Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
- Đoạn thơ trên trích trong bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên miêu tả tâm trạng ông đồ thời suy tàn.
- Bằng các biện pháp nghệ thuật đối lập, tả cảnh ngụ tình để thể hiện niềm cảm thương trước hình ảnh ông đồ lạc lõng, trơ trọi “vẫn ngồi đấy” như bất động, lẻ loi và cô đơn khi người qua đường thờ ơ vô tình không ai nhận thấy hoặc đoái hoài tới sự tồn tại của ông.
- Qua hai câu thơ tả cảnh ngụ tình tuyệt bút, hiểu được nỗi buồn của con người thấm sâu vào cảnh vật. Hình ảnh “lá vàng, mưa bụi” giàu giá trị tạo hình vẽ nên một bức tranh xuân lặng lẽ, âm thầm, tàn tạ với gam màu nhạt nhòa, xám xịt.
- Khổ thơ cực tả cái cảnh thê lương của nghề viết và sự ám ảnh ngày tàn của nền nho học đồng thời thể hiện sự đồng cảm xót thương của nhà thơ trước số phận những nhà nho và một nền văn hóa bị lãng quên.
Ông đồ rơi vào tình cảnh một nghệ sĩ hết công chúng, một cô gái hết nhan sắc. Còn duyên kẻ đón người đưa - Hết duyên di sớm về trưa, một mình. Ông đồ vẫn ngồi đấy mà không ai hay. Cái hiện thực ngoài đời là thế và chỉ có thế, nó là sự ế hàng. Nhưng ở thơ, cùng với cái hiện thực ấy còn là nỗi lòng tác giả nên giấy đỏ như nhạt đi và nghiên mực hóa sầu tủi. Hay nhất là cộng hưởng vào nỗi sầu thảm này là cảnh mưa phùn gió bấc. Hiện thực trong thơ là hiện thực của nỗi lòng, nỗi lòng đang vui như những năm ông đồ “đắt khách” nào có thấy gió mưa. Gió thổi lá bay, lá vàng cuối mùa rơi trên mặt giấy, nó rơi và nằm tại đấy vì mặt giấy chưa được dùng đến, chẳng có nhu cầu gì phải nhặt cái lá ấy đi. Cái lá bất động trên cái chỗ không phải của nó cho thấy cả một dáng bó gối bất động của
Ông đồ ngồi nhìn mưa bụi bay. Văn tả thật ít lời mà cảnh hiện ra như vẻ, không chỉ bóng dáng ông đồ mà cả cái tiêu điều của xã hội qua mắt của ông đồ. Tác giả đã có những chi tiết thật đắt: nơi ông đồ là bút mực, nơi trời đất là gió mưa, nơi xã hội là sự thờ ơ không ai hay. Thể thơ năm chữ vốn có sức biểu hiện những chuyện dâu bể, hoài niệm, đã tỏ ra rất đắc địa, nhịp điệu khơi gợi một nỗi buồn nhẹ mà thấm. Màn mưa bụi khép lại đoạn thơ thật ảm đạm, lạnh, buồn, vắng. Như vậy cũng chỉ với tám câu, bốn mươi chữ, đủ nói hết những bước chót của một thời tàn. Sự đối chiếu chi tiết ở đoạn này với đoạn trên: mực với mực, giấy với giấy, người với người, càng cho ta cái ấn tượng thảng thốt, xót xa của sự biến thiên.
Có một khoảng thời gian trôi qua, khoảng trống của đoạn thơ trước khi vào bốn câu kết:
Năm nay đào lại nở,
Không thấy ông đồ xưa.
Những người muôn năm cũ.
Hồn ở đâu bây giờ?
Hãy trở lại câu thơ đầu bài Mỗi năm hoa đào nở để thấy quy luật cũ không còn đúng nữa. Ông đồ đã kiên nhẫn vẫn ngồi đấy, nhưng năm nay ông không còn kiên nhẫn được nữa: Không thấy ông đồ xưa. Ông đã cố bám lấy xã hội hiện đại, lũ người hiện đại chúng ta đã nhìn thấy sự cố sức của ông, đã thấy ông chới với, nhưng chúng ta đã không làm gì, để đến bây giờ quay nhìn lại, mới biết ông đã bị buông, rơi tự bao giờ. Bóng dáng ông đâu phải bóng dáng của một người, của một nghề, mà là bóng dáng của cả một thời đại, bóng dáng kí ức của chính tâm hồn chúng ta. Đến bây giờ chúng ta mới thấy luyến tiếc, nhưng quá muộn rồi. Chúng ta hỏi nhau hay tự hỏi mình? Hỏi hay khấn khứa tưởng niệm, hay ân hận sám hối. Hai câu thơ hàm súc nhất của bài, chúng ta đọc ở đấy số phận của ông đồ và nhất là đọc được thái độ, tình cảm của cả một lớp người đối với những gì thuộc về dân tộc. Về ngữ pháp câu thơ này rất lạ, nhưng không ai thấy cộm: Những người muôn năm cũ. Muôn năm, thật ra chỉ là vài ba năm, nhưng nói muôn năm mới đúng, thời ông đồ đã xa lắc rồi, đã lẫn vào với những bút, những nghiên rất xa trong lịch sử. Chữ muôn năm cũ của câu trên dội xuống chữ bây giờ của câu dưới càng gợi bâng khuâng luyến nhớ. Câu thơ không phải là nỗi đau nức nở, nó chỉ như một tiếng thở dài cảm thương, nuối tiếc không nguôi.
