tiêu để cố gắng, vượt qua khó khăn và vươn lên trong cuộc sống. Vì vậy, mỗi người cần nuôi dưỡng những ước mơ, khát vọng tốt đẹp và nỗ lực thực hiện để cuộc sống có ý nghĩa hơn.

Qua bài đoạn văn trên em rút ra là dù khó khăn đến mấy cũng phải tiếp bước đến thành công không bì với ai

27 tháng 3

Con người cũng giống như những chú chim yến chỉ muốn tìm một nơi bình yên, an toàn để trở về sau những áp lực của cuộc đời. Không cần những thứ giàu sang chỉ cần có chốn dung thân cho phận người bé nhỏ là đủ rồi

Kết luận: Qua hình ảnh chim yến, đoạn thơ gửi gắm thông điệp: Hãy cứ khát khao, hãy cứ nỗ lực hết mình bằng chính thực lực và sự tử tế. Dù bạn nhỏ bé, nhưng sự kiên trì và khát vọng sống chân thực sẽ khiến cuộc đời bạn trở thành một món quà quý giá cho thế gian này.

27 tháng 9 2025

Trong tất cả những bài thơ tự do nổi tiếng như “Sóng” – Xuân Quỳnh; “Những cánh buồm” – Hoàng Trung Thông; “Đất nước” (trích Trường ca Mặt đường khát vọng) – Nguyễn Khoa Điềm; “Mùa xuân nho nhỏ” – Thanh Hải; “Ánh trăng” – Nguyễn Duy thì bài thơ Tre Việt Nam của Nguyễn Duy đã để lại trong em nhiều ấn tượng sâu lắng. Qua thể thơ tự do giản dị, nhà thơ đã khắc họa hình ảnh cây tre xanh quen thuộc của làng quê Việt Nam. Tre hiện lên không chỉ là loài cây mọc thẳng, dẻo dai, gắn bó với đồng ruộng, với mái nhà tranh mà còn là biểu tượng cho phẩm chất con người Việt Nam: cần cù, đoàn kết, kiên cường, cần cù, chịu thương chịu khó, lối sống ngay thẳng, chính trực. Đọc những câu thơ ấy, em cảm thấy như nghe tiếng nói chân thành của nhà thơ về dân tộc mình, vừa tự hào, vừa yêu thương. Đất nước ta đã phải trải qua 1000 năm Bắc thuộc và phải đi trên con đường cách mạng - đường mà dân tộc ta phải đi trong lịch sử, tre như là lũy thành, hàng rào kiên cố bảo vệ con đường cách mạng chi đất nước ta. Tre cùng dân ta trải qua bao gian khổ, cùng ra trận, giữ làng, giữ nước, như bức tường thành kiên cố - một chứng minh của lịch sử và còn là người bạn đồng hành trung thành của ông cha ta nói chung và Việt Nam nói riêng. Hình ảnh tre trong bài thơ gợi cho em tình yêu sâu sắc với quê hương, đất nước, và nhắc nhở em phải cố gắng học tập để mai sau này xây dựng cho quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh hơn.

KHÔNG CÓ GÌ TỰ ĐẾN ĐÂU CON      (1) Không có gì tự đến đâu ConQuả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựaHoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửaMùa bội thu phải một nắng hai sương.      (2) Không có gì tự đến dẫu bình thườngPhải bằng cả đôi tay và nghị lựcNhư con chim suốt ngày chọn hạtNăm tháng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kì.                (3) Dẫu bây giờ Cha Mẹ đôi...
Đọc tiếp

KHÔNG CÓ GÌ TỰ ĐẾN ĐÂU CON

      (1) Không có gì tự đến đâu Con

Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa

Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa

Mùa bội thu phải một nắng hai sương.

      (2) Không có gì tự đến dẫu bình thường

Phải bằng cả đôi tay và nghị lực

Như con chim suốt ngày chọn hạt

Năm tháng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kì.

