PHẦN I. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN (4.0 điểm )

K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

PHẦN I. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN (4.0 điểm )

Đọc văn bản sau:

               NHÀN             

Một mai(1), một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai(2) vui thú nào
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao 
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Rượu, đến cội cây(3), ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý, tựa chiêm bao(4).

                     (Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập II)

* Chú thích:

(1) Mai: dụng cụ đào đất, xới đất.

(2) Dầu ai: mặc cho ai, dù ai có cách vui thú nào cũng mặc, tôi cứ thơ thẩn (giữa cuộc đời này).

(3) Cội cây: gốc cây.

(4) Hai câu 7 và 8: tác giả có ý dẫn điển Thuần Vu Phần uống rượu say nằm ngủ dưới gốc cây hòe, rồi mơ thấy mình ở nước Hòe An được công danh phú quý rất mực vinh hiển. Sau bừng mắt tỉnh dậy thì hóa ra đó là giấc mộng, thấy dưới cánh hoè phía nam chỉ có một tổ kiến mà thôi. Từ đó điển này có ý: Phú quý chỉ là một giấc chiêm bao.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: 

Câu 1 (0.5 điểm): Xác định thể thơ của văn bản trên.

Câu 2 (0.75 điểm): Chỉ ra những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả.

Câu 3 (0.75 điểm): Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê có trong hai câu thơ sau:

Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Câu 4 (1.0 điểm): Quan niệm dại – khôn của tác giả trong hai câu thơ sau có gì đặc biệt?

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao

Câu 5 (1.0 điểm): Từ văn bản trên, anh/chị cảm nhận như thế nào về vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm? (Viết đoạn văn ngắn khoảng 5 – 7 dòng)  

20
4 tháng 3 2024

Câu 1. Thể thơ: thất ngôn bát cú Đường luật.

Câu 2. Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả: ăn măng trúc, ăn giá, tắm hồ sen, tắm ao.

Câu 3:

– Biện pháp tu từ liệt kê: Một mai, một cuốc, một cần câu.

– Tác dụng:

+ Tạo sự cân xứng, nhịp nhàng, hài hòa cho lời thơ.

+ Nhấn mạnh: sự lựa chọn phương châm sống, cách ứng xử của tác giả – chọn lối sống tĩnh tại, an nhàn; vừa thể hiện sắc thái trào lộng, mỉa mai đối với cách sống ham danh vọng, phú quý…

Câu 4:

Quan niệm khôn – dại của tác giả:

– Dại: “tìm nơi vắng vẻ” – nơi tĩnh tại của thiên nhiên, thảnh thơi của tâm hồn.

– Khôn: “đến chốn lao xao” – chốn cửa quyền bon chen, thủ đoạn sát phạt.

=> Đó là một cách nói ngược: khôn mà khôn dại, dại mà dại khôn của tác giả.

Câu 5:

Là người sống giản dị, thanh bạch.

– Là người có trí tuệ, cốt cách thanh cao.

– Là người bản lĩnh: coi thường danh lợi.

7 tháng 3 2024

Câu 1. Thể thơ: thất ngôn bát cú Đường luật.

Câu 2. Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả: ăn măng trúc, ăn giá, tắm hồ sen, tắm ao.

Câu 3:

– Biện pháp tu từ liệt kê: Một mai, một cuốc, một cần câu.

– Tác dụng:

+ Tạo sự cân xứng, nhịp nhàng, hài hòa cho lời thơ.

+ Nhấn mạnh: sự lựa chọn phương châm sống, cách ứng xử của tác giả – chọn lối sống tĩnh tại, an nhàn; vừa thể hiện sắc thái trào lộng, mỉa mai đối với cách sống ham danh vọng, phú quý…

Câu 4:

Quan niệm khôn – dại của tác giả:

– Dại: “tìm nơi vắng vẻ” – nơi tĩnh tại của thiên nhiên, thảnh thơi của tâm hồn.

– Khôn: “đến chốn lao xao” – chốn cửa quyền bon chen, thủ đoạn sát phạt.

=> Đó là một cách nói ngược: khôn mà khôn dại, dại mà dại khôn của tác giả.

=>Thái độ tự tin vào sự lựa chọn của bản thân và hóm hỉnh mỉa mai quan niệm sống bon chen của thiên hạ.

Câu 5:

Một số gợi ý:

– Là người sống giản dị, thanh bạch.

– Là người có trí tuệ, cốt cách thanh cao.

– Là người bản lĩnh: coi thường danh lợi.

6 tháng 3 2024

Câu 1. Thể thơ: thất ngôn bát cú Đường luật.

Câu 2. Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả: ăn măng trúc, ăn giá, tắm hồ sen, tắm ao.

Câu 3:

– Biện pháp tu từ liệt kê: Một mai, một cuốc, một cần câu.

– Tác dụng:

+ Tạo sự cân xứng, nhịp nhàng, hài hòa cho lời thơ.

+ Nhấn mạnh: sự lựa chọn phương châm sống, cách ứng xử của tác giả – chọn lối sống tĩnh tại, an nhàn; vừa thể hiện sắc thái trào lộng, mỉa mai đối với cách sống ham danh vọng, phú quý…

Câu 4:

Quan niệm khôn – dại của tác giả:

– Dại: “tìm nơi vắng vẻ” – nơi tĩnh tại của thiên nhiên, thảnh thơi của tâm hồn.

– Khôn: “đến chốn lao xao” – chốn cửa quyền bon chen, thủ đoạn sát phạt.

=> Đó là một cách nói ngược: khôn mà khôn dại, dại mà dại khôn của tác giả.

=>Thái độ tự tin vào sự lựa chọn của bản thân và hóm hỉnh mỉa mai quan niệm sống bon chen của thiên hạ.

Câu 5:

Một số gợi ý:

– Là người sống giản dị, thanh bạch.

– Là người có trí tuệ, cốt cách thanh cao.

– Là người bản lĩnh: coi thường danh lợi.

 
6 tháng 3

Câu 1

Thể thơ trên thuộc thể thơ: thất ngôn bát cú đường luật

Câu 2 Chỉ ra những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả.

Một mai, một cuốc, một cần câu": Thể hiện cuộc sống lao động giản đơn, tự cung tự cấp, gần gũi với thiên nhiên. "Thu ăn măng trúc, đông ăn giá": Nói về việc ăn uống đạm bạc, mùa nào thức nấy, tận hưởng sản vật tự nhiên sẵn có. "Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao": Mô tả nơi tắm rửa dân dã, không cầu kỳ, hòa mình vào thiên nhiên. "Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống": Thể hiện sự ung dung, tự tại, tiêu dao, không vướng bận danh lợi.


6 tháng 3

Câu1: thơ lục bát

Câu2: một mai ; một cuốc; một cần câu

Câu3:

Biện pháp tu từ liệt kê trong hai câu thơ "Một mai, một cuốc, một cần câu / Thơ thẩn dầu ai vui thú nào" là:

  • Chỉ ra: Hình ảnh "một mai, một cuốc, một cần câu". 
  • Tác dụng: Nhấn mạnh cuộc sống đạm bạc, thanh cao, hòa mình vào thiên nhiên của tác giả, đối lập với cuộc sống bon chen, danh lợi chốn phồn hoa đô thị. Điều này thể hiện quan niệm sống ung dung, tự tại, giữ gìn cốt cách thanh sạch của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Câu4:

Giải thích: Thông thường, người ta coi "khôn" là tìm đến nơi giàu sang, quyền lực ("chốn lao xao"), còn "dại" là sống nơi vắng vẻ, nghèo khổ ("nơi vắng vẻ"). Tuy nhiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm lại tự nhận mình "dại" khi tìm nơi vắng vẻ để giữ cốt cách thanh cao, tránh xa những cám dỗ, thị phi của cuộc đời. Ngược lại, ông cho rằng người "khôn" lại là những người lao vào chốn danh lợi, bon chen, mà theo quan niệm của ông, đó là sự u mê, không nhìn thấu lẽ đời. 

Câu5: Bài làm

Từ văn bản trên, ta cảm nhận được vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua lối sống giản dị, không màng phú quý. Ông chọn cuộc sống ẩn dật, "nơi vắng vẻ" để giữ gìn phẩm chất thanh sạch, tránh xa những bon chen, thị phi của chốn quan trường. Quan niệm "dại – khôn" độc đáo của ông thể hiện trí tuệ sáng suốt, cái nhìn sâu sắc về lẽ đời, đồng thời bộc lộ bản lĩnh kiên cường, giữ vững khí tiết của một bậc hiền triết giữa thời loạn lạc. 


Câu 1.Văn bản trên được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.