Cảm nhận về đoạn thơ Đất nước đẹp vô cùng.... - Tuấn Huy - H7
Chỉ với hai khổ thơ ngắn ngủi nhưng nhà thơ Chế Lan Viên đã thể hiện niềm quyến luyến , xót thay cho lần ra đi tìm đường này của Bác vô cùng cảm động , càng khiến cho người đọc thêm thấu nỗi lòng xa nước của Người. Tác giả như hiểu rõ điều đó, muốn san sẻ , muốn đc đồng hành cùng Bác trong chuyến hành trình đầy gian nan hiểm trở . Hình ảnh rất đắt này không chỉ làm sống lại trong lòng người đọc phút giây lịch sử năm nào mà còn thể hiện lòng kính yêu, lưu luyến của nhà thơ đối với Bác. Chỉ với mong ước nhỏ nhoi ấy thôi Bác sẽ không thấy lạnh lẽo, cô đơn khi lênh đênh giữa biển khơi. Nỗi nhớ thương len vào từng hơi thở của Người khiến đêm như dài thêm ra trên hành trình cứu nước.Những hình ảnh quen thuộc dần lu mờ, thay vào đó là những sự vật xa lạ ; và những gì lạ lẫm ấy lại phần nào như nhát dao khứa vào lòng Bác khi phải giữa từ đất nước thân yêu để chuẩn bị cho một chuyến đi xa đầy nguy hiểm.Sự khéo léo trong cách dùng từ của Chế Lan Viên chính là khi nói "xa nước" , ta hiểu ấy là một tình cảm giản dị, bình thường còn khi ông nói" quê hương",gợi nên một nét gần gũi , thân thiết đến lạ thường."Xanh màu xứ sở"- tình cảm đối với một mảnh đất xa cách lắm rồi. Có thể nói, tình yêu quê, yêu nước càng lúc càng đc bộc rõ và mãnh liệt qua từng câu từ của nhà thơ .đọc câu thơ, ta như thấm nhuần và đồng cảm bởi tình yêu nước vô bờ bến của Bác . Một tình yêu bất diệt và không một ai có thể lung lay.
nhưng mỗi năm mỗi vắng
người thuê viết nay đâu
giấy đỏ buồn không thắm
mực đọng trong nghiền sầu
Qua nhừng câu thở trên chúng ta thấy nỗi buồn từ lòng người thấm sâu, tỏa rộng vào không gian cảnh vật. Dưới trời mưa bụi "Ông đồ vần ngồi đáy" như bất động. Lẻ loi và cô đơn: "Qua đường không ai hay". Cái vàng của lá, cái nhạt nhòa của giấy, của mưa bụi đầy trời và cơn mưa trong lòng người. Một nỗi buồn lê thê . Thơ tả ít mà gợi nhiều. Cảnh vật tàn tạ mênh mang. Lòng người buồn thương thấm thìa . Khép lại bài ihơ là một câu hỏi diễn tả một nỗi buồn trống vắng, thương tiếc, xót xa. Hoa đào lại nở. Ông đồ già đi đâu về đâu..Thương ông đồ cũng là thương một lớp người đã vĩnh viễn lùi vào quá khứ. Thương ông đồ cũng là xót thương một nền văn hóa lụi tàn dưới ách thống trị của ngoại bang. Sự đồng cảm xót thương của Vũ Đình Liên đối với ông đồ đã trang trải và thấm sâu vào từng câu thơ, vần thơ. Thủ pháp tương phản, kết hợp với nhân hóa, ẩn dụ, đã tạo nên nhiều hình ảnh gợi cảm, thể hiện một bút pháp nghệ thuật điêu luyện, đậm đà . Bài thơ "Ông đồ" chứa chan tinh thần nhân đạo. "Theo đuổi nghề văn mà làm được một bài thơ như thế cũng đủ. Nghĩa là đủ lưu danh với người đời" (Hoài Thanh). Đó là những lời tốt đẹp nhất, trân trọng nhất mà tác giả "Thi nhân Việt Nam" dã dành cho Vũ Đình Liên và bài thơ kiệt tác "Ông đồ"
cho mik xin lựa chọn đúng nha
1, Biểu cảm
2,
Nét đặc trưng trong cách sử dụng từ ngữ là:
- dùng những từ địa phương: bầm, chớ, nghe. Tác dụng: thể hiện được sắc thái của những người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ.
- dùng những từ sánh đôi: bao nhiêu- bấy nhiêu.
3,
Câu cảm thán: Bầm ơi có rét không bầm!
Tác dụng: bộc lộ cảm xúc thương xót của người lính xa nhà với những nỗi nhọc nhằn, vất vả của người mẹ ở nhà; từ đó bộc lộ được tình yêu thương của người lính xa nhà dành cho mẹ.
