Tác giả đã đưa ra những lí lẽ và dẫn chứng nào để tranh luận trong phần 2? Nêu nhận xét c...">
K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Tác giả đã đưa ra những lí lẽ và dẫn chứng nào để tranh luận trong phần 2? Nêu nhận xét của bạn.

Bài đọc:

CHỮ BẦU LÊN NHÀ THƠ

1. Tôi xin phép được nhắc lại tóm tắt một số ý kiến cần thiết đã được phát biểu tại cuộc Hội thảo Văn Miếu và trong tập Bóng chữ:

- Văn xuôi chủ yếu dựa vào “ý tại ngôn tại”.

- Thơ khác hẳn, dựa vào “ý tại ngôn ngoại”. Đã “ý tại ngôn ngoại” tất nhiên phải cô đúc và đa nghĩa.

- Người ta làm thơ không phải bằng ý mà bằng chữ.

- Nhà thơ làm chữ chủ yếu không phải ở “nghĩa tiêu dùng”, nghĩa tự vị của nó, mà ở diện mạo, âm lượng, độ vang vọng, sức gợi cảm của chữ trong tương quan hữu cơ với câu, bài thơ.

Nói như Va-lê-ri, chữ trong thơ và văn xuôi tuy giống nhau về hình thức nhưng khác nhau về hoá trị. […]

2. Người ta hay nói đến công phu người viết tiểu thuyết. Tôn-xtôi đã chữa đi chữa lại nhiều lần cuốn tiểu thuyết đồ sộ Chiến tranh và hoà bình. Phlô-be cân nhắc chữ trên cân tiểu li như một thầy lang bốc những vị thuốc công phạt có thể chết người.

Nhưng các nhà lí thuyết ít nói đến công phu của nhà thơ. Ngược lại thiên hạ sính ca tụng những nhà thơ viết tức khắc trong những cơn bốc đồng, những nhà thơ thiên phú.

Trời cho thì trời lại lấy đi. Những cơn bốc đồng thường ngắn ngủi.

Tôi rất biết những câu thơ hay đều kì ngộ, nhưng là kì ngộ kết quả của một thành tâm kiên trì, một đa mang đắm đuối, làm động lòng quỷ thần, chứ không phải may rủi đơn thuần.

Làm thơ không phải đánh quả. Và không ai trúng số độc đắc suốt đời.

Có người hiểu lầm câu nói của Trang Tử vứt thánh bỏ trí để coi thường việc học tập, rèn luyện, làm như Trang Tử khuyến khích một nỗ lực vô văn hoá.

Vứt thánh bỏ trí được lắm. Nhưng trước khi vứt, khi bỏ phải có đã chứ.

Tôi rất ghét cái định kiến quái gở, không biết xuất hiện từ bao giờ: các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm.

Đó là những nhà thơ chủ yếu sống bằng vốn trời cho.

Mà trời tuy là kho vô tận, thường khí cũng bủn xỉn lắm. Hình như tất cả những người “chơ” đều bủn xỉn. Và hoàn toàn sống dựa vào viện trợ, dầu là hào phóng, vô tư nhất nhiều khi còn khổ quá đi ăn mày.

Tôi không mê những nhà thơ thần đồng. Tôi ưa những nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hỡi lấy từng hạt chữ.

Chúng ta cần học những nhà thơ như Lý Bạch, Xa-a-đi, Gớt, Ta-go, ở vào buổi chiều tóc bạc vẫn thu hoạch những mùa thơ dậy thì.

Cái trẻ, cái già của nhà thơ quyết định không phải đo ở tuổi trời, mà ở nội lực của chữ.

Pi-cát-xô có nói một câu khá thâm thuý: “Người ta cần rất nhiều thời gian để trở nên trẻ.”

Có lẽ vì vậy mà tôi rất ủng hộ lời phát biểu của một nhà thơ Pháp, gốc Do Thái Ét-mông Gia-bét: Chữ bầu lên nhà thơ.

Gia-bét muốn nói rằng không có chức nhà thơ suốt đời. Mỗi lần làm một bài thơ, nhà thơ lại phải ứng cử trong một cuộc bầu khắc nghiệt của cử tri chữ.

Tôi không nhớ Gít-đơ hay Pét-xoa - nhà thơ lớn Bồ Đào Nha - đã có một nhận xét khá nghiêm khắc về Vích-to Huy-gô:

Vích-to nhiều lần tưởng mình là Huy-gô.

Như thế có nghĩa mặc dầu là một thiên tài đồ sộ đã không ít lần Huy-gô không được tái cử vào cương vị nhà thơ qua cuộc bỏ phiếu của chữ.

3. Con đường thơ gồm nhiều con đường riêng rất khác nhau của từng người. Không có đại lộ chung một chiều cho tất cả.

Ta có thể nói con đường thơ chính là số phận của một nhà thơ.

Nhưng, dầu theo con đường nào, một nhà thơ cũng phải cúc cung tận tuy đem hết tâm trí dùi mài và lao động chữ, biến ngôn ngữ công cộng thành ngôn ngữ đặc sản độc nhất làm phong phú cho tiếng mẹ như một lão bộc trung thành của ngôn ngữ.

(Lê Đạt, Đối thoại với đời & thơ, NXB. Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2011, tr. 86 - 88)

26
14 tháng 12 2025

Tác giả đã sử dụng các lí lẽ và dẫn chứng để làm nổi bật sự khác biệt giữa văn xuôi (ý tại ngôn tại) và thơ ca (ý tại ngôn ngoại), nhấn mạnh khả năng gợi mở, đa nghĩa của thơ. Nhận xét rằng những lập luận này rất thuyết phục và sâu sắc, giúp người đọc hiểu rõ hơn về bản chất của thơ ca. 

25 tháng 12 2025

trong phần 2,tác giả cho rằng chữ nghĩa làm nên nhà thơ phải bắt nguồn từ đời sống và nhân dân,làm thơ là một lao động nghiêm túc nhọc nhằn.Tác giả dùng các hình ảnh so sánh nhà thơ như người nông dân “một nắng hai sương”,”lực điền trên cánh đồng giấy”, “đổ bát mồ hôi lấy từng hạy chữ” để làm dẫn chứng.Lí lẽ rõ ràng,dẫn chứng cụ thể,sinh động,nên lập luận của tác giả giàu sức thuyết phục

25 tháng 12 2025

Tác giả đã tranh luận với hai quan niệm làm thơ sai lầm :thơ là cảm xúc bộc phát, không cần lao động và thơ là năng khiếu bẩm sinh xa rời thực tế.

Em nhận xét tài năng không tự nhiên có nó đến từ sự dồi mày chữ nghĩa, sự nỗ lực không ngừng. Nhà thơ phải là người làm chủ con chữ, sáng tạo ra từ ngôn ngữ độc đáo, mang tính "hoá trị "riêng biệt.

25 tháng 12 2025

Tôi có một ước mơ" (Martin Luther King Jr.) hoặc một văn bản có cấu trúc tương tự, nơi tác giả sử dụng lí lẽ và dẫn chứng cụ thể để nhấn mạnh sự bất mãn và đòi hỏi công lý, phê phán tình trạng bất công, như việc liệt kê các tiểu bang còn phân biệt chủng tộc, nhắc đến việc thiếu thốn quyền công dân, và sử dụng điệp ngữ "Tôi có một ước mơ" để kêu gọi hành động. 

25 tháng 12 2025

Phần hai đã thể hiện rõ quan niệm nghiêm túc , tiến bộ về văn học , đề cao lao động sáng tạo và trách nhiệm của nhà văn đối với chữ nghĩa và con người

25 tháng 12 2025

trong phần 2 tác giả đã đưa ra những lí lẽ và dẫn chứng về sự cần cù tần tuỵ của nhà thơ trong việc “ lao động chữ” biến ngôn ngữ công cộng thành ngôn ngữ độc đáo riêng của mình

28 tháng 12 2025

...

