I. Đọc hiểu 

Câu 9. 

K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

I. Đọc hiểu 

Câu 9. Chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn sau và nêu tác dụng. 

"Vợ chồng hồi hộp trông những bông hoa đầu tiên hé nở, rồi hoa kết quả, lúc đầu bằng ngón tay út, ít lâu sau đã như con chuột, rồi con lợn con."

Câu 10. Bằng một đoạn văn (5 - 7 câu), em hãy nêu suy nghĩ và hành động mà mỗi người cần có trước nghịch cảnh.

Bài đọc:

Sự tích quả dưa hấu 

       Thuở xưa, thời vua Hùng Vương, nước ta có núi cao, sông rộng, trời đẹp nắng vàng, nhưng đồng ruộng thưa thớt, hoa quả chưa có nhiều thứ thơm ngọt như bây giờ. Vua Hùng Vương thứ mười bảy có một người con nuôi là Mai An Tiêm. Chàng có tài tháo vát và có trí hơn người.

       Vua yêu mến Mai An Tiêm nên thường ban cho của ngon vật quý. Thói thường, các quan được một chút lộc vua thì nâng niu ca tụng; riêng An Tiêm bảo: "Của biếu là của lo, của cho là của nợ!" và xem thường các thứ ấy. Việc đến tai vua, vua giận lắm, bảo: "Đã thế ta cho nó cứ trông vào tài sức của nó xem có chết rũ xương ra không?".

       Thế là một buổi sớm, tự nhiên An Tiêm thấy lính đến giải cả chàng lẫn vợ con xuống thuyền, chẳng cho mang theo gì hết. Chàng nói mãi chúng mới cho đem một cái gươm cùn hộ thân. Buồm căng gió, thuyền tròng trành nhằm biển khơi thẳng tiến. Bãi cát trắng, vệt cây xanh trong bờ lần lượt khuất đi, dấu vết của dân cư cũng không còn nữa, bây giờ chỉ thấy trời với nước xanh ngắt một màu.

       Hôm sau thuyền đến một đảo nhỏ. Họ để gia đình An Tiêm lên bờ với năm ngày lương thực, một chiếc nồi, rồi nhổ neo quay lái. Nàng Ba, vợ An Tiêm, bế con nhìn theo chiếc thuyền dần dần ra xa rồi khuất mất, nước mắt nhỏ như mưa.

       An Tiêm dắt vợ con tìm được một cái hốc đá ở tạm. Rồi chàng cắp gươm đi thăm dò. Hòn đảo quả thật hoang vu, chỉ có ít cây cỏ lơ thơ và mấy loài chim biển. Tìm mãi mới thấy vài thứ quả chát chua và rau dại ăn tạm cho đỡ đói. Từ đấy, ngày ngày An Tiêm trồng rau và tìm quả, nàng Ba thì ra bờ biển mò con ngao, cái hến. Đứa con lớn của An Tiêm bắt chước cha cũng cặm cụi làm bẫy đánh chim.

       Nhưng rồi chim dần dần quen bẫy, có khi suốt ngày thằng bé không bắt được gì. Cá nhiều nhưng không lưới, quả thì có mùa. Nên thức ăn chính của vợ chồng con cái An Tiêm vẫn là mấy thứ rau dại mà chàng trồng thành rau vườn. Cuộc đời của bốn người vô cùng lao đao, vất vả, chẳng khác giống chim muông là bao. Tuy vậy, An Tiêm vẫn tin rằng một ngày kia, mình có thể làm cho đời sống khá lên.

       Một hôm có con chim đương ăn ngoài bãi thấy An Tiêm đến, vội bay đi, bỏ lại một miếng mồi đo đỏ. An Tiêm cầm lên xem thì là một mảnh quả bằng hai ngón tay. Chàng nghĩ thầm: "Chim ăn được có lẽ người cũng ăn được". Chàng bèn ăn thử thì thấy có vị ngọt và nhặt hạt gói lại. Ngồi nghỉ một lát thấy mát ruột, đỡ đói, chàng có ý mừng, lấy gươm xới một khoảnh đất mà gieo hạt xuống.

       Ít ngày sau, mấy hạt đã mọc mầm đâm lá, bò tỏa ra khắp khoảnh đất. Nàng Ba cũng giúp chồng sớm chiều săn sóc dây của quả lạ. Vợ chồng hồi hộp trông những bông hoa đầu tiên hé nở, rồi hoa kết quả, lúc đầu bằng ngón tay út, ít lâu sau đã như con chuột, rồi con lợn con. Thấy nó lớn mãi như không bao giờ thôi, An Tiêm cũng không biết lúc nào nên hái.

       Một buổi sớm tinh mơ, nghe tiếng quạ kêu ngoài bãi, nàng Ba bảo chồng:

       – Ở đây hoang vắng, quạ không tụ họp bao giờ, nay chúng kêu inh ỏi một nơi, tất là có sự lạ. Chàng ra xem thế nào!

       An Tiêm ra đến bãi thì đàn quạ bay đi bỏ lại quả chúng vừa mổ thủng vài chỗ. Chàng cắt quả về. Khi chàng bổ ra, cả nhà lóa mắt vì màu đỏ tươi của ruột quả. Đây đó giữa màu đỏ, có những hạt đen như hạt huyền. Hai đứa bé thèm nhỏ nước dãi, nàng Ba thì cứ tấm tắc khen quả trông ngon mắt.

       An Tiêm cẩn thận cắt cho mỗi người một mảnh nhỏ ăn thử. Bốn người như một, khen ngợi cái vị thanh ngọt, cái mùi thơm nhẹ nhàng của quả lạ, ăn vào không những không xót ruột mà còn thấy đỡ khát và khỏe người ra. Đến trưa, An Tiêm mạnh dạn bổ hết quả cho con ăn đến no.

       Bấy giờ cả nhà An Tiêm mừng rỡ, bồng bế nhau ra bãi, chọn những quả sẫm màu đem về, còn lại thì thay phiên nhau canh quả. Và từ đấy, họ trồng thêm quả. Tất cả nông cụ chỉ gồm có một cái gươm cùn và mấy hòn đá mài bén. Vì vậy, thêm một gốc quả là thêm không biết bao nhiêu mồ hôi nước mắt. Nhưng họ chăm sóc hết lòng, nhờ vậy, giống quả càng ngày càng sai, càng to, thịt dày thêm mãi, vỏ mỏng dần đi, vị càng thơm ngọt.

