Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
- Ý kiến của tác giả vô cùng đúng đắn, chính xác. Bởi “nghĩa tiêu dùng, nghĩa tự vị” của chữ là những lớp nghĩa chung, được sử dụng trong giao tiếp hằng ngày, bất kì ai cũng hiểu. Vì vậy, người làm thơ phải tạo ra được những con chữ riêng cho bản thân mình.
GỢI Ý ĐÁP ÁN
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm):
Câu 1 (0,5 điểm): Đoạn thơ được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2 (1,0 điểm): Người mẹ được tác giả miêu tả: đợi con, tóc hóa ngàn lau trắng, lưng nặng thời gian, nghìn ngày trên bến vắng.
Câu 3 (1,5 điểm): Ý nghĩa 2 câu thơ: khắc họa nỗi vất vả, cơ cực trong cuộc đời mẹ bao năm trời bôn ba với gió sương để kiếm kế sinh nhai nuôi sống những người con của mình đồng thời thể hiện tình cảm yêu thương và sự biết ơn, trân trọng trước công lao ấy của những người con.
II. LÀM VĂN (7,0 điểm):
Câu 1 (2,0 điểm):
a. Mở bài
Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: tinh thần tự học.
b. Thân bài
* Giải thích
Tự học là khả năng tự tìm tòi, lĩnh hội kiến thức một cách chủ động mà không dựa dẫm vào ai.
* Phân tích
- Tự học giúp chúng ta chủ động trong việc tìm kiếm, tiếp thu được nhiều kiến thức bổ ích và có thể tự rút ra được những bài học cho riêng mình mà không bị phụ thuộc vào bất cứ ai.
- Tự học giúp ta ghi nhớ kiến thức lâu hơn.
- Tự học giúp chúng ta rèn luyện tính kiên trì.
- Tự học giúp mỗi chúng ta trở nên năng động hơn trong chính cuộc sống của mình.
* Chứng minh
Học sinh lựa chọn những dẫn chứng tiêu biểu để minh họa cho luận điểm của mình.
* Phản biện
Có những người lười biếng, không chịu tìm tòi, học hỏi để mở mang tầm hiểu biết. Những người này đáng bị phê phán.
c. Kết bài
Liên hệ bản thân và rút ra bài học.
Câu 2 (5,0 điểm):
a. Mở bài
Giới thiệu câu chuyện bằng lời kể của cá bống.
b. Thân bài
* Hoàn cảnh gặp gỡ Tấm Cám và chứng kiến câu chuyện
- Tôi sống ở một con sông nhỏ, ngày ngày thong thả vui chơi.
- Một hôm tôi vừa tỉnh giấc đã thấy mình nằm trong một thứ gì đó khá chật chội, tối om.
- Lát sau tôi được quay trở về với dòng nước mát nhưng ở một nơi khác có hình tròn và chật chội hơn dòng sông. Tôi sống ở đó nhiều ngày liên tiếp.
- Có cô gái tên là Tấm hằng ngày đến cho tôi ăn, làm bạn với tôi; tôi chứng kiến cuộc sống của cô gái bất hạnh này.
* Diễn biến câu chuyện
- Một hôm, nghe tiếng gọi cho tôi ăn, tôi ngoi mặt nước để ăn. Bỗng một hôm khi nghe thấy tiếng gọi tôi ngoi lên thì lại bị vớt lên.
- Hai người phụ nữ vẻ dữ dằn bắt tôi ăn thịt, xương bị vùi vào đống tro bếp. Tấm cho gà trống nắm thóc rồi nhờ tìm giúp xương tôi, lấy chôn vào bốn chân giường.
- Ít lâu sau, nhà vua mở hội tìm vợ. Tấm bị mẹ con Cám bắt làm việc nhà không cho đi. Cô được Bụt giúp nên có bộ trang phục đẹp đẽ để đi dự hội. Không may làm rơi chiếc giày nhưng chính chiếc giày đó đã giúp nàng trở thành vợ của vua.
- Thế nhưng, trong lần về nhà giỗ cha, Tấm bị dì ghẻ lừa leo lên cây cau rồi bị ngã chết do dì đứng dưới chặt gốc cây. Sau đó bà ta lại đem Cám vào cung thay thế Tấm.
- Tấm không chết mà hóa thành con chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi rồi hóa thành cây thị. Kì lạ là cây chỉ có một quả, được một bà lão qua đường đem về để nơi góc giường.
