K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

28 tháng 2

Thơ Xuân Hương cho đến nay vẫn hấp dẫn người đọc, cái thanh cái tục trong thơ bà đầy ẩn ý thế nhưng người ta không thể nào không thấy được những ý nghĩa nội dung mà bà muốn truyền tải qua những câu thơ của mình. Có thể nói rằng tài năng thơ ca của bà thật xứng danh với cái tên gọi mà người đời gọi bà đó chính là bà chúa thơ Nôm. Trong số những bài thơ Nôm ấy nổi bật lên bài thơ Mời trầu mà qua đó ta thấy được những tâm sự những điều mà Xuân Hương trăn trở về cuộc đời của mình. Chuyện tình duyên và nỗi lòng người phụ nữ tài ba ấy được khắc hoạ rất rõ. Bài thơ “Mời trầu” chỉ có bốn câu thơ thôi nhưng lại chứa đựng biết bao nhiêu là tâm sự tâm tình của người phụ nữ mà cụ thể ở đây là Hồ Xuân Hương. Có thể nói rằng cả cuộc đời bà luôn bênh vực người phụ nữ cũng chính là bênh vực chính bản thân mình trong xã hội trọng nam khinh nữ ấy. Qua đấy ta có thể thấy được Xuân Hương quả thật là một người mạnh mẽ, bà có tiếng nói riêng đại diện cho những người phụ nữ. bai thơ Mời trầu đã thể hiện rõ những nỗi lòng của bà chúa thơ Nôm. Nhan đề bài thơ là “Mời trầu” cũng mang những ý nghĩa truyền tải nhất định. Nhan đề là sự bộc lộ chủ đề của tác phẩm chính vì thế mà mỗi nhà thơ nhà văn đều đặt cho con tinh thần của mình những cái tên mang cả nội dung lẫn nghệ thuật. Hình ảnh miếng trầu kia đã mang đến cho chúng ta những liên tưởng về miếng trầu truyền thống gắn liền với những niềm vui như đám cưới, nó cũng gắn liền với những giá trị đạo đức tốt đẹp của con người Việt Nam trong sự tích trầu cau. Còn ở đây thì sao?. Miếng trầu ấy thể hiện được nỗi lòng Xuân Hương khao khát có một tình yêu thật sự, một hạnh phúc vợ chồng đời thường êm ấm, nồng đượm. Trước hết hai câu thơ dầu nhà thơ nói về miếng trầu ấy và chủ nhân làm ra miếng trầu ấy chính là Xuân Hương: Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi Này của Xuân Hương mới quệt rồi Quảng cáo ad Miếng trầu ấy có quả cau, có là trầu hai thứ ấy đi liền với nhau để làm nên một miếng trầu. Hình ảnh những miếng trầu têm xanh ngắt cánh phượng mới đẹp làm sao. Nó không chỉ đẹp mắt đẹp tâm tình mà còn đẹp cả tấm lòng người trao đi nữa. Quả cau thì nho nhỏ gợi lên cái hình ảnh nhỏ bé của miếng trầu nhưng lại rất đẹp. Sự nhỏ bé ấy hay cũng chính là sự nhỏ bé của thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa. Miếng trầu hôi không phải là nó có mùi hôi mà do lá trầu cay nên nói như thế. Hình ảnh miếng trầu có ngàn năm tuổi như thể hiện cho nguyện ước khát khao lứa đôi của bà chúa thơ Nôm. Người xở hữu miếng trầu ấy chính là nhà thơ. Từ “này” thể hiện được tiếng mời, tiếng xưng danh của Xuân Hương. Miếng trầu ấy mới quẹt xong, nó vẫn còn tươi xanh, ngọt bùi lắm. Miếng trầu của Xuân Hương không khác gì miếng trầu bình thường khác về hình thức nhưng miếng trầu ấy chất chứa biết bao nhiêu là tâm sự là nỗi lòng của người con gái kia. Đó chính là miếng trầu của lòng khao khát hạnh phúc lứa đôi của thi sĩ. Sang đến hai câu thơ sau thì thi sĩ muốn gửi đến những lời nhắn nhủ cho những bậc quân tử trên cõi đời này rằng: Quảng cáo Có phải duyên nhau thì thắm lại Đừng xanh như lá bạc như vôi Chính nỗi khao khát tình yêu khiến cho nhà thơ mong muốn rằng người quân tử nếu có duyên với Xuân Hương thì bén lại chứ đừng bạc như vôi xanh như lá. Cái duyên trên cõi đời này được người xưa vô cùng tin vào nó. Không có duyên thì có gần gũi đến mấy cũng không thể nào có tình cảm yêu thương được nhưng có duyên thì lại thắm lại ngay. Không gần cũng yêu thương da diết vô bờ. Thi sĩ nói đừng xanh như lá bạc như vôi là có ý gì?. Lá cây bao giờ chẳng xanh, không xanh thì đâu còn là lá cây nữa. vôi thì màu trắng bạc rồi. Có thể nói ở đây nhà thơ đã sử dụng biện pháp so sánh kết hợp với lối nói cái tự nhiên vốn có để chỉ cái mong muốn trong tình yêu của con người. lá xanh thì tốt, vôi trắng bạc là đương nhiên nhưng con người mang những trạng thái đó thì không tốt. Bởi vì cái xanh cái bạc kia là để chỉ sự xanh rờn, sự bạc bẽo của con người với nhau. Chính vì thế Xuân Hương mượn ngay hình ảnh của lá trầu, vôi trắng mà gửi thầm cái nguyện ước nhắn nhủ của bản thân mình. Bài thơ như một dòng nhật kí của thi sĩ, Xuân Hương đã viết vào đó những tâm tư tình cảm của mình. bà là luôn khao khát sống với hạnh phúc lứa đôi. Đó là một tình cảm thật sự chứ không phải là thứ tình cảm vợ lẽ, chính vì thế mà ta cảm thấy yêu quý hơn người phụ nữ tài ba ấy. Phân tích một tác phẩm thơ Mời trầu - mẫu 2 Trong nền văn học việt Nam có biết bao nhiêu nữ thi sĩ gây được nhiều sự quan tâm và tiếng vang cho người đọc. Những bài thơ của họ không những nói số phận và những khát khao cháy bỏng của người phụ nữ mà còn thể hiện được tình cảm cá nhân của mình. Có lẽ nói đến những thì sĩ như thế ngoài bà huyện thanh quan chúng ta nhớ ngay đến Hồ Xuân Hương bà chúa thơ nôm của văn học trung đại Việt Nam. Thơ Xuân Hương có cái thanh nhưng cũng có cái tục cốt là để nói lên những tâm tư tình cảm của mình. ngoài những tác phẩm như chùm thơ tự tình, bánh trôi nước thì chúng ta còn biết đến bài thơ Mời Trầu của bà. có thể nói bài thơ đã thể hiện được tấm lòng khao khát tình yêu của Xuân Hương. Bài thơ chỉ có bốn câu thơ thôi nhưng qua đó ta thấy được tất cả những cảm xúc khát khao của cá nhân nhà thơ Xuân Hương hay một phần nào đó cũng là khát khao của những người phụ nữ. Trước hết là hai câu thơ đầu, nhà thơ của chúng ta đã mang đến những nét văn hóa của dân tộc từ ngàn đời nay: “Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi Này của Xuân Hương mới quệt rồi” Miếng trầu quả cau không chỉ xuất hiện trong thơ Xuân Hương mà còn xuất hiện từ trước đó và sau này. Tại sao thi sĩ lại chọn hình ảnh miếng trầu để nói lên những cảm xúc tình cảm trong mình. Miếng trầu ấy là miếng trầu trong ca dao xưa vẫn văng vẳng qua những lời ru của bà của mẹ, và đến sau này miếng trầu ấy là miếng trầu có bốn nghìn năm tuổi trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, la miếng trầu hàng hóa của người mẹ già trong thơ Hoàng Cầm nữa. Không những thế hình ảnh miếng trầu gắn với người quan họ Bắc Ninh. Đó chính là truyền thống văn hóa dân tộc ta và đã được thi sĩ mang vào thơ để nói cho mình. Miếng trầu ấy không thể thiếu trong những đám cưới của miền bắc nước ta. Xuân Hương nói rằng đó chính là miếng trầu hôi, quả cau nho nhỏ với miếng trầu hôi. Nói như vậy không phải là trầu cau có vị hôi mà là vị của trầu không thường rất hăng và cay cho nên thi sĩ đã khéo sử dụng tính từ “hôi” cho nó. Từ “này của Xuân Hương” như khẳng đinh hay mời mọc người quân tử đến ăn miếng trầu ấy. đó là miếng trầu của Xuân Hương chứ không phải của ai hết. Miếng trầu ấy vẫn tươi xanh, hãy còn ngon ngọt vì mới quẹt vôi. Qua đó nhà thơ muốn thể hiện tấm lòng mình thắm đượm như miếng trầu kia và sự tươi tắn giống như sự tươi tắn của miếng trầu ấy. Đó là một sự tự khẳng định phẩm chất của chính bản thân Hồ Xuân Hương. Tiếp đến hai câu thơ cuối thì Xuân Hương lại muốn nói lên những tâm tình thật sự đồng thời nhắc nhở những bậc quân tử về chuyện tình yêu nam nữ và duyên phận trên chốn hồng trần này: “Có phải duyên nhau thì thắm lại Đừng xanh như lá bạc như vôi” Sự tươi tắn và đẹp đẽ trong tâm hồn Xuân Hương giống như những miếng trầu cau kia vậy. Một vật tuy nhỏ cũng giống như số phận nhỏ của Hồ Xuân Hương khiến cho bà quyết định nói đến những tâm sự và ý nghĩ của cá nhân mình đối với những người quân tử có ý định tìm đến tình duyên với bà hay cũng như với những người phụ nữ khác. Nếu là duyên kiếp thì bén lại với nhau chứ đừng nên bạc bẽo như vôi, xanh như lá. Nhà thơ sử dụng từ “bén “ thật tinh tế và hay. Thi sĩ nói tình yêu kia phát triển đến với nhau như những cây cau sợi trầu kia bén rễ quấn quýt lấy nhau vậy. Người quân tử kia hãy biết trân trọng những tâm hồn của người phụ nữ như Xuân Hương vả chăng nếu đã thành duyên thành kiếp thì đừng bạc bẽo như màu của vôi và đừng xanh như màu của lá. Qua đây ta thấy bài thơ chỉ vẻn vẹn có bốn câu thơ nhưng thật sự thì ta đã cảm nhận được hết những tâm trạng và nỗi lòng mà Xuân Hương muốn gửi gắm. Tất cả những dòng thơ những hình ảnh kia đều nhằm thay Xuân Hương nói những cảm xúc ấy. Và ta bỗng thấy trân trọng người phụ nữ này. Phân tích một tác phẩm thơ Mời trầu - mẫu 3 Nhiều người làm thơ về tình yêu. Nhiều nhà thơ được mệnh danh là “ thi sĩ của tình yêu”. Trong thơ của mình, họ thể hiện những cảm xúc, suy tư, những yêu thương, trăn trở…Những bài thơ tình là những cung bậc, những nỗi niềm riêng, khao khát hạnh phúc, yêu thương giận hờn…Những nhà thơ nữ lại có một cách thể hiện nội tâm hết sức nhạy cảm, tinh tế. Bài thơ Mời trầu của Hồ Xuân Hương là niềm khao khát hạnh phúc lứa đôi của một trái tim nồng nàn, đằm thắm, giàu cá tính – được thể hiện một cách chân tình. Đi qua cuộc đời của Hồ Xuân Hương có khá nhiều người bạn tình nhưng cuối cùng vẫn không được bền lâu. Tình cảm xao xuyến của thời tuổi trẻ cùng những lời giỡn cợt của Chiêu Hổ, thoắt lại là cái kiếp làm lẽ tủi nhục trăm bề trong sự lạnh lẽo của Tổng Cóc. Bạn văn chương như ông phủ Vĩnh Tường cũng chỉ là mộng ảo ngắn ngủi. Trái tim yêu thương của Xuân Hương tưởng chừng tan nát vì sự trớ trêu đến thế. Bao đêm trường ôm hận một mình, xót xa tự an ủi Thân này đâu đã chịu già tom Xuân Hương đã cảm thấy chua chat, cay đắng cho mình cho những cuộc tình. Bài thơ Mời trầu có lẽ ra đời trong giai đoạn nữ sĩ dựng quán nước kén bạn trăm năm. Thực ra, Xuân Hương đã ý thức được mình, đến độ chín chắn, cần một bạn chi kỷ hơn là những yêu đương nồng cháy thời tuổi trẻ. Bởi lẽ, nữ sĩ đã cảm nhận được sự lạnh giá cô đơn, rất cần một sự động viên an ủi, những lời nói tâm tình. Rất trung thực, khiêm tốn và chân thành, Hồ Xuân Hương đã nói về mình hết sức thẳng thắn. Quả cau nho nhỏ, miếnng trầu hôi. Chỉ bình thường thế thôi, như bao điều đơn giản khác. Nhưng trong cái đơn giản ấy ẩn chứa một điều gì sâu xa. Đừng vội lầm tưởng ý xuân của Xuân Hương. Vâng, cái nho nhỏ, cái hôi ấy chỉ là cái vẻ bề ngoài thôi. Xuân Hương đã lấy cái hồn dân tộc Việt Nam thanh cao cau trầu keo sơn gắn bó mà nói về tình yêu của mình, độc đáo và thi vị. Nhưng, độc đáo tất có phong cách riêng – phong cách Hồ Xuân Hương. Này của Xuân Hương mới quệt rồi. Một cách thể hiện cái tôi của mình rất chuẩn nhị,...