                (3) Dẫu bây giờ Cha Mẹ đôi khi,

Có nặng nhẹ yêu thương và giận dỗi.

Có roi vọt khi con hư và có lỗi

Thương yêu Con, đâu đồng nghĩa với nuông chiều

 (Trích Không có gì tự đến đâu con, Nguyễn Đăng Tấn,

Lời ru vầng trăng, NXB Lao Động, 2000, tr.42)

* Chú thích:       

 - Nguyễn Đăng Tấn là một nhà báo, một nhà thơ với phong cách thơ bình dị nhưng giàu chất triết lí, thể hiện những suy ngẫm, trăn trở về tình yêu thương, về lẽ sống của con người.     

 - Bài thơ Không có gì tự đến đâu con, được nhà thơ Nguyễn Đăng Tấn viết tặng con là Nguyễn Đăng Tiến vào khoảng năm 1995, khi Tiến đang học lớp 3. Bài thơ được in trong tập thơ Lời ru vầng trăng, xuất bản năm 2000.

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1 (0,5 điểm): Xác định thể thơ của đoạn trích trên.

Câu 2 (0,5 điểm): Chỉ ra trong khổ thơ (1) những điều cần phải trải qua để có được quả ngọt, hoa thơm mùa bội thu.

Câu 3 (1,0 điểm): Nêu cách hiểu của em về nội dung của những dòng thơ sau:

Không có gì tự đến dẫu bình thường

Phải bằng cả đôi tay và nghị lực

Câu 4 (1,0 điểm): Nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp ngữ thể hiện qua việc lặp lại cụm từ không có gì tự đến ở khổ thơ (1) và (2).                                         

Câu 5 (1,0 điểm): Từ nội dung của đoạn thơ trên, em hãy rút ra bài học về những việc cần làm để vượt qua khó khăn, thử thách trong hành trình khôn lớn của bản thân.

1
8 tháng 9 2025

Anh đã trả lời rồi nhé.
https://hoc24.vn/cau-hoi/khong-co-gi-tu-den-dau-con-1-khong-co-gi-tu-den-dau-conqua-muon-ngot-phai-thang-ngay-tich-nhuahoa-se-thom-khi-trai-qua-nang-luamua-boi-thu-phai-mot-nang-hai-suong-2-khong-co-gi-tu-den-d.9456420218232

KHÔNG CÓ GÌ TỰ ĐẾN ĐÂU CON      (1) Không có gì tự đến đâu ConQuả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựaHoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửaMùa bội thu phải một nắng hai sương.      (2) Không có gì tự đến dẫu bình thườngPhải bằng cả đôi tay và nghị lựcNhư con chim suốt ngày chọn hạtNăm tháng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kì.                (3) Dẫu bây giờ Cha Mẹ đôi...
Đọc tiếp

KHÔNG CÓ GÌ TỰ ĐẾN ĐÂU CON

      (1) Không có gì tự đến đâu Con

Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa

Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa

Mùa bội thu phải một nắng hai sương.

      (2) Không có gì tự đến dẫu bình thường

Phải bằng cả đôi tay và nghị lực

Như con chim suốt ngày chọn hạt

Năm tháng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kì.

                (3) Dẫu bây giờ Cha Mẹ đôi khi,

Có nặng nhẹ yêu thương và giận dỗi.

Có roi vọt khi con hư và có lỗi

Thương yêu Con, đâu đồng nghĩa với nuông chiều

 (Trích Không có gì tự đến đâu con, Nguyễn Đăng Tấn,

Lời ru vầng trăng, NXB Lao Động, 2000, tr.42)

* Chú thích:       

 - Nguyễn Đăng Tấn là một nhà báo, một nhà thơ với phong cách thơ bình dị nhưng giàu chất triết lí, thể hiện những suy ngẫm, trăn trở về tình yêu thương, về lẽ sống của con người.     

