Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Tôi đã học tập như thế nào? SVIP
MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ TÁC GIẢ M. GO-RƠ-KI (M. GORKI)
− M. Gorki hay Maxim Gorky tên thật là Aleksei Maximovich Peshkov.
− Ông sinh năm 1868 trong một gia đình lao động nghèo tại Nizhnii Novgorod (thành phố này về sau được đổi tên thành Gorky), Nga. Sau khi nhà văn qua đời, tên ông cũng được đặt cho một đại lộ lớn ở Matxcơva (thủ đô của nước Nga).
− Năm 11 tuổi, Peshkov mồ côi cả bố lẫn mẹ. Chỗ dựa duy nhất của cậu bé lúc này là ông bà ngoại. Tuy cuộc sống nghèo khổ và khó khăn nhưng bà ngoại là một người say mê văn chương, nghệ thuật. Tình yêu đó đã được truyền lại và lớn dần lên trong tâm hồn của nhà văn tương lai.
− Cuộc sống gia đình Peshkov diễn ra căng thẳng, thậm chí là không thiếu bạo lực. Sau khi bố ông qua đời, mẹ ông đi bước nữa nhưng người cha dượng của Peshkov là người đàn ông vũ phu, cục súc. Ông thường xuyên đánh đập cậu bé. Peshkov bỏ nhà ra đi năm 12 tuổi, sống lang thang, vất vưởng từ nơi này qua nơi khác, vừa kiếm sống, vừa tự nhặt nhạnh kiến thức trong trường đời để tự bù đắp cho sự thiếu hụt cơ hội học hành của mình. Những năm tháng cực khổ này đã lưu lại dấu ấn sâu đậm trong ký ức của nhà văn, trở thành vốn sống trong những trang viết về sau của nhà văn.
− Năm 1892, Peshkov xuất bản truyện ngắn đầu tiên Makar Chudra dưới bút danh Maxim Gorky. Tác phẩm giành được những thành công đáng kể, mở một con đường sáng để Gorky đi vào thế giới văn chương. Gorky bắt đầu viết thường xuyên hơn cho các báo và định hình tương lai của mình với tư cách là một nhà văn chuyên nghiệp. Buổi đầu bước chân vào làng văn, ông đã may mắn gặp gỡ và làm quen được với những "cây đa cây đề" lúc bấy giờ như Anton Chekhov, Liev Tolstoy và cả Vladimir Lenin. Được sự động viên, khuyến khích của Chekhov, năm 1902, ông viết vở kịch Dưới đáy từ những trải nghiệm thơ ấu của bản thân. Tác phẩm được dàn dựng, công diễn tại Nhà hát Nghệ thuật Matxcơva và giành được những thành công vang dội. Vở kịch sau đó còn được mang sang diễn tại ở châu Âu và Mỹ.
− Một số tác phẩm tiêu biểu của ông: Bộ ba tiểu thuyết tự thuật nổi tiếng Thời thơ ấu (1913-1914), Kiếm sống (1916), Những trường đại học của tôi (1922); cuốn tiểu thuyết xuất sắc Sự nghiệp gia đình Artamov (1925);...
− Năm 1934, ông tham gia sáng lập và trở thành chủ tịch đầu tiên của Hội Nhà văn Xô viết. Năm 1936, ông đột ngột qua đời.
Từ nhỏ, tác giả M. Gorki đã được truyền cảm hứng về văn chương, nghệ thuật từ
MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ TÁC GIẢ M. GO-RƠ-KI (M. GORKI)
− M. Gorki hay Maxim Gorky tên thật là Aleksei Maximovich Peshkov.
− Ông sinh năm 1868 trong một gia đình lao động nghèo tại Nizhnii Novgorod (thành phố này về sau được đổi tên thành Gorky), Nga. Sau khi nhà văn qua đời, tên ông cũng được đặt cho một đại lộ lớn ở Matxcơva (thủ đô của nước Nga).
− Năm 11 tuổi, Peshkov mồ côi cả bố lẫn mẹ. Chỗ dựa duy nhất của cậu bé lúc này là ông bà ngoại. Tuy cuộc sống nghèo khổ và khó khăn nhưng bà ngoại là một người say mê văn chương, nghệ thuật. Tình yêu đó đã được truyền lại và lớn dần lên trong tâm hồn của nhà văn tương lai.
− Cuộc sống gia đình Peshkov diễn ra căng thẳng, thậm chí là không thiếu bạo lực. Sau khi bố ông qua đời, mẹ ông đi bước nữa nhưng người cha dượng của Peshkov là người đàn ông vũ phu, cục súc. Ông thường xuyên đánh đập cậu bé. Peshkov bỏ nhà ra đi năm 12 tuổi, sống lang thang, vất vưởng từ nơi này qua nơi khác, vừa kiếm sống, vừa tự nhặt nhạnh kiến thức trong trường đời để tự bù đắp cho sự thiếu hụt cơ hội học hành của mình. Những năm tháng cực khổ này đã lưu lại dấu ấn sâu đậm trong ký ức của nhà văn, trở thành vốn sống trong những trang viết về sau của nhà văn.
− Năm 1892, Peshkov xuất bản truyện ngắn đầu tiên Makar Chudra dưới bút danh Maxim Gorky. Tác phẩm giành được những thành công đáng kể, mở một con đường sáng để Gorky đi vào thế giới văn chương. Gorky bắt đầu viết thường xuyên hơn cho các báo và định hình tương lai của mình với tư cách là một nhà văn chuyên nghiệp. Buổi đầu bước chân vào làng văn, ông đã may mắn gặp gỡ và làm quen được với những "cây đa cây đề" lúc bấy giờ như Anton Chekhov, Liev Tolstoy và cả Vladimir Lenin. Được sự động viên, khuyến khích của Chekhov, năm 1902, ông viết vở kịch Dưới đáy từ những trải nghiệm thơ ấu của bản thân. Tác phẩm được dàn dựng, công diễn tại Nhà hát Nghệ thuật Matxcơva và giành được những thành công vang dội. Vở kịch sau đó còn được mang sang diễn tại ở châu Âu và Mỹ.
− Một số tác phẩm tiêu biểu của ông: Bộ ba tiểu thuyết tự thuật nổi tiếng Thời thơ ấu (1913-1914), Kiếm sống (1916), Những trường đại học của tôi (1922); cuốn tiểu thuyết xuất sắc Sự nghiệp gia đình Artamov (1925);...
− Năm 1934, ông tham gia sáng lập và trở thành chủ tịch đầu tiên của Hội Nhà văn Xô viết. Năm 1936, ông đột ngột qua đời.
Trong sự nghiệp sáng tác của mình, M. Gorki đã gặt hái thành công ở những thể loại nào? (Chọn 3 đáp án)
MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ TÁC GIẢ M. GO-RƠ-KI (M. GORKI)
− M. Gorki hay Maxim Gorky tên thật là Aleksei Maximovich Peshkov.
− Ông sinh năm 1868 trong một gia đình lao động nghèo tại Nizhnii Novgorod (thành phố này về sau được đổi tên thành Gorky), Nga. Sau khi nhà văn qua đời, tên ông cũng được đặt cho một đại lộ lớn ở Matxcơva (thủ đô của nước Nga).