28 tháng 12 2025

Lí lẽ và dẫn chứng: Xác định các luận điểm chính mà tác giả đưa ra ở phần 2. Sau đó, tìm các câu hoặc đoạn văn giải thích cho những luận điểm đó (lí lẽ) và các ví dụ, số liệu, sự kiện cụ thể được sử dụng để minh họa (dẫn chứng). Nhận xét: Đánh giá về hiệu quả của việc sử dụng lí lẽ và dẫn chứng đó. Thông thường, việc kết hợp chặt chẽ lí lẽ và dẫn chứng cụ thể sẽ làm cho bài viết có tính thuyết phục cao.

28 tháng 12 2025

-lí lẽ: nhằ thơ đc hình thành và khẳng định bởi nhân dân cuộc đời và thời đại ko chỉ bởi tài năng cá nhân

-dchung: thực tế văn học cô thấy các nhà thơ lớn đều gắn bó với đời sống, lấy chất liệu từ cuộc sống và đc nhân dân thừa nhận

-nhận xét: lí lẽ dẫn chứng rõ ràng xác thực tiêu biểu cách lập luận logic giàu sức thuyết phục

29 tháng 12 2025

trong phần 2 tác giả đưa ra những lý lẽ và dẫn chứng về sự cần cù và tụy của nhà thơ trong việc “lao động chữ” biến ngôn ngữ công cộng thành độc đáo của riêng mình.

29 tháng 12 2025

Tác giả Lê Đạt đã đưa ra các lí lẽ và dẫn chứng để làm rõ quan niệm về nhà thơ chân chính, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của ngôn từ trong việc tạo nên giá trị của tác phẩm và vị thế của nhà thơ

Về lí lẽ: Tác giả "rất ghét" định kiến quái gở rằng các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm và tàn lụi sớm.

Về dẫn chứng: Tác giả mượn lời của nhà thơ Ét-mông Gia-bét: "Chữ bầu lên nhà thơ" để nhấn mạnh vai trò quyết định của ngôn từ.

30 tháng 12 2025

Lí lẽ và dẫn chứng:

Bác bỏ quan niệm thơ chỉ dựa vào "năng khiếu" hay "cảm hứng":

Lí lẽ: Tác giả cho rằng thơ không phải là sự chờ đợi một cách thụ động những phút "vụt hiện" hay "giời cho". Ông phê phán những người coi thơ là kết quả của sự lười biếng được ngụy trang dưới danh nghĩa "nghệ sĩ".

Dẫn chứng: Tác giả chỉ ra những "nhà thơ sành điệu" thường dựa dẫm vào cảm xúc sẵn có, đối lập hoàn toàn với những người mà ông gọi là "nhà thơ lấm láp".

Khẳng định bản chất của thơ là lao động chữ nghĩa:

Lí lẽ: Làm thơ là một nghề cần sự tỉ mỉ, kiên trì và trách nhiệm cao. Sự sáng tạo không tách rời khỏi lao động khổ hạnh trên từng trang giấy.

Dẫn chứng: Ông sử dụng hình ảnh "cúc cung tận tụy" và ví việc làm thơ như một cuộc "phát minh lại ngôn ngữ". Tác giả nhấn mạnh rằng chữ không chỉ đơn thuần là công cụ truyền tải ý nghĩa mà là thực thể sống được "bầu" lên qua sự sàng lọc khắt khe.

Nhận xét:

Lập luận sắc bén và giàu tính gợi hình: Lê Đạt không dùng những thuật ngữ lý thuyết khô khan. Ông sử dụng những từ ngữ mang tính hình tượng cao như "nhà thơ sành điệu" vs. "nhà thơ lấm láp", "bầu lên", "đãi cát tìm vàng" để làm nổi bật thông điệp.

Thái độ quyết liệt và tâm huyết: Cách tranh luận cho thấy tác giả là người cực kỳ coi trọng sự liêm khiết trong nghệ thuật. Ông không chấp nhận sự hời hợt, lười biếng trong tư duy.

Tính thuyết phục: Bằng cách đảo ngược quan niệm truyền thống (thơ là cảm hứng), Lê Đạt đã xác lập một tư duy hiện đại: nhà thơ là một người thợ thủ công ngôn ngữ bậc thầy, mang lại cái nhìn công bằng hơn cho lao động sáng tạo.


30 tháng 12 2025

Phần 2 cho thấy tác giả lập luận sắc sảo, giàu hình ảnh, vừa có chiều sâu tư tưởng vừa có sức lay động, góp phần khẳng định văn chương là lao động nghệ thuật nghiêm túc.

Lí lẽ:

1. Chữ không đơn thuần là công cụ, mà có linh hồn, có sức mạnh tự thân.

2. Nhà thơ là người phát hiện, lắng nghe và tổ chức các chữ, chứ không phải kẻ “sáng tạo ra” chữ.

3. Vai trò của nhà thơ là “thư ký trung thành của thời đại” (theo cách nói của Nam Cao), ghi lại những rung động, tư tưởng mà ngôn ngữ thời đại đó mang lại.

· Dẫn chứng (dự đoán từ phong cách Nguyễn Quang Thiều):

1. Dẫn chứng từ chính thơ ông: Phân tích cách ông sử dụng ngôn ngữ rất tạo hình, gợi cảm (ví dụ trong các tập “Sự mất ngủ của lửa”, “Những người đàn bà gánh nước sông”), cho thấy chữ tự nó tạo nên hình ảnh và cảm xúc.

2. Dẫn chứng từ quá trình sáng tác: Kể về việc một bài thơ hình thành từ một cụm từ, một hình ảnh ngôn từ ám ảnh trước, rồi mới phát triển thành bài.

3. Dẫn chứng từ các nhà thơ khác: Có thể nhắc đến những người cùng quan niệm tôn trọng tuyệt đối chữ nghĩa.


Nhận xét:

Cách lập luận như vậy là thuyết phục vì nó không chỉ đưa ra tuyên ngôn mà còn minh họa bằng thực tế sáng tác, làm sáng tỏ mối quan hệ cộng sinh giữa nhà thơ và ngôn ngữ. Nó giúp người đọc hiểu sâu hơn về lao động nghệ thuật thực sự.


Tác giả lấy dẫn chứng của nhiều tác giả nổi tiếng thế giới


1. Những lý lẽ mà tác giả đưa ra

Phản bác quan niệm đề cao “thiên phú”, coi nhẹ công phu:
Lê Đạt cho rằng người ta thường ca tụng những nhà thơ viết tức khắc, thiên tài bẩm sinh, trong khi lại ít nói đến công phu lao động chữ nghĩa.

Ông khẳng định:Những câu thơ hay không phải kết quả của may rủi, mà là thành quả của một quá trình lao động kiên trì, đổ mồ hôi trí tuệ.

Khẳng định làm thơ là một nghề nghiêm túc:

  • Làm thơ không phải đánh quả, cũng như không ai trúng số độc đắc suốt đời.
  • Nhà thơ muốn bền lâu phải có rèn luyện, tích lũy, ý thức nghề nghiệp, không thể chỉ dựa vào “vốn trời cho”.
  • Phê phán định kiến về “thần đồng”, “bốc đồng”:
  • Tác giả bày tỏ thái độ rất ghét định kiến cho rằng nhà thơ Việt Nam thường “chín sớm, tàn sớm” vì sống bằng thiên phú.
  • Ông cho rằng đó là cách nhìn phiến diện, dễ dãi, làm nghèo nhận thức về thơ ca.

2. Những dẫn chứngđược sử dụng

Dẫn chứng từ văn học thế giới:
-Nhắc đến Tôn-xtôi (Tolstoy) sửa chữa Chiến tranh và hòa bình nhiều lần → cho thấy lao động nghệ thuật nghiêm cẩn.

-So sánh nhà thơ với thầy lang cân nhắc từng vị thuốc → mỗi chữ đều có sức nặng, có thể “chết người” nếu cẩu thả.