 - Bài thơ Không có gì tự đến đâu con, được nhà thơ Nguyễn Đăng Tấn viết tặng con là Nguyễn Đăng Tiến vào khoảng năm 1995, khi Tiến đang học lớp 3. Bài thơ được in trong tập thơ Lời ru vầng trăng, xuất bản năm 2000.

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1 (0,5 điểm): Xác định thể thơ của đoạn trích trên.

Câu 2 (0,5 điểm): Chỉ ra trong khổ thơ (1) những điều cần phải trải qua để có được quả ngọt, hoa thơm mùa bội thu.

Câu 3 (1,0 điểm): Nêu cách hiểu của em về nội dung của những dòng thơ sau:

Không có gì tự đến dẫu bình thường

Phải bằng cả đôi tay và nghị lực

Câu 4 (1,0 điểm): Nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp ngữ thể hiện qua việc lặp lại cụm từ không có gì tự đến ở khổ thơ (1) và (2).                                         

Câu 5 (1,0 điểm): Từ nội dung của đoạn thơ trên, em hãy rút ra bài học về những việc cần làm để vượt qua khó khăn, thử thách trong hành trình khôn lớn của bản thân.

NHANH GIÚP E VỚI Ạ!!!!<3

5
8 tháng 9 2025

Câu 1 (0,5 đ): Thể thơ: thơ tám chữ (mỗi dòng có 8 chữ).

8 tháng 9 2025

Câu 2 (0,5 đ): Để có quả ngọt, hoa thơm, mùa bội thu phải trải qua thời gian tích tụ (tháng ngày tích nhựa), chịu đựng vất vả, thử thách (trải qua nắng lửa) và lao động cần cù, chịu khó (một nắng hai sương).

(0.5 điểm) Chỉ rõ hai trợ từ được sử dụng trong đoạn văn dưới đây:      Một ông quan lớn đến hiệu may, may một cái áo thật sang để tiếp khách. Biết quan xưa nay nổi tiếng luồn cúi kẻ trên, hách dịch với dân, người thợ may liền hỏi:      – Xin quan lớn cho biết ngài may chiếc áo này để tiếp ai ạ? Bài đọc: HAI KIỂU ÁO        Một ông quan lớn đến hiệu may, may một...
Đọc tiếp

(0.5 điểm)

Chỉ rõ hai trợ từ được sử dụng trong đoạn văn dưới đây:

     Một ông quan lớn đến hiệu may, may một cái áo thật sang để tiếp khách. Biết quan xưa nay nổi tiếng luồn cúi kẻ trên, hách dịch với dân, người thợ may liền hỏi:

     – Xin quan lớn cho biết ngài may chiếc áo này để tiếp ai ạ?

Bài đọc:

HAI KIỂU ÁO

       Một ông quan lớn đến hiệu may, may một cái áo thật sang để tiếp khách. Biết quan xưa nay nổi tiếng luồn cúi kẻ trên, hách dịch với dân, người thợ may liền hỏi:

       – Xin quan lớn cho biết ngài may chiếc áo này để tiếp ai ạ?

       Quan cau mày lại hỏi:

       – Nhà ngươi muốn biết như thế để làm ?

       Người thợ may liền đáp:

       – Thưa, con hỏi thế để may cho vừa. Nếu ngài mặc hầu quan trên thì vạt áo đằng trước phải may ngắn đi một tấc; còn nếu ngài mặc để tiếp dân đen thì vạt áo đằng sau phải may ngắn đi một tấc !

       Quan ngẫm nghĩ một hồi, gật gù cho là chí lí và truyền:

       – Thế thì ngươi may cho ta cả hai kiểu.

(Truyện cười dân gian Việt Nam)

*Tấc: đơn vị đo chiều dài thời cổ của Việt Nam, một tấc bằng khoảng 10 cm.