− Năm 11 tuổi, Peshkov mồ côi cả bố lẫn mẹ. Chỗ dựa duy nhất của cậu bé lúc này là ông bà ngoại. Tuy cuộc sống nghèo khổ và khó khăn nhưng bà ngoại là một người say mê văn chương, nghệ thuật. Tình yêu đó đã được truyền lại và lớn dần lên trong tâm hồn của nhà văn tương lai.
− Cuộc sống gia đình Peshkov diễn ra căng thẳng, thậm chí là không thiếu bạo lực. Sau khi bố ông qua đời, mẹ ông đi bước nữa nhưng người cha dượng của Peshkov là người đàn ông vũ phu, cục súc. Ông thường xuyên đánh đập cậu bé. Peshkov bỏ nhà ra đi năm 12 tuổi, sống lang thang, vất vưởng từ nơi này qua nơi khác, vừa kiếm sống, vừa tự nhặt nhạnh kiến thức trong trường đời để tự bù đắp cho sự thiếu hụt cơ hội học hành của mình. Những năm tháng cực khổ này đã lưu lại dấu ấn sâu đậm trong ký ức của nhà văn, trở thành vốn sống trong những trang viết về sau của nhà văn.
− Năm 1892, Peshkov xuất bản truyện ngắn đầu tiên Makar Chudra dưới bút danh Maxim Gorky. Tác phẩm giành được những thành công đáng kể, mở một con đường sáng để Gorky đi vào thế giới văn chương. Gorky bắt đầu viết thường xuyên hơn cho các báo và định hình tương lai của mình với tư cách là một nhà văn chuyên nghiệp. Buổi đầu bước chân vào làng văn, ông đã may mắn gặp gỡ và làm quen được với những "cây đa cây đề" lúc bấy giờ như Anton Chekhov, Liev Tolstoy và cả Vladimir Lenin. Được sự động viên, khuyến khích của Chekhov, năm 1902, ông viết vở kịch Dưới đáy từ những trải nghiệm thơ ấu của bản thân. Tác phẩm được dàn dựng, công diễn tại Nhà hát Nghệ thuật Matxcơva và giành được những thành công vang dội. Vở kịch sau đó còn được mang sang diễn tại ở châu Âu và Mỹ.
− Một số tác phẩm tiêu biểu của ông: Bộ ba tiểu thuyết tự thuật nổi tiếng Thời thơ ấu (1913-1914), Kiếm sống (1916), Những trường đại học của tôi (1922); cuốn tiểu thuyết xuất sắc Sự nghiệp gia đình Artamov (1925);...
− Năm 1934, ông tham gia sáng lập và trở thành chủ tịch đầu tiên của Hội Nhà văn Xô viết. Năm 1936, ông đột ngột qua đời.
Đâu là những yếu tố tạo nên một nhà văn lớn M. Gorki với sự nghiệp văn chương đồ sộ, rực rỡ? (Chọn 3 đáp án)
TÔI ĐÃ HỌC TẬP NHƯ THẾ NÀO?
(Trích)
M. Go-rơ-ki (M. Gorki)
(Lược dẫn: Được ông ngoại dạy đọc từ năm sáu tuổi, cậu bé Pê-xcốp A-lếch-xây (M. Go-rơ-ki lúc nhỏ) ban đầu học chữ rất nhanh. Nhưng ông của cậu, vì sự nóng vội, cáu kỉnh và thiếu phương pháp, đã khiến cậu bé sinh ra chán học. Sau đó, cậu được gửi đến học tại một ngôi trường của nhà thờ.)
Tôi đến trường với đôi giày của mẹ, với chiếc áo bành tô nhỏ may lại bằng chiếc áo ngoài của bà, với chiếc áo sơ mi màu vàng và chiếc quần "buông chùng". Tất cả những cái đó lập tức bị chế nhạo, vì chiếc sơ mi vàng mà tôi có biệt hiệu "thằng tù khổ sai". Tôi dàn xếp với những thằng bé một cách nhanh chóng, nhưng thầy giáo và cha cố không ưa tôi.
(Lược một đoạn: Pê-xcốp đến lớp thường bị một số ông giáo khó tính không ưa và phân biệt đối xử. Tình trạng này kéo dài khiến cậu bé bị tổn thương nặng nề. Pê-xcốp đã bày ra nhiều trò nghịch ngợm để trả đũa các ông giáo này. Về sau, khi đã lớn khôn và hiểu biết, Pê-xcốp xem đó là những trò "man rợ", đáng phải hối hận.)
Mặc dù tôi học khá, ít lâu sau, người ta bảo rằng tôi bị đuổi khỏi trường vì hạnh kiểm xấu. Tôi chán nản, điều đó sẽ gây cho tôi những chuyện rầy rà lớn.
Nhưng cứu tinh chợt xuất hiện: Giám mục Cri-xan-phơ (Crixanfo) đột nhiên tới trường.
Ông ta người nhỏ bé, mặc bộ áo đen rộng thùng thình, đến ngồi bên bàn, rút tay ra khỏi ống tay áo và nói:
"Nào, ta nói chuyện với nhau đi, các con!". Không khí trong lớp lập tức trở nên ấm áp, vui vẻ, mọi người đều cảm thấy dễ chịu khác thường.
Ông gọi tôi đến gần bàn, sau khi đã gọi nhiều đứa khác và hỏi một cách nghiêm trang:
− Con lên mấy? Có thế thôi à? Sao dài người thế, chú bé? Hay bêu mưa lắm, phải không?
Ông đặt bàn tay khô gầy, với những móng tay to và nhọn lên bàn, nắm lấy chòm râu thưa, nhìn chằm chằm vào mặt tôi bằng đôi mắt hiền từ, và bảo tôi:
− Nào kể cho ta nghe một đoạn trong thánh sử, con thích đoạn nào?
Khi tôi nói rằng tôi không có sách và tôi không học thánh sử, ông sửa lại chiếc mũ giáo sĩ và hỏi:
− Sao lại thế? Cái đó cần phải học chứ! Nhưng có thể con cũng biết đôi chút chăng, có nghe nói đến không? Có biết thánh thi không? Thế thì tốt! Cả những bài cầu nguyện nữa à? Đấy, thấy chưa! Lại còn sự tích các thánh nữa à? Bằng thơ à? Chú bé của ta biết nhiều đấy.
Giáo sĩ của chúng tôi tới, mặt đỏ, thở hổn hển. Giám mục ban phước cho ông ta, nhưng khi ông ta bắt đầu nói về tôi thì giám mục giơ tay nói:
− Xin cha một lát... Nào, kể về A-lếch-xây người của Chúa đi.
− Những vần thơ tuyệt diệu phải không, chú bé? Giám mục nói khi tôi dừng lại vì quên một câu thơ nào đó. Còn gì nữa không?... Về vua Đa-vít (David) hả? Ta chú ý nghe đây.
Tôi thấy rằng quả thực ông ta nghe và ông ta thích thơ. Ông ta hỏi tôi một lúc lâu, rồi bỗng ngăn tôi lại, hỏi nhanh:
− Con học theo thánh thi à? Ai dạy? Ông có hiền không? Ác à? Lẽ nào? Nhưng con nghịch lắm phải không?
