Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
GỢI Ý ĐÁP ÁN
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm):
Câu 1 (0,5 điểm): Đoạn thơ được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2 (1,0 điểm): Người mẹ được tác giả miêu tả: đợi con, tóc hóa ngàn lau trắng, lưng nặng thời gian, nghìn ngày trên bến vắng.
Câu 3 (1,5 điểm): Ý nghĩa 2 câu thơ: khắc họa nỗi vất vả, cơ cực trong cuộc đời mẹ bao năm trời bôn ba với gió sương để kiếm kế sinh nhai nuôi sống những người con của mình đồng thời thể hiện tình cảm yêu thương và sự biết ơn, trân trọng trước công lao ấy của những người con.
II. LÀM VĂN (7,0 điểm):
Câu 1 (2,0 điểm):
a. Mở bài
Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: tinh thần tự học.
b. Thân bài
* Giải thích
Tự học là khả năng tự tìm tòi, lĩnh hội kiến thức một cách chủ động mà không dựa dẫm vào ai.
* Phân tích
- Tự học giúp chúng ta chủ động trong việc tìm kiếm, tiếp thu được nhiều kiến thức bổ ích và có thể tự rút ra được những bài học cho riêng mình mà không bị phụ thuộc vào bất cứ ai.
- Tự học giúp ta ghi nhớ kiến thức lâu hơn.
- Tự học giúp chúng ta rèn luyện tính kiên trì.
- Tự học giúp mỗi chúng ta trở nên năng động hơn trong chính cuộc sống của mình.
* Chứng minh
Học sinh lựa chọn những dẫn chứng tiêu biểu để minh họa cho luận điểm của mình.
* Phản biện
Có những người lười biếng, không chịu tìm tòi, học hỏi để mở mang tầm hiểu biết. Những người này đáng bị phê phán.
c. Kết bài
Liên hệ bản thân và rút ra bài học.
Câu 2 (5,0 điểm):
a. Mở bài
Giới thiệu câu chuyện bằng lời kể của cá bống.
b. Thân bài
* Hoàn cảnh gặp gỡ Tấm Cám và chứng kiến câu chuyện
- Tôi sống ở một con sông nhỏ, ngày ngày thong thả vui chơi.
- Một hôm tôi vừa tỉnh giấc đã thấy mình nằm trong một thứ gì đó khá chật chội, tối om.
- Lát sau tôi được quay trở về với dòng nước mát nhưng ở một nơi khác có hình tròn và chật chội hơn dòng sông. Tôi sống ở đó nhiều ngày liên tiếp.
- Có cô gái tên là Tấm hằng ngày đến cho tôi ăn, làm bạn với tôi; tôi chứng kiến cuộc sống của cô gái bất hạnh này.
* Diễn biến câu chuyện
- Một hôm, nghe tiếng gọi cho tôi ăn, tôi ngoi mặt nước để ăn. Bỗng một hôm khi nghe thấy tiếng gọi tôi ngoi lên thì lại bị vớt lên.
- Hai người phụ nữ vẻ dữ dằn bắt tôi ăn thịt, xương bị vùi vào đống tro bếp. Tấm cho gà trống nắm thóc rồi nhờ tìm giúp xương tôi, lấy chôn vào bốn chân giường.
- Ít lâu sau, nhà vua mở hội tìm vợ. Tấm bị mẹ con Cám bắt làm việc nhà không cho đi. Cô được Bụt giúp nên có bộ trang phục đẹp đẽ để đi dự hội. Không may làm rơi chiếc giày nhưng chính chiếc giày đó đã giúp nàng trở thành vợ của vua.
- Thế nhưng, trong lần về nhà giỗ cha, Tấm bị dì ghẻ lừa leo lên cây cau rồi bị ngã chết do dì đứng dưới chặt gốc cây. Sau đó bà ta lại đem Cám vào cung thay thế Tấm.
- Tấm không chết mà hóa thành con chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi rồi hóa thành cây thị. Kì lạ là cây chỉ có một quả, được một bà lão qua đường đem về để nơi góc giường.
- Một hôm, nhà vua đi qua quán nước của bà thấy miếng trầu têm cánh phượng, gặng hỏi cuối cùng tìm được Tấm và đưa nàng về cung. Mẹ con Cám về sau cũng bị trừng phạt. Tấm sống hạnh phúc bên nhà vua.
c. Kết bài
Khái quát lại ý nghĩa câu chuyện.