2
HAI KIỂU ÁO Có ông quan lớn đến hiệu may để may một cái áo thật sang tiếp khách. Biết quan xưa nay nổi tiếng luồn cúi quan trên, hách dịch với dan, người thợ may bèn hỏi : - Xin quan lớn cho biết ngài may chiếc áo này để tiếp ai ạ ? Quan lớn ngạc nhiên : - Nhà ngươi biết để làm gì ? Người thợ may đáp : - Thưa ngài, con hỏi để may cho vừa. Nếu ngài mặc hầu quan trên thì vạt đằng trước phải mau ngắn đi dăm tấc, còn nếu ngài mặc để tiếp dân đen, thì vạt đằng sau phải may ngắn lại. Quan ngẫm nghĩ một hồi rồi bão : - Thế thì nhà ngươi may cho ta cả hai kiểu.

nhớ tick cho em nhé cô.

29 tháng 12 2025

Trợ từ ạ và lớn

(1.0 điểm) Hãy liên hệ với một nhân vật khác trong tác phẩm hài kịch hoặc truyện cười dân gian em đã học cũng có một thói xấu nào đó đã bị đem ra châm biếm giống như vị quan trong câu chuyện trên. (Nêu rõ nhan đề tác phẩm, tên nhân vật và chỉ ra thói xấu). Bài đọc: HAI KIỂU ÁO        Một ông quan lớn đến hiệu may, may một cái áo thật sang để tiếp khách. Biết quan xưa nay...
Đọc tiếp

(1.0 điểm)

Hãy liên hệ với một nhân vật khác trong tác phẩm hài kịch hoặc truyện cười dân gian em đã học cũng có một thói xấu nào đó đã bị đem ra châm biếm giống như vị quan trong câu chuyện trên. (Nêu rõ nhan đề tác phẩm, tên nhân vật và chỉ ra thói xấu).

Bài đọc:

HAI KIỂU ÁO

       Một ông quan lớn đến hiệu may, may một cái áo thật sang để tiếp khách. Biết quan xưa nay nổi tiếng luồn cúi kẻ trên, hách dịch với dân, người thợ may liền hỏi:

       – Xin quan lớn cho biết ngài may chiếc áo này để tiếp ai ạ?

       Quan cau mày lại hỏi:

       – Nhà ngươi muốn biết như thế để làm ?

       Người thợ may liền đáp:

       – Thưa, con hỏi thế để may cho vừa. Nếu ngài mặc hầu quan trên thì vạt áo đằng trước phải may ngắn đi một tấc; còn nếu ngài mặc để tiếp dân đen thì vạt áo đằng sau phải may ngắn đi một tấc !

       Quan ngẫm nghĩ một hồi, gật gù cho là chí lí và truyền:

       – Thế thì ngươi may cho ta cả hai kiểu.

(Truyện cười dân gian Việt Nam)

*Tấc: đơn vị đo chiều dài thời cổ của Việt Nam, một tấc bằng khoảng 10 cm.

1

- Một số truyện cười: Kẻ ngốc nhà giàu, Đẽo cày giữa đường, Tam đại con gà, Đi chợ,…

- Kể chuyện: Tam đại con gà

Xưa, có anh học trò học hành dốt nát, nhưng trò đời “xấu hay làm tốt, dốt hay chơi chữ” đi đâu cũng lên mặt văn hay chữ tốt.

Có người tưởng anh ta hay chữ thật, mới đón về dạy trẻ.

Một hôm, dạy sách Tam thiên tự , sau chữ “tước” là chim sẻ, đến chữ “kê” là gà, thầy thấy mặt chữ nhiều nét rắc rối, không biết chữ gì, học trò lại hỏi gấp, thầy cuống, nói liều: “Dủ dỉ là con dù dì”. Thầy cũng khôn, sợ nhỡ sai, người nào biết thì xấu hổ, mới bảo học trò đọc khẽ, tuy vậy, trong lòng thầy vẫn thấp thỏm.

Nhân trong nhà có bàn thờ thổ công, thầy mới đến khấn thầm xin ba đài âm dương để xem chữ ấy có phải thật là “dù dì” không. Thổ công cho ba đài được cả ba.