-Dẫn chứng từ danh ngôn, tư tưởng:
-Câu nói của Trang Tử “vứt thánh bỏ trí” được phân tích để bác cách hiểu sai, coi thường học tập và rèn luyện.

-Dẫn lời Picasso: “Người ta cần rất nhiều thời gian để trở nên trẻ” → khẳng định giá trị của trải nghiệm và lao động lâu dài.

-Dẫn chứng về các nhà thơ lớn:
-Lý Bạch, Goethe, Tagore… đều thu hoạch những mùa thơ chín muồi ở tuổi muộn, chứng minh nội lực chữ nghĩa quan trọng hơn tuổi tác.

3. Nhận xét


Phần hai thể hiện:

  • Lập luận sắc sảo, giàu tính phản biện.
  • Dẫn chứng phong phú, kết hợp Đông – Tây, lí luận – thực tiễn.
  • Giọng điệu thẳng thắn, mạnh mẽ, đôi khi gay gắt nhưng thuyết phục.



14 tháng 1

lí lẽ: thơ đòi hỏi sữ miệt mài, kiên trì

Dẫn chứng: cần phải học theo các nhà thơ: Lý Bạch, Xa-a-đi, Ta-go

Như vậy ta thấy được lập luận của tác giả vô cùng sắc bens, dùng những hình ảnh để làm nổi bật quan điểm của mình, đồng thời thể hiện sự quyết liệt, sự tâm huyeets và trân trọng lao động nghệ thuật, không chấp nhận sự hời hợt

14 tháng 1

Lí lẽ: Nhà thơ không chỉ làm thơ bằng cảm xúc mà phải lao động nghiêm túc với chữ nghĩa. Chữ quyết định giá trị và tài năng của nhà thơ. Dẫn chứng: Nhà thơ phải chọn lọc, gọt giũa, “vật lộn” với từng chữ khi sáng tác. Chữ là chất liệu nghệ thuật làm nên thơ. Nhận xét Lí lẽ rõ ràng, dẫn chứng cụ thể. Quan niệm đề cao vai trò của ngôn ngữ, có sức thuyết phục.

Lý lẽ1 : những câu thơ hay đều kì ngộ, nhưng là kì ngộ kết quả của một thành tâm kiên trì, một đa mang đắm đuối, làm động lòng quỷ thần, chứ không phải may rủi đơn thuần.

BC: - Tôn -xtôi đã chữa đi chữa lại nhiều lần cuốn tiểu thuyết đồ sộ "Chiến tranh và Hòa Bình"

-) Phlô - be cân nhắc chữ trên cân tiểu ly như một thầy lang bốc những vị thuốc công phạt có thể chết người.

Lý lẽ 2: Tôi không mê những nhà thơ thần đồng. Tôi ưa những nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ.

BC: Lý Bạch, Xa - a - đi, Gớt, Ta-go

-) Pi - cát - xô có một câu khá thâm thúy: " người ta cần rất nhiều thời gian để trở nên trẻ"

- ....

Nhận xét của em:

- Có lập luận chặt chẽ, mang tính thuyết phục cao, kết hợp giữa ý kiến phủ định và khẳng định.

- Bằng chứng đa dạng, khách quan, thuyết phục.

- Ngôn ngữ giàu hình ảnh, kết hợp nhiều từ Hán Việt, thuật ngữ chuyên môn.

14 tháng 1

Lý lẽ 2 của tác giả là cái trẻ hay già của không đo bằng mà bằng nội lực của chữ.

Dẫn chứng là câu nói của nhà thơ người Pháp ét-Mông gia - bét “chữ bầu lên nhà thơ”

Lý lẽ và dẫn chứng của tác giả rất sắc sảo và thuyết phục .tác giả đã sử dụng hình ảnh ẩn dụ một cách độc đáo để nhấn mạnh vai trò quyết định của ngôn từ sự lao động sáng tạo không ngừng nghỉ của người nghệ sĩ trong việc tạo nên giá trị đích thực của một tác phẩm thơ ca .Quan điểm này đi ngược lại với những quan niệm phổ biến cho rằng chỉ cần cảm hứng hay tài năng thiên bẩm từ đó đề cao sự khổ luyện để tạo ra

BÀI LÀM

Trong phần 2 của tiểu luận, để khẳng định quan niệm thơ ca là kết quả của quá trình lao động chữ nghĩa miệt mài chứ không phải do may rủi hay thiên bẩm, Lê Đạt đã xây dựng hệ thống lí lẽ và dẫn chứng hết sức thuyết phục:

1. Hệ thống lí lẽ sắc bén:

• Bác bỏ quan niệm về sự bốc đồng: Tác giả cho rằng những cơn bốc đồng thường ngắn ngủi và không bền vững.

• Khẳng định bản chất của những câu thơ hay: Những câu thơ hay không phải là vận may tình cờ mà là kết quả của "một thành tâm kiên trì", một sự "đa mang đắm đuối" trong lao động.

• Quan niệm về việc học tập và rèn luyện: Ông phê phán những người lấy lí do "vứt thánh bỏ trí" để lười biếng, coi đó là một "nỗ lực vô văn hóa". Muốn "vứt" hay "bỏ" cái gì thì trước hết anh phải "có" nó thông qua sự tích lũy và học hỏi.

• Phản đối định kiến về tuổi tác: Tác giả bác bỏ ý kiến cho rằng nhà thơ Việt Nam thường "chín sớm nên cũng tàn lụi sớm" do chỉ dựa vào "vốn trời cho".

2. Hệ thống dẫn chứng xác thực:

• Dẫn chứng về tinh thần lao động của các bậc vĩ nhân: * Tôn-xtôi: Sửa đi sửa lại nhiều lần cuốn tiểu thuyết đồ sộ Chiến tranh và hòa bình.

• Phlô-be: Cân nhắc từng chữ trên "cân tiểu li" như một thầy lang bốc thuốc.

• Dẫn chứng về sự sáng tạo bền bỉ bất chấp tuổi tác: Nhắc đến các tên tuổi lớn như Lý Bạch, Gớt, Ta-go... những người dù tóc bạc vẫn thu hoạch được "những mùa thơ dậy thì".

• Dẫn chứng từ các nhà thơ nước ngoài: Nhắc đến ý kiến của nhà thơ Bồ Đào Nha về Vích-to Huy-gô để nhấn mạnh việc một nhà thơ phải luôn nỗ lực làm mới mình để được "chữ bầu lên".

3. Nhận xét cá nhân:

• Về cách lập luận: Lê Đạt có lối lập luận rất chặt chẽ, sử dụng phép so sánh đối lập giữa "nhà thơ thần đồng" và "nhà thơ lực điền" để làm nổi bật tư tưởng của mình.

• Về ngôn ngữ: Cách dùng từ giàu hình ảnh (như cân tiểu li, cánh đồng giấy, bốc thuốc) khiến các lí lẽ khô khan trở nên sinh động, dễ đi vào lòng người.

• Giá trị tư tưởng: Những lí lẽ và dẫn chứng này không chỉ có giá trị với người làm thơ mà còn là bài học về thái độ lao động nghiêm túc cho mọi ngành nghề sáng tạo.

Tác giả đã đưa ra những lí lẽ và dẫn chứng để tranh luận trong phần 2 là:
  • Lí lẽ: Người ta hay nói đến công phu người viết tiểu thuyết, nhưng các nhà lí thuyết ít nói đến công phu của nhà thơ. 
  • Dẫn chứng: Tôn-xtôi đã chữa đi chữa lại nhiều lần cuốn tiểu thuyết đồ sộ Chiến tranh và hoà bình; Phlô-be cân nhắc chữ trên cân tiểu li như một thầy lang bốc những vị thuốc công phạt có thể chết người. 
  • Nhận xét: Những lí lẽ và dẫn chứng này làm nổi bật sự khác biệt và công phu thầm lặng, tinh tế của người làm thơ so với người viết văn xuôi, giúp người đọc nhận thức sâu sắc hơn về giá trị và sự khó khăn của nghệ thuật thơ ca.