1 tháng 3

Bài làm

Sau khi học xong bài thơ “Nắng mới” của tác giả Lưu Trọng Lư, ngữ văn 8 tập một, bài thơ nói về tình cảm gia đình, đặc biệt là tình cảm của tác giả đối với mẹ, hình ảnh bức tranh quê hương hiện lên. Những kí ức về quê hương có cả nỗi buồn, sự lạc lõng, để lại cho em ấn tượng sâu sắc   , yêu thích.

Nhà văn viết lên những khung cảnh tĩnh lặng của quê hương, những cảm xúc tinh tế , khổ  “Mỗi lần nắng mới… những ngày không”. Từng gợi nhớ là dấu hiệu thời gian, kí ức. Nắng mới là nguồn ánh sáng tự nhiên nơi cảnh quê, cái mát mẻ nơi ấm áp, tươi sáng. Nhưng cũng có nỗi buồn, sự lạc lõng. Khổ “Tôi nhớ mẹ tôi… nước giậu phơi" , hình ảnh người mẹ hiện lên nhẹ nhàng, phơi quần áo, cùng với chiếc áo đỏ. Mẹ đi mẹ không xuất hiện trực tiếp mà chỉ là trong kí ức của tác giả, mẹ vẫn là nguồn cảm hứng ấm áp và dịu dàng. Kí ức người mẹ trở nên đặc biệt, quý giá, cũng có niềm thương nhớ về mẹ mà mẹ đã không còn, mà chỉ là kỉ niệm. Kí ức chỉ còn lại kí ức mãi trong tâm hồn của đứa trẻ lên mười, những từ ngữ được sử dụng tinh tế, nhẹ nhàng, buồn bã cùng ấm áp và yên bình. Khổ  “Hình dáng mẹ tôi… nước giậu thưa", những kí ức, kỉ niệm, hình ảnh về mẹ của tác giả chưa phai mờ mà vẫn luôn trong tâm trí, linh hồn nhớ mãi, “nụ cười đen nhánh sau tay áo”. Đây là nụ cười rạng rỡ và ấm áp, là một nụ cười nhẹ nhàng, thanh thoát, như một ánh sáng nhỏ nhưng chợt thoáng qua. Hình ảnh “nụ cười đen nhánh” không chỉ là kết thúc của bài mà còn là một điểm nhấn cuối cùng, để lại cho tác giả Lưu Trọng Lư  nụ cười của mẹ thể hiện nhẹ nhàng, lạc quan và vui vẻ, qua đó cho chúng ta biết được rằng tình yêu của mẹ vô cùng cao cả, sâu sắc, họ luôn là người chịu thiệt thòi, hi sinh cho con, không nề hà gian khó, hình ảnh mẹ trong tác giả không bị xóa mờ mà hiện hữu trong từng khoảnh khắc, từng góc nhỏ của cuộc sống. Mẹ luôn chăm lo cho tổ ấm, yêu thương con cái... Nghệ thuật của thơ sử dụng ngôn ngữ giản dị, mang đặc điểm của vùng đồng bằng Bắc Bộ, làm cho bài thơ gần gũi, thân thuộc, khiến chúng ta người đọc như đắm chìm vào khung cảnh ấy, tác giả miêu tả về mẹ nhẹ nhàng, ấm áp, tạo nên một tác phẩm không chỉ đẹp về hình thức mà còn sâu sắc về nghệ thuật tâm hồn.