       Cứ mỗi lần hái quả, An Tiêm lấy mấy quả đánh dấu thả ra biển. Quả trôi biệt tăm không biết bao lần, trăng non rồi trăng già không biết bao bận, An Tiêm vẫn không ngã lòng. Quả nhiên một hôm có một chiếc thuyền ghé đến hỏi xem ai đã trồng được giống quả quý để đổi về đem bán trên đất liền. Từ đấy An Tiêm đổi được các thức ăn dùng thường ngày và còn cất được một cái nhà lá.

       Về phần vua Hùng Vương, từ ngày bỏ An Tiêm ra hoang đảo, vua yên trí rằng An Tiêm đã chết, đôi khi nghĩ đến cũng có bùi ngùi thương hại. Cho đến một ngày kia, thị thần dâng quả lạ, vua ăn ngon miệng bèn hỏi thăm tung tích, mới biết là do An Tiêm trồng ngoài đảo. Vua ngẫm nghĩ thấy mình sai, cho thuyền ra đón gia đình An Tiêm.

       An Tiêm và nàng Ba mừng rỡ, thu lượm hết những quả chín và hạt giống đem về phân phát cho bà con hàng xóm, truyền dạy cách gieo trồng, chăm bón. Đó là nguồn gốc giống dưa hấu mà chúng ta ăn ngày nay.

       Về sau khắp nước ta đều có giống dưa hấu. Nhưng người ta nói chỉ có huyện Nga Sơn là trồng được những quả ngon hơn cả, vì nơi ấy xưa là hòn đảo An Tiêm ở, trải qua mấy nghìn năm nước cạn, cát bồi nay đã liền vào với đất.

(Sưu tầm)

9
12 tháng 3 2024

9."Vợ chồng hồi hộp trông những bông hoa đầu tiên hé nở, rồi hoa kết quả, lúc đầu bằng ngón tay út, ít lâu sau đã như con chuột, rồi con lợn con."

10.trong cuộc sống, ai cũng có cái riêng của mình. Thật vậy, mỗi người đều có một cuộc sống riêng, một hành trình riêng, một tương lai và mọi thứ khác với những người còn lại
Xem thêm tại: https://loigiaihay.com/viet-doan-van-khoang-5-7-cau-trinh-bay-suy-nghi-cua-em-ve-van-de-ai-cung-co-cai-rieng-cua-minh-a94686.html

Câu 10 (Đoạn văn 5–7 câu) Trước nghịch cảnh, mỗi người cần giữ vững niềm tin và không được nản lòng. Khó khăn là thử thách giúp con người rèn luyện ý chí và bản lĩnh sống. Khi gặp nghịch cảnh, ta cần bình tĩnh suy nghĩ, tìm cách vượt qua thay vì than trách số phận. Đồng thời, con người phải chăm chỉ lao động và không ngừng cố gắng. Bên cạnh đó, cần tin vào chính mình và sống lương thiện. Có như vậy, chúng ta mới có thể biến nghịch cảnh thành cơ hội để vươn lên trong cuộc sống.

Câu 9 Biện pháp tu từ được sử dụng: → So sánh (kết hợp liệt kê). Dấu hiệu: So sánh sự lớn lên của quả dưa với: ngón tay út → con chuột → con lợn con. Tác dụng: Giúp người đọc hình dung rõ ràng, sinh động quá trình lớn nhanh của quả dưa. Thể hiện niềm vui, sự hồi hộp và mong đợi của vợ chồng An Tiêm khi chứng kiến thành quả lao động của mình.

Câu 9 BPTU là so sánh

• to bằng ngón tay út

•to bằng con chuột

•to bằng con lon

Câu 10 , vợ chồng An Tiêm rơi vào nghịch cảnh khi bị đày ra đảo hoang, thiếu thốn mọi thứ. Tuy vậy, An Tiêm không tuyệt vọng mà tin vào sức lao động của mình. Nhờ kiên trì và chăm chỉ, ông đã vượt qua khó khăn và tìm ra giống dưa quý. Truyện cho thấy con người có thể chiến thắng nghịch cảnh nếu không bỏ cuộc.

11 tháng 3

Câu9:

- Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn trên là biện pháp tu từ so sánh

-Tác dụng:

+ Giúp chi câu văn trở nên sinh động hơn

+ nhấn mạnh sự lớn dần của quả dưa

+ tác giả muốn thể hiện sự đặc biệt của quả dư

Câu10:

-Trước nghịch cảnh, mỗi người cần có suy nghĩ tích cực và không được nản lòng. Chúng ta phải bình tĩnh tìm cách vượt qua khó khăn thay vì bỏ cuộc. Bên cạnh đó, cần chăm chỉ, kiên trì và luôn tin vào bản thân. Nghịch cảnh cũng là cơ hội để con người rèn luyện ý chí và trưởng thành hơn. Khi gặp khó khăn, chúng ta nên cố gắng học hỏi và tìm ra hướng giải quyết tốt nhất. Nếu luôn lạc quan và nỗ lực, chúng ta sẽ vượt qua mọi thử thách trong cuộc sống.



13 tháng 3
Câu 9: Chỉ ra biện pháp tu từ và nêu tác dụng Trong câu văn: "Vợ chồng hồi hộp trông những bông hoa đầu tiên hé nở, rồi hoa kết quả, lúc đầu bằng ngón tay út, ít lâu sau đã như con chuột, rồi con lợn con."
  • Biện pháp tu từ chính:
    • So sánh: Sử dụng các từ so sánh "bằng", "như" (bằng ngón tay útnhư con chuột).
    • Liệt kê (tăng tiến): Diễn tả kích thước quả lớn dần (ngón tay út -> con chuột -> con lợn con).
    • Nói quá (Phóng đại): Cách ví von quả lớn nhanh như "con lợn con" để nhấn mạnh sự kỳ diệu.
  • Tác dụng:
    • Làm cho hình ảnh trở nên sinh động và cụ thể: Giúp người đọc dễ dàng hình dung sự lớn nhanh một cách thần kỳ, khác thường của loại quả này.
    • Thể hiện cảm xúc: Gợi tả tâm trạng ngạc nhiên, vui mừng và sự kỳ vọng, hồi hộp của hai vợ chồng khi chứng kiến thành quả lao động của mình.
    • Tăng sức hấp dẫn: Tạo nên màu sắc huyền ảo, đậm chất cổ tích cho câu chuyện.