- Một hôm, nhà vua đi qua quán nước của bà thấy miếng trầu têm cánh phượng, gặng hỏi cuối cùng tìm được Tấm và đưa nàng về cung. Mẹ con Cám về sau cũng bị trừng phạt. Tấm sống hạnh phúc bên nhà vua.
c. Kết bài
Khái quát lại ý nghĩa câu chuyện.
5,
Biện pháp điệp từ được sử dụng trong câu thơ “Súng bên súng đầu sát bên đầu” nhằm tạo nên sự đối ứng trong một câu thơ:
- Gợi lên sự khắc nghiệt, nguy hiểm của chiến tranh (hình ảnh súng sẵn sàng chiến đấu).
- Thể hiện sự chung sức, cùng nhau đoàn kết, chiến đấu.
6,
Từ “tri kỉ” có nghĩa: thấu hiểu mình, hiểu bạn như hiểu bản thân mình.
Câu thơ trong bài Ánh trăng của Nguyễn Duy có chứa từ tri kỉ:
“Vầng trăng thành tri kỉ”
Từ tri kỉ trong bài Đồng chí diễn tả sự thấu hiểu giữa 2 người lính cùng chiến tuyến, cùng lý tưởng chiến đấu, cùng hoàn cảnh chiến đấu.
Từ tri kỉ trong bài Ánh trăng diễn tả sự đồng điệu thấu hiểu của trăng với con người, của con người với chính quá khứ của mình.
Tri kỉ trong bài "Đồng chí" tuy hai nhưng một.
7,
Câu “Đồng chí!” là câu đặc biệt, sâu lắng chỉ với hai chữ “đồng chí” và dấu chấm cảm, tạo thành nét điểm tựa và điểm chốt, như câu thơ bản lề nối hai phần của bài thơ.
Nó vang lên như một phát hiện, một lời khẳng định, một tiếng gọi trầm, xúc động từ trong tim, lắng đọng trong lòng người về 2 tiếng mới mẻ, thiêng liêng đó.
→ Câu thơ giống như một ngôi sao sáng làm nổi bật và sáng bừng cả bài thơ, là kết tinh của 1 tình cảm cách mạng.
8,
- Âm hưởng của bài thơ tươi vui, khỏe khoắn, khẩn trương khiến cho khung cảnh lao động trở nên nhộn nhịp, náo nức tới kì lạ.
- Cách gieo vần, nhịp kết hợp với thể thơ bảy chữ tạo tiết tấu, âm hưởng rộn rã.
- Lời thơ dõng dạc giọng điệu như khúc hát mê say hào hứng, cách gieo vần biến hóa linh hoạt.
- Vần trắc xen lẫn vẫn bằng, vần liền xen lẫn vần cách. Vần trắc tạo nên sức dội, sức mạnh. Tạo nên sự bay bổng làm nên âm hưởng sôi nổi, phơi phới, giàu sức sống.
9,
- Hoàn cảnh sáng tác: giữa năm 1958, Huy Cận có chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh. Từ chuyến đi thực tế này, hồn thơ của Huy Cận mới thực sự nảy nở và dồi dào trở lại khi có nguồn cảm hứng về thiên nhiên đất nước, lao động cũng như cuộc sống mới.
- Mạch cảm xúc của bài thơ được trình bày theo trình tự thời gian, không gian chuyến ra khơi của đoàn thuyền cho tới khi đoàn thuyền trở về, tất cả đều mang âm hưởng của niềm vui, niềm hạnh phúc trong lao động, đổi mới.
10,
Hai câu thơ:
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
- Biện pháp so sánh, nhân hóa đặc sắc.
- Huy Cận miêu tả chân thực sự chuyển động của thời khắc giữa ngày và đêm khiến cảnh biển đêm trở nên đẹp và kì vĩ, tráng lệ như trong thần thoại.
+ Gợi lên sự gần gũi của ngôi nhà thiên nhiên đang chuyển mình đi vào nghỉ ngơi, còn con người bắt đầu hoạt động lao động của mình, tạo sự bình yên với những người ngư dân ra khơi.
11,
Cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá.
- Khổ thơ 1: Cảnh ra khơi trong buổi chiều hoàng hôn huy hoàng, tráng lệ và giàu sức sống.
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
+ Điểm nhìn của nhà thơ: giữa biển khơi bao la.