Những lý lẽ và dẫn chứng tác giả đã đưa vào phần 2 là:

Lí lẽ1: sự tâm huyết , những khổ hạnh vì nghệ thuật của các nhà văn lớn là tấm gương cho người làm thơ.

Dẫn chứng:

-Tolstoy: sửa đi sửa lại nhiều lần cuốn tiểu thuyết đồ sộ Chiến tranh và Hòa Bình

-Flaubert: cân nhắc từng chữ như thầy lang bốc thuốc độc (sai một li đi một dặm)

Lí lẽ2: phê phán quan niệm sai lầm của mọi người về việc ca tụng những nhà thơ viết tức khắc dựa vào Thiên Phú.

Dẫn Chứng: "Trời cho thì trời lại lấy đi .Những cơn bốc đồng thường ngắn ngủi".

Lí lẽ 3 : những câu thơ hay là kết quả của một quá trình lao động nghiêm túc không phải là sự may rủi.

Dẫn Chứng: "thơ hay là kết quả của sự thành tâm kiên trì ,đa mang đắm đuối làm động lòng quỷ thần ,chứ không phải là may rủi đơ thuần ".

Nhận xét về cách tranh luận của tác giả: tác giả sử dụng so sánh đối lập giữa một bên là năng khiếu, may rủi vào một bên là lao động chữ nghĩa việc đưa các dẫn chứng cụ thể giúp tăng sức gợi hình sức nặng cho luận điểm. cách dùng từ ngữ độc đáo khiến vấn đề lý luận khô khan trở nên sinh động hấp dẫn việc tận dụng tư tưởng cho thấy chiều sâu tri thức của các tác giả giúp người đọc nhận ra rằng sự sáng tạo đỉnh cao bắt nguồn từ sự tích lũy bền bỉ.


15 tháng 1

Tác giả triển khai lập luận qua các ý chính sau:

  • Lí lẽ về sự công phu trong sáng tạo: Tác giả khẳng định người viết tiểu thuyết rất công phu, nhưng các nhà lí thuyết lại ít nói đến công phu của nhà thơ.
    • Dẫn chứng: Tôn-xtôi đã chữa đi chữa lại nhiều lần cuốn tiểu thuyết đồ sộ Chiến tranh và hòa bình; Phlô-be cân nhắc chữ trên cân tiểu li như thầy lang bốc thuốc.
  • Lí lẽ bác bỏ quan niệm về "thiên phú" và "bốc đồng": Ông cho rằng những cơn bốc đồng thường ngắn ngủi và cái gì "trời cho" thì cũng có thể bị "trời lấy đi".
    • Dẫn chứng: Những câu thơ hay là kết quả của "một thành tâm kiên trì, một đa mang đắm đuối" chứ không phải "may rủi đơn thuần". Ông khẳng định "không ai trúng số độc đắc suốt đời" trong việc làm thơ.
  • Lí lẽ về việc học tập và rèn luyện: Tác giả phê phán những người hiểu lầm ý của Trang Tử để coi thường việc học tập, rèn luyện.
    • Dẫn chứng: Trích dẫn ý của Trang Tử "vứt thánh bỏ trí", nhưng Lê Đạt nhấn mạnh "trước khi vứt, khi bỏ phải có đã chứ".
  • Lí lẽ về sự tàn lụi của các nhà thơ sống bằng vốn sẵn có: Ông giải thích lý do nhiều nhà thơ Việt Nam "chín sớm nên cũng tàn lụi sớm" là vì họ chỉ sống dựa vào "vốn trời cho".
    • Dẫn chứng: Tác giả ví von nguồn viện trợ của trời cũng "bủn xỉn lắm", nếu chỉ sống dựa vào đó thì chẳng khác nào "đi ăn mày".
  • Nhận xét:
  • Tính thuyết phục cao: Việc đưa ra các tên tuổi lớn của văn học thế giới (Tolstoy, Flaubert) làm dẫn chứng giúp luận điểm về "sự công phu" trở nên có sức nặng và khách quan hơn.
  • Cách diễn đạt độc đáo, giàu hình ảnh: Tác giả không dùng những thuật ngữ lí luận khô khan mà sử dụng các hình ảnh so sánh rất đời thường nhưng thấm thía như: "trúng số độc đắc", "bốc thuốc", "đi ăn mày", "cân tiểu li". Điều này làm cho vấn đề lí luận trở nên gần gũi và dễ cảm thụ.
  • Thái độ quyết liệt và thẳng thắn: Cách dùng từ như "rất ghét", "định kiến quái gở", "bủn xỉn" cho thấy Lê Đạt là một người cực kỳ trân trọng lao động chữ nghĩa và dị ứng với lối sáng tác hời hợt, lười biếng.
  • Tư duy biện chứng: Ông không phủ nhận hoàn toàn năng khiếu ("trời cho"), nhưng ông nhấn mạnh rằng nếu không có sự bồi đắp và lao động kiên trì ("lực điền trên cánh đồng giấy"), thì năng khiếu đó cũng sớm muộn bị cạn kiệt.
28 tháng 3

Tác giả Lê Đạt đã đưa ra các lý lẽ cơ bản để tranh luận về bản chất của thơ ca bằng phương pháp đối lập với văn xuôi. Lý lẽ thứ nhất là văn xuôi dựa vào “ý tại ngôn tại” (ý nghĩa nằm ngay trong lời nói), trong khi lý lẽ thứ hai và là luận điểm chính, khẳng định thơ ca dựa vào “ý tại ngôn ngoại”, đòi hỏi thơ phải cô đúc và đa nghĩa. Lý lẽ cuối cùng là kết luận sâu sắc: người làm thơ phải sáng tạo bằng “chữ” chứ không chỉ bằng ý tưởng. Nhận xét của tôi là cách tranh luận này rất hiệu quả bởi tính học thuật cao và sự sử dụng các cặp khái niệm đối lập rõ ràng, giúp độc giả dễ dàng nắm bắt được sự khác biệt căn cốt giữa hai thể loại văn học mà tác giả muốn nhấn mạnh.Nếu bạn muốn thảo luận cụ thể hơn về việc tại sao thơ ca lại cần phải “cô đúc và đa nghĩa,” chúng ta có thể phân tích vai trò của tính biểu tượng trong thơ ca Việt Nam hiện đại

Không có

. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)Đọc I đoạn trích:           Thế rồi Gióng mặc giáp sắt, đội nón sắt, tay cầm gươm múa quanh mấy vòng. Đoạn từ biệt mẹ và dân làng, nhảy lên lưng ngựa. Ngựa sắt bỗng chồm lên, phun thẳng ra đằng trước một luồng lửa đỏ rực. Gióng thúc chân, ngựa phi như bay, sải từng bước dài hàng chục con sào. Chỉ trong chớp mắt, ngựa đã xông đến đồn trại giặc...
Đọc tiếp

. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc I đoạn trích:

           Thế rồi Gióng mặc giáp sắt, đội nón sắt, tay cầm gươm múa quanh mấy vòng. Đoạn từ biệt mẹ và dân làng, nhảy lên lưng ngựa. Ngựa sắt bỗng chồm lên, phun thẳng ra đằng trước một luồng lửa đỏ rực. Gióng thúc chân, ngựa phi như bay, sải từng bước dài hàng chục con sào. Chỉ trong chớp mắt, ngựa đã xông đến đồn trại giặc đang đóng la liệt cả mấy khu rừng. Lưỡi gươm của Gióng vung lên loang loáng như chớp giật. Quân giặc xông ra chừng nào chết chừng ấy. Ngựa thét ra lửa thiêu cháy từng dãy đồn trại, lửa thiêu luôn cả mấy khu rừng.

