(4.0 điểm) Viết bài văn ngắn kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện l...">
K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

16 tháng 2 2024

Một trong những sự kiện lịch sử có ý nghĩa vô cùng quan trọng với dân tộc Việt Nam là Chiến thắng Điện Biên Phủ. Với sự kiện này, cuộc kháng chiến chống thực dân pháp đã chính thức giành thắng lợi.

Nhà thơ Tố Hữu đã từng viết:

“Chín năm làm một Điện Biên
Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”

Từ đó, chúng ta mới thấy được ý nghĩa của chiến dịch này. Trước hết, chiến dịch Điện Biên Phủ là đỉnh cao của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954. Ba đợt tiến công diễn ra trong năm mươi sáu ngày đêm. Đợt 1 (từ 13 đến 17 tháng 3), chúng ta tiêu diệt được hai cứ điểm quan trọng là Him Lam và Độc Lập, mở toang cánh cửa phía Bắc và Đông Bắc cho quân ta tiến xuống lòng chảo và khu trung tâm. Đợt 2 (từ 30 tháng 3 đến 30 tháng 4), ta đã kiểm soát các điểm cao, khu trung tâm Điện Biên Phủ nằm trong tầm bắn các loại sống của ta. Còn quân địch rơi vào thể bị động mất tinh thần cao độ. Đợt 3 (từ 1 đến 7 tháng 5), quân ta tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đến ngày 7 tháng 5 năm 1954, chiến dịch toàn thắng.

Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ đã chấm dứt chín năm kháng chiến chống Pháp trường kỳ, gian khổ của nhân dân Việt Nam. Từ đó, thực dân Pháp buộc phải ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ (7/1954) về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình tại các nước Đông Dương. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ thể hiện niềm tự hào dân tộc, niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và cổ vũ toàn Đảng, toàn dân một lòng chiến đấu dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Đồng thời, chiến thắng này cũng cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, đặc biệt là các nước ở châu Á, châu Phi và Mĩ La-tinh.

Có thể khẳng định rằng, Điện Biên Phủ là một trong những chiến dịch vô cùng quan trọng, góp phần đánh bại kẻ thù xâm lược - thực dân Pháp.

__________________________Tham khảo______________________

26 tháng 2 2025

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên Ngôn Độc Lập, khai sinh đất nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đây là một sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng và có ý nghĩa đối với dân tộc Việt Nam.
Sau khi Nhật Bản đầu hàng Đồng minh, chấm dứt Chiến tranh Thế giới thứ hai, phong trào cách mạng Việt Nam đã nhanh chóng phát triển mạnh mẽ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã đứng lên đấu tranh giành lại độc lập, tự do cho đất nước. Ngày 19 tháng 8 năm 1945, cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền đã về tay nhân dân.
Trong buổi lễ long trọng ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đứng trước hàng vạn người dân Hà Nội và tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Bằng giọng nói trầm ấm và đầy cảm xúc, người đã đọc từng chữ của bản Tuyên ngôn Độc lập, khẳng định quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam trước toàn thế giới. Sự kiện này đã đánh dấu một bước ngoặc lịch sử, mở ra một trang sử mới cho dân tộc Việt Nam, đồng thời cổ vũ, khích lệ tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc của mỗi người dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành biểu tượng của lòng yêu nước, ý chí kiên cường và tinh thần đấu tranh không mệt mỏi vì độc lập, tự do của dân tộc. Sự kiện này đã khẳng định vai trò lãnh đạo tài tình của NGƯỜI và tạo nền tảng vững vững chắc cho sự phát triển của đất nước trong những năm tháng tiếp theo.

27 tháng 2

Đất nước Việt Nam chúng ta đã có rất nhiều khoảnh khắc trở thành thiêng liêng, bất tử, in đậm trong tâm trí của mỗi người dân. Đó là khi một dân tộc nhỏ bé nhưng đầy kiên cường, dũng mãnh cất tiếng nói khẳng định quyền sống, quyền tự do, quyền hạnh phúc trước toàn thế giới. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Bản Tuyên ngôn Độc lập đã ra đời, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đây là một sự kiện vô cùng ý nghĩa đối với đất nước.

Sau khi cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, đất nước ta vẫn còn muôn vàn khó khăn: nạn đói, giặc ngoại xâm rình rập, chưa nhận được sự công nhận của thế giới. Lúc đó, cần có một bản tuyên bố chính thức trước toàn thể người dân cả nước và bạn bè quốc tế về nền độc lập của dân tộc. Ngày 22/8/1945, Bác rời Tân Trào về Hà Nội để chuẩn bị soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập.

Sáng ngày 26/8, Bác triệu tập cuộc họp Thường vụ Trung ương Đảng, chuẩn bị cho việc ra mắt bản Tuyên ngôn Độc lập và đọc trước toàn thể nhân dân Việt Nam. Ngày 27/8, Bác tiếp các bộ trưởng mới tham gia Chính phủ đưa ra đề nghị Chính phủ ra mắt quốc dân, đọc Tuyên ngôn Độc lập mà Bác đã chuẩn bị. Bác đưa ra bản thảo và đề nghị các thành viên phải xét duyệt thật kĩ lưỡng, vì không chỉ đọc cho đồng bào cả nước mà còn đọc cho Chính phủ và nhân dân Pháp, các nước đồng minh nghe. Điều đó thể hiện sự cẩn trọng và ý thức của Bác đối với bản Tuyên ngôn Độc lập.

Bác đến làm việc tại trụ sở của Chính phủ lâm thời. Người dành phần lớn thời gian để soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Buổi tối, tại số nhà 48 phố Hàng Ngang, trong một căn phòng vừa là phòng ăn, vừa là phòng tiếp khách, Bác đã tự đánh máy bản Tuyên ngôn Độc lập ở một chiếc bàn tròn. Với tình yêu nước nồng nàn và một trái tim đầy nhiệt huyết, Người đã viết nên bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam. Từng con chữ của Bác như hòa vào nhịp thở của non sông, kết thành một áng văn bất hủ. Ngày 30-8, Bác mời một số đồng chí đến trao đổi, đóng góp ý kiến cho bản thảo Tuyên ngôn Độc Lập.

Sáng ngày 2/9, trời thu Hà Nội trong xanh lạ thường. Quảng trường Ba Đình trở thành biển người rực rỡ sắc đỏ của cờ và hoa. Gương mặt ai cũng sáng lên trong niềm hân hoan và tự hào. Tiếng hò reo vang dậy, tiếng trống hòa cùng bước chân tưng bừng của đồng bào. Đúng 2 giờ chiều ngày 2/9/1945 Bác cất cao giọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập. Từng câu nói của Bác vang lên đanh thép, sáng ngời: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập…”. Ôi, câu chữ ấy như xé tan những năm tháng nô lệ tối tăm, để ánh sáng của tự do và hạnh phúc rực rỡ tỏa khắp non sông! Cả dân tộc cùng chung một nhịp thở, cùng bừng lên một niềm kiêu hãnh chưa từng có.

Sự ra đời của Bản Tuyên ngôn Độc lập không chỉ khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mà còn là lời khẳng định với thế giới về tinh thần bất khuất, ý chí sắt đá của dân tộc ta: “Quyết tâm bảo vệ độc lập, tự do đến cùng”.

Bản Tuyên ngôn Độc lập chứa một ý nghĩa vô cùng lớn lao. Nó đã đánh dấu cho sự ra đời của nước Việt Nam, chấm dứt màn đêm nô lệ và mở ra kỉ nguyên độc lập cho đất nước. Qua sự kiện này, em càng cảm thấy tự hào, yêu quý và kính trọng Bác Hồ. Bản Tuyên ngôn Độc lập chính là bài hát bất tử, vang vọng mãi với non sông Việt Nam.



