Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Viết bài văn nghị luận về một tác phẩm kịch (Phần 2) SVIP
III. Thực hành viết
2.1. Thực hành viết theo các bước
Đề bài: Phân tích đoạn trích "Tôi muốn được là tôi toàn vẹn" của Lưu Quang Vũ.
a. Chuẩn bị
− Đọc kĩ, xác định rõ yêu cầu của đề bài:
+ Kiểu văn bản:
Câu hỏi:
@209910133134@
+ Nội dung phân tích: Xung đột không thể hoá giải trong nội tâm nhân vật Trương Ba và sự lựa chọn cái chết của nhân vật.
+ Phạm vi: Đoạn trích "Tôi muốn được là tôi toàn vẹn" từ tác phẩm kịch "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" của tác giả Lưu Quang Vũ.
− Tìm đọc thêm các tài liệu liên quan đến tác phẩm như: Tác phẩm kịch "Hồn Trương Ba, da hàng thịt"; truyện cổ tích "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" và một số văn bản khác phục vụ cho việc liên tưởng, so sánh để làm nổi bật giá trị độc đáo của đoạn trích.
b. Tìm ý và lập dàn ý
* Tìm ý:
− Trong cuộc đối thoại giữa "hồn" và "xác":
+ Lời thoại của Trương Ba:
++ Khẳng định "Không! Không! Tôi không muốn sống như thế này mãi!" và muốn "rời xa" khỏi thân thể hàng thịt ngay tức khắc.
++ Hạ thấp ý nghĩa của thể xác, của "cái vỏ bên ngoài", coi nó "không có ý nghĩa gì hết, không có tư tưởng, không có cảm xúc" hoặc cũng chỉ là "những thứ thấp kém", thèm khát "ăn ngon", "rượu thịt".
++ Khẳng định cái hồn của mình "vẫn có một đời sống riêng: nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn".
=> Những phản ứng của Trương Ba cho thấy sự tức giận, đau khổ khi phải sống trong thân xác thô lỗ của hàng thịt.
++ Tuy nhiên, sau khi nghe những lý lẽ của xác hàng thịt, hồn Trương Ba dần dần bị thuyết phục, đuối lý và tuyệt vọng. Càng về cuối, những lời thoại của hồn Trương Ba càng ngắn lại bởi những lời thuyết phục của xác hàng thịt.
+ Lời thoại của xác hàng thịt: Khẳng định hồn Trương Ba không thể tách khỏi xác anh được bởi mọi việc làm của hồn Trương Ba đều chịu sự chi phối của hàng thịt; thái độ của xác hàng thịt cũng có sự thay đổi, từ chỗ giễu cợt sang quả quyết, mạnh mẽ và lấn át Trương Ba. Cuối cùng, Trương Ba phải thừa nhận rằng mình đuối lý.
+ Hành động kịch: "ngồi ôm đầu", "đứng vụt dậy", "lắc đầu" => Thể hiện sự bất lực, tuyệt vọng khi không biết phải làm gì để thay đổi hiện tại.
Câu hỏi:
@209912349480@
− Trong cuộc đối thoại giữa Trương Ba và Đế Thích:
+ Lời thoại:
++Trương Ba đề nghị được rời khỏi thân xác này: "Tôi không thể tiếp tục mang thân anh hàng thịt được nữa, không thể được!".
++ Thể hiện mong muốn: "Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn."; "Không thể sống với bất cứ giá nào được. Có những cái giá quá đắt, không thể trả được tâm hồn tôi lại trở lại thanh thản, trong sáng như xưa.".
=> Lời thoại thể hiện được sự giác ngộ của bản thân về việc con người cần có sự hài hoà giữa thể xác và tâm hồn, cần được sống là mình và phải sống có ý nghĩa.
+ Hành động:
++ Hồn Trương Ba quyết định trả lại xác cho anh hàng thịt và bản thân mình sẽ chấp nhận cái chết.
++ Từ chối lời đề nghị của Đế Thích cho Trương Ba nhập vào xác cu Tị.
=> Các quyết định của nhân vật xuất phát từ ý thức cá nhân và sự thức tỉnh trước bi kịch tha hoá.