+ Tác giả cảm nhận độc đáo về hình ảnh mặt trời qua biện pháp nhân hóa, so sánh đặc sắc khiến cảnh biển vào đêm đẹp, kì vĩ, tráng lệ như thần thoại, nhưng gần gũi, thân quen.
+ Câu thơ khiến ta hình dung cả đoàn thuyền chứ không phải con thuyền đơn độc ra khơi.
+ Từ “lại” diễn tả công việc lao động thường ngày, nhịp lao động trở nên tuần hoàn.
+ “Câu hát căng buồm với gió khơi”: khí thế lao động phơi phới, mạnh mẽ của đoàn thuyền cũng như sức mạnh lao động làm chủ cuộc đời và biển khơi.
- Phân tích khổ thơ thứ 2:
+ Gợi sự giàu có của biển cả: cá bạc, đoàn thoi.
+ Những hình ảnh so sánh đẹp đẽ, nên thơ.
+ Hình ảnh nhân hóa “dệt” thể hiện sự giàu có.
+ Từ “ta” đầy hào hứng, tự hào không còn cái “tôi” nhỏ bé đơn độc, u buồn nữa.
→ Sự giàu có trù phú của biển cả hứa hẹn ngày ra khơi nhiều thành quả.
Hình ảnh nói quá “Thuyền ta lái gió với buồm trăng/ Lướt giữa mây cao với biển bằng”.
+ Con thuyền lúc này có gió là người cầm lái, trăng là cánh buồm → gợi sự nhịp nhàng, hòa quyện.
+ Gợi sự khéo léo như nghệ sĩ của người dân chài.
( Tự viết thành đoạn nhé)
1. MB: Truyền thuyết "An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy" là một tác phẩm đặc sắc của nhân dân ta. Đoạn kết của tác phẩm đã cho ta thấy như sự mê muội của Mị Châu trong tình yêu cũng như lỗi lầm của cô với đất nước và nhân dân
2. TB:
- Vì quá yêu và tin chồng nên khi cha dẫn chạy trốn MỊ Châu đã rắc lông ngỗng đánh dấu đường -> sự mù quáng đáng trách của MỊ Châu
- Mị Nương đã đặt tình riêng cao hơn trách nhiệm chung với đất nước -> nguyên nhân gián tiếp dẫn đến cảnh nước mất nhà tan
- Chính vì quá tin chồng, không biết rằng chồng đã lợi dụng mình nên khi nhận ra bị phản bội nàng đau đớn vô cùng
- Nàng vẫn là người công chúa của đất nước, chưa bao giờ nghĩ mình sẽ bán nước hại dân nên nàng đã thề với trời để trời đất chứng giám lòng thành của mình.
- Tuy nhiên cũng không thể hoàn toàn trách cô bởi trong quan niệm xưa kia người phụ nữa lấy chồng thì phải theo chồng "xuất giá tòng phu"
- ở đây nhân dân ta không đánh giá Mị Nương theo đạo đức phong kiến thông thường mà đứng trên quan điểm của quốc gia, dân tộc để kết tội nàng.Với những lỗi lầm không thể tha thứ của một người dân đối với đất nước, nhân dân ta không những đã để cho Rùa Vàng (đại diện cho công lí của nhân dân) kết tội đanh thép, không khoan nhượng gọi nàng là giặc mà còn để cho Mị Châu phải chết dưới lưỡi kiếm nghiêm khắc của vua cha.
3. KB:
1. MB: Truyền thuyết "An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy" là một tác phẩm đặc sắc của nhân dân ta. Đoạn kết của tác phẩm đã cho ta thấy như sự mê muội của Mị Châu trong tình yêu cũng như lỗi lầm của cô với đất nước và nhân dân
2. TB:
- Vì quá yêu và tin chồng nên khi cha dẫn chạy trốn MỊ Châu đã rắc lông ngỗng đánh dấu đường -> sự mù quáng đáng trách của MỊ Châu
- Mị Nương đã đặt tình riêng cao hơn trách nhiệm chung với đất nước -> nguyên nhân gián tiếp dẫn đến cảnh nước mất nhà tan
- Chính vì quá tin chồng, không biết rằng chồng đã lợi dụng mình nên khi nhận ra bị phản bội nàng đau đớn vô cùng
- Nàng vẫn là người công chúa của đất nước, chưa bao giờ nghĩ mình sẽ bán nước hại dân nên nàng đã thề với trời để trời đất chứng giám lòng thành của mình.