Câu 10: Đoạn văn về suy nghĩ và hành động trước nghịch cảnh (5 - 7 câu) Trong cuộc sống, nghịch cảnh là điều không thể tránh khỏi, nhưng quan trọng nhất chính là thái độ và cách chúng ta đối mặt với nó. Trước hết, về suy nghĩ, mỗi người cần giữ cho mình một tinh thần lạc quan, bình tĩnh và ý chí kiên cường thay vì sợ hãi hay buông xuôi. Chúng ta nên xem khó khăn là những bài học quý giá để rèn luyện bản lĩnh và trưởng thành hơn. Về hành động, thay vì than vãn, hãy chủ động tìm kiếm giải pháp, kiên trì nỗ lực để vượt qua thử thách. Đôi khi, việc mở lòng chia sẻ và tìm kiếm sự hỗ trợ từ những người xung quanh cũng là cách giúp ta có thêm sức mạnh. Chỉ khi dũng cảm đương đầu với nghịch cảnh, con người mới có thể khám phá ra những giới hạn mới của bản thân và chạm tay đến thành công.


19 tháng 3

Câu 1: sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa

Tác dụng:

29 tháng 3

Câu 9:giúp xfzdofxhgzs



Xin lỗi anh ta không biết phải làm sao đây được xem như một ĐỨA NÀO đi CÙNG anh ta không Biết rồi đấy em cảm ơn cô rất nhiều tiền

I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)Đọc câu chuyện sau và trả lời các câu hỏi.SỰ TÍCH CÂY NGÔ     Năm ấy, trời hạn hán. Cây cối chết khô vì thiếu nước, bản làng xơ xác vì đói khát. Nhiều người phải bỏ bản ra đi tìm nơi ở mới. Ở nhà nọ chỉ có hai mẹ con. Người mẹ ốm đau liên miên và cậu con trai lên 7 tuổi. Cậu bé tên là Aưm, có nước da đen nhẫy và mái tóc vàng hoe. Tuy còn nhỏ nhưng...
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)

Đọc câu chuyện sau và trả lời các câu hỏi.

SỰ TÍCH CÂY NGÔ

     Năm ấy, trời hạn hán. Cây cối chết khô vì thiếu nước, bản làng xơ xác vì đói khát. Nhiều người phải bỏ bản ra đi tìm nơi ở mới. Ở nhà nọ chỉ có hai mẹ con. Người mẹ ốm đau liên miên và cậu con trai lên 7 tuổi. Cậu bé tên là Aưm, có nước da đen nhẫy và mái tóc vàng hoe. Tuy còn nhỏ nhưng Aưm đã trở thành chỗ dựa của mẹ. Hằng ngày, cậu dậy sớm vào rừng kiếm măng, hái nấm, hái quả mang về cho mẹ. Nhưng trời ngày càng hạn hán hơn. Có những lần cậu đi cả ngày mà vẫn không tìm được thứ gì để ăn. Một hôm, vừa đói vừa mệt cậu thiếp đi bên bờ suối. Trong mơ, cậu nhìn thấy một con chim cắp quả gì to bằng bắp tay, phía trên có chùm râu vàng như mái tóc của cậu. Con chim đặt quả lạ vào tay Aưm rồi vỗ cánh bay đi. Tỉnh dậy Aưm thấy quả lạ vẫn ở trên tay. Ngạc nhiên, Aưm lần bóc các lớp vỏ thì thấy phía trong hiện ra những hạt màu vàng nhạt, xếp thành hàng đều tăm tắp. Aưm tỉa một hạt bỏ vào miệng nhai thử thì thấy có vị ngọt, bùi. Mừng quá, Aưm cầm quả lạ chạy một mạch về nhà.

     Mẹ của cậu vẫn nằm thiêm thiếp trên giường. Thương mẹ mấy ngày nay đã đói lả, Aưm vội tỉa những hạt lạ đó mang giã và nấu lên mời mẹ ăn. Người mẹ dần dần tỉnh lại, âu yếm nhìn đứa con hiếu thảo. Còn lại ít hạt, Aưm đem gieo vào mảnh đất trước sân nhà. Hằng ngày, cậu ra sức chăm bón cho cây lạ. Nhiều hôm phải đi cả ngày mới tìm được nước uống nhưng Aưm vẫn dành một gáo nước để tưới cho cây. Được chăm sóc tốt nên cây lớn rất nhanh, vươn những lá dài xanh mướt. Chẳng bao lâu, cây đã trổ hoa, kết quả.

     Mùa hạn qua đi, bà con lũ lượt tìm về bản cũ. Aưm hái những quả lạ có râu vàng hoe như mái tóc của cậu biếu bà con để làm hạt giống. Quý tấm lòng thơm thảo của Aưm, dân bản lấy tên cậu bé đặt tên cho cây có quả lạ đó là cây Aưm, hay còn gọi là cây ngô. Nhờ có cây ngô mà từ đó, những người dân Pako không còn lo thiếu đói nữa.

(Theo truyencotich.vn)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. (0.5 điểm) Câu chuyện trên được kể theo ngôi thứ mấy?

Câu 2. (0.5 điểm) Aưm có hoàn cảnh như thế nào?

Câu 3. (1.0 điểm) Tìm 01 từ láy có trong câu chuyện và đặt 01 câu với từ láy đó.

Câu 4. (1.0 điểm) Chi tiết "Hằng ngày, Aưm dậy sớm vào rừng kiếm măng, hái nấm, hái quả mang về cho mẹ." đã chứng minh Aưm là người thế nào?

Câu 5. (1.0 điểm) Em rút ra bài học gì cho bản thân từ câu chuyện trên?