Tôi ngập ngừng, nhưng rồi tôi đáp: Vâng. Thầy giáo và giáo sĩ nói rất nhiều để chứng tỏ rằng lời thú nhận của tôi là đúng. Giám mục nghe họ, nhìn xuống, rồi thở dài nói:
− Các thầy nói về con thế đấy, con nghe thấy chứ? Nào, lại gần đây!
Giám mục đặt tay lên đầu tôi − bàn tay thoang thoảng mùi hương gỗ bách và hỏi tôi:
− Tại sao con nghịch ngợm?
− Con chán học lắm.
− Chán à? Không hẳn thế đâu, chú bé ạ. Con mà chán học thì con sẽ học kém, nhưng các thầy đều bảo con học khá. Như vậy là ở đây có nguyên nhân gì khác.
Ông ta rút ở trong ngực ra một cuốn vở con, viết:
− Pê-xcốp A-lếch-xây. Nhưng dù sao con cũng bớt nghịch đi nhé, đừng nghịch nhiều quá. Ít thôi thì được, còn nghịch quá thì mọi người bực mình! Ta nói đúng không các con?
Có tiếng lao xao, vui vẻ trả lời:
− Đúng ạ.
− Chính các con cũng nghịch ít ít thôi phải không?
Những thằng bé tủm tỉm cười, thốt lên:
− Không. Cũng nghịch nhiều ạ! Nghịch nhiều ạ!
Giám mục ngả người lên lưng ghế, ôm chặt tôi vào lòng, nói với vẻ ngạc nhiên, làm cho cả lớp − ngay cả thầy giáo và cha đạo − cũng phải bật cười:
− Quả có thế, các con ạ, hồi bằng tuổi các con, ta cũng nghịch gớm lắm! Vì sao thế, các con nhỉ?
Những đứa trẻ cười, giám mục hỏi chúng, lôi cuốn cả lớp một cách khéo léo, khiến đứa nọ phản đối đứa kia, làm cho không khí mỗi lúc một vui thêm. Cuối cùng, ông đứng lên và nói:
− Ở đây với các con thú lắm, các chú bé nghịch ngợm ạ, nhưng đến lúc ta phải đi rồi!
Ông giơ một tay lên, tay áo tụt tới vai, khoá rộng tay làm dấu và ban phước:
− Nhân danh Cha và Con và Thánh thần, ta ban cho các con mọi sự tấn tới! Tạm biệt.
Tất cả lớp đều thét lên:
− Tạm biệt Đức ông! Mong Đức ông lại tới.
Giám mục gật gật cái mũ cao, nói:
− Ta sẽ đến, thế nào ta cũng đến! Ta sẽ đem sách đến cho các con!
Và khi ra khỏi lớp, ông nói với thầy giáo:
− Cho các trò về đi!
Ông dắt tay tôi ra phòng ngoài và ở đấy, ông cúi xuống gần tôi, khẽ nói:
− Thế con bớt nghịch đi nhé, được không? Ta thì ta hiểu tại sao con nghịch ngợm! Thôi, tạm biệt, chú bé.
Tôi rất xúc động, một tình cảm đặc biệt rộn rực trong ngực tôi, và ngay cả khi thầy giáo đã cho cả lớp về nhưng giữ tôi lại và nói rằng bây giờ tôi phải lặng hơn nước, thấp hơn cỏ thì tôi vui lòng, chăm chú nghe từ đầu đến cuối.
Giáo sĩ vừa mặc áo choàng vừa cất giọng ồm ồm, dịu dàng nói với tôi:
− Từ nay con phải học các giờ của ta! Đúng. Phải học. Nhưng phải ngồi yên. Đúng. Ngồi yên.
[...]
Tôi biết đọc một cách có ý thức năm lên mười bốn tuổi. Trong những năm ấy, tôi đã không chỉ say mê tình tiết của sách − tức là sự phát triển ít nhiều lí thú của những biến cố được đưa ra − mà tôi đã bắt đầu hiểu được vẻ đẹp của những đoạn văn miêu tả, bắt đầu suy nghĩ về tính cách các nhân vật, lờ mờ đoán được mục đích của tác giả cuốn sách và lo ngại cảm thấy sự khác nhau giữa cái mà sách nói đến với cái mà cuộc sống khuyên bảo.
[...]
Phải thương hại con người thật là đau lòng, bao giờ tôi cũng muốn gửi gắm tình yêu sung sướng vào một người nào đó, nhưng chẳng có ai để mà yêu. Tôi càng yêu sách nồng nàn hơn.
Còn có nhiều cái bỉ ổi, tàn bạo, làm tôi chán ghét ghê gớm. Tôi sẽ không nói về điều đó, chính các bạn cũng biết cuộc sống địa ngục ấy, sự nhạo báng không ngớt ấy của người đối với người, niềm say mê bệnh tật ấy, niềm say mê làm khổ nhau, thứ khoái lạc của những kẻ nô lệ. Và chính trong hoàn cảnh đáng nguyền rủa như thế, lần đầu tiên tôi bắt đầu đọc sách hay, nghiêm túc của văn học nước ngoài.
Có lẽ tôi sẽ không truyền đạt đủ rõ và đáng tin cậy để các bạn thấy sự ngạc nhiên của tôi lớn lao như thế nào khi tôi cảm thấy hầu như mỗi cuốn sách đều mở ra trước mắt tôi cánh cửa sổ nhìn vào một thế giới mới chưa từng biết, đều kể với tôi về những con người, những tình cảm, ý nghĩ và những quan hệ mà tôi chưa từng biết, chưa từng thấy. Thậm chí, tôi còn có cảm giác rằng cuộc đời xung quanh tôi, tất cả những khắc nghiệt, bẩn thỉu và tàn bạo hằng ngày diễn ra trước mắt tôi đều không phải là cái có thực, đều là thừa. Cái có thực và cần thiết chỉ ở trong sách, ở đó mọi cái đều hợp lí hơn, đẹp hơn, nhân đạo hơn. Trong các cuốn sách cũng có nói về sự thô bạo, về sự ngu xuẩn của người đời, về những nỗi đau khổ của họ, cũng miêu tả những kẻ độc ác và đê tiện, nhưng bên cạnh có những người khác, những người mà tôi chưa từng thấy, thậm chí chưa từng nghe nói đến: những người chính trực, cương nghị, chân thật, lập nên chiến công đẹp đẽ, dù có phải hi sinh tính mạng.
Thời gian đầu, say sưa vì cái mới và vì giá trị tinh thần lớn lao của cái thế giới mà sách đã mở ra trước mắt tôi, tôi bắt đầu coi sách tốt đẹp hơn, lí thú hơn, gần gũi hơn với mọi người, và dường như hơi bị quáng loà, tôi nhìn cuộc đời thực qua sách. Nhưng cuộc sống khôn ngoan, khắc nghiệt đã quan tâm chữa cho tôi cái bệnh mù dễ chịu ấy.
[...]