27 tháng 2

Trong lịch sử kháng chiến chống Pháp, hình ảnh người thiếu niên dân tộc Nùng - Kim Đồng - đã trở thành biểu tượng bất diệt của lòng dũng cảm. Sự kiện đáng nhớ nhất và cũng là giây phút cuối cùng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của anh diễn ra vào sáng sớm ngày 15 tháng 2 năm 1943. Khi ấy, Kim Đồng được giao nhiệm vụ canh gác cho một cuộc họp quan trọng của cán bộ cách mạng tại hang Pác Bó. Đang quan sát, anh phát hiện một toán quân Pháp đang lén lút bao vây hướng về phía hang. Tình thế vô cùng cấp bách: nếu chạy vào báo động, tiếng động sẽ làm lộ vị trí và kẻ địch sẽ ập tới ngay lập tức. Trong khoảnh khắc sinh tử đó, Kim Đồng đã đưa ra một quyết định táo bạo để đánh lạc hướng địch. Anh không chạy trốn mà chủ động lộ diện, vừa chạy vừa hò hét vang dội hướng sang phía bên kia bờ suối Lê-nin. Tiếng hét của anh như một ám hiệu đanh thép báo tin cho các cán bộ. Đúng như dự đoán, bọn giặc tưởng anh là liên lạc quan trọng nên lập tức nổ súng đuổi theo. Những tràng súng vang lên chát chúa giữa đại ngàn. Kim Đồng trúng đạn, anh ngã xuống bên bờ suối khi mới vừa tròn 14 tuổi. Nhờ sự hy sinh anh dũng ấy, các cán bộ cách mạng đã kịp thời tản mát vào rừng sâu an toàn. Kim Đồng nằm lại giữa lòng đất mẹ Cao Bằng, nhưng tiếng vang của "người thiếu niên anh hùng" vẫn còn mãi với non sông.

2 tháng 3

Trong lịch sử thám hiểm vũ trụ của loài người, sự kiện robot Perseverance (Sự kiên trì) của Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ (NASA) hạ cánh thành công xuống bề mặt Hỏa Tinh vào ngày 18 tháng 2 năm 2021 là một mốc son chói lọi. Đây không chỉ là một thành tựu kỹ thuật mà còn là lời giải cho khát vọng tìm kiếm sự sống ngoài Trái Đất mà văn học viễn tưởng, như tác phẩm "Những quả bóng lửa", đã hằng mơ ước. ​Sứ mệnh này bắt đầu từ mũi Canaveral, Florida, khi tên lửa Atlas V rời bệ phóng đưa con tàu mang theo Perseverance vào không gian. Sau hành trình dài gần bảy tháng vượt qua hàng triệu cây số, giây phút kịch tính nhất chính là "bảy phút kinh hoàng" khi tàu đổ bộ đi vào bầu khí quyển mỏng manh của Hỏa Tinh. Với vận tốc cực lớn, chiếc dù khổng lồ bung ra và hệ thống "cần cẩu trên không" đã nhẹ nhàng đặt robot xuống hố va chạm Jezero — nơi được tin là một hồ nước cổ đại có thể chứa dấu vết của sự sống. ​Robot Perseverance không đi một mình; nó mang theo Ingenuity, chiếc trực thăng đầu tiên thực hiện chuyến bay có kiểm soát trên một hành tinh khác. Những hình ảnh đầu tiên gửi về Trái Đất với sắc đỏ của đất đá và bầu trời bao la đã khiến hàng triệu người xúc động. Nó không chỉ thu thập mẫu đất đá mà còn mang theo sứ mệnh thử nghiệm tạo ra oxy từ khí quyển Hỏa Tinh, dọn đường cho những bước chân đầu tiên của con người trong tương lai. ​Sự kiện này đã chứng minh rằng, bằng trí tuệ và lòng kiên trì, con người có thể chạm tới những giấc mơ xa xôi nhất. Giống như nhân vật Đức Cha Peregrine trong truyện luôn khao khát tìm hiểu những "quả cầu lửa" thông minh, các nhà khoa học hôm nay cũng đang miệt mài đi tìm lời giải về linh hồn và sự sống trong vũ trụ bao la. Sự kiện Perseverance hạ cánh thành công chính là minh chứng hùng hồn cho tinh thần khai phá, không ngại gian khổ của nhân loại trên con đường chinh phục những chân trời mớ

BÀI VĂN KỂ LẠI MỘT SỰ VIỆC CÓ THẬT LIÊN QUAN ĐẾN NHÂN VẬT LỊCH SỬ Trong lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp không chỉ là một thiên tài quân sự mà còn là biểu tượng của ý chí tự cường. Một trong những sự kiện có thật thể hiện rõ nhất tầm vóc của ông chính là quyết định thay đổi phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Đây là một quyết định mà sau này ông gọi là "khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy". Mùa xuân năm 1954, tại thung lũng Điện Biên Phủ, quân đội ta đối mặt với một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương của thực dân Pháp. Ban đầu, với khí thế hừng hực, bộ chỉ huy đã định ra kế hoạch tấn công dồn dập để kết thúc sớm trận chiến. Tuy nhiên, sau nhiều đêm thức trắng theo dõi tình hình thực tế, Đại tướng nhận thấy pháo binh địch rất mạnh, trong khi quân ta chưa có kinh nghiệm đánh công kiên quy mô lớn. Đúng ngày 26 tháng 1 năm 1954, chỉ vài giờ trước khi nổ súng, Đại tướng đã đưa ra một quyết định lịch sử: ra lệnh hoãn cuộc tấn công, yêu cầu bộ đội kéo pháo ra để chuẩn bị lại theo phương châm “đánh chắc, tiến chắc”. Ông khẳng định: “Phải đảm bảo nguyên tắc cao nhất là: Đánh chắc thắng. Không chắc thắng thì không đánh”. Quyết định này ban đầu gây ngỡ ngàng cho nhiều cán bộ, nhưng với sự quyết đoán và tầm nhìn sắc bén, ông đã thuyết phục được tất cả để bảo toàn lực lượng và chuẩn bị kỹ lưỡng hơn. Kết quả của sự thay đổi chiến lược ấy chính là chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” vào ngày 7 tháng 5 năm 1954. Sự kiện này không chỉ cho thấy tài thao lược quân sự đỉnh cao mà còn thể hiện lòng nhân văn cao cả của người anh cả Quân đội nhân dân Việt Nam – luôn trân trọng từng giọt máu của chiến sĩ. Nhìn lại lịch sử, em càng thêm khâm phục và tự hào về Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Câu chuyện về quyết định khó khăn ấy mãi là bài học quý giá về sự cẩn trọng, thực tế và trách nhiệm đối với vận mệnh dân tộc.

7 tháng 3

Một sự kiện lịch sử mà em nhớ nhất là Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước. Ngày 5 tháng 6 năm 1911, tại bến cảng Nhà Rồng ở Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành đã lên con tàu Latouche-Tréville để rời Tổ quốc. Khi ấy, Người mới hơn 20 tuổi nhưng đã có khát vọng tìm con đường giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của thực dân. Trong suốt nhiều năm bôn ba ở nước ngoài, Người vừa lao động vừa học hỏi để tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam. Sau này, Người trở về lãnh đạo cách mạng và giành độc lập cho đất nước. Sự kiện này cho thấy lòng yêu nước và ý chí kiên cường của Bác Hồ, khiến em vô cùng kính phục.