            Nhưng tướng giặc Ân vương vẫn còn cố gào thét hô quân xáp tới, Gióng càng đánh càng khỏe, thây giặc nằm ngổn ngang. Bỗng chốc gươm gãy, Gióng không chút bối rối, thuận tay nhổ những bụi tre hai bên đường quật tới tấp vào các toán giặc đang cố gắng trụ lại theo lệnh chủ tướng. Chẳng mấy chốc quân giặc đã tẩu tán bỏ chạy khắp nơi, Ân vương bị quật chết tan xác. Bọn tàn binh giặc lạy lục xin hàng. Quân đội của Hùng Vương cũng như dân các làng chỉ còn việc xông ra trói chúng lại. Không đầy một buổi, Gióng đã trừ xong nạn cho nước nhà. Lúc bấy giờ ngựa Gióng đã tiến đến chân núi Sóc Sơn. Đến đây, Gióng bèn cởi giáp bỏ nón lại, rồi cả người lẫn ngựa bay thẳng lên trời.

                                                                                                                                         (Trích Thánh Gióng)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Xác định PTBĐ chính của đoạn trích.

Câu 2. Nêu  những sự việc tiêu biểu được kể lại trong đoạn trích trên?

Câu 3. Liệt kê các chi tiết miêu tảsự thất bại của quân giặc được nói đến trong đoạn trích?

Câu 4. Nêu hiệu quả của phép so sánh được sử dụng trong câu văn: Gióng thúc chân, ngựa phi như bay, sải từng bước dài hàng chục con sào?

Câu 5. Anh/Chị hiểu như thế nào về chi tiết:  Lúc bấy giờ ngựa Gióng đã tiến đến chân núi Sóc Sơn. Đến đây, Gióng bèn cởi giáp bỏ nón lại, rồi cả người lẫn ngựa bay thẳng lên trời?

Câu 6. Anh/chị hãy nhận xét thông điệp của tác giả được thể hiện qua đoạn trích?

 

2
23 tháng 10 2021

Định cho người ta làm hộ luôn bài kiểm tra à

23 tháng 10 2021
Ừ đúng là bài kiểm tra nhưng được ra về nhà
4 tháng 11 2021

GỢI Ý ĐÁP ÁN

I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm):

Câu 1 (0,5 điểm): Đoạn thơ được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2 (1,0 điểm): Người mẹ được tác giả miêu tả: đợi con, tóc hóa ngàn lau trắng, lưng nặng thời gian, nghìn ngày trên bến vắng.

Câu 3 (1,5 điểm): Ý nghĩa 2 câu thơ: khắc họa nỗi vất vả, cơ cực trong cuộc đời mẹ bao năm trời bôn ba với gió sương để kiếm kế sinh nhai nuôi sống những người con của mình đồng thời thể hiện tình cảm yêu thương và sự biết ơn, trân trọng trước công lao ấy của những người con.

II. LÀM VĂN (7,0 điểm):

Câu 1 (2,0 điểm):

a. Mở bài

Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: tinh thần tự học.

b. Thân bài

* Giải thích

Tự học là khả năng tự tìm tòi, lĩnh hội kiến thức một cách chủ động mà không dựa dẫm vào ai.

* Phân tích

- Tự học giúp chúng ta chủ động trong việc tìm kiếm, tiếp thu được nhiều kiến thức bổ ích và có thể tự rút ra được những bài học cho riêng mình mà không bị phụ thuộc vào bất cứ ai.

- Tự học giúp ta ghi nhớ kiến thức lâu hơn.

- Tự học giúp chúng ta rèn luyện tính kiên trì.

- Tự học giúp mỗi chúng ta trở nên năng động hơn trong chính cuộc sống của mình.

* Chứng minh

Học sinh lựa chọn những dẫn chứng tiêu biểu để minh họa cho luận điểm của mình.

* Phản biện

Có những người lười biếng, không chịu tìm tòi, học hỏi để mở mang tầm hiểu biết. Những người này đáng bị phê phán.

c. Kết bài

Liên hệ bản thân và rút ra bài học.

Câu 2 (5,0 điểm):

a. Mở bài

Giới thiệu câu chuyện bằng lời kể của cá bống.

b. Thân bài

* Hoàn cảnh gặp gỡ Tấm Cám và chứng kiến câu chuyện

- Tôi sống ở một con sông nhỏ, ngày ngày thong thả vui chơi.

- Một hôm tôi vừa tỉnh giấc đã thấy mình nằm trong một thứ gì đó khá chật chội, tối om.

- Lát sau tôi được quay trở về với dòng nước mát nhưng ở một nơi khác có hình tròn và chật chội hơn dòng sông. Tôi sống ở đó nhiều ngày liên tiếp.

- Có cô gái tên là Tấm hằng ngày đến cho tôi ăn, làm bạn với tôi; tôi chứng kiến cuộc sống của cô gái bất hạnh này.

* Diễn biến câu chuyện

- Một hôm, nghe tiếng gọi cho tôi ăn, tôi ngoi mặt nước để ăn. Bỗng một hôm khi nghe thấy tiếng gọi tôi ngoi lên thì lại bị vớt lên.

- Hai người phụ nữ vẻ dữ dằn bắt tôi ăn thịt, xương bị vùi vào đống tro bếp. Tấm cho gà trống nắm thóc rồi nhờ tìm giúp xương tôi, lấy chôn vào bốn chân giường.

- Ít lâu sau, nhà vua mở hội tìm vợ. Tấm bị mẹ con Cám bắt làm việc nhà không cho đi. Cô được Bụt giúp nên có bộ trang phục đẹp đẽ để đi dự hội. Không may làm rơi chiếc giày nhưng chính chiếc giày đó đã giúp nàng trở thành vợ của vua.

- Thế nhưng, trong lần về nhà giỗ cha, Tấm bị dì ghẻ lừa leo lên cây cau rồi bị ngã chết do dì đứng dưới chặt gốc cây. Sau đó bà ta lại đem Cám vào cung thay thế Tấm.

- Tấm không chết mà hóa thành con chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi rồi hóa thành cây thị. Kì lạ là cây chỉ có một quả, được một bà lão qua đường đem về để nơi góc giường.

- Một hôm, nhà vua đi qua quán nước của bà thấy miếng trầu têm cánh phượng, gặng hỏi cuối cùng tìm được Tấm và đưa nàng về cung. Mẹ con Cám về sau cũng bị trừng phạt. Tấm sống hạnh phúc bên nhà vua.

c. Kết bài

Khái quát lại ý nghĩa câu chuyện.

 

 

Câu 5: Chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ “Súng bên súng, đầu sát bên đầu”, nêu tác dụng của biện pháp đó.Câu 6: Từ “tri kỉ” trong bài có ý nghĩa gì? Em hãy chép chính xác một câu thơ trong bài em đã học cũng sử dụng từ tri kỉ, ghi rõ tên tác giả tác phẩm. So sánh hai từ tri kỉ đó.Câu 7: Câu “Đồng chí!” thuộc vào kiểu câu nào? Tại sao?Câu 8: Em có nhận xét...
Đọc tiếp

Câu 5: Chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ “Súng bên súng, đầu sát bên đầu”, nêu tác dụng của biện pháp đó.

Câu 6: Từ “tri kỉ” trong bài có ý nghĩa gì? Em hãy chép chính xác một câu thơ trong bài em đã học cũng sử dụng từ tri kỉ, ghi rõ tên tác giả tác phẩm. So sánh hai từ tri kỉ đó.

Câu 7: Câu “Đồng chí!” thuộc vào kiểu câu nào? Tại sao?

Câu 8: Em có nhận xét gì về âm hưởng, giọng điệu của bài thơ? Các yếu tố: thể thơ, vần, nhịp đã góp phần tại nên âm hưởng của bài thơ như thế nào?

 

Câu 9: Hãy trình bày hoàn cảnh sáng tác của bài thơ. Mạch cảm xúc của bài thơ được triển khai theo trình tự nào? Nêu hiệu quả nghệ thuật của nó?

Câu 10: Hai câu đầu bài thơ sử dụng biện pháp nghệ thuật gì? Biện pháp nghệ thuật đó có tác dụng như thế nào?