Thấy vậy, thấy lấy làm sắc chí lắm, hôm sau bệ vệ ngồi trên giường, bảo trẻ đọc cho to. Trò vâng lời thầy, gân cổ lên gào:

– Dủ dỉ là con dù dì… Dủ dỉ là con dù dì…

Bố chúng đang cuốc đất ngoài vườn, nghe tiếng học, ngạc nhiên bỏ cuốc chạy vào, giở sách ra xem, hỏi thầy:

– Chết chửa! Chữ “kê” là gà, sao thầy lại dạy ra “dủ dỉ” là con “dù dì”?

Bấy giờ thầy mới nghĩ thầm: “Mình đã dốt, thổ công nhà nó cũng dốt nữa”, nhưng nhanh trí thầy vội nói gỡ:

– Tôi vẫn biết chữ ấy là chữ “kê”, mà “kê” nghĩa là “gà”, nhưng tôi dạy cháu thế là dạy cho cháu nó biết tận tam đại con gà kia.

Chủ nhà càng không hiểu, hỏi:

– Tam đại con gà là nghĩa ra làm sao?

– Thế này nhé! Dủ dỉ là con dù dì, dù dì là chị con công, con công là ông con gà!

cô nhớ tick cho em nhé.

2 tháng 6 2020

Câu chuyện nhỏ trên gợi cho em suy nghĩ là : Cần phải biết vượt qua những khó khăn, thử thách khắc nghiệt trong cuộc đời, đồng thời phải biết nắm bắt và tận dụng cơ hội để đạt đến đích.

( Chúc bạn học tốt )


 

(1.0 điểm) Phân tích nghĩa hàm ẩn trong câu nói của người thợ may: Nếu ngài mặc hầu quan trên thì vạt áo đằng trước phải may ngắn đi một tấc; còn nếu ngài mặc để tiếp dân đen thì vạt áo đằng sau phải may ngắn đi một tấc ạ! để từ đó làm rõ mục đích trào phúng của truyện. Bài đọc: HAI KIỂU ÁO        Một ông quan lớn đến hiệu may, may một cái áo thật sang để tiếp...
Đọc tiếp

(1.0 điểm)

Phân tích nghĩa hàm ẩn trong câu nói của người thợ may: Nếu ngài mặc hầu quan trên thì vạt áo đằng trước phải may ngắn đi một tấc; còn nếu ngài mặc để tiếp dân đen thì vạt áo đằng sau phải may ngắn đi một tấc ạ! để từ đó làm rõ mục đích trào phúng của truyện.

Bài đọc:

HAI KIỂU ÁO

       Một ông quan lớn đến hiệu may, may một cái áo thật sang để tiếp khách. Biết quan xưa nay nổi tiếng luồn cúi kẻ trên, hách dịch với dân, người thợ may liền hỏi:

       – Xin quan lớn cho biết ngài may chiếc áo này để tiếp ai ạ?

       Quan cau mày lại hỏi:

       – Nhà ngươi muốn biết như thế để làm ?

       Người thợ may liền đáp:

       – Thưa, con hỏi thế để may cho vừa. Nếu ngài mặc hầu quan trên thì vạt áo đằng trước phải may ngắn đi một tấc; còn nếu ngài mặc để tiếp dân đen thì vạt áo đằng sau phải may ngắn đi một tấc !

       Quan ngẫm nghĩ một hồi, gật gù cho là chí lí và truyền:

       – Thế thì ngươi may cho ta cả hai kiểu.

(Truyện cười dân gian Việt Nam)

*Tấc: đơn vị đo chiều dài thời cổ của Việt Nam, một tấc bằng khoảng 10 cm.