5,
Biện pháp điệp từ được sử dụng trong câu thơ “Súng bên súng đầu sát bên đầu” nhằm tạo nên sự đối ứng trong một câu thơ:
- Gợi lên sự khắc nghiệt, nguy hiểm của chiến tranh (hình ảnh súng sẵn sàng chiến đấu).
- Thể hiện sự chung sức, cùng nhau đoàn kết, chiến đấu.
6,
Từ “tri kỉ” có nghĩa: thấu hiểu mình, hiểu bạn như hiểu bản thân mình.
Câu thơ trong bài Ánh trăng của Nguyễn Duy có chứa từ tri kỉ:
“Vầng trăng thành tri kỉ”
Từ tri kỉ trong bài Đồng chí diễn tả sự thấu hiểu giữa 2 người lính cùng chiến tuyến, cùng lý tưởng chiến đấu, cùng hoàn cảnh chiến đấu.
Từ tri kỉ trong bài Ánh trăng diễn tả sự đồng điệu thấu hiểu của trăng với con người, của con người với chính quá khứ của mình.
Tri kỉ trong bài "Đồng chí" tuy hai nhưng một.
7,
Câu “Đồng chí!” là câu đặc biệt, sâu lắng chỉ với hai chữ “đồng chí” và dấu chấm cảm, tạo thành nét điểm tựa và điểm chốt, như câu thơ bản lề nối hai phần của bài thơ.
Nó vang lên như một phát hiện, một lời khẳng định, một tiếng gọi trầm, xúc động từ trong tim, lắng đọng trong lòng người về 2 tiếng mới mẻ, thiêng liêng đó.
→ Câu thơ giống như một ngôi sao sáng làm nổi bật và sáng bừng cả bài thơ, là kết tinh của 1 tình cảm cách mạng.
8,
- Âm hưởng của bài thơ tươi vui, khỏe khoắn, khẩn trương khiến cho khung cảnh lao động trở nên nhộn nhịp, náo nức tới kì lạ.
- Cách gieo vần, nhịp kết hợp với thể thơ bảy chữ tạo tiết tấu, âm hưởng rộn rã.
- Lời thơ dõng dạc giọng điệu như khúc hát mê say hào hứng, cách gieo vần biến hóa linh hoạt.
- Vần trắc xen lẫn vẫn bằng, vần liền xen lẫn vần cách. Vần trắc tạo nên sức dội, sức mạnh. Tạo nên sự bay bổng làm nên âm hưởng sôi nổi, phơi phới, giàu sức sống.
9,
- Hoàn cảnh sáng tác: giữa năm 1958, Huy Cận có chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh. Từ chuyến đi thực tế này, hồn thơ của Huy Cận mới thực sự nảy nở và dồi dào trở lại khi có nguồn cảm hứng về thiên nhiên đất nước, lao động cũng như cuộc sống mới.
- Mạch cảm xúc của bài thơ được trình bày theo trình tự thời gian, không gian chuyến ra khơi của đoàn thuyền cho tới khi đoàn thuyền trở về, tất cả đều mang âm hưởng của niềm vui, niềm hạnh phúc trong lao động, đổi mới.
10,
Hai câu thơ:
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
- Biện pháp so sánh, nhân hóa đặc sắc.
- Huy Cận miêu tả chân thực sự chuyển động của thời khắc giữa ngày và đêm khiến cảnh biển đêm trở nên đẹp và kì vĩ, tráng lệ như trong thần thoại.
+ Gợi lên sự gần gũi của ngôi nhà thiên nhiên đang chuyển mình đi vào nghỉ ngơi, còn con người bắt đầu hoạt động lao động của mình, tạo sự bình yên với những người ngư dân ra khơi.
11,
Cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá.
- Khổ thơ 1: Cảnh ra khơi trong buổi chiều hoàng hôn huy hoàng, tráng lệ và giàu sức sống.
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
+ Điểm nhìn của nhà thơ: giữa biển khơi bao la.
+ Tác giả cảm nhận độc đáo về hình ảnh mặt trời qua biện pháp nhân hóa, so sánh đặc sắc khiến cảnh biển vào đêm đẹp, kì vĩ, tráng lệ như thần thoại, nhưng gần gũi, thân quen.