Qua bài thơ “Nắng mới” của nhà thơ Lưu Trọng Lư mang lại cho em ấn tượng và yêu thích với nhiều cảm xúc đặc biệt. Cho em cảm nhận được nỗi nhớ và tình yêu của mẹ sâu sắc, vô bờ bến. Qua đó, cho chúng ta biết cần trân trọng những khoảnh khắc, kỉ niệm, thời gian khi có mẹ, yêu thương, quan tâm, chia sẻ và phụ giúp mẹ lúc họ còn sống đừng để  nuối tiếc.

Thơ Xuân Hương vẫn thu hút người đọc, với sự tinh tế và biểu cảm trong những câu thơ. Bài thơ Mời trầu là tuyệt tác nhỏ nhưng chứa đựng biết bao tâm sự của Hồ Xuân Hương về cuộc sống và tình yêu. Bài thơ thể hiện lòng bênh vực cho phụ nữ và là giọng nói mạnh mẽ của nàng thơ Nôm.

Nhan đề Mời trầu mang đầy ý nghĩa, bộc lộ chủ đề của tác phẩm. Miếng trầu trong thơ không chỉ là hình ảnh đẹp mắt, mà còn là biểu tượng cho khát khao hạnh phúc lứa đôi của Xuân Hương. Bài thơ mở ra với hình ảnh miếng trầu nhỏ và thơm, là sự tượng trưng cho nguyện ước của bà.

Thơ sưu tầm nói về miếng trầu này và người tạo nên nó - Xuân Hương:

Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi

Này của Xuân Hương mới quệt rồi

Hình ảnh miếng trầu nhỏ được tạo nên từ lá cây cay, nhưng vô cùng đẹp đẽ. Quả cau nhỏ đó như biểu tượng cho thân phận nhỏ bé của phụ nữ xưa, với một vẻ đẹp và tinh tế riêng. Miếng trầu vừa mới quệt, tươi xanh và thơm ngon, chứa đựng biết bao tâm sự và mong ước của Hồ Xuân Hương. Đây không chỉ là miếng trầu thông thường, mà còn là biểu tượng của trái tim và tâm hồn nữ sĩ đầy khao khát.

Đến hai câu thơ sau, nhà thơ muốn truyền đạt điều gì đó đặc biệt:

Có phải duyên nhau thì thắm lại

Đừng xanh như lá, bạc như vôi

Nhà thơ mong muốn rằng nếu có duyên với Xuân Hương, người đó hãy giữ được sự thắm thiết, không để tình cảm phai nhạt như lá cây. Đừng để bản thân trở nên nhạt nhòa như vôi bạc. Xuân Hương sử dụng so sánh tự nhiên để thể hiện mong muốn của mình trong tình yêu.

Bài thơ như một cuốn nhật ký, ghi lại tâm tư và cảm xúc của Hồ Xuân Hương. Cô luôn khao khát một cuộc sống hạnh phúc lứa đôi, và điều đó khiến cho người đọc yêu quý và trân trọng hơn người phụ nữ tài năng này.

Lý Bạch là một trong những nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc. Thơ ông thể hiện một tâm hồn tự do, hào phóng. Một trong những bài thơ nổi bật của ông là “Xa ngắm thác núi Lư” (Vọng Lư sơn bộc bố):

“Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên, 
Dao khan bộc bố quải tiền xuyên. 
Phi lưu trực há tam thiên xích, 
Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên” 

Mở đầu bài thơ, Lý Bạch đã khắc họa một thế giới tuyệt đẹp vời của khung cảnh thiên nhiên núi Lư. Ánh mặt trời tươi sáng rọi chiếu xuống núi Hương Lô, tỏa sáng trên khung cảnh núi non kỳ vĩ. Không chỉ vậy, nhà thơ còn điểm xuyết màu sắc vô cùng rực rỡ, lộng lẫy với làn khói tía bốc lên từ ngọn thác. Từ “sinh” được sử dụng gợi ra thiên nhiên tràn đầy sức sống.

Dòng thác hiện lên với những chuyển động đầy tinh tế. Dòng thác lớn từ trên đỉnh núi cao đổ xuống được nhà thơ hình dung như là nó được treo lơ lửng giữa không trung, dựa vào vách núi Hương Lô kỳ vĩ. Ở đây, “tam thiên xích” ( ba nghìn thước) là con số mang tính ước lệ gợi một khoảng cách rất cao và xa. Câu thơ cuối gợi liên tưởng về hình ảnh thác nước tựa như một dải n gân hà rộng lớn giữa bầu trời, đầy màu sắc.

Bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt, ngắn gọn nhưng hàm súc. Hình ảnh mang tính tượng trưng, ước lệ.

B ài thơ “Xa ngắm thác núi Lư” đã gợi ra vẻ đẹp độc đáo của thác nước chảy từ đỉnh Hương Lô thuộc dãy núi Lư, đồng thời gửi gắm tình yêu thiên nhiên, quê hương của tác giả.

1 tháng 3

Bài thơ Mời trầu là một trong những tác phẩm tiêu biểu của Hồ Xuân Hương, thể hiện rõ cá tính mạnh mẽ, thông minh và bản lĩnh của người phụ nữ trong xã hội xưa. Qua lời mời trầu giản dị, bài thơ đã bộc lộ quan niệm sống và khát vọng tình cảm rất rõ ràng của tác giả. Mở đầu bài thơ là lời mời trầu rất tự nhiên, gần gũi. Trầu cau vốn là nét đẹp văn hóa truyền thống, thường gắn với tình cảm, đặc biệt là tình duyên đôi lứa. Lời mời trầu tưởng như đơn giản nhưng lại chứa đựng sự chủ động, thẳng thắn của người phụ nữ. Điều đó cho thấy tác giả không cam chịu, e dè mà dám bày tỏ suy nghĩ, tình cảm của mình. Hai câu thơ tiếp theo sử dụng hình ảnh trầu, cau, vôi để nói về tình nghĩa con người. Miếng trầu chỉ ngon khi có đủ các thành phần, cũng giống như tình cảm phải xuất phát từ sự chân thành, gắn bó. Qua đó, Hồ Xuân Hương khẳng định quan niệm về tình yêu: phải rõ ràng, sâu sắc, không hời hợt, không giả dối. Câu thơ cuối thể hiện rõ thái độ dứt khoát của tác giả. Nếu không có tình cảm thật lòng thì “xanh như lá, bạc như vôi” cũng không thể gắn bó lâu dài. Đây vừa là lời nhắc nhở, vừa là sự tự trọng của người phụ nữ, cho thấy Hồ Xuân Hương coi trọng giá trị bản thân và không chấp nhận một tình yêu hời hợt. Tóm lại, bài thơ Mời trầu tuy ngắn gọn nhưng giàu ý nghĩa. Qua đó, Hồ Xuân Hương đã thể hiện vẻ đẹp tâm hồn, cá tính mạnh mẽ và khát vọng về một tình yêu chân thành, bình đẳng. Bài thơ để lại cho người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc và sự cảm phục đối với người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa.

7 tháng 3

Bài thơ “Mời trầu” là một trong những tác phẩm tiêu biểu thể hiện rõ phong cách thơ độc đáo của Hồ Xuân Hương – nữ thi sĩ nổi tiếng của văn học Việt Nam. Qua hình ảnh miếng trầu quen thuộc trong văn hóa dân gian, bài thơ thể hiện khát vọng tình yêu chân thành, bình đẳng và cá tính mạnh mẽ của người phụ nữ.


