Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Một sự việc có thật liên quan đến những người bác sĩ anh hùng trong đại dịch Covid-19 là câu chuyện về bác sĩ Li Wenliang tại Trung Quốc.
Bác sĩ Li Wenliang là một nhân viên y tế tại Bệnh viện Trung tâm của thành phố Vũ Hán, nơi được cho là ổ dịch ban đầu của Covid-19. Vào ngày 30 tháng 12 năm 2019, khi dịch bệnh vẫn chưa được công bố rộng rãi, bác sĩ Li đã gửi một tin nhắn trong một nhóm chat y tế, cảnh báo về một loại vi khuẩn tương tự như SARS đang lây lan trong bệnh viện.
Tuy nhiên, tin nhắn của bác sĩ Li đã bị chính quyền địa phương coi là "lá đồng" và bị buộc phải rút lại lời cảnh báo. Sau đó, ông bị cảnh sát đánh thuốc và buộc phải viết đơn xin lỗi vì đã "gây sợ hãi cho xã hội"
. Nhưng bác sĩ Li không ngừng cố gắng và tiếp tục công việc chữa trị bệnh nhân. Ông đã bị nhiễm bệnh và sau đó qua đời vào ngày 7 tháng 2 năm 2020, trở thành một trong những nạn nhân đầu tiên của Covid-19
. Sau khi thông tin về cái chết của bác sĩ Li được công bố, dư luận quốc tế đã phản đối mạnh mẽ hành động của chính quyền Trung Quốc và coi ông là một anh hùng. Bác sĩ Li Wenliang đã trở thành biểu tượng của sự hy sinh và lòng dũng cảm của đội ngũ y bác sĩ trong cuộc chiến chống lại đại dịch Covid-19.
mình nghĩ bạn nên viết về Issac Newton vì nổi tiếng với giai thoại cây táo Newton
Mẫu ngắn gọn:
Đất nước có được nền hòa bình ngày hôm nay, không biết bao cha anh đã ngã xuống, không tiếc máu xương để bảo vệ độc lập, tự do cho dân tộc. Anh Kim Đồng là một tấm gương sáng trong số những người anh hùng như vậy.
Anh Kim Đồng là người dân tộc Tày. Cha mất sớm, anh sống cùng mẹ - một người phụ nữ đảm đang nhưng ốm yếu. Sống trong cảnh đất nước bị xâm lược nên từ nhỏ, Kim Đồng đã dũng cảm, quyết đoán, mạnh mẽ, có tinh thần yêu nước, căm thù giặc. Tuy tuổi còn nhỏ nhưng anh rất hăng hái làm nhiệm vụ giao liên, đưa đón Việt Minh và chuyển thư từ. Anh được bầu làm đại đội trưởng đầu tiên của Đội Nhi đồng cứu quốc. Anh không ngại khó khăn, thử thách, nguy hiểm luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong một lần làm nhiệm vụ, anh bị giặc Pháp bắn và hi sinh. Khi ấy, anh mới chỉ 14 tuổi. Đã có rất nhiều bài thơ, bài hát được sáng tác để ghi nhớ công ơn của anh.
Hình ảnh anh Kim Đồng sẽ luôn sáng mãi, là tấm gương cho thanh thiếu niên Việt Nam về tinh thần yêu nước sâu sắc, sự thông minh, gan dạ, lòng dũng cảm, trung kiên với Tổ quốc.
Mẫu 1:
Lý Công Uẩn người làng cổ Pháp thuộc Đông Ngạn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Hiện nay ở làng Đình Bảng vẫn còn có lăng và đền thờ các vua nhà Lý.
Tục truyền rằng Công uẩn không có cha; mẹ là Phạm Thị đi chơi chùa Tiên Sơn (làng Tiên Sơn, phủ Từ Sơn) , đêm về nằm mộng thấy "đi lại" với thần nhân, rồi có thai đẻ ra đứa con trai. Lên ba tuổi, đứa bé càng khôi ngô tuấn tú; gia đình đem cho nhà sư ở chùa cổ Pháp tên là Lý Khánh Văn làm con nuôi. Lý Công uẩn được học hành chữ Nho, kinh Phật và võ nghệ từ nhỏ, lớn lên dưới mái chùa, trở thành một tài trai văn võ siêu quần.
Ngoài 20 tuổi, Lý Công uẩn đã làm võ tướng dưới triều vua Lê Đại Hành, từng lập công to trong trận Chi Lăng (981) đại phá quân Tống xâm lược, chém đầu tướng giặc Hầu Nhân Bảo. Về sau, ông giữ chức Tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ, nắm trong tay toàn bộ binh quyền. Đức trọng tài cao, ông được quần thần và tướng sĩ rất kính phục. Năm 1005, Lê Đại Hành băng hà. Ngôi vua được truyền cho Lê Long Việt. Chỉ 3 ngày sau, Lê Long Đĩnh giết anh, giành lấy ngai vàng. Lê Long Đĩnh là một tên vua vô cùng bạo ngược khác nào Kiệt, Trụ ngày xưa. Hắn hoang dâm vô độ, nên mắc bệnh không ngồi được; đến buổi chầu thì cứ nằm mà thị triều, cho nên tục gọi là Vua Ngọa Triều. Cuối năm 1009, Lê Ngọa Triều chết. Năm đó, Lý Công uẩn đã 35 tuổi. Bấy giờ lòng người đã oán giận nhà Tiền Lê lắm rồi; quân thần và tầng lớp tăng lữ suy tôn ông lên ngôi báu, mở đầu triều đại nhà Lý (1010- 1225).
Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế vào đầu xuân 1010, tức là vua Lý Thái Tổ nhà Lý. Nhà vua trị vì được 19 năm, thọ 55 tuổi, băng hà năm 1028.
Tháng tư vừa rồi, trường em có tổ chức một buổi tham quan nằm trong chuỗi hoạt động ngoại khóa của trường. Điểm đến lần này là Đền Hùng tại Việt Trì-Phú Thọ. Đây là nơi thờ phụng các đời Vua Hùng và tôn thất của nhà vua. Nơi đây gắn với Giỗ tổ Hùng Vương được tổ chức hàng năm vào ngày 10 tháng 3 Âm lịch. Đây là một dịp để thế hệ con cháu đến viếng đền, tưởng nhớ đến những người đã có công dựng nước.