Tôi càng đọc nhiều thì sách càng làm cho tôi gắn bó với thế giới, cuộc đời cũng đối với tôi càng trở nên rực rỡ có ý nghĩa. Tôi thấy rằng có những người sống khổ cực hơn, khó khăn hơn tôi, điều đó an ủi tôi phần nào, tuy vẫn không làm tôi thoả hiệp với cái hiện thực ô nhục. Tôi cũng thấy rằng có những người không biết sống một cách vui thú và sung sướng mà không một người nào xung quanh tôi biết sống như thế. Và hầu như trong mỗi quyển sách đều có cái gì đáng lo ngại, như một tiếng chuông nhè nhẹ lôi cuốn tôi đi, đi tìm cái chưa biết, cái làm tôi xúc động tâm tình. Mọi người đều không bằng lòng với cuộc sống, đều tìm kiếm một cái gì tốt đẹp hơn, và họ trở nên gần gũi hơn, dễ hiểu hơn. Sách làm cho khắp Trái Đất, khắp thế giới tràn ngập nỗi buồn nhớ cái tốt đẹp hơn, và mỗi cuốn sách dường như đều là tâm hồn được ghi lại trên giấy bằng những dấu hiệu và những từ, những dấu hiệu và những từ ấy lập tức trở nên sống động, hễ mắt tôi, trí tuệ tôi tiếp xúc với chúng.
Nhiều lần tôi khóc khi đọc sách, sách kể chuyện hay biết bao về con người, họ trở nên đáng yêu và gần gũi biết bao. Là một thằng bé bị công việc ngu độn làm cho kiệt sức, luôn luôn phải hứng lấy những lời chửi mắng đần độn, tôi trịnh trọng hứa với mình là lớn lên, tôi sẽ giúp đỡ mọi người, hết lòng phục vụ họ.
Như những con chim kì diệu trong truyện cổ tích, sách ca hát về việc cuộc sống đa dạng và phong phú như thế nào, con người táo bạo như thế nào trong khát vọng đạt tới cái thiện và cái đẹp. Và càng đọc, trong lòng tôi càng tràn đầy tinh thần lành mạnh và hăng hái. Tôi trở nên điềm tĩnh hơn, tin ở mình hơn, làm việc hợp lí hơn và ngày càng ít để ý đến vô số những chuyện bực bội trong cuộc sống.
Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ đưa tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con người, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống ấy. [...]
(In trong Tuyển tập truyện ngắn M. Go-rơ-ki, tập hai, NXB Đà Nẵng, 2001, tr. 346 − 363)
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.
Câu chuyện trong tác phẩm "Tôi đã học tập như thế nào?" (M. Go-rơ-ki) được kể theo lời của , thuật lại hành trình của bản thân qua hai chặng đường đời nhau.
TÔI ĐÃ HỌC TẬP NHƯ THẾ NÀO?
(Trích)
M. Go-rơ-ki (M. Gorki)
(Lược dẫn: Được ông ngoại dạy đọc từ năm sáu tuổi, cậu bé Pê-xcốp A-lếch-xây (M. Go-rơ-ki lúc nhỏ) ban đầu học chữ rất nhanh. Nhưng ông của cậu, vì sự nóng vội, cáu kỉnh và thiếu phương pháp, đã khiến cậu bé sinh ra chán học. Sau đó, cậu được gửi đến học tại một ngôi trường của nhà thờ.)
Tôi đến trường với đôi giày của mẹ, với chiếc áo bành tô nhỏ may lại bằng chiếc áo ngoài của bà, với chiếc áo sơ mi màu vàng và chiếc quần "buông chùng". Tất cả những cái đó lập tức bị chế nhạo, vì chiếc sơ mi vàng mà tôi có biệt hiệu "thằng tù khổ sai". Tôi dàn xếp với những thằng bé một cách nhanh chóng, nhưng thầy giáo và cha cố không ưa tôi.
(Lược một đoạn: Pê-xcốp đến lớp thường bị một số ông giáo khó tính không ưa và phân biệt đối xử. Tình trạng này kéo dài khiến cậu bé bị tổn thương nặng nề. Pê-xcốp đã bày ra nhiều trò nghịch ngợm để trả đũa các ông giáo này. Về sau, khi đã lớn khôn và hiểu biết, Pê-xcốp xem đó là những trò "man rợ", đáng phải hối hận.)
Mặc dù tôi học khá, ít lâu sau, người ta bảo rằng tôi bị đuổi khỏi trường vì hạnh kiểm xấu. Tôi chán nản, điều đó sẽ gây cho tôi những chuyện rầy rà lớn.
Nhưng cứu tinh chợt xuất hiện: Giám mục Cri-xan-phơ (Crixanfo) đột nhiên tới trường.
Ông ta người nhỏ bé, mặc bộ áo đen rộng thùng thình, đến ngồi bên bàn, rút tay ra khỏi ống tay áo và nói:
"Nào, ta nói chuyện với nhau đi, các con!". Không khí trong lớp lập tức trở nên ấm áp, vui vẻ, mọi người đều cảm thấy dễ chịu khác thường.
Ông gọi tôi đến gần bàn, sau khi đã gọi nhiều đứa khác và hỏi một cách nghiêm trang:
− Con lên mấy? Có thế thôi à? Sao dài người thế, chú bé? Hay bêu mưa lắm, phải không?
Ông đặt bàn tay khô gầy, với những móng tay to và nhọn lên bàn, nắm lấy chòm râu thưa, nhìn chằm chằm vào mặt tôi bằng đôi mắt hiền từ, và bảo tôi:
− Nào kể cho ta nghe một đoạn trong thánh sử, con thích đoạn nào?
Khi tôi nói rằng tôi không có sách và tôi không học thánh sử, ông sửa lại chiếc mũ giáo sĩ và hỏi:
− Sao lại thế? Cái đó cần phải học chứ! Nhưng có thể con cũng biết đôi chút chăng, có nghe nói đến không? Có biết thánh thi không? Thế thì tốt! Cả những bài cầu nguyện nữa à? Đấy, thấy chưa! Lại còn sự tích các thánh nữa à? Bằng thơ à? Chú bé của ta biết nhiều đấy.
Giáo sĩ của chúng tôi tới, mặt đỏ, thở hổn hển. Giám mục ban phước cho ông ta, nhưng khi ông ta bắt đầu nói về tôi thì giám mục giơ tay nói:
− Xin cha một lát... Nào, kể về A-lếch-xây người của Chúa đi.
− Những vần thơ tuyệt diệu phải không, chú bé? Giám mục nói khi tôi dừng lại vì quên một câu thơ nào đó. Còn gì nữa không?... Về vua Đa-vít (David) hả? Ta chú ý nghe đây.
Tôi thấy rằng quả thực ông ta nghe và ông ta thích thơ. Ông ta hỏi tôi một lúc lâu, rồi bỗng ngăn tôi lại, hỏi nhanh:
− Con học theo thánh thi à? Ai dạy? Ông có hiền không? Ác à? Lẽ nào? Nhưng con nghịch lắm phải không?