2
11 tháng 12 2025

Đẹp trai

1 câu chuyện được kể theo ngôi thứ ba

“Ngày xưa, con người chưa biết tính thời gian, chưa biết tính tuổi của mình. Ở nước nọ, có một ông vua nổi tiếng thông minh và tài đức. Đất nước của ông thanh bình, dân tình no ấm. Một lần , nhân dịp vui, nhà vua nảy ý định ban thưởng cho người già nhất trong nước. Nhưng chẳng làng nào chọn được người già nhất nước. Thấy vậy, nhà vua liền phái một đoàn sứ giả đi tìm các vị...
Đọc tiếp

“Ngày xưa, con người chưa biết tính thời gian, chưa biết tính tuổi của mình. Ở nước nọ, có một ông vua nổi tiếng thông minh và tài đức. Đất nước của ông thanh bình, dân tình no ấm. Một lần , nhân dịp vui, nhà vua nảy ý định ban thưởng cho người già nhất trong nước. Nhưng chẳng làng nào chọn được người già nhất nước. Thấy vậy, nhà vua liền phái một đoàn sứ giả đi tìm các vị thần để biết hỏi cách biết người già nhất. Vâng lệnh vua, đoàn sứ giả lên đường. Vị thần đầu tiên họ gặp là Thần Sông. Thần Sông mặc áo trắng, tóc mềm như nước, nghe sứ giả hỏi bèn lắc đầu trả lời : – Ta ở dây đã lâu nhưng chưa bằng mẹ ta. Hãy đến hỏi mẹ ta. Mẹ ta là Biển Cả. Thần Biển mặc áo xanh biếc đang ru con bằng những lời sóng vỗ. Được hỏi, thần Biển chỉ tay lên ngọn núi xa xa và nói : – Hãy hỏi Thần Núi, Thần còn sinh ra trước cả ta. Khi ta lớn lên thì Thần Núi đã già rồi. Đoàn sứ giả lại lặn lội đến gặp Thần Núi, Thần Núi da xanh rì vì rêu bám cũng lắc đầu chỉ tay lên trời : – Hãy đến hỏi Thần Mặt Trời. Lúc ta mới chào đời, ta đã phải nhắm nghiền mắt vì nắng của Thần. Thần Mặt Trời còn có trước cả ta. Làm sao đến được chỗ Thần Mặt Trời. Đoàn sứ giả thất vọng quay về. Đến một khu rừng, họ gặp một bà lão nét mặt buồn rầu ngồi chăm chú trước cây hoa đào. Đoàn sứ giả đến gần hỏi: – Thưa cụ, tại sao  cụ lại ngồi đây ? Bà lão trả lời : – Tôi đến đây để hái hoa đào. Thuở trước, con tôi đi xa, cây đào này đang nở hoa. Bây giờ, mỗi lần hoa đào nở, tôi lại ra hái một bông hoa để về nhớ đến con tôi. Một ý nghĩ vụt lóe lên, đoàn sứ giả xin phép bà lão trở lại kinh đô. Họ tâu lên vua việc gặp bà lão hái hoa đào tính thời gian chờ con. Nhà vua vốn thông minh nên nghĩ ra cách tính tuổi con người: Cứ mỗi lần hoa đào nở thì tính một tuổi. Sau này người ta mới biết mười hai lần trăng tròn rồi khuyết, hoa đào mới nở một lần. Lại kể về chuyện nhà vua, sau khi tìm được cách tính tuổi, ông rất vui mừng, cảm động và nhớ đến bà lão hái hoa đào, nhà vua truyền cho thần dân cả nước: Mỗi lần hoa đào nở được mở hội ba ngày ba đêm. Những ngày vui ấy sau này người ta gọi là Tết. Phong tục ấy còn truyền mãi đến bây giờ.”

                                           Câu 1. Văn bản trên được kể theo ngôi thứ mấy? Phương thức biểu đạt chính là gì?

Câu 2. Văn bản trên thuộc thể loại truyện nào? Hãy kể tên một số văn bản cũng viết theo thể loại ấy?

Câu 3. Nêu nội dung chính của văn bản trên?

Câu 4. Nhân vật chính trong văn bản trên là ai?

Câu 5. a. Khi “nhà vua truyền cho thần dân cả nước: Mỗi lần hoa đào nở được mở hội ba ngày, ba đêm. Những ngày vui ấy sau này người ta gọi là Tết.” thì em hiểu ba ngày ba đêm đó là những ngày nào của Tết nguyên đán hiện nay?

b. Hãy kể ra một vài phong tục trong ngày Tết của quê em?

c. Em có suy nghĩ gì về những phong tục này?

Câu 6. Em hãy giải thích nghĩa của từ:  sứ giả, phong tục?

 

1
9 tháng 3 2022

Caau 1 kể theo ngôi thứ 3; PTBĐ chính là tự sự

Câu 2 truyện cổ tích ; truyện Thạch Sanh, Tấm Cám

Câu 3: nội dung chính là quá trình tìm ra cách tính tuổi

Câu 4 là nhà vua

Câu 5: a) mùng 1 mùng 2 mùng 3

b) gói bánh chưng...

Câu 6: Su gia la nguoi duoc sai di lam mot viec gi do

Phong tục:Phong tục là thói quen sinh hoạt và cách sống lâu ngày đã ăn sâu vào đời sống xã hội hay toàn bộ hoạt động sống của con người hình thành trong tiến trình lịch sử, có tính ổn định, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, được cộng đồng thừa nhận và tuân theo một cách tự giác


 

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)Đọc văn bản sau:HƯƠNG HOA HOÀNG LAN Những chồi xuân lặng lẽ nhú lên từ cành cây khô cằn. Chỉ mấy ngày sau, cả cây hoàng lan đã khoác trên mình một màu xanh nõn nà. Một chiếc áo được dệt từ hàng vạn, vạn chồi non. Trông cây hoàng lan thật đẹp nhưng cũng vô cùng giản dị. Hà đẩy cánh cổng gỗ nặng trịch để bước vào vườn với bà. Cô bé ngước nhìn...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

HƯƠNG HOA HOÀNG LAN

Những chồi xuân lặng lẽ nhú lên từ cành cây khô cằn. Chỉ mấy ngày sau, cả cây hoàng lan đã khoác trên mình một màu xanh nõn nà. Một chiếc áo được dệt từ hàng vạn, vạn chồi non. Trông cây hoàng lan thật đẹp nhưng cũng vô cùng giản dị. Hà đẩy cánh cổng gỗ nặng trịch để bước vào vườn với bà. Cô bé ngước nhìn cây hoàng lan, nó như một cậu anh cả trong vườn, to lớn, vững chắc…

– Bà ơi, cây hoàng lan này có lâu chưa bà?

