Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Tháng tư vừa rồi, trường em có tổ chức một buổi tham quan nằm trong chuỗi hoạt động ngoại khóa của trường. Điểm đến lần này là Đền Hùng tại Việt Trì-Phú Thọ. Đây là nơi thờ phụng các đời Vua Hùng và tôn thất của nhà vua. Nơi đây gắn với Giỗ tổ Hùng Vương được tổ chức hàng năm vào ngày 10 tháng 3 Âm lịch. Đây là một dịp để thế hệ con cháu đến viếng đền, tưởng nhớ đến những người đã có công dựng nước.
Em đã được nghe nhiều câu chuyện về các Vua Hùng qua các sự tích nổi tiếng như Sự tích bánh chưng bánh dày, Sơn Tinh Thủy Tinh… và thấy được sự uy nghiêm và trí tuệ của các vị vua. Điều đó khiến tôi càng mong đợi chuyến đi này hơn.
Dưới chân núi là khung cảnh uy nghiêm, hùng vĩ của núi Nghĩa Lĩnh với rừng cây và sương mù bao phủ. Nơi thờ các vị vua được đặt trên núi với ba đền chính là đền Hạ, đền Trung và đền Thượng. Đền Hạ tương truyền là nơi mẹ Âu Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng. Trăm trứng ấy đẻ ra trăm người con, năm mươi người theo cha xuống biển, bốn chín người theo mẹ lên núi. Người con ở lại làm vua, lấy tên là Hùng Vương (thứ nhất). Đền Trung là nơi các vị vua họp bàn chính sự. Đền Thượng là lăng thờ Hùng Vương thứ sáu. Lễ hội đền Hùng được tổ chức hàng năm bao gồm những hoạt động văn hóa, văn nghệ mang tính chất nghi thức truyền thống và những hoạt động văn hóa dân gian khác… Các hoạt động văn hóa mang tính chất nghi thức còn lại đến ngày nay là lễ rước kiệu vua và lễ dâng hương. Dưới tán lá mát rượi của những cây trò, cây mỡ cổ thụ và âm vang trầm bổng của trống đồng, đám rước như một con rồng uốn lượn trên những bậc đá huyền thoại để tới đỉnh núi Thiêng.
Trước khi đi tham quan các đền, chúng tôi được làm lễ dâng hương và nghe diễn thuyết về các vị Vua Hùng. Không khí trang nghiêm, hào hùng ấy khiến tôi không khỏi tự hào về lịch sử dân tộc mình. Họ đã dựng nước, giữ nước để đời sau con cháu được hưởng thụ nền độc lập, hòa bình ấy. Và nay chúng em đến đây để thể hiện lòng biết ơn, sự tôn trọng của mình đối họ, thể hiện đúng truyền thống đạo lý “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Họ đã gây dựng nền móng cho nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa hiện tại và chúng em đều biết ơn điều đấy.
Sau đó, chúng em được đi thăm các đền thờ vua trên núi. Cách trang trí, sắp xếp các di vật đều được bố trí một cách ngay ngắn, trang nghiêm. Em ấn tượng với tấm bia ở đền Hạ khắc dòng chữ của Bác Hồ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta cùng nhau giữ lấy nước.” Nó như một lời hứa hẹn Bác thay thế hệ trẻ nói lên trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước.
Đó thực sự là một chuyến đi đầy bổ ích và ý nghĩa. Mặc dù nó chỉ kéo dài trong một buổi sáng ngắn ngủi nhưng nó đã giúp em hiểu ra trách nhiệm của mình đối với đất nước. Phải biết kính trọng, biết ơn thế hệ đi trước đặc biệt là các vị Vua Hùng và phải ghi nhớ:
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba.”
VOTE T 5 SAO Ạ!
mình nghĩ bạn nên viết về Issac Newton vì nổi tiếng với giai thoại cây táo Newton
Mẫu ngắn gọn:
Đất nước có được nền hòa bình ngày hôm nay, không biết bao cha anh đã ngã xuống, không tiếc máu xương để bảo vệ độc lập, tự do cho dân tộc. Anh Kim Đồng là một tấm gương sáng trong số những người anh hùng như vậy.
Anh Kim Đồng là người dân tộc Tày. Cha mất sớm, anh sống cùng mẹ - một người phụ nữ đảm đang nhưng ốm yếu. Sống trong cảnh đất nước bị xâm lược nên từ nhỏ, Kim Đồng đã dũng cảm, quyết đoán, mạnh mẽ, có tinh thần yêu nước, căm thù giặc. Tuy tuổi còn nhỏ nhưng anh rất hăng hái làm nhiệm vụ giao liên, đưa đón Việt Minh và chuyển thư từ. Anh được bầu làm đại đội trưởng đầu tiên của Đội Nhi đồng cứu quốc. Anh không ngại khó khăn, thử thách, nguy hiểm luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong một lần làm nhiệm vụ, anh bị giặc Pháp bắn và hi sinh. Khi ấy, anh mới chỉ 14 tuổi. Đã có rất nhiều bài thơ, bài hát được sáng tác để ghi nhớ công ơn của anh.
Hình ảnh anh Kim Đồng sẽ luôn sáng mãi, là tấm gương cho thanh thiếu niên Việt Nam về tinh thần yêu nước sâu sắc, sự thông minh, gan dạ, lòng dũng cảm, trung kiên với Tổ quốc.
Mẫu 1:
Lý Công Uẩn người làng cổ Pháp thuộc Đông Ngạn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Hiện nay ở làng Đình Bảng vẫn còn có lăng và đền thờ các vua nhà Lý.
Tục truyền rằng Công uẩn không có cha; mẹ là Phạm Thị đi chơi chùa Tiên Sơn (làng Tiên Sơn, phủ Từ Sơn) , đêm về nằm mộng thấy "đi lại" với thần nhân, rồi có thai đẻ ra đứa con trai. Lên ba tuổi, đứa bé càng khôi ngô tuấn tú; gia đình đem cho nhà sư ở chùa cổ Pháp tên là Lý Khánh Văn làm con nuôi. Lý Công uẩn được học hành chữ Nho, kinh Phật và võ nghệ từ nhỏ, lớn lên dưới mái chùa, trở thành một tài trai văn võ siêu quần.
Ngoài 20 tuổi, Lý Công uẩn đã làm võ tướng dưới triều vua Lê Đại Hành, từng lập công to trong trận Chi Lăng (981) đại phá quân Tống xâm lược, chém đầu tướng giặc Hầu Nhân Bảo. Về sau, ông giữ chức Tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ, nắm trong tay toàn bộ binh quyền. Đức trọng tài cao, ông được quần thần và tướng sĩ rất kính phục. Năm 1005, Lê Đại Hành băng hà. Ngôi vua được truyền cho Lê Long Việt. Chỉ 3 ngày sau, Lê Long Đĩnh giết anh, giành lấy ngai vàng. Lê Long Đĩnh là một tên vua vô cùng bạo ngược khác nào Kiệt, Trụ ngày xưa. Hắn hoang dâm vô độ, nên mắc bệnh không ngồi được; đến buổi chầu thì cứ nằm mà thị triều, cho nên tục gọi là Vua Ngọa Triều. Cuối năm 1009, Lê Ngọa Triều chết. Năm đó, Lý Công uẩn đã 35 tuổi. Bấy giờ lòng người đã oán giận nhà Tiền Lê lắm rồi; quân thần và tầng lớp tăng lữ suy tôn ông lên ngôi báu, mở đầu triều đại nhà Lý (1010- 1225).
Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế vào đầu xuân 1010, tức là vua Lý Thái Tổ nhà Lý. Nhà vua trị vì được 19 năm, thọ 55 tuổi, băng hà năm 1028.
Tham Khảo
Một trong những vị anh hùng của dân tộc Việt Nam là Võ Thị Sáu. Chị chính là một trong những biểu tượng cho lòng dũng cảm, sự gan dạ của người phụ nữ Việt Nam.
Võ Thị Sáu sinh năm 1933, mất năm 1952. Về nguyên quán, trên bia mộ chỉ ghi tại huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Chị tham gia hoạt động cách mạng từ khi còn rất trẻ, đã hoàn thành xuất sắc nhiều nhiệm vụ quan trọng.
Chị đã tham gia nhiều trận chiến đấu để bảo vệ quê hương, dùng lựu đạn tiêu diệt hai tên ác ôn và làm bị thương nhiều lính Pháp. Chị còn nhiều lần phát hiện gian tế, tay sai Pháp, giúp đội công an thoát khỏi nguy hiểm, chủ động trong việc tấn công địch…
Vào tháng 7 năm 1948, Công an Đất Đỏ được giao nhiệm vụ phá cuộc mít tinh kỷ niệm Quốc khánh Pháp. Dù nguy hiểm, nhưng chị Sáu vẫn chủ động xin được trực tiếp đánh trận này. Chị đã nhận lựu đạn, giấu vào góc chợ gần khán đài từ nửa đêm. Sáng hôm đó, địch lùa người dân vào sân. Khi xe của tỉnh trưởng tới, chị tung lựu đạn về phía khán đài, uy hiếp giải tán mít tinh.