+ Câu thơ khiến ta hình dung cả đoàn thuyền chứ không phải con thuyền đơn độc ra khơi.
+ Từ “lại” diễn tả công việc lao động thường ngày, nhịp lao động trở nên tuần hoàn.
+ “Câu hát căng buồm với gió khơi”: khí thế lao động phơi phới, mạnh mẽ của đoàn thuyền cũng như sức mạnh lao động làm chủ cuộc đời và biển khơi.
- Phân tích khổ thơ thứ 2:
+ Gợi sự giàu có của biển cả: cá bạc, đoàn thoi.
+ Những hình ảnh so sánh đẹp đẽ, nên thơ.
+ Hình ảnh nhân hóa “dệt” thể hiện sự giàu có.
+ Từ “ta” đầy hào hứng, tự hào không còn cái “tôi” nhỏ bé đơn độc, u buồn nữa.
→ Sự giàu có trù phú của biển cả hứa hẹn ngày ra khơi nhiều thành quả.
Hình ảnh nói quá “Thuyền ta lái gió với buồm trăng/ Lướt giữa mây cao với biển bằng”.
+ Con thuyền lúc này có gió là người cầm lái, trăng là cánh buồm → gợi sự nhịp nhàng, hòa quyện.
+ Gợi sự khéo léo như nghệ sĩ của người dân chài.
( Tự viết thành đoạn nhé)
- Ý kiến của tác giả vô cùng đúng đắn, chính xác. Bởi “nghĩa tiêu dùng, nghĩa tự vị” của chữ là những lớp nghĩa chung, được sử dụng trong giao tiếp hằng ngày, bất kì ai cũng hiểu. Vì vậy, người làm thơ phải tạo ra được những con chữ riêng cho bản thân mình.
1. MB: Truyền thuyết "An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy" là một tác phẩm đặc sắc của nhân dân ta. Đoạn kết của tác phẩm đã cho ta thấy như sự mê muội của Mị Châu trong tình yêu cũng như lỗi lầm của cô với đất nước và nhân dân
2. TB:
- Vì quá yêu và tin chồng nên khi cha dẫn chạy trốn MỊ Châu đã rắc lông ngỗng đánh dấu đường -> sự mù quáng đáng trách của MỊ Châu
- Mị Nương đã đặt tình riêng cao hơn trách nhiệm chung với đất nước -> nguyên nhân gián tiếp dẫn đến cảnh nước mất nhà tan
- Chính vì quá tin chồng, không biết rằng chồng đã lợi dụng mình nên khi nhận ra bị phản bội nàng đau đớn vô cùng
- Nàng vẫn là người công chúa của đất nước, chưa bao giờ nghĩ mình sẽ bán nước hại dân nên nàng đã thề với trời để trời đất chứng giám lòng thành của mình.
- Tuy nhiên cũng không thể hoàn toàn trách cô bởi trong quan niệm xưa kia người phụ nữa lấy chồng thì phải theo chồng "xuất giá tòng phu"
- ở đây nhân dân ta không đánh giá Mị Nương theo đạo đức phong kiến thông thường mà đứng trên quan điểm của quốc gia, dân tộc để kết tội nàng.Với những lỗi lầm không thể tha thứ của một người dân đối với đất nước, nhân dân ta không những đã để cho Rùa Vàng (đại diện cho công lí của nhân dân) kết tội đanh thép, không khoan nhượng gọi nàng là giặc mà còn để cho Mị Châu phải chết dưới lưỡi kiếm nghiêm khắc của vua cha.
3. KB:
1. MB: Truyền thuyết "An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy" là một tác phẩm đặc sắc của nhân dân ta. Đoạn kết của tác phẩm đã cho ta thấy như sự mê muội của Mị Châu trong tình yêu cũng như lỗi lầm của cô với đất nước và nhân dân
2. TB:
- Vì quá yêu và tin chồng nên khi cha dẫn chạy trốn MỊ Châu đã rắc lông ngỗng đánh dấu đường -> sự mù quáng đáng trách của MỊ Châu
- Mị Nương đã đặt tình riêng cao hơn trách nhiệm chung với đất nước -> nguyên nhân gián tiếp dẫn đến cảnh nước mất nhà tan
- Chính vì quá tin chồng, không biết rằng chồng đã lợi dụng mình nên khi nhận ra bị phản bội nàng đau đớn vô cùng
- Nàng vẫn là người công chúa của đất nước, chưa bao giờ nghĩ mình sẽ bán nước hại dân nên nàng đã thề với trời để trời đất chứng giám lòng thành của mình.