Lịch sử dân tộc Việt Nam ta đã ghi dấu biết bao vị anh hùng hào kiệt với những chiến công lẫy lừng. Một trong những câu chuyện khiến em vô cùng ngưỡng mộ và tự hào là sự kiện Lý Thường Kiệt chỉ huy quân dân nhà Lý đánh tan quân Tống xâm lược trên dòng sông Như Nguyệt vào năm 1077. Vào thời điểm ấy, quân Tống huy động hàng vạn quân tinh nhuệ hòng thôn tính nước ta. Để bảo vệ nền độc lập, Lý Thường Kiệt đã cho xây dựng một phòng tuyến vững chắc dọc bờ nam sông Như Nguyệt. Tuy nhiên, sau nhiều ngày giao chiến ác liệt, quân ta dần mệt mỏi trong khi thế giặc vẫn còn rất hung hăng. Trước tình thế đó, vị chủ soái tài ba đã dùng một kế sách vô cùng thông minh để khích lệ tinh thần chiến đấu của quân sĩ. Trong một đêm tối tĩnh mịch bên bờ sông, ông bí mật sai người lẻn vào đền thờ thần Trương Hống, Trương Hát và đọc vang bài thơ "Nam quốc sơn hà". Tiếng đọc hào sảng, vang vọng khắp sông núi như lời của thần linh khẳng định chủ quyền dân tộc đã khiến quân sĩ nhà Lý bừng bừng khí thế, tin rằng mình đang được trời đất phù hộ. Ngược lại, quân Tống nghe thấy thì hoang mang, khiếp sợ, tinh thần bạc nhược đến tột độ. Chớp lấy thời cơ đó, Lý Thường Kiệt đã hạ lệnh tổng tấn công, đánh tan quân giặc ngay trên dòng Như Nguyệt, buộc chúng phải tháo chạy về nước trong nhục nhã. Sự kiện bài thơ thần vang lên trong đêm không chỉ là một mưu lược quân sự tài tình mà còn được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta. Câu chuyện về Lý Thường Kiệt và dòng sông Như Nguyệt mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam qua bao thế hệ. Qua đó, em tự hứa với bản thân sẽ luôn cố gắng học tập thật tốt để xứng đáng với sự hy sinh và ý chí kiên cường của các thế hệ cha anh đi trước trong việc giữ gìn chủ quyền đất nước.

14 tháng 3

Một sự kiện lịch sử mà em biết là ngày 2/9/1945, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội. Trước đông đảo nhân dân, Người đã tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sự kiện này đánh dấu Việt Nam chính thức trở thành một quốc gia độc lập sau nhiều năm bị đô hộ. Nhân dân cả nước vô cùng vui mừng và tự hào. Ngày 2/9 từ đó trở thành Quốc khánh của Việt Nam. Đây là một sự kiện lịch sử rất quan trọng và có ý nghĩa lớn đối với dân tộc.


14 tháng 3

Khi Trần Quốc Tuấn còn nhỏ, thân phụ ông với vua Trần Thái Tông, vốn là hai anh em trở nên bất hòa. Năm 1251, trước khi qua đời, Trần Liễu trăng trối với con trai rằng: "Con hãy vì cha mà lấy thiên hạ. Nếu không, nơi chín suối, cha không thể nhắm mắt!". Trần Quốc Tuấn tuy gật đầu, nhưng ông không cho đó là điều phải mà luôn tìm mọi cách xóa bỏ mọi hiềm khích trong hoàng tộc. Cuối năm 1284, giặc Nguyên - Mông sắp kéo đại binh sang xâm lược nước ta, Trần Quốc Tuấn được vua Trần Nhân Tông cử làm Tiết chế thống lĩnh. Từ Vạn Kiếp, Vương kéo quân mã về Thăng Long để cùng Triều đình bàn kế chống giặc. Một hôm, Trần Quốc Tuấn mời Thái sư Thượng tướng quân Trần Quang Khải xuống chiếc thuyền đóng tại Đông Bộ Đầu để đàm đạo. Trần Quốc Tuấn đã dùng nước thơm tắm cho Trần Quang Khải. Vừa dội nước thơm lên người Thái sư, vị Tiết chế Quốc công nói: Quảng cáo arrow_forward_iosĐọc thêm Play 00:00 00:08 Mute Play - Thật hạnh ngộ, tôi được tắm hầu Thái sư. - Diễm phúc biết bao, tôi được Quốc công tắm cho. Từ đó, mối tị hiềm giữa hai người được xóa bỏ hẳn. Lúc bấy giờ thế giặc mạnh lắm, ta nên "đánh" hay nên "hòa"? Trần Quốc Tuấn đã xin Thái Thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông mời các bô lão cao tuổi nhất, danh vọng nhất về Thăng Long để bàn kế giữ nước. Tại điện Diên Hồng tiếng hô "Quyết chiến! Quyết chiến!" của các bô lão rung chuyển Kinh thành. Trần Quốc Tuấn viết "Hịch tướng sĩ" và "Binh thư yếu lược". Tướng sĩ hăm hở luyện tập cung tên, giáo mác, chiến mã. Hàng vạn hùng binh thích vào cánh tay hai chữ "Sát Thát". Mùa hè năm 1285, 50 vạn quân xâm lược Nguyên - Mông bị đánh tơi tả. Toa Đô bị quân ta chém đầu. Thoát Hoan phải chui vào ống đồng tránh mũi tên tẩm thuốc độc mới thoát chết

Anh Lí Tự Trọng sinh ra trong 1 gia đình nông dân nghèo ở Hà Tĩnh . Anh giác ngộ cách mạng rất sớm và được tổ chức đưa ra nước ngoài học tập .Vốn thông minh ,anh học rất giỏi ,nói tạo tiếng TRUNG QUỐC và Tiếng Anh. Mùa thu năm 1929 ,Lý Tự Trọng về nước .Các đồng chí lãnh đạo đạo cho anh nhiệm vụ liên lạc ,chuyển nhận thư từ , tài liệu tới các tổ chức Đẳng bạn qua tàu biển. Bất ngờ, tê đội sếp tây gọi lại đòi khám.

14 tháng 3

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là một trong số những vị anh hùng .Điểm nổi bật ở Ông là tấm lòng thiết tha yêu nước của Tấm lòng yêu nước của Trần Quốc Tuấn đã thể hiện cao độ khi ông tố cáo tội ác của quân thù bằng lời lẽ đanh thép. Trước nạn ngoại xâm, quốc gia dân tộc đang lâm nguy. Trần Quốc Tuấn không khỏi băn khoăn lo lắng, đến độ quên ăn, mất ngủ, xót xa như đứt từng khúc ruột.Không chỉ căm thù giặc mà trần Quốc Tuấn còn nguyện hy sinh thân mình cho sự nghiệp đánh đuổi ngoại xâm, giành lại độc lập cho dân tộc.Trần Quốc Tuấn quả là một con người yêu nước thương dân, ông đúng là tấm gương sáng cho binh sĩ noi theo để mà biết hy sinh bản thân vì nước vì dân.Một vị tướng tài ba, ngoài lòng yêu nước, họ còn phải biết yêu thương binh sĩ. Và Trần Quốc Tuấn đã hội tụ đủ những yếu tố đó. Ông luôn quan tâm, chia sẻ, xem binh sĩ như những người anh em khi xông pha trận mạc cũng như khi thái bình: “không có mặc thì ta cho cơm, không có ăn thì ta cho cơm, quan nhỏ thì ta thăng chức, lương ít thì ra cấp bổng, đi thủy thì cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa”. Thật là cảm động thay cho tình sâu nghĩa nặng của ông đối với binh sĩ.Tên tuổi của Ông đã gắn liền với những chiến công hiển hách của dân tộc.