Câu 2.Những hình ảnh thể hiện nét sinh hoạt đạm bạc, thanh cao của tác giả:

  • “Một mai, một cuốc, một cần câu”
  • “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá”
  • “Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”
    → Thể hiện cuộc sống giản dị, hòa hợp với thiên nhiên, không màng vật chất.

Câu 3.Biện pháp tu từ liệt kê trong hai câu thơ:

“Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”.

Tác dụng:

  • Nhấn mạnh những vật dụng lao động giản dị của tác giả.
  • Gợi lên cuộc sống bình dị, tự do, thanh thản nơi thôn quê.
  • Thể hiện thái độ không chạy theo thú vui, danh lợi của người đời.

Câu 4.Quan niệm dại – khôn của tác giả rất đặc biệt và mang tính đối lập:

  • Tác giả tự nhận mình “dại” vì chọn sống ở nơi vắng vẻ, tránh xa danh lợi.
  • Còn người đời được cho là “khôn” lại tìm đến chốn lao xao, bon chen.

→ Thực chất đây là cách nói ngược ý, thể hiện quan niệm sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm: coi thường danh lợi, thích cuộc sống thanh nhàn, yên bình.

Câu 5.

Qua bài thơ “Nhàn” của tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm , ta thấy ông là người có nhân cách thanh cao. Ông chọn cuộc sống giản dị, hòa hợp với thiên nhiên và không chạy theo danh lợi. Tác giả coi phú quý chỉ như một giấc mộng nên giữ cho mình tâm hồn thanh thản. Điều đó thể hiện lối sống ung dung, trong sạch và đáng kính.




6 tháng 3

Câu 1 (0.5 điểm): Văn bản được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.

Câu 2 (0.75 điểm): Những hình ảnh thể hiện nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả: “Một mai, một cuốc, một cần câu” “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá” “Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” “Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống” → Những hình ảnh này cho thấy cuộc sống giản dị, hòa hợp với thiên nhiên, không màng danh lợi.

Câu 3 (0.75 điểm): Biện pháp tu từ liệt kê trong câu: “Một mai, một cuốc, một cần câu”. Tác dụng: Liệt kê các dụng cụ lao động quen thuộc. Gợi lên cuộc sống lao động giản dị, thanh nhàn của tác giả. Thể hiện tâm thế ung dung, tự tại,

không màng danh lợi.

Câu 4 (1.0 điểm): Hai câu thơ: “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn, người đến chốn lao xao” → Quan niệm dại – khôn của tác giả rất đặc biệt: Tác giả tự nhận mình “dại” khi chọn sống nơi vắng vẻ, tránh xa danh lợi. Thực chất đó là cái “khôn” của người hiểu rõ cuộc đời, muốn giữ nhân cách thanh cao. Ngược lại, những người chạy theo danh lợi nơi “lao xao” tưởng là khôn nhưng lại là “dại”.

Câu 5 (1.0 điểm): Qua bài thơ, ta thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có nhân cách cao đẹp. Ông sống giản dị, hòa hợp với thiên nhiên và không màng danh lợi. Tác giả lựa chọn cuộc sống thanh nhàn, tránh xa chốn quan trường ồn ào để giữ gìn phẩm chất thanh cao. Đồng thời, ông cũng thể hiện thái độ coi thường phú quý, xem đó chỉ như giấc mộng. Điều này cho thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có trí tuệ, bản lĩnh và tâm hồn thanh cao.


6 tháng 3

Câu 1 thất ngôn bát cú đường luật


6 tháng 3

Câu 1:

thể thơ của văn bản trên là thất ngôn bát cú Đường luật

Câu 2:

hình ảnh "thu ăn măng trúc, đông ăn giá", "hè tắm mát, đông đắp chăn''

Câu 3:

Biện pháp tu từ liệt kê

Biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong câu thơ "Một mai, một cuốc, một cần câu".

Tác dụng:

Làm nổi bật những công cụ lao động quen thuộc, đơn sơ, gắn bó với cuộc sống điền viên của tác giả.Gợi lên cuộc sống nhàn tản, tự do, thanh thản của tác giả, tách biệt khỏi chốn quan trường bon chen.Nhấn mạnh thái độ sống ung dung, không so đo với thú vui của người đời.

Câu 4:

Quan niệm sống "dại - khôn" đảo ngược cách nghĩ thông thường

Quan niệm này có điểm đặc biệt là sự đảo ngược:

Tác giả tự nhận mình là "dại" khi rời bỏ chốn quan trường, tìm nơi vắng vẻ để sống.Người đời cho là "khôn" thì lại lao vào chốn "lao xao" (nơi ồn ào, đông đúc, bon chen vì danh lợi).

Thực chất, cái "dại" của tác giả lại là sự khôn ngoan, vì giúp ông tránh được sự xô bồ, mệt mỏi của cuộc sống công danh, giữ được cốt cách thanh cao và sự an nhiên trong tâm hồn. Đây là triết lí sống sâu sắc của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Câu 5:

Qua văn bản "Nhàn", ta cảm nhận được vẻ đẹp nhân cách cao quý của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đó là một con người sống thanh cao, giản dị, không màng danh lợi, phú quý. Ông tìm thấy niềm vui trong lao động và hòa hợp với thiên nhiên, coi thường cuộc sống xô bồ, bon chen của thế tục. Lối sống "nhàn" của tác giả thể hiện trí tuệ, bản lĩnh và sự tỉnh táo phi thường trước thời cuộc, một nhân cách khiến người đọc phải cảm phục và trân trọng.

10 tháng 3

Câu 1
Văn bản được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.

Câu 2
Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả là:

  • Một mai, một cuốc, một cần câu
  • Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
  • Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
  • Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống

→ Những hình ảnh này thể hiện cuộc sống giản dị, hòa hợp với thiên nhiên, không màng vật chất.

Câu 3

  • Biện pháp tu từ: Liệt kê: “một mai, một cuốc, một cần câu”.
  • Tác dụng:
    • Gợi lên những vật dụng quen thuộc của người lao động, cuộc sống giản dị nơi thôn quê.
    • Thể hiện phong thái ung dung, nhàn nhã của tác giả khi rời xa danh lợi.
    • Làm nổi bật lối sống thanh cao, gần gũi với thiên nhiên của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Câu 4
Quan niệm dại – khôn của tác giả rất đặc biệt:

  • Theo lẽ thường, “khôn” là tìm nơi đông đúc để mưu cầu danh lợi; “dại” là sống ở nơi vắng vẻ.
  • Nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm lại cho rằng “dại” là tránh xa chốn bon chen, giữ cuộc sống thanh thản, còn “khôn” là chạy theo danh lợi, chốn lao xao.

→ Đây là cách nói ngược nghĩa, mang tính triết lí, thể hiện thái độ coi thường danh lợi và đề cao cuộc sống thanh nhàn.

Câu 5

Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên với vẻ đẹp nhân cách thanh cao và lối sống giản dị. Ông lựa chọn cuộc sống nhàn tản, tránh xa chốn quan trường đầy bon chen và danh lợi. Qua những hình ảnh sinh hoạt bình dị như ăn măng trúc, tắm hồ sen hay uống rượu dưới gốc cây, ta thấy một con người hòa hợp với thiên nhiên và giữ tâm hồn thanh thản. Đồng thời, ông cũng bộc lộ thái độ coi thường phú quý, xem danh lợi chỉ như một giấc mộng. Điều đó cho thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có nhân cách cao đẹp, sống thanh cao và giàu triết lí sống.

6 tháng 3

Câu 1: Xác định thể thơ


• Thể thơ của văn bản: Thất ngôn bát cú Đường luật.


Câu 2: Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt đạm bạc, thanh cao


Những hình ảnh tái hiện cuộc sống thuần hậu, tự cung tự cấp và gắn liền với thiên nhiên của tác giả là:


• Công cụ lao động: Một mai, một cuốc, một cần câu (trạng thái sẵn sàng của một lão nông tri điền).


• Thức ăn theo mùa (mùa nào thức nấy): Măng trúc (mùa thu), giá (mùa đông).


• Sinh hoạt gắn liền với thiên nhiên: Tắm hồ sen (mùa xuân), tắm ao (mùa hạ).


• Thú vui tao nhã: Rượu đến cội cây ta sẽ uống.


Câu 3: Biện pháp tu từ liệt kê và tác dụng


• Chỉ ra: Biện pháp liệt kê qua các danh từ: "mai", "cuốc", "cần câu" kết hợp với điệp từ "một".


• Tác dụng: * Tạo nhịp điệu thong dong, chậm rãi cho câu thơ.