Em đã được nghe nhiều câu chuyện về các Vua Hùng qua các sự tích nổi tiếng như Sự tích bánh chưng bánh dày, Sơn Tinh Thủy Tinh… và thấy được sự uy nghiêm và trí tuệ của các vị vua. Điều đó khiến tôi càng mong đợi chuyến đi này hơn.
Dưới chân núi là khung cảnh uy nghiêm, hùng vĩ của núi Nghĩa Lĩnh với rừng cây và sương mù bao phủ. Nơi thờ các vị vua được đặt trên núi với ba đền chính là đền Hạ, đền Trung và đền Thượng. Đền Hạ tương truyền là nơi mẹ Âu Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng. Trăm trứng ấy đẻ ra trăm người con, năm mươi người theo cha xuống biển, bốn chín người theo mẹ lên núi. Người con ở lại làm vua, lấy tên là Hùng Vương (thứ nhất). Đền Trung là nơi các vị vua họp bàn chính sự. Đền Thượng là lăng thờ Hùng Vương thứ sáu. Lễ hội đền Hùng được tổ chức hàng năm bao gồm những hoạt động văn hóa, văn nghệ mang tính chất nghi thức truyền thống và những hoạt động văn hóa dân gian khác… Các hoạt động văn hóa mang tính chất nghi thức còn lại đến ngày nay là lễ rước kiệu vua và lễ dâng hương. Dưới tán lá mát rượi của những cây trò, cây mỡ cổ thụ và âm vang trầm bổng của trống đồng, đám rước như một con rồng uốn lượn trên những bậc đá huyền thoại để tới đỉnh núi Thiêng.
Trước khi đi tham quan các đền, chúng tôi được làm lễ dâng hương và nghe diễn thuyết về các vị Vua Hùng. Không khí trang nghiêm, hào hùng ấy khiến tôi không khỏi tự hào về lịch sử dân tộc mình. Họ đã dựng nước, giữ nước để đời sau con cháu được hưởng thụ nền độc lập, hòa bình ấy. Và nay chúng em đến đây để thể hiện lòng biết ơn, sự tôn trọng của mình đối họ, thể hiện đúng truyền thống đạo lý “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Họ đã gây dựng nền móng cho nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa hiện tại và chúng em đều biết ơn điều đấy.
Sau đó, chúng em được đi thăm các đền thờ vua trên núi. Cách trang trí, sắp xếp các di vật đều được bố trí một cách ngay ngắn, trang nghiêm. Em ấn tượng với tấm bia ở đền Hạ khắc dòng chữ của Bác Hồ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta cùng nhau giữ lấy nước.” Nó như một lời hứa hẹn Bác thay thế hệ trẻ nói lên trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước.
Đó thực sự là một chuyến đi đầy bổ ích và ý nghĩa. Mặc dù nó chỉ kéo dài trong một buổi sáng ngắn ngủi nhưng nó đã giúp em hiểu ra trách nhiệm của mình đối với đất nước. Phải biết kính trọng, biết ơn thế hệ đi trước đặc biệt là các vị Vua Hùng và phải ghi nhớ:
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba.”
VOTE T 5 SAO Ạ!
Tham Khảo
Một trong những vị anh hùng của dân tộc Việt Nam là Võ Thị Sáu. Chị chính là một trong những biểu tượng cho lòng dũng cảm, sự gan dạ của người phụ nữ Việt Nam.
Võ Thị Sáu sinh năm 1933, mất năm 1952. Về nguyên quán, trên bia mộ chỉ ghi tại huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Chị tham gia hoạt động cách mạng từ khi còn rất trẻ, đã hoàn thành xuất sắc nhiều nhiệm vụ quan trọng.
Chị đã tham gia nhiều trận chiến đấu để bảo vệ quê hương, dùng lựu đạn tiêu diệt hai tên ác ôn và làm bị thương nhiều lính Pháp. Chị còn nhiều lần phát hiện gian tế, tay sai Pháp, giúp đội công an thoát khỏi nguy hiểm, chủ động trong việc tấn công địch…
Vào tháng 7 năm 1948, Công an Đất Đỏ được giao nhiệm vụ phá cuộc mít tinh kỷ niệm Quốc khánh Pháp. Dù nguy hiểm, nhưng chị Sáu vẫn chủ động xin được trực tiếp đánh trận này. Chị đã nhận lựu đạn, giấu vào góc chợ gần khán đài từ nửa đêm. Sáng hôm đó, địch lùa người dân vào sân. Khi xe của tỉnh trưởng tới, chị tung lựu đạn về phía khán đài, uy hiếp giải tán mít tinh.
Hai tổ công an xung phong ở gần đấy đồng loạt nổ súng yểm trợ tạo áp lực giải tán cuộc mít tinh, đồng thời hỗ trợ cho chị Sáu rút an toàn. Người của Việt Minh được bố trí trong đám đông hô to “Việt Minh tiến công” và hướng dẫn người dân giải tán. Sau chiến công này, chị Sáu được tổ chức tuyên dương khen ngợi và được giao nhiệm nhiều nhiệm vụ quan trọng khác. Khi bị giặc bắt giam tại nhà tù Côn Đảo, chuẩn bị xử tử hình, chị vẫn giữ được tinh thần của người chiến sĩ cách mạng.
Năm 1993, Nhà nước đã trân trọng truy tặng chị Huân chương chiến công hạng Nhất và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.
Có thể khẳng định rằng, chị Võ Thị Sáu là một tấm gương về lòng dũng cảm, sự gan dạ, đáng để chúng ta học tập và noi theo.
Tháng tư vừa rồi, trường em có tổ chức một buổi tham quan nằm trong chuỗi hoạt động ngoại khóa của trường. Điểm đến lần này là Đền Hùng tại Việt Trì-Phú Thọ. Đây là nơi thờ phụng các đời Vua Hùng và tôn thất của nhà vua. Nơi đây gắn với Giỗ tổ Hùng Vương được tổ chức hàng năm vào ngày 10 tháng 3 Âm lịch. Đây là một dịp để thế hệ con cháu đến viếng đền, tưởng nhớ đến những người đã có công dựng nước.