chuyện "Bác Hồ không dùng đặc quyền" là một sự việc có thật, thể hiện nhân cách cao đẹp của người lãnh tụ kính yêu. Trong một lần đi xe trên phố, khi gặp đèn đỏ, bảo vệ định xin ưu tiên cho xe Bác đi trước, nhưng Bác đã từ tốn từ chối, quyết định chờ đợi như mọi công dân để tuân thủ luật giao thông. Câu chuyện diễn ra vào một buổi sáng, khi Bác Hồ cùng các cán bộ ngồi trên xe ô tô di chuyển đến nơi họp. Giữa đường, xe dừng lại chờ đèn đỏ khá lâu. Thấy vậy, anh bảo vệ trên xe định xuống yêu cầu người gác đèn giao thông chuyển màu xanh để xe Bác được đi, vì cho rằng Bác là lãnh tụ, trăm công nghìn việc nên xứng đáng được ưu tiên. Tuyển tập Kể lại sự việc có thật liên quan đến một nhân vật lịch sử ... Hôm ấy, Bác cùng các cán bộ ngồi trên xe ô tô để di chuyển đến nơi diễn ra cuộc họp. Giữa đường, xe của Bác dừng lại chờ đèn đỏ khá lâu. Một anh bảo vệ trên xe ... VnDoc.com

14 tháng 3

E kh lm đc cô ơi

15 tháng 3

Trong lịch sử hào hùng của dân tộc, em luôn ngưỡng mộ anh hùng liệt sĩ nhỏ tuổi Kim Đồng - người đội trưởng đầu tiên của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh. Một trong những sự việc có thật và cảm động nhất về anh chính là chuyến liên lạc cuối cùng vào năm 1943. Kim Đồng tên thật là Nông Văn Dền, quê ở làng Nà Mạ, Cao Bằng. Sáng sớm ngày 15 tháng 2 năm 1943, trong khi đang làm nhiệm vụ canh gác và bảo vệ cán bộ cách mạng, anh phát hiện quân Pháp đang bí mật bao vây khu vực họp của ban cán bộ. Tình thế vô cùng nguy cấp, nếu không kịp báo tin, các cán bộ sẽ rơi vào tay giặc. Với sự thông minh và dũng cảm, Kim Đồng đã chủ động đánh lạc hướng kẻ địch. Anh chạy về phía khác và huýt sáo ra hiệu, khiến quân Pháp dồn toàn lực chú ý và nổ súng về phía mình. Tiếng súng báo động vang lên giúp các cán bộ kịp thời rút lui an toàn vào rừng sâu. Tuy nhiên, anh Kim Đồng đã anh dũng hy sinh ngay bên bờ suối Lê-nin khi mới vừa tròn 14 tuổi. Sự hy sinh của anh là minh chứng cho tinh thần "Tuổi nhỏ chí lớn". Ngày nay, mộ của anh tại khu di tích Kim Đồng luôn ngát hương hoa của các thế hệ học sinh đến thăm. Câu chuyện về anh không chỉ là một sự kiện lịch sử mà còn là ngọn lửa truyền cảm hứng cho chúng em về lòng yêu nước và sự quả cảm.

15 tháng 3

Trong lịch sử chống giặc ngoại sâm hình ảnh chị Võ Thị Sáu được tỏa sáng như một bông hoa bất tử , chị đã hi sinh trước nhà từ côn đảo

Năm ấy , thực dân pháp đưa ra pháp trường khi chị mới mười chín tuổi . Đứng trước họng súng của kẻ thù , chị ko hề nao núng , gương mặt bình thản đến bất ngờ

Sự hi sinh của chị Võ Thị Sáu chính minh cho tinh quật cương của người phụ nữ việt nam

Vua Lý Thái Tổ (Lý Công uẩn) Lý Công Uẩn người làng cổ Pháp thuộc Đông Ngạn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Hiện nay ở làng Đình Bảng vẫn còn có lăng và đền thờ các vua nhà Lý. Tục truyền rằng Công uẩn không có cha; mẹ là Phạm Thị đi chơi chùa Tiên Sơn (làng Tiên Sơn, phủ Từ Sơn) , đêm về nằm mộng thấy "đi lại" với thần nhân, rồi có thai đẻ ra đứa con trai. Lên ba tuổi, đứa bé càng khôi ngô tuấn tú; gia đình đem cho nhà sư ở chùa cổ Pháp tên là Lý Khánh Văn làm con nuôi. Lý Công uẩn được học hành chữ Nho, kinh Phật và võ nghệ từ nhỏ, lớn lên dưới mái chùa, trở thành một tài trai văn võ siêu quần. Ngoài 20 tuổi, Lý Công uẩn đã làm võ tướng dưới triều vua Lê Đại Hành, từng lập công to trong trận Chi Lăng (981) đại phá quân Tống xâm lược, chém đầu tướng giặc Hầu Nhân Bảo. Về sau, ông giữ chức Tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ, nắm trong tay toàn bộ binh quyền. Đức trọng tài cao, ông được quần thần và tướng sĩ rất kính phục. Năm 1005, Lê Đại Hành băng hà. Ngôi vua được truyền cho Lê Long Việt. Chỉ 3 ngày sau, Lê Long Đĩnh giết anh, giành lấy ngai vàng. Lê Long Đĩnh là một tên vua vô cùng bạo ngược khác nào Kiệt, Trụ ngày xưa. Hắn hoang dâm vô độ, nên mắc bệnh không ngồi được; đến buổi chầu thì cứ nằm mà thị triều, cho nên tục gọi là Vua Ngọa Triều. Cuối năm 1009, Lê Ngọa Triều chết. Năm đó, Lý Công uẩn đã 35 tuổi. Bấy giờ lòng người đã oán giận nhà Tiền Lê lắm rồi; quân thần và tầng lớp tăng lữ suy tôn ông lên ngôi báu, mở đầu triều đại nhà Lý (1010- 1225). Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế vào đầu xuân 1010, tức là vua Lý Thái Tổ nhà Lý. Nhà vua trị vì được 19 năm, thọ 55 tuổi, băng hà năm 1028. Kể lại một sự việc có thật liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện lịch sử -

15 tháng 3

Em đã thấy võ thị sáu là một người anh hung việt nam

15 tháng 3

Văn bản “Những quả bóng lửa” gợi ra vấn đề về cách con người đối xử với những sinh vật khác và trách nhiệm tôn trọng sự sống trong vũ trụ. Tác phẩm cũng đặt ra câu hỏi về đạo đức, lòng nhân ái và việc con người có nên tìm hiểu, bảo vệ những dạng sống khác thay vì làm tổn hại chúng.

Đến năm 2022 của thế kỉ XXI, con người đã đạt được nhiều thành tựu trong việc khám phá vũ trụ và nghiên cứu các hành tinh như Sao Hỏa. Nhiều quốc gia tham gia vào việc này, tiêu biểu là Mỹ, Nga, Trung Quốc và các nước châu Âu với các chương trình thám hiểm không gian. Tuy nhiên, việc tìm ra và hiểu rõ sự sống ngoài Trái Đất vẫn còn là vấn đề đang tiếp tục được nghiên cứu.

16 tháng 3

Ngày xưa, nước ta bị quân Nam Hán xâm lược. Tướng Ngô Quyền đã nghĩ ra một kế rất thông minh để đánh giặc trên sông Bạch Đằng. Ông cho đóng nhiều cọc gỗ nhọn xuống lòng sông và chờ khi thủy triều lên thì nhử quân địch tiến vào. Khi nước rút, thuyền giặc mắc vào bãi cọc và bị quân ta tấn công dữ dội. Quân Nam Hán thất bại nặng nề, tướng giặc bị tiêu diệt. Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 đã mở ra thời kì độc lập lâu dài cho dân tộc Việt Nam.