Câu 11: Bằng một đoạn thơ khoảng 12 câu theo phương thức Diễn dịch, em hãy trình bày cảm nhận của mình về khổ thơ vừa chép. Đoạn văn có sử dụng câu cảm thán và lời dẫn trực tiếp.

 

6
4 tháng 5 2021

5, 

Biện pháp điệp từ được sử dụng trong câu thơ “Súng bên súng đầu sát bên đầu” nhằm tạo nên sự đối ứng trong một câu thơ:

- Gợi lên sự khắc nghiệt, nguy hiểm của chiến tranh (hình ảnh súng sẵn sàng chiến đấu).

- Thể hiện sự chung sức, cùng nhau đoàn kết, chiến đấu.

6, 

Từ “tri kỉ” có nghĩa: thấu hiểu mình, hiểu bạn như hiểu bản thân mình.

Câu thơ trong bài Ánh trăng của Nguyễn Duy có chứa từ tri kỉ:

“Vầng trăng thành tri kỉ”

Từ tri kỉ trong bài Đồng chí diễn tả sự thấu hiểu giữa 2 người lính cùng chiến tuyến, cùng lý tưởng chiến đấu, cùng hoàn cảnh chiến đấu.

Từ tri kỉ trong bài Ánh trăng diễn tả sự đồng điệu thấu hiểu của trăng với con người, của con người với chính quá khứ của mình.

Tri kỉ trong bài "Đồng chí" tuy hai nhưng một.

7, 

Câu “Đồng chí!” là câu đặc biệt, sâu lắng chỉ với hai chữ “đồng chí” và dấu chấm cảm, tạo thành nét điểm tựa và điểm chốt, như câu thơ bản lề nối hai phần của bài thơ.

Nó vang lên như một phát hiện, một lời khẳng định, một tiếng gọi trầm, xúc động từ trong tim, lắng đọng trong lòng người về 2 tiếng mới mẻ, thiêng liêng đó.

→ Câu thơ giống như một ngôi sao sáng làm nổi bật và sáng bừng cả bài thơ, là kết tinh của 1 tình cảm cách mạng.

8, 

- Âm hưởng của bài thơ tươi vui, khỏe khoắn, khẩn trương khiến cho khung cảnh lao động trở nên nhộn nhịp, náo nức tới kì lạ.

- Cách gieo vần, nhịp kết hợp với thể thơ bảy chữ tạo tiết tấu, âm hưởng rộn rã.

- Lời thơ dõng dạc giọng điệu như khúc hát mê say hào hứng, cách gieo vần biến hóa linh hoạt.

- Vần trắc xen lẫn vẫn bằng, vần liền xen lẫn vần cách. Vần trắc tạo nên sức dội, sức mạnh. Tạo nên sự bay bổng làm nên âm hưởng sôi nổi, phơi phới, giàu sức sống.

9, 

 - Hoàn cảnh sáng tác: giữa năm 1958, Huy Cận có chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh. Từ chuyến đi thực tế này, hồn thơ của Huy Cận mới thực sự nảy nở và dồi dào trở lại khi có nguồn cảm hứng về thiên nhiên đất nước, lao động cũng như cuộc sống mới.

    - Mạch cảm xúc của bài thơ được trình bày theo trình tự thời gian, không gian chuyến ra khơi của đoàn thuyền cho tới khi đoàn thuyền trở về, tất cả đều mang âm hưởng của niềm vui, niềm hạnh phúc trong lao động, đổi mới.

10, 

Hai câu thơ:

Mặt trời xuống biển như hòn lửa

Sóng đã cài then đêm sập cửa

    - Biện pháp so sánh, nhân hóa đặc sắc.

    - Huy Cận miêu tả chân thực sự chuyển động của thời khắc giữa ngày và đêm khiến cảnh biển đêm trở nên đẹp và kì vĩ, tráng lệ như trong thần thoại.

       + Gợi lên sự gần gũi của ngôi nhà thiên nhiên đang chuyển mình đi vào nghỉ ngơi, còn con người bắt đầu hoạt động lao động của mình, tạo sự bình yên với những người ngư dân ra khơi.

11, 

Cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá.

    - Khổ thơ 1: Cảnh ra khơi trong buổi chiều hoàng hôn huy hoàng, tráng lệ và giàu sức sống.

Mặt trời xuống biển như hòn lửa

Sóng đã cài then đêm sập cửa

       + Điểm nhìn của nhà thơ: giữa biển khơi bao la.

       + Tác giả cảm nhận độc đáo về hình ảnh mặt trời qua biện pháp nhân hóa, so sánh đặc sắc khiến cảnh biển vào đêm đẹp, kì vĩ, tráng lệ như thần thoại, nhưng gần gũi, thân quen.

       + Câu thơ khiến ta hình dung cả đoàn thuyền chứ không phải con thuyền đơn độc ra khơi.

       + Từ “lại” diễn tả công việc lao động thường ngày, nhịp lao động trở nên tuần hoàn.

       + “Câu hát căng buồm với gió khơi”: khí thế lao động phơi phới, mạnh mẽ của đoàn thuyền cũng như sức mạnh lao động làm chủ cuộc đời và biển khơi.

    - Phân tích khổ thơ thứ 2:

       + Gợi sự giàu có của biển cả: cá bạc, đoàn thoi.

       + Những hình ảnh so sánh đẹp đẽ, nên thơ.

       + Hình ảnh nhân hóa “dệt” thể hiện sự giàu có.

       + Từ “ta” đầy hào hứng, tự hào không còn cái “tôi” nhỏ bé đơn độc, u buồn nữa.

    → Sự giàu có trù phú của biển cả hứa hẹn ngày ra khơi nhiều thành quả.

    Hình ảnh nói quá “Thuyền ta lái gió với buồm trăng/ Lướt giữa mây cao với biển bằng”.

       + Con thuyền lúc này có gió là người cầm lái, trăng là cánh buồm → gợi sự nhịp nhàng, hòa quyện.

       + Gợi sự khéo léo như nghệ sĩ của người dân chài.

( Tự viết thành đoạn nhé)

4 tháng 5 2021
jshsjszdhhshx
CHUYÊN ĐỀ 1:Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tấm cám là một tác phẩm tiêu biểu phản ánh sinh động cuộc sống, tinh thần, đạo lý và niềm tin của người Việt. Chuyện xoay quanh hành trình của nhân vật tấm từ cô gái mồ côi bị áp bức đến người chiến thắng, cuối cùng vượt qua nhiều tai ương, bất công. Tuy nhiên, chuyện tấm cám không chỉ đơn thuần là cuộc đối đầu giữa thiện...
Đọc tiếp

CHUYÊN ĐỀ 1:

Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tấm cám là một tác phẩm tiêu biểu phản ánh sinh động cuộc sống, tinh thần, đạo lý và niềm tin của người Việt. Chuyện xoay quanh hành trình của nhân vật tấm từ cô gái mồ côi bị áp bức đến người chiến thắng, cuối cùng vượt qua nhiều tai ương, bất công. Tuy nhiên, chuyện tấm cám không chỉ đơn thuần là cuộc đối đầu giữa thiện và ác mà còn ẩn chứa nhiều chiều sâu văn hóa và tư tưởng. Báo cáo này tập trung khai thác vấn đề về cuộc đấu tranh giữa thiện và ác dưới góc nhìn nhân học và nữ quyền học. Tấm cám là một chuyện cổ tích thần kỳ thuộc loại hình người mồ côi gặp hoạn nạn nhưng sau cùng được hạnh phúc. Nhân vật chính là tấm, cô gái hiền lành bị mẹ con cám hãm hại nhiều lần nhưng được thần linh giúp đỡ và cuối cùng giành lại công lý. Cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác trong truyện đại diện bởi tấm tấm là hình ảnh tiêu biểu của người phụ nữ hiền lành, chăm chỉ, lương thiện. Dù bị hãm hại nhiều lần, tấm vẫn kiên cường vươn lên, thể hiện khát vọng hạnh phúc và công bằng. Cái ác đại diện bởi mẹ ghẻ và cám sự ghen ghét, mưu mô, sẵn sàng giết tấm nhiều lần để giành lấy địa vị, là biểu tượng cho sự tàn nhẫn của xã hội phong kiến, đặc biệt là trong quan hệ mẹ kế con chồng. Diễn biến cuộc đấu tranh, ban đầu, tấm bị áp bức, giết hại hóa thân nhiều lần, chim vàng, anh, cây xoan đào, khung cửi quả thị cuối cùng về làm người thắng lợi và xử phạt cái ác. Cuộc đấu tranh gay gắt và kéo dài cho thấy quá trình tự khẳng định, tự tái sinh của cải thiện trong xã hội đầy bất công. Góc nhìn nhân học văn hóa, chuyện phản ánh thực tế khắc nghiệt của xã hội phong kiến cũ, bất công giai cấp định kiến đi dân gian về sự tồn tại của thế lực siêu nhiên hỗ trợ người hiền. Quan niệm luôn hồi tái sinh gắn với niềm tin ở hiền gặp lành. Góc nhìn nữ quyền, tấm không chỉ là người hiền lành, cam chịu mà còn là người biết vúng lên, vùng lên trả thù, giành lại hạnh phúc. Các hình thức hóa thân của tấm cho thấy sự đấu tranh dai dẳng, bản lĩnh của người phụ nữ. Hành động xử lý cám ở cuối truyện nếu cám thành mắm gây tranh cãi, nhưng có thể hiểu sử nội nổi dậy của nữ giới bị áp bức trong xã hội nam quyền. Chuyện tấm cám trong không chỉ là cuộc đối đầu giữa thiện và ác, mà còn là biểu tượng của hành trình khẳng định giá trị sống của người phụ nữ trong xã hội xưa. Qua lăng kính nhân học và nữ quyền, ta thấy được chiều sâu văn học và tư tưởng phản kháng Khát vọng công lý ẩn trong truyện cổ tích. Việc nghiên cứu vấn đề này không chỉ giúp hiểu hơn về giá trị văn học dân gian mà còn gợi mở nhiều suy nghĩ về các vấn đề đương đại như bất bình đẳng giới, quyền sống và sự công bằng trong xã hội.

0
14 tháng 11 2023

- Ý kiến của tác giả vô cùng đúng đắn, chính xác. Bởi “nghĩa tiêu dùng, nghĩa tự vị” của chữ là những lớp nghĩa chung, được sử dụng trong giao tiếp hằng ngày, bất kì ai cũng hiểu. Vì vậy, người làm thơ phải tạo ra được những con chữ riêng cho bản thân mình. 

Cảm nhận của anh/chị về đoạn văn sau:…Trọng Thủy nhận dấu lông ngỗng mà đuổi. Vua chạy tới bờ biển, đường cùng không có thuyền qua bèn kêu rằng: “ Trời hại ta, sứ Thanh Giang ở đâu mau mau lại cứu” . Rùa Vàng hiện lên mặt nước, thét lớn ” Kẻ nào ngồi sau ngựa chính là giặc đó! ” . Vua bèn tuốt kiếm chém Mị Châu, Mị Châu khấn rằng:  “Thiếp là phận gái, nếu có lòng...
Đọc tiếp

Cảm nhận của anh/chị về đoạn văn sau:

Trọng Thủy nhận dấu lông ngỗng mà đuổi. Vua chạy tới bờ biển, đường cùng không có thuyền qua bèn kêu rằng: “ Trời hại ta, sứ Thanh Giang ở đâu mau mau lại cứu” . Rùa Vàng hiện lên mặt nước, thét lớn ” Kẻ nào ngồi sau ngựa chính là giặc đó! ” . Vua bèn tuốt kiếm chém Mị Châu, Mị Châu khấn rằng:  “Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù”. Mị Châu chết ở bờ biển, máu chảy xuống nước, trai sò ăn phải đều biến thành hạt châu. Vua cầm sừng tê bảy tấc, Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống biển.
                                        ( Trích Truyện An Dương Vương, Mị Châu và Trọng Thuỷ, Trang 42, SGK Ngữ văn 10,Tập I, NXBGD 2006)

2
23 tháng 10 2021

1. MB: Truyền thuyết "An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy" là một tác phẩm đặc sắc của nhân dân ta. Đoạn kết của tác phẩm đã cho ta thấy như sự mê muội của Mị Châu trong tình yêu cũng như lỗi lầm của cô với đất nước và nhân dân

   2. TB: 

- Vì quá yêu và tin chồng nên khi cha dẫn chạy trốn MỊ Châu đã rắc lông ngỗng đánh dấu đường -> sự mù quáng đáng trách của MỊ Châu

- Mị Nương đã đặt tình riêng cao hơn trách nhiệm chung với đất nước -> nguyên nhân gián tiếp dẫn đến cảnh nước mất nhà tan

- Chính vì quá tin chồng, không biết rằng chồng đã lợi dụng mình nên khi nhận ra bị phản bội nàng đau đớn vô cùng

- Nàng vẫn là người công chúa của đất nước, chưa bao giờ nghĩ mình sẽ bán nước hại dân nên nàng đã thề với trời để trời đất chứng giám lòng thành  của mình. 

- Tuy nhiên cũng không thể hoàn toàn trách cô bởi trong quan niệm xưa kia người phụ nữa lấy chồng thì phải theo chồng "xuất giá tòng phu"

- ở đây nhân dân ta không đánh giá Mị Nương theo đạo đức phong kiến thông thường mà đứng trên quan điểm của quốc gia, dân tộc để kết tội nàng.Với những lỗi lầm không thể tha thứ của một người dân đối với đất nước, nhân dân ta không những đã để cho Rùa Vàng (đại diện cho công lí của nhân dân) kết tội đanh thép, không khoan nhượng gọi nàng là giặc mà còn để cho Mị Châu phải chết dưới lưỡi kiếm nghiêm khắc của vua cha.

3. KB:

26 tháng 10 2021

câu hỏi hay :))

Cảm nhận của anh/chị về đoạn văn sau:…Trọng Thủy nhận dấu lông ngỗng mà đuổi. Vua chạy tới bờ biển, đường cùng không có thuyền qua bèn kêu rằng: “ Trời hại ta, sứ Thanh Giang ở đâu mau mau lại cứu” . Rùa Vàng hiện lên mặt nước, thét lớn ” Kẻ nào ngồi sau ngựa chính là giặc đó! ” . Vua bèn tuốt kiếm chém Mị Châu, Mị Châu khấn rằng:  “Thiếp là phận gái, nếu có lòng...
Đọc tiếp

Cảm nhận của anh/chị về đoạn văn sau:

Trọng Thủy nhận dấu lông ngỗng mà đuổi. Vua chạy tới bờ biển, đường cùng không có thuyền qua bèn kêu rằng: “ Trời hại ta, sứ Thanh Giang ở đâu mau mau lại cứu” . Rùa Vàng hiện lên mặt nước, thét lớn ” Kẻ nào ngồi sau ngựa chính là giặc đó! ” . Vua bèn tuốt kiếm chém Mị Châu, Mị Châu khấn rằng:  “Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù”. Mị Châu chết ở bờ biển, máu chảy xuống nước, trai sò ăn phải đều biến thành hạt châu. Vua cầm sừng tê bảy tấc, Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống biển.
                                        ( Trích Truyện An Dương Vương, Mị Châu và Trọng Thuỷ, Trang 42, SGK Ngữ văn 10,Tập I, NXBGD 2006)

2
23 tháng 10 2021

 1. MB: Truyền thuyết "An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy" là một tác phẩm đặc sắc của nhân dân ta. Đoạn kết của tác phẩm đã cho ta thấy như sự mê muội của Mị Châu trong tình yêu cũng như lỗi lầm của cô với đất nước và nhân dân

   2. TB: 

- Vì quá yêu và tin chồng nên khi cha dẫn chạy trốn MỊ Châu đã rắc lông ngỗng đánh dấu đường -> sự mù quáng đáng trách của MỊ Châu

- Mị Nương đã đặt tình riêng cao hơn trách nhiệm chung với đất nước -> nguyên nhân gián tiếp dẫn đến cảnh nước mất nhà tan

- Chính vì quá tin chồng, không biết rằng chồng đã lợi dụng mình nên khi nhận ra bị phản bội nàng đau đớn vô cùng

- Nàng vẫn là người công chúa của đất nước, chưa bao giờ nghĩ mình sẽ bán nước hại dân nên nàng đã thề với trời để trời đất chứng giám lòng thành  của mình. 