- Tuy nhiên cũng không thể hoàn toàn trách cô bởi trong quan niệm xưa kia người phụ nữa lấy chồng thì phải theo chồng "xuất giá tòng phu"
- ở đây nhân dân ta không đánh giá Mị Nương theo đạo đức phong kiến thông thường mà đứng trên quan điểm của quốc gia, dân tộc để kết tội nàng.Với những lỗi lầm không thể tha thứ của một người dân đối với đất nước, nhân dân ta không những đã để cho Rùa Vàng (đại diện cho công lí của nhân dân) kết tội đanh thép, không khoan nhượng gọi nàng là giặc mà còn để cho Mị Châu phải chết dưới lưỡi kiếm nghiêm khắc của vua cha.
3. KB:
- Mị Nương đáng trách nhưng cũng đáng thương.
câu 1:chủ đề cuả bài thơ là:sự nhận thưć cuả người con về công ơn cuả mẹ
câu 2 :phép điệp trong khổ thơ 1 là:những muà quả
phép đối:lũ chúng tôi lớn lên-bí và bầu lớn xuống
câu 3:
chữ "quả"mang ý nghiã tả thực:dòng 1 và dòng 3 cuả khổ đâù.
chữ "quả"mang ý nghĩa biểu tượng:dòng 1 và dòng 4 cuả khổ cuối.
câu 4:nghĩa cuả cuṃtừ quả non xanh :chưa đến độ chín ,chưa trưởng thành;chưa làm được nhưng điều xưng đáng với sự mong đợi cuả mẹ,chưa thanh̀ người tốt.
Tóc bà bạc hết bà ơi!
Như bao nhiêu sợi tơ trời trắng vương.
Sợi nào sợi nắng sợi sương
Sợi nào sợi quý, sợi thương, hở bà

- Ông "không mê" những nhà thơ "có chức" hay "có quyền".
- Ông "ghét" cái "nghĩa tiêu dùng" của chữ nghĩa, tức là việc sử dụng ngôn từ một cách hời hợt, chỉ nhằm mục đích nhất thời, không sâu sắc.
Ngược lại, ông "ưa" đối tượng:Em ko bt
tác giả ghét chữ nghĩa cầu kì,sáo rỗng,ngược lại,ông lại yêu thích chữ "bầu" thứ chữ mộc mạc,chân thật,giàu nghĩa tình của nhân dân
Trong văn bản" chữ bầu lên nhà thơ"tác giả ghét định kiến nhà thơ Việt Nam chín sớm tàn lụi sớm, không ưa những nhà thơ "thần đồng" mà ngược lại ông ưa những nhà thơ lao động cần cù, lầm lũi, dốc sức miệt mài với con chữ biến chúng thành ngôn ngữ độc đáo ,đóng góp cho đến mẹ đẻ giống như người làm ruộng trên đồng giấy.
Tóm lại: Tác giả không thích sự giả dối, sáo rỗng; ông yêu thích sự chân thành, tự nhiên, và nội dung nhân văn.
Năm Cao ghét sự giả dối, yêu sự thật ; không mê văn chương thoát li, gắn bó với người khổ đau trong đời sống thực
tác giả ” không mê” nhưng nhà thơ thần đồng và” ưa” những nhà thơ một nắng mai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ
-Tác giả rất ghét cái định kiến quái gở, không biết xuất hiện từ bao giờ: các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm
- Tác giả không mê những nhà thơ thần đồng
- Tác giả ưu những nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi , lực điền trên cánh đồng giấy , đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ
- Tác giả “rất ghét” cái định kiến quái gở, không biết xuất hiện từ bao giờ: các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm. - Tác giả “không mê” những nhà thơ thần đồng. - Tác giả “ưa” những nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ.
- Tác giả “rất ghét” cái định kiến quái gở, không biết xuất hiện từ bao giờ: các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm. - Tác giả “không mê” những nhà thơ thần đồng. - Tác giả “ưa” những nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ.
không biết
tác giả rất ghét,không mê những định kiến quái gở, không biết xuất xứ từ đâu về các nhà thơ và chữ nghĩa.Ngược lại ông ưa đối tượng những người làm thơ bình thường, những người yêu thơ tâm huyết với công việc sáng tạo bằng chữ nghĩa
-tác giả “không mê” những nhà thơ thần đồng
-tác giả “ưa” những nhà thơ một nắng hai sương ,lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy , đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ
Tác giả "rất ghét" hay "không mê" những thói quen dễ dãi trong sáng tác, những lối mòn cũ kỹ, và những người làm thơ theo kiểu "ăn sẵn", không chịu "lao động chữ". Ngược lại, ông "ưa" những nhà thơ cúc cung tận tụy với ngôn từ, biết biến ngôn ngữ công cộng thành "ngôn ngữ đặc sản độc nhất" của riêng mình.