• Khẳng định tư thế chủ động, sẵn sàng hòa nhập vào cuộc sống lao động chân tay như một người nông dân thực thụ.


• Thể hiện sự gắn bó, yêu mến cuộc sống giản dị, tách biệt khỏi vòng danh lợi.


Câu 4: Quan niệm "dại – khôn" đặc biệt của tác giả


Quan niệm này mang tính chất triết lý ngược đời và đầy mỉa mai:


• Cái "dại" của tác giả: Tìm đến "nơi vắng vẻ" – nơi không có tranh giành, bon chen để giữ gìn sự thanh thản trong tâm hồn. Đây thực chất là cái "khôn" của một bậc đại trí.


• Cái "khôn" của người đời: Đến "chốn lao xao" – nơi cửa quyền, nhiều cạm bẫy và sự đố kỵ. Tác giả gọi đó là "khôn" nhưng thực chất là ngầm ý phê phán sự mù quáng vì công danh mà đánh mất bản ngã.


• Kết luận: Cách nói ngược này khẳng định bản lĩnh, sự tỉnh táo và thái độ sống cao thượng của Nguyễn Bỉnh Khiêm trước thói đời.


Câu 5: Cảm nhận về vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm


Qua bài thơ "Nhàn", ta thấy hiện lên một nhân cách cao đẹp của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đó là một con người trọng nghĩa khinh tài, luôn giữ cho mình sự thanh sạch, không màng danh lợi phù hoa. Ông chọn lối sống hòa hợp với thiên nhiên, tìm thấy hạnh phúc trong sự giản dị, đạm bạc nhưng tâm hồn luôn thảnh thơi. Đặc biệt, nhân cách ấy còn tỏa sáng ở sự thông tuệ, tỉnh táo trước những cám dỗ của xã hội, khẳng định một bản lĩnh văn sĩ cứng cỏi: thà làm "người dại" giữ mình còn hơn làm "người khôn" trong vòng xoáy bụi trần.


Câu 1: Nghị luận xã hội về lối sống chủ động


Trong thời đại kỷ nguyên số biến đổi không ngừng, lối sống chủ động chính là "chiếc chìa khóa vàng" để mỗi cá nhân mở cánh cửa thành công. Sống chủ động là khả năng tự kiểm soát, tự định hướng cuộc đời mà không đợi hoàn cảnh hay người khác thúc đẩy.


• Tầm quan trọng: Người chủ động luôn trong tư thế sẵn sàng đón nhận cơ hội và đối mặt với thách thức. Họ không thụ động ngồi chờ "may mắn" mà tự tạo ra giá trị cho bản thân thông qua việc tự học, rèn luyện kỹ năng và mở rộng tư duy.


• Giá trị thực tế: Lối sống này giúp chúng ta làm chủ thời gian, giảm bớt áp lực và sự lo âu khi đối mặt với những biến cố bất ngờ. Trong công việc, người chủ động luôn được đánh giá cao bởi sự sáng tạo và tinh thần trách nhiệm.


• Bài học: Ngược lại, nếu sống thụ động, chúng ta sẽ dễ dàng bị đào thải hoặc trở thành "bản sao" mờ nhạt của người khác.


Để rèn luyện, mỗi bạn trẻ cần bắt đầu từ những việc nhỏ nhất như lập kế hoạch mỗi ngày, dám lên tiếng bảo vệ quan điểm và không ngừng trau dồi kiến thức. Hãy nhớ rằng: "Con tàu không chìm vì nước vây quanh nó, nó chỉ chìm khi nước tràn vào bên trong". Chủ động chính là cách bạn xây dựng một "thân tàu" vững chãi để ra khơi.


Câu 2: Cảm nhận bài thơ "Cảnh ngày hè" của Nguyễn Trãi


Nguyễn Trãi không chỉ là một nhà quân sự lỗi lạc mà còn là một tâm hồn thi sĩ nhạy cảm, yêu thiên nhiên và tha thiết với cuộc đời. Bài thơ "Cảnh ngày hè" (Bảo kính cảnh giới số 43) là minh chứng rõ nét cho bức tranh thiên nhiên rực rỡ và tấm lòng "ưu quốc ái dân" của ông.


1. Bức tranh thiên nhiên ngày hè tràn đầy sức sống


Mở đầu bài thơ, Nguyễn Trãi hiện lên trong tâm thế tự tại: "Rồi hóng mát thuở ngày trường". Cụm từ "rồi" (rảnh rỗi) cho thấy một khoảnh khắc hiếm hoi nhà thơ được thảnh thơi sau những lo toan việc nước. Từ đó, cảnh sắc mùa hè hiện ra đầy ấn tượng:


• Sức sống mãnh liệt: Các động từ mạnh như "đùn đùn", "trương", "phun" cho thấy nhựa sống đang căng tràn, ứa căng từ bên trong cảnh vật. Màu xanh của cây hòe, màu đỏ của hoa lựu hòa quyện tạo nên một không gian đa sắc.


• Sự chuyển mình của thời gian: "Hồng liên trì đã tịn mùi hương". Hoa sen cuối mùa vẫn tỏa hương ngào ngạt, cho thấy sự tinh tế trong cảm nhận thính giác của tác giả.


2. Bản giao hưởng âm thanh cuộc sống


Không chỉ có sắc, cảnh ngày hè còn rộn rã âm thanh:


• Âm thanh đời thường: "Lao xao chợ cá làng ngư phủ". Tiếng họp chợ từ xa vọng lại gợi lên sự ấm no, thanh bình của làng quê.


• Âm thanh thiên nhiên: "Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương". Tiếng ve ngân vang như tiếng đàn trong buổi chiều tà, biến không gian trở nên sống động, không hề hiu hắt dù là lúc cuối ngày.


3. Tâm nguyện cao cả của bậc đại nhân


Hai câu kết là nhãn tự của toàn bài, chuyển từ tình cảm với thiên nhiên sang nỗi lòng với dân nước:


"Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng / Dân giàu đủ khắp đòi phương."




Tác giả mượn điển tích về khúc đàn của vua Thuấn để gửi gắm khát vọng của mình. Ông không mong gì cho bản thân, chỉ mong có được cây đàn thần để gảy lên khúc ca thái bình, cầu cho nhân dân khắp mọi miền được ấm no, hạnh phúc. Đây chính là tư tưởng "lấy dân làm gốc" xuyên suốt cuộc đời Nguyễn Trãi.




"Cảnh ngày hè" không chỉ vẽ nên một bức tranh thiên nhiên rực rỡ, sống động mà còn là bức chân dung tâm hồn cao khiết của Nguyễn Trãi. Qua thể thơ thất ngôn xen lục ngôn độc đáo, chúng ta thấy một vị anh hùng dù tro thao thức vì hạnh phú của nhân dân

8 tháng 3



Câu 1 :

- Văn bản được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.

Câu 2 :

- Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hằng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả là:

+ “ Một mai, một cuốc, một cần câu”

+ “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá”

+ “ Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

+ “ Rượu đến cội cây ta sẽ uống”

Câu 3 :

- Biện pháp tu từ liệt kê: “một mai, một cuốc, một cần câu”.

- Tác dụng:

+ Gợi lên các dụng cụ lao động quen thuộc của nhà nông.

+ Thể hiện cuộc sống giản dị, thanh nhàn của tác giả.

+ Qua đó cho thấy tâm hồn ung dung, hòa hợp với thiên nhiên, không màng danh lợi.

Câu 4 :

- Quan niệm dại – khôn của tác giả rất đặc biệt. Tác giả tự nhận mình “dại” khi chọn sống nơi vắng vẻ, tránh xa chốn bon chen danh lợi. Ngược lại, “người khôn” lại tìm đến nơi “lao xao” để tranh giành quyền quý. Thực chất, cái “dại” của tác giả lại là sự khôn ngoan, thể hiện thái độ coi thường danh lợi và mong muốn sống thanh thản, bình yên.

Câu 5 :

Qua bài thơ Nhàn, ta thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có nhân cách cao đẹp. Ông lựa chọn cuộc sống giản dị, hòa mình với thiên nhiên, tránh xa chốn danh lợi ồn ào. Những hình ảnh sinh hoạt đời thường cho thấy một cuộc sống thanh đạm nhưng đầy tự do và thanh thản. Đối với ông, phú quý chỉ như một giấc chiêm bao nên không đáng để theo đuổi. Qua đó, ta thấy được tâm hồn thanh cao và lối sống ung dung của tác giả.


8 tháng 3

Câu 1

Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.