Tôi ngập ngừng, nhưng rồi tôi đáp: Vâng. Thầy giáo và giáo sĩ nói rất nhiều để chứng tỏ rằng lời thú nhận của tôi là đúng. Giám mục nghe họ, nhìn xuống, rồi thở dài nói:
− Các thầy nói về con thế đấy, con nghe thấy chứ? Nào, lại gần đây!
Giám mục đặt tay lên đầu tôi − bàn tay thoang thoảng mùi hương gỗ bách và hỏi tôi:
− Tại sao con nghịch ngợm?
− Con chán học lắm.
− Chán à? Không hẳn thế đâu, chú bé ạ. Con mà chán học thì con sẽ học kém, nhưng các thầy đều bảo con học khá. Như vậy là ở đây có nguyên nhân gì khác.
Ông ta rút ở trong ngực ra một cuốn vở con, viết:
− Pê-xcốp A-lếch-xây. Nhưng dù sao con cũng bớt nghịch đi nhé, đừng nghịch nhiều quá. Ít thôi thì được, còn nghịch quá thì mọi người bực mình! Ta nói đúng không các con?
Có tiếng lao xao, vui vẻ trả lời:
− Đúng ạ.
− Chính các con cũng nghịch ít ít thôi phải không?
Những thằng bé tủm tỉm cười, thốt lên:
− Không. Cũng nghịch nhiều ạ! Nghịch nhiều ạ!
Giám mục ngả người lên lưng ghế, ôm chặt tôi vào lòng, nói với vẻ ngạc nhiên, làm cho cả lớp − ngay cả thầy giáo và cha đạo − cũng phải bật cười:
− Quả có thế, các con ạ, hồi bằng tuổi các con, ta cũng nghịch gớm lắm! Vì sao thế, các con nhỉ?
Những đứa trẻ cười, giám mục hỏi chúng, lôi cuốn cả lớp một cách khéo léo, khiến đứa nọ phản đối đứa kia, làm cho không khí mỗi lúc một vui thêm. Cuối cùng, ông đứng lên và nói:
− Ở đây với các con thú lắm, các chú bé nghịch ngợm ạ, nhưng đến lúc ta phải đi rồi!
Ông giơ một tay lên, tay áo tụt tới vai, khoá rộng tay làm dấu và ban phước:
− Nhân danh Cha và Con và Thánh thần, ta ban cho các con mọi sự tấn tới! Tạm biệt.
Tất cả lớp đều thét lên:
− Tạm biệt Đức ông! Mong Đức ông lại tới.
Giám mục gật gật cái mũ cao, nói:
− Ta sẽ đến, thế nào ta cũng đến! Ta sẽ đem sách đến cho các con!
Và khi ra khỏi lớp, ông nói với thầy giáo:
− Cho các trò về đi!
Ông dắt tay tôi ra phòng ngoài và ở đấy, ông cúi xuống gần tôi, khẽ nói:
− Thế con bớt nghịch đi nhé, được không? Ta thì ta hiểu tại sao con nghịch ngợm! Thôi, tạm biệt, chú bé.
Tôi rất xúc động, một tình cảm đặc biệt rộn rực trong ngực tôi, và ngay cả khi thầy giáo đã cho cả lớp về nhưng giữ tôi lại và nói rằng bây giờ tôi phải lặng hơn nước, thấp hơn cỏ thì tôi vui lòng, chăm chú nghe từ đầu đến cuối.
Giáo sĩ vừa mặc áo choàng vừa cất giọng ồm ồm, dịu dàng nói với tôi:
− Từ nay con phải học các giờ của ta! Đúng. Phải học. Nhưng phải ngồi yên. Đúng. Ngồi yên.
[...]
Tôi biết đọc một cách có ý thức năm lên mười bốn tuổi. Trong những năm ấy, tôi đã không chỉ say mê tình tiết của sách − tức là sự phát triển ít nhiều lí thú của những biến cố được đưa ra − mà tôi đã bắt đầu hiểu được vẻ đẹp của những đoạn văn miêu tả, bắt đầu suy nghĩ về tính cách các nhân vật, lờ mờ đoán được mục đích của tác giả cuốn sách và lo ngại cảm thấy sự khác nhau giữa cái mà sách nói đến với cái mà cuộc sống khuyên bảo.
[...]
Phải thương hại con người thật là đau lòng, bao giờ tôi cũng muốn gửi gắm tình yêu sung sướng vào một người nào đó, nhưng chẳng có ai để mà yêu. Tôi càng yêu sách nồng nàn hơn.
Còn có nhiều cái bỉ ổi, tàn bạo, làm tôi chán ghét ghê gớm. Tôi sẽ không nói về điều đó, chính các bạn cũng biết cuộc sống địa ngục ấy, sự nhạo báng không ngớt ấy của người đối với người, niềm say mê bệnh tật ấy, niềm say mê làm khổ nhau, thứ khoái lạc của những kẻ nô lệ. Và chính trong hoàn cảnh đáng nguyền rủa như thế, lần đầu tiên tôi bắt đầu đọc sách hay, nghiêm túc của văn học nước ngoài.
Có lẽ tôi sẽ không truyền đạt đủ rõ và đáng tin cậy để các bạn thấy sự ngạc nhiên của tôi lớn lao như thế nào khi tôi cảm thấy hầu như mỗi cuốn sách đều mở ra trước mắt tôi cánh cửa sổ nhìn vào một thế giới mới chưa từng biết, đều kể với tôi về những con người, những tình cảm, ý nghĩ và những quan hệ mà tôi chưa từng biết, chưa từng thấy. Thậm chí, tôi còn có cảm giác rằng cuộc đời xung quanh tôi, tất cả những khắc nghiệt, bẩn thỉu và tàn bạo hằng ngày diễn ra trước mắt tôi đều không phải là cái có thực, đều là thừa. Cái có thực và cần thiết chỉ ở trong sách, ở đó mọi cái đều hợp lí hơn, đẹp hơn, nhân đạo hơn. Trong các cuốn sách cũng có nói về sự thô bạo, về sự ngu xuẩn của người đời, về những nỗi đau khổ của họ, cũng miêu tả những kẻ độc ác và đê tiện, nhưng bên cạnh có những người khác, những người mà tôi chưa từng thấy, thậm chí chưa từng nghe nói đến: những người chính trực, cương nghị, chân thật, lập nên chiến công đẹp đẽ, dù có phải hi sinh tính mạng.
Thời gian đầu, say sưa vì cái mới và vì giá trị tinh thần lớn lao của cái thế giới mà sách đã mở ra trước mắt tôi, tôi bắt đầu coi sách tốt đẹp hơn, lí thú hơn, gần gũi hơn với mọi người, và dường như hơi bị quáng loà, tôi nhìn cuộc đời thực qua sách. Nhưng cuộc sống khôn ngoan, khắc nghiệt đã quan tâm chữa cho tôi cái bệnh mù dễ chịu ấy.
[...]