Em đã được nghe nhiều câu chuyện về các Vua Hùng qua các sự tích nổi tiếng như Sự tích bánh chưng bánh dày, Sơn Tinh Thủy Tinh… và thấy được sự uy nghiêm và trí tuệ của các vị vua. Điều đó khiến tôi càng mong đợi chuyến đi này hơn.
Dưới chân núi là khung cảnh uy nghiêm, hùng vĩ của núi Nghĩa Lĩnh với rừng cây và sương mù bao phủ. Nơi thờ các vị vua được đặt trên núi với ba đền chính là đền Hạ, đền Trung và đền Thượng. Đền Hạ tương truyền là nơi mẹ Âu Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng. Trăm trứng ấy đẻ ra trăm người con, năm mươi người theo cha xuống biển, bốn chín người theo mẹ lên núi. Người con ở lại làm vua, lấy tên là Hùng Vương (thứ nhất). Đền Trung là nơi các vị vua họp bàn chính sự. Đền Thượng là lăng thờ Hùng Vương thứ sáu. Lễ hội đền Hùng được tổ chức hàng năm bao gồm những hoạt động văn hóa, văn nghệ mang tính chất nghi thức truyền thống và những hoạt động văn hóa dân gian khác… Các hoạt động văn hóa mang tính chất nghi thức còn lại đến ngày nay là lễ rước kiệu vua và lễ dâng hương. Dưới tán lá mát rượi của những cây trò, cây mỡ cổ thụ và âm vang trầm bổng của trống đồng, đám rước như một con rồng uốn lượn trên những bậc đá huyền thoại để tới đỉnh núi Thiêng.
Trước khi đi tham quan các đền, chúng tôi được làm lễ dâng hương và nghe diễn thuyết về các vị Vua Hùng. Không khí trang nghiêm, hào hùng ấy khiến tôi không khỏi tự hào về lịch sử dân tộc mình. Họ đã dựng nước, giữ nước để đời sau con cháu được hưởng thụ nền độc lập, hòa bình ấy. Và nay chúng em đến đây để thể hiện lòng biết ơn, sự tôn trọng của mình đối họ, thể hiện đúng truyền thống đạo lý “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Họ đã gây dựng nền móng cho nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa hiện tại và chúng em đều biết ơn điều đấy.
Sau đó, chúng em được đi thăm các đền thờ vua trên núi. Cách trang trí, sắp xếp các di vật đều được bố trí một cách ngay ngắn, trang nghiêm. Em ấn tượng với tấm bia ở đền Hạ khắc dòng chữ của Bác Hồ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta cùng nhau giữ lấy nước.” Nó như một lời hứa hẹn Bác thay thế hệ trẻ nói lên trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước.
Đó thực sự là một chuyến đi đầy bổ ích và ý nghĩa. Mặc dù nó chỉ kéo dài trong một buổi sáng ngắn ngủi nhưng nó đã giúp em hiểu ra trách nhiệm của mình đối với đất nước. Phải biết kính trọng, biết ơn thế hệ đi trước đặc biệt là các vị Vua Hùng và phải ghi nhớ:
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba.”
a. Khi viết một bài văn kể lại một sự việc có thật liên quan đến nhân vật/ sự kiện lịch sử, em cần lưu ý:
- Sự kiện được kể lại trong văn bản là có thật và liên quan đến nhân vật/ sự kiện lịch sử
- Sử dụng người kể chuyện ngôi thứ nhất (xưng “tôi”) thuật lại sự việc theo một trình tự hợp lí
- Sử dụng chi tiết, thông tin chọn lọc, tin cậy về sự việc, nhân vật/ sự kiện
- Sử dụng yếu tố miêu tả trong bài viết
- Kết hợp kể chuyện với miêu tả một cách hợp lí, tự nhiên
- Bố cục bài viết cần đảm bảo: mở bài, thân bài, kết bài
b. Câu văn theo em nên dùng dấu chấm lửng là:
Sống trong cảnh đất nước bị xâm lược nên từ nhỏ, Kim Đồng đã dũng cảm, quyết đoán, mạnh mẽ, có tinh thần yêu nước, căm thù giặc…
=> Dấu chấm lửng biểu đạt ý còn nhiều đức tính tốt đẹp của anh Kinh Đồng chưa được kể hết.
Dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước. Bất cứ thời đại nào cũng đều có những vị anh hùng vĩ đại. Một trong những nhân vật mà tôi ấn tượng nhất là Trần Hưng Đạo.
Trần Quốc Tuấn (1231? - 1300), tước Hưng Đại Đạo Vương. Ông là con trai của thân vương An Sinh Vương - Trần Liễu. Ông sinh ra trong một thời kì “hỗn loạn” của nhà Trần. Người đương thời biết đến ông là một người thông minh, văn võ song toàn, yêu nhân dân và đất nước. Ông chính là một danh tướng kiệt xuất của dân tộc thời Trần.
Vào năm 1257, quân Mông Cổ chuẩn bị xâm lược Đại Việt. Nhà Trần đã chủ động đề ra kế hoạch đối phó: tăng cường phòng thủ biên giới, chuẩn bị lực lượng. Lúc này, Trần Quốc Tuấn được cử chỉ huy các tướng lĩnh đem quân thủy, bộ lên phòng ngự ở biên giới.
Vào năm 1279, nhà Nguyên ráo riết chuẩn bị xâm lược Chăm-pa và Đại Việt. Vua Trần đã triệu tập Hội nghị Diên Hồng để bàn kế sách. Vua đã cử Trần Quốc Tuấn làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh quân đội cả nước. Trần Quốc Tuấn đã soạn thảo ra Hịch tướng sĩ để khích lệ tinh thần chiến đấu của binh lính. Tháng 1 năm 1285, hơn năm mươi vạn quân Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy tiến vào xâm lược Đại Việt. Trần Quốc Tuấn đã cho lui quân về đóng ở Vạn Kiếp (Chí Linh, Hải Dương). Sau những thất bại ban đầu, dưới sự lãnh đạo của hai vua Trần, Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải và Hưng Đạo vương phản công mạnh mẽ, phá tan quân Nguyên trong các trận Tây Kết (Hà Nội), Hàm Tử (Hưng Yên), Chương Dương (Hà Nội) rồi tiến vào giải phóng Thăng Long. Cuộc kháng chiến giành thắng lợi.