Câu 2:

Những hình ảnh thể hiện nét sinh hoạt đạm bạc, thanh cao của tác giả:

-“Một mai, một cuốc, một cần câu”

-“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá”

-“Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”-

“Rượu đến cội cây, ta sẽ uống”

→ Những hình ảnh này cho thấy cuộc sống giản dị, hòa hợp với thiên nhiên, không màng danh lợi của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Câu 3:

Biện pháp tu từ: Liệt kê (“một mai, một cuốc, một cần câu”).

Tác dụng:

-Gợi lên những công cụ lao động quen thuộc, giản dị.

-Làm nổi bật cuộc sống bình dị, thanh nhàn của tác giả.

-Thể hiện thái độ ung dung, tự tại, không chạy theo thú vui của người đời.

Câu 4:

Quan niệm dại – khôn của tác giả rất đặc biệt:

-Tác giả tự nhận mình “dại” khi chọn sống nơi vắng vẻ, tránh xa danh lợi

-Nhưng thực chất đó lại là cái khôn của người hiểu đời, không bon chen nơi “chốn lao xao”.

→ Thể hiện lối sống ẩn dật, thanh cao, coi thường danh lợi.

Câu 5:

Qua bài thơ, ta thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có nhân cách thanh cao và lối sống giản dị. Ông lựa chọn cuộc sống hòa mình với thiên nhiên, tránh xa danh lợi và sự bon chen của chốn quan trường. Những hình ảnh sinh hoạt đời thường cho thấy tâm hồn ung dung, tự tại của tác giả. Quan niệm “dại – khôn” của ông cũng thể hiện trí tuệ sâu sắc và cái nhìn thấu hiểu cuộc đời. Vì vậy, Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên như một bậc trí giả sống thanh cao và đáng kính.


10 tháng 3

Câu 1:Văn bản được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.

Câu 2:Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt đạm bạc, thanh cao của tác giả:“Một mai, một cuốc, một cần câu”

+ Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

+“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá”

+ Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

-Những hình ảnh này thể hiện cuộc sống giản dị, hòa hợp với thiên nhiên, không màng danh lợi.

Câu 3: Biện pháp tu từ liệt kê trong câu: “Một mai, một cuốc, một cần câu”.

+Làm nổi bật tâm hồn ung dung,

+Gợi ra các dụng cụ lao động quen thuộc của người nông dân.

+Thể hiện cuộc sống giản dị, thanh nhàn của tác giả.

Câu 4: Quan niệm dại – khôn của tác giả rất đặc biệt

-Tác giả tự nhận mình “dại” khi tìm nơi vắng vẻ sống thanh nhàn.

-Nhưng thực chất đó lại là cái khôn của người hiểu đời, tránh xa chốn bon chen danh lợi.

-Thể hiện thái độ sống thanh cao, coi thường danh lợi.

Câu 5:Qua bài thơ, em cảm nhận được vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một con người sống thanh cao, giản dị và yêu thiên nhiên. Ông lựa chọn cuộc sống ẩn dật, tránh xa chốn quan trường đầy bon chen. Dù sống đạm bạc nhưng tâm hồn ông luôn ung dung, tự tại. Điều đó cho thấy ông là người coi thường danh lợi và giữ gìn phẩm giá của mình. Nhân cách ấy khiến người đọc thêm kính trọng và ngưỡng mộ.



Câu 1 Thể thơ: Thất ngôn bát cú Đường luật. Câu 2 Những hình ảnh thể hiện nếp sống đạm bạc, thanh cao của tác giả: • “Một mai, một cuốc, một cần câu” • “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá” • “Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”. Câu 3 Biện pháp liệt kê: “một mai, một cuốc, một cần câu”. → Tác dụng: Nhấn mạnh cuộc sống lao động giản dị, bình dị của tác giả và thể hiện niềm vui thanh nhàn, ung dung. Câu 4 Quan niệm dại – khôn của tác giả rất đặc biệt: Tác giả nhận mình “dại” khi chọn sống ở nơi vắng vẻ, tránh xa danh lợi, còn “người khôn” thì tìm đến chốn lao xao. Thực chất đây là cách nói ngược, thể hiện thái độ coi thường danh lợi và đề cao cuộc sống thanh nhàn, thanh cao. Câu 5: Từ bài thơ Nhàn, ta thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có nhân cách thanh cao và lối sống giản dị. Ông lựa chọn rời xa chốn quan trường đầy bon chen để sống hòa mình với thiên nhiên. Niềm vui của ông đến từ những điều bình dị như lao động, ăn uống đạm bạc và sinh hoạt gần gũi với thiên nhiên. Qua đó cho thấy ông là người coi nhẹ danh lợi, giữ gìn phẩm chất thanh sạch. Tâm hồn ông luôn ung dung, tự tại trước cuộc đời. Điều đó khiến người đọc thêm kính trọng nhân cách cao đẹp của ông.

16 tháng 3

Câu 1: Thất ngôn bát cú đường luật

Câu 2: Công cụ lao động, thức ăn ,sinh hoạt

Câu 3Phép liệt kê: "Một mai, một cuốc, một cần câu".

Tác dụng: Tạo nhịp điệu thong thả, khoan thai cho câu thơ. Nhấn mạnh sự chuẩn bị sẵn sàng, tư thế chủ động của tác giả khi về với cuộc sống thôn dã. Khẳng định vẻ đẹp trong lối sống nhàn tản, không chút vướng bận bụi trần của một bậc trí giả.

Câu 4:Quan niệm của Nguyễn Bỉnh Khiêm mang tính chất ngược đời (nghịch lí) nhưng đầy triết lí:

Ta dại: Tìm nơi "vắng vẻ" (nơi tĩnh lặng, thiên nhiên, không màng danh lợi). Cái "dại" ở đây thực chất là cái Khôn lớn của một người thấu hiểu sự đời, muốn bảo vệ nhân cách trong sạch. Người khôn: Đến "chốn lao xao" (nơi cửa quyền, tranh giành lợi lộc). Cái "khôn" này theo tác giả là sự quẩn quanh trong vòng danh lợi, dễ đánh mất bản tâm. => Cách nói ngược này nhằm phê phán xã hội đương thời và khẳng định lựa chọn sống thanh cao của bản thân.

Câu 5:Qua bài thơ, ta thấy hiện lên một Nguyễn Bỉnh Khiêm với nhân cách cao khiết và trí tuệ mẫn tiệp. Ông là một bậc đại trí đã thấu triệt quy luật của cuộc đời, từ đó chọn cho mình lối sống hòa hợp với thiên nhiên, xa rời vòng danh lợi phù phiếm. Vẻ đẹp ấy không chỉ nằm ở sự đạm bạc trong sinh hoạt mà còn ở bản lĩnh giữ mình trong sạch, không màng tiền tài, quyền lực. Nhân cách của ông là biểu tượng cho cốt cách thanh cao của nhà nho chân chính, luôn giữ vững thiên lương giữa cuộc đời biến động.



16 tháng 3

Câu1: thể thơ trong văn bản: thất ngôn bát cú Đường luật

Câu2: hình ảnh nói về nét sinh hoạt đạm bạc, thanh cao của tác giả:

+ một mai , một cuốc ,một cần câu

+ thu ăn măng trúc , đông ăn giá

+ xuân tắm hồ sen , hạ tắm ao

+ rượu ,đến cội cây , ta sẽ uống

Câu3: biện pháp tu từ liệt kê trong câu:một mai ,một quốc ,một cần câu

Tác dụng:

-nhấn mạnh những vật dụng lao động giản dị của người nông dân

-thể hiện cuộc sống thanh nhàn ,tự do ,gắn bó với thiên nhiên của tác giả

-gợi cảm giác ung dung bình ,dị và thoải mái

Câu 4:Hai câu thơ : ta dại ,ta tìm nơi vắng vẻ người khôn ,người đến chốn lao xao

-quan niệm dại - khôn mang ý nghĩa ngược đời:

+ Dại của tác giả là tránh xa danh lợi ,sống thanh nhàn ,yên bình

+ khôn của người đời là chạy theo danh lợi nơi ồn ào tranh giành

_Qua đó thể hiện cách nhìn sâu sắc và thái độ coi thường danh lợi của tác giả

Câu5:

Qua bài thơ Nhàn ta thấy Nguyễn bỉnh khiêm là người có nhân cách cao đẹp và tâm hồn thanh cao ông lựa chọn cuộc sống giản dị với thiên nhiên thay vì chạy ảnh như một mai , một cuốc , cho thấy cuộc sống bình dị tự do và thanh thản. Quan niệm ta dại ,ta tìm nơi vắng vẻ thể hiện thái độ coi nhẹ Quý phú để cao an nhiên trong tâm hồn điều đó cho thấy ông là người bản lĩnh sống khác với người đời.