Tôi càng đọc nhiều thì sách càng làm cho tôi gắn bó với thế giới, cuộc đời cũng đối với tôi càng trở nên rực rỡ có ý nghĩa. Tôi thấy rằng có những người sống khổ cực hơn, khó khăn hơn tôi, điều đó an ủi tôi phần nào, tuy vẫn không làm tôi thoả hiệp với cái hiện thực ô nhục. Tôi cũng thấy rằng có những người không biết sống một cách vui thú và sung sướng mà không một người nào xung quanh tôi biết sống như thế. Và hầu như trong mỗi quyển sách đều có cái gì đáng lo ngại, như một tiếng chuông nhè nhẹ lôi cuốn tôi đi, đi tìm cái chưa biết, cái làm tôi xúc động tâm tình. Mọi người đều không bằng lòng với cuộc sống, đều tìm kiếm một cái gì tốt đẹp hơn, và họ trở nên gần gũi hơn, dễ hiểu hơn. Sách làm cho khắp Trái Đất, khắp thế giới tràn ngập nỗi buồn nhớ cái tốt đẹp hơn, và mỗi cuốn sách dường như đều là tâm hồn được ghi lại trên giấy bằng những dấu hiệu và những từ, những dấu hiệu và những từ ấy lập tức trở nên sống động, hễ mắt tôi, trí tuệ tôi tiếp xúc với chúng.
Nhiều lần tôi khóc khi đọc sách, sách kể chuyện hay biết bao về con người, họ trở nên đáng yêu và gần gũi biết bao. Là một thằng bé bị công việc ngu độn làm cho kiệt sức, luôn luôn phải hứng lấy những lời chửi mắng đần độn, tôi trịnh trọng hứa với mình là lớn lên, tôi sẽ giúp đỡ mọi người, hết lòng phục vụ họ.
Như những con chim kì diệu trong truyện cổ tích, sách ca hát về việc cuộc sống đa dạng và phong phú như thế nào, con người táo bạo như thế nào trong khát vọng đạt tới cái thiện và cái đẹp. Và càng đọc, trong lòng tôi càng tràn đầy tinh thần lành mạnh và hăng hái. Tôi trở nên điềm tĩnh hơn, tin ở mình hơn, làm việc hợp lí hơn và ngày càng ít để ý đến vô số những chuyện bực bội trong cuộc sống.
Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ đưa tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con người, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống ấy. [...]
(In trong Tuyển tập truyện ngắn M. Go-rơ-ki, tập hai, NXB Đà Nẵng, 2001, tr. 346 − 363)
Sắp xếp các nội dung dưới đây theo đúng trình tự nội dung của văn bản.
- Tuy nhiên, biến cố lại ập đến khi mẹ Pê-xcốp qua đời, gia đình rơi vào cảnh khó khăn.
- Do chán học, lại bị một số thầy giáo có ác cảm, Pê-xcốp thường bày ra nhiều trò nghịch ngợm, tinh quái.
- Từ đây, đặc biệt là từ năm 14 tuổi, nhờ tinh thần tự học không ngừng trong cuộc sống cùng niềm say mê đọc sách, Pê-xcốp từng bước trưởng thành.
- Đến năm 10 tuổi, Pê-xcốp buộc phải bước vào cuộc sống mưu sinh, tự lập.
- Sau này, khi gặp Đức Giám mục Cri-xan-phơ và nhận được sự khích lệ, Pê-xcốp mới dần có ý thức học tập.
- Về sau, Pê-xcốp trở thành đại văn hào Nga nổi tiếng.
- Khi mới 6-7 tuổi, Pê-xcốp mồ côi cha, được gửi vào học tại một ngôi trường của nhà thờ.
TÔI ĐÃ HỌC TẬP NHƯ THẾ NÀO?
(Trích)
M. Go-rơ-ki (M. Gorki)
(Lược dẫn: Được ông ngoại dạy đọc từ năm sáu tuổi, cậu bé Pê-xcốp A-lếch-xây (M. Go-rơ-ki lúc nhỏ) ban đầu học chữ rất nhanh. Nhưng ông của cậu, vì sự nóng vội, cáu kỉnh và thiếu phương pháp, đã khiến cậu bé sinh ra chán học. Sau đó, cậu được gửi đến học tại một ngôi trường của nhà thờ.)
Tôi đến trường với đôi giày của mẹ, với chiếc áo bành tô nhỏ may lại bằng chiếc áo ngoài của bà, với chiếc áo sơ mi màu vàng và chiếc quần "buông chùng". Tất cả những cái đó lập tức bị chế nhạo, vì chiếc sơ mi vàng mà tôi có biệt hiệu "thằng tù khổ sai". Tôi dàn xếp với những thằng bé một cách nhanh chóng, nhưng thầy giáo và cha cố không ưa tôi.
(Lược một đoạn: Pê-xcốp đến lớp thường bị một số ông giáo khó tính không ưa và phân biệt đối xử. Tình trạng này kéo dài khiến cậu bé bị tổn thương nặng nề. Pê-xcốp đã bày ra nhiều trò nghịch ngợm để trả đũa các ông giáo này. Về sau, khi đã lớn khôn và hiểu biết, Pê-xcốp xem đó là những trò "man rợ", đáng phải hối hận.)
Mặc dù tôi học khá, ít lâu sau, người ta bảo rằng tôi bị đuổi khỏi trường vì hạnh kiểm xấu. Tôi chán nản, điều đó sẽ gây cho tôi những chuyện rầy rà lớn.
Nhưng cứu tinh chợt xuất hiện: Giám mục Cri-xan-phơ (Crixanfo) đột nhiên tới trường.
Ông ta người nhỏ bé, mặc bộ áo đen rộng thùng thình, đến ngồi bên bàn, rút tay ra khỏi ống tay áo và nói:
"Nào, ta nói chuyện với nhau đi, các con!". Không khí trong lớp lập tức trở nên ấm áp, vui vẻ, mọi người đều cảm thấy dễ chịu khác thường.
Ông gọi tôi đến gần bàn, sau khi đã gọi nhiều đứa khác và hỏi một cách nghiêm trang:
− Con lên mấy? Có thế thôi à? Sao dài người thế, chú bé? Hay bêu mưa lắm, phải không?
Ông đặt bàn tay khô gầy, với những móng tay to và nhọn lên bàn, nắm lấy chòm râu thưa, nhìn chằm chằm vào mặt tôi bằng đôi mắt hiền từ, và bảo tôi:
− Nào kể cho ta nghe một đoạn trong thánh sử, con thích đoạn nào?
Khi tôi nói rằng tôi không có sách và tôi không học thánh sử, ông sửa lại chiếc mũ giáo sĩ và hỏi:
− Sao lại thế? Cái đó cần phải học chứ! Nhưng có thể con cũng biết đôi chút chăng, có nghe nói đến không? Có biết thánh thi không? Thế thì tốt! Cả những bài cầu nguyện nữa à? Đấy, thấy chưa! Lại còn sự tích các thánh nữa à? Bằng thơ à? Chú bé của ta biết nhiều đấy.
Giáo sĩ của chúng tôi tới, mặt đỏ, thở hổn hển. Giám mục ban phước cho ông ta, nhưng khi ông ta bắt đầu nói về tôi thì giám mục giơ tay nói:
− Xin cha một lát... Nào, kể về A-lếch-xây người của Chúa đi.