Câu hỏi:
@209913147616@
− Lập dàn ý:
Phần | Nội dung cần triển khai |
Mở bài | − Giới thiệu tác giả, tác phẩm. − Nêu nội dung của đoạn trích: Xung đột không thể hoá giải trong nội tâm nhân vật Trương Ba và sự lựa chọn cái chết của nhân vật. |
Thân bài | + Phân tích cuộc đối thoại giữa hồn (Trương Ba) và xác (hàng thịt) để thấy rõ những xung đột kịch. + Phân tích cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích để thấy được sự nhận thức và giác ngộ của Trương Ba. + Làm rõ nguyên nhân và ý nghĩa quyết định lựa chọn cái chết của Trương Ba. |
Kết bài | Kết luận về nội dung, ý nghĩa của đoạn trích. |
c. Viết
− Viết bài văn theo dàn ý đã lập ở trên.
− Cần diễn đạt rõ ràng, mạch lạc, logic và có cảm xúc.
− Biết chọn lọc từ ngữ phù hợp, đặc sắc.
− Viết đúng chính tả, ngữ pháp.
d. Kiểm tra và chỉnh sửa
− Đọc lại toàn bộ bài viết để kiểm tra và có hướng điều chỉnh phù hợp.
− Phát hiện và sửa lỗi theo yêu cầu:
Nội dung kiểm tra | Yêu cầu cụ thể |
Bố cục ba phần | − Mở bài: Đã giới thiệu tác giả, tác phẩm và nội dung đoạn trích cần phân tích chưa? − Thân bài: + Có phân tích được rõ lời thoại và hành động kịch trong cuộc đối thoại giữa "hồn" và "xác" để làm rõ mâu thuẫn trong đoạn trích không? + Có nêu được ý nghĩa quyết định lựa chọn thoát khỏi xác để bảo toàn sự trong sạch trong lương tâm mình của Trương Ba không? + Phần nhận xét và đánh giá có thể hiện được ý kiến cá nhân của người viết không? − Kết bài: Có khái quát vấn đề và gợi mở thông điệp cùng tài năng của tác giả không? |
Các lỗi còn mắc | + Lỗi về ý: Thiếu ý, lặp ý, lạc ý,... + Lỗi về trình bày, diễn đạt, dùng từ, chính tả,... |
Đánh giá chung | Bài viết đáp ứng yêu cầu ở mức độ nào? Em thấy hứng thú/ khó khăn khi thực hiện phần nào trong tiến trình của bài viết? |
2.2. Rèn luyện kĩ năng viết: Cách biểu cảm và sử dụng các từ lập luận trong văn bản nghị luận
a. Cách thức
− Yêu cầu quan trọng đối với văn nghị luận là có sự mạch lạc của hệ thống lập luận. Để tạo ra sự mạch lạc đó, cần sử dụng các từ lập luận như: Đó là lí do, bởi vì, có lẽ, nhưng, tuy nhiên, tuy... nhưng, vì thế, cho nên, không những...mà còn, càng...càng,...
− Bên cạnh đó, một tác phẩm nghị luận cần thể hiện được thái độ, tình cảm của người viết về vấn đề của đời sống hay một tác phẩm văn học. Do đó, văn nghị luận có tính biểu cảm cao.