Trước hết, bài thơ mở đầu bằng hình ảnh rất gần gũi:


“Quả cau nho nhỏ, miếng trầu hôi”


Hình ảnh quả cau và miếng trầu gắn liền với phong tục giao tiếp, đặc biệt là trong tình yêu và hôn nhân của người Việt xưa. Câu thơ sử dụng những từ ngữ giản dị như “nho nhỏ”, “hôi” để miêu tả miếng trầu bình thường, mộc mạc. Qua đó, tác giả thể hiện sự chân thành và giản dị trong lời mời. Miếng trầu tuy nhỏ bé nhưng lại chứa đựng tấm lòng và tình cảm của người mời.


Câu thơ thứ hai:


“Này của Xuân Hương mới quệt rồi”


Ở đây, tác giả xưng tên một cách trực tiếp và tự nhiên. Điều này thể hiện cá tính mạnh mẽ và sự tự tin của nữ sĩ. Hành động “mới quệt rồi” gợi hình ảnh miếng trầu vừa được têm xong, còn tươi mới, như tình cảm chân thành mà người mời muốn trao gửi.


Hai câu thơ cuối:


“Có phải duyên nhau thì thắm lại

Đừng xanh như lá, bạc như vôi.”


Đây là hai câu thơ thể hiện rõ nhất tư tưởng của tác giả. “Thắm lại” tượng trưng cho tình cảm bền chặt, sâu sắc. Ngược lại, “xanh như lá, bạc như vôi” là hình ảnh ẩn dụ cho tình cảm hời hợt, chóng thay đổi. Qua đó, Hồ Xuân Hương bày tỏ mong muốn về một tình yêu chân thành, thủy chung, không giả dối.


Bài thơ tuy ngắn gọn nhưng giàu ý nghĩa. Hình ảnh miếng trầu vừa mang nghĩa thực, vừa mang ý nghĩa biểu tượng cho tình yêu. Giọng thơ vừa thân mật, vừa thẳng thắn thể hiện rõ cá tính mạnh mẽ và tư tưởng tiến bộ của tác giả – một người phụ nữ dám nói lên khát vọng tình yêu chân thật trong xã hội xưa.


Tóm lại, “Mời trầu” là bài thơ giàu giá trị nghệ thuật và tư tưởng. Qua hình ảnh miếng trầu dân dã, Hồ Xuân Hương đã thể hiện khát vọng về tình yêu chân thành, thủy chung và thể hiện tiếng nói mạnh mẽ của người phụ nữ trong văn học trung đại Việt Nam.


Trong nền văn học trung đại Việt Nam, Hồ Xuân Hương hiện lên như một hiện tượng độc đáo. Thơ bà không chỉ sắc sảo, trào phúng mà còn chứa đựng những nỗi niềm sâu kín, thiết tha. Bài thơ "Mời trầu" là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho tiếng nói đầy cá tính ấy: ​"Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi, Này của Xuân Hương mới quệt rồi. Có phải duyên nhau thì thắm lại, Đừng xanh như lá, bạc như vôi." ​Mở đầu bài thơ, tác giả đưa người đọc vào một tình huống rất đỗi đời thường: mời trầu. Cách gọi "quả cau nho nhỏ", "miếng trầu hôi" vừa khiêm tốn, vừa chân thành, lại có chút tự trào. Việc mời trầu không chỉ là phong tục, mà ở đây, đó là lời mở đầu cho một sự giao duyên. Câu thơ thứ hai khẳng định một cách tự tin, đầy thách thức: "Này của Xuân Hương mới quệt rồi". Sự xuất hiện của cái tên "Xuân Hương" khiến cho lời mời không còn là của một người vô danh, mà trở thành một lời khẳng định bản ngã mạnh mẽ. ​Sang đến hai câu cuối, giọng thơ chuyển từ lời mời chân thành sang lời nhắn nhủ, khao khát: ​"Có phải duyên nhau thì thắm lại, Đừng xanh như lá, bạc như vôi." ​"Duyên nhau" là mối tình gắn kết tự nguyện. Câu hỏi tu từ "Có phải duyên nhau" như một lời thăm dò, cũng là một lời mời gọi đầy ý nhị. Điểm sáng tạo nhất nằm ở câu kết. Hình ảnh "lá" (thường xanh) và "vôi" (thường bạc) được tác giả vận dụng cực kỳ tài tình. Đó là sự đối lập gay gắt giữa lòng chung thủy và sự phụ bạc. Trong văn hóa trầu cau, lá trầu và vôi hòa quyện mới làm nên miếng trầu cay nồng, thắm đỏ. Nhưng ở đây, bà dùng nó như một lời cảnh báo: tình cảm đã trao thì phải "thắm lại", đừng để nó nhạt nhòa, bạc bẽo. ​Về mặt nghệ thuật, Hồ Xuân Hương đã rất thành công khi sử dụng ngôn ngữ bình dân, hình ảnh đời thường nhưng mang sức nặng của triết lý tình yêu. Giọng thơ vừa có sự dịu dàng của người phụ nữ, lại vừa có sự quyết liệt, cứng cỏi của một cá tính không chấp nhận sự rẻ rúng trong tình cảm. ​"Mời trầu" không chỉ là miếng trầu trên tay, mà là cả tấm lòng, là khát vọng về một tình yêu đích thực, thủy chung và trọn vẹn. Qua bài thơ, ta thêm hiểu và trân trọng hơn tâm hồn đầy khao khát hạnh phúc của "Bà chúa thơ Nôm".

Bài thơ Mời trầu của nữ sĩ Hồ Xuân Hương là một tác phẩm ngắn gọn nhưng chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu sắc về tình cảm và quan niệm sống của người phụ nữ trong xã hội xưa. Trước hết, bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt với lời lẽ giản dị, gần gũi. Hình ảnh “miếng trầu” trong bài thơ là một hình ảnh quen thuộc trong văn hóa Việt Nam, thường dùng để mở đầu cho câu chuyện hay bày tỏ tình cảm. Qua lời mời trầu, tác giả không chỉ nói về miếng trầu bình thường mà còn gửi gắm tấm lòng chân thành của mình. Miếng trầu được têm khéo léo tượng trưng cho sự trân trọng và tình cảm mà người mời dành cho người nhận. Bên cạnh đó, bài thơ còn thể hiện quan niệm tình yêu tiến bộ của Hồ Xuân Hương. Tác giả khẳng định rằng nếu đã có duyên thì hãy trân trọng, còn nếu không thì cũng đừng làm tổn thương nhau. Qua hình ảnh miếng trầu nhỏ bé, nữ sĩ bộc lộ khát vọng về một tình yêu chân thành, bình đẳng và thủy chung. Ngoài nội dung ý nghĩa, bài thơ còn nổi bật bởi giọng điệu vừa nhẹ nhàng vừa hóm hỉnh – đặc trưng trong phong cách sáng tác của Hồ Xuân Hương. Điều này giúp bài thơ trở nên gần gũi, tự nhiên nhưng vẫn sâu sắc. Có thể nói, “Mời trầu” tuy ngắn nhưng đã thể hiện rõ tài năng và cá tính mạnh mẽ của Hồ Xuân Hương. Qua bài thơ, người đọc không chỉ cảm nhận được nét đẹp văn hóa truyền thống mà còn thấy được khát vọng tình yêu chân thành của người phụ nữ trong xã hội xưa.

8 tháng 3

Bài thơ “Mời trầu” của Hồ Xuân Hương là một tác phẩm ngắn gọn nhưng giàu ý nghĩa. Qua hình ảnh miếng trầu quen thuộc trong văn hóa Việt Nam, tác giả đã thể hiện khát vọng tình yêu chân thành và quan niệm sống mạnh mẽ của người phụ nữ.

Trước hết, bài thơ mở đầu bằng lời mời trầu rất tự nhiên và thân mật: “Quả cau nho nhỏ, miếng trầu hôi”. Hình ảnh “quả cau nho nhỏ” và “miếng trầu hôi” gợi nên sự giản dị, mộc mạc. Đó không phải là những thứ cao sang mà chỉ là những điều bình thường trong cuộc sống. Qua đó, ta thấy được sự chân thành và thẳng thắn của người mời trầu.