Năm 1287, quân Nguyên trở lại xâm lược Đại Việt lần thứ ba. Khi được tiếp tục giao quyền chỉ huy, Trần Quốc Tuấn khẳng định với vua Trần Nhân Tông: “Năm nay đánh giặc nhàn”. Trận Bạch Đằng đại thắng, quân Nguyên phải trở tháo chạy về nước.
Có thể thấy rằng, Hưng Đạo Đại Vương - Trần Quốc Tuấn là người có vai trò quan trọng trong chiến thắng của cuộc kháng chiến. Trần Hưng Đạo chính là một vị anh hùng đáng để ngưỡng mộ và tự hào.
Đất nước có được nền hòa bình ngày hôm nay, không biết bao cha anh đã ngã xuống, không tiếc máu xương để bảo vệ độc lập, tự do cho dân tộc. Anh Kim Đồng là một tấm gương sáng trong số những người anh hùng như vậy. Anh Kim Đồng là người dân tộc Tày. Cha mất sớm, anh sống cùng mẹ - một người phụ nữ đảm đang nhưng ốm yếu. Sống trong cảnh đất nước bị xâm lược nên từ nhỏ, Kim Đồng đã dũng cảm, quyết đoán, mạnh mẽ, có tinh thần yêu nước, căm thù giặc. Tuy tuổi còn nhỏ nhưng anh rất hăng hái làm nhiệm vụ giao liên, đưa đón Việt Minh và chuyển thư từ. Anh được bầu làm đại đội trưởng đầu tiên của Đội Nhi đồng cứu quốc. Anh không ngại khó khăn, thử thách, nguy hiểm luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong một lần làm nhiệm vụ, anh bị giặc Pháp bắn và hi sinh. Khi ấy, anh mới chỉ 14 tuổi. Đã có rất nhiều bài thơ, bài hát được sáng tác để ghi nhớ công ơn của anh. Hình ảnh anh Kim Đồng sẽ luôn sáng mãi, là tấm gương cho thanh thiếu niên Việt Nam về tinh thần yêu nước sâu sắc, sự thông minh, gan dạ, lòng dũng cảm, trung kiên với Tổ quốc
Trong suốt chiều dài lịch sử phong kiến Việt Nam, có biết bao vị anh hùng đã ngã xuống để bảo vệ giang sơn. Nhưng mỗi khi nhắc đến tinh thần quyết chiến quyết thắng và sự mưu lược tài ba, em không thể không nhớ đến vua Quang Trung - Nguyễn Huệ với chiến công hiển hách đại phá quân Thanh vào mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789). Năm ấy, lợi dụng sự cầu cứu của vua tôi Lê Chiêu Thống, 29 vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị cầm đầu đã tràn sang xâm lược nước ta. Nhận được tin báo, tại Phú Xuân, Nguyễn Huệ đã làm lễ tế cáo trời đất, lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Quang Trung rồi lập tức tiến quân ra Bắc. Hình ảnh vị vua mặc chiến bào, cưỡi voi đốc thúc quân sĩ trong đêm mùng 5 Tết tại đồn Ngọc Hồi đã trở thành biểu tượng bất diệt. Với chiến thuật dùng những tấm bện rơm thấm nước để chống lại hỏa lực của địch, quân Tây Sơn đã áp sát và phá tan cửa ngõ phía Nam Thăng Long. Quân giặc hoảng loạn, giẫm đạp lên nhau mà chạy. Sầm Nghi Đống phải thắt cổ tự tử ở gò Đống Đa, còn Tôn Sĩ Nghị thì sợ hãi đến mức "ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc giáp", chạy thục mạng qua biên giới. Chỉ trong vòng 5 ngày, vua Quang Trung đã quét sạch quân thù, thực hiện đúng lời thề "đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ". Chiều mùng 5 Tết, nhà vua tiến vào Thăng Long giữa sự reo hò của nhân dân, vạt áo bào của Ngài vẫn còn nhuộm đen khói súng. Sự việc này không chỉ là một chiến tích quân sự phi thường mà còn cho thấy ý chí sắt đá của dân tộc ta. Vua Quang Trung mãi mãi là biểu tượng của sức mạnh quật khởi, của một trí tuệ quân sự lỗi lạc mà thế hệ trẻ chúng em luôn ngưỡng mộ và biết ơn.
Một vị anh hùng tiêu biểu của thời kì phong kiến Việt Nam mà tôi vô cùng kính phục là Quang Trung – vị hoàng đế tài ba đã lãnh đạo nghĩa quân Tây Sơn đánh tan quân Thanh vào mùa xuân năm Kỉ Dậu 1789.
Mỗi khi đọc lại những trang sử về ông, tôi như được sống trong không khí hào hùng của những ngày cuối năm 1788. Khi ấy, lợi dụng tình hình rối ren trong nước, quân Thanh kéo sang xâm lược Thăng Long. Trước tình thế nguy cấp đó, Nguyễn Huệ đã lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung và lập tức tiến quân ra Bắc. Tôi hình dung cảnh đoàn quân Tây Sơn hành quân thần tốc giữa mùa đông giá rét: áo giáp sáng loáng, cờ đào phấp phới trong gió, tiếng trống thúc quân dồn dập suốt ngày đêm.