16 tháng 3

Câu 1: Văn bản trên được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Câu 2: Những hình ảnh thể hiện nếp sống đạm bạc, thanh cao của tác giả: “Một mai, một cuốc, một cần câu” “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá” “Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” “Rượu đến cội cây ta sẽ uống” → Những hình ảnh này cho thấy cuộc sống giản dị, hòa hợp với thiên nhiên.

Câu 3: Biện pháp tu từ liệt kê: “Một mai, một cuốc, một cần câu”. Tác dụng: Nhấn mạnh những dụng cụ lao động quen thuộc của người nông dân, gợi lên cuộc sống giản dị, thanh nhàn, thể hiện thái độ ung dung và niềm vui với cuộc sống thôn quê của tác giả. Câu 4: Quan niệm dại – khôn của tác giả rất đặc biệt. Tác giả tự nhận mình “dại” khi chọn sống ở nơi vắng vẻ, tránh xa danh lợi; còn “người khôn” lại tìm đến chốn lao xao, bon chen. Qua đó cho thấy thực chất tác giả là người khôn ngoan, hiểu rõ giá trị của cuộc sống thanh nhàn và tránh xa danh lợi.

câu 5 (đoạn 5–7 dòng): Qua bài thơ, ta thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có nhân cách cao đẹp. Ông sống giản dị, hòa mình với thiên nhiên và không màng danh lợi. Tác giả lựa chọn cuộc sống thanh nhàn nơi thôn quê, tránh xa sự bon chen của chốn quan trường. Những thú vui như ăn măng trúc, tắm hồ sen, uống rượu dưới gốc cây cho thấy tâm hồn thanh cao, ung dung tự tại. Ông còn xem phú quý chỉ như một giấc chiêm bao. Điều đó thể hiện quan niệm sống sâu sắc và đáng trân trọng.

Câu 1

Thể thơ thất ngôn

21 tháng 3

Câu 1

Thất ngôn bát cú Đường luật

Câu2

Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả bao gồm: "Một mai, một cuốc, một cần câu", "Thu ăn măng trúc, đông ăn giá", "Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao", và "Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống

Câu 3

Tác dụng của biện pháp liệt kê: Gợi tả cuộc sống lao động, sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, giản dị, gần gũi với thiên nhiên của tác giả. Nhấn mạnh sự tự do, tự tại, thanh nhàn, không bị ràng buộc bởi danh lợi hay cuộc sống xô bồ nơi quan trường. Thể hiện quan niệm sống cao đẹp, vượt lên trên những ham muốn vật chất, giữ cốt cách thanh cao của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Kết hợp với điệp từ "một" và nhịp thơ chậm rãi (2/2/3), biện pháp liệt kê tạo nên âm điệu nhẹ nhàng, thư thái, gợi tả một cuộc sống yên bình, thong dong.

Câu 4

Quan niệm "dại khôn" của tác giả có sự đảo ngược so với lẽ thường. Theo lẽ thường, "khôn" là tìm nơi đông đúc, bon chen để mưu cầu danh lợi, còn "dại" là sống ở nơi vắng vẻ, tránh xa sự đời. Tuy nhiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm lại đưa ra một quan niệm khác biệt. Tác giả tự nhận mình là "dại" để tìm nơi vắng vẻ, sống cuộc sống thanh thản, giữ cho nhân cách thanh cao, trong sạch, tránh xa vòng danh lợi, thị phi. Ngược lại, tác giả cho rằng những người "khôn" là những người chạy theo danh lợi, bon chen nơi chốn lao xao, đầy cạm bẫy, vinh nhục lẫn lộn. Qua đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện triết lí sống của một bậc trí giả: lánh đục tìm trong, giữ sự thanh cao cho tâm hồn giữa xã hội đầy biến động.

Câu 5

Qua văn bản bài thơ "Nhàn", người đọc cảm nhận rõ nét vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm, một bậc hiền triết với lối sống thanh cao, thoát tục. Ông chủ động lựa chọn cuộc sống "nhàn" nơi vắng vẻ, hòa mình vào thiên nhiên với những thú vui dân dã như "Thu ăn măng trúc, đông ăn giá/ Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao", tránh xa chốn quan trường bon chen, đầy danh lợi. Thái độ "Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ/ Người khôn, người đến chốn lao xao" bộc lộ trí tuệ uyên thâm, cái "dại" thực chất là cái "khôn" của người có tầm nhìn xa, coi thường phú quý, danh vọng. Nhân cách ấy toát lên sự tự tại, giữ cốt cách trong sạch, không bị ràng buộc bởi những giá trị vật chất phù phiếm, xem "phú quý, tựa chiêm bao".

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi : “Một mai, một cuốc, một cần câu, Thơ thần dầu ai vui thú nào. Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao. Thu ăn năng trúc, đồng ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tầm ao. Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống, Nhìn xem phủ quý tựa chiêm bao." (Nhàn, Trang 128, Ngữ văn 10, Tapl NXBGDVN) đó? Câu 1 (0.5...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi : “Một mai, một cuốc, một cần câu, Thơ thần dầu ai vui thú nào. Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao. Thu ăn năng trúc, đồng ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tầm ao. Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống, Nhìn xem phủ quý tựa chiêm bao." (Nhàn, Trang 128, Ngữ văn 10, Tapl NXBGDVN) đó? Câu 1 (0.5 điểm): Xác định nhịp thơ ở câu thơ 1? Nêu tác dụng của cách ngắt nhịp Câu 2 ( .0 di tilde e m). Tìm biện pháp tu từ trong câu thơ 3 và 4? Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đó? Câu 3 (0.5 điểm): Triết lí sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm được thể hiện như thế nào qua hai câu kết của bài thơ? Câu 4 (1.0 di tilde e m) : Anh/chị hiểu như thế nào là nhàn? Quan niệm về chữ nhàn của tác giả trong bài thơ trên?

0
Một mai, một cuốc, một cần câu, Thơ thẩn dầu ai vui thú nào. Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao. Thu ăn năng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao. Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống, Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao. ( Nhàn- Nguyễn Bỉnh Khiêm, Theo Ngữ Văn 10, tập 1, tr 128, NXBGD, năm 2015) Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên. Câu 2. Xác định và...
Đọc tiếp

Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.
Thu ăn năng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống,
Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.

( Nhàn- Nguyễn Bỉnh Khiêm, Theo Ngữ Văn 10, tập 1, tr 128, NXBGD, năm 2015)

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên.

Câu 2. Xác định và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ:

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.

Câu 3. Bức tranh thôn quê hiện lên như thế nào trong cách nhìn của tác giả qua hai câu thơ?:

Thu ăn năng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.

Câu 4. Em hiểu như thế nào về lối sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ?

2
28 tháng 2 2020

1. Văn bản được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.

2.

- Sử dụng thành công nghệ thuật đối

+ Nhấn mạnh sự đối lập giữa hai không gian sống

_ Nơi vắng vẻ: ít người lại qua, không phải cầu cạnh, cũng chẳng phải đua chen, tranh giành với nhau.

->Thiên nhiên tĩnh lặng và trong sạch, con người được nghỉ ngơi và có cuộc sống thanh nhàn.

_ Chốn lao xao: nơi đô thi sầm uất, nhộn nhịp, náo nhiệt, tấp nập

->con người phải đua chen, giành giật, phải luồn cúi cầu cạnh

-> con người phải sống một cuộc sống thủ đoạn, căng thẳng, cuộc sống ẩn chứa rất nhiều nguy hiểm, luôn sống trong thấp thỏm, lo âu, bất an.

+ Nhấn mạnh sự đối lập của dại và khôn, sự đối lập giữa người với ta:

_ Dại: vận vào ta bởi vì ta đang tìm đến nơi vắng vẻ để sống, ta chọn khác với đám đông, khác với thói thường. Nhưng khi hiểu ra thì hóa ra lại không dại. Vì giữa lúc những kẻ lộng thần đang hoành hành, ta tìm về thiên nhiên để có được sự thanh thản.

->Dại mà hóa ra không dại.

_ Khôn vận vào người. Cứ tiếp tục sống cuộc sống đua chen, tranh giành sẽ đánh mất nhân phẩm. Nếu ta cứ sóng ở chốn lao xao ấy sẽ đánh mất mình, tạo nên xã hội đại loạn.

->Khôn mà hóa ra không phải khôn.

3.

- Nghệ thuật đối: tác giả dựng lên bức tranh tứ bình xuân hạ thu đông

-> Gợi nhịp điệu tuần hoàn của thời gian đều đặn, thong thả.

-> Gợi ra tâm thế chủ động, ung dung, thoải mái khi tác giả hòa hợp nhịp sống của mình với nhịp điệu chảy trôi của thời gian.