Lý Thường Kiệt là một vị tướng tài và có công lớn trong việc bảo vệ bờ cõi nước ta vào thời Lý. Cho đến nay, những trang sử về cuộc đời ông vẫn là những trang sử vàng chói lọi được con cháu kính trọng và tự hào.

Lý Thường Kiệt là một vị danh tướng vừa dũng mãnh, lại thông minh, tài trí. Ông được vua Lý Thánh Tông hết sức tin tưởng, nên giao cho quyền nắm giữ đại quân để bảo vệ đất nước. Năm 1069, quân Chăm Pa quấy phá, cướp bóc và làm loạn ở biên giới phía Nam nước ta. Biết tin, Lý Thường Kiệt liền được vua phong làm Đại Tướng, tiến về phía Chăm Pa để bảo vệ bờ cõi. Không phụ lòng tin của nhà vua và nhân dân, Lý Thường Kiệt dũng mãnh đánh thẳng vào kinh thành Chăm Pa, bắt vua Chăm Pa đưa về Thăng Long. Quá sợ hãi, vua Chăm Pa xin dâng đất để chuộc tội, và xin hứa không bao giờ dám làm loạn nữa. Sau lần ấy, Lý Thường Kiệt được giữ chức Thái Úy, đứng đầu toàn quân đội.

Ít lâu sau, nhà Tống ở phương Bắc lại lăm le xâm chiếm nước ta. Chúng lén lút đưa quân vào từ đường thủy, nhưng điều đó không thể qua mắt được quân đội ta. Lý Thường Kiệt đem quân trấn giữ ở bờ sông Như Nguyệt và có nhiều trận đánh lớn với giặc. Sự dũng mãnh và thiện chiến của quân đội dưới tay ông khiến kẻ địch phải khiếp sợ. Đặc biệt, Lý Thường Kiệt còn sáng tác bài thơ Nam Quốc Sơn Hà, sai người giả bị thần nhập, đọc lên bài thơ đó bên bờ sông, khiến quân địch nghe thấy mà khiếp vía. Khi kẻ địch hoang mang, sợ hãi, Lý Thường Kiệt chủ động đến gặp, đề nghị thương thảo với điều kiện quân Tống rút khỏi nước ta. Cuối cùng, quân Tống đành rút lui về nước khi chưa thể đánh chiếm một huyện thành nào của nước ta. Có được điều đó chính nhờ sự đa mưu túc trí của Lý Thường Kiệt.

Đến ngày nay, những trận đánh của Lý Thường Kiệt vẫn khiến người người phải kính nể. Cả cuộc đời ông đều dành cho việc bảo vệ bờ cõi nước Nam. Vì vậy, ông xứng đáng là một trong những vĩ nhân lịch sử đáng kính trọng nhất của nước ta.

19 tháng 3

Trong lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam, em đặc biệt ấn tượng với chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954. Gắn liền với sự kiện đó là một sự việc có thật thể hiện trí tuệ thiên tài của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: quyết định thay đổi phương châm tác chiến từ "đánh nhanh, thắng nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc". Đầu năm 1954, khi quân ta hành quân lên Tây Bắc, kế hoạch ban đầu là tập trung lực lượng tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ trong vòng vài ngày. Tuy nhiên, sau khi trực tiếp quan sát trận địa và nhận thấy địch đã tăng cường phòng thủ rất mạnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trải qua nhiều đêm không ngủ. Ông nhận ra rằng nếu đánh theo cách cũ, quân ta sẽ gặp tổn thất rất lớn và khó đảm bảo thắng lợi hoàn toàn. Sáng ngày 26/1/1954, một cuộc họp quan trọng đã diễn ra. Với sự quyết đoán và lòng yêu thương chiến sĩ, Đại tướng đã đề nghị hoãn cuộc tấn công và chuyển sang phương châm "đánh chắc, tiến chắc". Đây là một quyết định vô cùng khó khăn vì quân đội ta đã sẵn sàng nổ súng. Nhưng nhờ sự thay đổi chiến lược này, chúng ta đã có thời gian chuẩn bị kỹ lưỡng hơn về pháo binh và hầm hào. Kết quả là sau 56 ngày đêm "khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt", quân và dân ta đã đập tan tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, buộc tướng De Castries phải đầu hàng. Sự việc này không chỉ là một mốc son chói lọi mà còn cho thấy tầm vóc của người "Anh cả" quân đội nhân dân Việt Nam. Em luôn cảm thấy tự hào và biết ơn những hy sinh của thế hệ cha ông. Câu chuyện về quyết định của Đại tướng dạy cho em bài học về sự cẩn trọng, trí tuệ và lòng dũng cảm khi đối mặt với những thử thách lớn trong cuộc sống.

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có biết bao sự kiện hào hùng gắn với những con người kiên cường. Một trong những sự kiện mà em ấn tượng nhất là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 – chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” gắn liền với tên tuổi Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Đầu năm 1954, thực dân Pháp xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ ở vùng Tây Bắc, hòng cắt đứt đường liên lạc của ta và biến nơi đây thành “pháo đài bất khả xâm phạm”. Trước tình thế đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Bộ Chính trị đã quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Ban đầu, kế hoạch là “đánh nhanh, thắng nhanh”, nhưng khi thấy tình hình chưa thật thuận lợi, Đại tướng đã can đảm ra quyết định chuyển phương châm sang “đánh chắc, tiến chắc”. Quyết định ấy đã thể hiện tầm nhìn sáng suốt và bản lĩnh vững vàng của vị Tổng tư lệnh.

Suốt 56 ngày đêm, quân và dân ta đã kiên cường chiến đấu. Những chiếc xe kéo pháo qua đèo dốc, những đoàn dân công gùi gạo, gùi đạn vượt núi rừng hiểm trở là hình ảnh không thể nào quên. Ngày 7/5/1954, lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc hầm tướng De Castries – tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ hoàn toàn sụp đổ. Chiến thắng này buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương.

Sự kiện Điện Biên Phủ không chỉ là mốc son chói lọi của lịch sử dân tộc ta mà còn là niềm tự hào của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Qua chiến thắng này, em càng khâm phục Đại tướng Võ Nguyên Giáp – một vị tướng tài ba, đồng thời là người học trò xuất sắc của Bác Hồ.

Chiến thắng Điện Biên Phủ để lại cho em bài học quý giá: trong bất kỳ hoàn cảnh nào, nếu có lòng dũng cảm, sự kiên trì và niềm tin vào chính nghĩa, chúng ta nhất định sẽ giành thắng lợi. Em tự nhủ phải cố gắng học tập, rèn luyện để xứng đáng với thế hệ cha ông đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

3 tháng 11 2025

Bài làm

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, có nhiều tấm gương thiếu niên dũng cảm đã hy sinh vì Tổ quốc. Trong số đó, em rất khâm phục anh Kim Đồng, người đội viên đầu tiên của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.

Kim Đồng tên thật là Nông Văn Dền, sinh năm 1929, người dân tộc Nùng, quê ở xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Khi Cách mạng Việt Nam còn hoạt động bí mật, anh được giao nhiệm vụ làm liên lạc cho cán bộ Việt Minh. Dù tuổi còn nhỏ, Kim Đồng luôn tỏ ra nhanh nhẹn, mưu trí và rất dũng cảm. Anh thường vượt qua những con đường rừng hiểm trở, mang thư, chuyển tin, đưa đón cán bộ cách mạng an toàn.

Một lần, khi đang làm nhiệm vụ, Kim Đồng bất ngờ bị lính Pháp phát hiện. Để bảo vệ đồng đội, anh đã nhanh trí chạy hướng khác, đánh lạc hướng địch. Khi bọn lính nổ súng truy đuổi, anh vẫn kiên cường chạy đến nơi an toàn để báo tin. Nhưng do bị trúng đạn, Kim Đồng đã anh dũng hy sinh khi mới 14 tuổi. Sự hi sinh của anh khiến ai cũng thương tiếc và khâm phục.