1

HAI KIỂU ÁO
Có ông quan lớn đến hiệu may để may một cái áo thật sang tiếp khách. Biết quan xưa nay nổi tiếng luôn cúi quan trên, hách dịch với dân, người thợ may bèn hỏi:
Xin quan lớn cho biết ngài may chiếc áo này để tiếp ai ạ ?
Quan lớn ngạc nhiên:
- Nhà ngươi biết để làm gì ?
Người thợ may đáp:
Thưa ngài, con hỏi để may cho vừa. Nếu ngài mặc hầu quan trên thì vạt đằng trước phải may ngắn đi dăm tấc, còn nếu ngài mặc để tiếp dân đen, thì vạt đằng sau phải may ngắn lại.
Quan ngẫm nghĩ một hồi rồi bảo:
Thế thì nhà ngươi may cho ta cả hai kiểu.

28 tháng 9 2025

Dòng thơ “Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng” gợi lên niềm tin và hy vọng về một mùa xuân mới, tượng trưng cho sự khởi đầu tươi sáng và đổi thay trong cuộc sống. Niềm hi vọng chính là nguồn động lực mạnh mẽ giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách. Khi ta có niềm tin vào tương lai tốt đẹp, dù gặp bao gian nan vẫn không dễ dàng bỏ cuộc. Niềm hi vọng giúp tâm hồn ta vững vàng, lạc quan và luôn hướng về phía trước. Chính vì thế, dù cuộc đời có nhiều biến động, ta vẫn cần giữ lấy niềm hi vọng để tìm thấy ý nghĩa và sức mạnh sống. Niềm hi vọng như ngọn đèn soi sáng trong bóng tối, giúp ta không ngừng nỗ lực và tin tưởng vào ngày mai.

21 tháng 12 2025

Câu thơ "Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng". Gợi lên hi vọng mùa xuân mới sẽ khiến cuộc sống trở lên tốt đẹp hơn. Giúp người dân có thêm động lực để vượt qua cuộc sống khó khăn hiện tại . Nuôi dưỡng cho người dân tinh thần lạc quan tin tưởng vào những điều tốt đẹp sẽ đến. Tiếng pháo ấy giúp người dân tiếp thêm sức mạnh để mỗi ngày sẽ trở lên tốt đẹp hơn. Giúp mọi người vươn lên làm cho cuộc sống ngày một tốt đẹp

(1 điểm) Tác phẩm gợi cho em suy nghĩ gì về trách nhiệm và hành động của tầng lớp học sinh, sinh viên, trí thức đối với đất nước trong thời đại ngày nay? Bài đọc: ​Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai, Cũng gọi ông nghè có kém ai. Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng, Nét son điểm rõ mặt văn khôi. Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ? Cái giá khoa danh ấy mới hời! Ghế tréo lọng xanh ngồi...
Đọc tiếp

(1 điểm)

Tác phẩm gợi cho em suy nghĩ gì về trách nhiệm và hành động của tầng lớp học sinh, sinh viên, trí thức đối với đất nước trong thời đại ngày nay?

Bài đọc:

Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai,

Cũng gọi ông nghè có kém ai.

Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,

Nét son điểm rõ mặt văn khôi.

Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?

Cái giá khoa danh ấy mới hời!

Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh choẹ,

Nghĩ rằng đồ thật, hoá đồ chơi!

(Vịnh tiến sĩ giấy, bài 2, “Thơ văn Nguyễn Khuyến”)

* Nguyễn Khuyến (1835 – 1909): quê ở xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Thuở nhỏ tuy nhà nghèo nhưng rất hiếu học, thông minh, chăm chỉ. Sau này đi thi, ông đỗ đầu cả ba kì Hương, Hội, Đình nên tục gọi Tam Nguyên Yên Đổ. Nguyễn Khuyến làm quan khoảng mười năm, nổi tiếng thanh liêm. Đến khi thực dân Pháp đánh chiếm nước ta, ông cáo quan về ở ẩn, nhưng trong lòng vẫn tha thiết tâm sự yêu nước và nỗi niềm u uẩn trước thời thế.