4,
Hình ảnh người mẹ trong bài thơ "Bầm ơi" của nhà thơ Tố Hữu đã hiện lên vô cùng chân thực và gây xúc động cho người đọc. Thật vậy, người mẹ trong bài thơ chính là đại diện của tất cả những bà mẹ VN anh hùng có những phẩm chất quý báu hy sinh cho đất nước, non sông. Đầu tiên, những người mẹ VN anh hùng là những người giàu đức hy sinh. Bên cạnh những người lính ra trận trực tiếp bảo vệ tổ quốc, những người mẹ ở nhà chính là những người giàu đức hy sinh, thầm lặng làm chỗ dựa tinh thần cho những người con. Những người con ra đi và hy sinh đều là những nỗi mất mát vô cùng lớn cho những người mẹ ở nhà ngóng chờ con trong nỗi vô vọng tột cùng. Thứ hai, những người mẹ VN anh hùng là những người phụ nữ chịu thương chịu khó, 1 nắng hai sương. Họ chăm chỉ với công việc đồng áng, họ gánh vác công việc của những người đàn ông trong nhà. Những sự vất vả in hằn lên đôi vai, đôi mắt đượm buồn của những người mẹ, người phụ nữ ở quê chờ đợi người con của mình trở về. Tóm lại, những người mẹ VN anh hùng chính là những người phụ nữ giàu đức hy sinh và là chỗ dựa cho Cách mạng, cho những người lính, cho chiến thắng của dân tộc VN vĩ đại.
Câu 1 : Phương thức biểu đạt chính : Biểu cảm
Câu 2 :
Sử dụng từ ngữ địa phương : " Bầm "
Giải nghĩa từ " Bầm " : " Mẹ"
Câu 3:
Kiểu câu nghi vấn
- Tác dụng : Nói lên tình yêu thương của đứa con với bầm " Mẹ " , thể hiện nỗi xót đau lòng của người con đối với mẹ , người con tự hỏi mẹ có lạnh không trong sự giá lạnh của mùa đông.
Câu 4 :
“Lên non mới biết non cao, Có con mới biết công lao mẹ già!“. Trong mỗi nhịp đập của trái tim mình, ta luôn thấy hình bóng của mẹ yêu. Tình yêu của người mẹ hiền dành cho mỗi chúng ta không thể nói hết bằng lời. Và cho dù có đi đâu về đâu , dù thành công hay thất bại thì mẹ vẫn luôn bên ta, che chở, bảo vệ, động viên ta vững bước trên đường đời. Từ tận đáy lòng tôi luôn mong ước được nằm trong vòng tay âu yếm, trìu mến của mẹ, của gia đình! Thương mẹ, con nguyện sẽ gắng học thật tốt để rèn luyện bản thân , góp một phần nhỏ bé cho xã hội, đem lại nguồn vui, niềm hy vọng cho mẹ, cho gia đình thương yêu của mình.
Mới có 6 giờ sáng mà tôi đã chuẩn bị cho buổi đi học đầu tiên của mình đâu ra đó. Tôi vốn là một đứa trẻ có tính tự lập ngay từ lớp “Chồi” lớp “Lá”. Không giấu gì các bạn, bố tôi mất sớm khi tôi mới tròn một tuổi. Ba năm sau, ông bà nội “bắt” mẹ tôi phải đi bước nữa. Và từ đó, tôi về ở với ông bà nội và cô út. Cô út lúc đó đang học lớp 12. Ông bà nội và cô út rất thương tôi, nhưng vì hoàn cảnh, ông bà nội thì đã già, cô út lại đi học suốt sáng chiều, nên mọi sinh hoạt của bản thân, tôi thường tự làm lấy, dần dần thành thói quen.
Năm tôi vào lớp 1 thì cô út cũng ước vào Đại học năm thứ hai. Nhà chỉ còn ông bà nội và tôi. Sáng đó, ông bà nội có ý định đưa tôi đến lớp. Nhưng tôi nói với ông bà nội rằng. “Cháu đi đến trường một mình được, nội cứ ở nhà”. Từ nhà đến trường chỉ gần một cây số. Sau khi chào ông bà nội, tôi khoác chiếc cặp sách mới mà cô út đã mua cho tôi hồi hè vừa rồi. Vừa mới ra khỏi ngõ thì gặp một chiếc Honda chở tới. Tôi không ngờ là bố dượng tôi. Bố dừng xe lại, bế tôi lên xe và nói: “Bố đi từ lúc 5 giờ kia, nhưng chờ phà lâu quá nên giờ mới tới.
Con đừng buồn bố mẹ nhé! Bố dẫn tôi đến trường, rồi dẫn tôi vào lớp. Bố trao đổi với cô giáo chuyện gì đó khá lâu, rồi quay lại nói với tôi: “Con ở lại với cô giáo và các bạn, bố phải trở lại cơ quan. Trưa, con về một mình nhé! Thứ bảy này, bố sẽ đưa mẹ và em sang thăm ông bà và con!” Nói xong, bố chào tạm biệt cô giáo, rồi lên xe trở về. Tôi nhìn theo bố dượng cho đến lúc chiếc xe khuất hẳn sau dãy xà cừ ven đường mới quay về chỗ ngồi của mình ở cuối lớp học. Ngày đầu tiên vào lớp Một của tôi như thế đó, các bạn ạ!
Nếu thơ Xuân Diệu có giọng điệu say đắm, rạo rực, thơ Hàn Mặc Tử có chút điên loạn, thơ Huy Cận có nỗi buồn ảo não thì thơ Vũ Đình Liên lại mang một giọng điệu hoài cổ. Mỗi người nghệ sĩ có phong cách thơ khác nhau, đây là nét riêng biệt để họ được phân biệt với các tác giả khác và cũng là ấn tượng riêng để bạn đọc nhớ đến họ. Tuy sáng tác không nhiều nhưng Vũ Đình Liên đã để lại cho văn học Việt Nam những tác phẩm giá trị, tiêu biểu là bài thơ “Ông đồ”.