Hai tổ công an xung phong ở gần đấy đồng loạt nổ súng yểm trợ tạo áp lực giải tán cuộc mít tinh, đồng thời hỗ trợ cho chị Sáu rút an toàn. Người của Việt Minh được bố trí trong đám đông hô to “Việt Minh tiến công” và hướng dẫn người dân giải tán. Sau chiến công này, chị Sáu được tổ chức tuyên dương khen ngợi và được giao nhiệm nhiều nhiệm vụ quan trọng khác. Khi bị giặc bắt giam tại nhà tù Côn Đảo, chuẩn bị xử tử hình, chị vẫn giữ được tinh thần của người chiến sĩ cách mạng.
Năm 1993, Nhà nước đã trân trọng truy tặng chị Huân chương chiến công hạng Nhất và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.
Có thể khẳng định rằng, chị Võ Thị Sáu là một tấm gương về lòng dũng cảm, sự gan dạ, đáng để chúng ta học tập và noi theo.
Tháng tư vừa rồi, trường em có tổ chức một buổi tham quan nằm trong chuỗi hoạt động ngoại khóa của trường. Điểm đến lần này là Đền Hùng tại Việt Trì-Phú Thọ. Đây là nơi thờ phụng các đời Vua Hùng và tôn thất của nhà vua. Nơi đây gắn với Giỗ tổ Hùng Vương được tổ chức hàng năm vào ngày 10 tháng 3 Âm lịch. Đây là một dịp để thế hệ con cháu đến viếng đền, tưởng nhớ đến những người đã có công dựng nước.
Em đã được nghe nhiều câu chuyện về các Vua Hùng qua các sự tích nổi tiếng như Sự tích bánh chưng bánh dày, Sơn Tinh Thủy Tinh… và thấy được sự uy nghiêm và trí tuệ của các vị vua. Điều đó khiến tôi càng mong đợi chuyến đi này hơn.
Dưới chân núi là khung cảnh uy nghiêm, hùng vĩ của núi Nghĩa Lĩnh với rừng cây và sương mù bao phủ. Nơi thờ các vị vua được đặt trên núi với ba đền chính là đền Hạ, đền Trung và đền Thượng. Đền Hạ tương truyền là nơi mẹ Âu Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng. Trăm trứng ấy đẻ ra trăm người con, năm mươi người theo cha xuống biển, bốn chín người theo mẹ lên núi. Người con ở lại làm vua, lấy tên là Hùng Vương (thứ nhất). Đền Trung là nơi các vị vua họp bàn chính sự. Đền Thượng là lăng thờ Hùng Vương thứ sáu. Lễ hội đền Hùng được tổ chức hàng năm bao gồm những hoạt động văn hóa, văn nghệ mang tính chất nghi thức truyền thống và những hoạt động văn hóa dân gian khác… Các hoạt động văn hóa mang tính chất nghi thức còn lại đến ngày nay là lễ rước kiệu vua và lễ dâng hương. Dưới tán lá mát rượi của những cây trò, cây mỡ cổ thụ và âm vang trầm bổng của trống đồng, đám rước như một con rồng uốn lượn trên những bậc đá huyền thoại để tới đỉnh núi Thiêng.
Trước khi đi tham quan các đền, chúng tôi được làm lễ dâng hương và nghe diễn thuyết về các vị Vua Hùng. Không khí trang nghiêm, hào hùng ấy khiến tôi không khỏi tự hào về lịch sử dân tộc mình. Họ đã dựng nước, giữ nước để đời sau con cháu được hưởng thụ nền độc lập, hòa bình ấy. Và nay chúng em đến đây để thể hiện lòng biết ơn, sự tôn trọng của mình đối họ, thể hiện đúng truyền thống đạo lý “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Họ đã gây dựng nền móng cho nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa hiện tại và chúng em đều biết ơn điều đấy.
Sau đó, chúng em được đi thăm các đền thờ vua trên núi. Cách trang trí, sắp xếp các di vật đều được bố trí một cách ngay ngắn, trang nghiêm. Em ấn tượng với tấm bia ở đền Hạ khắc dòng chữ của Bác Hồ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta cùng nhau giữ lấy nước.” Nó như một lời hứa hẹn Bác thay thế hệ trẻ nói lên trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước.
Đó thực sự là một chuyến đi đầy bổ ích và ý nghĩa. Mặc dù nó chỉ kéo dài trong một buổi sáng ngắn ngủi nhưng nó đã giúp em hiểu ra trách nhiệm của mình đối với đất nước. Phải biết kính trọng, biết ơn thế hệ đi trước đặc biệt là các vị Vua Hùng và phải ghi nhớ:
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba.”
Ngày nay, bài hát Tiến quân ca đã quá quen thuộc và gần gũi với tất cả mọi người dân Việt Nam vì đó là Quốc ca. Những bài hát đó đã ra đời như thế nào thì không phải ai cũng rõ. Tôi xin kể lại câu chuyện về sự kiện lịch sử.
Tuổi thanh niên là tuổi của ước mơ, của hoài bão khát vọng. Ấy vậy mà tôi lúc ấy không còn khát vọng, ước mơ của tuổi thanh niên, buồn chán và thất vọng bủa vây cuộc đời tôi. Đúng lúc tuyệt vọng nhất tôi gặp được Vũ Quý thông qua người bạn thân Ph.D. Khi gặp Vũ Quý tôi mong muốn được tham gia chiến khu cùng các anh em cầm súng giết giặc. Nhưng có lẽ Vũ Quý theo dõi sự nghiệp sáng tác nghệ thuật của tôi nên giao cho tôi sáng tác nghệ thuật để cổ vũ tinh thần cho quân đội cách mạng.
Khi bắt tay viết bài hát Tiến quân ca, tôi chưa được cầm một khẩu súng, chưa được gia nhập đội vũ trang nào; tôi chưa được ra chiến khu, và cũng chưa từng gặp chiến sĩ cách mạng trong khóa quân chính ấy. Nhưng tại căn gác nhỏ ở phố Nguyễn Thượng Hiền, tôi lại hình dung đó là chiến khu, là khu rừng nào đó trên Việt Bắc, và cứ thế lời ca ra đời, con chữ tự nhiên hiện ra dưới ngòi bút. Tại căn gác nhỏ đó Ph.D đã chứng kiến sự ra đời của Tiến quân ca, và Vũ Quý là người đầu tiên biết đến bài hát này.
Bài hát Tiến quân ca ra đời được chào đón rất nồng nhiệt. Bài hát được công bố lần đầu trong ngày 17-8-1945, khi diễn ra cuộc mít tinh của công chức Hà Nội. Tại đây bài hát Tiến quân ca được hàng ngàn người hoà nhịp cất cao tiếng hát trước Quảng trường Nhà hát Lớn. Tại buổi hôm đó bài hát đã nổ ra như một trái bom. Nước mắt tôi trào ra. Xung quanh tôi hang ngàn giọng hát cất vang theo những đoạn sôi nổi. Trong một lúc những tờ truyền đơn in Tiến quân ca được phát cho từng người trong hàng ngũ các công chức dự mít tinh. Lúc này anh bạn Ph.D của tôi đã buông lá cờ đỏ sao vàng trên kia xuống và cướp loa phóng thanh hát vang Tiến quân ca. Con người trầm lặng ấy đã có sức hát hấp dẫn hang vạn quần chúng ngày hôm đó, cũng là người hát trước quần chúng lần đầu tiên và cũng là một lần duy nhất. Lần thứ hai bài hát Tiến quân ca của tôi xuất hiện là trong cuộc mít tinh vào ngày 19-8, hàng ngàn người và các em thiếu nhi cùng cất lời ca, thét lên tiếng căm thù vào mặt bọn đế quốc với sự hào hùng chiến thắng của cách mạng.
Bài hát Tiến quân ca của tôi đã ra đời như thế đấy. Sau đó, bài hát được chọn làm Quốc ca Việt Nam cho đến ngày nay. Bài hát là niềm tự hào không phải của riêng tôi mà là của cả dân tộc Việt Nam.
Tháng tư vừa rồi, trường em có tổ chức một buổi tham quan nằm trong chuỗi hoạt động ngoại khóa của trường. Điểm đến lần này là Đền Hùng tại Việt Trì-Phú Thọ. Đây là nơi thờ phụng các đời Vua Hùng và tôn thất của nhà vua. Nơi đây gắn với Giỗ tổ Hùng Vương được tổ chức hàng năm vào ngày 10 tháng 3 Âm lịch. Đây là một dịp để thế hệ con cháu đến viếng đền, tưởng nhớ đến những người đã có công dựng nước.
Em đã được nghe nhiều câu chuyện về các Vua Hùng qua các sự tích nổi tiếng như Sự tích bánh chưng bánh dày, Sơn Tinh Thủy Tinh… và thấy được sự uy nghiêm và trí tuệ của các vị vua. Điều đó khiến tôi càng mong đợi chuyến đi này hơn.
Dưới chân núi là khung cảnh uy nghiêm, hùng vĩ của núi Nghĩa Lĩnh với rừng cây và sương mù bao phủ. Nơi thờ các vị vua được đặt trên núi với ba đền chính là đền Hạ, đền Trung và đền Thượng. Đền Hạ tương truyền là nơi mẹ Âu Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng. Trăm trứng ấy đẻ ra trăm người con, năm mươi người theo cha xuống biển, bốn chín người theo mẹ lên núi. Người con ở lại làm vua, lấy tên là Hùng Vương (thứ nhất). Đền Trung là nơi các vị vua họp bàn chính sự. Đền Thượng là lăng thờ Hùng Vương thứ sáu. Lễ hội đền Hùng được tổ chức hàng năm bao gồm những hoạt động văn hóa, văn nghệ mang tính chất nghi thức truyền thống và những hoạt động văn hóa dân gian khác… Các hoạt động văn hóa mang tính chất nghi thức còn lại đến ngày nay là lễ rước kiệu vua và lễ dâng hương. Dưới tán lá mát rượi của những cây trò, cây mỡ cổ thụ và âm vang trầm bổng của trống đồng, đám rước như một con rồng uốn lượn trên những bậc đá huyền thoại để tới đỉnh núi Thiêng.
Trước khi đi tham quan các đền, chúng tôi được làm lễ dâng hương và nghe diễn thuyết về các vị Vua Hùng. Không khí trang nghiêm, hào hùng ấy khiến tôi không khỏi tự hào về lịch sử dân tộc mình. Họ đã dựng nước, giữ nước để đời sau con cháu được hưởng thụ nền độc lập, hòa bình ấy. Và nay chúng em đến đây để thể hiện lòng biết ơn, sự tôn trọng của mình đối họ, thể hiện đúng truyền thống đạo lý “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Họ đã gây dựng nền móng cho nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa hiện tại và chúng em đều biết ơn điều đấy.
Sau đó, chúng em được đi thăm các đền thờ vua trên núi. Cách trang trí, sắp xếp các di vật đều được bố trí một cách ngay ngắn, trang nghiêm. Em ấn tượng với tấm bia ở đền Hạ khắc dòng chữ của Bác Hồ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta cùng nhau giữ lấy nước.” Nó như một lời hứa hẹn Bác thay thế hệ trẻ nói lên trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước.
Đó thực sự là một chuyến đi đầy bổ ích và ý nghĩa. Mặc dù nó chỉ kéo dài trong một buổi sáng ngắn ngủi nhưng nó đã giúp em hiểu ra trách nhiệm của mình đối với đất nước. Phải biết kính trọng, biết ơn thế hệ đi trước đặc biệt là các vị Vua Hùng và phải ghi nhớ:
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba.”
VOTE T 5 SAO NHAA
Một trong những sự kiện lịch sử có ý nghĩa vô cùng quan trọng với dân tộc Việt Nam là Chiến thắng Điện Biên Phủ. Với sự kiện này, cuộc kháng chiến chống thực dân pháp đã chính thức giành thắng lợi.
Nhà thơ Tố Hữu đã từng viết:
“Chín năm làm một Điện Biên
Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”
Từ đó, chúng ta mới thấy được ý nghĩa của chiến dịch này. Trước hết, chiến dịch Điện Biên Phủ là đỉnh cao của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954. Ba đợt tiến công diễn ra trong năm mươi sáu ngày đêm. Đợt 1 (từ 13 đến 17 tháng 3), chúng ta tiêu diệt được hai cứ điểm quan trọng là Him Lam và Độc Lập, mở toang cánh cửa phía Bắc và Đông Bắc cho quân ta tiến xuống lòng chảo và khu trung tâm. Đợt 2 (từ 30 tháng 3 đến 30 tháng 4), ta đã kiểm soát các điểm cao, khu trung tâm Điện Biên Phủ nằm trong tầm bắn các loại sống của ta. Còn quân địch rơi vào thể bị động mất tinh thần cao độ. Đợt 3 (từ 1 đến 7 tháng 5), quân ta tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đến ngày 7 tháng 5 năm 1954, chiến dịch toàn thắng.
Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ đã chấm dứt chín năm kháng chiến chống Pháp trường kỳ, gian khổ của nhân dân Việt Nam. Từ đó, thực dân Pháp buộc phải ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ (7/1954) về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình tại các nước Đông Dương. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ thể hiện niềm tự hào dân tộc, niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và cổ vũ toàn Đảng, toàn dân một lòng chiến đấu dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Đồng thời, chiến thắng này cũng cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, đặc biệt là các nước ở châu Á, châu Phi và Mĩ La-tinh.
Có thể khẳng định rằng, Điện Biên Phủ là một trong những chiến dịch vô cùng quan trọng, góp phần đánh bại kẻ thù xâm lược - thực dân Pháp.
Trong lịch sử nước ta, có rất nhiều chiến công oanh liệt, nhưng em ấn tượng nhất với chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 do Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn chỉ huy. Đây là trận đánh đánh dấu sự thất bại thảm hại của quân Nguyên - Mông xâm lược, bảo vệ bờ cõi nước ta.
Năm 1288, sau nhiều lần bị quân dân nhà Trần đánh bại, tướng giặc Thoát Hoan quyết định rút quân về nước. Nhưng tướng Ô Mã Nhi lại dẫn thủy quân theo sông Bạch Đằng để rút lui. Biết trước điều này, Trần Quốc Tuấn đã chuẩn bị một kế hoạch đầy mưu trí.
Ông cho quân mai phục hai bên bờ sông và bí mật đóng những cọc gỗ lớn, nhọn hoắt dưới lòng sông Bạch Đằng. Khi thủy triều dâng cao, những cây cọc này chìm xuống, không ai phát hiện được. Sau đó, Trần Quốc Tuấn cho quân mai phục chờ đợi.
Đúng như dự đoán, khi đoàn thuyền của Ô Mã Nhi tiến vào cửa sông, quân Trần cho thuyền nhẹ ra khiêu chiến rồi giả vờ thua trận, rút lui. Quân giặc hò reo đuổi theo. Đúng lúc ấy, nước triều bắt đầu rút mạnh. Những cọc gỗ nhọn dần lộ ra, hàng loạt thuyền chiến của quân Nguyên - Mông bị mắc kẹt và vỡ nát. Khi đó, quân ta từ hai bên bờ xông ra, dùng cung tên và hỏa công tấn công dữ dội.
Quân địch hoảng loạn, kẻ bị tiêu diệt, kẻ bị bắt sống, trong đó có cả tướng Ô Mã Nhi. Trận đánh kết thúc với chiến thắng vang dội của quân dân nhà Trần.
Chiến thắng Bạch Đằng không chỉ đập tan âm mưu xâm lược của giặc mà còn thể hiện tài thao lược xuất sắc của Trần Quốc Tuấn. Nhờ có ông, đất nước ta mới giữ vững được độc lập. Khi học về trận chiến này, em vô cùng khâm phục trí tuệ và lòng dũng cảm của ông.
Đất nước có được nền hòa bình ngày hôm nay, không biết bao cha anh đã ngã xuống, không tiếc máu xương để bảo vệ độc lập, tự do cho dân tộc. Anh Kim Đồng là một tấm gương sáng trong số những người anh hùng như vậy. Anh Kim Đồng là người dân tộc Tày. Cha mất sớm, anh sống cùng mẹ - một người phụ nữ đảm đang nhưng ốm yếu. Sống trong cảnh đất nước bị xâm lược nên từ nhỏ, Kim Đồng đã dũng cảm, quyết đoán, mạnh mẽ, có tinh thần yêu nước, căm thù giặc. Tuy tuổi còn nhỏ nhưng anh rất hăng hái làm nhiệm vụ giao liên, đưa đón Việt Minh và chuyển thư từ. Anh được bầu làm đại đội trưởng đầu tiên của Đội Nhi đồng cứu quốc. Anh không ngại khó khăn, thử thách, nguy hiểm luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong một lần làm nhiệm vụ, anh bị giặc Pháp bắn và hi sinh. Khi ấy, anh mới chỉ 14 tuổi. Đã có rất nhiều bài thơ, bài hát được sáng tác để ghi nhớ công ơn của anh. Hình ảnh anh Kim Đồng sẽ luôn sáng mãi, là tấm gương cho thanh thiếu niên Việt Nam về tinh thần yêu nước sâu sắc, sự thông minh, gan dạ, lòng dũng cảm, trung kiên với Tổ quốc
Người dân Việt Nam đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh” - đó là câu nói khắc ghi vào tâm khảm của người dân nước ta. Cùng những câu chuyện hào hùng về hành trình cứu nước của Bác, nhân dân ta còn truyền nhau những câu chuyện nhỏ đời thường của vị lãnh tụ vĩ đại này. Có một câu chuyện kể về chuyến đi công tác của Bác. Trên đường di chuyển đến nơi tổ chức cuộc họp, xe của Bác phải dừng lại chờ đèn đỏ khá lâu. Anh chiến sĩ đi cùng trên xe định bước xuống để bảo anh công an giao thông ưu tiên cho xe Bác đi qua, thì bị Bác cản lại. Bác ôn tồn giải thích rằng, mình cũng là một công dân của nước Việt Nam, nên cũng cần tuân thủ luật pháp đã được đặt ra. Nếu ai cũng dùng quyền ưu tiên thì còn gì là luật lệ nữa chứ. Hơn nữa, anh công an giao thông kia đang làm rất tốt nhiệm vụ của mình, không có gì để trách phạt anh ấy cả. Nói rồi, Bác bình tĩnh ngồi trong xe chờ hết đèn đỏ, thì ra hiệu lái xe tiếp tục di chuyển. Hành động nhỏ bé ấy của Chủ tịch nước vĩ đại đã giúp anh chiến sĩ có một bài học đáng quý
Lịch sử Việt Nam là một dòng chảy hào hùng với biết bao tấm gương trung liệt, những con người đã dùng máu đào và trí tuệ để giữ vững bờ cõi. Trong số những vì sao sáng ấy, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn hiện lên không chỉ là một nhà quân sự kiệt xuất mà còn là biểu tượng của tinh thần đoàn kết và lòng yêu nước nồng nàn. Câu chuyện về việc ông gạt bỏ thù riêng, dốc lòng vì đại nghĩa dân tộc trước họa xâm lăng của quân Nguyên - Mông lần thứ hai là một bài học sâu sắc về nhân cách và lòng trung quân ái quốc.Năm 1285, đất nước ta đứng trước thử thách ngàn cân treo sợi tóc. Quân Nguyên với khí thế hung hãn, cậy sức mạnh của đế chế đã chinh phạt khắp Á - Âu, nay đổ bộ vào nước ta với ý đồ thôn tính Đại Việt. Lúc bấy giờ, tình hình trong nước có những mối lo ngại tiềm ẩn từ bên trong. Cha của Trần Quốc Tuấn là An Sinh Vương Trần Liễu vốn có hiềm khích với Thái sư Trần Thủ Độ và dòng tộc vua Trần vì những mâu thuẫn trong quá khứ. Trước khi qua đời, Trần Liễu đã dặn dò con trai mình phải lấy được thiên hạ để trả thù cho cha. Lời trăn trối ấy như một tảng đá đè nặng lên vai người con hiếu thảo.Thế nhưng, trước cảnh nước mất nhà tan, Trần Quốc Tuấn đã có một quyết định khiến người đời sau mãi kính phục. Ông hiểu rằng, nếu lúc này ông dấy binh làm loạn để thực hiện lời cha dặn, thì không chỉ nhà Trần sụp đổ mà cả dân tộc sẽ rơi vào tay giặc. Ông chọn cách gạt bỏ tư thù, đặt lợi ích của quốc gia lên trên hết. Một sự việc tiêu biểu minh chứng cho tinh thần ấy chính là cuộc gặp gỡ giữa ông và Thái sư Trần Quang Khải tại bến Đông Bộ Đầu.Biết rằng giữa hai dòng họ vẫn còn những khoảng cách, Trần Quốc Tuấn đã chủ động mời Trần Quang Khải sang thuyền của mình để bàn việc quân. Thấy Trần Quang Khải đang tắm, ông đã tự tay dội nước thơm cho vị Thái sư, vừa làm vừa nói đùa: "Hôm nay thật may mắn được tắm cho Thái sư". Trần Quang Khải cũng vui vẻ đáp lại: "Hôm nay thật hạnh phúc được Đại Vương tắm cho". Chỉ một hành động nhỏ nhưng đầy tinh tế ấy đã xóa tan mọi nghi kị, thắt chặt sợi dây đoàn kết giữa những người đứng đầu triều đình. Sự hòa hợp giữa hai trụ cột của vương triều đã trở thành sức mạnh tinh thần vô song, lan tỏa đến toàn thể quân dân.Không chỉ khéo léo trong việc hóa giải mâu thuẫn, Trần Quốc Tuấn còn là người truyền lửa cho binh sĩ. Tại Hội nghị Bình Than và sau đó là Hội nghị Diên Hồng, khi được vua Trần Nhân Tông hỏi về việc nên hòa hay nên đánh, ông đã khảng khái trả lời: "Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã". Lời tuyên bố đanh thép ấy như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào ý chí cầu hòa của một số quan lại, đồng thời khơi dậy lòng tự tôn dân tộc mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Để khích lệ tướng sĩ, ông đã viết "Hịch tướng sĩ" – một áng thiên cổ hùng văn thấm đẫm huyết lệ và ý chí chiến đấu. Những lời lẽ sục sôi, nhắc lại nỗi nhục mất nước, nỗi đau của người dân lầm than đã khiến hàng vạn binh sĩ đồng lòng xăm lên cánh tay hai chữ "Sát Thát" (diệt quân Mông Cổ), thề chết để bảo vệ giang sơn.Dưới sự chỉ huy tài tình của ông, quân dân nhà Trần đã vận dụng linh hoạt chiến thuật "vườn không nhà trống", khiến kẻ thù rơi vào thế bị động, thiếu lương thực và kiệt sức. Trận đánh trên sông Bạch Đằng năm 1288 là đỉnh cao của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Tận dụng thủy triều và hệ thống cọc gỗ sắc nhọn, Trần Quốc Tuấn đã nhấn chìm toàn bộ hạm đội tàu của giặc, bắt sống tướng giặc Ô Mã Nhi, đập tan hoàn toàn ý đồ xâm lược của đế chế Nguyên - Mông hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ.Chiến thắng lẫy lừng ấy không chỉ bảo vệ được nền độc lập của Đại Việt mà còn ghi danh Trần Quốc Tuấn vào hàng ngũ những vị tướng vĩ đại nhất lịch sử nhân loại. Tuy nhiên, điều khiến người đời nhớ về ông nhiều nhất không phải chỉ là những chiến công hiển hách, mà là nhân cách cao đẹp của một vị anh hùng "vị quốc vong thân". Những ngày cuối đời, khi vua Trần Anh Tông đến thăm và hỏi về kế sách giữ nước, ông vẫn đau đáu một lòng: "Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy".Lời dặn dò ấy đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Trần Quốc Tuấn đã dạy cho chúng ta rằng, sức mạnh lớn nhất của một dân tộc không nằm ở vũ khí tối tân mà nằm ở lòng dân và sự đoàn kết. Ông là hiện thân của trí tuệ, lòng dũng cảm và đức độ của con người Việt NamKể lại câu chuyện về Trần Quốc Tuấn, chúng ta không chỉ ôn lại một trang sử vàng mà còn tự nhắc nhở bản thân về trách nhiệm với quê hương. Tấm gương của ông nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay phải biết sống vì cái chung, biết đặt lợi ích của cộng đồng, của đất nước lên trên cái tôi cá nhân. Dù thời gian có trôi qua hàng thế kỷ, hình ảnh vị chủ soái uy nghiêm trên bến sông Bạch Đằng và tấm lòng bao dung của ông vẫn sẽ mãi là ngọn đuốc soi đường cho các thế hệ con cháu trên hành trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã trở thành "Đức Thánh Trần" trong lòng nhân dân. Sự nghiệp và nhân cách của ông chính là bài văn hào hùng nhất, đẹp đẽ nhất về lòng yêu nước mà mỗi người Việt Nam đều khắc cốt ghi tâm.
Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, Trần Hưng Đạo là vị anh hùng kiệt xuất gắn liền với ba lần kháng chiến chống quân Nguyên – Mông. Trong đó, sự kiện khiến tôi ấn tượng sâu sắc nhất là chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 – trận quyết chiến chiến lược đã chấm dứt hoàn toàn mộng xâm lược của kẻ thù.
Khi tìm hiểu về sự kiện này, tôi như được sống lại trong những ngày tháng hào hùng ấy. Năm 1288, quân Nguyên do Ô Mã Nhi chỉ huy tiến vào nước ta lần thứ ba. Trước thế giặc mạnh và hung hãn, Trần Hưng Đạo đã cùng triều đình nhà Trần thực hiện kế “vườn không nhà trống”, chủ động rút lui để bảo toàn lực lượng. Tôi hình dung khắp các làng quê, nhà cửa vắng lặng, lương thực được cất giấu, thuyền bè rời bến. Không khí căng thẳng bao trùm, nhưng ẩn sau đó là sự quyết tâm và đồng lòng của cả dân tộc.
Sau nhiều tháng sa lầy vì thiếu lương thực, quân Nguyên buộc phải rút lui theo đường sông Bạch Đằng. Nắm rõ quy luật thủy triều nơi đây, Trần Hưng Đạo đã cho quân dân đóng những cọc gỗ lớn, đầu bịt sắt nhọn xuống lòng sông. Tôi tưởng tượng cảnh hàng nghìn cọc gỗ được vạt nhọn, bí mật cắm xuống bùn sâu khi nước triều dâng cao. Hai bên bờ sông, lau sậy um tùm che khuất quân mai phục. Tất cả được chuẩn bị kĩ lưỡng, chờ đúng thời cơ.
Ngày quyết chiến đã đến. Khi nước triều lên, thuyền giặc hùng hổ tiến vào cửa sông. Theo kế hoạch, quân ta dùng thuyền nhẹ ra khiêu chiến rồi giả vờ thua chạy, nhử địch tiến sâu vào trận địa. Tôi như nghe thấy tiếng sóng vỗ mạn thuyền, tiếng quân lính hò reo giữa khói lửa mịt mù. Đến khi thủy triều rút, những hàng cọc nhọn dần lộ ra, đâm thủng đáy thuyền giặc. Thuyền chiến của quân Nguyên mắc kẹt, nghiêng ngả giữa dòng nước đang rút mạnh. Từ hai bên bờ, quân ta đồng loạt xông ra tấn công. Tiếng trống trận vang dội, giáo mác sáng loáng dưới ánh chiều. Quân giặc hoảng loạn, nhiều tướng lĩnh bị bắt sống. Trận Bạch Đằng kết thúc với thắng lợi vang dội thuộc về quân dân Đại Việt.
Khi khép lại những trang sử ấy, tôi không khỏi xúc động và tự hào. Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 không chỉ thể hiện tài thao lược xuất chúng của Trần Hưng Đạo mà còn là biểu tượng cho tinh thần đoàn kết và ý chí quật cường của dân tộc ta. Sự kiện lịch sử ấy mãi là niềm tự hào, nhắc nhở tôi phải biết trân trọng hòa bình và cố gắng học tập để xứng đáng với thế hệ cha ông.
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, Trần Hưng Đạo là một vị anh hùng kiệt xuất. Sự kiện khiến em ấn tượng nhất là chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông lần thứ ba. Khi quân Nguyên kéo sang xâm lược nước ta, chúng rất đông và hung hãn. Trước tình hình nguy cấp, Trần Hưng Đạo đã bình tĩnh chỉ huy quân dân ta chuẩn bị kế hoạch chống giặc. Ông cho quân đóng cọc gỗ lớn xuống lòng sông Bạch Đằng, lợi dụng thủy triều lên xuống để đánh địch. Khi nước triều dâng cao, quân ta nhử địch tiến sâu vào bãi cọc. Đến lúc thủy triều rút, thuyền giặc mắc cạn, va phải cọc nhọn và rơi vào thế bị động. Ngay lúc đó, quân ta từ hai bên bờ sông và phía sau đồng loạt tấn công. Quân Nguyên hoảng loạn, nhiều chiến thuyền bị phá hủy, tướng giặc bị tiêu diệt. Trận chiến kết thúc với thắng lợi vẻ vang thuộc về dân tộc ta. Chiến thắng Bạch Đằng không chỉ thể hiện tài cầm quân xuất sắc của Trần Hưng Đạo mà còn cho thấy tinh thần đoàn kết và lòng yêu nước mạnh mẽ của nhân dân ta. Nhờ có những vị anh hùng như ông, đất nước ta mới giữ vững được độc lập. Qua sự kiện này, em càng thêm tự hào về truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc và tự nhủ sẽ cố gắng học tập thật tốt để xứng đáng với thế hệ cha ông đi trước.
Dưới đây là bài văn mẫu kể về một sự việc liên quan đến một nhân vật lịch sử của nước ta: --- Kể lại sự việc vua Quang Trung đại phá quân Thanh Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, em vô cùng khâm phục người anh hùng áo vải Quang Trung – vị vua tài giỏi, mưu lược hơn người. Sự việc khiến em ấn tượng nhất là chiến thắng vang dội của ông trước quân Thanh vào mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Khi nghe tin quân Thanh kéo vào xâm lược nước ta, chiếm đóng Thăng Long và gây nhiều tội ác với nhân dân, Nguyễn Huệ đã vô cùng tức giận. Ông nhanh chóng lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung, rồi lập tức chỉ huy đại quân tiến ra Bắc. Trước khi xuất quân, ông đã làm lễ tuyên thệ, khích lệ tinh thần binh sĩ, quyết tâm đánh đuổi giặc ngoại xâm. Chỉ trong thời gian ngắn, quân Tây Sơn hành quân thần tốc ra Bắc Hà. Đêm ba mươi Tết, khi quân Thanh còn đang chủ quan ăn mừng năm mới, quân ta bất ngờ tấn công. Các trận đánh lớn diễn ra ở Hà Hồi, Ngọc Hồi và Đống Đa. Đặc biệt, trong trận Ngọc Hồi, Quang Trung cho quân dùng những tấm khiên lớn bọc rơm ướt để chống lại hỏa lực của địch, rồi xông lên đánh giáp lá cà. Quân Thanh hoảng loạn, bỏ chạy tán loạn. Chỉ trong vòng năm ngày đêm, quân ta đã quét sạch 29 vạn quân Thanh ra khỏi bờ cõi. Chiến thắng mùa xuân năm ấy đã đi vào lịch sử dân tộc như một bản anh hùng ca chói lọi. Nó thể hiện tài chỉ huy kiệt xuất và lòng yêu nước nồng nàn của vua Quang Trung. Sự việc ấy giúp em hiểu rằng dân tộc Việt Nam tuy nhỏ bé nhưng luôn có những con người anh dũng, sẵn sàng đứng lên bảo vệ Tổ quốc. Em cảm thấy tự hào và biết ơn những vị anh hùng đã hi sinh vì độc lập, tự do của đất nước.
Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước , dân tộc ta đã sinh ra biết bao anh hùng hào kiệt trong đó , em đặc biệt ngưỡng mộ ngô Quyền với chiến chiến thắng lẫn lừng trên sông Bạch đằng năm 938, sự kiện đã chấm dứt hơn ngàn năm Bắc thuộc .
Năm 938, sau khi diệt trừ phản thần kiểu công tiễn , ngô Quyền chuẩn bị lực lượng để đối phó với quân Nam hán do lưu hoằng tháo chỉ huy đang kéo sang xâm lược nước ta . Với sự thông minh và tài trí tuyệt vời , ông đã quan sát con nước thủy triều trên sông Bạch đằng và lấy ra một kế hoạch độc đáo đáng muốn những chiếc cọc gỗ nhọn xuống đáy sông tại những vị trí hiểm yếu . Khi thủy triều lên , những chiếc cọc hoàn toàn bị che khuất . Ngô Quyền cho quân dùng thuyền nhẹ ra khiêu chiến rồi giả vờ thua chạy để dụ địch tiến sâu vào bãi cọc. Hoằng Tháo huênh hoang đuổi theo mà không hề biết hiểm họa đang chờ sẵn . Khi thủy triều bắt đầu rút mạnh , Ngô Quyền tổng tấn công . Những chiếc thuyền khổng lồ của giặc bị cọc nhọn đâm thủng , kẹt lại và vỡ tan tành . Quân ta thừa thắng xông lên đánh tan tác quân giặc khiến Lưu Hoằng Tháo bỏ mạng tại trận.
Câu chuyện về ngô Quyền và bãi cọc sông Bạch đằng luôn nhắc nhở em về lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc .
Bài Làm
Để đất nước có được hòa bình như ngày hôm nay, các anh hùng đã hy sinh xương máu của mình , ngã xuống để bảo vệ tổ quốc , tự do cho dân tộc . Người có một tấm lòng nhân hậu , ấm áp đã hy sinh cho tổ quốc đó chính là anh Kim Đồng. Kim Đồng là một tấm gương sáng trong tất cả các anh hùng.
Kim Đồng tên thật là : Nông Văn Dền , Sinh năm ( 1929) . Anh là người dân tộc Tày , cha mất sớm và anh sống cùng mẹ ., một người phụ nữ đảm đang không bao giờ bị ốm yếu . Anh sống trong cảnh đất nước bị xâm lược từ nhỏ . Nên kim Đồng đã dũng cảm , quyết đoán , mạnh mẽ và anh có một tấm lòng yêu nước , căm thù giặc . Tuy tuổi anh vẫn còn nhỏ nhưng anh anh hăng hái , quyết tâm , luôn làm nhiệm vụ giáo liên đưa đón Việt Minh và chuyển thư từ . Kim Đồng được bầu làm đại đội trưởng đầu tiên của đội ngũ đồng cứu quốc . Anh không ngại khó khăn , thử thách , nguy hiểm luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao . Trong một lần làm nhiệm vụ được giao anh không may bị giặc Pháp bắn , và anh đã hy sinh . Khi ấy Kim Đồng đã hy sinh lúc anh tròn 14 tuổi , từ đó chúng ta có thể hiểu được tình yêu to lớn của Kim Đồng dành cho quê hương , đất nước sâu sắc đến nhường nào . Anh là biểu tượng sáng của đất nước , ạ anh đã rất dũng cảm đi cứu đất nước của mình thoát khỏi giặc Pháp mặc dù anh rất còn nhỏ và chỉ có 14 tuổi . Sau này đã có rất nhiều bài thơ , bài hát được sáng tác nên để ghi nhớ công lao to lớn của Kim Đồng vì sự cống hiến hết mình cho đất nước , hy sinh mình để bảo vệ quê hương tươi đẹp mình.
Hình ảnh anh Kim Đồng sẽ luôn nhớ mãi trong tâm trí của nhân dân ta , anh mãi luôn là tấm gương cho thành thiếu niên Việt Nam về tinh thần yếu nước mãnh liệt của anh và tinh thần yêu nước sâu sắc , Sự thông minh gan dạ không sợ nguy hiểm của anh với Tổ Quốc.
Bài làm
Trong những năm tháng chiến tranh, rất nhiều người con của mảnh đất Việt đã hy sinh để bảo vệ và đấu tranh cho nền độc lập của dân tộc một trong số đó là Võ Thị sáu như anh hùng huyền thoại vùng đất đỏ
Võ Thị sáu sinh năm 1933 mất năm 1952 nguyên quán được ghi trên bia mộ chỉ ghi tại huyện đất đỏ tỉnh bà Rịa vũng tàu ngay từ khi còn nhỏ chị đã cùng với anh trai tham gia cách mạng chị tham gia vào đội công an xung phong hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ liên lạc tiếp tế trong thời gian này trị tham gia nhiều trận chiến đấu để bảo vệ quê hương không chỉ vậy chị cũng nhiều lần phát hiện ra gian tế tay sai pháp giúp đỡ đội công an thoát khỏi nguy hiểm chủ động tấn công địch một lần nọ chị nhận nhiệm vụ mang lựu đạn phục kích tên Cai Tòng một tên Việt gian bán nước ngay tại xã nhà lựu đạn nổ tên tòng bị thương nặng nhưng không chết Tuy nhiên vụ tấn công khiến bọn đồn khiếp vía không dám truy lùng Việt Minh ráo riết như trước sau này trong một lần làm nhiệm vụ chị đã bị giặc bắt sau khi bị bắt cô lần lượt bị đưa đi thẩm vấn và giam giữ tại các nhà tù đất đỏ khám đường bà Rịa và khám Chí Hòa thực dân Pháp đã cho mở phiên tòa thời điểm này chị vẫn chưa tròn 18 tuổi Luật sư biện hộ đã lấy đó làm căn cứ để giúp chị thoát khỏi án tử hình nhưng tòa án vẫn tuyên án tử hình cho chị trúng chuyện chị cùng một số người tù cách mạng ra nhà tù côn đảo . Ở đây thực dân Pháp đã lén lút đưa chị đi tử hình
Vào năm 1993, nhà nước đã trân trọng chi tặng chị huân chương chiến công hạng nhất và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang .Chị Võ Thị sáu chính là một biểu tượng về lòng dũng cảm, kiên cường
Bác Hồ là người cha già vĩ đại và đáng kính của cả dân tộc Việt Nam. Có rất nhiều những câu chuyện, sự kiện ý nghĩa về Bác được truyền tụng. Đặc biệt là những câu chuyện về Bác và thiếu nhi. Trong đó, câu chuyện được nhiều bạn nhỏ biết đến nhất, chính là câu chuyện về Bác Hồ và chiếc rễ đa tròn. Chuyện xảy ra ở khu vườn trong ngôi nhà sàn mà Bác sinh sống. Một đêm nọ, trời có mưa bão lớn, khiến cây đa già sau Bác bị gãy rơi rất nhiều đoạn rễ. Sáng hôm sau, lúc đi tập thể dục, Bác đã nhặt được các đoạn rễ đó. Trong số đó, có một nhánh rễ khác dài, bác tần ngần một chút, liền nghĩ ra ý kiến hay. Thế là Bác bèn gọi một chú cần vụ đang ở gần đó lại, nhờ chú trồng chiếc rễ đa này xuống phần đất trống ở góc vườn. Bác dặn anh cần vụ là trồng chiếc rễ thành hình tròn, nhưng anh vẫn không hiểu lắm. Nhìn chiếc rễ đã được cuộn lại trên tay, anh nghi hoặc hỏi lại Bác cách trồng. Thế là, Bác liền chỉ anh từng bước một. Đầu tiên là tìm hai chiếc cọc gỗ nhỏ, rồi đào hai cái lỗ để vùi rễ xuống. Hai cái lỗ đó cách nhau vừa bằng đúng đường kính của vòng rễ tròn vừa cuộn. Sau đó, vùi hai đầu của vòng rễ tròn xuống, và cố định thân vòng rễ vào hai chiếc cọc. Nhờ vậy, vòng rễ tròn được cố định đứng thẳng trên mặt đất. Chú cần vụ cứ thắc mắc mãi, vì sao lại phải trồng cầu kì như thế, dù sao rễ đa rất khỏe, cứ vùi xuống là sẽ mọc thành cây thôi mà. Nhưng Bác Hồ không giải thích gì, chỉ mỉm cười hiền từ nói rằng sau này anh sẽ hiểu. Rất nhiều năm sau, rễ đa nhỏ bé ngày nào đã lớn lên thành một cây đa cuộn tròn lại như cái cổng xinh xắn. Trẻ em đến thăm vườn Bác, bạn nào cũng thích thú lắm. Rủ nhau làm đoàn tau chạy qua chạy lai gốc cây vui vô cùng. Từ câu chuyện ấy, em càng thêm thán phục sự thông minh, sáng tạo của Bác Hồ. Nhưng hơn cả là tình yêu thương, quý mến của Bác dành cho các em thiếu nhi. Tình cảm ấy thật ấm áp và thiêng liêng biết bao nhiêu
Bác Hồ là vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Người không chỉ tìm ra con đường cứu nước cũng như lãnh đạo nhân dân đấu tranh để giành lại độc lập cho đất nước.
Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam mới.
Sự ra đời của bản Tuyên ngôn Độc lập có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Mốc thời gian đầu tiên phải kể đến là vào ngày 4 tháng 5 năm 1945, Bác Hồ rời Pác Bó về Tân Trào. Giữa tháng năm, Người đã yêu cầu trung úy Giôn, báo vụ của OSS (Cơ quan phục vụ chiến lược Mỹ) điện về Côn Minh, đề nghị thả dù cho Người cuốn Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kì.
Đến ngày 22 tháng 8 năm 1945, Bác rời Tân Trào về Hà Nội. Tối 25 tháng 8 năm 1945, Người vào nội thành, ở tầng 2 tại căn nhà số 48 Hàng Ngang. Sáng 26 tháng 8 năm 1945, Bác đã cho triệu tập một cuộc họp Thường vụ Trung ương Đảng, để bàn về các vấn đề như chủ trương đối nội, đối ngoại trong tình hình mới; công bố danh sách các thành viên Chính phủ lâm thời; chuẩn bị ra Tuyên ngôn Độc lập, tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để Chính phủ lâm thời ra mắt toàn thể nhân dân.
Vào ngày 27 tháng 8 năm 1945, Người tiếp các bộ trưởng mới tham gia Chính phủ đưa ra đề nghị Chính phủ ra mắt quốc dân, đọc Tuyên ngôn Độc lập mà Người đã chuẩn bị. Bác đưa ra bản thảo và đề nghị các thành viên phải xét duyệt kĩ vì không chỉ đọc cho đồng bào cả nước nghe mà còn độc cho Chính phủ Pháp và nhân dân Pháp, các nước đồng minh nghe.
Trong hai ngày 28 và 29 tháng 8 năm 1945, Bác đến làm việc tại 12 Ngô Quyền (trụ sở chính của Chính phủ lâm thời) và dành phần lớn thời gian để soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Buổi tối tại căn nhà số 48 Hàng Ngang, Bác đã tự đánh máy bản Tuyên ngôn Độc lập trên một cái bàn tròn.
Vào ngày 30 tháng 8 năm 1945, Bác cho mời các đồng chí đến để trao đổi, đóng góp ý kiến cho bản Tuyên ngôn độc lập. Bác đọc cho mọi người nghe, hỏi ý kiến của từng người. Đến ngày 31 tháng 8, Bác đã bổ sung một số ý vào bản Tuyên ngôn. Bản Tuyên ngôn Độc lập chính thức được hoàn thiện.
Đúng 14 giờ ngày mùng 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Có thể khẳng định rằng, Tuyên ngôn Độc lập là văn kiện lịch sử tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới về việc chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở nước ta, đánh dấu kỉ nguyên độc lập, tự do của nước Việt Nam mới. Quá trình viết Tuyên ngôn Độc lập đã cho thấy sự chuẩn bị kĩ lưỡng cũng như trí tuệ và tầm nhìn của một vị lãnh tụ - Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Từ thuở còn thơ bé, ta đã được nghe bao câu chuyện kể của bà, của mẹ về lịch sử hào hùng, về những truyền thuyết ly kỳ. Và có lẽ ai khi ấy cũng mang trong mình niềm tự hào và ngưỡng mộ những vị anh hùng trong truyền thuyết của dân tộc. Thánh Gióng là một vị anh hùng oai phong như thế. Đời Hùng Vương thứ sáu, ở láng Gióng, có hai vợ chồng nông dân, vừa chăm chỉ làm ăn lại có tiếng phúc đức nhưng đến lúc sắp về già mà vẫn chứa có lấy một mụn con. Một ngày kia, bà vợ ra đồng, thấy một vết chân to, bèn đặt chân mình vào ướm thử. Về nhà bà liền mang thai, nhưng mười hai tháng mới sinh ra một cậu bé mặt mũi khôi ngô, đặt tên là Gióng. Điều kỳ lạ nữa là Gióng lên ba tuổi vẫn chẳng biết nói, chẳng biết cười, đặt đâu nằm đó, hai vợ chồng vừa buồn vừa lo lắng. Thuở ấy, giặc Ân đem quân sang xâm lược bờ cõi nước ta, gây nên bao nhiêu tội ác, dân chúng vô cùng lầm than, khổ sở. Xét thấy thế giặc mạnh, nhà vua bèn sai người đi khắp cả nước tìm người hiền tài cứu nước. Sứ giả đi đến mọi nơi, đi qua cả làng của Gióng. Nghe tiếng rao “Ai có tài, có sức xin hãy ra giúp vua cứu nước”, Gióng đang nằm trên giường bỗng cất tiếng nói đầu tiên: - Mẹ ơi! Mẹ ra mời sứ giả vào đây cho con. Thấy vậy, bà mẹ rất bất ngờ vui mừng, vội đi ra mời sứ giả vào nhà. Gióng yêu cầu sứ giả về tâu với vua, chuẩn bị đầy đủ ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt để cậu đi đánh giặc. Kỳ lạ hơn, sau khi sứ giả trở về, Gióng ăn rất khỏe và lớn nhanh như thổi. Cơm ăn bao nhiêu cũng không no, áo vừa mặc xong đã sứt chỉ. Mẹ cậu nuôi không đủ đành nhờ đến hàng xóm láng giềng. Bà con biết chuyện nên cũng rất phấn khởi, ngày đêm tấp nập nấu cơm, đội cà, may vá cho cậu rất chu đáo. Ai cũng hy vọng Gióng sớm ngày ra giết giặc giúp nước, trừ họa cho dân. Ngày ấy, giặc vừa đến sát chân núi Trâu thì sứ giả cũng kịp mang vũ khí tới. Gióng bèn vươn vai đứng dậy, lập tức trở thành một tráng sĩ, khoác áo giáp, cầm roi sắt, chào mẹ và dân làng rồi nhảy lên ngựa. Cả người cả ngựa lao vun vút ra trận. Trên chiến trường, Gióng tung hoành ngang dọc, tả đột hữu xung, giặc chết dưới tay như ngả rạ. Bỗng gậy sắt gãy, Gióng nhanh như chớp nhổ tre bên đường làm vũ khí mới. Giặc sợ hãi chạy trốn, dẫm đạp lên nhau mà chết. Khi trời đất đã sạch bóng giặc, Gióng phi ngựa bay về núi Sóc, cởi bỏ áo giáp sắt, vái tạ mẹ rồi bay về trời. Vua phong hiệu cho cậu là Thánh Gióng, nhân dân lập đền thờ phụng, ghi nhớ công ơn. Nhiều đời sau người ta còn kể, khi ngựa sắt thét ra lửa, lửa đã thiêu trụi một làng. Đến nay làng ấy gọi là làng Gióng. Những vết chân ngựa in xuống ngày xưa nay đã thành những ao hồ to nhỏ nối tiếp nhau, là di tích minh chứng cho chiến công oanh liệt của Thánh Gióng.
Trong dòng chảy lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã sản sinh ra biết bao anh hùng hào kiệt. Nhưng có lẽ, người khiến em ấn tượng nhất chính là Ngô Quyền - vị "vua của các vị vua" người đã mở ra thời kỳ độc lập thực sự cho đất nước qua trận chiến Bạch Đằng lừng lẫy năm 938. Bối cảnh lúc bấy giờ vô cùng ngặt nghèo khi quân Nam Hán mượn cớ sang xâm lược nước ta. Ngô Quyền, một vị tướng tài ba, đã nhanh chóng tập hợp quân sĩ, lãnh đạo nhân dân đánh bại quân xâm lược, chấm dứt hơn nghìn năm Bắc thuộc. Sự việc diễn ra vô cùng kịch tính và thể hiện rõ trí tuệ của Ngô Quyền. Khi quân Nam Hán do Lưu Hoằng Tháo cầm đầu hùng hổ tiến vào nước ta qua đường biển, Ngô Quyền đã nhận định rằng quân địch tuy mạnh nhưng chủ quan. Ông không chọn cách đánh trực diện mà quyết định bày một trận địa mai phục hiểm hóc trên sông Bạch Đằng. Ông huy động người dân chặt hàng nghìn cây gỗ nhọn, vót nhọn, bịt sắt rồi cắm xuống lòng sông nơi cửa biển. Khi thủy triều dâng cao, bãi cọc nhọn bị che lấp hoàn toàn, tạo thành một "trận địa ngầm" chết người. Sự việc then chốt diễn ra vào một buổi sáng, khi thủy triều rút, Ngô Quyền sai thuyền nhỏ ra khiêu chiến, giả vờ thua chạy. Tướng giặc là Lưu Hoằng Tháo trúng kế, thúc quân đuổi theo, vượt qua bãi cọc mà không hề hay biết. Khi thuyền địch đã lọt sâu vào trận địa, thủy triều cũng rút xuống, Ngô Quyền hạ lệnh cho quân ta từ hai bên bờ cùng thuyền chiến đồng loạt tấn công. Quân địch hỗn loạn, thuyền lớn bị vướng vào bãi cọc nhọn, vỡ tan tành và chìm nghỉm. Lưu Hoằng Tháo tử trận, quân Nam Hán đại bại, tan tác tháo chạy. Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 không chỉ là một chiến công quân sự vĩ đại mà còn khẳng định tài thao lược tuyệt vời của Ngô Quyền. Trận chiến ấy đã chấm dứt hoàn toàn sự đô hộ của các triều đại phương Bắc, mở ra thời kỳ độc lập tự chủ lâu dài cho nước Việt. Câu chuyện về Ngô Quyền và trận Bạch Đằng mãi là niềm tự hào to lớn của dân tộc, nhắc nhở thế hệ trẻ về truyền thống yêu nước và lòng dũng cảm.
Vô Lý Thái Tổ ( Lý Công uẩn ) Lý Công uẩn người làng cổ Pháp thuộc Đông Ngạn, phủ từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Hiện nay ở làng Đình bảng vẫn còn có lăng và đền thờ các vua nhà Lý. Tục truyền rằng Công uẩn không có cha, mẹ là Phạm Thị đi chơi chùa Tiên Sơn ( làng tiên sơn, phủ từ Sơn ), đêm về nằm mộng thấy "đi lại" với thần nhân, rồi có thai đẻ ra đứa con trai. Lên ba tuổi, đứa bé càng khôi ngô tuấn tú, gia đình đem cho nhà sư ở chùa cổ Pháp tên là Lý Khánh Văn làm con nuôi. Lý Công uẩn được học hành chữ Nho, kinh Phật và võ nghệ từ nhỏ, lớn lên dưới mái chùa, trở thành một tài trai văn võ siêu quần. Ngoài 20 tuổi, Lý Công uẩn đã làm võ tướng dưới triều vua Lê Đại Hành, từng lập công to trong trận Chi Lăng ( 981 ) đại phá quân Tống xâm lược, chém đầu tướng giặc Hầu Nhân Bảo. Về sau, ông giữ chức tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ, nắm trong tay toàn bộ binh quyền. Đức trọng tài cao, ông được quần thần và tướng Sĩ rất kính phục. Năm 1005, Lê Đại hành băng Hà. Ngôi vua được truyền cho Lê Long Việt. Chỉ ba ngày sau, Lê Long đĩnh giết anh, giành lấy ngai vàng. Lê Long đĩnh là một tên vua vô cùng bạo ngược khác nào Kiệt, Trụ ngày xưa. Hắn hoang dâm vô độ, nên mắc bệnh không ngồi được, đến buổi chầu thì cứ nằm mà thị triều, cho nên tục gọi là vua Ngoạ Triều. Cuối năm 1009, Lê Ngoạ Triều chết. Năm đó, Lý Công uẩn đã 35 tuổi. Bấy giờ lòng người đã oán hận nhà Tiền Lê lắm rồi, quân thần và tầng lớp tăng lữ suy tôn ông lên ngôi báu, mở đầu triều đại nhà Lý ( 1010-1225 ). Lý Công uẩn lên ngôi hoàng đế vào đầu xuân 1010, tức là vua Lý Thái tổ nhà Lý. Nhà vua trị vì được 19 năm, thọ 55 tuổi, băng hà năm 1028.
Trong những trang sử vàng chống ngoại xâm của dân tộc, cuộc khởi nghĩa Yên Thế(Bắc Giang) do Hoàng Hoa Thám(để thám) lãnh đạo là 1 điểm Phong chói loi. Sự việc trở lại chiến thắng tại đồn hoàng và năm 1892 là minh chứng rõ nét cho tài thao lược và Ý Kiến Cường của hùng “Xám Yên Thế”.
Vào thời điểm đó, thực dân Pháp đẩy mạnh đánh phá, quyết tâm dập tắt phong trào Yên Thế. Đồn Hom là 1 điểm quan trọng, quân pháp liên tục tăng cường hỏa lực, tổ chức nhiều cuộc càn quét nhằm vào căn cứ của đề Thám. Đứng trước tình thế nguy cấp, Hoàng Hoa Thám không trọn cách đối đầu trực diện hỏa lực mạnh, mà phát huy tinh thần du kích “dựa vào dân, dựa vào địa hình hiểm trở”.
Sự việc diễn ra đề Thám nắm bắt được thông tin quân pháp sắp tổ chức 1 chuyến tiếp tế quy mô lớn đến hom. Ông ngay lập tức bố trí nghĩa quân mai phục tại các điểm cao, những đoạn đường hẹp, hiểm trở mà quân pháp bắt buộc phải đi qua, nghĩa quân Yên Thế được trang bị thô sơ nhưng am hiểu địa hình, kiên nhẫn chờ đợi.
Khi cánh quân pháp lọt vào trận địa mai phục, tiếng súng hiệu của đề Thám vang lên. Từ mọi phía, nghĩa quân bất ngờ xông ra, tấn công dữ dội. Quân pháp bất ngờ, hoảng loạn, không thể triển khai hỏa lực. Trận đánh diễn ra chớp nhoáng, quân ta giành thế chủ động. Chấm kết quả, hom bị tiêu diệt, nhiều vũ khí địch bị tịch thu, quân pháp thiệt hại nặng nề.
Chiến thắng đòn không chỉ làm suy yếu quân địch mà còn củng cố niềm tin cho nhân dân, khẳng định bản lĩnh của Hoàng Hoa Thám. Nó cho thấy, dù kẻ thù mạnh về vũ khí, nhưng bằng lòng yêu nước và chiến thuật thông minh, người dân Yên Thế vẫn có thể bảo vệ đất nước.
Câu chuyện về Hoàng Hoa Thám tại đồn luôn là niềm tự hào của người dân Yên Thế nói riêng và cả nước nói chung thể hiện tinh thần “thà Vynh còn hơn sống nhục”
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, Trần Hưng Đạo là một vị anh hùng tiêu biểu mà em vô cùng kính phục. Ông tên thật là Trần Quốc Tuấn, là vị tướng tài ba thời nhà Trần. Khi quân Nguyên Mông hùng mạnh tràn sang xâm lược nước ta, ông đã được vua tin tưởng giao trọng trách chỉ huy quân đội chống giặc.Trước tình thế nguy cấp của đất nước, Trần Hưng Đạo đã khích lệ tinh thần binh sĩ bằng “Hịch tướng sĩ”, kêu gọi mọi người đoàn kết, quyết tâm bảo vệ Tổ quốc. Đỉnh cao của tài thao lược là chiến thắng Bạch Đằng năm 1288. Ông cho đóng cọc gỗ nhọn dưới lòng sông, lợi dụng thủy triều để đánh tan đoàn thuyền chiến của giặc. Trận chiến ấy đã làm quân xâm lược thất bại nặng nề và phải rút về nước.Nhờ tài trí và lòng yêu nước của Trần Hưng Đạo, dân tộc ta đã giữ vững được độc lập. Ông mãi là tấm gương sáng về lòng dũng cảm, ý chí kiên cường và tinh thần yêu nước để thế hệ sau noi theo.
Đất nước Việt Nam đã trải qua biết bao cuộc kháng chiến trường kỳ, nơi những người anh hùng đã ngã xuống vì độc lập dân tộc. Trong số đó, hình ảnh anh Kim Đồng, người đội trưởng đầu tiên của Đội Nhi đồng Cứu quốc, luôn là tấm gương sáng ngời về lòng dũng cảm cho thế hệ trẻ. Anh Kim Đồng tên thật là Nông Văn Dền, người dân tộc Tày ở tỉnh Cao Bằng. Sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, ngay từ nhỏ anh đã sớm giác ngộ cách mạng và hăng hái tham gia làm nhiệm vụ giao liên, bảo vệ cán bộ. Sự việc đáng nhớ nhất về sự hy sinh anh dũng của anh diễn ra vào một ngày đầu năm 1943. Khi đó, Kim Đồng đang cùng các bạn làm nhiệm vụ canh gác cho một cuộc họp bí mật của cán bộ Việt Minh. Bất ngờ, quân Pháp kéo đến bao vây khu vực. Trước tình thế nguy cấp, để đánh lạc hướng kẻ thù và bảo vệ an toàn cho các cán bộ, Kim Đồng đã nhanh trí chạy ra một hướng khác rồi cố tình tạo ra tiếng động để thu hút sự chú ý của quân giặc. Bọn giặc đuổi theo và nổ súng. Kim Đồng bị thương nặng nhưng vẫn cố gắng chạy xa khỏi khu vực họp để các cán bộ kịp thời rút lui an toàn. Cuối cùng, anh đã anh dũng hy sinh ngay bên bờ suối Lê-nin khi mới chỉ vừa tròn 14 tuổi. Sự hy sinh của anh Kim Đồng là một minh chứng hùng hồn cho tinh thần "yêu nước không đợi tuổi". Hình ảnh người thiếu niên dũng cảm ấy sẽ mãi mãi khắc sâu trong tâm trí mỗi người dân Việt Nam, nhắc nhở chúng ta về trách nhiệm bảo vệ và xây dựng Tổ quốc hôm nay.
Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm hào hùng của dân tộc Việt Nam, em đặc biệt ấn tượng và kính phục người anh hùng thiếu niên Trần Quốc Toản. Ông là một tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước và ý chí quật cường. Sự việc mà em nhớ mãi là khi quân Mông - Nguyên chuẩn bị xâm lược nước ta lần thứ hai vào năm 1285. Vua Trần triệu tập các vương hầu, quan lại về Bình Than để bàn kế sách đánh giặc. Trần Quốc Toản khi đó còn nhỏ tuổi, nhưng cũng muốn tham gia bàn việc nước. Tuy nhiên, vì chưa đến tuổi dự họp, ông bị lính canh ngăn lại. Quá bức xúc và tức giận vì không được đóng góp sức mình, Trần Quốc Toản đã vô tình bóp nát quả cam trong tay mà không hay biết. Hành động đó thể hiện sự căm thù giặc sâu sắc và khát khao được đánh giặc, bảo vệ quê hương cháy bỏng của người thiếu niên trẻ tuổi. Không nản lòng, sau đó, Trần Quốc Toản lui về, tự mình huy động hơn nghìn gia nô và thân thuộc, sắm sửa vũ khí, đóng chiến thuyền. Ông còn cẩn thận viết lên lá cờ của mình sáu chữ vàng: "Phá cường địch, báo hoàng ân" (Phá giặc mạnh, đền ơn vua). Tiếng tăm của ông và lá cờ thêu sáu chữ vàng nhanh chóng lan truyền khắp nơi, khích lệ tinh thần chiến đấu của quân dân ta.
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có rất nhiều nhân vật anh hùng đã góp công lớn bảo vệ đất nước. Trong đó, em rất ấn tượng với câu chuyện về Trần Quốc Toản – một thiếu niên anh hùng thời nhà Trần. Năm 1282, khi triều đình nhà Trần tổ chức hội nghị để bàn việc chống giặc Nguyên Mông, Trần Quốc Toản lúc đó còn rất trẻ nên không được tham dự. Vì quá yêu nước và muốn góp sức đánh giặc, cậu rất tức giận và bóp nát quả cam đang cầm trong tay. Sau đó, Trần Quốc Toản đã tự tập hợp quân lính, may lá cờ thêu sáu chữ vàng: “Phá cường địch, báo hoàng ân”, nghĩa là đánh tan giặc mạnh để đền ơn vua. Cậu cùng nghĩa quân tham gia chiến đấu rất dũng cảm trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên. Câu chuyện về Trần Quốc Toản cho thấy tinh thần yêu nước mãnh liệt của một người trẻ tuổi. Dù còn nhỏ nhưng cậu đã có ý chí và lòng quyết tâm bảo vệ đất nước. Câu chuyện ấy khiến em vô cùng khâm phục và tự nhắc mình phải cố gắng học tập thật tốt để góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh.
Hai Bà Trưng là hai vị nữ anh hùng nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam. Hai bà tên là Trưng Trắc và Trưng Nhị, quê ở Mê Linh. Khi đất nước ta bị nhà Hán đô hộ, nhân dân phải chịu nhiều áp bức và bất công. Trước tình cảnh đó, Hai Bà Trưng đã đứng lên kêu gọi nhân dân khởi nghĩa để giành lại độc lập cho đất nước.
Năm 40, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa. Nhân dân ở nhiều nơi đã hưởng ứng và tham gia rất đông. Nghĩa quân nhanh chóng đánh bại quân đô hộ và giành lại nhiều thành trì. Sau khi chiến thắng, Trưng Trắc lên làm vua để cai quản đất nước.
Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thể hiện lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm và ý chí mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam. Hai bà trở thành tấm gương sáng cho các thế hệ sau noi theo. Đến nay, nhân dân Việt Nam vẫn luôn kính trọng và tưởng nhớ công lao to lớn của Hai Bà Trưng. 🇻🇳✨
Đất nước ta có được hòa bình như hôm nay , không biết bao cha đã ngã xuống không tiếc máu xương để bảo vệ độc lập, tự do cho dân tộc . Anh kim đồng là một trong những tấm gương sáng.
Anh Kim Đồng là người dân tộc Tày anh sống cùng mẹ một người phụ nữ đảm đang Nhưng ốm yếu, sống trong cảnh đất nước bị xâm lược nên từ nhỏ Kim Đồng đã dũng cảm quyết đoán mạnh mẽ có tinh thần yêu nước căm thù giặc Tuy tuổi nhỏ anh rất hăng hái làm nhiệm vụ được giao đưa đón Việt Minh và chuyên vụ từ anh được bầu làm đại đội trưởng đầu tiên của Đội nhi đồng cứu quốc Anh không ngại khó khăn thử thách Nguy Hiểm Luôn luôn hoàn thành nhiệm vụ được giao trong một lần làm nhiệm vụ anh bị giặc bắn và hi sinh khi ấy anh mới chỉ 14 tuổi đã có rất nhiều bài thơ được sáng tác để ghi nhớ công ơn của anh
Hình ảnh anh Kim Đồng sẽ luôn Sáng Mãi là tấm gương cho thanh thiếu niên Việt Nam về tình tinh thần yêu nước sâu sắc nhờ sự thông minh gan dạ lòng dũng cảm Trung kiến với cả nước