1. Tiến sĩ giấy: hình nộm ông tiến sĩ làm bằng giấy, một trong những đồ chơi quen thuộc của trẻ em xưa, thường được bán vào dịp tết Trung thu. Làm loại đồ chơi này, người ta có ý khơi dậy ở trẻ em lỏng ham học và ý thức phấn đấu theo con đường khoa cử.

2. Biển: tấm gỗ sơn son thếp vàng có khắc bốn chữ “ân tứ vinh quy”.

3. Cân đai: cân là cái khăn, đai là cái vòng đeo ngang lưng ở ngoài áo chầu.

4. Nghè: tiến sĩ (theo cách gọi dân gian).

5. Giáp bảng: bảng hạng cao nhất, công bố kết quả thi cử ngày xưa.

6. Văn khôi: người đứng đầu làng văn.

7. Bảnh chọe: chỉ dáng vẻ oai vệ cùng lối ăn mặc đầy tính trưng diện.

7
18 tháng 12 2025

gợi cho thế hệ học sinh,sinh viên về trách nghiệm nhìn nhận lại thực tại dũng cảm nhìn thẳng vào tình hình của đất nước phê phán sự trì trệ lố lăng và đặc biệt là tự vấn để hành động cống hiến bằng tài năng trí tuệ không chấp nhận thân phận lô lệ tinh thần,phải vươn lên vực dậy đất nước giống như lời kêu gọi ngoảnh cổ mà trong cảnh nước nhà

21 tháng 12 2025

1. Trách nhiệm học tập & rèn luyện: Nâng cao tri thức: Tiếp thu kiến thức khoa học công nghệ, làm chủ tương lai, không ngừng học hỏi như tấm gương Bác Hồ, thần đồng Đỗ Nhật Nam. Rèn luyện đạo đức: Sống có lý tưởng, hoài bão, biết yêu thương đồng bào, đoàn kết, và cống hiến cho lợi ích chung. 2. Trách nhiệm với Tổ quốc: Dấn thân, cống hiến: Tích cực tham gia tình nguyện, công ích, mang tài năng ra quốc tế, như những tấm gương anh hùng liệt sĩ. Giữ gìn bản sắc: Trân trọng và phát huy văn hóa dân tộc, sử dụng Tiếng Việt trong sáng, phê phán những biểu hiện lai căng, mất gốc. 3. Hành động cụ thể trong thời đại mới: Sáng tạo & Tiên phong: Trở thành thế hệ đi đầu, đưa đất nước phát triển, hội nhập, không ngại khó khăn. Lên án lối sống tiêu cực: Phê phán sự lười biếng, ích kỷ, sống vô trách nhiệm; đấu tranh với những văn hóa phẩm độc hại. 4. Nguồn cảm hứng từ tác phẩm (ví dụ): Nhật ký Đặng Thùy Trâm: Thể hiện sự dấn thân, lý tưởng sống cao đẹp, hy sinh vì dân tộc. Những tấm gương anh hùng: Truyền lửa yêu nước, tinh thần xả thân bảo vệ Tổ quốc. Tóm lại, mỗi tác phẩm sẽ khơi gợi những suy nghĩ sâu sắc về việc học, hành, cống hiến để xây dựng đất nước phồn vinh, giàu mạnh, xứng đáng với truyền thống vẻ vang của dân tộc, nhất là đối với thế hệ trẻ đầy nhiệt huyết.


(1 điểm) Xác định nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn trong hai câu thơ sau: “Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng, Nét son điểm rõ mặt văn khôi.” Bài đọc: Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai, Cũng gọi ông nghè có kém ai. Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng, Nét son điểm rõ mặt văn khôi. Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ? Cái giá khoa danh ấy mới hời! Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh choẹ, Nghĩ...
Đọc tiếp

(1 điểm)

Xác định nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn trong hai câu thơ sau:

“Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,

Nét son điểm rõ mặt văn khôi.”

Bài đọc:

Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai,

Cũng gọi ông nghè có kém ai.

Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,

Nét son điểm rõ mặt văn khôi.

Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?