Điều khiến tôi khâm phục nhất là tài chỉ huy và ý chí quyết thắng của ông. Chỉ trong một thời gian ngắn, quân Tây Sơn đã vượt quãng đường dài từ Phú Xuân ra Bắc Hà. Đêm ba mươi Tết, khi mọi nơi còn chìm trong không khí chuẩn bị đón xuân, quân ta đã bất ngờ tấn công đồn Hà Hồi. Tiếp đó là trận đánh quyết liệt ở đồn Ngọc Hồi. Tôi tưởng tượng khói súng mù mịt, tiếng hò reo vang dậy, những tấm khiên rơm tẩm nước che chắn trước làn đạn của quân Thanh. Giữa làn khói lửa, hình ảnh người chỉ huy oai phong càng làm tôi thêm cảm phục.
Chỉ trong vòng vài ngày đầu xuân, quân Thanh hoàn toàn thất bại, tướng giặc phải tháo chạy về nước. Chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa đã bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc và khẳng định sức mạnh của nghĩa quân Tây Sơn.
Tìm hiểu về Quang Trung, tôi càng thêm tự hào về truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta. Ông không chỉ là một vị tướng tài ba mà còn là biểu tượng của ý chí quật cường và tinh thần yêu nước. Hình ảnh người anh hùng áo vải cưỡi ngựa xông pha trận mạc sẽ mãi là nguồn cảm hứng để tôi cố gắng học tập và sống xứng đáng với lịch sử vẻ vang của cha ông.
Trong lịch sử nước ta thời kì phong kiến, Lê Lợi là một vị anh hùng có công lớn trong việc đánh đuổi giặc Minh, giành lại độc lập cho dân tộc. Sự việc mà em nhớ nhất là chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang năm 1427. Sau nhiều năm khởi nghĩa gian khổ ở Lam Sơn (Thanh Hóa), nghĩa quân của Lê Lợi ngày càng lớn mạnh. Khi quân Minh đưa viện binh sang cứu nguy, Lê Lợi đã cùng các tướng lĩnh bàn kế hoạch chặn đánh. Nghĩa quân đã dụ quân địch tiến vào ải Chi Lăng — nơi địa hình hiểm trở, dễ mai phục. Khi quân Minh lọt vào trận địa, nghĩa quân ta từ nhiều phía bất ngờ tấn công. Địch hoảng loạn, đội hình rối loạn và bị tiêu diệt nặng nề. Sau đó, nghĩa quân tiếp tục bao vây thành Xương Giang, buộc quân Minh phải đầu hàng. Chiến thắng ấy đã làm tan rã hoàn toàn âm mưu xâm lược của nhà Minh, mở đường cho việc giành lại độc lập. Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Lê Thái Tổ, mở ra triều đại nhà Hậu Lê. Qua sự việc này, em càng thêm khâm phục lòng yêu nước, ý chí kiên cường và tài lãnh đạo sáng suốt của Lê Lợi. Tấm gương của ông nhắc nhở thế hệ trẻ chúng em phải biết trân trọng độc lập, chăm chỉ học tập và góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh.
Trong lịch sử thời kì phong kiến nước ta, em vô cùng kính phục hai vị nữ anh hùng dân tộc là Hai Bà Trưng. Sự việc Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của nhà Hán đã để lại trong em nhiều ấn tượng sâu sắc. Vào đầu thế kỉ I, nước ta bị nhà Đông Hán đô hộ. Thái thú Tô Định nổi tiếng tàn bạo, áp bức nhân dân ta vô cùng dã man. Không những thế, hắn còn giết chết Thi Sách – chồng của Trưng Trắc – nhằm dập tắt ý chí phản kháng. Trước nỗi đau mất chồng và lòng căm phẫn trước cảnh nước mất, nhà tan, Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị đã quyết tâm đứng lên khởi nghĩa. Mùa xuân năm 40, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa tại Hát Môn (nay thuộc Hà Nội). Lời kêu gọi của hai bà nhanh chóng được nhân dân khắp nơi hưởng ứng. Nghĩa quân lớn mạnh như vũ bão, liên tiếp đánh chiếm các thành trì của giặc. Chỉ trong một thời gian ngắn, hơn sáu mươi lăm thành đã được giải phóng. Tô Định hoảng sợ, phải cắt tóc, cải trang trốn về nước. Sau thắng lợi, Trưng Trắc được suy tôn lên làm vua, đóng đô ở Mê Linh. Tuy cuộc khởi nghĩa sau đó bị đàn áp, nhưng tinh thần yêu nước và ý chí quật cường của Hai Bà Trưng vẫn sống mãi trong lòng dân tộc. Sự việc ấy giúp em hiểu rằng từ xa xưa, phụ nữ Việt Nam đã vô cùng anh dũng, sẵn sàng đứng lên bảo vệ Tổ quốc. Em cảm thấy tự hào và biết ơn Hai Bà Trưng – những người đã viết nên trang sử oanh liệt đầu tiên trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta.
Không biết làm.
Đất nước có được nền hòa bình ngày hôm nay, không biết bao cha anh đã ngã xuống, không tiếc máu xương để bảo vệ độc lập, tự do cho dân tộc. Anh Kim Đồng là một tấm gương sáng trong số những người anh hùng như vậy. Anh Kim Đồng là người dân tộc Tày. Cha mất sớm, anh sống cùng mẹ - một người phụ nữ đảm đang nhưng ốm yếu. Sống trong cảnh đất nước bị xâm lược nên từ nhỏ, Kim Đồng đã dũng cảm, quyết đoán, mạnh mẽ, có tinh thần yêu nước, căm thù giặc. Tuy tuổi còn nhỏ nhưng anh rất hăng hái làm nhiệm vụ giao liên, đưa đón Việt Minh và chuyển thư từ. Anh được bầu làm đại đội trưởng đầu tiên của Đội Nhi đồng cứu quốc. Anh không ngại khó khăn, thử thách, nguy hiểm luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong một lần làm nhiệm vụ, anh bị giặc Pháp bắn và hi sinh. Khi ấy, anh mới chỉ 14 tuổi. Đã có rất nhiều bài thơ, bài hát được sáng tác để ghi nhớ công ơn của anh. Hình ảnh anh Kim Đồng sẽ luôn sáng mãi, là tấm gương cho thanh thiếu niên Việt Nam về tinh thần yêu nước sâu sắc, sự thông minh, gan dạ, lòng dũng cảm, trung kiên với Tổ quốc
Trong thời kì phong kiến nước ta, Trần Hưng Đạo là một vị anh hùng dân tộc kiệt xuất. Ông có công lớn trong ba lần lãnh đạo quân dân nhà Trần kháng chiến chống quân xâm lược đến từ Nhà Nguyên. Trong đó, chiến thắng vang dội nhất gắn liền với tên tuổi của ông là trận Bạch Đằng năm 1288.