- Tuy nhiên cũng không thể hoàn toàn trách cô bởi trong quan niệm xưa kia người phụ nữa lấy chồng thì phải theo chồng "xuất giá tòng phu"
- ở đây nhân dân ta không đánh giá Mị Nương theo đạo đức phong kiến thông thường mà đứng trên quan điểm của quốc gia, dân tộc để kết tội nàng.Với những lỗi lầm không thể tha thứ của một người dân đối với đất nước, nhân dân ta không những đã để cho Rùa Vàng (đại diện cho công lí của nhân dân) kết tội đanh thép, không khoan nhượng gọi nàng là giặc mà còn để cho Mị Châu phải chết dưới lưỡi kiếm nghiêm khắc của vua cha.
3. KB:
- Mị Nương đáng trách nhưng cũng đáng thương.
câu 1:chủ đề cuả bài thơ là:sự nhận thưć cuả người con về công ơn cuả mẹ
câu 2 :phép điệp trong khổ thơ 1 là:những muà quả
phép đối:lũ chúng tôi lớn lên-bí và bầu lớn xuống
câu 3:
chữ "quả"mang ý nghiã tả thực:dòng 1 và dòng 3 cuả khổ đâù.
chữ "quả"mang ý nghĩa biểu tượng:dòng 1 và dòng 4 cuả khổ cuối.
câu 4:nghĩa cuả cuṃtừ quả non xanh :chưa đến độ chín ,chưa trưởng thành;chưa làm được nhưng điều xưng đáng với sự mong đợi cuả mẹ,chưa thanh̀ người tốt.
Tóc bà bạc hết bà ơi!
Như bao nhiêu sợi tơ trời trắng vương.
Sợi nào sợi nắng sợi sương
Sợi nào sợi quý, sợi thương, hở bà

Tác giả đã sử dụng các lí lẽ và dẫn chứng để làm nổi bật sự khác biệt giữa văn xuôi (ý tại ngôn tại) và thơ ca (ý tại ngôn ngoại), nhấn mạnh khả năng gợi mở, đa nghĩa của thơ. Nhận xét rằng những lập luận này rất thuyết phục và sâu sắc, giúp người đọc hiểu rõ hơn về bản chất của thơ ca.
trong phần 2,tác giả cho rằng chữ nghĩa làm nên nhà thơ phải bắt nguồn từ đời sống và nhân dân,làm thơ là một lao động nghiêm túc nhọc nhằn.Tác giả dùng các hình ảnh so sánh nhà thơ như người nông dân “một nắng hai sương”,”lực điền trên cánh đồng giấy”, “đổ bát mồ hôi lấy từng hạy chữ” để làm dẫn chứng.Lí lẽ rõ ràng,dẫn chứng cụ thể,sinh động,nên lập luận của tác giả giàu sức thuyết phục
Tác giả đã tranh luận với hai quan niệm làm thơ sai lầm :thơ là cảm xúc bộc phát, không cần lao động và thơ là năng khiếu bẩm sinh xa rời thực tế.
Em nhận xét tài năng không tự nhiên có nó đến từ sự dồi mày chữ nghĩa, sự nỗ lực không ngừng. Nhà thơ phải là người làm chủ con chữ, sáng tạo ra từ ngôn ngữ độc đáo, mang tính "hoá trị "riêng biệt.
Tôi có một ước mơ" (Martin Luther King Jr.) hoặc một văn bản có cấu trúc tương tự, nơi tác giả sử dụng lí lẽ và dẫn chứng cụ thể để nhấn mạnh sự bất mãn và đòi hỏi công lý, phê phán tình trạng bất công, như việc liệt kê các tiểu bang còn phân biệt chủng tộc, nhắc đến việc thiếu thốn quyền công dân, và sử dụng điệp ngữ "Tôi có một ước mơ" để kêu gọi hành động.
Phần hai đã thể hiện rõ quan niệm nghiêm túc , tiến bộ về văn học , đề cao lao động sáng tạo và trách nhiệm của nhà văn đối với chữ nghĩa và con người
trong phần 2 tác giả đã đưa ra những lí lẽ và dẫn chứng về sự cần cù tần tuỵ của nhà thơ trong việc “ lao động chữ” biến ngôn ngữ công cộng thành ngôn ngữ độc đáo riêng của mình
...