Bà cười, tay bà vẫn cẩn thận gài những nhành cây nhót phủ đầy hoa trắng ngà vào hàng rào:

– Nó có từ lâu lắm, hồi bằng các cháu, bà đã thấy nó to và cao như thế này rồi. Bao năm trôi qua, cứ tưởng nó sẽ già đi, nhưng không, mỗi mùa xuân tới nó lại trẻ trung như hồi nào.

– Bà ơi, thế bà có biết ai trồng nó không hả bà? Bà lắc đầu:

– Hồi trước, bà cũng hỏi như cháu ấy, nhưng chẳng ai biết.

Hà đến bên cây hoàng lan, thân nó mốc thếch và nứt nẻ. Những chú kiến đen hối hả leo cây. Từ trên cành cây cao, đôi chim sâu chuyền cành tíu tít.

– Cháu biết không, cứ mỗi dịp cây hoàng lan ra hoa thì cả vùng này thơm nức…

– Bà ơi, bên kia sông có ngửi thấy hương của cây hoàng lan này không? – Hà tò mò hỏi.

– Có chứ! Hương hoa lan còn bay xa hơn nữa cháu ạ.

– Xa nữa cơ ạ? Con sông rộng thế mà gió cũng đưa nó qua sông được bà nhỉ…

Bà dừng tay, đôi mắt nhìn xa xôi:

– Hồi ông đi bộ đội, thư nào về ông cũng hỏi cây hoàng lan. Ông nhớ nó lắm. Rồi ông bảo bà gửi cho ông mấy cánh hoa vàng của cây hoàng lan này.

– Bà có gửi cho ông không? – Hà chăm chú. Bà gật đầu rồi dắt Hà vào nhà. Bà lần mở cái rương mây nhỏ trên đầu giường và lấy ra mấy cánh hoa đã héo quắt queo và đen sẫm lại.

– Những cánh hoa này đấy cháu ạ. Các chiến sĩ trong đơn vị đã tìm thấy nó ở dưới đáy ba lô của ông… Hà run run đỡ những cánh hoa hoàng lan từ trong tay bà. Cô bé ngước đôi mắt tròn xoe nhìn lên ban thờ. Hà thấy bà cũng nhìn theo… Bây giờ thì cô bé đã hiểu vì sao bà yêu quý cây hoàng lan và mảnh vườn này đến thế. Những cánh hoa hoàng lan đã đen sậm trên tay Hà như vẫn còn phảng phất hương thơm.

(Hương hoa hoàng lan, Nguyễn Phan Khuê, NXB Kim Đồng)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. (0.5 điểm) Câu chuyện trên được kể theo ngôi thứ mấy?

Câu 2. (0.5 điểm) Theo câu chuyện trên, ai là người trồng cây hoàng lan?

Câu 3. (1.0 điểm) Chỉ ra biện pháp tu từ nhân hoá được sử dụng trong câu sau và nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó:

     Chỉ mấy ngày sau, cả cây hoàng lan đã khoác trên mình một màu xanh nõn nà.

Câu 4. (1.0 điểm) Theo em, vì sao Hà “run run đỡ những cánh hoa hoàng lan từ trong tay bà” và “ngước đôi mắt tròn xoe nhìn lên ban thờ”?

Câu 5. (1.0 điểm) Từ câu chuyện về cây hoàng lan, em hãy viết một đoạn văn khoảng 3 –5 câu trình bày suy nghĩ của em về vai trò của gia đình đối với cuộc sống của mỗi người.

33
27 tháng 10 2025

gia đình là chụ cột tinh thần của chúng ta và cũng là nơi sưởi ấm trái tim ta

5 tháng 11 2025

manager là gì


Bài làm

a) Đoạn trích trên sử dụng phương thức biểu đạt là tự sự.

b)  Nhân vật chính trong đoạn trích trên là Mai An Tiêm.

c) chịu

d) đoạn trích trên sử dụng ngôi kể thứ 3.

29 tháng 9 2018

a tự sự

b Mai An Tiêm

c đây là đoạn văn ko phải khổ thơ

d thứ 3

I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)Đọc câu chuyện sau và trả lời các câu hỏi.SỰ TÍCH CÂY NGÔ     Năm ấy, trời hạn hán. Cây cối chết khô vì thiếu nước, bản làng xơ xác vì đói khát. Nhiều người phải bỏ bản ra đi tìm nơi ở mới. Ở nhà nọ chỉ có hai mẹ con. Người mẹ ốm đau liên miên và cậu con trai lên 7 tuổi. Cậu bé tên là Aưm, có nước da đen nhẫy và mái tóc vàng hoe. Tuy còn nhỏ nhưng...
Đọc tiếp

I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)

Đọc câu chuyện sau và trả lời các câu hỏi.

SỰ TÍCH CÂY NGÔ

     Năm ấy, trời hạn hán. Cây cối chết khô vì thiếu nước, bản làng xơ xác vì đói khát. Nhiều người phải bỏ bản ra đi tìm nơi ở mới. Ở nhà nọ chỉ có hai mẹ con. Người mẹ ốm đau liên miên và cậu con trai lên 7 tuổi. Cậu bé tên là Aưm, có nước da đen nhẫy và mái tóc vàng hoe. Tuy còn nhỏ nhưng Aưm đã trở thành chỗ dựa của mẹ. Hằng ngày, cậu dậy sớm vào rừng kiếm măng, hái nấm, hái quả mang về cho mẹ. Nhưng trời ngày càng hạn hán hơn. Có những lần cậu đi cả ngày mà vẫn không tìm được thứ gì để ăn. Một hôm, vừa đói vừa mệt cậu thiếp đi bên bờ suối. Trong mơ, cậu nhìn thấy một con chim cắp quả gì to bằng bắp tay, phía trên có chùm râu vàng như mái tóc của cậu. Con chim đặt quả lạ vào tay Aưm rồi vỗ cánh bay đi. Tỉnh dậy Aưm thấy quả lạ vẫn ở trên tay. Ngạc nhiên, Aưm lần bóc các lớp vỏ thì thấy phía trong hiện ra những hạt màu vàng nhạt, xếp thành hàng đều tăm tắp. Aưm tỉa một hạt bỏ vào miệng nhai thử thì thấy có vị ngọt, bùi. Mừng quá, Aưm cầm quả lạ chạy một mạch về nhà.