Bài thơ được sáng tác năm 1936 và được đăng trên tạp chí “Tinh hoa”. Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh nền Hán học đang mất dần vị thế của mình do sự xâm nhập của nền văn hóa phương Tây. Đây cũng là lúc các ông đồ không còn được trọng vọng do thời thế đã thay đổi. Nhan đề bài thơ gợi nhớ một nét đẹp đã lùi sâu vào dĩ vãng cùng sự tiếc thương vô cùng.
Nhắc đến ông đồ là nhắc đến những thầy dạy chữ Nho ngày xưa, mỗi dịp Tết đến xuân về ông thường xuất hiện bên đường phố để viết những câu đối đỏ:
“Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua”.
Hình ảnh này đã trở nên quen thuộc bởi Tết nào ông đồ già cũng xuất hiện cùng với mực tàu và giấy đỏ. Đó là thời đắc ý, thời vàng son của ông. Như một sự tuần hoàn của chu kì thời gian, mỗi dịp chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, khi những cánh đào hồng tươi khoe sắc thắm thì đó cũng là lúc ông đồ xuất hiện. Không gian làm việc của ông là bên phố. Ta hãy hình dung dưới những bông hoa đào cùng tiết trời se lạnh có một ông đồ già đang vẽ những nét chữ điêu luyện và sự nhộn nhịp của bước chân người qua lại tạo nên một bức tranh thật tươi vui. Từ “mỗi”, “lại” đã phần nào thể hiện nhịp điệu đều đặn ấy. Hoa đào và ông đồ đã song hành, sóng đôi cùng nhau để tôn thêm vẻ đẹp của ngày Tết. Màu hồng của hoa đào, màu đen của thỏi mực, màu đỏ của giấy đã làm bức tranh thật sinh động.
Tài năng viết chữ của ông đồ được mọi người ngợi khen, thán phục:
“Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay”.
Rất nhiều người thuê ông viết chữ, họ không chỉ quý trọng những nét chữ của ông mà họ còn dành cho ông một lòng kính trọng. Ông đã phô diễn tài năng của mình qua các câu đối đỏ, qua những nét chữ rồng bay phượng múa. Phải là một người am hiểu về Hán học, chữ Nho thì ông đồ mới có thể viết những nét chữ tài hoa đến như vậy. Phép tu từ so sánh “như phượng múa rồng bay” đã thể hiện được lòng ngưỡng mộ, sự tôn trọng của Vũ Đình Liên cũng như của nhân dân ta dành cho ông đồ. Đây cũng là sự trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Chơi chữ là một thú vui thể hiện cốt cách thanh cao của người thường thức nó. Đồng thời, người viết chữ cũng được xem như một nghệ sĩ tài ba bởi nét chữ thể hiện được cái tâm, cái chí của người sáng tạo. Không những viết đẹp mà ông còn viết nhanh, điều này thật đáng khâm phục. Những nét chữ uốn lượn một cách tài tình dưới đôi tay của một người có học thức khiến ai cũng muốn thuê ông viết cho câu đối đỏ. Có thể nói, thời đắc ý ông đồ vô cùng đông khách, người ta đến với ông vì sự thán phục những nét chữ phóng khoáng. Cả người viết chữ và người chơi chữ như có mối đồng cảm sâu sắc vì họ đều là người biết yêu và thường thức cái đẹp.
Nhưng khi thời thế thay đổi cũng là lúc ông đồ không còn được trọng vọng, ngưỡng mộ:
“Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu…”
Trước đây, người thuê ông đồ viết chữ nhiều là thế nhưng nay họ đã đi đâu hết? Họ vẫn ở đó, vẫn xuất hiện trong cuộc sống thường nhật nhưng sự xâm nhập của văn hóa phương Tây đã làm những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc bị mai một. Tác giả đã miêu tả một khung cảnh quạnh hiu,vắng vẻ đến thê lương. Thời gian đã cuốn trôi đi những gì tươi đẹp của quá khứ khiến con người không khỏi xót xa, tiếc nuối. Câu hỏi tu từ: “Người thuê viết nay đâu?” vang lên với bao đau đớn. Thực tại thú chơi chữ đã không còn được ưa chuộng, người chơi chữ, mua chữ cũng ít dần đi theo năm tháng. Nỗi buồn đã nhuốm sang cả cảnh vật, sang cả những gì vô tri vô giác. Giấy đỏ cũng biết buồn nên đã chẳng còn thắm, màu giấy đã phôi phai đi rồi nhạt dần, thỏi mực đã mài nhưng không được dùng đến nay cũng đọng lại trong nghiên. Biện pháp nhân hóa đã thể hiện tâm trạng u uất của ông đồ và cũng là sự xót xa, thương cảm của nhà thơ.