Tiếp theo, câu thơ: “Này của Xuân Hương mới quệt rồi” cho thấy một lời giới thiệu trực tiếp, đầy cá tính. Tác giả không giấu mình mà xưng tên một cách mạnh dạn. Điều này thể hiện tính cách tự tin, táo bạo của Hồ Xuân Hương – một nữ sĩ nổi tiếng với phong cách thơ độc đáo.

Hai câu thơ cuối thể hiện rõ quan niệm về tình yêu của tác giả: “Có phải duyên nhau thì thắm lại, Đừng xanh như lá, bạc như vôi.” Ở đây, tác giả sử dụng hình ảnh quen thuộc của miếng trầu để nói về tình nghĩa con người. Khi trầu, cau và vôi hòa quyện thì miếng trầu sẽ “thắm”, giống như tình duyên nếu thật sự gắn bó thì sẽ bền chặt. Ngược lại, tác giả cũng nhắc nhở đừng thay đổi, bạc bẽo trong tình cảm.

Qua đó bài thơ “Mời trầu” không chỉ là lời mời trầu bình thường mà còn thể hiện khát vọng về một tình yêu chân thành, thủy chung. Với ngôn ngữ giản dị, hình ảnh gần gũi và giọng điệu vừa chân thành vừa mạnh mẽ, Hồ Xuân Hương đã để lại một bài thơ ngắn gọn nhưng rất sâu sắc.

8 tháng 3
Hồ Xuân Hương, được mệnh danh là "Bà chúa thơ Nôm", nổi tiếng với phong cách thơ táo bạo, cá tính và đậm đà tính dân gian. Bài thơ "Mời trầu" là một minh chứng tiêu biểu cho tài năng của bà khi mượn một nét văn hóa quen thuộc để gửi gắm những tâm tư sâu kín, khát vọng hạnh phúc lứa đôi chân thành của người phụ nữ trong một xã hội nhiều trói buộc.  Hai câu thơ đầu mở ra khung cảnh trao duyên đầy tinh tế và cũng đầy cá tính:
"Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi,
Này của Xuân Hương mới quệt rồi."
Hình ảnh "quả cau nho nhỏ" và "miếng trầu hôi" tuy mang sắc thái khiêm nhường, nhưng đồng thời gợi lên thân phận nhỏ bé, mộc mạc của người phụ nữ. "Miếng trầu hôi" không chỉ là sự xưng hô khiêm tốn mà còn thể hiện sự trân trọng giá trị bình dị, chân thành, vượt lên trên những phù phiếm. Đặc biệt, câu thơ thứ hai khẳng định sự chủ động, cá tính độc đáo của Hồ Xuân Hương: "Này của Xuân Hương mới quệt rồi". Bà không giấu giếm, không e ấp mà tự tin giới thiệu, khẳng định bản thân và tình cảm của mình. Từ "quệt" (thay vì têm) vừa thể hiện sự bướng bỉnh, vừa táo bạo, cho thấy một tâm hồn luôn khao khát được yêu thương và khẳng định giá trị riêng.  Hai câu cuối là lời nhắn nhủ, cảnh tỉnh đầy sâu sắc:
"Có phải duyên nhau thì thắm lại,
Đừng xanh như lá, bạc như vôi."
Nhà thơ đặt ra một giả thiết về duyên phận, mong ước một tình yêu "thắm" thiết, bền chặt. Từ "thắm" gợi lên một tình yêu nồng nàn, son sắt. Tuy nhiên, đằng sau sự mời gọi ấy là lời cảnh tỉnh, một lời "mắng yêu" nhẹ nhàng nhưng sâu cay: "Đừng xanh như lá, bạc như vôi". Câu thơ vận dụng tục ngữ, thành ngữ một cách khéo léo để nhấn mạnh sự bất bình trước sự bội bạc, hời hợt trong tình yêu. Xuân Hương thẳng thắn bày tỏ quan niệm tình yêu: nếu đã không trân trọng thì đừng tìm đến, bà tối kỵ sự dối trá, cạn tình.  "Mời trầu" không chỉ là một bài thơ tình, mà còn là lời tự khẳng định phẩm chất và khát vọng của người phụ nữ. Với ngôn từ giản dị, giàu ý nghĩa, Hồ Xuân Hương đã thể hiện sự mạnh mẽ, kiên cường của mình, đồng thời gửi gắm nỗi niềm, tâm sự về kiếp người và kiếp duyên trong xã hội phong kiến. Bài thơ vẫn giữ nguyên giá trị, là tiếng nói đòi hỏi một tình yêu chân thành, son sắt và trân trọng con người. 

Tóm lại, bài thơ "Mời trầu" của Hồ Xuân Hương là một tuyệt tác nhỏ bé nhưng chứa đựng tâm tư sâu sắc, thể hiện cá tính mạnh mẽ và khát khao hạnh phúc của người phụ nữ. Qua hình ảnh miếng trầu, tác giả gửi gắm triết lý về tình yêu chân thành, son sắt, cảnh tỉnh về sự giả dối, bạc bẽo, xứng đáng là một bài thơ Nôm xuất sắc. 

8 tháng 3

Trong dòng chảy văn học trung đại Việt Nam, Hồ Xuân Hương hiện lên như một hiện tượng độc đáo với cái nhìn sắc sảo, táo bạo và đầy nhân văn. Một trong những tác phẩm thể hiện rõ nét cá tính sáng tạo cùng nỗi niềm trăn trở về hạnh phúc của bà chính là bài thơ "Mời trầu". Qua hình ảnh miếng trầu dân dã, nữ sĩ đã gửi gắm cả một cuộc đời, một khát vọng yêu thương chân thành. Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi, Này của Xuân Hương mới quệt rồi. Có phải duyên nhau thì thắm lại, Đừng xanh như lá, bạc như vôi. Mở đầu bài thơ là một lời mời chào đầy thân mật, gần gũi: "Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi". Cách dùng từ "nho nhỏ" tạo nên sự khiêm nhường, duyên dáng, còn từ "hôi" ở đây không mang nghĩa tiêu cực, mà là cách gọi tên dân dã, bình dị của lá trầu không. Qua đó, Hồ Xuân Hương như muốn phô bày sự chân thành, mộc mạc của chính bản thân mình. Hai câu thơ tiếp theo là sự chuyển biến mạnh mẽ trong tâm trạng của tác giả: "Có phải duyên nhau thì thắm lại / Đừng xanh như lá, bạc như vôi". Câu thơ như một lời nhắn nhủ, một lời "thách đố" cũng là một lời khẩn cầu tha thiết. "Duyên" là sợi dây kết nối giữa hai con người, và khi đã có duyên thì hãy để tình cảm ấy trở nên "thắm" – màu đỏ của miếng trầu sau khi têm, màu của sự nồng nàn, gắn kết. Tuy nhiên, đằng sau lời mời ấy lại là một nỗi lo âu đầy ám ảnh. Những hình ảnh "xanh như lá", "bạc như vôi" gợi lên sự phai nhạt, sự đổi thay của lòng người trong tình yêu. Với cái nhìn sắc bén, Hồ Xuân Hương nhận ra sự mong manh của hạnh phúc. Bà sợ cái kết cục của sự bạc bẽo, của những tình cảm hời hợt, không bền chặt. Lời dặn dò "Đừng xanh... đừng bạc..." vừa là tiếng lòng của một người phụ nữ khao khát được yêu thương chân thành, vừa là sự cảnh tỉnh về sự phù phiếm, tráo trở của nhân tình thế thái. Khép lại bài thơ, người đọc không chỉ thấy một Hồ Xuân Hương sắc sảo, cá tính mà còn thấy một người phụ nữ với trái tim nhạy cảm, luôn mong cầu một tình yêu trọn vẹn, thủy chung. Bài thơ "Mời trầu" tuy ngắn gọn nhưng đã kết tinh được cái tình, cái ý sâu xa, vượt qua giới hạn của một nghi thức xã giao thông thường để trở thành lời tự sự về khát vọng hạnh phúc muôn thuở của con người.