Câu hỏi:
@209921723900@
b. Bài tập
Đọc văn bản sau:
"Có những cái sai không thể sửa được. Chắp vá gượng ép chỉ càng làm sai thêm." − Hồn Trương Ba nói với Đế Thích, ông tiên đã sửa sai một cách vụng về, hấp tấp cho hai quan nhà trời Nam Tào − Bắc Đẩu (kịch bản ám thị: những sai lầm và những sửa sai tệ hại như thế là nhiều vô kể trên Thiên Đình!). "Không thể sống với bất cứ giá nào được... Có những cái giá đắt quá, không thể trả được..." − với những kết luận chát đắng như thế, Hồn Trương Ba tự nguyện rút vào cõi hư vô. Vào hư vô, chứ không phải vào bất tử. Nếu các nhân vật Nguồn sáng trong đời không cần đến sự bất tử, vì họ toại nguyện với cuộc sống tuyệt đẹp mà họ tin, như ngọn đuốc sáng sẽ được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thì nhân vật Hồn Trương Ba, da hàng thịt chối từ trước sự bất tử, vì nhận ra nó còn tồi tệ hơn cuộc sống hữu tử. Cùng với Hồn Trương Ba, Đế Thích cũng chối bỏ thiên đường, tự nguyện nhận lấy thân phận con người phải chết và xem ra ông ta có lí: đối với những sinh linh bất toàn như ông − mà trong vở kịch ta đương phân tích, những tiên thánh trên Thiên Đình đều đầy rẫy tội lỗi, không khác gì loài người nơi hạ giới − thì bất tử là hình phục còn nặng nề và đáng sợ hơn cái chết. [...] Không còn cõi vĩnh hằng loài người ngàn đời mơ ước, không còn sự giải cứu cho những linh hồn tội lỗi và sự đền thưởng ngàn đời mơ ước, không còn sự giải cứu cho những linh hồn tội lỗi và sự đền thưởng cho những linh hồn chân thiện. Từ thế giới này, nơi những con người hướng thiện khổ đau, cô độc và thất bại, họ chỉ có thể trở về nơi hư vô tịch diệt. Cái duy nhất mà họ có thể làm được như Trương Ba của Lưu Quang Vũ làm là trung thành đến cùng với bản chất của mình, giữ gìn cho bằng được, bằng giá của ngay sự sống, cái phẩm giá con người của mình. [...] Trong vở kịch xuất sắc của mình, Lưu Quang Vũ không đi đến chủ nghĩa bi quan cực đoan − hình ảnh Trương Ba, người làm vườn, người vun trồng sự sống đẹp tươi, vẫn sống trong tâm tưởng của vợ ông, con dâu ông, cháu gái ông. Nhưng họ yếu đuối làm sao và bất lực làm sao trước xã hội, nơi những chủ nhận thật sự là anh đồ tể sống lại trong thân xác phù hợp của hắn, là anh con trai của Trương Ba thấm nhuần phép tồn tại ở đời này, là lũ quan chức tham nhũng vô liêm sỉ. Những con người ấy sẽ bất hạnh trong những thành đạt của họ, họ sẽ giận dữ đập tan những giá trị hôm qua họ mới dựng lên, để chạy theo những giá trị mới mà không bao giờ mãn nguyện. Vở kịch của Lưu Quang Vũ sở dĩ thu phục được nhiều khán giả nước ngoài, có lẽ bởi vì nó ứng hợp với tâm trạng phổ biến trong xã hội hiện đại − xã hội đã đánh mất niềm tin cũ vào những giá trị siêu nhân loại và chưa tìm được cái gì thay thế nó.".
(Phạm Vĩnh Cư, Thể loại bi kịch trong văn học Việt Nam, in trong sách Sáng tạo và giao lưu, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2004)
− Hệ thống các từ lập luận trong đoạn trích là: Cùng với; Nhưng; Nếu...thì; có lẽ bởi vì.
− Các phương thức đem lại tính biểu cảm cho đoạn trích:
+ Sử dụng từ cảm thán: làm sao
+ Sử dụng các từ khẳng định: không khác gì, sở dĩ.
+ Sử dụng từ phủ định: không còn
+ Qua các từ ngữ thể hiện sự đánh giá về mức độ, tính chất: cái duy nhất mà họ có thể làm được.
+ Thể hiện hàm ẩn qua cấu trúc câu trùng điệp: Không còn cõi vĩnh hằng loài người ngàn đời mơ ước, không còn sự giải cứu cho những linh hồn tội lỗi và sự đền thưởng ngàn đời mơ ước, không còn sự giải cứu cho những linh hồn tội lỗi và sự đền thưởng cho những linh hồn chân thiện; nơi những chủ nhận thật sự là anh đồ tể sống lại trong thân xác phù hợp của hắn, là anh con trai của Trương Ba thấm nhuần phép tồn tại ở đời này, là lũ quan chức tham nhũng vô liêm sỉ.
Bạn có thể đăng câu hỏi về bài học này ở đây