Nền Hán học đã suy tàn nhưng với mong muốn lưu giữ lại những giá trị văn hóa mà ông đồ già vẫn kiên trì ngồi bên hè phố như bao năm trước:
“Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài giời mưa bụi bay”
Nhưng sự xuất hiện của ông không được mọi người chú ý, quan tâm như thời vàng son. Bóng dáng ông cứ lặng lẽ qua đường, lặng lẽ bên phố mà không một ai hay biết. Hình ảnh ông đồ đã rơi vào quên lãng. Hình ảnh ấy chỉ là “cái di tích tiều tụy đáng thương của một thời tàn” (Vũ Đình Liên). Sự tàn phai, úa rụng được thể hiện qua hình ảnh chiếc lá vàng cùng không khí lạnh lẽo của làn mưa bụi lất phất đã bao trùm lên toàn bộ khung cảnh khiến cảnh vật nhuốm màu sắc tâm trạng. Mọi người đã gạt ông đồ ra khỏi trí nhớ và kí ức, họ coi ông như người vô hình trong xã hội đương thời.
Vũ Đình Liên đã bộc lộ nỗi xót xa, niềm hoài cổ của mình qua khổ thơ cuối:
“Năm nay hoa đào nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?”
Ông đồ đã thực sự vắng bóng, đào vẫn khoe sắc hương, cảnh vật vẫn tuần hoàn theo quy luật tự nhiên nhưng ta không còn thấy sự xuất hiện của ông đồ nữa. Sự vắng bóng của ông khiến chúng ta không khỏi thương tiếc cho một giá trị tinh thần đã không còn tồn tại. Những con người trước đây từng thuê ông đồ viết câu đối, những người từng tôn trọng ông đồ nay đã hoàn toàn thay đổi. Họ bận thích nghi với nền văn hóa mới từ Tây phương nên tâm hồn họ cũng không còn chỗ cho những tinh túy của văn hóa truyền thống. Câu hỏi tu từ vang lên ở cuối bài đọng lại bao sự cảm thương, hối tiếc cho những gì đã mất.
Bằng việc sử dụng hình ảnh hoa đào, ông đồ ở đầu và cuối bài thơ, tác giả đã khắc họa thành công hình ảnh trái ngược của ông đồ ở thời kì vàng son và ông đồ khi thất thế. Thể thơ năm chữ đã giúp nhà thơ bày tỏ cảm xúc một cách dễ dàng. “Ông đồ” là sự hoài niệm về những giá trị xưa cũ, bộc lộ niềm cảm thương sâu sắc của tác giả Vũ Đình Liên.
Trong bài thơ khêu gợi được cảnh đẹp của mùa mưa sự yên ả mà dễ nhận thấy nói về những cảnh tượng gần gũi và đặc biệt nói lêncanhr đẹp huyền ảo của thiên nhiên qua hình ảnh mùa mưa
Cảm súc của em là vui
Bài thơ Khi mùa mưa đến thể hiện cảm hứng tha thiết, yêu thương và gắn bó sâu nặng với quê hương của nhà thơ. Mùa mưa hiện lên không chỉ là hiện tượng thiên nhiên mà còn gợi bao kỉ niệm, làm “lòng trẻ lại”, khơi dậy những cảm xúc trong trẻo, yên ả. Trong mưa có “hạt vui với hạt buồn”, có sự hòa quyện giữa quá khứ và hiện tại, giữa con người với đất trời. Đặc biệt, hình ảnh “ta hoá phù sa mỗi bến chờ” cho thấy khát vọng sống nhân hậu, được dâng hiến và bồi đắp cho quê hương như phù sa âm thầm làm màu mỡ bãi bờ. Qua đó, ta cảm nhận được một tâm hồn giàu yêu thương, trân trọng thiên nhiên và luôn hướng về những giá trị tốt đẹp của cuộc sống.
Cảm hứng của nhà thơ Trần Hòa Bình trong bài thơ "Khi mùa mưa đến" là sự say đắm,trân trọng trước vẻ đẹp của thiên nhiên và tình yêu quê hương,đất nước nồng nàn gắn liền với niềm hy vọng về một cuộc sống ấm no
Cảm hứng chủ đạo trong bài thơ Khi mùa mưa đến của Trần Hòa Bình chính là sự giao hòa say đắm giữa tâm hồn con người và thiên nhiên khi đón nhận món quà của đất trời. Qua ngòi bút của tác giả, mùa mưa không chỉ là một hiện tượng thời tiết mà là một thực thể sống động, mang theo sức sống căng tràn khiến vạn vật "phổng phao", "tươi tốt". Nhà thơ đã đón nhận cơn mưa bằng tất cả các giác quan: từ thính giác nghe tiếng mưa như "gót trẻ kéo nhau về", đến xúc giác "xoè tay ta mải đón". Cảm hứng ấy còn nhuốm màu triết lý nhân văn sâu sắc khi ông nhìn thấy trong mưa sự kết nối giữa "trùng khơi và thượng nguồn", giữa hiện tại rạng rỡ và quá khứ "nhân hậu" của bãi bồi. Đặc biệt, tình yêu quê hương da diết được thể hiện rõ nét qua niềm hy vọng về những "mùa no", về sự trù phú mà phù sa mang lại. Với ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhịp điệu da diết, bài thơ đã truyền tải một thông điệp ý nghĩa: mùa mưa chính là mùa của sự hồi sinh, của niềm tin và lòng biết ơn đối với mảnh đất quê hương.