8 tháng 3

Bài thơ mà tôi yêu thích nhất là bài “Lượm” của Tố Hữu. Đây là một bài thơ viết về một chú bé liên lạc nhỏ tuổi trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp. Bằng những lời thơ giản dị, giàu cảm xúc, tác giả đã khắc họa hình ảnh chú bé Lượm hồn nhiên, nhanh nhẹn nhưng cũng vô cùng dũng cảm. Trước hết, hình ảnh Lượm hiện lên với dáng vẻ rất đáng yêu. Chú bé có thân hình nhỏ nhắn, nhanh nhẹn và hoạt bát. Tác giả sử dụng những từ ngữ gợi tả như “loắt choắt”, “cái xắc xinh xinh”, “cái chân thoăn thoắt” để miêu tả dáng vẻ tinh nghịch, hồn nhiên của Lượm. Qua đó, người đọc có thể hình dung một cậu bé tuy còn nhỏ nhưng rất lanh lợi và vui tươi. Không chỉ hồn nhiên, Lượm còn là một chú bé rất dũng cảm. Tuy tuổi còn nhỏ nhưng em đã tham gia làm nhiệm vụ liên lạc cho cách mạng. Công việc này vô cùng nguy hiểm nhưng Lượm vẫn luôn vui vẻ và nhiệt tình. Trong lúc làm nhiệm vụ, Lượm đã anh dũng hi sinh. Sự hi sinh của Lượm khiến người đọc vô cùng xúc động và cảm phục trước tinh thần yêu nước của một thiếu niên nhỏ tuổi. Bài thơ “Lượm” đã để lại trong tôi nhiều cảm xúc sâu sắc. Qua hình ảnh chú bé Lượm, tác giả đã ca ngợi lòng dũng cảm, tinh thần yêu nước của thiếu niên Việt Nam trong thời kì kháng chiến. Bài thơ cũng giúp tôi hiểu hơn về sự hi sinh của những con người nhỏ tuổi nhưng có tấm lòng lớn lao đối với Tổ quốc.

Trương Nam Hương là một nhà thơ khá nổi tiếng. Một trong những tác phẩm tiêu biểu có thể kể đến là bài thơ Trong lời mẹ hát: Mở đầu bài thơ, tác giả gợi nhắc về tuổi thơ của chủ thể trữ tình - người con: “Tuổi thơ chở đầy cổ tích Dòng sông lời mẹ ngọt ngào Đưa con đi cùng đất nước Chòng chành nhịp võng ca dao” Khổ thơ gợi liên tưởng về hình ảnh người mẹ đang bế đứa con nằm trên chiếc võng. Từng nhịp võng chòng chành, tiếng mẹ hát ru vang lên ngọt ngào đã đưa con vào giấc ngủ. Tiếp đến, tác giả đã nêu ra những hình ảnh xuất hiện trong lời ru của mẹ, đầy quen thuộc và thân thương: “Con gặp trong lời mẹ hát Cánh cò trắng, dải đồng xanh Con yêu màu vàng hoa mướp “Con gà cục tác lá chanh”. Đó là cánh đồng xanh mướt, cánh cò trắng bay lượn. Đó là những màu vàng của hoa mướp, con gà cục tác, lá chanh. Đó còn là lũy tre huyền thoại, dây trầu, vầng trăng hay hương cau. Tất cả đều thuộc về quê hương quen thuộc của con. Nhắc đến lời ru, người con nhớ về hình ảnh của mẹ hiện lên với công việc vất vả, cuộc đời lam lũ: “Con nghe thập thình tiếng cối Mẹ ngồi giã gạo ru con Lạy trời đùng giông đừng bão Cho nồi cơm mẹ đầy hơn… Con nghe dập dờn sóng lúa Lời ru hóa hạt gạo rồi Thương mẹ một đời khốn khó Vẫn giàu những tiếng ru nôi. Áo mẹ bạc phơ bạc phếch Vải nâu bục mối chỉ sờn Thương mẹ một đời cay đắng Sao lời mẹ vẫn thảo thơm.” Cả cuộc đời mẹ luôn vì con. Hình ảnh “áo mẹ bạc phơ bạc phếch” cho thấy nỗi vất vả, đắng cay của mẹ. Và người con lại thêm thương mẹ nhiều hơn. “Thời gian chạy qua tóc mẹ Một màu trắng đến xôn xao Lưng mẹ cứ còng dần xuống Cho con ngày một thêm cao” Thời gian chảy trôi qua tóc mẹ, làm cho mái tóc xanh mượt giờ trở nên bạc trắng, tấm lưng thẳng giờ đã còng dần xuống. Dấu vết của thời gian đã in hằn lên cơ thể của mẹ. Và mẹ càng già đi thì cũng là lúc con ngày càng trường thành. “Mẹ ơi trong lời mẹ hát Có cả cuộc đời hiện ra Lời ru chắp con đôi cánh Lớn rồi con sẽ bay xa…” Người con đã bộc lộ những tình cảm chân thật của mình dành cho người mẹ. Lời ru của mẹ chính là sức mạnh, chắp cánh cho con bay xa hơn. Dù có bay xa đến đâu, mẹ vẫn dõi theo con, động viên và chờ đợi con trở về trong vòng tay âu yếm. Như vậy, bài thơ Trong lời mẹ gửi gắm một tình mẫu tử thật thiêng liêng, đẹp đẽ. Trương Nam Hương đã đóng góp thêm một bài thơ hay viết về mẹ.

17 tháng 3

Tháng 7 năm 1939 Tố Hữu bị thực dân Pháp bắt và giam tại nhà tù Thừa Thiên Huế. Tuy bị giam cầm trong tù ngục nhưng ông vẫn làm thơ. Bài thơ Nhớ đồng được sáng tác trong hoàn cảnh đó và được trích trong tập thơ: Từ ấy trong phần xiềng xích. Đây là một bài thơ tiêu biểu của tập thơ Từ ấy. “Cô đơn thay là cảnh thân tù/ Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực..” đó là cảm giác rõ nhất khi Tố Hữu bị bắt, cách biệt với cuộc sống bên ngoài. Vì vậy một âm thanh, một tiếng động nào bên ngoài dội vào cũng gợi lên trong lòng nhà thơ một nỗi nhớ da diết khôn nguôi. Không phải là tiếng chim tu hú khắc khoải gọi hè như trong bài thơ Khi con tu hú, mà là một tiếng hò quen thuộc của đồng quê: Quảng cáo arrow_forward_iosĐọc thêm


27 tháng 9 2025

Trong tất cả những bài thơ tự do nổi tiếng như “Sóng” – Xuân Quỳnh; “Những cánh buồm” – Hoàng Trung Thông; “Đất nước” (trích Trường ca Mặt đường khát vọng) – Nguyễn Khoa Điềm; “Mùa xuân nho nhỏ” – Thanh Hải; “Ánh trăng” – Nguyễn Duy thì bài thơ Tre Việt Nam của Nguyễn Duy đã để lại trong em nhiều ấn tượng sâu lắng. Qua thể thơ tự do giản dị, nhà thơ đã khắc họa hình ảnh cây tre xanh quen thuộc của làng quê Việt Nam. Tre hiện lên không chỉ là loài cây mọc thẳng, dẻo dai, gắn bó với đồng ruộng, với mái nhà tranh mà còn là biểu tượng cho phẩm chất con người Việt Nam: cần cù, đoàn kết, kiên cường, cần cù, chịu thương chịu khó, lối sống ngay thẳng, chính trực. Đọc những câu thơ ấy, em cảm thấy như nghe tiếng nói chân thành của nhà thơ về dân tộc mình, vừa tự hào, vừa yêu thương. Đất nước ta đã phải trải qua 1000 năm Bắc thuộc và phải đi trên con đường cách mạng - đường mà dân tộc ta phải đi trong lịch sử, tre như là lũy thành, hàng rào kiên cố bảo vệ con đường cách mạng chi đất nước ta. Tre cùng dân ta trải qua bao gian khổ, cùng ra trận, giữ làng, giữ nước, như bức tường thành kiên cố - một chứng minh của lịch sử và còn là người bạn đồng hành trung thành của ông cha ta nói chung và Việt Nam nói riêng. Hình ảnh tre trong bài thơ gợi cho em tình yêu sâu sắc với quê hương, đất nước, và nhắc nhở em phải cố gắng học tập để mai sau này xây dựng cho quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh hơn.

