Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Ngày nay, bài hát Tiến quân ca đã quá quen thuộc và gần gũi với tất cả mọi người dân Việt Nam vì đó là Quốc ca. Những bài hát đó đã ra đời như thế nào thì không phải ai cũng rõ. Tôi xin kể lại câu chuyện về sự kiện lịch sử.
Tuổi thanh niên là tuổi của ước mơ, của hoài bão khát vọng. Ấy vậy mà tôi lúc ấy không còn khát vọng, ước mơ của tuổi thanh niên, buồn chán và thất vọng bủa vây cuộc đời tôi. Đúng lúc tuyệt vọng nhất tôi gặp được Vũ Quý thông qua người bạn thân Ph.D. Khi gặp Vũ Quý tôi mong muốn được tham gia chiến khu cùng các anh em cầm súng giết giặc. Nhưng có lẽ Vũ Quý theo dõi sự nghiệp sáng tác nghệ thuật của tôi nên giao cho tôi sáng tác nghệ thuật để cổ vũ tinh thần cho quân đội cách mạng.
Khi bắt tay viết bài hát Tiến quân ca, tôi chưa được cầm một khẩu súng, chưa được gia nhập đội vũ trang nào; tôi chưa được ra chiến khu, và cũng chưa từng gặp chiến sĩ cách mạng trong khóa quân chính ấy. Nhưng tại căn gác nhỏ ở phố Nguyễn Thượng Hiền, tôi lại hình dung đó là chiến khu, là khu rừng nào đó trên Việt Bắc, và cứ thế lời ca ra đời, con chữ tự nhiên hiện ra dưới ngòi bút. Tại căn gác nhỏ đó Ph.D đã chứng kiến sự ra đời của Tiến quân ca, và Vũ Quý là người đầu tiên biết đến bài hát này.
Bài hát Tiến quân ca ra đời được chào đón rất nồng nhiệt. Bài hát được công bố lần đầu trong ngày 17-8-1945, khi diễn ra cuộc mít tinh của công chức Hà Nội. Tại đây bài hát Tiến quân ca được hàng ngàn người hoà nhịp cất cao tiếng hát trước Quảng trường Nhà hát Lớn. Tại buổi hôm đó bài hát đã nổ ra như một trái bom. Nước mắt tôi trào ra. Xung quanh tôi hang ngàn giọng hát cất vang theo những đoạn sôi nổi. Trong một lúc những tờ truyền đơn in Tiến quân ca được phát cho từng người trong hàng ngũ các công chức dự mít tinh. Lúc này anh bạn Ph.D của tôi đã buông lá cờ đỏ sao vàng trên kia xuống và cướp loa phóng thanh hát vang Tiến quân ca. Con người trầm lặng ấy đã có sức hát hấp dẫn hang vạn quần chúng ngày hôm đó, cũng là người hát trước quần chúng lần đầu tiên và cũng là một lần duy nhất. Lần thứ hai bài hát Tiến quân ca của tôi xuất hiện là trong cuộc mít tinh vào ngày 19-8, hàng ngàn người và các em thiếu nhi cùng cất lời ca, thét lên tiếng căm thù vào mặt bọn đế quốc với sự hào hùng chiến thắng của cách mạng.
Bài hát Tiến quân ca của tôi đã ra đời như thế đấy. Sau đó, bài hát được chọn làm Quốc ca Việt Nam cho đến ngày nay. Bài hát là niềm tự hào không phải của riêng tôi mà là của cả dân tộc Việt Nam.
Tháng tư vừa rồi, trường em có tổ chức một buổi tham quan nằm trong chuỗi hoạt động ngoại khóa của trường. Điểm đến lần này là Đền Hùng tại Việt Trì-Phú Thọ. Đây là nơi thờ phụng các đời Vua Hùng và tôn thất của nhà vua. Nơi đây gắn với Giỗ tổ Hùng Vương được tổ chức hàng năm vào ngày 10 tháng 3 Âm lịch. Đây là một dịp để thế hệ con cháu đến viếng đền, tưởng nhớ đến những người đã có công dựng nước.
Em đã được nghe nhiều câu chuyện về các Vua Hùng qua các sự tích nổi tiếng như Sự tích bánh chưng bánh dày, Sơn Tinh Thủy Tinh… và thấy được sự uy nghiêm và trí tuệ của các vị vua. Điều đó khiến tôi càng mong đợi chuyến đi này hơn.
Dưới chân núi là khung cảnh uy nghiêm, hùng vĩ của núi Nghĩa Lĩnh với rừng cây và sương mù bao phủ. Nơi thờ các vị vua được đặt trên núi với ba đền chính là đền Hạ, đền Trung và đền Thượng. Đền Hạ tương truyền là nơi mẹ Âu Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng. Trăm trứng ấy đẻ ra trăm người con, năm mươi người theo cha xuống biển, bốn chín người theo mẹ lên núi. Người con ở lại làm vua, lấy tên là Hùng Vương (thứ nhất). Đền Trung là nơi các vị vua họp bàn chính sự. Đền Thượng là lăng thờ Hùng Vương thứ sáu. Lễ hội đền Hùng được tổ chức hàng năm bao gồm những hoạt động văn hóa, văn nghệ mang tính chất nghi thức truyền thống và những hoạt động văn hóa dân gian khác… Các hoạt động văn hóa mang tính chất nghi thức còn lại đến ngày nay là lễ rước kiệu vua và lễ dâng hương. Dưới tán lá mát rượi của những cây trò, cây mỡ cổ thụ và âm vang trầm bổng của trống đồng, đám rước như một con rồng uốn lượn trên những bậc đá huyền thoại để tới đỉnh núi Thiêng.
Trước khi đi tham quan các đền, chúng tôi được làm lễ dâng hương và nghe diễn thuyết về các vị Vua Hùng. Không khí trang nghiêm, hào hùng ấy khiến tôi không khỏi tự hào về lịch sử dân tộc mình. Họ đã dựng nước, giữ nước để đời sau con cháu được hưởng thụ nền độc lập, hòa bình ấy. Và nay chúng em đến đây để thể hiện lòng biết ơn, sự tôn trọng của mình đối họ, thể hiện đúng truyền thống đạo lý “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Họ đã gây dựng nền móng cho nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa hiện tại và chúng em đều biết ơn điều đấy.
Sau đó, chúng em được đi thăm các đền thờ vua trên núi. Cách trang trí, sắp xếp các di vật đều được bố trí một cách ngay ngắn, trang nghiêm. Em ấn tượng với tấm bia ở đền Hạ khắc dòng chữ của Bác Hồ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta cùng nhau giữ lấy nước.” Nó như một lời hứa hẹn Bác thay thế hệ trẻ nói lên trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước.
Đó thực sự là một chuyến đi đầy bổ ích và ý nghĩa. Mặc dù nó chỉ kéo dài trong một buổi sáng ngắn ngủi nhưng nó đã giúp em hiểu ra trách nhiệm của mình đối với đất nước. Phải biết kính trọng, biết ơn thế hệ đi trước đặc biệt là các vị Vua Hùng và phải ghi nhớ:
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba.”
VOTE T 5 SAO Ạ!
mình nghĩ bạn nên viết về Issac Newton vì nổi tiếng với giai thoại cây táo Newton
Mẫu ngắn gọn:
Đất nước có được nền hòa bình ngày hôm nay, không biết bao cha anh đã ngã xuống, không tiếc máu xương để bảo vệ độc lập, tự do cho dân tộc. Anh Kim Đồng là một tấm gương sáng trong số những người anh hùng như vậy.
Anh Kim Đồng là người dân tộc Tày. Cha mất sớm, anh sống cùng mẹ - một người phụ nữ đảm đang nhưng ốm yếu. Sống trong cảnh đất nước bị xâm lược nên từ nhỏ, Kim Đồng đã dũng cảm, quyết đoán, mạnh mẽ, có tinh thần yêu nước, căm thù giặc. Tuy tuổi còn nhỏ nhưng anh rất hăng hái làm nhiệm vụ giao liên, đưa đón Việt Minh và chuyển thư từ. Anh được bầu làm đại đội trưởng đầu tiên của Đội Nhi đồng cứu quốc. Anh không ngại khó khăn, thử thách, nguy hiểm luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong một lần làm nhiệm vụ, anh bị giặc Pháp bắn và hi sinh. Khi ấy, anh mới chỉ 14 tuổi. Đã có rất nhiều bài thơ, bài hát được sáng tác để ghi nhớ công ơn của anh.
Hình ảnh anh Kim Đồng sẽ luôn sáng mãi, là tấm gương cho thanh thiếu niên Việt Nam về tinh thần yêu nước sâu sắc, sự thông minh, gan dạ, lòng dũng cảm, trung kiên với Tổ quốc.
Mẫu 1:
Lý Công Uẩn người làng cổ Pháp thuộc Đông Ngạn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Hiện nay ở làng Đình Bảng vẫn còn có lăng và đền thờ các vua nhà Lý.
Tục truyền rằng Công uẩn không có cha; mẹ là Phạm Thị đi chơi chùa Tiên Sơn (làng Tiên Sơn, phủ Từ Sơn) , đêm về nằm mộng thấy "đi lại" với thần nhân, rồi có thai đẻ ra đứa con trai. Lên ba tuổi, đứa bé càng khôi ngô tuấn tú; gia đình đem cho nhà sư ở chùa cổ Pháp tên là Lý Khánh Văn làm con nuôi. Lý Công uẩn được học hành chữ Nho, kinh Phật và võ nghệ từ nhỏ, lớn lên dưới mái chùa, trở thành một tài trai văn võ siêu quần.
Ngoài 20 tuổi, Lý Công uẩn đã làm võ tướng dưới triều vua Lê Đại Hành, từng lập công to trong trận Chi Lăng (981) đại phá quân Tống xâm lược, chém đầu tướng giặc Hầu Nhân Bảo. Về sau, ông giữ chức Tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ, nắm trong tay toàn bộ binh quyền. Đức trọng tài cao, ông được quần thần và tướng sĩ rất kính phục. Năm 1005, Lê Đại Hành băng hà. Ngôi vua được truyền cho Lê Long Việt. Chỉ 3 ngày sau, Lê Long Đĩnh giết anh, giành lấy ngai vàng. Lê Long Đĩnh là một tên vua vô cùng bạo ngược khác nào Kiệt, Trụ ngày xưa. Hắn hoang dâm vô độ, nên mắc bệnh không ngồi được; đến buổi chầu thì cứ nằm mà thị triều, cho nên tục gọi là Vua Ngọa Triều. Cuối năm 1009, Lê Ngọa Triều chết. Năm đó, Lý Công uẩn đã 35 tuổi. Bấy giờ lòng người đã oán giận nhà Tiền Lê lắm rồi; quân thần và tầng lớp tăng lữ suy tôn ông lên ngôi báu, mở đầu triều đại nhà Lý (1010- 1225).
Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế vào đầu xuân 1010, tức là vua Lý Thái Tổ nhà Lý. Nhà vua trị vì được 19 năm, thọ 55 tuổi, băng hà năm 1028.
Tham Khảo
Một trong những vị anh hùng của dân tộc Việt Nam là Võ Thị Sáu. Chị chính là một trong những biểu tượng cho lòng dũng cảm, sự gan dạ của người phụ nữ Việt Nam.
Võ Thị Sáu sinh năm 1933, mất năm 1952. Về nguyên quán, trên bia mộ chỉ ghi tại huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Chị tham gia hoạt động cách mạng từ khi còn rất trẻ, đã hoàn thành xuất sắc nhiều nhiệm vụ quan trọng.
Chị đã tham gia nhiều trận chiến đấu để bảo vệ quê hương, dùng lựu đạn tiêu diệt hai tên ác ôn và làm bị thương nhiều lính Pháp. Chị còn nhiều lần phát hiện gian tế, tay sai Pháp, giúp đội công an thoát khỏi nguy hiểm, chủ động trong việc tấn công địch…
Vào tháng 7 năm 1948, Công an Đất Đỏ được giao nhiệm vụ phá cuộc mít tinh kỷ niệm Quốc khánh Pháp. Dù nguy hiểm, nhưng chị Sáu vẫn chủ động xin được trực tiếp đánh trận này. Chị đã nhận lựu đạn, giấu vào góc chợ gần khán đài từ nửa đêm. Sáng hôm đó, địch lùa người dân vào sân. Khi xe của tỉnh trưởng tới, chị tung lựu đạn về phía khán đài, uy hiếp giải tán mít tinh.
Hai tổ công an xung phong ở gần đấy đồng loạt nổ súng yểm trợ tạo áp lực giải tán cuộc mít tinh, đồng thời hỗ trợ cho chị Sáu rút an toàn. Người của Việt Minh được bố trí trong đám đông hô to “Việt Minh tiến công” và hướng dẫn người dân giải tán. Sau chiến công này, chị Sáu được tổ chức tuyên dương khen ngợi và được giao nhiệm nhiều nhiệm vụ quan trọng khác. Khi bị giặc bắt giam tại nhà tù Côn Đảo, chuẩn bị xử tử hình, chị vẫn giữ được tinh thần của người chiến sĩ cách mạng.
Năm 1993, Nhà nước đã trân trọng truy tặng chị Huân chương chiến công hạng Nhất và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.
Có thể khẳng định rằng, chị Võ Thị Sáu là một tấm gương về lòng dũng cảm, sự gan dạ, đáng để chúng ta học tập và noi theo.
Tháng tư vừa rồi, trường em có tổ chức một buổi tham quan nằm trong chuỗi hoạt động ngoại khóa của trường. Điểm đến lần này là Đền Hùng tại Việt Trì-Phú Thọ. Đây là nơi thờ phụng các đời Vua Hùng và tôn thất của nhà vua. Nơi đây gắn với Giỗ tổ Hùng Vương được tổ chức hàng năm vào ngày 10 tháng 3 Âm lịch. Đây là một dịp để thế hệ con cháu đến viếng đền, tưởng nhớ đến những người đã có công dựng nước.
Em đã được nghe nhiều câu chuyện về các Vua Hùng qua các sự tích nổi tiếng như Sự tích bánh chưng bánh dày, Sơn Tinh Thủy Tinh… và thấy được sự uy nghiêm và trí tuệ của các vị vua. Điều đó khiến tôi càng mong đợi chuyến đi này hơn.
Dưới chân núi là khung cảnh uy nghiêm, hùng vĩ của núi Nghĩa Lĩnh với rừng cây và sương mù bao phủ. Nơi thờ các vị vua được đặt trên núi với ba đền chính là đền Hạ, đền Trung và đền Thượng. Đền Hạ tương truyền là nơi mẹ Âu Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng. Trăm trứng ấy đẻ ra trăm người con, năm mươi người theo cha xuống biển, bốn chín người theo mẹ lên núi. Người con ở lại làm vua, lấy tên là Hùng Vương (thứ nhất). Đền Trung là nơi các vị vua họp bàn chính sự. Đền Thượng là lăng thờ Hùng Vương thứ sáu. Lễ hội đền Hùng được tổ chức hàng năm bao gồm những hoạt động văn hóa, văn nghệ mang tính chất nghi thức truyền thống và những hoạt động văn hóa dân gian khác… Các hoạt động văn hóa mang tính chất nghi thức còn lại đến ngày nay là lễ rước kiệu vua và lễ dâng hương. Dưới tán lá mát rượi của những cây trò, cây mỡ cổ thụ và âm vang trầm bổng của trống đồng, đám rước như một con rồng uốn lượn trên những bậc đá huyền thoại để tới đỉnh núi Thiêng.
Trước khi đi tham quan các đền, chúng tôi được làm lễ dâng hương và nghe diễn thuyết về các vị Vua Hùng. Không khí trang nghiêm, hào hùng ấy khiến tôi không khỏi tự hào về lịch sử dân tộc mình. Họ đã dựng nước, giữ nước để đời sau con cháu được hưởng thụ nền độc lập, hòa bình ấy. Và nay chúng em đến đây để thể hiện lòng biết ơn, sự tôn trọng của mình đối họ, thể hiện đúng truyền thống đạo lý “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Họ đã gây dựng nền móng cho nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa hiện tại và chúng em đều biết ơn điều đấy.
Sau đó, chúng em được đi thăm các đền thờ vua trên núi. Cách trang trí, sắp xếp các di vật đều được bố trí một cách ngay ngắn, trang nghiêm. Em ấn tượng với tấm bia ở đền Hạ khắc dòng chữ của Bác Hồ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta cùng nhau giữ lấy nước.” Nó như một lời hứa hẹn Bác thay thế hệ trẻ nói lên trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước.
Đó thực sự là một chuyến đi đầy bổ ích và ý nghĩa. Mặc dù nó chỉ kéo dài trong một buổi sáng ngắn ngủi nhưng nó đã giúp em hiểu ra trách nhiệm của mình đối với đất nước. Phải biết kính trọng, biết ơn thế hệ đi trước đặc biệt là các vị Vua Hùng và phải ghi nhớ:
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba.”
Tháng tư vừa rồi, trường em có tổ chức một buổi tham quan nằm trong chuỗi hoạt động ngoại khóa của trường. Điểm đến lần này là Đền Hùng tại Việt Trì-Phú Thọ. Đây là nơi thờ phụng các đời Vua Hùng và tôn thất của nhà vua. Nơi đây gắn với Giỗ tổ Hùng Vương được tổ chức hàng năm vào ngày 10 tháng 3 Âm lịch. Đây là một dịp để thế hệ con cháu đến viếng đền, tưởng nhớ đến những người đã có công dựng nước.
Em đã được nghe nhiều câu chuyện về các Vua Hùng qua các sự tích nổi tiếng như Sự tích bánh chưng bánh dày, Sơn Tinh Thủy Tinh… và thấy được sự uy nghiêm và trí tuệ của các vị vua. Điều đó khiến tôi càng mong đợi chuyến đi này hơn.
Dưới chân núi là khung cảnh uy nghiêm, hùng vĩ của núi Nghĩa Lĩnh với rừng cây và sương mù bao phủ. Nơi thờ các vị vua được đặt trên núi với ba đền chính là đền Hạ, đền Trung và đền Thượng. Đền Hạ tương truyền là nơi mẹ Âu Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng. Trăm trứng ấy đẻ ra trăm người con, năm mươi người theo cha xuống biển, bốn chín người theo mẹ lên núi. Người con ở lại làm vua, lấy tên là Hùng Vương (thứ nhất). Đền Trung là nơi các vị vua họp bàn chính sự. Đền Thượng là lăng thờ Hùng Vương thứ sáu. Lễ hội đền Hùng được tổ chức hàng năm bao gồm những hoạt động văn hóa, văn nghệ mang tính chất nghi thức truyền thống và những hoạt động văn hóa dân gian khác… Các hoạt động văn hóa mang tính chất nghi thức còn lại đến ngày nay là lễ rước kiệu vua và lễ dâng hương. Dưới tán lá mát rượi của những cây trò, cây mỡ cổ thụ và âm vang trầm bổng của trống đồng, đám rước như một con rồng uốn lượn trên những bậc đá huyền thoại để tới đỉnh núi Thiêng.
Trước khi đi tham quan các đền, chúng tôi được làm lễ dâng hương và nghe diễn thuyết về các vị Vua Hùng. Không khí trang nghiêm, hào hùng ấy khiến tôi không khỏi tự hào về lịch sử dân tộc mình. Họ đã dựng nước, giữ nước để đời sau con cháu được hưởng thụ nền độc lập, hòa bình ấy. Và nay chúng em đến đây để thể hiện lòng biết ơn, sự tôn trọng của mình đối họ, thể hiện đúng truyền thống đạo lý “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Họ đã gây dựng nền móng cho nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa hiện tại và chúng em đều biết ơn điều đấy.
Sau đó, chúng em được đi thăm các đền thờ vua trên núi. Cách trang trí, sắp xếp các di vật đều được bố trí một cách ngay ngắn, trang nghiêm. Em ấn tượng với tấm bia ở đền Hạ khắc dòng chữ của Bác Hồ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta cùng nhau giữ lấy nước.” Nó như một lời hứa hẹn Bác thay thế hệ trẻ nói lên trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước.
Đó thực sự là một chuyến đi đầy bổ ích và ý nghĩa. Mặc dù nó chỉ kéo dài trong một buổi sáng ngắn ngủi nhưng nó đã giúp em hiểu ra trách nhiệm của mình đối với đất nước. Phải biết kính trọng, biết ơn thế hệ đi trước đặc biệt là các vị Vua Hùng và phải ghi nhớ:
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba.”
VOTE T 5 SAO NHAA
Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Cuộc đời của người là một tấm gương sáng ngời cho mỗi người dân Việt Nam noi theo. Và những câu chuyện về Người cũng luôn để lại bài học giá trị cho chúng ta.
Truyện kể rằng trong những năm tháng sống ở Việt Bắc, mỗi lần đi công tác, Bác đều có hai đồng chí đi cùng. Sợ Bác mệt, hai đồng chí đã bày tỏ ý muốn mang ba lô giúp Bác. Nhưng Bác không đồng ý. Bác nói:- Đi đường rừng, leo núi ai mà chẳng mệt, tập trung đồ vật cho một người mang đi thì người đó càng chóng mệt. Cứ phân đều ra cho cả ba người.
Hai đồng chí đành làm theo lời Bác, đem chia vật dụng vào ba chiếc ba lô. Bác hỏi lại:
- Các chú đã chia đều rồi chứ?
Hai đồng chí trả lời:
- Thưa Bác, rồi ạ!
Sau đó, cả ba cùng lên đường. Qua một chặng, lúc nghỉ, Bác đến chỗ các đồng chí và xách chiếc ba lô lên. Bác hỏi:
- Tại sao ba lô của các chú nặng mà của Bác lại nhẹ?
Bác liền mở ra xem thì thấy bên trong ba lô của mình chỉ có chăn màn.
Bác tỏ ra không hài lòng, rồi nói:
- Chỉ có lao động thật sự mới đem lại hạnh phúc cho con người.
Sau đó, Bác lại yêu cầu hai đồng chí chia đều vật dụng vào ba chiếc ba lô mới chịu tiếp tục lên đường.
Câu chuyện nhỏ nhưng để lại bài học lớn. Có thể thấy, Bác là một người yêu lao động. Bác suốt đời làm việc, suốt ngày làm việc, từ những việc lớn như cứu nước đến việc nhỏ như trồng cây trong vườn. Việc gì có thể tự làm, Bác đều tự mình hoàn thành. Cách sống của Bác giúp cho mỗi người nhận ra giá trị của lao động, cũng như có ý thức tự giác học tập và làm việc hơn.
Quả thật, những câu chuyện về cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh thật ý nghĩa. Từ đó, chúng ta luôn nhận ra được nhiều bài học bổ ích cho bản thân.
Người dân Việt Nam đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh” - đó là câu nói khắc ghi vào tâm khảm của người dân nước ta. Cùng những câu chuyện hào hùng về hành trình cứu nước của Bác, nhân dân ta còn truyền nhau những câu chuyện nhỏ đời thường của vị lãnh tụ vĩ đại này. Có một câu chuyện kể về chuyến đi công tác của Bác. Trên đường di chuyển đến nơi tổ chức cuộc họp, xe của Bác phải dừng lại chờ đèn đỏ khá lâu. Anh chiến sĩ đi cùng trên xe định bước xuống để bảo anh công an giao thông ưu tiên cho xe Bác đi qua, thì bị Bác cản lại. Bác ôn tồn giải thích rằng, mình cũng là một công dân của nước Việt Nam, nên cũng cần tuân thủ luật pháp đã được đặt ra. Nếu ai cũng dùng quyền ưu tiên thì còn gì là luật lệ nữa chứ. Hơn nữa, anh công an giao thông kia đang làm rất tốt nhiệm vụ của mình, không có gì để trách phạt anh ấy cả. Nói rồi, Bác bình tĩnh ngồi trong xe chờ hết đèn đỏ, thì ra hiệu lái xe tiếp tục di chuyển. Hành động nhỏ bé ấy của Chủ tịch nước vĩ đại đã giúp anh chiến sĩ có một bài học đáng quý,
Ftftf
Nguyện trung thành nhà Lý Thuộc Quân đội nhà Lý Tham chiến Chiến tranh Tống-Việt, 1075-1077 Chiến tranh Việt – Chiêm 1069 Thông tin cá nhân Sinh Ngày sinh 1019 Nơi sinh Thăng Long Mất Ngày mất 1105 Nơi mất Thăng Long Giới tính nam Nghề nghiệp nhà thơ, chính khách, sĩ quan quân đội Quốc tịch Đại Việt Thời kỳ nhà Lý Tác phẩm Nam quốc sơn hà, Phạt Tống lộ bố văn Trong lịch sử Việt Nam, ông nổi
bật với việc chinh phạt Chiêm Thành (1069), đánh phá 3 châu Khâm, Ung, Liêm nước Tống (1075–1076), rồi đánh bại cuộc xâm lược Đại Việt của quân Tống do Quách Quỳ, Triệu Tiết chỉ huy. Đặc biệt, trận chiến ở ba châu Khâm, Ung, Liêm đã khiến tên tuổi của ông vang dội ra khỏi Đại Việt và được biết đến ở đất Tống. Năm 2013, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch liệt ông vào một trong 14 vị anh hùng dân tộc tiêu biểu nhất trong lịch sử Việt Nam.[2]
Chuyện kể về 1 ngôi làng thánh Gióng ngày xửa ngày xưa vò 1 ngôi làng có 2 ông bà lão nghèo nhưng có tiếng là phúc đức ông bà lão ao ước có 1 mụ con 1 hôm bà đi ra vườn rau có 1 bà chân to bà liền ướm thử ko ngờ khi về bà mang thai nghén ông bà lão vui sướng sau 1 năm hạ sinh 1 người con trai nhưng kì lạ thay cậu bé 3 tuổi rồi mà ko nói 1 câu nào cả đặt đâu nằm đấy hôm nói giả đi lan truyền tin có ai muốn cưới nước ko vì lúc đó giặc ngoại xâm lược vào đất liền thấy bên đấy quá mạnh liền bảo xứ giả đi lan truyền tin khi cậu bé nghe đc lời nói của xứ giả liền nói với mẹ mời xử giả vào đây bàn bạc xong ...cậu bé lớn nhanh như thổi cậu bé ra chiến trường khi roi mây sắt bị gãy liền buổi bụi cây ven đường ngựa phun lửa khi đánh xong liền cưỡi ngựa lên trời vua ko bt cảm ơn như nào liền cho làng này là thánh Gióng còn là vì ngựa phun lửa cháy mất 1 làng làng đó nay gọi là làng cháy
Quê hương Bắc Giang của em không chỉ nổi tiếng với những dòng sông uốn lượn, những đồi vải đỏ rực mà còn là nơi ghi dấu những trang sử vàng chói lọi. Trong đó, hình ảnh cụ Đề Thám (Hoàng Hoa Thám) – “Hùm xám Yên Thế” luôn sống mãi trong lòng mỗi người con nơi đây như một biểu tượng của lòng yêu nước và ý chí quật cường. Câu chuyện về lòng dũng cảm của ông mà em nhớ nhất chính là giai đoạn ông trực tiếp chỉ huy nghĩa quân chống lại các đợt càn quét quy mô lớn của thực dân Pháp vào căn cứ Phồn Xương. Khi ấy, dù lực lượng chênh lệch, vũ khí thô sơ nhưng với chiến thuật du kích tài tình, dựa vào địa hình rừng núi hiểm trở, cụ Đề Thám đã khiến kẻ thù phải khiếp sợ. Có một sự việc kể rằng, khi quân Pháp bao vây chặt chẽ nhằm triệt hạ nguồn lương thực, cụ Đề Thám vẫn bình tĩnh cùng nghĩa quân đào hầm, dựng lũy. Ông không chỉ là một vị tướng tài ba mà còn là người cha, người anh thânthiết của binh sĩ. Đêm đêm, dưới ánh đuốc bập bùng, ông trực tiếp kiểm tra từng lán trại, động viên tinh thần anh em. Hình ảnh người thủ lĩnh có đôi mắt sáng quắc, phong thái hiên ngang nhưng lại vô cùng giản dị trong bộ quần áo nâu sòng đã in đậm vào tâm trí người dân vùng đất này.
Dưới đây là bài văn đáp ứng đầy đủ các yêu cầu (ngôi kể thứ nhất, sự kiện có thật, kết hợp kể và miêu tả, bố cục rõ ràng):
Trong lịch sử dân tộc, Lý Thường Kiệt là vị tướng tài ba gắn liền với cuộc kháng chiến chống quân Tống thế kỉ XI. Trong số những sự kiện tiêu biểu về ông, tôi ấn tượng nhất là việc ông chỉ huy quân dân ta chiến đấu và làm nên chiến thắng trên phòng tuyến sông Như Nguyệt năm 1077.
Tôi vẫn hình dung như mình đang có mặt bên bờ sông Như Nguyệt vào những ngày căng thẳng ấy. Trước mặt tôi là dòng sông rộng, nước chảy lững lờ nhưng ẩn chứa biết bao hiểm nguy. Theo sử sách ghi lại, khi quân Tống tràn sang xâm lược nước ta, Lý Thường Kiệt đã chủ động cho xây dựng một phòng tuyến kiên cố ở bờ nam sông. Ông cho đắp lũy đất cao, dựng rào tre dày đặc và bố trí quân lính ngày đêm canh giữ. Không khí nơi đây hẳn rất khẩn trương: tiếng quân sĩ luyện tập, tiếng búa đóng cọc, tiếng bàn bạc kế sách vang lên liên hồi.
Quân Tống đóng ở bờ bắc sông, nhiều lần tìm cách vượt sông tấn công. Tôi tưởng tượng những mũi tên bay vun vút trên không trung, tiếng trống trận dồn dập, mặt sông dậy sóng bởi thuyền bè qua lại. Thế nhưng, nhờ sự chỉ huy tài tình của Lý Thường Kiệt, quân ta vẫn giữ vững phòng tuyến. Điều khiến tôi khâm phục nhất là vào một đêm khuya, để khích lệ tinh thần binh sĩ, ông đã cho người ngâm vang bài thơ “Nam quốc sơn hà” trong đền thờ bên sông. Giữa không gian tĩnh lặng của đêm tối, tiếng ngâm thơ vang vọng, trang nghiêm và hào hùng. Lời thơ khẳng định chủ quyền thiêng liêng của dân tộc như tiếp thêm sức mạnh cho quân sĩ. Tôi có thể cảm nhận được niềm tin và ý chí chiến đấu bừng lên trong lòng mỗi người lính.
Sau nhiều ngày giằng co, quân Tống rơi vào thế mệt mỏi và thiếu thốn lương thực. Nắm bắt thời cơ, Lý Thường Kiệt quyết định phản công. Quân ta vượt sông đánh úp, khiến quân giặc không kịp trở tay và buộc phải rút lui về nước. Chiến thắng ấy đã bảo vệ vững chắc nền độc lập của Đại Việt.
Khi tìm hiểu về sự kiện này, tôi càng thêm tự hào và biết ơn thế hệ cha ông. Chiến thắng trên phòng tuyến Như Nguyệt không chỉ thể hiện tài năng quân sự xuất sắc của Lý Thường Kiệt mà còn cho thấy tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường của dân tộc ta. Đó là một trang sử hào hùng mà mỗi người Việt Nam luôn ghi nhớ và trân trọng.
Quê hương Bắc Giang của em là vùng đất giàu truyền thống lịch sử, gắn liền với cuộc khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo. Một sự kiện mà em ấn tượng nhất là những năm tháng nghĩa quân Yên Thế kiên cường chống thực dân Pháp. Cuối thế kỉ XIX, khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhân dân vô cùng căm phẫn. Tại vùng rừng núi Yên Thế (Bắc Giang), Hoàng Hoa Thám đã đứng lên tập hợp nông dân và nghĩa sĩ để chống lại quân xâm lược. Ông được nhân dân kính trọng gọi là “Hùm thiêng Yên Thế”. Nghĩa quân đã dựa vào địa hình rừng núi hiểm trở để xây dựng căn cứ, tổ chức nhiều trận đánh bất ngờ khiến quân Pháp nhiều lần thất bại. Cuộc khởi nghĩa kéo dài gần 30 năm, thể hiện ý chí kiên cường và tinh thần yêu nước mãnh liệt của nhân dân ta. Dù cuối cùng cuộc khởi nghĩa bị đàn áp, nhưng tinh thần bất khuất của Hoàng Hoa Thám và nghĩa quân Yên Thế vẫn sống mãi trong lòng người dân Bắc Giang nói riêng và cả nước nói chung. Là người con của Bắc Giang, em cảm thấy rất tự hào về truyền thống anh hùng ấy. Em tự nhủ sẽ chăm chỉ học tập, rèn luyện bản thân để góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.
Quê hương tôi là một vùng đất giàu truyền thống lịch sử và văn hóa. Một trong những sự kiện lịch sử quan trọng nhất đã ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng người dân nơi đây là cuộc khởi nghĩa chống ngoại xâm diễn ra vào thế kỷ 19. Cuộc khởi nghĩa này không chỉ thể hiện lòng yêu nước sâu sắc của nhân dân mà còn góp phần quan trọng trong việc giữ vững và bảo vệ từng tấc đất quê hương.
Trong thời kỳ đó, dưới sự cai trị hà khắc của thực dân, người dân quê tôi đã quyết tâm đứng lên đấu tranh để bảo vệ quyền sống và quyền tự do của mình. Cuộc khởi nghĩa được lãnh đạo bởi những người có tinh thần yêu nước nồng nhiệt và lòng dũng cảm không ngại hi sinh. Họ đã tổ chức các đội quân du kích, tiến hành nhiều trận đánh táo bạo, gây khó khăn không nhỏ cho kẻ thù.
Dù phải đối mặt với nhiều khó khăn về vũ khí, trang thiết bị và nguồn lực, tinh thần đoàn kết, lòng quyết tâm của dân làng vẫn không hề suy giảm. Những chiến công trong cuộc khởi nghĩa đã tạo nên niềm tự hào lớn lao cho thế hệ sau, đồng thời nhắc nhở chúng ta luôn trân trọng và giữ gìn những giá trị truyền thống tốt đẹp.
Ngày nay, quê hương tôi đã trở thành một địa phương phát triển, nhưng không ai quên được những tháng ngày gian khó và hào h Những di tích lịch sử, tượng đài khởi nghĩa vẫn được bảo tồn và thờ phụng trang nghiêm, là minh chứng sống động cho lòng yêu nước và tinh thần bất khuất của nhân dân nơi đây.
Hoàng Hoa Thám
Dưới đây là bài văn mẫu kể về một nhân vật lịch sử gắn với quê hương Hải Dương (phù hợp vì bạn đang ở Hải Dương): Kể lại một sự việc liên quan đến anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo Quê hương Hải Dương của em không chỉ nổi tiếng với bánh đậu xanh, vải thiều mà còn là vùng đất địa linh nhân kiệt, gắn liền với tên tuổi của vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo. Trong những câu chuyện lịch sử em được học, em nhớ nhất là sự việc ông chỉ huy quân dân đánh thắng giặc Nguyên – Mông trên sông Bạch Đằng. Trần Hưng Đạo, tên thật là Trần Quốc Tuấn, là một vị tướng tài ba dưới triều Nhà Trần. Khi giặc Nguyên – Mông tràn vào xâm lược nước ta lần thứ ba, thế giặc rất mạnh, quân ta gặp nhiều khó khăn. Trước tình hình đó, ông đã bình tĩnh nghĩ ra một kế sách vô cùng thông minh. Ông cho quân đóng những cọc gỗ lớn, bịt sắt nhọn rồi cắm xuống lòng sông Bạch Đằng – nơi thủy triều lên xuống thất thường. Khi nước triều dâng cao, bãi cọc bị che lấp, quân ta giả vờ thua chạy để nhử địch vào sâu trong sông. Đúng lúc thủy triều rút, thuyền giặc mắc cạn và va vào bãi cọc. Ngay lập tức, quân ta từ hai bên bờ đổ ra tấn công dữ dội. Quân giặc hoảng loạn, nhiều thuyền bị đắm, tướng giặc bị tiêu diệt. Trận Trận Bạch Đằng đã kết thúc với chiến thắng vang dội thuộc về dân tộc ta. Chiến thắng ấy không chỉ thể hiện tài thao lược của Trần Hưng Đạo mà còn cho thấy tinh thần đoàn kết, yêu nước của nhân dân ta. Ngày nay, tại Hải Dương có đền Kiếp Bạc – nơi thờ ông – để tưởng nhớ công lao to lớn của vị anh hùng dân tộc. Mỗi lần nghe kể lại câu chuyện ấy, em cảm thấy vô cùng tự hào về quê hương mình. Em tự nhủ sẽ cố gắng học tập thật tốt để xứng đáng với truyền thống vẻ vang của cha ông. Nếu em muốn, chị có thể viết bài về nhân vật khác ở Hải Dương như Nguyễn Trãi nhé.
Thánh Gióng đánh giặc ân
Một sự việc liên quan đến vị anh hùng lịch sử dân tộc đó chính là Hoàng Hoa Thắm , vị anh hùng của dân tộc , ông đã có công lao rất to lớn với đất nước vì đã đánh đuổi giặc giúp người dân có hoà bình như bây giờ . Từ đó ông được mọi người xưng là vị anh hùng áo đỏ Hoàng Hoa Thắm.
Nói vè lịch sử ở quê Hương Bắc Giang có cách anh hùng như lưu viết thoảng và Hoàng Hoa thám nhưng em nè thích nhất là người anh hùng Hoàng Hoa thám
Ở quê hương em có rất nhiều nhân vật lịch sử nhưng em ấn rượng nhất là nhân vật ông Ngô Gia Tự.Ông là Tổng bí thư đầu tiên của đất nước Việt Nam ông đã làm nên những việc giúp đất nước ta phát triển hơn,nhờ ông đất nuocs mới có ngày hôm nay.Em rất tự hào về ông
Quê hương Yên Thế của em không không chỉ nổi tiếng với cảnh đẹp hùng vĩ mà còn là vùng đất truyền thống yêu nước nơi ghi dấu của người anh hùng áo vải Hoàng Hoa Thám trong cuộc khởi nghĩa chống Pháp hơn 30 . Mỗi khi đến thăm khu di tích sương, em lại nhớ về sự việc oanh liệt: trận hố chuối năm 1990 -nơi thể hiện rõ nhất của năm ấy, giặc Pháp tập trung quân đội tinh nhuệ, trang bị vũ khí hiện đại nhằm đánh phá căn cứ Yên Thế, quyết tâm bắt bằng được mạnh của kẻ thù, cụ đề không hề Với tư duy quân sự xuất sắc ông không chọn cách đối đầu trực tiếp, mà quyết định sử dụng chiến thuật “ vườn không nhà trống” kết hợp với lối đánh du kích tận dụng địa hình trở.
Nơi ông chọn để phục kích là hố chuối-1 địa hiểm ta đã khéo léo tạo dựng những lùm cây đồng thời đặt bẫy trồng, bãi mìn tự tạo. Khi quân pháp hùng hổ tiến vào căn cứ, chúng chỉ thấy những làng xóm vắng lặng. Để cho quân dụ địch vào đúng “trận địa” đã sẵn.
Khi giặc đã lọt vào ổ phục kích, tiếng súng lạnh vang lên. Từ khắp các hướng nghĩa quân Yên Thế bất ngờ tấn công. Quân pháp bất ngờ, rối loạn, không kịp trở tay. Trận hố chuối trở thành 1 nỗi kinh hoàng đối với quân pháp, khiến chúng tổn thất nặng nề và phải rút lui.
Sự kiện này không chỉ khẳng định cầm của Hoàng Hoa Thám mà còn cho thấy lòng dũng cảm sự đồng lòng của người Yên sự ủng hộ của dân làng, nghĩa quân có , thông tin và tiếp tục chiến đấu.
chuối là niềm tự hào của quê hương em. Nhìn tượng đài Hoàng Hoa Thám oai nghiêm, em càng thêm kính trọng thế hệ cha anh. Là 1 học sinh, em tự hứa sẽ học tập tốt, rèn luyện đạo đức để góp phần xây dựng quê hương, xứng đáng với truyền thống hào hùng của vùng đất Yên Thế bất khuất.
Hoàng Hoa Thám là một vị anh hùng dân tộc nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam. Ông còn được nhân dân gọi là Đề Thám, người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Thế chống thực dân Pháp. Vào cuối thế kỉ XIX, khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ. Không cam chịu cảnh nước mất nhà tan, Hoàng Hoa Thám đã đứng lên chiêu mộ nghĩa quân, xây dựng căn cứ ở vùng rừng núi Yên Thế (nay thuộc tỉnh Bắc Giang). Nhờ thông thạo địa hình rừng núi hiểm trở, ông đã tổ chức nhiều trận đánh bất ngờ khiến quân Pháp nhiều lần thất bại. Cuộc khởi nghĩa Yên Thế kéo dài gần ba mươi năm. Nghĩa quân sống gian khổ trong rừng sâu nhưng vẫn một lòng theo vị thủ lĩnh của mình. Có lúc quân Pháp phải xin giảng hòa vì không thể dập tắt được phong trào. Điều đó cho thấy tài năng và ý chí kiên cường của Hoàng Hoa Thám. Đến năm 1913, ông bị kẻ xấu ám hại. Sau khi ông mất, cuộc khởi nghĩa dần tan rã. Tuy vậy, tinh thần yêu nước và lòng dũng cảm của Hoàng Hoa Thám vẫn sống mãi trong lòng nhân dân. Qua câu chuyện về Hoàng Hoa Thám, em càng thêm tự hào về truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc Việt Nam.
Bài làm
Trong những năm tháng chiến tranh , rất nhiều người con của mảnh đất Việt đã hy sinh để bảo vệ và đấu tranh cho nền độc lập của dân tộc. Một trong số đó là Võ Thị Sáu-nữ anh hùng huyền thoại vùng Đất Đỏ
Võ Thị sáu sinh năm 1933, mất năm 1952. Nguyên quán được ghi trên bia mộ chỉ ghi tại huyện Đất đỏ, tỉnh bà Rịa- Vũng tàu. Ngay từ khi còn nhỏ chị đã cùng với anh trai tham gia cách mạng. Chị tham gia bảo đội công an xung phong, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ liên lạc, tiếp tế. Trong thời gian này chị tham gia nhiều trận chiến đấu để bảo vệ quê hương. Không chỉ vậy, chị cũng rất nhiều lần phát hiện ra gian tế, tay sai Pháp, giúp đội công an thoát khỏi nguy hiểm, chủ động tấn công. Một lần nọ, chị nhận nhiệm vụ mang lựu đạn phục kích tên Cai Tòng- một tên Việt gian bán nước ngay tại xã nhà. Lựu đạn nổ, tên tổng bị thương nặng nhưng không chết. Tuy nhiên, vụ tấn công hiến bọn đồn khiếp vía, không dám truy lùng Việt Minh ráo riết như trước. Sau này, trong một lần làm nhiệm vụ chị đã bị giặc bắt. Sau khi bị bắt, cô lần lượt bị đưa đi thẩm vấn và giam giữ tại các nhà tù Đất đỏ, khám đường bà Rịa và khám Chí Hòa. Thực dân Pháp đã cho mở phiên tòa, thời điểm này chị vẫn chưa tròn 18 tuổi Luật sư biện hộ đã lấy đó làm căn cứ để giúp chị thoát khỏi án tử hình, nhưng tòa án vẫn tuyên án tử hình cho chị. Chúng chuyển chị cùng một số người tù cách mạng ra nhà tù Côn Đảo. Ở đây, thực dân Pháp đã lén lút đưa chị đi tử hình
Vào năm 1993, nhà nước đã trân trọng truy tặng chị huân chương chiến công hạng nhất và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang. Chị Võ Thị sáu chính là một biểu tượng về lòng dũng cảm và kiên cường
Bác Hồ là vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Người không chỉ tìm ra con đường cứu nước cũng như lãnh đạo nhân dân đấu tranh để giành lại độc lập cho đất nước.
Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam mới.
Sự ra đời của bản Tuyên ngôn Độc lập có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Mốc thời gian đầu tiên phải kể đến là vào ngày 4 tháng 5 năm 1945, Bác Hồ rời Pác Bó về Tân Trào. Giữa tháng năm, Người đã yêu cầu trung úy Giôn, báo vụ của OSS (Cơ quan phục vụ chiến lược Mỹ) điện về Côn Minh, đề nghị thả dù cho Người cuốn Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kì.
Đến ngày 22 tháng 8 năm 1945, Bác rời Tân Trào về Hà Nội. Tối 25 tháng 8 năm 1945, Người vào nội thành, ở tầng 2 tại căn nhà số 48 Hàng Ngang. Sáng 26 tháng 8 năm 1945, Bác đã cho triệu tập một cuộc họp Thường vụ Trung ương Đảng, để bàn về các vấn đề như chủ trương đối nội, đối ngoại trong tình hình mới; công bố danh sách các thành viên Chính phủ lâm thời; chuẩn bị ra Tuyên ngôn Độc lập, tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để Chính phủ lâm thời ra mắt toàn thể nhân dân.
Vào ngày 27 tháng 8 năm 1945, Người tiếp các bộ trưởng mới tham gia Chính phủ đưa ra đề nghị Chính phủ ra mắt quốc dân, đọc Tuyên ngôn Độc lập mà Người đã chuẩn bị. Bác đưa ra bản thảo và đề nghị các thành viên phải xét duyệt kĩ vì không chỉ đọc cho đồng bào cả nước nghe mà còn độc cho Chính phủ Pháp và nhân dân Pháp, các nước đồng minh nghe.
Trong hai ngày 28 và 29 tháng 8 năm 1945, Bác đến làm việc tại 12 Ngô Quyền (trụ sở chính của Chính phủ lâm thời) và dành phần lớn thời gian để soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Buổi tối tại căn nhà số 48 Hàng Ngang, Bác đã tự đánh máy bản Tuyên ngôn Độc lập trên một cái bàn tròn.
Vào ngày 30 tháng 8 năm 1945, Bác cho mời các đồng chí đến để trao đổi, đóng góp ý kiến cho bản Tuyên ngôn độc lập. Bác đọc cho mọi người nghe, hỏi ý kiến của từng người. Đến ngày 31 tháng 8, Bác đã bổ sung một số ý vào bản Tuyên ngôn. Bản Tuyên ngôn Độc lập chính thức được hoàn thiện.
Đúng 14 giờ ngày mùng 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Có thể khẳng định rằng, Tuyên ngôn Độc lập là văn kiện lịch sử tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới về việc chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở nước ta, đánh dấu kỉ nguyên độc lập, tự do của nước Việt Nam mới. Quá trình viết Tuyên ngôn Độc lập đã cho thấy sự chuẩn bị kĩ lưỡng cũng như trí tuệ và tầm nhìn của một vị lãnh tụ - Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ko cần làm
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại mà em vô cùng kính yêu. Một sự việc có thật về Bác khiến em rất xúc động là câu chuyện Bác nhường cơm, sẻ áo cho đồng bào trong những năm kháng chiến chống Pháp. Năm 1945, sau khi đất nước vừa giành được độc lập, nhân dân ta phải đối mặt với nạn đói khủng khiếp. Hàng triệu người dân rơi vào cảnh thiếu ăn, cuộc sống vô cùng khó khăn. Trước tình hình đó, Bác Hồ đã kêu gọi toàn dân thực hiện phong trào “nhường cơm sẻ áo”, mỗi người nhịn ăn một bữa để góp gạo cứu đói. Điều đặc biệt là Bác không chỉ kêu gọi bằng lời nói mà còn trực tiếp thực hiện. Dù công việc bộn bề, sức khỏe không tốt, Bác vẫn tự nguyện nhịn ăn và dành phần gạo của mình để ủng hộ đồng bào nghèo. Hành động giản dị ấy đã lan tỏa tinh thần đoàn kết khắp cả nước. Nhân dân tin tưởng và làm theo lời Bác, cùng nhau vượt qua thời điểm khó khăn nhất. Qua câu chuyện này, em càng hiểu rằng Bác Hồ không chỉ là một vị lãnh tụ tài ba mà còn là một con người vô cùng giản dị, yêu thương nhân dân và luôn nghĩ đến hạnh phúc của mọi người. Em rất tự hào về Bác Hồ và tự hứa sẽ cố gắng học tập, rèn luyện thật tốt để xứng đáng với công lao to lớn của Người.
Vô Lý Thái Tổ ( Lý Công uẩn )
Lý Công uẩn người làng cổ Pháp thuộc Đông Ngạn, phủ từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Hiện nay ở làng Đình bảng vẫn còn có lăng và đền thờ các vua nhà Lý.
Tục truyền rằng Công uẩn không có cha, mẹ là Phạm Thị đi chơi chùa Tiên Sơn ( làng tiên sơn, phủ từ Sơn ), đêm về nằm mộng thấy "đi lại" với thần nhân, rồi có thai đẻ ra đứa con trai. Lên ba tuổi, đứa bé càng khôi ngô tuấn tú, gia đình đem cho nhà sư ở chùa cổ Pháp tên là Lý Khánh Văn làm con nuôi. Lý Công uẩn được học hành chữ Nho, kinh Phật và võ nghệ từ nhỏ, lớn lên dưới mái chùa, trở thành một tài trai văn võ siêu quần.
Ngoài 20 tuổi, Lý Công uẩn đã làm võ tướng dưới triều vua Lê Đại Hành, từng lập công to trong trận Chi Lăng ( 981 ) đại phá quân Tống xâm lược, chém đầu tướng giặc Hầu Nhân Bảo. Về sau, ông giữ chức tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ, nắm trong tay toàn bộ binh quyền. Đức trọng tài cao, ông được quần thần và tướng Sĩ rất kính phục. Năm 1005, Lê Đại hành băng Hà. Ngôi vua được truyền cho Lê Long Việt. Chỉ ba ngày sau, Lê Long đĩnh giết anh, giành lấy ngai vàng. Lê Long đĩnh là một tên vua vô cùng bạo ngược khác nào Kiệt, Trụ ngày xưa. Hắn hoang dâm vô độ, nên mắc bệnh không ngồi được, đến buổi chầu thì cứ nằm mà thị triều, cho nên tục gọi là vua Ngoạ Triều. Cuối năm 1009, Lê Ngoạ Triều chết. Năm đó, Lý Công uẩn đã 35 tuổi. Bấy giờ lòng người đã oán hận nhà Tiền Lê lắm rồi, quân thần và tầng lớp tăng lữ suy tôn ông lên ngôi báu, mở đầu triều đại nhà Lý ( 1010-1225 ).
Lý Công uẩn lên ngôi hoàng đế vào đầu xuân 1010, tức là vua Lý Thái tổ nhà Lý. Nhà vua trị vì được 19 năm, thọ 55 tuổi, băng hà năm 1028.
ko bt
Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm hào hùng của dân tộc Việt Nam, em đặc biệt ấn tượng và kính phục người anh hùng thiếu niên Trần Quốc Toản. Ông là một tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước và ý chí quật cường. Sự việc mà em nhớ mãi là khi quân Mông -Nguyên chuẩn bị xâm lược nước ta lần thứ hai vào năm 1285. Vua Trần triệu tập các vương hầu, quan lại về Bình Than để bàn kế sách đánh giặc. Trần Quốc Toản khi đó còn nhỏ tuổi, nhưng cũng muốn tham gia bàn việc nước. Tuy nhiên, vì chưa đến tuổi dự họp, ông bị lính canh ngăn lại. Quá bức xúc và tức giận vì không được đóng góp sức mình, Trần Quốc Toản đã vô tình bóp nát quả cam trong tay mà không hay biết. Hành động đó thể hiện sự căm thù giặc sâu sắc và khát khao được đánh giặc, bảo vệ quê hương cháy bỏng của người thiếu niên trẻ tuổi. Không nản lòng, sau đó, Trần Quốc Toản lui về, tự mình huy động hơn nghìn gia nô và thân thuộc, sắm sửa vũ khí, đóng chiến thuyền. Ông còn cẩn thận viết lên lá cờ của mình sáu chữ vàng: "Phá cường địch, báo hoàng ân" Phá giặc mạnh, đền ơn vua.Tiếng tăm của ông và lá cờ thêu sáu chữ vàng nhanh chóng lan truyền khắp nơi, khích lệ tinh thần chiến đấu của quân dân ta.
Quê hương của em có một người anh hùng.Đó là ông em, là một người ông đã từng cho em những món quà ý nghĩa nhất cho em mà em đã từng nhận, là một con đồ chơi hoặc là một gói bánh tét, bánh mì nướng.
Đất nước có được nền hòa bình ngày hôm nay, không biết bao cha anh đã ngã xuống, không tiếc máu xương để bảo vệ độc lập, tự do cho dân tộc. Anh Kim Đồng là một tấm gương sáng trong số những người anh hùng như vậy. Anh Kim Đồng là người dân tộc Tày. Cha mất sớm, anh sống cùng mẹ - một người phụ nữ đảm đang nhưng ốm yếu. Sống trong cảnh đất nước bị xâm lược nên từ nhỏ, Kim Đồng đã dũng cảm, quyết đoán, mạnh mẽ, có tinh thần yêu nước, căm thù giặc. Tuy tuổi còn nhỏ nhưng anh rất hăng hái làm nhiệm vụ giao liên, đưa đón Việt Minh và chuyển thư từ. Anh được bầu làm đại đội trưởng đầu tiên của Đội Nhi đồng cứu quốc. Anh không ngại khó khăn, thử thách, nguy hiểm luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong một lần làm nhiệm vụ, anh bị giặc Pháp bắn và hi sinh. Khi ấy, anh mới chỉ 14 tuổi. Đã có rất nhiều bài thơ, bài hát được sáng tác để ghi nhớ công ơn của anh. Hình ảnh anh Kim Đồng sẽ luôn sáng mãi, là tấm gương cho thanh thiếu niên Việt Nam về tinh thần yêu nước sâu sắc, sự thông minh, gan dạ, lòng dũng cảm, trung kiên với Tổ quốc. Quảng cáo arrow_forward_iosĐọc thêm Pause 00:00 00:04 Mute (40+ mẫu) Kể lại một sự việc có thật liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện lịch sử Dàn ý Kể lại một sự việc có thật liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện lịch sử - Mở bài: + Nêu được sự việc có thật liên quan đến nhân vật, sự kiện lịch sử mà văn bản sẽ thuật lại + Nêu lí do hay hoàn cảnh người viết thu thập tư liệu liên quan - Thân bài: Gợi lại bối cảnh, câu chuyện, dấu tích liên quan đến nhân vật, sự kiện + Câu chuyện, huyền thoại liên quan đến nhân vật, sự kiện + Dấu tích liên quan Thuật lại nội dung/ diễn biến của sự việc có thật liên quan đến nhân vật, sự kiện lịch sử + Bắt đầu - diễn biến - kết thúc + Sử dụng được một số bằng chứng (tư liệu, trích dẫn,...); kết hợp kể chuyện với miêu tả Ý nghĩa, tác động của sự việc đối với đời sống hoặc đối với nhận thức về nhân vật/ sự kiện lịch sử - Kết bài: Khẳng định ý nghĩa của sự việc hoặc nêu cảm nhận của người viết về sự việc. Quảng cáo ad Kể lại một sự việc có thật liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện lịch sử - mẫu 2 Tháng tư vừa rồi, trường em có tổ chức một buổi tham quan nằm trong chuỗi hoạt động ngoại khóa của trường. Điểm đến lần này là Đền Hùng tại Việt Trì-Phú Thọ. Đây là nơi thờ phụng các đời Vua Hùng và tôn thất của nhà vua. Nơi đây gắn với Giỗ tổ Hùng Vương được tổ chức hàng năm vào ngày 10 tháng 3 Âm lịch. Đây là một dịp để thế hệ con cháu đến viếng đền, tưởng nhớ đến những người đã có công dựng nước. Em đã được nghe nhiều câu chuyện về các Vua Hùng qua các sự tích nổi tiếng như Sự tích bánh chưng bánh dày, Sơn Tinh Thủy Tinh… và thấy được sự uy nghiêm và trí tuệ của các vị vua. Điều đó khiến tôi càng mong đợi chuyến đi này hơn. Dưới chân núi là khung cảnh uy nghiêm, hùng vĩ của núi Nghĩa Lĩnh với rừng cây và sương mù bao phủ. Nơi thờ các vị vua được đặt trên núi với ba đền chính là đền Hạ, đền Trung và đền Thượng. Đền Hạ tương truyền là nơi mẹ Âu Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng. Trăm trứng ấy đẻ ra trăm người con, năm mươi người theo cha xuống biển, bốn chín người theo mẹ lên núi. Người con ở lại làm vua, lấy tên là Hùng Vương (thứ nhất). Đền Trung là nơi các vị vua họp bàn chính sự. Đền Thượng là lăng thờ Hùng Vương thứ sáu. Lễ hội đền Hùng được tổ chức hàng năm bao gồm những hoạt động văn hóa, văn nghệ mang tính chất nghi thức truyền thống và những hoạt động văn hóa dân gian khác… Các hoạt động văn hóa mang tính chất nghi thức còn lại đến ngày nay là lễ rước kiệu vua và lễ dâng hương. Dưới tán lá mát rượi của những cây trò, cây mỡ cổ thụ và âm vang trầm bổng của trống đồng, đám rước như một con rồng uốn lượn trên những bậc đá huyền thoại để tới đỉnh núi Thiêng. Trước khi đi tham quan các đền, chúng tôi được làm lễ dâng hương và nghe diễn thuyết về các vị Vua Hùng. Không khí trang nghiêm, hào hùng ấy khiến tôi không khỏi tự hào về lịch sử dân tộc mình. Họ đã dựng nước, giữ nước để đời sau con cháu được hưởng thụ nền độc lập, hòa bình ấy. Và nay chúng em đến đây để thể hiện lòng biết ơn, sự tôn trọng của mình đối họ, thể hiện đúng truyền thống đạo lý “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Họ đã gây dựng nền móng cho nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa hiện tại và chúng em đều biết ơn điều đấy. Sau đó, chúng em được đi thăm các đền thờ vua trên núi. Cách trang trí, sắp xếp các di vật đều được bố trí một cách ngay ngắn, trang nghiêm. Em ấn tượng với tấm bia ở đền Hạ khắc dòng chữ của Bác Hồ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta cùng nhau giữ lấy nước.” Nó như một lời hứa hẹn Bác thay thế hệ trẻ nói lên trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước. Đó thực sự là một chuyến đi đầy bổ ích và ý nghĩa. Mặc dù nó chỉ kéo dài trong một buổi sáng ngắn ngủi nhưng nó đã giúp em hiểu ra trách nhiệm của mình đối với đất nước. Phải biết kính trọng, biết ơn thế hệ đi trước đặc biệt là các vị Vua Hùng và phải ghi nhớ: “Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba.” Quảng cáo Kể lại một sự việc có thật liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện lịch sử - mẫu 3 Vua Lý Thái Tổ (Lý Công uẩn) Lý Công Uẩn người làng cổ Pháp thuộc Đông Ngạn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Hiện nay ở làng Đình Bảng vẫn còn có lăng và đền thờ các vua nhà Lý. Tục truyền rằng Công uẩn không có cha; mẹ là Phạm Thị đi chơi chùa Tiên Sơn (làng Tiên Sơn, phủ Từ Sơn) , đêm về nằm mộng thấy "đi lại" với thần nhân, rồi có thai đẻ ra đứa con trai. Lên ba tuổi, đứa bé càng khôi ngô tuấn tú; gia đình đem cho nhà sư ở chùa cổ Pháp tên là Lý Khánh Văn làm con nuôi. Lý Công uẩn được học hành chữ Nho, kinh Phật và võ nghệ từ nhỏ, lớn lên dưới mái chùa, trở thành một tài trai văn võ siêu quần. Ngoài 20 tuổi, Lý Công uẩn đã làm võ tướng dưới triều vua Lê Đại Hành, từng lập công to trong trận Chi Lăng (981) đại phá quân Tống xâm lược, chém đầu tướng giặc Hầu Nhân Bảo. Về sau, ông giữ chức Tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ, nắm trong tay toàn bộ binh quyền. Đức trọng tài cao, ông được quần thần và tướng sĩ rất kính phục. Năm 1005, Lê Đại Hành băng hà. Ngôi vua được truyền cho Lê Long Việt. Chỉ 3 ngày sau, Lê Long Đĩnh giết anh, giành lấy ngai vàng. Lê Long Đĩnh là một tên vua vô cùng bạo ngược khác nào Kiệt, Trụ ngày xưa. Hắn hoang dâm vô độ, nên mắc bệnh không ngồi được; đến buổi chầu thì cứ nằm mà thị triều, cho nên tục gọi là Vua Ngọa Triều. Cuối năm 1009, Lê Ngọa Triều chết. Năm đó, Lý Công uẩn đã 35 tuổi. Bấy giờ lòng người đã oán giận nhà Tiền Lê lắm rồi; quân thần và tầng lớp tăng lữ suy tôn ông lên ngôi báu, mở đầu triều đại nhà Lý (1010- 1225). Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế vào đầu xuân 1010, tức là vua Lý Thái Tổ nhà Lý. Nhà vua trị vì được 19 năm, thọ 55 tuổi, băng hà năm 1028. Kể lại một sự việc có thật liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện lịch sử - mẫu 4 Nhân dịp Tết năm Nhâm Dần, tôi đã có dịp ghé thăm Hội xuân Yên Tử ở thành phố Uông Bí (Quảng Ninh) để dự lễ dâng hương cầu nguyện quốc thái dân an Xuân Yên Tử 2022. Đây là một trong những lễ hội truyền thống mùa xuân lớn và kéo dài nhất cả nước. Lễ hội Xuân Yên Tử được diễn ra hằng năm, bắt đầu từ ngày mùng 10 Tết âm lịch kéo dài đến khoảng 3 tháng. Vào dịp này, hàng nghìn người dân ở khắp mọi nơi đến dâng hương, tưởng nhớ Phật Hoàng Trần Nhân Tông và người dân tham gia lễ hành hương lên Yên Tử. Tôi được biết, Yên Tử là do Phật hoàng Trần Nhân Tông đã đến tu hành và sáng tạo ra Thiền phái Trúc Lâm mang đậm màu sắc dân tộc Việt. Ông là một vị vua hiền minh, đức độ và vô cùng thương yêu dân chúng. Đến với buổi lễ dâng hương xuân Yên Tử lòng tôi có một cảm xúc bồi hồi khó tả. Nơi dâng hương bắt đầu từ vườn tháp Huệ Quang lên đến chùa Hoa Yên. Vườn tháp Huệ Quang với 64 gọn thóp và mộ với bề dày lịch sử. Sân tháp được bao quanh với những bức tường cao rộng. Vị trí trung tâm của tháp đặt tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông bằng chất liệu cẩm thạch, trong tư thế một nhà sư ngồi thiền định, mình khoác áo cà sa hở ngực phải, các nếp áo chảy tràn ra mặt bệ tượng. Hình ảnh ấy vô cùng trang nghiêm mà cổ kính. Trong không khí trang nghiêm ấy, các vị sư thầy cùng rước lễ lên đến chùa Hoa Yên. Nơi có các nền kiến trúc mang một màu sắc rêu phong, cổ kính. Người dân bao quanh buổi lễ, các sư thầy và lãnh đạo tỉnh bắt đầu chủ trì buổi lễ. Trong không khí trang nghiêm ấy, bài diễn văn cầu bình an được diễn ra. Mọi người ai nấy cũng cầm một nén hương để dâng lên Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Mong năm nay sẽ là một năm an khang, nhiều may mắn, quốc thái dân an. Sau khi dâng hương xong, mọi người bắt đầu tản ra người đi đi ngắm cảnh xung quanh, người thì kéo nhau bắt đầu hành hương Yên Tử. Họ nô nức kéo nhau đi lên đỉnh chùa Đồng nơi có bức tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông vô cùng Vĩ đại. Quả thật, công lao của Trần Nhân Tông đến nay vẫn còn lưu giữ nghìn đời. Chính vì vậy, lễ hội Xuân Yên Tử cũng là một trong những lễ hội để tưởng nhớ công lao của ông. Lễ hội Xuân Yên Tử từ lâu đã trở thành một truyền thống không thể thiếu của người dân Quảng Ninh nói riêng và người dân cả nước nói chung. Lễ hội này luôn thu hút đông đảo người dân và khách du lịch tham gia. Kể lại một sự việc có thật liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện lịch sử - mẫu 5 Có một câu nói mà con người của muôn thời đại đều cần phải khắc ghi, đó là nếu đánh mất và bỏ mặc quá khứ, bạn không bao giờ có hiện tại và tương lai. Hay một cách ngắn gọn, nó đằm mình trong câu tục ngữ truyền thống bao đời của dân tộc ta "Uống nước nhớ nguồn”. Chính vì thế, hàng năm, vẫn có những lễ hội truyền thống để nhắc nhở con cháu đời đời về nguồn cội vĩnh hằng của cha ông, lễ hội đền hùng chính là mang ý nghĩa thiêng liêng ấy. “Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba Khắp miền truyền mãi câu ca Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm” Giỗ Tổ mùng 10 tháng 3 trở thành ngày lễ trọng đại của dân tộc. Tôi cũng đã có dịp may mắn một lần được hành hương về đất Tổ, phong cảnh, những câu chuyện lịch sử về các vị vua Hùng - những người đã dựng xây đất nước đã in sâu trong tâm trí tôi. L...
Quê hương em ở Tuyên Quang, một vùng đất giàu truyền thống lịch sử. Nơi đây gắn liền với nhiều sự kiện quan trọng của đất nước và đặc biệt là với Hồ Chí Minh. Em đã từng được nghe thầy cô kể lại một câu chuyện rất ý nghĩa về Bác khi Người sống và làm việc ở Tuyên Quang trong thời kỳ kháng chiến. Vào năm 1945, Bác Hồ đã ở và làm việc tại Tân Trào để lãnh đạo cách mạng. Trong thời gian đó, Bác sống rất giản dị trong một căn lán nhỏ giữa rừng. Dù công việc rất bận rộn nhưng Bác vẫn luôn quan tâm đến cuộc sống của người dân địa phương. Người thường hỏi thăm, trò chuyện và động viên mọi người cùng đoàn kết để giành độc lập cho đất nước. Có lần, khi thấy bộ đội và nhân dân làm việc vất vả, Bác đã ân cần nhắc nhở mọi người phải giữ gìn sức khỏe để tiếp tục chiến đấu lâu dài. Câu chuyện về Bác Hồ ở Tân Trào khiến em rất cảm động và tự hào về quê hương của mình. Qua đó, em càng thêm kính trọng Bác Hồ và hiểu hơn về lịch sử của quê hương. Em tự nhủ sẽ cố gắng học tập thật tốt để xứng đáng với truyền thống của mảnh đất Tuyên Quang anh hùng.