Vào cuối thế kỉ XIII, quân Nguyên với lực lượng hùng mạnh và tham vọng bành trướng đã đem quân xâm lược nước ta lần thứ ba. Trước tình thế nguy cấp, Trần Hưng Đạo được vua Trần tin tưởng giao trọng trách chỉ huy toàn quân. Ông đã nghiên cứu kĩ địa hình và quyết định chọn khúc sông hiểm yếu trên Sông Bạch Đằng làm nơi quyết chiến.
Ông cho quân sĩ đóng những cọc gỗ lớn, bịt sắt nhọn và cắm xuống lòng sông ở những vị trí bí mật. Khi thủy triều lên, bãi cọc bị nước che lấp. Đợi lúc đoàn thuyền chiến của giặc tiến sâu vào sông, quân ta vừa đánh vừa nhử cho chúng lọt vào trận địa. Đến khi thủy triều rút, thuyền giặc mắc cạn, va vào bãi cọc và rơi vào thế hỗn loạn. Đúng thời cơ, quân ta từ nhiều phía đồng loạt tấn công dữ dội. Kết quả, phần lớn thuyền chiến của địch bị phá hủy, tướng giặc bị tiêu diệt, quân xâm lược đại bại.
Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 đã đập tan hoàn toàn ý chí xâm lược của quân Nguyên, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Sự kiện ấy không chỉ thể hiện tài thao lược, trí thông minh và tầm nhìn xa trông rộng của Trần Hưng Đạo mà còn cho thấy tinh thần đoàn kết, lòng yêu nước nồng nàn của nhân dân ta.
Đến nay, tên tuổi của ông vẫn sống mãi trong lòng dân tộc như một biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng thời phong kiến.
Thuở xưa, nước ta bị quân Hán đô hộ. Chúng rất tàn ác, hà hiếp nhân dân ta và ra sức vơ vét của cải. Bấy giờ ở huyện Mê Linh có hai người con gái tài giỏi: chị là Trưng Trắc và em là Trưng Nhị. Cả hai bà đều giỏi võ nghệ và nuôi chí giành lại non sông. Trưng Trắc có chồng là Thi Sách. Thi Sách là Lạc tướng cũng cùng chí hướng với vợ. Tướng giặc là Tô Định làm thứ sử Giao Châu thời ấy biết được bèn lập mưu giết chết Thi Sách. Nợ nước, thù nhà, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa. Quân của hai bà đi đến đâu, giặc tan đến đó. Với đoàn quân khởi nghĩa hừng hực khí thế chiến đấu và chiến thắng, Hai Bà tiến về giải phóng thành Luy Lâu. Tướng giặc Tô Định tháo chạy về nước. Hai Bà lên ngôi vua, xưng là Trưng Nữ Vương. Năm 43, quân giặc cử Mã Viện, đại tướng lão luyện đốc quân đàn áp cuộc khởi nghĩa. Hai Bà lãnh đạo quân ta chiên đấu anh dũng nhưng vì thế giặc quá mạnh, yếu thế, Hai Bà nhảy xuống sông Hát Giang tuẫn tiết. Dân ta lại chìm trong vòng áp bức của giặc phương Bắc. Dù vậy, tấm gương oanh liệt của Hai Bà Trưng vẫn ngời sáng nghìn thu.
Ko cần làm
Vô Lý Thái Tổ ( Lý Công uẩn ) Lý Công uẩn người làng cổ Pháp thuộc Đông Ngạn, phủ từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Hiện nay ở làng Đình bảng vẫn còn có lăng và đền thờ các vua nhà Lý. Tục truyền rằng Công uẩn không có cha, mẹ là Phạm Thị đi chơi chùa Tiên Sơn ( làng tiên sơn, phủ từ Sơn ), đêm về nằm mộng thấy "đi lại" với thần nhân, rồi có thai đẻ ra đứa con trai. Lên ba tuổi, đứa bé càng khôi ngô tuấn tú, gia đình đem cho nhà sư ở chùa cổ Pháp tên là Lý Khánh Văn làm con nuôi. Lý Công uẩn được học hành chữ Nho, kinh Phật và võ nghệ từ nhỏ, lớn lên dưới mái chùa, trở thành một tài trai văn võ siêu quần. Ngoài 20 tuổi, Lý Công uẩn đã làm võ tướng dưới triều vua Lê Đại Hành, từng lập công to trong trận Chi Lăng ( 981 ) đại phá quân Tống xâm lược, chém đầu tướng giặc Hầu Nhân Bảo. Về sau, ông giữ chức tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ, nắm trong tay toàn bộ binh quyền. Đức trọng tài cao, ông được quần thần và tướng Sĩ rất kính phục. Năm 1005, Lê Đại hành băng Hà. Ngôi vua được truyền cho Lê Long Việt. Chỉ ba ngày sau, Lê Long đĩnh giết anh, giành lấy ngai vàng. Lê Long đĩnh là một tên vua vô cùng bạo ngược khác nào Kiệt, Trụ ngày xưa. Hắn hoang dâm vô độ, nên mắc bệnh không ngồi được, đến buổi chầu thì cứ nằm mà thị triều, cho nên tục gọi là vua Ngoạ Triều. Cuối năm 1009, Lê Ngoạ Triều chết. Năm đó, Lý Công uẩn đã 35 tuổi. Bấy giờ lòng người đã oán hận nhà Tiền Lê lắm rồi, quân thần và tầng lớp tăng lữ suy tôn ông lên ngôi báu, mở đầu triều đại nhà Lý ( 1010-1225 ). Lý Công uẩn lên ngôi hoàng đế vào đầu xuân 1010, tức là vua Lý Thái tổ nhà Lý. Nhà vua trị vì được 19 năm, thọ 55 tuổi, băng hà năm 1028.