Lí lẽ và dẫn chứng: Xác định các luận điểm chính mà tác giả đưa ra ở phần 2. Sau đó, tìm các câu hoặc đoạn văn giải thích cho những luận điểm đó (lí lẽ) và các ví dụ, số liệu, sự kiện cụ thể được sử dụng để minh họa (dẫn chứng). Nhận xét: Đánh giá về hiệu quả của việc sử dụng lí lẽ và dẫn chứng đó. Thông thường, việc kết hợp chặt chẽ lí lẽ và dẫn chứng cụ thể sẽ làm cho bài viết có tính thuyết phục cao.
-lí lẽ: nhằ thơ đc hình thành và khẳng định bởi nhân dân cuộc đời và thời đại ko chỉ bởi tài năng cá nhân
-dchung: thực tế văn học cô thấy các nhà thơ lớn đều gắn bó với đời sống, lấy chất liệu từ cuộc sống và đc nhân dân thừa nhận
-nhận xét: lí lẽ dẫn chứng rõ ràng xác thực tiêu biểu cách lập luận logic giàu sức thuyết phục
trong phần 2 tác giả đưa ra những lý lẽ và dẫn chứng về sự cần cù và tụy của nhà thơ trong việc “lao động chữ” biến ngôn ngữ công cộng thành độc đáo của riêng mình.
Tác giả Lê Đạt đã đưa ra các lí lẽ và dẫn chứng để làm rõ quan niệm về nhà thơ chân chính, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của ngôn từ trong việc tạo nên giá trị của tác phẩm và vị thế của nhà thơ
Về lí lẽ: Tác giả "rất ghét" định kiến quái gở rằng các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm và tàn lụi sớm.
Về dẫn chứng: Tác giả mượn lời của nhà thơ Ét-mông Gia-bét: "Chữ bầu lên nhà thơ" để nhấn mạnh vai trò quyết định của ngôn từ.
Lí lẽ và dẫn chứng:
• Bác bỏ quan niệm thơ chỉ dựa vào "năng khiếu" hay "cảm hứng":
• Lí lẽ: Tác giả cho rằng thơ không phải là sự chờ đợi một cách thụ động những phút "vụt hiện" hay "giời cho". Ông phê phán những người coi thơ là kết quả của sự lười biếng được ngụy trang dưới danh nghĩa "nghệ sĩ".
• Dẫn chứng: Tác giả chỉ ra những "nhà thơ sành điệu" thường dựa dẫm vào cảm xúc sẵn có, đối lập hoàn toàn với những người mà ông gọi là "nhà thơ lấm láp".
• Khẳng định bản chất của thơ là lao động chữ nghĩa:
• Lí lẽ: Làm thơ là một nghề cần sự tỉ mỉ, kiên trì và trách nhiệm cao. Sự sáng tạo không tách rời khỏi lao động khổ hạnh trên từng trang giấy.
• Dẫn chứng: Ông sử dụng hình ảnh "cúc cung tận tụy" và ví việc làm thơ như một cuộc "phát minh lại ngôn ngữ". Tác giả nhấn mạnh rằng chữ không chỉ đơn thuần là công cụ truyền tải ý nghĩa mà là thực thể sống được "bầu" lên qua sự sàng lọc khắt khe.
Nhận xét:
• Lập luận sắc bén và giàu tính gợi hình: Lê Đạt không dùng những thuật ngữ lý thuyết khô khan. Ông sử dụng những từ ngữ mang tính hình tượng cao như "nhà thơ sành điệu" vs. "nhà thơ lấm láp", "bầu lên", "đãi cát tìm vàng" để làm nổi bật thông điệp.
• Thái độ quyết liệt và tâm huyết: Cách tranh luận cho thấy tác giả là người cực kỳ coi trọng sự liêm khiết trong nghệ thuật. Ông không chấp nhận sự hời hợt, lười biếng trong tư duy.
• Tính thuyết phục: Bằng cách đảo ngược quan niệm truyền thống (thơ là cảm hứng), Lê Đạt đã xác lập một tư duy hiện đại: nhà thơ là một người thợ thủ công ngôn ngữ bậc thầy, mang lại cái nhìn công bằng hơn cho lao động sáng tạo.