     Mẹ của cậu vẫn nằm thiêm thiếp trên giường. Thương mẹ mấy ngày nay đã đói lả, Aưm vội tỉa những hạt lạ đó mang giã và nấu lên mời mẹ ăn. Người mẹ dần dần tỉnh lại, âu yếm nhìn đứa con hiếu thảo. Còn lại ít hạt, Aưm đem gieo vào mảnh đất trước sân nhà. Hằng ngày, cậu ra sức chăm bón cho cây lạ. Nhiều hôm phải đi cả ngày mới tìm được nước uống nhưng Aưm vẫn dành một gáo nước để tưới cho cây. Được chăm sóc tốt nên cây lớn rất nhanh, vươn những lá dài xanh mướt. Chẳng bao lâu, cây đã trổ hoa, kết quả.

     Mùa hạn qua đi, bà con lũ lượt tìm về bản cũ. Aưm hái những quả lạ có râu vàng hoe như mái tóc của cậu biếu bà con để làm hạt giống. Quý tấm lòng thơm thảo của Aưm, dân bản lấy tên cậu bé đặt tên cho cây có quả lạ đó là cây Aưm, hay còn gọi là cây ngô. Nhờ có cây ngô mà từ đó, những người dân Pako không còn lo thiếu đói nữa.

(Theo truyencotich.vn)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. (0.5 điểm) Câu chuyện trên được kể theo ngôi thứ mấy?

Câu 2. (0.5 điểm) Aưm có hoàn cảnh như thế nào?

Câu 3. (1.0 điểm) Tìm 01 từ láy có trong câu chuyện và đặt 01 câu với từ láy đó.

Câu 4. (1.0 điểm) Chi tiết "Hằng ngày, Aưm dậy sớm vào rừng kiếm măng, hái nấm, hái quả mang về cho mẹ." đã chứng minh Aưm là người thế nào?

Câu 5. (1.0 điểm) Em rút ra bài học gì cho bản thân từ câu chuyện trên?

14

Câu 1:
Câu chuyện trên được kể theo ngôi thứ ba

Câu 2:
Aưm sống trong hoàn cảnh nghèo khó, mồ côi cha, mẹ thì đau ốm liên miên, bản làng lại bị hạn hán, đói khát

Câu 3:

- từ láy: thiêm thiếp

- đặt câu: Bé ngủ thiêm thiếp trong vòng tay mẹ.

Câu 4: chi tiết đó chứng minh Aưm là một cậu bé hiếu thảo, chăm chỉ, yêu thương và hết lòng lo lắng cho mẹ

Câu 5:
Bài học em rút ra từ câu chuyện:cần biết yêu thương, hiếu thảo với cha mẹ, sống biết sẻ chia, giúp đỡ người khác, đồng thời phải chăm chỉ, kiên trì và biết vượt qua khó khăn trong cuộc sống

25 tháng 9 2025

hay quá

Cô fake rồi má ưi

27 tháng 9 2025

cẩn thận thật thì sao

PHẦN I: ĐỌC – HIỂU (4.0 điểm)           Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 6 (1.5đ) “Sau trận bão, chân trời, ngấn bể sạch như một tấm kính lau hết mây, hết bụi. Mặt trời nhú lên dần dần, rồi lên cho kỳ hết. Tròn trĩnh, phúc hậu như lòng đỏ quả trứng thiên nhiên đầy đặn. Quả trứng hồng hào thăm thẳm và đường bệ đặt lên một mâm bạc đường kính...
Đọc tiếp

PHẦN I: ĐỌC – HIỂU (4.0 điểm)

          Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 6 (1.5đ)

“Sau trận bão, chân trời, ngấn bể sạch như một tấm kính lau hết mây, hết bụi. Mặt trời nhú lên dần dần, rồi lên cho kỳ hết. Tròn trĩnh, phúc hậu như lòng đỏ quả trứng thiên nhiên đầy đặn. Quả trứng hồng hào thăm thẳm và đường bệ đặt lên một mâm bạc đường kính mâm rộng bằng cả một cái chân trời màu ngọc trai nước biển ửng hồng. Y như một mâm lễ phẩm tiến ra từ trong bình minh để mừng cho sự trường thọ của tất cả những người chài lưới trên muôn thuở biển Đông.”

                                                                   (Ngữ văn 6 – tập 2)

Câu 1 (0.5 điểm): Đoạn văn trên trích từ văn bản nào? Tác giả của văn bản đó là ai?

Câu 2 (0.5 điểm): Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn là gì?

Câu 3 (0.5 điểm): Nêu nội dung chính của đoạn văn?

Câu 4 (1.0 điểm): Biện pháp tu từ nào được sử dụng nhiều nhất trong đoạn văn trên là gì? Tác dụng của biện pháp tu từ ấy?  

Câu 5 (1.5 điểm): Nêu cảm nhận của em về vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên trong đoạn trích trên?

103
15 tháng 5 2021

Câu 1 : - Đoạn văn trên trích từ văn bản Cô Tô.

              - Tác giả của văn bản đó là Nguyễn Tuân.

Câu 2 : - Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn là Miêu tả.

Câu 3 : - Tả cảnh mặt trời mọc ở biển đảo Cô Tô sau trận bão.

Câu 4 : - Biện pháp tu từ So sánh được sử dụng nhiều nhất trong đoạn văn trên.

              - Tác dụng của biện pháp tu từ ấy là làm cho câu văn hay hơn, sinh động hơn.