Rất ghét hay không ưa:
• Các "nhà thơ sành điệu": Những người viết lách dựa vào thói quen, những kỹ thuật mòn cũ hoặc sự hào nhoáng bên ngoài mà thiếu đi sự sáng tạo thực thụ.
• Sự lười biếng trong tư duy: Tác giả không ủng hộ quan điểm cho rằng thơ ca chỉ là kết quả của những phút "xuất thần" hay "giời cho" mà không cần rèn luyện.
• Lối viết hời hợt: Những người coi rẻ chữ nghĩa, không có sự trăn trở, lao tâm khổ tứ với từng con chữ.
Ưa:
• Những "nhà thơ lấm láp": Đây là hình ảnh ẩn dụ cho những người lao động nghệ thuật cần cù, miệt mài trên "cánh đồng chữ". Họ không ngại khó, ngại khổ để "đãi cát tìm vàng".
• Những người làm thơ có trách nhiệm: Tác giả ưa những người coi việc làm thơ là một cuộc hành trình khổ luyện, một sự "phát minh" lại ngôn ngữ chứ không phải là sự lặp lại đơn thuần.
• Sự sáng tạo thực thụ: Những người biết làm mới chữ nghĩa, khiến chữ không chỉ là vỏ bọc mà phải có sức sống riêng qua quá trình lao động chữ nghĩa nghiêm túc.
Tác giả “rất ghét / không mê”:
Ngược lại, ông “ưa”:
Lý do chính là vì ông cảm thấy nó quá trang trọng, có vẻ “lên gân”, tạo cảm giác đao to búa lớn, trong khi sáng tác thật của ông lại đi về phía dung dị, gần gũi với đời sống và ký ức làng quê. Câu thơ ấy vô tình trở thành “cái bóng” che mờ phần còn lại trong sự nghiệp thơ đa dạng và sâu sắc của ông
Những nhà thơ thần đồng, những người làm thơ kiểu ăn may, dựa vào cảm hứng nhất thời.
2. Tác giả “ưa”
Ưa những nhà thơ lao động chữ nghĩa nghiêm túc, bền bỉ, kiên trì:
“Một nắng hai sương”, đổ mồ hôi lấy từng hạt chữ.
tác giả
+ Ghét cái định kiến quái gở, không biết xuất hiện từ bao giờ.
+ Không mê những nhà thơ thần đồng
+ Nhưng lại ưa những nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hỡi lấy từng hạt chữ
Tác giả rất ghét: Lối làm thơ dễ dãi, viết theo cảm xúc bột phát. Coi chữ chỉ là phương tiện, không chịu lao động nghệ thuật. Dùng chữ sáo mòn, quen tay, không sáng tạo, không gọt giũa.
Tác giả ưa: Lao động nghệ thuật nghiêm túc với chữ nghĩa. Tìm tòi, sáng tạo ngôn ngữ, dùng chữ mới, chữ độc đáo. Coi chữ là trung tâm của thơ, làm nên giá trị nhà thơ.
-Tác giả " rất ghét" định kiến: các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm.
- Ông "không mê" những nhà thơ thần đồng
- Ông " ưa " những nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổ bát mồ hôi lấy từng hạt chữ.
Tác giả “ghét cái định kiến quái gở “
Tác giả không thích “những nhà thơ thần đồng”
Tác giả ưa thích “những nhà thơ một nắng hai sương lầm lũi lực điền trên cánh đồng giấy đổi bát mồ hỡi lấy từng hạt chữ”
tác giả rất ghét : cái định kiến quái gở. Và không mê : những nhà thơ thần đồng
tác giả ưa:những nhà thơ lao động bền bỉ ,
Bài làm
Trong tiểu luận "Chữ bầu lên nhà thơ", tác giả Lê Đạt đã thể hiện những quan niệm nghệ thuật hết sức độc đáo và khắt khe về nghề thơ. Qua văn bản, ta thấy rõ thái độ yêu – ghét của tác giả hướng tới hai đối tượng đối lập nhau:
1. Những đối tượng tác giả "rất ghét" và "không mê":
• Các nhà thơ "thần đồng" và những người sống dựa vào "vốn trời cho": Lê Đạt bày tỏ thái độ hoài nghi trước những tài năng phát tiết quá sớm nhưng thiếu sự rèn luyện. Ông cho rằng "vốn trời" thường "bủn xỉn", khiến các nhà thơ này "chín sớm nên cũng tàn lụi sớm".