Phần 2 cho thấy tác giả lập luận sắc sảo, giàu hình ảnh, vừa có chiều sâu tư tưởng vừa có sức lay động, góp phần khẳng định văn chương là lao động nghệ thuật nghiêm túc.
Lí lẽ:
1. Chữ không đơn thuần là công cụ, mà có linh hồn, có sức mạnh tự thân.
2. Nhà thơ là người phát hiện, lắng nghe và tổ chức các chữ, chứ không phải kẻ “sáng tạo ra” chữ.
3. Vai trò của nhà thơ là “thư ký trung thành của thời đại” (theo cách nói của Nam Cao), ghi lại những rung động, tư tưởng mà ngôn ngữ thời đại đó mang lại.
· Dẫn chứng (dự đoán từ phong cách Nguyễn Quang Thiều):
1. Dẫn chứng từ chính thơ ông: Phân tích cách ông sử dụng ngôn ngữ rất tạo hình, gợi cảm (ví dụ trong các tập “Sự mất ngủ của lửa”, “Những người đàn bà gánh nước sông”), cho thấy chữ tự nó tạo nên hình ảnh và cảm xúc.
2. Dẫn chứng từ quá trình sáng tác: Kể về việc một bài thơ hình thành từ một cụm từ, một hình ảnh ngôn từ ám ảnh trước, rồi mới phát triển thành bài.
3. Dẫn chứng từ các nhà thơ khác: Có thể nhắc đến những người cùng quan niệm tôn trọng tuyệt đối chữ nghĩa.
Nhận xét:
Cách lập luận như vậy là thuyết phục vì nó không chỉ đưa ra tuyên ngôn mà còn minh họa bằng thực tế sáng tác, làm sáng tỏ mối quan hệ cộng sinh giữa nhà thơ và ngôn ngữ. Nó giúp người đọc hiểu sâu hơn về lao động nghệ thuật thực sự.
Tác giả lấy dẫn chứng của nhiều tác giả nổi tiếng thế giới
1. Những lý lẽ mà tác giả đưa ra
Phản bác quan niệm đề cao “thiên phú”, coi nhẹ công phu:
Lê Đạt cho rằng người ta thường ca tụng những nhà thơ viết tức khắc, thiên tài bẩm sinh, trong khi lại ít nói đến công phu lao động chữ nghĩa.
Ông khẳng định:Những câu thơ hay không phải kết quả của may rủi, mà là thành quả của một quá trình lao động kiên trì, đổ mồ hôi trí tuệ.
Khẳng định làm thơ là một nghề nghiêm túc:
2. Những dẫn chứngđược sử dụng
Dẫn chứng từ văn học thế giới:
-Nhắc đến Tôn-xtôi (Tolstoy) sửa chữa Chiến tranh và hòa bình nhiều lần → cho thấy lao động nghệ thuật nghiêm cẩn.
-So sánh nhà thơ với thầy lang cân nhắc từng vị thuốc → mỗi chữ đều có sức nặng, có thể “chết người” nếu cẩu thả.
-Dẫn chứng từ danh ngôn, tư tưởng:
-Câu nói của Trang Tử “vứt thánh bỏ trí” được phân tích để bác cách hiểu sai, coi thường học tập và rèn luyện.
-Dẫn lời Picasso: “Người ta cần rất nhiều thời gian để trở nên trẻ” → khẳng định giá trị của trải nghiệm và lao động lâu dài.
-Dẫn chứng về các nhà thơ lớn:
-Lý Bạch, Goethe, Tagore… đều thu hoạch những mùa thơ chín muồi ở tuổi muộn, chứng minh nội lực chữ nghĩa quan trọng hơn tuổi tác.
3. Nhận xét
Phần hai thể hiện:
lí lẽ: thơ đòi hỏi sữ miệt mài, kiên trì
Dẫn chứng: cần phải học theo các nhà thơ: Lý Bạch, Xa-a-đi, Ta-go
Như vậy ta thấy được lập luận của tác giả vô cùng sắc bens, dùng những hình ảnh để làm nổi bật quan điểm của mình, đồng thời thể hiện sự quyết liệt, sự tâm huyeets và trân trọng lao động nghệ thuật, không chấp nhận sự hời hợt
Lí lẽ: Nhà thơ không chỉ làm thơ bằng cảm xúc mà phải lao động nghiêm túc với chữ nghĩa. Chữ quyết định giá trị và tài năng của nhà thơ. Dẫn chứng: Nhà thơ phải chọn lọc, gọt giũa, “vật lộn” với từng chữ khi sáng tác. Chữ là chất liệu nghệ thuật làm nên thơ. Nhận xét Lí lẽ rõ ràng, dẫn chứng cụ thể. Quan niệm đề cao vai trò của ngôn ngữ, có sức thuyết phục.