− Những vần thơ tuyệt diệu phải không, chú bé? Giám mục nói khi tôi dừng lại vì quên một câu thơ nào đó. Còn gì nữa không?... Về vua Đa-vít (David) hả? Ta chú ý nghe đây.
Tôi thấy rằng quả thực ông ta nghe và ông ta thích thơ. Ông ta hỏi tôi một lúc lâu, rồi bỗng ngăn tôi lại, hỏi nhanh:
− Con học theo thánh thi à? Ai dạy? Ông có hiền không? Ác à? Lẽ nào? Nhưng con nghịch lắm phải không?
Tôi ngập ngừng, nhưng rồi tôi đáp: Vâng. Thầy giáo và giáo sĩ nói rất nhiều để chứng tỏ rằng lời thú nhận của tôi là đúng. Giám mục nghe họ, nhìn xuống, rồi thở dài nói:
− Các thầy nói về con thế đấy, con nghe thấy chứ? Nào, lại gần đây!
Giám mục đặt tay lên đầu tôi − bàn tay thoang thoảng mùi hương gỗ bách và hỏi tôi:
− Tại sao con nghịch ngợm?
− Con chán học lắm.
− Chán à? Không hẳn thế đâu, chú bé ạ. Con mà chán học thì con sẽ học kém, nhưng các thầy đều bảo con học khá. Như vậy là ở đây có nguyên nhân gì khác.
Ông ta rút ở trong ngực ra một cuốn vở con, viết:
− Pê-xcốp A-lếch-xây. Nhưng dù sao con cũng bớt nghịch đi nhé, đừng nghịch nhiều quá. Ít thôi thì được, còn nghịch quá thì mọi người bực mình! Ta nói đúng không các con?
Có tiếng lao xao, vui vẻ trả lời:
− Đúng ạ.
− Chính các con cũng nghịch ít ít thôi phải không?
Những thằng bé tủm tỉm cười, thốt lên:
− Không. Cũng nghịch nhiều ạ! Nghịch nhiều ạ!
Giám mục ngả người lên lưng ghế, ôm chặt tôi vào lòng, nói với vẻ ngạc nhiên, làm cho cả lớp − ngay cả thầy giáo và cha đạo − cũng phải bật cười:
− Quả có thế, các con ạ, hồi bằng tuổi các con, ta cũng nghịch gớm lắm! Vì sao thế, các con nhỉ?
Những đứa trẻ cười, giám mục hỏi chúng, lôi cuốn cả lớp một cách khéo léo, khiến đứa nọ phản đối đứa kia, làm cho không khí mỗi lúc một vui thêm. Cuối cùng, ông đứng lên và nói:
− Ở đây với các con thú lắm, các chú bé nghịch ngợm ạ, nhưng đến lúc ta phải đi rồi!
Ông giơ một tay lên, tay áo tụt tới vai, khoá rộng tay làm dấu và ban phước:
− Nhân danh Cha và Con và Thánh thần, ta ban cho các con mọi sự tấn tới! Tạm biệt.
Tất cả lớp đều thét lên:
− Tạm biệt Đức ông! Mong Đức ông lại tới.
Giám mục gật gật cái mũ cao, nói:
− Ta sẽ đến, thế nào ta cũng đến! Ta sẽ đem sách đến cho các con!
Và khi ra khỏi lớp, ông nói với thầy giáo:
− Cho các trò về đi!
Ông dắt tay tôi ra phòng ngoài và ở đấy, ông cúi xuống gần tôi, khẽ nói:
− Thế con bớt nghịch đi nhé, được không? Ta thì ta hiểu tại sao con nghịch ngợm! Thôi, tạm biệt, chú bé.
Tôi rất xúc động, một tình cảm đặc biệt rộn rực trong ngực tôi, và ngay cả khi thầy giáo đã cho cả lớp về nhưng giữ tôi lại và nói rằng bây giờ tôi phải lặng hơn nước, thấp hơn cỏ thì tôi vui lòng, chăm chú nghe từ đầu đến cuối.
Giáo sĩ vừa mặc áo choàng vừa cất giọng ồm ồm, dịu dàng nói với tôi:
− Từ nay con phải học các giờ của ta! Đúng. Phải học. Nhưng phải ngồi yên. Đúng. Ngồi yên.
[...]
Tôi biết đọc một cách có ý thức năm lên mười bốn tuổi. Trong những năm ấy, tôi đã không chỉ say mê tình tiết của sách − tức là sự phát triển ít nhiều lí thú của những biến cố được đưa ra − mà tôi đã bắt đầu hiểu được vẻ đẹp của những đoạn văn miêu tả, bắt đầu suy nghĩ về tính cách các nhân vật, lờ mờ đoán được mục đích của tác giả cuốn sách và lo ngại cảm thấy sự khác nhau giữa cái mà sách nói đến với cái mà cuộc sống khuyên bảo.
[...]
Phải thương hại con người thật là đau lòng, bao giờ tôi cũng muốn gửi gắm tình yêu sung sướng vào một người nào đó, nhưng chẳng có ai để mà yêu. Tôi càng yêu sách nồng nàn hơn.
Còn có nhiều cái bỉ ổi, tàn bạo, làm tôi chán ghét ghê gớm. Tôi sẽ không nói về điều đó, chính các bạn cũng biết cuộc sống địa ngục ấy, sự nhạo báng không ngớt ấy của người đối với người, niềm say mê bệnh tật ấy, niềm say mê làm khổ nhau, thứ khoái lạc của những kẻ nô lệ. Và chính trong hoàn cảnh đáng nguyền rủa như thế, lần đầu tiên tôi bắt đầu đọc sách hay, nghiêm túc của văn học nước ngoài.
Có lẽ tôi sẽ không truyền đạt đủ rõ và đáng tin cậy để các bạn thấy sự ngạc nhiên của tôi lớn lao như thế nào khi tôi cảm thấy hầu như mỗi cuốn sách đều mở ra trước mắt tôi cánh cửa sổ nhìn vào một thế giới mới chưa từng biết, đều kể với tôi về những con người, những tình cảm, ý nghĩ và những quan hệ mà tôi chưa từng biết, chưa từng thấy. Thậm chí, tôi còn có cảm giác rằng cuộc đời xung quanh tôi, tất cả những khắc nghiệt, bẩn thỉu và tàn bạo hằng ngày diễn ra trước mắt tôi đều không phải là cái có thực, đều là thừa. Cái có thực và cần thiết chỉ ở trong sách, ở đó mọi cái đều hợp lí hơn, đẹp hơn, nhân đạo hơn. Trong các cuốn sách cũng có nói về sự thô bạo, về sự ngu xuẩn của người đời, về những nỗi đau khổ của họ, cũng miêu tả những kẻ độc ác và đê tiện, nhưng bên cạnh có những người khác, những người mà tôi chưa từng thấy, thậm chí chưa từng nghe nói đến: những người chính trực, cương nghị, chân thật, lập nên chiến công đẹp đẽ, dù có phải hi sinh tính mạng.
Thời gian đầu, say sưa vì cái mới và vì giá trị tinh thần lớn lao của cái thế giới mà sách đã mở ra trước mắt tôi, tôi bắt đầu coi sách tốt đẹp hơn, lí thú hơn, gần gũi hơn với mọi người, và dường như hơi bị quáng loà, tôi nhìn cuộc đời thực qua sách. Nhưng cuộc sống khôn ngoan, khắc nghiệt đã quan tâm chữa cho tôi cái bệnh mù dễ chịu ấy.