Bài Làm
Trong thời kỳ phong kiến ở nước ta , có rất nhiều các vị vua đã lập nên các thành tích xuất sắc . Vừa Lý Thái Tổ ( Lý Công Uẩn ) , Lý Công Uẩn người làng cổ Pháp thuộc (Đông Ngạn , Phủ Tử Sơn , Tỉnh Bắc Ninh) . Hiện nay ở làng Đình Bảng vẫn còn có lăng và đền thờ các nhà vua Lý .
Công Uẩn không có cha , mẹ là Phạm Thị đi chơi chùa Tiên Sơn ( làng Tiên Sơn , phủ Từ Sơn ) đêm mộng về thấy " đi lại " với thần nhân rồi có thai và để ra được cậu con trai khi lên 3 tuổi đứa bé ngày càng khôi ngô tuấn tú , gia đình đem cho nhà sư ở chùa cổ Pháp tên là Lý Khánh Văn làm con nuôi. Lý Công Uẩn được học hành chữ , kinh phật và võ nghệ từ nhỏ , lớn lên trong mái chùa trở thành một tài trai văn võ siêu quần . Khi ngoài 20 tuổi , Lý Công Uẩn đã làm võ văn tướng dưới triều vua Lê Đại Hành . Từng lập công tố lớn trong trận chi lăng (981) đại phá quân Tống xâm lược , chém đầu tướng giặc Hầu Nhân Bảo . Về sau , ông giữ chức tả thân vệ Điện Tiên chỉ hay sứ nắm trong tay toàn bộ binh quyền . Năm 1005 , Lê Đại Hành băng hà , ngôi vua được truyền cho Lê Long Việt chỉ 3 ngày sau Lê Long Đĩnh là một tên vua vô cùng bạo ngược nào kiệt , sau đó hắn vị mắc bệnh không ngồi được. Cuối năm 1009 , Lý Công Uẩn đã 35 tuổi bấy giờ lòng người đã oán giận nhà Tiền Lê lắm rồi . Và suy tôn ông lên ngôi báu , mở đầu triều đại nhà Lý ( 1010 - 1225 ).
Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế vào đầu xuân 1010 tức là vừa Lý Thái Tổ của nhà Lý.
Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, Trần Quốc Tuấn (Hưng Đạo Đại Vương) là biểu tượng sáng ngời của trí tuệ và lòng tận trung. Một trong những sự việc cảm động nhất về ông chính là hành động gạt bỏ thù riêng để dốc lòng vì vận mệnh dân tộc. Chuyện kể rằng, cha của Trần Quốc Tuấn là Trần Liễu vốn có hiềm khích sâu sắc với vua Trần Thái Tông. Trước khi mất, Trần Liễu cầm tay con dặn rằng: "Con không vì cha mà lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt". Lời trăn trối đó là một gánh nặng tâm lý khủng khiếp, đặt ông vào thế phải chọn giữa chữ "Hiếu" gia đình và chữ "Trung" với đất nước. Năm 1285, khi quân Nguyên Mông xâm lược lần thứ hai, vận nước như "ngàn cân treo sợi tóc". Lúc này, Trần Quốc Tuấn đang nắm quyền Tiết chế, thống lĩnh toàn bộ quân đội. Ông thừa hiểu rằng, nếu nội bộ nhà Trần lục đục, Đại Việt chắc chắn sẽ mất. Thay vì thực hiện lời dặn của cha để chiếm ngôi báu, ông đã đem lời cha ra hỏi các con và thuộc hạ để thử lòng. Khi thấy mọi người đều khuyên nên đặt việc nước lên đầu, ông vô cùng cảm kích. Đặc biệt, để xóa tan mọi nghi ngại, ông đã chủ động giảng hòa với Trần Quang Khải – một người trong hoàng tộc vốn có khoảng cách với ông. Trong một lần cùng đi thuyền, Trần Quốc Tuấn đã tự tay dội nước thơm tắm cho Trần Quang Khải. Hành động khiêm nhường ấy đã phá vỡ tảng băng đố kỵ, khiến hai người trở thành đôi cánh tay đắc lực, đoàn kết toàn quân dân để làm nên chiến thắng Bạch Đằnglẫy lừng. Sự việc này cho thấy Trần Quốc Tuấn không chỉ là một nhà quân sự thiên tài mà còn là một bậc đại nhân, đại nghĩa. Ông đã dạy cho hậu thế bài học vô giá: Khi quốc gia lâm nguy, đoàn kết và sự vị tha chính là vũ khí mạnh nhất để chiến thắng mọi kẻ thù.
Bài làm
Trong những câu chuyện về nhân vật lịch sử đã được đọc, em rất yêu thích câu chuyện Ông Yết Kiêu - một câu chuyện kể dân gian về người anh hùng tài giỏi.