Câu 5 : - Thể hiện sự giao cảm lớn của nhà văn với thiên nhiên vũ trụ,sự say mê với cái đẹp, tình cảm yêu mến, trân trọng người lao động -> khơi gợi tình yêu thiên nhiên đất nước

15 tháng 5 2021

1)Đoạn trích từ tác phẩm "Cô Tô",của tác giả Nguyễn Tuân

2)Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn là miêu tả

3)Nội dung chính của đoạn văn là:Cảnh mặt trời mọc trên biển đảo Cô Tô

4)Biện pháp tu từ đc sử dụng nhiều nhất trong đoạn văn là so sánh

C1:văn bản bài học đường đời đầu tiên.Của Tô Hoài

C2:Tả dế mèn

Chuyện Lương Thế VinhHồi nhỏ Lương Thế Vinh thường trèo bưởi trong vườn. Có lần quả bưởi rơi tõm xuống ao, Vinh hốt hoảng tưởng mất. Không ngờ bưởi lại nổi lên mặt nước và cậu dùng sào khều vào bờ, lấy được.Một lần khác, Vinh cùng các bạn chăn trâu trong làng chơi trò chơi đá bưởi ngoài đồng. Chẳng dè quả bóng bằng bưởi lăn xa rồi rơi tuột xuống cái hố, vừa hẹp, khiến...
Đọc tiếp

Chuyện Lương Thế Vinh

Hồi nhỏ Lương Thế Vinh thường trèo bưởi trong vườn. Có lần quả bưởi rơi tõm xuống ao, Vinh hốt hoảng tưởng mất. Không ngờ bưởi lại nổi lên mặt nước và cậu dùng sào khều vào bờ, lấy được.
Một lần khác, Vinh cùng các bạn chăn trâu trong làng chơi trò chơi đá bưởi ngoài đồng. Chẳng dè quả bóng bằng bưởi lăn xa rồi rơi tuột xuống cái hố, vừa hẹp, khiến bọn trẻ lúng túng, chưa biết làm cách nào để lấy. Vừa lúc có một ông khách đi qua, thấy vậy bèn đố:
- Đứa nào lấy được bưởi lên tao sẽ thưởng!
Trong khi chứng bạn đang loay hoay, đứa thì lấy thừng trâu thắt thòng lọng thả xuống hố để buộc quả bưởi, nhưng bưởi tròn nên cứ tuột hoài, đứa thid chạy về nhà lấy sào để chọc,... Còn Lương Thế Vinh lấy nón chạy đến vũng nước cách đây ko xa, múc nước đổ xuống hố. Vừa làm, cậu còn vừa vui miệng đọc
Bưởi ơi bưởi nghe ta gọi
Đừng làm cao
Đừng trốn tránh
Lên với ta
Vui tiếp nào...!
Chẳng mấy chốc quả bưởi từ từ nổi lên và nằm gọn trong tay Lương Thế Vinh. Ông khách tấm tắc khen ngợi Vinh thông minh, sáng dạ và thưởng cho cậu tiền. Còn chúng bạn, đứa nào đứa nấy đều phục Vinh sát đất và thấy Vinh vừa làm vừa đọc lầm rầm, nên đã đồn đại rằng Vinh biết dùng phép "thần chú" gọi được quả bưởi từ dưới hố sâu lên!

( 2 )Chi tiết nào chứng minh sự thông minh , tài trí của nhân vật ?

( 3 ) Để thể hiện trí thông minh của nhân vật, tác giả dân gian đã chọn hình thức nghệ thuật nào? Tác dụng của hình thức ấy?

( 4 )

a,Em có nhân xét gì về cách giải đố của nhân vật? Cách giải đố ấy lí thú ở chỗ nào?
 

b, Điền vào bảng điểm giống và khác nhau giữa hai nhân vật em bé trong truyện Em bé thông minh và Lương Thế Vinh.
| | Em bé thông minh | Lương Thế Vinh |
| Giống | | |
| Khác | | |
4) Hãy cho biết: Người thông minh là người như thế nào? Làm thế nào để trở thành người thông minh ?

 

3
7 tháng 10 2018

Dài quá à

2 tháng 10 2025

Tuyệt vời! Bạn đang làm bài tập phân tích truyện “Chuyện Lương Thế Vinh” — rất hay và thú vị.

Mình sẽ giúp bạn từng câu một nhé. Trước tiên, bạn có thể thử trả lời câu (2) nhé:


(2) Chi tiết nào chứng minh sự thông minh, tài trí của nhân vật Lương Thế Vinh?

Bạn nhớ trong đoạn truyện, Vinh đã làm gì để lấy được quả bưởi trong hố?


Bạn thử kể lại chi tiết đó nhé, mình sẽ giúp bạn chỉnh sửa hoặc phát triển ý!


I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)TRUYỀN THUYẾT VỀ NGỌC BÀ THIÊN Y A NA Xưa, có hai vợ chồng một lão tiều phu, tuổi đã cao mà vẫn chưa có con. Họ cất nhà trên núi Đại An, cạnh một cửa sông, sinh sống bằng việc đốn củi và phát rẫy trồng dưa trên triền núi. Nhiều lần thăm rẫy thấy hễ trái dưa nào chín tới đều bị mất, ông lão có ý rình xem kẻ hái trộm dưa là ai. Một đêm kia, dưới...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

TRUYỀN THUYẾT VỀ NGỌC BÀ THIÊN Y A NA

Xưa, có hai vợ chồng một lão tiều phu, tuổi đã cao mà vẫn chưa có con. Họ cất nhà trên núi Đại An, cạnh một cửa sông, sinh sống bằng việc đốn củi và phát rẫy trồng dưa trên triền núi. Nhiều lần thăm rẫy thấy hễ trái dưa nào chín tới đều bị mất, ông lão có ý rình xem kẻ hái trộm dưa là ai.

Một đêm kia, dưới ánh trăng mờ, ông lão bỗng thấy một cô bé đang hái trộm dưa. Ông lão bèn giữ lại hỏi, mới biết cô gái mồ côi cha mẹ sống lưu lạc ở vùng này. Thấy diện mạo cô bé khác với người thường, lại ở vào hoàn cảnh đáng thương, vợ chồng ông lão đem lòng thương mến và đem về làm con nuôi, thương quý như con đẻ của mình. Vợ chồng ông lão không hay biết rằng: chính cô bé mồ côi ấy là Thiên Y A Na hoá thân.