- Điệp từ: lặp lại hai lần động từ “ăn” và “tắm”

-> Tất cả những nhu cầu tối thiểu của con người đều được đáp ứng một cách thoải mái, tuần tự mùa nào thức ấy.

-> Thức ăn ở đây là sẵn có, do con người tự làm ra, là thành quả lao động của con người. Đây đều là những sản vật dân dã, là cây nhà lá vườn

- Nơi tắm: hồ, ao -> Sẵn có trong tự nhiên, xung quanh mình, không phải cầu kì tìm kiếm.

=> Cuộc sống đạm bạc, thực sự đạm bạc nhất là khi đó là cuộc sống của một bậc đại quan dưới triều nhà Mạc.

Đạm bạc nhưng không hề khắc khổ. Khắc khổ khiến người ta cảm thấy lo lắng, thiếu thốn. Đây là cuộc sống đạm bạc nhưng thanh cao, giải phóng cho con người, mang đến sự tự do trong cuộc sống.

-> Không phải nhọc công tìm kiếm nên không phải đua chen tranh giành để tìm sự đủ đầy, vinh hoa phú quý.

=>Mang đến sự tự do, ung dung, tự tại, thanh thản, thảnh thơi.

=> Cuộc sống tự do, thảnh thơi, ung dung, tự tại.

4. Sống nhàn với Nguyễn Bình Khiêm là chan hòa với thiên nhiên để giữ cốt cách thanh cao.

1 tháng 3 2020

4.

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà nho uyên thâm nổi tiếng trong thời kì phân tranh Trịnh - Nguyễn. Sống trong thời loạn lạc, ông không ủng hộ thế lực phong kiến nào mà tìm đường lui về quê ẩn dật theo đúng lối sống của đạo Nho. Bài thơ Nhàn là một trong những tác phẩm viết bằng chữ Nôm, rút trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập của ông. Bài thơ cho thấy một phần cuộc sống và quan niệm sống của tác giả trong xã hội loạn lạc hiện thời.Cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên trong bài thơ là cuộc sống giản dị, đạm bạc (đơn giản) nhưng thanh cao, trong sạch. Mở đầu bài thơ là hai câu thơ:

"Một mai một quốc một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào"

Với cách sử dụng số đếm:" một" rất linh hoạt, nhịp thơ ngắt nhịp đều đặn 2/2/3 kết hợp với hình ảnh những dụng cụ lao động nơi làng quê: mai, cuộc, cần câu cho ta thấy những công cụ cần thiết của cuộc sống thôn quê . Chính những cái mộc mạc chân chất của những vật liệu lao động thô sơ ấy cho ta thấy được một cuộc sống giản dị không lo toan vướng bận của một danh sĩ ẩn cư nơi ruộng vườn, ngày ngày vui thú với cảnh nông thôn.Không những thế nhwungx câu thơ tiếp theo tiếp tục cho ta thấy được cái bình dị trong cuộc sống thôn quê qua những bữa ăn thường ngày của ông:

"Thu ăn măng trúc đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao"

Món ăn của ông là những thức có sẵn ở ruộng vườn, mùa nào thức nấy: măng, trúc, giá,.... những món rất giản dị đời thường. Cuộc sống sinh hoạt của cụ giống như một người nông dân thực thụ, cũng tắm hồ, tắm ao. Hai câu thơ vẽ nên cảnh sinh hoạt bốn mùa của tác giả, mùa nào cũng thong dong, thảnh thơi. Qua đó ta thấy được một cách sống thanh cao, nhẹ nhàng, tránh xa những lo toan đời thường.Ngoài thể hiện cuộc sống đời thường tác giả còn thể hiện triết lí sống, nhân cách của ông:

"Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao "

Tìm nơi "vắng vẻ" không phải là xa lánh cuộc đời mà tìm nơi mình thích thú được sống thoải mái, hoà nhập với thiên nhiên, lánh xa chốn quan trường, lợi lộc để tìm chốn thanh cao."Chốn lao xao" là chốn vụ lợi, chạy theo vinh hoa, lợi ích vật chất, giành giật hãm hại lẫn nhau. Rõ ràng Nguyễn Bỉnh Khiêm cho cách sống nhàn nhã là xa lánh không quan tâm tới danh lợi. Tác giả mượn lời nói của đòi thường để diễn đạt quan niệm sống của mình mặc người đời cho là khôn hay dại. Đó cũng chính là quan niệm của Nho sĩ thời loạn vẫn tìm về nơi yên tĩnh để ở ẩn.Nghệ thuật đối: "ta" đối với "người", "dại" đối với "khôn", "nơi vắng vẻ" đối với "chốn lao xao" tạo sự so sánh giữa hai cách sống, qua đó khẳng định triết lí sống của tác giả. Không những thế hình ảnh thơ cuối như lần nữa khẳng định triết lí sống của tác giả:

"Rượu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao"

Trong hơi men nồng nàn cùng sự bình yên của làng quê nhà thơ nhận ra phú quý quả thật chỉ là một giấc chiêm bao. Nó cũng sẽ mau chóng tan thành mây khói.

Bài thơ thể hiện được quan niệm của nhà thơ về cuộc đời, đồng thời ta thấy được cuộc sống an nhàn của nhà thơ nơi thôn dã. Đó là một cuộc sống vô cùng giản dị và bình an, đạm bạc nhưng lại rất thanh cao. Nguyên Bỉnh Khiêm đẫ thể hiện lên một tâm hồn một nhân cách sống rất bình dị đời thường, một cốt cách cao đẹp.

Một mai, một cuốc, một cần câu, Thơ thẩn dầu ai vui thú nào. Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao. Thu ăn năng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao. Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống, Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao. ( Nhàn- Nguyễn Bỉnh Khiêm, Theo Ngữ Văn 10, tập 1, tr 128, NXBGD, năm 2015) Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên. Câu 2. Xác định và...
Đọc tiếp

Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.
Thu ăn năng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống,
Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.

( Nhàn- Nguyễn Bỉnh Khiêm, Theo Ngữ Văn 10, tập 1, tr 128, NXBGD, năm 2015)

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên.

Câu 2. Xác định và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ:

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.

Câu 3. Bức tranh thôn quê hiện lên như thế nào trong cách nhìn của tác giả qua hai câu thơ?:

Thu ăn năng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.

Câu 4. Em hiểu như thế nào về lối sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ?

1
11 tháng 12 2020

câu 1, thất ngôn bát cú

câu 2, nghệ thuật tương phản: nơi vắng vẻ><chốn lao xao, dại><khôn, ta><người;

cho ta thấy đc triết lí sống thâm trầm: dại chính là khôn, khôn lại là dại.

câu 4, nhàn: ko lánh đời, ko khắc khổ, sống ở trần gian mà ko vướng bụi trần. 

nhàn: hòa hợp với tự nhiên, giữ cốt cách thanh cao, vượt lên trên danh lợi.

ý kiến cá nhân, mong thông cảm, cảm ơn

Phần 1: Đọc - hiểu (3.0 điểm)            Đọc bài thơ sau của Nguyễn Khoa Điềm và trả lời các câu hỏi:          MẸ VÀ QUẢ Những mùa quả mẹ tôi hái được Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng Những mùa quả lặn rồi lại mọc Như mặt trời, khi như mặt trăng​ Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên Còn những bí và bầu thì lớn xuống Chúng mang dáng giọt...
Đọc tiếp

Phần 1: Đọc - hiểu (3.0 điểm)

           Đọc bài thơ sau của Nguyễn Khoa Điềm và trả lời các câu hỏi:

         MẸ VÀ QUẢ

Những mùa quả mẹ tôi hái được
Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng
Những mùa quả lặn rồi lại mọc
Như mặt trời, khi như mặt trăng​

Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên
Còn những bí và bầu thì lớn xuống
Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn
Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi.

Và chúng tôi, một thứ quả trên đời
Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái
Tôi hoảng sợ, ngày bàn tay mẹ mỏi
Mình vẫn còn một thứ quả non xanh.