- Tuy nhiên cũng không thể hoàn toàn trách cô bởi trong quan niệm xưa kia người phụ nữa lấy chồng thì phải theo chồng "xuất giá tòng phu"

- ở đây nhân dân ta không đánh giá Mị Nương theo đạo đức phong kiến thông thường mà đứng trên quan điểm của quốc gia, dân tộc để kết tội nàng.Với những lỗi lầm không thể tha thứ của một người dân đối với đất nước, nhân dân ta không những đã để cho Rùa Vàng (đại diện cho công lí của nhân dân) kết tội đanh thép, không khoan nhượng gọi nàng là giặc mà còn để cho Mị Châu phải chết dưới lưỡi kiếm nghiêm khắc của vua cha.

3. KB:

- Mị Nương đáng trách nhưng cũng đáng thương. 

23 tháng 10 2021

Mị Nương thơ ngây trong sáng, bị Trọng Thủy lừa gạt trộm nỏ diệt thành, rồi lại rắc lông vũ để mua dây buộc mình, hại chết bố ruột là An Dương Vương. Mị Nương cuối cùng đã chết bị hóa thành ngọc trai để rửa sạch mối thù gia tộc.

1, Tên báo cáo nghiên cứu: HỘI GIÓNG-SỨC SỐNG CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN TRONG CÁC LỄ HỘI VĂN HOÁ CỦA DÂN TỘC2, Em chọn đề tài là: Sức sống của văn học dân gian trong các lễ hội văn hóa truyền thống của dân tộc. Vì:- Vấn đề tôi chọn: gần gũi với thực tế đời sống hiện nay.- Khi tìm hiểu thông tin về vấn đề này, nó giúp tôi dễ dàng hơn trong việc tiếp cận các văn bản dân gian và giúp...
Đọc tiếp

1, Tên báo cáo nghiên cứu: HỘI GIÓNG-SỨC SỐNG CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN TRONG CÁC LỄ HỘI VĂN HOÁ CỦA DÂN TỘC

2, Em chọn đề tài là: Sức sống của văn học dân gian trong các lễ hội văn hóa truyền thống của dân tộc. Vì:

- Vấn đề tôi chọn: gần gũi với thực tế đời sống hiện nay.

- Khi tìm hiểu thông tin về vấn đề này, nó giúp tôi dễ dàng hơn trong việc tiếp cận các văn bản dân gian và giúp tôi hình dung dễ dàng hơn khi tìm hiểu các giá trị văn hóa được truyền tải thông qua các văn bản văn học dân gian.

- Đa số ở mỗi vùng miền/ địa phương sẽ có các lễ hội truyền thống khác nhau, nên việc tìm hiểu vấn đề sẽ không gây quá nhiều khó khăn; tôi/ chúng tôi có thể tìm hiểu các lễ hội truyền thống tại địa phương để giúp tuyên truyền và quảng bá vẻ đẹp truyền thống này.

- Việc tìm hiểu vấn đề này giúp chúng tôi được mở rộng vốn kiến thức của mình, phát huy các điểm mạnh cá nhân như: chọn lọc thông tin, giao tiếp xã hội, thuyết trình và lí giải về các vấn đề đã tìm hiểu và lựa chọn…

3, -Mục tiêu nghiên cứu của đề tài, vấn đề: Sức sống của văn học dân gian trong các lễ hội văn hóa truyền thống của dân tộc.

+ Nhằm phát triển năng lực nghiên cứu một đề tài/ vấn đề văn học dân gian qua trải nghiệm thực tiễn, qua đó mở rộng hiểu biết về sức sống và giá trị của văn học dân gian trong đời sống hiện nay.

+ Bồi dưỡng tình yêu đối với các giá trị của văn hóa dân tộc.

-Đối tượng nghiên cứu: truyền thuyết “Thánh Gióng” và hội Gióng.

-Các phương pháp nghiên cứu:

+ Tìm hiểu truyền thuyết “Thánh Gióng” và lễ hội Gióng qua tài liệu, sách, báo, internet,..

+ Tham khảo ý kiến chuyên gia.

+ Ghi chép lại những thông tin thu thập được.

+ Viết báo cáo.

 

 

 

0
Phần 1: Đọc - hiểu (3.0 điểm)            Đọc bài thơ sau của Nguyễn Khoa Điềm và trả lời các câu hỏi:          MẸ VÀ QUẢ Những mùa quả mẹ tôi hái được Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng Những mùa quả lặn rồi lại mọc Như mặt trời, khi như mặt trăng​ Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên Còn những bí và bầu thì lớn xuống Chúng mang dáng giọt...
Đọc tiếp

Phần 1: Đọc - hiểu (3.0 điểm)

           Đọc bài thơ sau của Nguyễn Khoa Điềm và trả lời các câu hỏi:

         MẸ VÀ QUẢ

Những mùa quả mẹ tôi hái được
Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng
Những mùa quả lặn rồi lại mọc
Như mặt trời, khi như mặt trăng​

Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên
Còn những bí và bầu thì lớn xuống
Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn
Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi.

Và chúng tôi, một thứ quả trên đời
Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái
Tôi hoảng sợ, ngày bàn tay mẹ mỏi
Mình vẫn còn một thứ quả non xanh.

(Thơ Việt Nam 1945 - 1985, NXB Văn học, Hà Nội, 1985)

Câu 1: Nêu chủ đề của bài thơ? (0.5 điểm)    

Câu 2: Tìm phép điệp trong khổ thơ đầu và phép đối trong khổ thơ thứ hai. (0.5 điểm)

Câu 3: Trong nhan đề và bài thơ, chữ “quả” xuất hiện nhiều lần. Chữ “quả” ở dòng nào mang ý nghĩa tả thực? Chữ “quả” ở dòng nào mang ý nghĩa biểu tượng? (1.0 điểm)

Câu 4: Nghĩa của cụm từ in đậm trong hai dòng cuối của bài thơ “Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi -  Mình vẫn còn một thứ quả non xanh”. (1.0 điểm)

32
17 tháng 5 2021

câu 1:chủ đề cuả bài thơ là:sự nhận thưć cuả người con về công ơn cuả mẹ

câu 2 :phép điệp trong khổ thơ 1 là:những muà quả

phép đối:lũ chúng tôi lớn lên-bí và bầu lớn xuống

câu 3:

chữ "quả"mang ý nghiã tả thực:dòng 1 và dòng 3 cuả khổ đâù.

chữ "quả"mang ý nghĩa biểu tượng:dòng 1 và dòng 4 cuả khổ cuối.

câu 4:nghĩa cuả cuṃtừ quả non xanh :chưa đến độ chín ,chưa trưởng thành;chưa làm được nhưng điều xưng đáng với sự mong đợi cuả mẹ,chưa thanh̀ người tốt. 

16 tháng 10 2021

Tóc bà bạc hết  ơi! 

Như bao nhiêu sợi tơ trời trắng vương. 

Sợi nào sợi nắng sợi sương 

Sợi nào sợi quý, sợi thương, hở bà

9 tháng 10 2021

bà rồi lại bà sau đó là sợi tơ trời trắng vương hết em mới có lớp 4 cũng biết