Đến một ngày kia vùng núi Đại An bị nạn hồng thuỷ, nước sông dâng lên một màu đỏ đục. Đứng trước cảnh tượng ấy, Thiên Y A Na bỗng nhớ tới cảnh tiên cung, mặt mày ủ dột, rồi để tự khuây khoả, Thiên Y A Na đi hái hoa quả trên núi, xếp đặt lại, tạo nên một cảnh núi non giả, ngồi ngắm nghía và đùa nghịch để khỏi bận tâm đến cảnh thuỷ tai đang diễn ra quanh mình. Vì thế, Thiên Y A Na bị ông lão quở trách nặng lời. Hối hận vì mình đã làm cho cha mẹ nuôi phiền lòng, Thiên Y A Na đã dùng phép hoá thân, nhập vào khúc gỗ trầm đang trôi ra biển cả, rồi dạt vào bờ biển Bắc. Nhân dân địa phương thấy khúc gỗ quý, xúm nhau lại, định khiêng về, nhưng lạ thay hàng trăm người ghé vai vào đều khiêng không nổi.

Tin đồn đến tai thái tử miền nọ. Thái tử ra tận bờ biển nhấc thử, thì khúc gỗ được nhấc lên một cách nhẹ nhàng. Cho là điềm lạ, thái tử đem khúc gỗ về cung cất giữ coi như một vật quý hiếm. Một đêm nằm trằn trọc mãi không sao ngủ được, thái tử định sang thư phòng xem sách, khi đi ngang qua vườn thượng uyển, bỗng thấy một cô gái trẻ, đẹp đang dạo chơi ở đó. Nghe tiếng động, cô gái vội vàng chạy về phía hoàng cung rồi biến mất. Nhưng vào một đêm khác, cô gái xuất hiện. Thái tử có ý bí mật theo dõi, dò xét để biết thực hư. Một cuộc giáp mặt diễn ra quá bất ngờ, cô gái không kịp hoá phép ẩn mình vào khúc gỗ, đành phải kể lại lai lịch của mình cho thái tử nghe. Thái tử đem lòng thương yêu cô gái. Tin này liền đến tai vua cha. Nhà vua cho mời thầy đoán quẻ. Thấy có điềm lành, vua liền cho kết duyên vợ chồng.

Sau mấy năm trời chung sống hạnh phúc nơi đất Bắc, Thiên Y A Na vẫn nhớ về vườn dưa, nơi cha mẹ nuôi sống lam lũ, hiu quạnh. Nỗi thương nhớ thôi thúc Thiên Y A Na trốn thái tử, bỏ hoàng cung, cùng hai con biến vào khúc gỗ trầm, theo dòng nước biển trôi về quê hương người Chăm-pa ở cửa biển Cù Huân.

Nhưng khi trở về Đại An, bà mới biết rằng cha mẹ nuôi đã qua đời từ lâu. Thiên Y A Na bèn lập miếu thờ hai ông bà trên núi Đại An. Trong thời gian ngắn ngủi lưu lại ở Đại An, bà đã tạo lập vườn tược nơi đất cũ, bày dân làng cách làm ruộng, cách chữa bệnh và nuôi dạy con cái.

Thái tử bên Bắc, từ khi xa cách vợ con, lòng nhớ thương sầu muộn khôn nguôi, quên ăn, quên ngủ. Thái tử bèn xin cha mẹ cấp cho một đội chiến thuyền, hướng về Nam, giong buồm chạy suốt ngày đêm để tìm tung tích mẹ con Thiên Y A Na. Khi thuyền tới biển Cù Huân, thái tử cho người lên núi hỏi thăm dân chúng về Thiên Y A Na. Nhưng từ lâu lắm, dân chúng đã không thấy tăm tích của Bà đâu nữa.

Nhân dân địa phương nhớ ơn công đức của Thiên Y A Na, tôn xưng là “Ngọc Bà” hay “Thánh mẫu”. Họ bỏ bao công sức và tâm huyết xây một ngôi tháp thật đẹp và uy nghi trên ngọn núi thiêng, nơi tiếp giáp với cửa sông, gọi là Tháp Bà. Ngôi tháp ấy là để thờ Bà, nhưng cũng để thờ Thái tử, chồng bà (tức thờ Ông), thờ vợ chồng ông lão tiều phu (cha mẹ nuôi), cùng hai con của Bà. Trải qua mưa nắng thời gian, ngôi tháp đó vẫn tồn tại bền vững uy nghi cho đến tận ngày nay.

(Theo Trần Việt Kỉnh, Văn hoá dân gian Khánh Hoà, NXB Văn hoá dân tộc, 2012)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. (0.5 điểm) Xác định ngôi kể của văn bản trên.

Câu 2. (0.5 điểm) Vì sao nhân dân tôn xưng là Thiên Y A Na là “Ngọc Bà” hay “Thánh mẫu”?

Câu 3. (1.0 điểm) Tìm 02 từ láy có trong văn bản trên và giải thích nghĩa của 02 từ láy đó.

Câu 4. (1.0 điểm) Chỉ ra 01 yếu tố kì ảo trong văn bản trên và nêu tác dụng.

Câu 5. (1.0 điểm) Em rút ra bài học gì cho bản thân từ câu chuyện trên?

2

Câu 1 ngôi kể thứ ba. câu 2 vì họ nhớ đến ơn Đức của bà đã tạo Lập vườn tược nơi đất cũ ,bày dân làng cách chữa bệnh làm ruộng và nuôi dạy con cái. Câu 3 từ láy là nhẹ nhàng giải thích nghĩa là có tính chất nhẹ không gây cảm giác gì ,từ láy là lam lũ có nghĩa vất vả khổ cực trong cảnh thiếu thốn. Câu 5 con người cần biết hiếu thảo kính trọng biết ơn cha mẹ kể cả cha mẹ nuôi phải luôn gắn bó với cội nguồn nhớ về quê hương không quên nơi đã sinh ra nuôi dưỡng mình biết yêu thương giúp đỡ nhân dân đêm kiến thức kinh nghiệm để làm lợi cho cộng đồng.

19 tháng 2

câu 1

câu chuyện được viết theo ngôi kể số 3