Yết Kiêu là một người anh hùng sống ở thời Trần của nước ta. Ông sinh ra và lớn lên với sức khỏe phi thường và khả năng bơi lội, lặn dưới nước rất giỏi. Khi nghe tin đất nước phải đối mặt với giặc Nguyên hùng mạnh sang xâm lược, Yết Kiêu vô cùng lo lắng. Lúc ông biết giặc cử một trăm chiếc thuyền tấn công nước ta từ cửa biển Vạn Ninh, thì liền quyết định xin đi đánh giặc. Bởi ông biết được tài năng của mình sẽ giúp ích rất nhiều cho trận chiến này, nên đã vào cung xin vua được ra trận. Thấy Yết Kiêu trổ tài, nhà vua rất vui mừng và tin tưởng giao cho ông trọng trách ngăn chặn các chiến thuyền của giặc. Tuy nhiên, khi nhà vua hỏi ông cần bao nhiêu binh lính và công cụ để hỗ trợ. Thì ông lại không cần ai đi cùng cả, chỉ xin vua một chiếc dùi đục và một chiếc búa mà thôi.Chỉ với hai công cụ đó, Yết Kiêu một mình bí mật đi ra biển, truy tìm tàu của địch và đục lỗ khiến các chiến thuyền bị chìm một cách bí ẩn. Điều đó khiến quân giặc vô cùng hoang mang và sợ hãi. Sau này, chúng sử dụng một ống nhòm có mắt bằng thủy tinh, nên phát hiện ra Yết Kiêu đang đục thuyền. Nhân lúc ông tập trung đục đáy thuyền, chúng dùng lưới sắt bắt ông lên. Thấy giặc hằm hè đe dọa, Yết Kiêu giả vờ sợ hãi. Rồi khai ra những thông tin giả để lung lay bọn chúng. Ông nói rằng nước Nam có rất nhiều người tài , đều đang chia nhau ra để làm nhiệm vụ. Và hứa rằng nếu địch cởi trói cho ông, ông sẽ dẫn chúng đi bắt những người còn lại. Nghe vậy, lũ giặc tin lắm liền cởi trói cho ông. Nhờ vậy, chỉ một giây lơ là của lũ giặc, Yết Kiêu đã nhảy xuống biển, lặn mất tăm.Sau đó, các chiến thuyền của giặc lại bị đắm ngày càng nhiều hơn, nhưng chúng không thể bắt được Yết Kiêu thêm lần nữa. Nhớ lại lời khai của Yết Kiêu, chúng nghĩ bụng nước Nam nhiều người tài như thế thì khó mà thắng được, nên đành rút quân, bỏ chạy về nước.
Người anh hùng Yết Kiêu vừa tài giỏi lại dũng cảm, đa mưu túc trí khiến em vô cùng thán phục và ngưỡng mộ. Em rất biết ơn những người anh hùng lịch sử như ông ấy, vì nhờ có họ mà đất nước ta mới trường tồn, nhân dân mới có cuộc sống bình yên.
Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn (Trần Hưng Đạo) là một trong những vị tướng tài ba và kiệt xuất nhất. Một sự việc lịch sử có thật đã làm nổi bật tài năng và lòng yêu nước của ông là Hội nghị Diên Hồng năm 1284. Khi quân Nguyên Mông chuẩn bị xâm lược Đại Việt lần thứ hai, thế giặc rất mạnh. Vua Trần Nhân Tông đã triệu tập các bô lão trong cả nước về Thăng Long họp tại điện Diên Hồng để bàn kế sách đánh giặc. Trước tình thế nguy nan, vua đã hỏi ý kiến các bô lão: "Nên đánh hay nên hòa?". Với lòng căm thù giặc sâu sắc và tinh thần quyết chiến quyết thắng, tất cả các bô lão đều đồng thanh hô lớn: "Đánh!". Tiếng hô vang như sấm dậy, thể hiện ý chí sắt đá của toàn dân tộc. Sự kiện này cho thấy tài lãnh đạo sáng suốt của vua Trần và Trần Hưng Đạo trong việc khơi dậy sức mạnh đoàn kết toàn dân. Chính nhờ sự đồng lòng "cha con một nhà" ấy mà quân dân Đại Việt đã ba lần đánh tan quân Nguyên Mông hùng mạnh, làm nên những chiến thắng lẫy lừng như trận Bạch Đằng lịch sử. Sự kiện Hội nghị Diên Hồng mãi mãi là bài học quý giá về sức mạnh của tinh thần đoàn kết dân tộc.
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có rất nhiều vị anh hùng đã đứng lên bảo vệ đất nước. Một trong những vị anh hùng nổi tiếng thời phong kiến mà em rất khâm phục là Ngô Quyền với chiến thắng vang dội trên sông Sông Bạch Đằng. Năm 938, quân Nam Hán kéo sang xâm lược nước ta bằng đường thủy. Trước tình hình đó, Ngô Quyền đã nghĩ ra một kế hoạch rất thông minh. Ông cho quân đóng những cọc gỗ lớn, đầu bịt sắt xuống lòng sông Bạch Đằng. Khi thủy triều lên, quân ta nhử thuyền giặc tiến sâu vào bãi cọc. Đến lúc nước rút, thuyền của quân Nam Hán bị mắc kẹt và vỡ nát trên những cọc gỗ. Ngay lúc đó, quân ta từ hai bên bờ sông ập ra tấn công dữ dội, khiến quân giặc hoảng loạn và thất bại nặng nề. Chiến thắng Bạch Đằng đã tiêu diệt quân xâm lược và mở ra một thời kỳ độc lập lâu dài cho đất nước. Qua câu chuyện về Ngô Quyền, em càng thêm tự hào về truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta. Em rất khâm phục tài trí và lòng yêu nước của vị anh hùng này và tự nhủ sẽ cố gắng học tập thật tốt để xứng đáng với truyền thống của cha ông.
Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Bác sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 tại làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Từ nhỏ, Bác đã nổi tiếng là người thông minh, chăm học và rất yêu nước. Khi đất nước còn bị thực dân xâm lược, Bác luôn trăn trở tìm con đường giải phóng dân tộc.
Năm 1911, Bác Hồ rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước. Trong nhiều năm bôn ba ở nhiều quốc gia trên thế giới, Bác đã học hỏi và tìm hiểu nhiều con đường cách mạng khác nhau. Sau một thời gian dài nghiên cứu và hoạt động, Bác đã tìm ra con đường đúng đắn để giải phóng dân tộc Việt Nam.
Năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ, nhân dân ta đã làm nên Cách mạng Tháng Tám thành công. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình, Bác Hồ đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Khoảnh khắc đó trở thành một dấu mốc rất quan trọng trong lịch sử dân tộc.
Không chỉ là một nhà lãnh đạo tài ba, Bác Hồ còn là người sống rất giản dị và gần gũi với nhân dân. Bác luôn quan tâm đến cuộc sống của mọi người, đặc biệt là thiếu nhi. Bác thường căn dặn thiếu niên, nhi đồng phải chăm học, chăm làm để sau này xây dựng đất nước.
Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về lòng yêu nước, sự hy sinh và tinh thần vì dân tộc. Nhân dân Việt Nam luôn kính trọng và biết ơn công lao to lớn của Bác. Hình ảnh của Bác sẽ mãi mãi sống trong trái tim của mỗi người Việt Nam. 🇻🇳💖