(Thơ Việt Nam 1945 - 1985, NXB Văn học, Hà Nội, 1985)

Câu 1: Nêu chủ đề của bài thơ? (0.5 điểm)    

Câu 2: Tìm phép điệp trong khổ thơ đầu và phép đối trong khổ thơ thứ hai. (0.5 điểm)

Câu 3: Trong nhan đề và bài thơ, chữ “quả” xuất hiện nhiều lần. Chữ “quả” ở dòng nào mang ý nghĩa tả thực? Chữ “quả” ở dòng nào mang ý nghĩa biểu tượng? (1.0 điểm)

Câu 4: Nghĩa của cụm từ in đậm trong hai dòng cuối của bài thơ “Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi -  Mình vẫn còn một thứ quả non xanh”. (1.0 điểm)

32
17 tháng 5 2021

câu 1:chủ đề cuả bài thơ là:sự nhận thưć cuả người con về công ơn cuả mẹ

câu 2 :phép điệp trong khổ thơ 1 là:những muà quả

phép đối:lũ chúng tôi lớn lên-bí và bầu lớn xuống

câu 3:

chữ "quả"mang ý nghiã tả thực:dòng 1 và dòng 3 cuả khổ đâù.

chữ "quả"mang ý nghĩa biểu tượng:dòng 1 và dòng 4 cuả khổ cuối.

câu 4:nghĩa cuả cuṃtừ quả non xanh :chưa đến độ chín ,chưa trưởng thành;chưa làm được nhưng điều xưng đáng với sự mong đợi cuả mẹ,chưa thanh̀ người tốt. 

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:     Tình gia thất nào ai chẳng có, Kìa lão thân khuê phụ nhớ thương.      Mẹ già phơ phất mái sương, Còn thơ măng sữa, vả đương phù trì.      Lòng lão thân buồn khi tựa cửa, Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm.      Ngọt bùi, thiếp đỡ hiếu nam Dạy con đèn sách, thiếp làm phụ thân.      Này một...
Đọc tiếp

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

    Tình gia thất nào ai chẳng có,

Kìa lão thân khuê phụ nhớ thương.

     Mẹ già phơ phất mái sương,

Còn thơ măng sữa, vả đương phù trì.

     Lòng lão thân buồn khi tựa cửa,

Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm.

     Ngọt bùi, thiếp đỡ hiếu nam

Dạy con đèn sách, thiếp làm phụ thân.

     Này một thân nuôi già dạy trẻ,

Nỗi quan hoài mang mể biết bao.

     Nhớ chàng trải mấy sương sao,

Xuân từng đổi mới đông nào còn dư.

   (Trích Chinh phụ ngâm khúc, Những khúc ngâm chọn lọc, Tập 1, Lương Văn Đang – Nguyễn Thạch Giang – Nguyễn Lộc, giới thiệu,

Biên thảo, chú giải, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1987, tr.44-45)

Câu 1. Xác định thể thơ được sử dụng trong đoạn trích.

Câu 2. Trong đoạn trích, nhân vật trữ tình là ai?

Câu 3. Chỉ ra những hình ảnh, từ ngữ được dùng để miêu tả về mẹ già, con thơ.

Câu 4. Anh/chị hiểu gì về tâm trạng của nhân vật trữ tình qua hai câu thơ sau:

     Này một thân nuôi già dạy trẻ,

Nỗi quan hoài mang mể biết bao.

Câu 5. Trong đoạn trích, nhân vật trữ tình hiện lên với những phẩm chất nào?

Câu 6. Đoạn trích gợi cho anh/chị tình cảm, suy nghĩ gì về người phụ nữ trong xã hội xưa?

6
14 tháng 5 2021

cả 2 đều sai

18 tháng 5 2021

Caau1: Thể thơ được sử dụng trong đoạn trích: song thất lục bát. 

Câu 2: Nhân vật trữ tình trong đoạn trích là người chinh phụ/ người phụ nữ có chồng đi chinh chiến nơi xa/ người vợ có chồng đi chinh chiến nơi xa.

Câu 3: “Mẹ già, con thơ” trong đoạn trích được miêu tả qua những hình ảnh, từ ngữ;

Mẹ già phơ phất mái sương,/ Lòng lão thân buồn khi tựa cửa,

Còn thơ măng sữa, /  Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm.

Câu 4: Tâm trạng của nhân vật trữ tình qua hai câu thơ: cô đơn, buồn tủi, nhớ thương chồng.

Câu 5: Nhân vật trữ tình hiện lên với những phẩm chất:

- Đảm đang, tần tảo.

- Giàu đức hi sinh.

Câu 6:

- Người phụ nữ trong xã hội xưa là nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa, số phận bất hạnh nhưng sáng ngời phẩm chất tốt đẹp.

-> Tình cảm, suy nghĩ:

+ Xót thương, cảm thông với số phận bất hạnh, không được hạnh phúc.

+ Ngợi ca, trân trọng, cảm phục những phẩm chất tốt đẹp của họ.

I. Đọc hiểu (3,0 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:           Người lên ngựa, kẻ chia bào,                                Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san                Dặm hồng bụi cuốn chính an            Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh               Người về chiếc bóng năm canh                  Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi  ...
Đọc tiếp

I. Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

          Người lên ngựa, kẻ chia bào,
                               Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san
               Dặm hồng bụi cuốn chính an
           Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh
              Người về chiếc bóng năm canh
                 Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi
         Vầng trăng ai xẻ làm đôi
   Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trưởng.

(Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều, Trích Truyện Kiều,

Nguyễn Du, NXB Văn hóa thông tin, 2002, tr.142-143)

Chú thích: (1) Màu quan san: vé xa xôi cách trở

                   (2) Chính an: việc đi đường xa

Câu 1. Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. Chỉ ra hai hình ảnh thiên nhiên được miêu tả trong đoạn thơ trên.

Câu 3. Nêu tác dụng của phép điệp được sử dụng trong đoạn trích.

Câu 4. Anh/chị hãy nhận xét về tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều trong hai câu thơ sau:

Vầng trăng ai xẻ làm đôi

Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường

25
13 tháng 5 2021

thể thơ lục bác hay sao ý

13 tháng 5 2021

Câu 1: Thể thơ: lục bát.

Câu 2: Những hình ảnh của thiên nhiên được miêu tả trong đoạn thơ: rừng phong, dặm hồng bụi cuốn, ngàn dâu, vầng trăng.

Câu 3: 

- Điệp từ: người, kẻ.

- Tác dụng của phép điệp:

+ Diễn tả tình cảnh chia li và tâm trạng lưu luyến, nhớ nhung của Thúy Kiều và Thúc Sinh.

+ Giúp cho lời thơ nhịp nhàng, giàu giá trị biểu cảm.

Câu 4:

Tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều:

- Nỗi buồn li biệt và sự nhớ thương khôn nguôi dành cho Thúc Sinh.

- Sự cô đơn, trống trải khi vò võ nơi phòng vắng.

I. Đọc hiểu (3,0 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:           Người lên ngựa, kẻ chia bào,                                Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san                Dặm hồng bụi cuốn chính an            Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh               Người về chiếc bóng năm canh                  Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi  ...
Đọc tiếp

I. Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

          Người lên ngựa, kẻ chia bào,
                               Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san
               Dặm hồng bụi cuốn chính an
           Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh
              Người về chiếc bóng năm canh
                 Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi
         Vầng trăng ai xẻ làm đôi
   Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trưởng.

(Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều, Trích Truyện Kiều,

Nguyễn Du, NXB Văn hóa thông tin, 2002, tr.142-143)

Chú thích: (1) Màu quan san: vé xa xôi cách trở

                   (2) Chính an: việc đi đường xa

Câu 1. Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. Chỉ ra hai hình ảnh thiên nhiên được miêu tả trong đoạn thơ trên.

Câu 3. Nêu tác dụng của phép điệp được sử dụng trong đoạn trích.

Câu 4. Anh/chị hãy nhận xét về tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều trong hai câu thơ sau:

Vầng trăng ai xẻ làm đôi

Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường

5
13 tháng 5 2021

1. thể thơ lục bát

2.rừng phong, dặm hồng bụi

3 ko biết

4. buồn khi bị chia xa.  (nhớ k mình nha

13 tháng 5 2021

1. Thể thơ: Lục bát.

2. Những hình ảnh thiên nhiên được miên tả trong đoạn thơ: Rừng phong, vầng trăng

3. -Điệp từ: Người, kẻ.

- Tác dụng của phép điệp ngữ:

+ Diễn tả tình cảnh chia li và tâm trạng lưu luyến, nhớ nhung của Thúy Kiều và Thúc Sinh.

+ Giúp cho lời thơ nhịp nhàng, giàu giá trị biểu cảm.

4. Tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều:

- Nỗi buồn li biệt và sự nhớ nhung dành cho Thúc Sinh.

- Sự cô đơn, trống trải khi vò võ nơi phòng vắng.

17 tháng 5 2021

câu 1 :

Nhân dân ta có rất nhiều câu ca dao hay viết về cha mẹ như:

"Công cha như núi Thái Sơn,

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Một lòng thờ mẹ kinh́ cha,

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con''.