Lý lẽ1 : những câu thơ hay đều kì ngộ, nhưng là kì ngộ kết quả của một thành tâm kiên trì, một đa mang đắm đuối, làm động lòng quỷ thần, chứ không phải may rủi đơn thuần.
BC: - Tôn -xtôi đã chữa đi chữa lại nhiều lần cuốn tiểu thuyết đồ sộ "Chiến tranh và Hòa Bình"
-) Phlô - be cân nhắc chữ trên cân tiểu ly như một thầy lang bốc những vị thuốc công phạt có thể chết người.
Lý lẽ 2: Tôi không mê những nhà thơ thần đồng. Tôi ưa những nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ.
BC: Lý Bạch, Xa - a - đi, Gớt, Ta-go
-) Pi - cát - xô có một câu khá thâm thúy: " người ta cần rất nhiều thời gian để trở nên trẻ"
- ....
Nhận xét của em:
- Có lập luận chặt chẽ, mang tính thuyết phục cao, kết hợp giữa ý kiến phủ định và khẳng định.
- Bằng chứng đa dạng, khách quan, thuyết phục.
- Ngôn ngữ giàu hình ảnh, kết hợp nhiều từ Hán Việt, thuật ngữ chuyên môn.
Lý lẽ 2 của tác giả là cái trẻ hay già của không đo bằng mà bằng nội lực của chữ.
Dẫn chứng là câu nói của nhà thơ người Pháp ét-Mông gia - bét “chữ bầu lên nhà thơ”
Lý lẽ và dẫn chứng của tác giả rất sắc sảo và thuyết phục .tác giả đã sử dụng hình ảnh ẩn dụ một cách độc đáo để nhấn mạnh vai trò quyết định của ngôn từ sự lao động sáng tạo không ngừng nghỉ của người nghệ sĩ trong việc tạo nên giá trị đích thực của một tác phẩm thơ ca .Quan điểm này đi ngược lại với những quan niệm phổ biến cho rằng chỉ cần cảm hứng hay tài năng thiên bẩm từ đó đề cao sự khổ luyện để tạo ra
BÀI LÀM
Trong phần 2 của tiểu luận, để khẳng định quan niệm thơ ca là kết quả của quá trình lao động chữ nghĩa miệt mài chứ không phải do may rủi hay thiên bẩm, Lê Đạt đã xây dựng hệ thống lí lẽ và dẫn chứng hết sức thuyết phục:
1. Hệ thống lí lẽ sắc bén:
• Bác bỏ quan niệm về sự bốc đồng: Tác giả cho rằng những cơn bốc đồng thường ngắn ngủi và không bền vững.
• Khẳng định bản chất của những câu thơ hay: Những câu thơ hay không phải là vận may tình cờ mà là kết quả của "một thành tâm kiên trì", một sự "đa mang đắm đuối" trong lao động.
• Quan niệm về việc học tập và rèn luyện: Ông phê phán những người lấy lí do "vứt thánh bỏ trí" để lười biếng, coi đó là một "nỗ lực vô văn hóa". Muốn "vứt" hay "bỏ" cái gì thì trước hết anh phải "có" nó thông qua sự tích lũy và học hỏi.
• Phản đối định kiến về tuổi tác: Tác giả bác bỏ ý kiến cho rằng nhà thơ Việt Nam thường "chín sớm nên cũng tàn lụi sớm" do chỉ dựa vào "vốn trời cho".
2. Hệ thống dẫn chứng xác thực:
• Dẫn chứng về tinh thần lao động của các bậc vĩ nhân: * Tôn-xtôi: Sửa đi sửa lại nhiều lần cuốn tiểu thuyết đồ sộ Chiến tranh và hòa bình.
• Phlô-be: Cân nhắc từng chữ trên "cân tiểu li" như một thầy lang bốc thuốc.