Hình ảnh Kim Đồng mãi là biểu tượng đẹp của lòng dũng cảm, trung thành và tinh thần yêu nước. Mỗi lần nghe kể về anh, em cảm thấy vô cùng xúc động và tự hào. Em tự nhủ sẽ noi gương Kim Đồng – luôn chăm học, biết giúp đỡ bạn bè, và sống có trách nhiệm với Tổ quốc.

1 tháng 11 2023

Tháng tư vừa rồi, trường em có tổ chức một buổi tham quan nằm trong chuỗi hoạt động ngoại khóa của trường. Điểm đến lần này là Đền Hùng tại Việt Trì-Phú Thọ. Đây là nơi thờ phụng các đời Vua Hùng và tôn thất của nhà vua. Nơi đây gắn với Giỗ tổ Hùng Vương được tổ chức hàng năm vào ngày 10 tháng 3 Âm lịch. Đây là một dịp để thế hệ con cháu đến viếng đền, tưởng nhớ đến những người đã có công dựng nước.

Em đã được nghe nhiều câu chuyện về các Vua Hùng qua các sự tích nổi tiếng như Sự tích bánh chưng bánh dày, Sơn Tinh Thủy Tinh… và thấy được sự uy nghiêm và trí tuệ của các vị vua. Điều đó khiến tôi càng mong đợi chuyến đi này hơn.

Dưới chân núi là khung cảnh uy nghiêm, hùng vĩ của núi Nghĩa Lĩnh với rừng cây và sương mù bao phủ. Nơi thờ các vị vua được đặt trên núi với ba đền chính là đền Hạ, đền Trung và đền Thượng. Đền Hạ tương truyền là nơi mẹ Âu Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng. Trăm trứng ấy đẻ ra trăm người con, năm mươi người theo cha xuống biển, bốn chín người theo mẹ lên núi. Người con ở lại làm vua, lấy tên là Hùng Vương (thứ nhất). Đền Trung là nơi các vị vua họp bàn chính sự. Đền Thượng là lăng thờ Hùng Vương thứ sáu. Lễ hội đền Hùng được tổ chức hàng năm bao gồm những hoạt động văn hóa, văn nghệ mang tính chất nghi thức truyền thống và những hoạt động văn hóa dân gian khác… Các hoạt động văn hóa mang tính chất nghi thức còn lại đến ngày nay là lễ rước kiệu vua và lễ dâng hương. Dưới tán lá mát rượi của những cây trò, cây mỡ cổ thụ và âm vang trầm bổng của trống đồng, đám rước như một con rồng uốn lượn trên những bậc đá huyền thoại để tới đỉnh núi Thiêng.

 

Trước khi đi tham quan các đền, chúng tôi được làm lễ dâng hương và nghe diễn thuyết về các vị Vua Hùng. Không khí trang nghiêm, hào hùng ấy khiến tôi không khỏi tự hào về lịch sử dân tộc mình. Họ đã dựng nước, giữ nước để đời sau con cháu được hưởng thụ nền độc lập, hòa bình ấy. Và nay chúng em đến đây để thể hiện lòng biết ơn, sự tôn trọng của mình đối họ, thể hiện đúng truyền thống đạo lý “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Họ đã gây dựng nền móng cho nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa hiện tại và chúng em đều biết ơn điều đấy.

Sau đó, chúng em được đi thăm các đền thờ vua trên núi. Cách trang trí, sắp xếp các di vật đều được bố trí một cách ngay ngắn, trang nghiêm. Em ấn tượng với tấm bia ở đền Hạ khắc dòng chữ của Bác Hồ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta cùng nhau giữ lấy nước.” Nó như một lời hứa hẹn Bác thay thế hệ trẻ nói lên trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước.

Đó thực sự là một chuyến đi đầy bổ ích và ý nghĩa. Mặc dù nó chỉ kéo dài trong một buổi sáng ngắn ngủi nhưng nó đã giúp em hiểu ra trách nhiệm của mình đối với đất nước. Phải biết kính trọng, biết ơn thế hệ đi trước đặc biệt là các vị Vua Hùng và phải ghi nhớ:

“Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba.”

VOTE T 5 SAO Ạ!
3 tháng 1 2024

Mẫu ngắn gọn:

Đất nước có được nền hòa bình ngày hôm nay, không biết bao cha anh đã ngã xuống, không tiếc máu xương để bảo vệ độc lập, tự do cho dân tộc. Anh Kim Đồng là một tấm gương sáng trong số những người anh hùng như vậy. 

Anh Kim Đồng là người dân tộc Tày. Cha mất sớm, anh sống cùng mẹ - một người phụ nữ đảm đang nhưng ốm yếu. Sống trong cảnh đất nước bị xâm lược nên từ nhỏ, Kim Đồng đã dũng cảm, quyết đoán, mạnh mẽ, có tinh thần yêu nước, căm thù giặc. Tuy tuổi còn nhỏ nhưng anh rất hăng hái làm nhiệm vụ giao liên, đưa đón Việt Minh và chuyển thư từ. Anh được bầu làm đại đội trưởng đầu tiên của Đội Nhi đồng cứu quốc. Anh không ngại khó khăn, thử thách, nguy hiểm luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong một lần làm nhiệm vụ, anh bị giặc Pháp bắn và hi sinh. Khi ấy, anh mới chỉ 14 tuổi. Đã có rất nhiều bài thơ, bài hát được sáng tác để ghi nhớ công ơn của anh.

Hình ảnh anh Kim Đồng sẽ luôn sáng mãi, là tấm gương cho thanh thiếu niên Việt Nam về tinh thần yêu nước sâu sắc, sự thông minh, gan dạ, lòng dũng cảm, trung kiên với Tổ quốc.

3 tháng 1 2024

Mẫu 1:

Lý Công Uẩn người làng cổ Pháp thuộc Đông Ngạn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Hiện nay ở làng Đình Bảng vẫn còn có lăng và đền thờ các vua nhà Lý. 

Tục truyền rằng Công uẩn không có cha; mẹ là Phạm Thị đi chơi chùa Tiên Sơn (làng Tiên Sơn, phủ Từ Sơn) , đêm về nằm mộng thấy "đi lại" với thần nhân, rồi có thai đẻ ra đứa con trai. Lên ba tuổi, đứa bé càng khôi ngô tuấn tú; gia đình đem cho nhà sư ở chùa cổ Pháp tên là Lý Khánh Văn làm con nuôi. Lý Công uẩn được học hành chữ Nho, kinh Phật và võ nghệ từ nhỏ, lớn lên dưới mái chùa, trở thành một tài trai văn võ siêu quần. 

Ngoài 20 tuổi, Lý Công uẩn đã làm võ tướng dưới triều vua Lê Đại Hành, từng lập công to trong trận Chi Lăng (981) đại phá quân Tống xâm lược, chém đầu tướng giặc Hầu Nhân Bảo. Về sau, ông giữ chức Tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ, nắm trong tay toàn bộ binh quyền. Đức trọng tài cao, ông được quần thần và tướng sĩ rất kính phục. Năm 1005, Lê Đại Hành băng hà. Ngôi vua được truyền cho Lê Long Việt. Chỉ 3 ngày sau, Lê Long Đĩnh giết anh, giành lấy ngai vàng. Lê Long Đĩnh là một tên vua vô cùng bạo ngược khác nào Kiệt, Trụ ngày xưa. Hắn hoang dâm vô độ, nên mắc bệnh không ngồi được; đến buổi chầu thì cứ nằm mà thị triều, cho nên tục gọi là Vua Ngọa Triều. Cuối năm 1009, Lê Ngọa Triều chết. Năm đó, Lý Công uẩn đã 35 tuổi. Bấy giờ lòng người đã oán giận nhà Tiền Lê lắm rồi; quân thần và tầng lớp tăng lữ suy tôn ông lên ngôi báu, mở đầu triều đại nhà Lý (1010- 1225). 

Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế vào đầu xuân 1010, tức là vua Lý Thái Tổ nhà Lý. Nhà vua trị vì được 19 năm, thọ 55 tuổi, băng hà năm 1028. 

26 tháng 9 2023

Đất nước Việt Nam đã trải qua một nghìn năm Bắc thuộc. Rất nhiều vị anh hùng đã đứng lên đấu tranh, bảo vệ đất nước. Một trong số đó phải kể đến Hai Bà Trưng.

Hai Bà Trưng gồm hai chị em ruột là bà Trưng Trắc và bà Trưng Nhị. Họ đã ghi danh vào trang sử hào hùng với cuộc chiến chống ách đô hộ nhà Đông Hán (40 - 43). Chồng của bà Trưng Trắc bị thái thú Tô Định giết hại một cách dã man. Nợ nước, thù nhà nên bà quyết định nổi binh cùng em gái là Trưng Nhị chống lại kẻ thù. Trước khi xuất binh, hai bà đã đọc vang lời thề:

“Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin nối lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẻo oan ức lòng chồng
Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này”

Trong cuộc khởi nghĩa của hai bà, có rất nhiều nữ tướng tham gia và họ cùng nhau lập những chiến công khiến cho quân giặc khiếp hồn, thái thú Tô Định phải bỏ chạy về nước. Sau khi làm chủ đất Mê Linh, Trưng Trắc lên làm vua lấy hiệu là Trưng Vương, hoàn thành sứ mệnh nối nghiệp họ Hùng. Năm 43, quân giặc tiến quân xâm lược, Hai Bà Trưng kiên cường chống trả, song quân địch quá đông và mạnh, nghĩa quân thua trận.

Hai Bà Trưng là những vị tướng tài năng của dân tộc. Tuy là phụ nữ, nhưng lại có lòng dũng cảm, tài năng hơn người cùng với ý chí quyết tâm để lãnh đạo nhân dân chống lại kẻ thù xâm lược.

Có thể khẳng định rằng, Hai Bà Trưng chính là những nữ anh hùng đầu tiên trong lịch sử dân tộc, là tấm gương để mỗi người học tập và noi theo.

 

28 tháng 9 2023

Bác Hồ là người cha già vĩ đại và đáng kính của cả dân tộc Việt Nam. Có rất nhiều những câu chuyện, sự kiện ý nghĩa về Bác được truyền tụng. Đặc biệt là những câu chuyện về Bác và thiếu nhi. Trong đó, câu chuyện được nhiều bạn nhỏ biết đến nhất, chính là câu chuyện về Bác Hồ và chiếc rễ đa tròn.

Chuyện xảy ra ở khu vườn trong ngôi nhà sàn mà Bác sinh sống. Một đêm nọ, trời có mưa bão lớn, khiến cây đa già sau Bác bị gãy rơi rất nhiều đoạn rễ. Sáng hôm sau, lúc đi tập thể dục, Bác đã nhặt được các đoạn rễ đó. Trong số đó, có một nhánh rễ khác dài, bác tần ngần một chút, liền nghĩ ra ý kiến hay. Thế là Bác bèn gọi một chú cần vụ đang ở gần đó lại, nhờ chú trồng chiếc rễ đa này xuống phần đất trống ở góc vườn. Bác dặn anh cần vụ là trồng chiếc rễ thành hình tròn, nhưng anh vẫn không hiểu lắm. Nhìn chiếc rễ đã được cuộn lại trên tay, anh nghi hoặc hỏi lại Bác cách trồng. Thế là, Bác liền chỉ anh từng bước một. Đầu tiên là tìm hai chiếc cọc gỗ nhỏ, rồi đào hai cái lỗ để vùi rễ xuống. Hai cái lỗ đó cách nhau vừa bằng đúng đường kính của vòng rễ tròn vừa cuộn. Sau đó, vùi hai đầu của vòng rễ tròn xuống, và cố định thân vòng rễ vào hai chiếc cọc. Nhờ vậy, vòng rễ tròn được cố định đứng thẳng trên mặt đất. Chú cần vụ cứ thắc mắc mãi, vì sao lại phải trồng cầu kì như thế, dù sao rễ đa rất khỏe, cứ vùi xuống là sẽ mọc thành cây thôi mà. Nhưng Bác Hồ không giải thích gì, chỉ mỉm cười hiền từ nói rằng sau này anh sẽ hiểu. Rất nhiều năm sau, rễ đa nhỏ bé ngày nào đã lớn lên thành một cây đa cuộn tròn lại như cái cổng xinh xắn. Trẻ em đến thăm vườn Bác, bạn nào cũng thích thú lắm. Rủ nhau làm đoàn tau chạy qua chạy lai gốc cây vui vô cùng.

 

Từ câu chuyện ấy, em càng thêm thán phục sự thông minh, sáng tạo của Bác Hồ. Nhưng hơn cả là tình yêu thương, quý mến của Bác dành cho các em thiếu nhi. Tình cảm ấy thật ấm áp và thiêng liêng biết bao nhiêu.

31 tháng 10 2024

"Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình,nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc,nếu ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi tổ quốc"đó là những câu nói đã trở thành lịch sử của những sinh viên đại học thời kì chống MỸ cứu nước . 

1 tháng 11 2023

Tháng tư vừa rồi, trường em có tổ chức một buổi tham quan nằm trong chuỗi hoạt động ngoại khóa của trường. Điểm đến lần này là Đền Hùng tại Việt Trì-Phú Thọ. Đây là nơi thờ phụng các đời Vua Hùng và tôn thất của nhà vua. Nơi đây gắn với Giỗ tổ Hùng Vương được tổ chức hàng năm vào ngày 10 tháng 3 Âm lịch. Đây là một dịp để thế hệ con cháu đến viếng đền, tưởng nhớ đến những người đã có công dựng nước.

Em đã được nghe nhiều câu chuyện về các Vua Hùng qua các sự tích nổi tiếng như Sự tích bánh chưng bánh dày, Sơn Tinh Thủy Tinh… và thấy được sự uy nghiêm và trí tuệ của các vị vua. Điều đó khiến tôi càng mong đợi chuyến đi này hơn.

Dưới chân núi là khung cảnh uy nghiêm, hùng vĩ của núi Nghĩa Lĩnh với rừng cây và sương mù bao phủ. Nơi thờ các vị vua được đặt trên núi với ba đền chính là đền Hạ, đền Trung và đền Thượng. Đền Hạ tương truyền là nơi mẹ Âu Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng. Trăm trứng ấy đẻ ra trăm người con, năm mươi người theo cha xuống biển, bốn chín người theo mẹ lên núi. Người con ở lại làm vua, lấy tên là Hùng Vương (thứ nhất). Đền Trung là nơi các vị vua họp bàn chính sự. Đền Thượng là lăng thờ Hùng Vương thứ sáu. Lễ hội đền Hùng được tổ chức hàng năm bao gồm những hoạt động văn hóa, văn nghệ mang tính chất nghi thức truyền thống và những hoạt động văn hóa dân gian khác… Các hoạt động văn hóa mang tính chất nghi thức còn lại đến ngày nay là lễ rước kiệu vua và lễ dâng hương. Dưới tán lá mát rượi của những cây trò, cây mỡ cổ thụ và âm vang trầm bổng của trống đồng, đám rước như một con rồng uốn lượn trên những bậc đá huyền thoại để tới đỉnh núi Thiêng.