câu 1

Nhan đề “Chuyện cổ tích về loài người” của Xuân Quỳnh đã gợi nhắc cho người đọc nhớ về những câu chuyện cổ tích mà bà thường kể về một thời đại xa xưa ngày trước. Khi đọc tác phẩm, người đọc cảm thấy cách lý giải nguồn gốc loài người của tác giả thật thú vị. Dưới hình thức một bài thơ, nhưng tác phẩm lại giàu tính tự sự, giống như một câu chuyện được kể lại theo trình tự thời gian. Trước hết tác giả khẳng định trời sinh ra trước tiên là trẻ em. Sau đó, để trẻ em có được một môi trường sống thật tốt, mới có sự ra đời của những sự vật khác trên trái đất. Ở đây, nhà thơ đã sử dụng những hình ảnh miêu tả sinh động để giúp người đọc hiểu hơn về sự ra đời của thiên nhiên. Kế tiếp là sự ra đời của mẹ giúp trẻ em cần có tình yêu thương, sự chăm sóc. Bà được sinh ra để giáo dục trẻ em về những giá trị truyền thống, đạo đức tốt đẹp. Còn bố được sinh ra để dạy trẻ em thêm hiểu biết, trưởng thành. Cuối cùng trường lớp là nơi trẻ em đến để học tập, vui chơi còn thấy giáo là người dạy dỗ trẻ em ở đó. Có thể khẳng định, với bài thơ này, Xuân Quỳnh muốn gửi gắm tình yêu thương của Xuân Quỳnh dành cho trẻ em.

câu 2

Trong bài thơ Chuyện cổ tích về loài người của nhà thơ Xuân Quỳnh, em thích nhất là khổ thơ cuối. Ở đó, em thấy hình ảnh ngôi trường được hiện lên thật mộc mạc và giản dị. Trật tự thông thường đã được xáo trộn lên, tạo cảm giác thú vị khi đọc. Đầu tiên là những con chữ xuất hiện, rồi đến ghế, đến bàn, rồi mới có lớp có trường. Sau cùng, là thầy cô giáo tiến đến, giảng dạy cho em bao điều hay. Em rất ấn tượng với các kể này của tác giả, bởi ở đây, tất cả đều xuất hiện vì trẻ con, vì muốn được dạy cho trẻ con những điều hay lẽ phải, những điều thú vị bổ ích. Từ đó, vai trò và khát vọng học tập của thiếu nhi chúng em được quan tâm và đề cao hơn cả. Đặc biệt, là câu thơ cuối cùng "Chuyện loài người trước nhất". Nó vừa là lời kết cho cả một câu chuyện kể về loài người của nhà thơ Xuân Quỳnh. Nhưng cũng là câu thơ mở ra về những câu chuyện khác về loài người do chính trẻ con chúng em kể. Mỗi người sẽ có những câu chuyện của riêng mình. Điều đó đã khiến cho bài thơ thêm ý nghĩa và truyền cảm hứng cho người đọc.

câu 3

Thế Lữ là một trong những nhà thơ nổi tiếng của nền văn học Việt Nam. Một trong những tác phẩm nổi tiếng của ông mà chúng ta phải nhắc đến chính là Nhớ rừng. Nổi bật trong bài thơ là hình ảnh bức tranh tứ bình hiện lên trong nỗi nhớ của chú hổ. Mở đầu bức tranh là bốn cảnh thiên nhiên hiện lên trong tâm trí chú hổ, đó là: những đêm vàng, những ngày mưa, những bình minh, những chiều lênh láng máu sau rừng, cảnh nào cũng tráng lệ, lần lượt hiện lên trong nỗi nhớ tiếc khôn nguôi của con hổ sa cơ. Đó là cảnh huyền ảo, thơ mộng của những đêm vàng bên bờ suối, chúa sơn lâm say mồi đứng uống ánh trăng tan. Là những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn, chúa sơn lâm lặng ngắm giang sơn… đổi mới. Là cảnh bình minh cây xanh nắng gội chan hòa, rộn rã tiếng chim ca. Cuối cùng là cảnh những chiều lênh láng máu sau rừng thật dữ dội, bi tráng. Vị chúa tể đại ngàn đang ung dung đợi chết mảnh mặt trời gay gắt, để chiếm lấy riêng ta phần bí mật trong vũ trụ bao la. Đại từ ta lặp lại nhiều lần trong bài thơ tạo nên nhạc điệu rắn rỏi, hùng tráng của câu thơ, thể hiện khẩu khí đẩy tự tôn, tự hào của vị chúa tể muôn loài. Nhưng dẫu huy hoàng đến đâu chăng nữa thì cũng chỉ là hào quang của dĩ vãng hiện ra trong hoài niệm. Những điệp ngữ: nào đâu, đâu những… lặp đi lặp lại nhấn mạnh sự tiếc nuối của con hổ đối với quá khứ vinh quang. Chúa sơn lâm dường như ngơ ngác, chới với trước thực tế phũ phàng mà mình đang phải chịu đựng. Giấc mơ đẹp đẽ đã khép lại trong tiếng thở dài u uất: "Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu?" Đoạn thơ nói riêng và bài thơ nói chung đã khắc sâu trong tâm trí bạn đọc về một cuộc sống đã từng tươi đẹp của chú hổ. Nhiều năm tháng qua đi nhưng đoạn thơ nói riêng và bài thơ nói chung đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc cho nền văn học Việt Nam.

꧁༺๖ۣ๖ۣۜSkyღ๖ۣۜlạnh☯๖ۣۜlùngɠɠ༻꧂

4 tháng 3 2022

1) Sao chuyện này kỳ thú, huyền ảo thế?

2) Chuyện này xúc động làm sao!

3) Bạn hãy rút ra bài học: Nên biết sẻ chia, giúp đỡ người khác.

15 tháng 9 2023

Dục Thúy sơn- Nguyễn Trãi

Phiên âm:

Hải Khẩu hữu tiên san,

Tiền niên lũ vãng hoàn.

Liên hoa phù thuỷ thượng,

Tiên cảnh trụy trần gian

Tháp ảnh trâm thanh ngọc

Ba quang kính thuý hoàn.

Hữu hoài Trương Thiếu bảo.

Bi khắc tiển hoa han.

Dịch thơ:

Cửa biển có non tiên

Từng qua lại mấy phen.

Cảnh tiên rơi cõi Tục.

Mặt nước nổi hoa sen,

Bóng tháp hình trâm ngọc

Gương sông ánh tóc huyền

Nhớ xưa Trương Thiếu bảo

Bia khắc dấu rêu hoen.

(Khương Hữu Dụng dịch)

15 tháng 9 2023

Đoạn văn cảm nghĩ:

“Dục Thúy Sơn” có thể được sáng tác vào thời điểm sau cuộc kháng chiến chống giặc Minh và trước khi Nguyễn Trãi lui về ở ẩn tại Côn Sơn. Bài thơ được sưu tầm và xếp vào Ức Trai thi tập. Thể thơ ngũ ngôn luật thi (ngũ luật) - một thể của thơ Đường luật với bố cục, sáu câu đầu thiên về tả cảnh, bức tranh núi Dục Thuý; hai câu kết thể hiện cảm xúc hoài niệm của tác giả. Hai câu thơ đầu tác giả giới thiệu chung về cảnh vật trong mối quan hệ với tác giả. Nhà thơ đã mấy lần đến chơi núi. Cảnh tuy đã quen, nhưng lần này đến không khỏi ngạc nhiên vẻ đẹp “non tiên” hiện lên trước cửa biển. Bốn câu thơ sau: Bức tranh sơn thủy hữu tình. Bức tranh toàn cảnh núi Dục Thuý được thể hiện rõ nét trong hai câu 3 - 4, từ điểm nhìn xa, có tầm bao quát rộng. Núi Dục Thuý được tác giả ví như đoá sen nổi trên mặt nước, hình ảnh và bút pháp mới lạ, độc đáo. Hình ảnh đóa sen có ý nghĩa biểu tượng, gợi ý niệm thoát tục, như là cõi tiên rơi xuống trần gian. Ngôn từ được sử dụng tinh xác, tạo ấn tượng, trong nguyên văn, từ phù có nghĩa là nổi, nhưng lay động tại chỗ; từ truỵ có nghĩa là rơi, rớt từ trên cao xuống, thể hiện sự sống động trong miêu tả. Dấu ấn riêng của tâm hồn Nguyễn Trãi thể hiện rõ nhất qua những liên tưởng xuất hiện ở cái nhìn cận cảnh (hai câu 5 - 6). Các chi tiết đặc sắc được thể hiện khi so sánh bóng tháp hiện trên mặt nước như chiếc trâm ngọc xanh; ánh sáng sóng nước như đang soi chiếu mái tóc biếc. Trâm ngọc xanh và mái tóc biếc gợi hình ảnh trẻ trung, trong sáng, trữ tình, nên thơ, giúp liên tưởng đến hình ảnh người con gái. Vẻ đẹp của thiên nhiên được so sánh với vẻ đẹp của con người; lấy nét đẹp của người con gái để hình dung bóng núi trên sóng biếc. Sự liên tưởng này rất hiện đại, đặc biệt, hiếm thấy trong thơ cổ. Thơ cổ thường lấy chuẩn mực vẻ đẹp tự nhiên để so sánh với con người. Sự liên tưởng và bút pháp mới lạ này cho thấy tâm hồn trong sáng, nhạy cảm, tinh tế của nhà thơ.  Hai câu thơ cuối thể hiện tâm sự hoài niệm của nhà thơ, cũng giống như các bài thơ khác cùng chủ đề của Nguyễn Trãi, lại thường là sự bộc lộ những suy tư về con người, về lịch sử, về dân tộc. Ý thơ thể hiện rõ sự hoài niệm, nhớ tiếc. Điều này cho thấy tâm hồn hướng nội, sâu sắc của Nguyễn Trãi. “Dục Thúy Sơn” là bài thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Bài thơ ngũ ngôn bát cú bằng chữ Hán. Hình tượng thơ mĩ lệ, cảnh sắc đượm vẻ thần tiên. Trong phần luận, bốn hình ảnh ẩn dụ sóng nhau, đối nhau, hình ảnh này làm đẹp thêm hình ảnh kia, thể hiện cách cảm, cách tả của nhà thơ mang tâm hồn thơ mộng, tài hoa. Ức Trai, trong cảm nhận cái đẹp của thiên nhiên, sông núi, ngòi bút tài hoa của ông rất tinh tế và nhạy cảm trong gợi tả và biểu cảm.

15 tháng 9 2023

Tiêu chí

Phân tích một tác phẩm thơ

Thuyết minh giới thiệu một tác phẩm thơ

Mục đích

Làm rõ những điểm nổi bật trong nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.

Trình bày cho người đọc biết các thông tin cơ bản về bài thơ như: nhan đề, thể loại, tác giả, hoàn cảnh ra đời, nội dung, hình thức, giá trị, ý nghĩa...

Nội dung

Phân tích, cảm nhận và chỉ ra được những giá trị của các yếu tố hình thức trong việc thể hiện nội dung, chủ đề tác phẩm, nhất là các sáng tạo độc đáo của người viết.

Thuyết minh, giới thiệu về những vấn đề xoay quanh tác phẩm thơ như: tác giả, hoàn cảnh ra đời,... giá trị nội dung, nghệ thuật của bài thơ.

Hình thức

Sử dụng hệ thống luận điểm, luận cứ và các phép lập luận.

Bài thường được trình bày theo trình tự: từ khái quát thông tin về tác giả, tác phẩm đến thông tin cụ thể về nội dung, hình thức của bài thơ; từ thông tin khác quan đến ý kiến chủ quan của người đọc, người xem hoặc người giới thiệu.

Lời văn

Rõ ràng, cụ thể với hệ thống lý lẽ, dẫn chứng logic, thể hiện quan điểm, cảm xúc của người viết.

Lời văn trung tính, khách quan, đưa ra thông tin rõ ràng, chuẩn xác.

13 tháng 9 2023

*Văn bản “Nếu mai em về Chiêm Hoá”

Khổ 2:

- Đá - ngồi, trông nhau.

- Non Thần - trẻ lại.

=> Tác dụng: Làm cho sự vật có hồn, bức tranh thiên nhiên mùa xuân trở nên sống động.

Khổ 4:

Mùa xuân - lạc đường.

=> Tác dụng: Gợi vẻ đẹp của các cô gái bản Tày, vẻ đẹp khiến cho mùa xuân mải mê say đắm đến mức lạc đường.

*Văn bản “Nắng mới”:

- Biện pháp nghệ thuật: nhân hoá (nắng mới reo ngoài nội).

=> Tác dụng: khiến bài thơ chợt chùng hẳn xuống, nặng trĩu một nỗi buồn, một nỗi buồn dịu nhẹ, một tâm trạng quạnh hiu xa vắng, gợi nỗi nhớ về người mẹ đã đi xa

13 tháng 9 2023

Tham khảo!

- *Văn bản “Nếu mai em về Chiêm Hoá”

Khổ 2:

- Đá - ngồi, trông nhau.

- Non Thần - trẻ lại.

=> Tác dụng: Làm cho sự vật có hồn, bức tranh thiên nhiên mùa xuân trở nên sống động.

Khổ 4:

Mùa xuân - lạc đường.

=> Tác dụng: Gợi vẻ đẹp của các cô gái bản Tày, vẻ đẹp khiến cho mùa xuân mải mê say đắm đến mức lạc đường.

*Văn bản “Nắng mới”:

- Biện pháp nghệ thuật: nhân hoá (nắng mới reo ngoài nội).

=> Tác dụng: khiến bài thơ chợt chùng hẳn xuống, nặng trĩu một nỗi buồn, một nỗi buồn dịu nhẹ, một tâm trạng quạnh hiu xa vắng, gợi nỗi nhớ về người mẹ đã đi xa.

1.1. Phân tích một tác phẩm thơ cũng như phân tích một tác phẩm truyện (Bài 6), đều có yêu cầu chung là chỉ ra và làm rõ những điểm nổi bật (thành công, có thể cả hạn chế) trong nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Các em cũng có thể đi sâu tìm hiểu từng vấn đề, nêu những nhận xét riêng của bản thân về tác phẩm. Tác phẩm thơ có thể là bài thơ...
Đọc tiếp

1.1. Phân tích một tác phẩm thơ cũng như phân tích một tác phẩm truyện (Bài 6), đều có yêu cầu chung là chỉ ra và làm rõ những điểm nổi bật (thành công, có thể cả hạn chế) trong nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Các em cũng có thể đi sâu tìm hiểu từng vấn đề, nêu những nhận xét riêng của bản thân về tác phẩm. Tác phẩm thơ có thể là bài thơ hoặc tập thơ. Bài 7 tập trung vào việc rèn luyện phân tích một bài thơ theo các yêu cầu nêu trên.

1.2. Để viết bài văn phân tích một tác phẩm thơ, các em cần chú ý:

- Đọc kĩ tác phẩm, chú ý xác định nội dung và các yếu tố hình thức nổi bật. Chỉ ra giá trị của các yếu tố hình thức trong việc thể hiện nội dung, chủ đề của tác phẩm, nhất là các sáng tạo độc đáo của người viết.

- Xác định các luận điểm trong bài viết, lựa chọn các bằng chứng từ bài thơ cho mỗi luận điểm.

- Liên hệ, so sánh với các bài thơ có cùng đề tài, chủ đề, thể loại để làm sáng tỏ thêm giá trị của bài thơ được phân tích.

- Suy nghĩ, nhận xét về những thành công và hạn chế (nếu có) của bài thơ, về giá trị, sự tác động của tác phẩm đối với người đọc cũng như bản thân em.

0
21 tháng 4 2022

Viết 1 đoạn văn và thuyết minh về một tác phẩm văn học mà em yêu thích nhất
Lưu ý:
- mở đoạn giới thiệu khái quát về tác phẩm
Thân đoạn:
Tác giả năm sinh năm mất
Cuộc đời sự nghiệp
Thể loại
Hoàn cảnh sáng tác
Nội dung
Nghệ thuật
Kết đoạn
Nêu vị trí của tác phẩm với nên văn học việt nam

Tình cảm của em