Người mẹ là người cùng ta thực hiện mơ ước cuả ta mẹ luôn hy sinh bản thân minh̀ để cho con cómột cuộc sống tốt đẹp hơn 

 

 

18 tháng 5 2021

Câu 1

1. Mở bài:

- Dẫn dắt vào bài bằng các tình càm cao quý trong cuộc sống của mỗi người: tình cảm gia đình, tình anh em, tình cảm bạn bè,..

- Nhấn mạnh tình mẫu tử là loại tình cảm có vị trí đặc biệt quan trọng

2. Thân bài:

* Khái quát chung thế nào là tình mẫu tử:

+ Đây là một tình cảm thiêng liêng giữa mẹ và con

+ Tình mẫu tử thể hiện sự gắn bó, yêu thương và chăm sóc

*  Bình luận về tình mẫu tử:

+  Tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng và có vai trò đặc biệt với mỗi con người:

- Từ khi con người sinh ra đã có mẹ ở bên, có sự yêu thương che chở của mẹ: mẹ mang thai, sinh chúng ta, chăm chúng ta,….

- Mẹ là người có tấm lòng cao cả, tha thứ mọi lội lầm dù lớn đến mức nào của chúng ta

- Tình mẫu tử cũng là truyền thống đạo lí của dân tộc ta từ xưa

+  Tình mẫu tử đối với mỗi người:

- Một người có tình mẫu tử sẽ có cuộc sống hạnh phúc, được yêu thương

- Ai không có tình mẫu tử thì rất bất hạnh và là một thiệt thòi

+  Vai trò của tình mẫu tử:

- Tình mẫu tử soi sáng đường cho chúng ta đi

- Giúp chúng ta thức tỉnh khi có chút vấp ngã trong cuộc sống

* Trách nhiệm của chúng ta trước tình mẫu tử:

+ Chúng ta cần giữ gìn và tôn trọng tình cảm thiêng liêng này

+ Không ngừng học tập và báo đáp công ơn mẹ cha

+ Không có những hành động thiếu tình mẫu tử

3. Kết bài

Đưa ra cảm nghĩ của bản thân về tình mẫu tử

- Đây là một tình cảm rất thiêng liêng

- Chúng ta phải tự hào vì được có tình mẫu tử

- Cố gắng học tập để báo hiếu cha mẹ

Câu 2:

1.   Mở Bài

- Giới thiệu vài nét về tác giả Nguyễn Du và đoạn trích “Trao duyên”.
- Nêu nội dung chính của 12 câu thơ đầu trong đoạn trích “Trao duyên”.

2.   Thân Bài

a. Hai câu thơ đầu
-  Thúy Kiều nhờ cậy Thúy Vân nối duyên với Kim Trọng.
-  Lời nói, hành động trang trọng (từ “cậy”, “lạy”, “thưa”) nhưng cũng mang sắc thái nài ép Thúy Vân nhận lời giúp đỡ.

b. Sáu câu thơ tiếp theo
- Thúy Kiều giãi bày nguyên nhân dẫn đến việc nhờ cậy Thúy Vân giúp mình. Đó là sự dang dở trong tình yêu với Kim Trọng: “Giữa đường đứt gánh tương tư”.
-  Hình ảnh ẩn dụ “gánh tương tư”: Chỉ tình yêu của Thúy Kiều và Kim Trọng.
-  Nàng chia sẻ với em gái về câu chuyện tình yêu của mình. Kể từ khi gặp Kim Trọng, hai người đã nảy sinh tình cảm cùng thề nguyền, đính ước nhưng bỗng nhiên sóng gió xảy ra với gia đình Kiều, nàng đành hi sinh chữ “tình” để làm tròn chữ “hiếu” với cha mẹ.

c. Bốn câu cuối
- Thúy Kiều thuyết phục Thúy Vân bằng những lí lẽ xác đáng. Nàng nhắc đến “ngày xuân”, tuổi trẻ của Thúy Vân vẫn còn dài và nhắc đến tình nghĩa chị em máu mủ khiến Thúy Vân không thể từ chối việc nàng cậy nhờ.
-  Dù cho bản thân mình có “thịt nát xương mòn” thì Kiều vẫn vui vẻ, “ngậm cười” nơi chín suối. Nàng quả là người con gái sống tình nghĩa và có đức hi sinh.
-Thành ngữ “thịt nát xương mòn”, “ngậm cười chín suối” được Nguyễn Du sử dụng tài tình và khéo léo.
- Giọng điệu xót xa, đau đớn.

3.   Kết Bài
-  Nêu cảm nhận riêng của bản thân về 12 câu thơ đầu.
- Khẳng định giá trị của 12 câu thơ đầu trong đoạn trích “Trao duyên”.

CHUYÊN ĐỀ 1:Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tấm cám là một tác phẩm tiêu biểu phản ánh sinh động cuộc sống, tinh thần, đạo lý và niềm tin của người Việt. Chuyện xoay quanh hành trình của nhân vật tấm từ cô gái mồ côi bị áp bức đến người chiến thắng, cuối cùng vượt qua nhiều tai ương, bất công. Tuy nhiên, chuyện tấm cám không chỉ đơn thuần là cuộc đối đầu giữa thiện...
Đọc tiếp

CHUYÊN ĐỀ 1:

Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tấm cám là một tác phẩm tiêu biểu phản ánh sinh động cuộc sống, tinh thần, đạo lý và niềm tin của người Việt. Chuyện xoay quanh hành trình của nhân vật tấm từ cô gái mồ côi bị áp bức đến người chiến thắng, cuối cùng vượt qua nhiều tai ương, bất công. Tuy nhiên, chuyện tấm cám không chỉ đơn thuần là cuộc đối đầu giữa thiện và ác mà còn ẩn chứa nhiều chiều sâu văn hóa và tư tưởng. Báo cáo này tập trung khai thác vấn đề về cuộc đấu tranh giữa thiện và ác dưới góc nhìn nhân học và nữ quyền học. Tấm cám là một chuyện cổ tích thần kỳ thuộc loại hình người mồ côi gặp hoạn nạn nhưng sau cùng được hạnh phúc. Nhân vật chính là tấm, cô gái hiền lành bị mẹ con cám hãm hại nhiều lần nhưng được thần linh giúp đỡ và cuối cùng giành lại công lý. Cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác trong truyện đại diện bởi tấm tấm là hình ảnh tiêu biểu của người phụ nữ hiền lành, chăm chỉ, lương thiện. Dù bị hãm hại nhiều lần, tấm vẫn kiên cường vươn lên, thể hiện khát vọng hạnh phúc và công bằng. Cái ác đại diện bởi mẹ ghẻ và cám sự ghen ghét, mưu mô, sẵn sàng giết tấm nhiều lần để giành lấy địa vị, là biểu tượng cho sự tàn nhẫn của xã hội phong kiến, đặc biệt là trong quan hệ mẹ kế con chồng. Diễn biến cuộc đấu tranh, ban đầu, tấm bị áp bức, giết hại hóa thân nhiều lần, chim vàng, anh, cây xoan đào, khung cửi quả thị cuối cùng về làm người thắng lợi và xử phạt cái ác. Cuộc đấu tranh gay gắt và kéo dài cho thấy quá trình tự khẳng định, tự tái sinh của cải thiện trong xã hội đầy bất công. Góc nhìn nhân học văn hóa, chuyện phản ánh thực tế khắc nghiệt của xã hội phong kiến cũ, bất công giai cấp định kiến đi dân gian về sự tồn tại của thế lực siêu nhiên hỗ trợ người hiền. Quan niệm luôn hồi tái sinh gắn với niềm tin ở hiền gặp lành. Góc nhìn nữ quyền, tấm không chỉ là người hiền lành, cam chịu mà còn là người biết vúng lên, vùng lên trả thù, giành lại hạnh phúc. Các hình thức hóa thân của tấm cho thấy sự đấu tranh dai dẳng, bản lĩnh của người phụ nữ. Hành động xử lý cám ở cuối truyện nếu cám thành mắm gây tranh cãi, nhưng có thể hiểu sử nội nổi dậy của nữ giới bị áp bức trong xã hội nam quyền. Chuyện tấm cám trong không chỉ là cuộc đối đầu giữa thiện và ác, mà còn là biểu tượng của hành trình khẳng định giá trị sống của người phụ nữ trong xã hội xưa. Qua lăng kính nhân học và nữ quyền, ta thấy được chiều sâu văn học và tư tưởng phản kháng Khát vọng công lý ẩn trong truyện cổ tích. Việc nghiên cứu vấn đề này không chỉ giúp hiểu hơn về giá trị văn học dân gian mà còn gợi mở nhiều suy nghĩ về các vấn đề đương đại như bất bình đẳng giới, quyền sống và sự công bằng trong xã hội.

0