 

Trước khi đi tham quan các đền, chúng tôi được làm lễ dâng hương và nghe diễn thuyết về các vị Vua Hùng. Không khí trang nghiêm, hào hùng ấy khiến tôi không khỏi tự hào về lịch sử dân tộc mình. Họ đã dựng nước, giữ nước để đời sau con cháu được hưởng thụ nền độc lập, hòa bình ấy. Và nay chúng em đến đây để thể hiện lòng biết ơn, sự tôn trọng của mình đối họ, thể hiện đúng truyền thống đạo lý “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Họ đã gây dựng nền móng cho nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa hiện tại và chúng em đều biết ơn điều đấy.

Sau đó, chúng em được đi thăm các đền thờ vua trên núi. Cách trang trí, sắp xếp các di vật đều được bố trí một cách ngay ngắn, trang nghiêm. Em ấn tượng với tấm bia ở đền Hạ khắc dòng chữ của Bác Hồ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta cùng nhau giữ lấy nước.” Nó như một lời hứa hẹn Bác thay thế hệ trẻ nói lên trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước.

Đó thực sự là một chuyến đi đầy bổ ích và ý nghĩa. Mặc dù nó chỉ kéo dài trong một buổi sáng ngắn ngủi nhưng nó đã giúp em hiểu ra trách nhiệm của mình đối với đất nước. Phải biết kính trọng, biết ơn thế hệ đi trước đặc biệt là các vị Vua Hùng và phải ghi nhớ:

“Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba.”


VOTE T 5 SAO NHAA
19 tháng 11 2024

google đi bn

 

 

16 tháng 3 2023

Tham Khảo

Một trong những vị anh hùng của dân tộc Việt Nam là Võ Thị Sáu. Chị chính là một trong những biểu tượng cho lòng dũng cảm, sự gan dạ của người phụ nữ Việt Nam.

Võ Thị Sáu sinh năm 1933, mất năm 1952. Về nguyên quán, trên bia mộ chỉ ghi tại huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Chị tham gia hoạt động cách mạng từ khi còn rất trẻ, đã hoàn thành xuất sắc nhiều nhiệm vụ quan trọng.

Chị đã tham gia nhiều trận chiến đấu để bảo vệ quê hương, dùng lựu đạn tiêu diệt hai tên ác ôn và làm bị thương nhiều lính Pháp. Chị còn nhiều lần phát hiện gian tế, tay sai Pháp, giúp đội công an thoát khỏi nguy hiểm, chủ động trong việc tấn công địch…

Vào tháng 7 năm 1948, Công an Đất Đỏ được giao nhiệm vụ phá cuộc mít tinh kỷ niệm Quốc khánh Pháp. Dù nguy hiểm, nhưng chị Sáu vẫn chủ động xin được trực tiếp đánh trận này. Chị đã nhận lựu đạn, giấu vào góc chợ gần khán đài từ nửa đêm. Sáng hôm đó, địch lùa người dân vào sân. Khi xe của tỉnh trưởng tới, chị tung lựu đạn về phía khán đài, uy hiếp giải tán mít tinh.

Hai tổ công an xung phong ở gần đấy đồng loạt nổ súng yểm trợ tạo áp lực giải tán cuộc mít tinh, đồng thời hỗ trợ cho chị Sáu rút an toàn. Người của Việt Minh được bố trí trong đám đông hô to “Việt Minh tiến công” và hướng dẫn người dân giải tán. Sau chiến công này, chị Sáu được tổ chức tuyên dương khen ngợi và được giao nhiệm nhiều nhiệm vụ quan trọng khác. Khi bị giặc bắt giam tại nhà tù Côn Đảo, chuẩn bị xử tử hình, chị vẫn giữ được tinh thần của người chiến sĩ cách mạng.

Năm 1993, Nhà nước đã trân trọng truy tặng chị Huân chương chiến công hạng Nhất và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.

Có thể khẳng định rằng, chị Võ Thị Sáu là một tấm gương về lòng dũng cảm, sự gan dạ, đáng để chúng ta học tập và noi theo.

1 tháng 11 2023

Tháng tư vừa rồi, trường em có tổ chức một buổi tham quan nằm trong chuỗi hoạt động ngoại khóa của trường. Điểm đến lần này là Đền Hùng tại Việt Trì-Phú Thọ. Đây là nơi thờ phụng các đời Vua Hùng và tôn thất của nhà vua. Nơi đây gắn với Giỗ tổ Hùng Vương được tổ chức hàng năm vào ngày 10 tháng 3 Âm lịch. Đây là một dịp để thế hệ con cháu đến viếng đền, tưởng nhớ đến những người đã có công dựng nước.

Em đã được nghe nhiều câu chuyện về các Vua Hùng qua các sự tích nổi tiếng như Sự tích bánh chưng bánh dày, Sơn Tinh Thủy Tinh… và thấy được sự uy nghiêm và trí tuệ của các vị vua. Điều đó khiến tôi càng mong đợi chuyến đi này hơn.

Dưới chân núi là khung cảnh uy nghiêm, hùng vĩ của núi Nghĩa Lĩnh với rừng cây và sương mù bao phủ. Nơi thờ các vị vua được đặt trên núi với ba đền chính là đền Hạ, đền Trung và đền Thượng. Đền Hạ tương truyền là nơi mẹ Âu Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng. Trăm trứng ấy đẻ ra trăm người con, năm mươi người theo cha xuống biển, bốn chín người theo mẹ lên núi. Người con ở lại làm vua, lấy tên là Hùng Vương (thứ nhất). Đền Trung là nơi các vị vua họp bàn chính sự. Đền Thượng là lăng thờ Hùng Vương thứ sáu. Lễ hội đền Hùng được tổ chức hàng năm bao gồm những hoạt động văn hóa, văn nghệ mang tính chất nghi thức truyền thống và những hoạt động văn hóa dân gian khác… Các hoạt động văn hóa mang tính chất nghi thức còn lại đến ngày nay là lễ rước kiệu vua và lễ dâng hương. Dưới tán lá mát rượi của những cây trò, cây mỡ cổ thụ và âm vang trầm bổng của trống đồng, đám rước như một con rồng uốn lượn trên những bậc đá huyền thoại để tới đỉnh núi Thiêng.

 

Trước khi đi tham quan các đền, chúng tôi được làm lễ dâng hương và nghe diễn thuyết về các vị Vua Hùng. Không khí trang nghiêm, hào hùng ấy khiến tôi không khỏi tự hào về lịch sử dân tộc mình. Họ đã dựng nước, giữ nước để đời sau con cháu được hưởng thụ nền độc lập, hòa bình ấy. Và nay chúng em đến đây để thể hiện lòng biết ơn, sự tôn trọng của mình đối họ, thể hiện đúng truyền thống đạo lý “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Họ đã gây dựng nền móng cho nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa hiện tại và chúng em đều biết ơn điều đấy.

Sau đó, chúng em được đi thăm các đền thờ vua trên núi. Cách trang trí, sắp xếp các di vật đều được bố trí một cách ngay ngắn, trang nghiêm. Em ấn tượng với tấm bia ở đền Hạ khắc dòng chữ của Bác Hồ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta cùng nhau giữ lấy nước.” Nó như một lời hứa hẹn Bác thay thế hệ trẻ nói lên trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước.

Đó thực sự là một chuyến đi đầy bổ ích và ý nghĩa. Mặc dù nó chỉ kéo dài trong một buổi sáng ngắn ngủi nhưng nó đã giúp em hiểu ra trách nhiệm của mình đối với đất nước. Phải biết kính trọng, biết ơn thế hệ đi trước đặc biệt là các vị Vua Hùng và phải ghi nhớ:

“Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba.”