• Dẫn chứng về sự sáng tạo bền bỉ bất chấp tuổi tác: Nhắc đến các tên tuổi lớn như Lý Bạch, Gớt, Ta-go... những người dù tóc bạc vẫn thu hoạch được "những mùa thơ dậy thì".
• Dẫn chứng từ các nhà thơ nước ngoài: Nhắc đến ý kiến của nhà thơ Bồ Đào Nha về Vích-to Huy-gô để nhấn mạnh việc một nhà thơ phải luôn nỗ lực làm mới mình để được "chữ bầu lên".
3. Nhận xét cá nhân:
• Về cách lập luận: Lê Đạt có lối lập luận rất chặt chẽ, sử dụng phép so sánh đối lập giữa "nhà thơ thần đồng" và "nhà thơ lực điền" để làm nổi bật tư tưởng của mình.
• Về ngôn ngữ: Cách dùng từ giàu hình ảnh (như cân tiểu li, cánh đồng giấy, bốc thuốc) khiến các lí lẽ khô khan trở nên sinh động, dễ đi vào lòng người.
• Giá trị tư tưởng: Những lí lẽ và dẫn chứng này không chỉ có giá trị với người làm thơ mà còn là bài học về thái độ lao động nghiêm túc cho mọi ngành nghề sáng tạo.
Những lý lẽ và dẫn chứng tác giả đã đưa vào phần 2 là:
Lí lẽ1: sự tâm huyết , những khổ hạnh vì nghệ thuật của các nhà văn lớn là tấm gương cho người làm thơ.
Dẫn chứng:
-Tolstoy: sửa đi sửa lại nhiều lần cuốn tiểu thuyết đồ sộ Chiến tranh và Hòa Bình
-Flaubert: cân nhắc từng chữ như thầy lang bốc thuốc độc (sai một li đi một dặm)
Lí lẽ2: phê phán quan niệm sai lầm của mọi người về việc ca tụng những nhà thơ viết tức khắc dựa vào Thiên Phú.
Dẫn Chứng: "Trời cho thì trời lại lấy đi .Những cơn bốc đồng thường ngắn ngủi".
Lí lẽ 3 : những câu thơ hay là kết quả của một quá trình lao động nghiêm túc không phải là sự may rủi.
Dẫn Chứng: "thơ hay là kết quả của sự thành tâm kiên trì ,đa mang đắm đuối làm động lòng quỷ thần ,chứ không phải là may rủi đơ thuần ".
Nhận xét về cách tranh luận của tác giả: tác giả sử dụng so sánh đối lập giữa một bên là năng khiếu, may rủi vào một bên là lao động chữ nghĩa việc đưa các dẫn chứng cụ thể giúp tăng sức gợi hình sức nặng cho luận điểm. cách dùng từ ngữ độc đáo khiến vấn đề lý luận khô khan trở nên sinh động hấp dẫn việc tận dụng tư tưởng cho thấy chiều sâu tri thức của các tác giả giúp người đọc nhận ra rằng sự sáng tạo đỉnh cao bắt nguồn từ sự tích lũy bền bỉ.
Tác giả triển khai lập luận qua các ý chính sau:
Tác giả Lê Đạt đã đưa ra các lý lẽ cơ bản để tranh luận về bản chất của thơ ca bằng phương pháp đối lập với văn xuôi. Lý lẽ thứ nhất là văn xuôi dựa vào “ý tại ngôn tại” (ý nghĩa nằm ngay trong lời nói), trong khi lý lẽ thứ hai và là luận điểm chính, khẳng định thơ ca dựa vào “ý tại ngôn ngoại”, đòi hỏi thơ phải cô đúc và đa nghĩa. Lý lẽ cuối cùng là kết luận sâu sắc: người làm thơ phải sáng tạo bằng “chữ” chứ không chỉ bằng ý tưởng. Nhận xét của tôi là cách tranh luận này rất hiệu quả bởi tính học thuật cao và sự sử dụng các cặp khái niệm đối lập rõ ràng, giúp độc giả dễ dàng nắm bắt được sự khác biệt căn cốt giữa hai thể loại văn học mà tác giả muốn nhấn mạnh.Nếu bạn muốn thảo luận cụ thể hơn về việc tại sao thơ ca lại cần phải “cô đúc và đa nghĩa,” chúng ta có thể phân tích vai trò của tính biểu tượng trong thơ ca Việt Nam hiện đại
Không có