Cái giá khoa danh ấy mới hời!

Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh choẹ,

Nghĩ rằng đồ thật, hoá đồ chơi!

(Vịnh tiến sĩ giấy, bài 2, “Thơ văn Nguyễn Khuyến”)

* Nguyễn Khuyến (1835 – 1909): quê ở xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Thuở nhỏ tuy nhà nghèo nhưng rất hiếu học, thông minh, chăm chỉ. Sau này đi thi, ông đỗ đầu cả ba kì Hương, Hội, Đình nên tục gọi Tam Nguyên Yên Đổ. Nguyễn Khuyến làm quan khoảng mười năm, nổi tiếng thanh liêm. Đến khi thực dân Pháp đánh chiếm nước ta, ông cáo quan về ở ẩn, nhưng trong lòng vẫn tha thiết tâm sự yêu nước và nỗi niềm u uẩn trước thời thế.

1. Tiến sĩ giấy: hình nộm ông tiến sĩ làm bằng giấy, một trong những đồ chơi quen thuộc của trẻ em xưa, thường được bán vào dịp tết Trung thu. Làm loại đồ chơi này, người ta có ý khơi dậy ở trẻ em lỏng ham học và ý thức phấn đấu theo con đường khoa cử.

2. Biển: tấm gỗ sơn son thếp vàng có khắc bốn chữ “ân tứ vinh quy”.

3. Cân đai: cân là cái khăn, đai là cái vòng đeo ngang lưng ở ngoài áo chầu.

4. Nghè: tiến sĩ (theo cách gọi dân gian).

5. Giáp bảng: bảng hạng cao nhất, công bố kết quả thi cử ngày xưa.

6. Văn khôi: người đứng đầu làng văn.

7. Bảnh chọe: chỉ dáng vẻ oai vệ cùng lối ăn mặc đầy tính trưng diện.

5
18 tháng 12 2025

nghĩa tường minh là mô tả vật chất còn nghĩa hàm ẩn là tôn vinh kết quả học tập đỗ đạt của người sĩ tử cho thấy giá trị của tri thức và sự thành công qua kỳ thi khoa cử

21 tháng 12 2025

Nghĩa tường minh (nghĩa đen): "Mảnh giấy làm nền thân giáp bảng": Tấm thân của con rối (tiến sĩ giấy) được làm từ một tờ giấy. "Giáp bảng" là danh hiệu cao nhất trong thi cử ngày xưa, ở đây dùng để chỉ tấm bằng Tiến sĩ. "Nét son điểm rõ mặt Văn khôi": Những đường nét vẽ bằng son (màu đỏ) trên mặt giấy đã tạo hình cho khuôn mặt của "ông tiến sĩ", "Văn khôi" là người đỗ đầu, đứng đầu trong khoa cử. Tóm lại: Tường minh là miêu tả một món đồ chơi trẻ con, một hình nộm làm bằng giấy, có đủ nét "giáp bảng" và "văn khôi" như thật. 2. Nghĩa hàm ẩn (nghĩa bóng): Phê phán thực trạng xã hội: Tác giả (Nguyễn Khuyến) mượn hình ảnh tiến sĩ giấy để châm biếm sâu cay chế độ thi cử suy đốn, nơi danh hiệu cao quý bị mua bán, coi thường. Những "ông tiến sĩ" thực chất có thể chỉ là những kẻ "giấy". Chê bai những kẻ giả dối: Những kẻ dù có được "giấy" (bằng cấp, danh vị) nhưng không có tài năng thực sự, chỉ là "nét son" (vẻ ngoài hào nhoáng) che đậy sự trống rỗng bên trong, không xứng đáng với danh hiệu "Văn khôi". Nỗi u uẩn: Phản ánh nỗi buồn, sự bất lực của nhà thơ trước thực trạng xã hội phong kiến suy tàn, nền học vấn bị vẩn đục, và sự coi nhẹ giá trị tri thức đích thực, theo bài thơ Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến.