Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
- Ý kiến của tác giả vô cùng đúng đắn, chính xác. Bởi “nghĩa tiêu dùng, nghĩa tự vị” của chữ là những lớp nghĩa chung, được sử dụng trong giao tiếp hằng ngày, bất kì ai cũng hiểu. Vì vậy, người làm thơ phải tạo ra được những con chữ riêng cho bản thân mình.
GỢI Ý ĐÁP ÁN
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm):
Câu 1 (0,5 điểm): Đoạn thơ được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2 (1,0 điểm): Người mẹ được tác giả miêu tả: đợi con, tóc hóa ngàn lau trắng, lưng nặng thời gian, nghìn ngày trên bến vắng.
Câu 3 (1,5 điểm): Ý nghĩa 2 câu thơ: khắc họa nỗi vất vả, cơ cực trong cuộc đời mẹ bao năm trời bôn ba với gió sương để kiếm kế sinh nhai nuôi sống những người con của mình đồng thời thể hiện tình cảm yêu thương và sự biết ơn, trân trọng trước công lao ấy của những người con.
II. LÀM VĂN (7,0 điểm):
Câu 1 (2,0 điểm):
a. Mở bài
Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: tinh thần tự học.
b. Thân bài
* Giải thích
Tự học là khả năng tự tìm tòi, lĩnh hội kiến thức một cách chủ động mà không dựa dẫm vào ai.
* Phân tích
- Tự học giúp chúng ta chủ động trong việc tìm kiếm, tiếp thu được nhiều kiến thức bổ ích và có thể tự rút ra được những bài học cho riêng mình mà không bị phụ thuộc vào bất cứ ai.
- Tự học giúp ta ghi nhớ kiến thức lâu hơn.
- Tự học giúp chúng ta rèn luyện tính kiên trì.
- Tự học giúp mỗi chúng ta trở nên năng động hơn trong chính cuộc sống của mình.
* Chứng minh
Học sinh lựa chọn những dẫn chứng tiêu biểu để minh họa cho luận điểm của mình.
* Phản biện
Có những người lười biếng, không chịu tìm tòi, học hỏi để mở mang tầm hiểu biết. Những người này đáng bị phê phán.
c. Kết bài
Liên hệ bản thân và rút ra bài học.
Câu 2 (5,0 điểm):
a. Mở bài
Giới thiệu câu chuyện bằng lời kể của cá bống.
b. Thân bài
* Hoàn cảnh gặp gỡ Tấm Cám và chứng kiến câu chuyện
- Tôi sống ở một con sông nhỏ, ngày ngày thong thả vui chơi.
- Một hôm tôi vừa tỉnh giấc đã thấy mình nằm trong một thứ gì đó khá chật chội, tối om.
- Lát sau tôi được quay trở về với dòng nước mát nhưng ở một nơi khác có hình tròn và chật chội hơn dòng sông. Tôi sống ở đó nhiều ngày liên tiếp.
- Có cô gái tên là Tấm hằng ngày đến cho tôi ăn, làm bạn với tôi; tôi chứng kiến cuộc sống của cô gái bất hạnh này.
* Diễn biến câu chuyện
- Một hôm, nghe tiếng gọi cho tôi ăn, tôi ngoi mặt nước để ăn. Bỗng một hôm khi nghe thấy tiếng gọi tôi ngoi lên thì lại bị vớt lên.
- Hai người phụ nữ vẻ dữ dằn bắt tôi ăn thịt, xương bị vùi vào đống tro bếp. Tấm cho gà trống nắm thóc rồi nhờ tìm giúp xương tôi, lấy chôn vào bốn chân giường.
- Ít lâu sau, nhà vua mở hội tìm vợ. Tấm bị mẹ con Cám bắt làm việc nhà không cho đi. Cô được Bụt giúp nên có bộ trang phục đẹp đẽ để đi dự hội. Không may làm rơi chiếc giày nhưng chính chiếc giày đó đã giúp nàng trở thành vợ của vua.
- Thế nhưng, trong lần về nhà giỗ cha, Tấm bị dì ghẻ lừa leo lên cây cau rồi bị ngã chết do dì đứng dưới chặt gốc cây. Sau đó bà ta lại đem Cám vào cung thay thế Tấm.
- Tấm không chết mà hóa thành con chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi rồi hóa thành cây thị. Kì lạ là cây chỉ có một quả, được một bà lão qua đường đem về để nơi góc giường.
- Một hôm, nhà vua đi qua quán nước của bà thấy miếng trầu têm cánh phượng, gặng hỏi cuối cùng tìm được Tấm và đưa nàng về cung. Mẹ con Cám về sau cũng bị trừng phạt. Tấm sống hạnh phúc bên nhà vua.
c. Kết bài
Khái quát lại ý nghĩa câu chuyện.
5,
Biện pháp điệp từ được sử dụng trong câu thơ “Súng bên súng đầu sát bên đầu” nhằm tạo nên sự đối ứng trong một câu thơ:
- Gợi lên sự khắc nghiệt, nguy hiểm của chiến tranh (hình ảnh súng sẵn sàng chiến đấu).
- Thể hiện sự chung sức, cùng nhau đoàn kết, chiến đấu.
6,
Từ “tri kỉ” có nghĩa: thấu hiểu mình, hiểu bạn như hiểu bản thân mình.
Câu thơ trong bài Ánh trăng của Nguyễn Duy có chứa từ tri kỉ:
“Vầng trăng thành tri kỉ”
Từ tri kỉ trong bài Đồng chí diễn tả sự thấu hiểu giữa 2 người lính cùng chiến tuyến, cùng lý tưởng chiến đấu, cùng hoàn cảnh chiến đấu.
Từ tri kỉ trong bài Ánh trăng diễn tả sự đồng điệu thấu hiểu của trăng với con người, của con người với chính quá khứ của mình.
Tri kỉ trong bài "Đồng chí" tuy hai nhưng một.
7,
Câu “Đồng chí!” là câu đặc biệt, sâu lắng chỉ với hai chữ “đồng chí” và dấu chấm cảm, tạo thành nét điểm tựa và điểm chốt, như câu thơ bản lề nối hai phần của bài thơ.
Nó vang lên như một phát hiện, một lời khẳng định, một tiếng gọi trầm, xúc động từ trong tim, lắng đọng trong lòng người về 2 tiếng mới mẻ, thiêng liêng đó.
→ Câu thơ giống như một ngôi sao sáng làm nổi bật và sáng bừng cả bài thơ, là kết tinh của 1 tình cảm cách mạng.
8,
- Âm hưởng của bài thơ tươi vui, khỏe khoắn, khẩn trương khiến cho khung cảnh lao động trở nên nhộn nhịp, náo nức tới kì lạ.
- Cách gieo vần, nhịp kết hợp với thể thơ bảy chữ tạo tiết tấu, âm hưởng rộn rã.
- Lời thơ dõng dạc giọng điệu như khúc hát mê say hào hứng, cách gieo vần biến hóa linh hoạt.
- Vần trắc xen lẫn vẫn bằng, vần liền xen lẫn vần cách. Vần trắc tạo nên sức dội, sức mạnh. Tạo nên sự bay bổng làm nên âm hưởng sôi nổi, phơi phới, giàu sức sống.
9,
- Hoàn cảnh sáng tác: giữa năm 1958, Huy Cận có chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh. Từ chuyến đi thực tế này, hồn thơ của Huy Cận mới thực sự nảy nở và dồi dào trở lại khi có nguồn cảm hứng về thiên nhiên đất nước, lao động cũng như cuộc sống mới.
- Mạch cảm xúc của bài thơ được trình bày theo trình tự thời gian, không gian chuyến ra khơi của đoàn thuyền cho tới khi đoàn thuyền trở về, tất cả đều mang âm hưởng của niềm vui, niềm hạnh phúc trong lao động, đổi mới.
10,
Hai câu thơ:
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
- Biện pháp so sánh, nhân hóa đặc sắc.
- Huy Cận miêu tả chân thực sự chuyển động của thời khắc giữa ngày và đêm khiến cảnh biển đêm trở nên đẹp và kì vĩ, tráng lệ như trong thần thoại.
+ Gợi lên sự gần gũi của ngôi nhà thiên nhiên đang chuyển mình đi vào nghỉ ngơi, còn con người bắt đầu hoạt động lao động của mình, tạo sự bình yên với những người ngư dân ra khơi.
11,
Cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá.
- Khổ thơ 1: Cảnh ra khơi trong buổi chiều hoàng hôn huy hoàng, tráng lệ và giàu sức sống.
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
+ Điểm nhìn của nhà thơ: giữa biển khơi bao la.
+ Tác giả cảm nhận độc đáo về hình ảnh mặt trời qua biện pháp nhân hóa, so sánh đặc sắc khiến cảnh biển vào đêm đẹp, kì vĩ, tráng lệ như thần thoại, nhưng gần gũi, thân quen.
+ Câu thơ khiến ta hình dung cả đoàn thuyền chứ không phải con thuyền đơn độc ra khơi.
+ Từ “lại” diễn tả công việc lao động thường ngày, nhịp lao động trở nên tuần hoàn.
+ “Câu hát căng buồm với gió khơi”: khí thế lao động phơi phới, mạnh mẽ của đoàn thuyền cũng như sức mạnh lao động làm chủ cuộc đời và biển khơi.
- Phân tích khổ thơ thứ 2:
+ Gợi sự giàu có của biển cả: cá bạc, đoàn thoi.
+ Những hình ảnh so sánh đẹp đẽ, nên thơ.
+ Hình ảnh nhân hóa “dệt” thể hiện sự giàu có.
+ Từ “ta” đầy hào hứng, tự hào không còn cái “tôi” nhỏ bé đơn độc, u buồn nữa.
→ Sự giàu có trù phú của biển cả hứa hẹn ngày ra khơi nhiều thành quả.
Hình ảnh nói quá “Thuyền ta lái gió với buồm trăng/ Lướt giữa mây cao với biển bằng”.
+ Con thuyền lúc này có gió là người cầm lái, trăng là cánh buồm → gợi sự nhịp nhàng, hòa quyện.
+ Gợi sự khéo léo như nghệ sĩ của người dân chài.
( Tự viết thành đoạn nhé)
câu 1:chủ đề cuả bài thơ là:sự nhận thưć cuả người con về công ơn cuả mẹ
câu 2 :phép điệp trong khổ thơ 1 là:những muà quả
phép đối:lũ chúng tôi lớn lên-bí và bầu lớn xuống
câu 3:
chữ "quả"mang ý nghiã tả thực:dòng 1 và dòng 3 cuả khổ đâù.
chữ "quả"mang ý nghĩa biểu tượng:dòng 1 và dòng 4 cuả khổ cuối.
câu 4:nghĩa cuả cuṃtừ quả non xanh :chưa đến độ chín ,chưa trưởng thành;chưa làm được nhưng điều xưng đáng với sự mong đợi cuả mẹ,chưa thanh̀ người tốt.
1. MB: Truyền thuyết "An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy" là một tác phẩm đặc sắc của nhân dân ta. Đoạn kết của tác phẩm đã cho ta thấy như sự mê muội của Mị Châu trong tình yêu cũng như lỗi lầm của cô với đất nước và nhân dân
2. TB:
- Vì quá yêu và tin chồng nên khi cha dẫn chạy trốn MỊ Châu đã rắc lông ngỗng đánh dấu đường -> sự mù quáng đáng trách của MỊ Châu
- Mị Nương đã đặt tình riêng cao hơn trách nhiệm chung với đất nước -> nguyên nhân gián tiếp dẫn đến cảnh nước mất nhà tan
- Chính vì quá tin chồng, không biết rằng chồng đã lợi dụng mình nên khi nhận ra bị phản bội nàng đau đớn vô cùng
- Nàng vẫn là người công chúa của đất nước, chưa bao giờ nghĩ mình sẽ bán nước hại dân nên nàng đã thề với trời để trời đất chứng giám lòng thành của mình.
- Tuy nhiên cũng không thể hoàn toàn trách cô bởi trong quan niệm xưa kia người phụ nữa lấy chồng thì phải theo chồng "xuất giá tòng phu"
- ở đây nhân dân ta không đánh giá Mị Nương theo đạo đức phong kiến thông thường mà đứng trên quan điểm của quốc gia, dân tộc để kết tội nàng.Với những lỗi lầm không thể tha thứ của một người dân đối với đất nước, nhân dân ta không những đã để cho Rùa Vàng (đại diện cho công lí của nhân dân) kết tội đanh thép, không khoan nhượng gọi nàng là giặc mà còn để cho Mị Châu phải chết dưới lưỡi kiếm nghiêm khắc của vua cha.
3. KB:
1. MB: Truyền thuyết "An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy" là một tác phẩm đặc sắc của nhân dân ta. Đoạn kết của tác phẩm đã cho ta thấy như sự mê muội của Mị Châu trong tình yêu cũng như lỗi lầm của cô với đất nước và nhân dân
2. TB:
- Vì quá yêu và tin chồng nên khi cha dẫn chạy trốn MỊ Châu đã rắc lông ngỗng đánh dấu đường -> sự mù quáng đáng trách của MỊ Châu
- Mị Nương đã đặt tình riêng cao hơn trách nhiệm chung với đất nước -> nguyên nhân gián tiếp dẫn đến cảnh nước mất nhà tan
- Chính vì quá tin chồng, không biết rằng chồng đã lợi dụng mình nên khi nhận ra bị phản bội nàng đau đớn vô cùng
- Nàng vẫn là người công chúa của đất nước, chưa bao giờ nghĩ mình sẽ bán nước hại dân nên nàng đã thề với trời để trời đất chứng giám lòng thành của mình.
- Tuy nhiên cũng không thể hoàn toàn trách cô bởi trong quan niệm xưa kia người phụ nữa lấy chồng thì phải theo chồng "xuất giá tòng phu"
- ở đây nhân dân ta không đánh giá Mị Nương theo đạo đức phong kiến thông thường mà đứng trên quan điểm của quốc gia, dân tộc để kết tội nàng.Với những lỗi lầm không thể tha thứ của một người dân đối với đất nước, nhân dân ta không những đã để cho Rùa Vàng (đại diện cho công lí của nhân dân) kết tội đanh thép, không khoan nhượng gọi nàng là giặc mà còn để cho Mị Châu phải chết dưới lưỡi kiếm nghiêm khắc của vua cha.
3. KB:
- Mị Nương đáng trách nhưng cũng đáng thương.
Trong bài Đoàn thuyền đánh cá có sử dụng nhiều từ “hát” cả bài thơ giống như một khúc tráng ca. Những câu thơ có từ “hát” trong bài:
- Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
- Ta hát bài ca gọi cá vào → gợi sự thân thiết, niềm vui, phấn chấn yêu lao động.
- Câu hát căng buồm với gió khơi.
+ Những câu hát đã theo suốt hành trình của người dân chài, câu hát mở đầu lúc ra khơi và khi trở về đoàn thuyền vẫn với khí thế vui tươi đó, khúc ca trở về với thành quả là khúc khải hoàn ca.
+ Âm điệu bài thơ như khúc hát say mê hào hứng với chữ “hát” lặp đi lặp lại 4 lần khiến bài thơ tựa như khúc ca lao động khỏe khoắn, vui nhộn.
Tóc bà bạc hết bà ơi!
Như bao nhiêu sợi tơ trời trắng vương.
Sợi nào sợi nắng sợi sương
Sợi nào sợi quý, sợi thương, hở bà

quan điểm “ chữ bầu lên nhà thơ” được tác giả triển khai bằng cách nêu trực tiếp ý kiến,giải thích chữ nghĩa phải bắt nguồn từ đời sống và nhân dân,đồng thời sử dụng các hình ảnh so sánh nhà thơ với người lao động để làm rõ việc làm thơ là một lao động nghiêm túc,vất vả,qua đó khẳng định vai trò quyế định của chữ nghĩa đối với nhà thơ
Bằng cách lập luận rằng danh hiệu nhà thơ không tự nhiên mà có, mà được tạo nên qua quá trình lao động ngôn ngữ khổ công, biến chữ nghĩa công cộng thành ngôn ngữ đặc sản, độc đáo, mang phong cách riêng của thi sĩ, thể hiện qua sự trau chuốt, sáng tạo không ngừng nghỉ để làm giàu tâm hồn dân tộc, với sự đối thoại và kế thừa quan niệm của các bậc tiền bối .
lập luận rằng nhà thơ không phải danh hiệu có sẵn mà phải được tạo ra qua lao động cực nhọc với ngôn ngữ, xem chữ như một "cuộc bầu cử" khắt khe, nơi nhà thơ phải liên tục "vật lộn" để biến ngôn ngữ công cộng thành ngôn ngữ nghệ thuật độc đáo
Từ giải thích ý nghĩa hình ảnh
Đến chứng minh bằng lao động nghệ thuật vất vả
Kết hợp phê phán cái dễ dãi
Và khẳng định giá trị, trách nhiệm của văn chương chân chính
tác giả đã triển khai quan điểm” chữ bầu lên nhà thơ” thông qua việc tập trung vào vai trò của ngôn từ, cấu trúc và hình ảnh trong việc tạo nên một tác phẩm thơ ca có giá trị
...
Tác giả đã triển khai quan điểm "chữ bầu lên nhà thơ" thông qua việc tập trung vào sức mạnh nội tại, khả năng biểu đạt độc đáo và vai trò kiến tạo thế giới riêng biệt của ngôn từ trong thơ ca.
Quan điểm "chữ bầu lên nhà thơ" đc tác giả triển khai bằng cách khẳng định nhà thơ đc hình thành từ cuộc đời nhân dân, thơ ca chân chính phải bắt nguồn từ đời sống và đc nhân dân thừa nhận
tác giả đã triển khai quan điểm “chữ bầu lên nhà thơ” thông qua việc tập trung vào vai trò của ngôn từ , cấu trúc và hình ảnh trong việc tạo nên một tác phẩm thơ ca có giá trị
Tác giả đã triển khai quan điểm "chữ bầu lên nhà thơ" bằng cách nhấn mạnh vai trò của ngôn từ, sự trau chuốt, và công phu trong việc sáng tạo nên một tác phẩm thơ ca có giá trị
Tác giả triển khai quan điểm “chữ bầu lên nhà thơ” bằng hệ thống lí lẽ xác đáng, hình ảnh ẩn dụ giàu ý nghĩa, qua đó khẳng định: giá trị người nghệ sĩ được quyết định bởi chính tác phẩm của họ, không phải bởi danh xưng hay lời tung hô.
· “Chữ bầu”: Khẳng định chữ có quyền năng, có “tính chủ thể”. Chữ không thụ động, mà nó lựa chọn, phát ra tín hiệu và chờ người biết lắng nghe.
· “Lên nhà thơ”: Vai trò của nhà thơ là người được chữ “chọn mặt gửi vàng”, là phương tiện để chữ hiện hình. Danh hiệu “nhà thơ” là do chữ nghĩa trao tặng, chứ không phải tự phong.
2. Phân tích mối quan hệ giữa chữ và nhà thơ:
· Đây là mối quan hệ hai chiều, bình đẳng, chứ không phải chủ - tớ.
· Nhà thơ phải lao động, dầm mưa dãi nắng trên cánh đồng chữ (như hình ảnh ở câu hỏi trước) để tìm ra sự kết hợp đắc địa nhất giữa các chữ.
· Khi các chữ gặp được đúng vị trí, đúng ngữ cảnh, chúng sẽ “bừng sáng” và “bầu chọn” người sắp xếp chúng thành nhà thơ.
3. Mở rộng và nâng cao ý nghĩa:
· Quan điểm này phê phán thái độ coi thường chữ nghĩa, sử dụng ngôn từ dễ dãi, khoe chữ.
· Đồng thời, nó đề cao đạo đức nghề nghiệp của người cầm bút: sự khiêm nhường, tôn trọng ngôn ngữ dân tộc, và lao động không ngừng để xứng đáng với sự “bầu chọn” của chữ.
Tóm lại, quan điểm được triển khai từ giải thích khái niệm -> phân tích mối quan hệ -> rút ra bài học và ý nghĩa sâu xa, tạo thành một hệ thống lập luận vừa có tính lý thuyết, vừa gắn với thực tiễn sáng tác.
Quan điểm của tác giả được triển khai một cách chặt chẽ và mạch lạc
Quan điểm “chữ bầu lên nhà thơ” được Lê Đạt triển khai xuyên suốt, mạch lạc và có chiều sâu lí luận, thể hiện rõ quan niệm đổi mới về thơ ca và người làm thơ. Cụ thể:
1. Đặt chữ vào vị trí trung tâm của thơ ca
Tác giả phân biệt văn xuôi và thơ:
Người ta làm thơ không phải bằng ý mà bằng chữ,
từ đó xác lập chữ là tiêu chuẩn quyết định giá trị nhà thơ.
2. Triển khai quan điểm bằng việc nhấn mạnh lao động chữ nghĩa
Nhà thơ được ví như “lực điền trên cánh đồng giấy”, phải:
3. Khẳng định chữ là “người bầu chọn” nhà thơ
Lê Đạt cho rằng:
Mỗi nhà thơ có con đường chữ riêng, không ai giống ai.
Tuổi tác không quyết định giá trị thơ, mà là: nội lực của chữ.
Nhà thơ chân chính là người:
Quan điểm“ chữ bầu lên nhà thơ” tác giả đã triển khai theo cách dẫn ý của các nhà thơ, nhà văn lớn trên thế giới
Văn bản “Chữ bầu lên nhà thơ” của Lê Đạt đã nêu lên những quan niệm về một nhà thơ chân chính. Cái làm nên một nhà thơ không phải danh xưng mà người đời đặt cho họ mà là do tự thân những con chữ của họ làm nên. Vì vậy, sáng tác thơ phải dồn hết tâm trí dùi mài, lao động chữ, tạo ra thứ ngôn ngữ độc đáo thể hiện phong cách riêng của người nghệ sĩ.
Tác giả đã triển khai quan điểm “chữ bầu lên nhà thơ ” là việc nhấn mạnh sự khác biệt cơ bản giữa văn xuôi và thơ trong việc tạo nên giá trị thơ ca.
Lê Đạt triển khai quan điểm này qua các bước sau:
• Xác định tư cách nhà thơ: Một người không phải nghiễm nhiên trở thành nhà thơ suốt đời nhờ một danh hiệu hay vài bài thơ hay lúc trẻ.
• Quyền năng của "Chữ": Chữ ở đây không phải là nghĩa từ điển đơn thuần mà là ngôn ngữ đã được "hóa trị", mang diện mạo, âm lượng và độ vang vọng riêng.
• Quá trình "Bầu cử": Mỗi lần làm một bài thơ là một lần nhà thơ phải "ứng cử" lại trước "cử tri" là Chữ. Nếu anh không lao động, không sáng tạo ra những giá trị ngôn ngữ mới, anh sẽ bị "Chữ" từ chối tư cách làm nhà thơ.
• Kết luận: "Chữ bầu lên nhà thơ" là một cuộc sát hạch nghiệt ngã và liên tục, đòi hỏi sự tận tụy suốt đời của người nghệ sĩ.
Tác giả đã triển khai qua ý kiến:
- Phủ nhận tính "vĩnh viễn" của chức danh nhà thơ
- Sự công tâm của "Chữ" đối với mọi thiên tài ( làm thơ không phải đánh quả. Và không ai trúng số độc đắc suốt đời)
- Lao động chữ nghĩa là điều kiện để được "bầu". ( Mỗi lần là một bài thơ, nhà thơ lại phản ứng cử trong một cuộc bầu khắc nghiệt của cử tri chữ)
- ...
Quan điểm “ Chữ bầu len nhà thơ ” được tác giả triển khai phân tích thông qua việc phân tích vai trò của chữ trong thơ khác với văn xuôi “.Tôn-xtôi đã chữa đi chữa lại nhiều lần cuốn tiểu thuyết đồ sộ Chiến tranh và hoà bình. Phlô-be cân nhắc chữ trên cân tiểu li như một thầy lang bốc”
tác giả bắt đầu bằng việc phân biệt sự khác biệt giữa văn xuôi và thơ để làm nổi bật vai trò của chữ.
Văn xuôi: Dựa vào "ý tại ngôn tại" (ý nghĩa nằm ở con chữ). Thơ: Dựa vào "ý tại ngôn ngoại" (ý nghĩa nằm ngoài con chữ), do đó chữ trong thơ phải cô đúc và đa nghĩa.
tiếp đến tác giả đã bác bỏ quan niệm thơ ca chỉ là kết quả của năng khiếu hay cảm hứng nhất thời.
cuối cùng tác giả đã đưa ra luận điểm then chốt khẳng định vị thế của nhà thơ được quyết định bởi chính sự sáng tạo ngôn ngữ , và quá trình cố gắng của họ.
Quan điểm "Chữ bầu lên nhà thơ" là tư tưởng cốt lõi của bài tiểu luận, được Lê Đạt triển khai một cách logic thông qua việc định nghĩa lại bản chất của thơ ca và vị thế của người nghệ sĩ.
Quan điểm được xây dựng một cách logic chặt chẽ, bắt từ việc phân loại, đối lập để làm nổi bật đặc thù của thơ ca, sau đó đi đến kết luận khẳng định vai trò của ngôn từ. Đây là một lập luận mang tính học thuật cao, định hình quan niệm về thơ ca Việt Nam hiện đại về việc chú trọng sức gợi cảm và sự cô đọng của ngôn ngữ
Tác giar khai triển rất hay