Trong bài thơ Khi mùa mưa đến của Trần Hòa Bình, nhà thơ đã thể hiện cảm hứng về vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống làng quê khi mùa mưa về. Những hình ảnh như dòng sông, bến bờ, hạt mưa gợi lên không khí tươi mát, yên bình và đầy sức sống. Mùa mưa không chỉ làm cho cây cối, ruộng đồng thêm xanh tốt mà còn mang đến niềm vui, hy vọng cho con người. Qua đó, tác giả bộc lộ tình yêu tha thiết với quê hương và ước muốn được sống có ích, âm thầm cống hiến cho cuộc đời như phù sa bồi đắp cho bến bờ.
Cảm hứng của nhà thơ trong bài thơ” khi màu mưa đến “ là tình yêu quê hương đất nước mãnhliệt
Khi đọc bài thơ khi mùa mưa đến ,em cảm nhận được niềm say mê và tình yêu thiên nhiên sâu sắc của nhà thơ . Mùa mưa được khắc họa không chỉ là những cơn mưa rào , những hạt mưa long lanh mà còn là khoảng thời gian để nhà thơ chiêm nghiệm , cảm nhận vẻ đẹp bình dị nhưng đầy thi vị của cuộc sống cảm hứng sáng tác của nhà thơ xuất phát từ sự rung động trước thiên nhiên sự gắn kết tinh tế giữa con người và đất trời Qua đó em thấy được vẻ đẹp trong từng khoảnh khắc mưa đến như một lời nhắc nhở chúng ta biết trân trọng những điều giản dị gần gũi quanh mình
Bài thơ Khi mùa mưa đến thể hiện cảm hứng của nhà thơ trước vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống khi mùa mưa về. Mưa không chỉ làm cho cảnh vật trở nên tươi mát, tràn đầy sức sống mà còn gợi lên nhiều cảm xúc trong lòng con người. Hình ảnh làng quê, bãi bờ, mái nhà và tiếng mưa rơi tạo nên một bức tranh thiên nhiên gần gũi, bình yên. Qua đó, nhà thơ bộc lộ niềm vui, niềm hi vọng và tình yêu tha thiết với quê hương, với cuộc sống. Mùa mưa vì thế trở thành nguồn cảm hứng đẹp đẽ, làm cho lòng người thêm tươi mới và tràn đầy hi vọng
sống động, trẻ trung, khi cơn mưa không chỉ là hiện tượng thời tiết mà còn là "ngọn gió hồi sinh" đánh thức sức sống của vạn vật sau những ngày nắng cháy [2, 3]. Qua lăng kính đầy chất thơ, tác giả đã gửi gắm niềm say mê, trân trọng sự sinh sôi và vẻ đẹp bình dị của quê hương, biến những hạt mưa thành những nốt nhạc vui tươi trong bản hòa ca của đất trời [1, 3].
Bài thơ "Khi mùa mưa đến" của Trần Hoà Bình khơi gợi trong em cảm xúc dạt dào về tình yêu quê hương và sự gắn bó sâu sắc với thiên nhiên. Cảm hứng của nhà thơ không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cơn mưa, mà còn là sự reo vui, "lòng trẻ lại" trước cảnh vật tươi mới, đồng ruộng xanh mướt, đất bãi thơm ngát. Hình ảnh so sánh độc đáo "mưa như gót trẻ" tạo nên không gian sinh động, ấm áp, thể hiện tâm hồn tinh tế, yêu đời và sự hòa hợp tuyệt vời giữa con người với cảnh sắc quê hương bình dị.
Nhà thơ cảm nhận mùa mưa không chỉ là một hiện tượng thời tiết mà là một khoảnh khắc đánh thức cảm xúc. Mưa mang lại sự sống cho cảnh vật ("Sông đã phổng phao trời đẫm ướt", "Làng ta tươi tốt một triền đê") và khơi gợi những ký ức, tâm tư trong lòng người ("Gặp gỡ mùa mưa lòng trẻ lại"). Cảm hứng ấy đan xen giữa niềm vui và nỗi buồn nhẹ nhàng ("Xen lẫn hạt vui với hạt buồn"), nhưng cuối cùng đọng lại là sự bình yên ("Trong mưa chỉ thấy lời yên ả") và tình yêu thương con người, đất đai ("Nhân hậu làm sao những bãi bờ"). Đặc biệt, bài thơ thể hiện khát vọng cống hiến và sự gắn kết bền chặt giữa con người với quê hương qua hình ảnh "Ta hoá phù sa mỗi bến chờ", thể hiện mong muốn được góp phần xây dựng quê hương thêm giàu đẹp
Nhà thơ Trần Hòa Bình đã thể hiện một cảm hứng dâng trào, mãnh liệt và rất đỗi nhân văn khi viết về “Khi mùa mưa đến”. Cảm hứng ấy được khơi nguồn từ sự khao khát, mong chờ cơn mưa như một phép màu thiên nhiên. Khi mưa về, không gian và con người đều được gột rửa, trở nên tươi mới, khiến tâm hồn nhà thơ cũng “trẻ lại”. Mưa trong thơ không chỉ là nước mà còn là nhịp đập của sự sống, là sự hòa quyện giữa niềm vui và nỗi buồn thực tại, nhưng trên hết, nó mang lại sự bình yên sâu lắng. Cảm hứng cao đẹp nhất là khát vọng được dânghs hiến, được hóa thân thành “phù sa” để vun đắp cho đời, cho quê hương, khẳng định ý nghĩa cao quý của sự tồn tại cá nhân trong dòng chảy chung của cuộc sống
Cảm hứng chủ đạo của nhà thơ trong bài thơ "Khi mùa mưa đến" chính là sự reo vui, trân trọng trước sức sống mãnh liệt và vẻ đẹp nhân hậu của thiên nhiên quê hương. Đối với tác giả, mùa mưa không chỉ là một hiện tượng thời tiết mà là nhịp đập của sự sinh sôi, khiến cảnh vật như được hồi sinh với "sông phổng phao", "lá chuối tơ" và "triền đê tươi tốt". Nhà thơ đã gửi gắm một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế khi ví "mưa như gót trẻ" – gợi sự hồn nhiên, trong trẻo và đầy sức sống. Đặc biệt, cảm hứng ấy còn lắng đọng trong niềm biết ơn sâu sắc đối với những "bãi bờ nhân hậu" và khát khao được hòa nhập, hiến dâng thầm lặng của cái tôi trữ tình qua hình ảnh "ta hóa phù sa mỗi bến chờ". Qua bài thơ, ta cảm nhận được tình yêu thiên nhiên tha thiết hòa quyện cùng hy vọng về những "mùa no" ấm no, hạnh phúc trên mảnh đất quê hương.