• Lối sáng tác dựa vào "cơn bốc đồng" hay "may rủi": Tác giả phủ nhận quan điểm cho rằng làm thơ là do cảm xúc nhất thời hay sự may mắn. Ông coi đó là những giá trị ngắn ngủi, không bền vững.
• Thái độ coi thường việc học tập, rèn luyện: Lê Đạt phê phán những người hiểu sai ý nghĩa của việc "vứt thánh bỏ trí" để lười biếng, thiếu trau dồi văn hóa và kỹ năng ngôn ngữ. Đối với ông, đó là một "nỗ lực vô văn hóa".
2. Những đối tượng tác giả "ưa" và trân trọng:
• Nhà thơ là những "lực điền trên cánh đồng giấy": Đây là đối tượng Lê Đạt tôn vinh nhất. Đó là những người làm việc "nắng hai sương", "lầm lũi", "đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ". Với ông, nhà thơ phải là một người lao động khổ hạnh và nghiêm túc.
• Những người có "thành tâm kiên trì" và "đa mang đắm đuối": Tác giả yêu những nghệ sĩ làm việc bằng tất cả tâm trí, lao động đến mức "động lòng quỷ thần" để tạo ra những câu thơ "kì ngộ".
• Các nhà thơ có sức sáng tạo bền bỉ: Ông ngưỡng mộ những bậc đại thụ như Lý Bạch, Gớt, Ta-go… – những người dù tuổi tác đã cao nhưng vẫn không ngừng đổi mới, vẫn "thu hoạch những mùa thơ dậy thì".
• Người nghệ sĩ luôn có ý thức về "tự bầu": Đó là những người hiểu rằng danh hiệu "nhà thơ" không phải là vĩnh viễn, mà mỗi lần đặt bút viết là một lần phải "ứng cử" lại trước cử tri là "Chữ".
=> Nhận xét: Qua việc phân định rõ ràng hai đối tượng này, Lê Đạt muốn khẳng định một thông điệp: Thơ ca không phải là sản phẩm của trò chơi may rủi, mà là kết quả của một quá trình lao động chữ nghĩa tận tụy, đầy trách nhiệm và ý thức.
Tác giả “rất ghét” cái quan niệm: các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng lụi tàn và “không mê” các nhà thơ thần đồng, những người sống bằng vốn trời cho.
- Tác giả “ưa” những nhà thơ chăm chỉ làm việc trên cánh đồng giấy, tích góp từng câu chữ, hạt chữ.
theo tác giả :
-ông "ghét" cái định kiến quái gở không biết xuất hiện từ bao giờ: "Các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm". ông cho rằng đó là những nhà thơ chủ yếu sống bằng vốn trời cho.
-ông "không mê" những nhà thơ thần đồng.
-ông "ưa" những nhà thơ một nắng hai sương lầm lũi lực điền trên cánh đồng đầy giấy đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ.
Tác giả k mê
A
• Từ đoạn trích trong bài Chữ bầu lên nhà thơ, tác giả Lê Đạt không nói về việc ghét hay không mê gì. Thay vào đó, ông đang phân biệt rõ ràng sự khác biệt về bản chất giữa văn xuôi và thơ:◦ Văn xuôi sử dụng ngôn từ để diễn đạt ý muốn một cách trực tiếp, rõ ràng, không cần nhiều suy ngẫm thêm◦ Thơ lại sử dụng ngôn từ một cách ẩn dụ, gợi cảm, yêu cầu người đọc phải chủ động khám phá để nắm bắt được ý nghĩa sâu sắc. • Ông ưa đối tượng là thơ, đặc biệt là thơ có ý nghĩa đa nghĩa, cô đúc, đòi hỏi sự suy ngẫm của người đọc. Ông cũng nhấn mạnh rằng người làm thơ không viết theo ý muốn trừu tượng mà phải dựa vào chữ, sử dụng sức gợi cảm, âm lượng của từ ngữ để tạo ra tác phẩm thơ