Cảm hứng của nhà thơ bắt nguồn từ những hình ảnh quen thuộc , gần gũi của cơn mưa đầu mùa , từ gửi gắm nỗi hoài niệm , cảm giác bình yên nhưng cũng đượm buồn
Nhà thơ Nguyễn Duy lấy cảm hứng để viết bài thơ "khi mùa mưa đến"từ sự cống hiến âm thầm,bền bỉ và tình yêu gắn bó sâu nặng với quê hương,đất nước. Không chỉ không chỉ lấy tình yêu đất nước mà nhà thơ còn lấy cảm hứng từ những mùa mưa ta có câu thơ"gặp gỡ mùa mưa lòng trẻ lại/làng ta tươi tốt một triền đê" đó là hai câu thơ thể hiện mùa mưa không chỉ là hiện tượng của thời tiết mà nhà thơ đã sử dụng ngôn từ khéo léo để khắc họa hình ảnh mùa mưa trở nên thật xinh động, có hồn. Qua đó ta thấy nhà thơ Nguyễn Duy lấy cảm hứng không chỉ là lòng yêu nước mà thơ đã sử dụng hình ảnh mùa mưa rất khéo léo làm cho bài thơ trở nên sinh động khiến người đọc vừa lấy làm lạ mà vừa lại quen.
Cảm nhận của em về cảm hứng của nhà thơ là: bồi hồi khi thấy hạt mưa rơi, nhớ về những kỉ niệm ngày xưa
Bài thơ Khi mùa mưa đến thể hiện cảm hứng sâu sắc của nhà thơ trước vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống khi mùa mưa về trên quê hương. Ngay từ những câu thơ đầu, hình ảnh dòng sông, bầu trời và những khoang đò đã gợi ra một khung cảnh thiên nhiên rộng mở, trong đó cơn mưa trở thành dấu hiệu quen thuộc báo hiệu sự thay đổi của đất trời. Mưa không chỉ đơn thuần là hiện tượng tự nhiên mà còn mang đến sự tươi mát, làm cho làng quê trở nên xanh tốt và tràn đầy sức sống. Qua những hình ảnh như “lá chuối”, “mái tóc”, “tán lá”, người đọc có thể cảm nhận được sự gần gũi và bình dị của cuộc sống nông thôn, nơi thiên nhiên và con người luôn gắn bó mật thiết với nhau. Cơn mưa hiện lên vừa nhẹ nhàng, êm dịu vừa mang theo nhiều cảm xúc khác nhau, khi thì vui tươi, rộn ràng, khi lại gợi nên những nỗi suy tư sâu lắng. Hình ảnh “hạt vui xen lẫn hạt buồn” cho thấy nhà thơ cảm nhận mùa mưa không chỉ bằng giác quan mà còn bằng cả tâm hồn nhạy cảm của mình. Trong tiếng mưa rơi tí tách, dường như nhà thơ còn nghe thấy nhịp sống quen thuộc của quê hương, thấy được sự yên bình và ấm áp của những bãi bờ, dòng sông và con người nơi đây. Mùa mưa vì thế không chỉ làm cho cảnh vật thay đổi mà còn khơi gợi nhiều kỉ niệm và suy nghĩ về thời gian, về cuộc đời. Qua những cảm nhận tinh tế ấy, có thể thấy cảm hứng của nhà thơ xuất phát từ tình yêu sâu sắc đối với thiên nhiên và quê hương. Bài thơ vì thế không chỉ là bức tranh miêu tả mùa mưa mà còn là sự bộc lộ những rung động chân thành của tâm hồn thi sĩ trước vẻ đẹp giản dị nhưng đầy ý nghĩa của cuộc sống.
cảm hứng chủ đạo của bài thơ ’khi mùa mưa đến’là sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên,tình yêu quê hương sâu sắc thiết tha ,cảm hứng bài thơ điểm nhấn sâu sắc là sự hy vọng về một cuộc sống tốt đẹp và đủ đầy của người dân.
Cảm hứng chủ đạo của nhà thơ trong bài thơ "Khi mùa mưa đến" là sự giao cảm tinh tế của một tâm hồn nhạy cảm trước những biến chuyển nhẹ nhàng, quen thuộc của thiên nhiên khi mùa mưa về. Đó không phải là sự dữ dội, mà là những dấu hiệu rất đỗi bình dị, gần gũi như tiếng chim, màu lá, hay không khí se lạnh, ẩm ướt. Qua đó, tác giả bộc lộ niềm yêu mến, trân trọng thiên nhiên, đồng thời thể hiện sự gắn bó sâu sắc với cuộc sống và những khoảnh khắc đời thường. Cảm hứng này khơi dậy trong lòng người đọc sự đồng cảm, giúp ta biết dừng lại và cảm nhận vẻ đẹp tiềm ẩn trong những điều nhỏ nhặt xung quanh mình.
Bài thơ Khi mùa mưa đến gợi cho em nhiều cảm xúc nhẹ nhàng và sâu lắng. Những hình ảnh về mưa và phù sa làm em nghĩ đến sự hi sinh thầm lặng của con người. Câu thơ “ta hoá phù sa nỗi bến bờ” khiến em hiểu rằng mỗi người nên sống biết cống hiến, góp phần làm cho cuộc đời và quê hương ngày càng tốt đẹp hơn
Nhà thơ rất nhớ về quê hương
Trong bài thơ khi mùa mưa đến em ccảm nhận được nhà thơ là một người có tâm hồn rất nhạy cảm và giàu tình cảm. Qua những hình ảnh của mùa mưa nhà thơ không chỉ miêu tả thiên nhiên mà còn gửi gắm những suy nghĩ và cảm xúc sâu lắng về cuộc sống. Mưa hiện lên vừa nhẹ nhàng vừa gợi nhiều n ỗi nhớ nhớ và sự chờ đợi. Điều đó cho thấy nhà thơ là người tinh tế biết lắng nghe những thay đổi nhỏ của thiên nhiên và cảm nhận chúng bằng trái tim qua bài thơ em thấy được một tâm hồn yêu thiên nhiên yêu cuộc sống và luôn suy tư trước những khoản khắc bình dị của đời thường
Cảm hứng chủ đạo của nhà thơ Trần Hòa Bình trong bài thơ "Khi mùa mưa đến" là tình yêu thiên nhiên tha thiết, sự gắn bó sâu sắc với quê hương và niềm hy vọng vào một cuộc sống no ấm, bình yên.
Cảm hứng chủ đạo của nhà tho
Khi đọc bài thơ Khi mùa mưa đến, em cảm nhận được cảm hứng chủ đạo của nhà thơ là niềm vui, sự háo hức và tình yêu tha thiết đối với thiên nhiên, quê hương khi mùa mưa trở về. Mùa mưa trong bài thơ không chỉ là một hiện tượng của thiên nhiên mà còn mang theo sức sống mới, làm cho cảnh vật và con người như trẻ lại. Những hình ảnh như tiếng trống gọi mùa mưa, hạt mưa rơi trên mái tóc, trên lá, hay những bãi bờ được phù sa bồi đắp đã gợi nên một bức tranh làng quê vừa thân thuộc vừa tràn đầy sức sống. Qua đó, em cảm nhận được niềm hi vọng của nhà thơ về những mùa màng no đủ, cuộc sống bình yên và sự gắn bó sâu nặng với quê hương. Chính cảm hứng ấy đã làm cho bài thơ trở nên giàu cảm xúc và để lại trong em nhiều rung động đẹp đẽ.
Bài thơ “Khi mùa mưa đến” của Trần Hòa Bình gợi lên cảm hứng nhẹ nhàng, tha thiết về quê hương khi mùa mưa về. Qua những hình ảnh quen thuộc như dòng sông, bãi bờ, mái tóc, lá cây…, tác giả đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên và cuộc sống làng quê thật sinh động. Mùa mưa không chỉ mang nước tưới mát ruộng đồng mà còn đem đến niềm vui, sự đoàn tụ và hi vọng cho con người. Đặc biệt, câu thơ “Ta hoá phù sa mỗi bến chờ” thể hiện mong muốn được cống hiến, âm thầm bồi đắp cho quê hương và cuộc đời. Bài thơ vì thế mang cảm hứng yêu thương, gắn bó sâu nặng với quê hương đất nước. Đọc bài thơ, em cảm nhận được vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên và tình cảm tha thiết của tác giả đối với cuộc sống.
Bài thơ Khi mùa mưa đến thể hiện cảm hứng yêu thiên nhiên và quê hương tha thiết của nhà thơ. Mùa mưa được miêu tả mang lại sức sống mới cho làng quê, làm cho đất đai tươi tốt và con người tràn đầy hi vọng. Qua đó, tác giả bộc lộ niềm vui, sự gắn bó với quê hương và khát vọng được cống hiến, “hoá phù sa” để bồi đắp cho những bến bờ. Bài thơ khiến em cảm nhận được vẻ đẹp bình dị của quê hương và tình yêu cuộc sống của nhà thơ.
Học sinh cần thể hiện rõ nét riêng, sự tinh tế và thông minh trong cách ứng xử của cá nhân mình nhằm đạt mục đích: để cả hai bên đều cảm thấy thoải mái, tôn trọng lẫn nhau và giữ được tình bạn đẹp. Câu trả lời cần dựa trên những phân tích về tính cách và hoàn cảnh của nhân vật "anh gầy" (Porphiri) trong tác phẩm "Anh béo và anh gầy" của A.P.