[...]
Tôi càng đọc nhiều thì sách càng làm cho tôi gắn bó với thế giới, cuộc đời cũng đối với tôi càng trở nên rực rỡ có ý nghĩa. Tôi thấy rằng có những người sống khổ cực hơn, khó khăn hơn tôi, điều đó an ủi tôi phần nào, tuy vẫn không làm tôi thoả hiệp với cái hiện thực ô nhục. Tôi cũng thấy rằng có những người không biết sống một cách vui thú và sung sướng mà không một người nào xung quanh tôi biết sống như thế. Và hầu như trong mỗi quyển sách đều có cái gì đáng lo ngại, như một tiếng chuông nhè nhẹ lôi cuốn tôi đi, đi tìm cái chưa biết, cái làm tôi xúc động tâm tình. Mọi người đều không bằng lòng với cuộc sống, đều tìm kiếm một cái gì tốt đẹp hơn, và họ trở nên gần gũi hơn, dễ hiểu hơn. Sách làm cho khắp Trái Đất, khắp thế giới tràn ngập nỗi buồn nhớ cái tốt đẹp hơn, và mỗi cuốn sách dường như đều là tâm hồn được ghi lại trên giấy bằng những dấu hiệu và những từ, những dấu hiệu và những từ ấy lập tức trở nên sống động, hễ mắt tôi, trí tuệ tôi tiếp xúc với chúng.
Nhiều lần tôi khóc khi đọc sách, sách kể chuyện hay biết bao về con người, họ trở nên đáng yêu và gần gũi biết bao. Là một thằng bé bị công việc ngu độn làm cho kiệt sức, luôn luôn phải hứng lấy những lời chửi mắng đần độn, tôi trịnh trọng hứa với mình là lớn lên, tôi sẽ giúp đỡ mọi người, hết lòng phục vụ họ.
Như những con chim kì diệu trong truyện cổ tích, sách ca hát về việc cuộc sống đa dạng và phong phú như thế nào, con người táo bạo như thế nào trong khát vọng đạt tới cái thiện và cái đẹp. Và càng đọc, trong lòng tôi càng tràn đầy tinh thần lành mạnh và hăng hái. Tôi trở nên điềm tĩnh hơn, tin ở mình hơn, làm việc hợp lí hơn và ngày càng ít để ý đến vô số những chuyện bực bội trong cuộc sống.
Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ đưa tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con người, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống ấy. [...]
(In trong Tuyển tập truyện ngắn M. Go-rơ-ki, tập hai, NXB Đà Nẵng, 2001, tr. 346 − 363)
Sự kiện nào dưới đây đã tác động mạnh mẽ, sâu sắc đến Pê-xcốp?
TÔI ĐÃ HỌC TẬP NHƯ THẾ NÀO?
(Trích)
M. Go-rơ-ki (M. Gorki)
(Lược dẫn: Được ông ngoại dạy đọc từ năm sáu tuổi, cậu bé Pê-xcốp A-lếch-xây (M. Go-rơ-ki lúc nhỏ) ban đầu học chữ rất nhanh. Nhưng ông của cậu, vì sự nóng vội, cáu kỉnh và thiếu phương pháp, đã khiến cậu bé sinh ra chán học. Sau đó, cậu được gửi đến học tại một ngôi trường của nhà thờ.)
Tôi đến trường với đôi giày của mẹ, với chiếc áo bành tô nhỏ may lại bằng chiếc áo ngoài của bà, với chiếc áo sơ mi màu vàng và chiếc quần "buông chùng". Tất cả những cái đó lập tức bị chế nhạo, vì chiếc sơ mi vàng mà tôi có biệt hiệu "thằng tù khổ sai". Tôi dàn xếp với những thằng bé một cách nhanh chóng, nhưng thầy giáo và cha cố không ưa tôi.
(Lược một đoạn: Pê-xcốp đến lớp thường bị một số ông giáo khó tính không ưa và phân biệt đối xử. Tình trạng này kéo dài khiến cậu bé bị tổn thương nặng nề. Pê-xcốp đã bày ra nhiều trò nghịch ngợm để trả đũa các ông giáo này. Về sau, khi đã lớn khôn và hiểu biết, Pê-xcốp xem đó là những trò "man rợ", đáng phải hối hận.)
Mặc dù tôi học khá, ít lâu sau, người ta bảo rằng tôi bị đuổi khỏi trường vì hạnh kiểm xấu. Tôi chán nản, điều đó sẽ gây cho tôi những chuyện rầy rà lớn.
Nhưng cứu tinh chợt xuất hiện: Giám mục Cri-xan-phơ (Crixanfo) đột nhiên tới trường.
Ông ta người nhỏ bé, mặc bộ áo đen rộng thùng thình, đến ngồi bên bàn, rút tay ra khỏi ống tay áo và nói:
"Nào, ta nói chuyện với nhau đi, các con!". Không khí trong lớp lập tức trở nên ấm áp, vui vẻ, mọi người đều cảm thấy dễ chịu khác thường.
Ông gọi tôi đến gần bàn, sau khi đã gọi nhiều đứa khác và hỏi một cách nghiêm trang:
− Con lên mấy? Có thế thôi à? Sao dài người thế, chú bé? Hay bêu mưa lắm, phải không?
Ông đặt bàn tay khô gầy, với những móng tay to và nhọn lên bàn, nắm lấy chòm râu thưa, nhìn chằm chằm vào mặt tôi bằng đôi mắt hiền từ, và bảo tôi:
− Nào kể cho ta nghe một đoạn trong thánh sử, con thích đoạn nào?
Khi tôi nói rằng tôi không có sách và tôi không học thánh sử, ông sửa lại chiếc mũ giáo sĩ và hỏi:
− Sao lại thế? Cái đó cần phải học chứ! Nhưng có thể con cũng biết đôi chút chăng, có nghe nói đến không? Có biết thánh thi không? Thế thì tốt! Cả những bài cầu nguyện nữa à? Đấy, thấy chưa! Lại còn sự tích các thánh nữa à? Bằng thơ à? Chú bé của ta biết nhiều đấy.
Giáo sĩ của chúng tôi tới, mặt đỏ, thở hổn hển. Giám mục ban phước cho ông ta, nhưng khi ông ta bắt đầu nói về tôi thì giám mục giơ tay nói:
− Xin cha một lát... Nào, kể về A-lếch-xây người của Chúa đi.
− Những vần thơ tuyệt diệu phải không, chú bé? Giám mục nói khi tôi dừng lại vì quên một câu thơ nào đó. Còn gì nữa không?... Về vua Đa-vít (David) hả? Ta chú ý nghe đây.
Tôi thấy rằng quả thực ông ta nghe và ông ta thích thơ. Ông ta hỏi tôi một lúc lâu, rồi bỗng ngăn tôi lại, hỏi nhanh:
− Con học theo thánh thi à? Ai dạy? Ông có hiền không? Ác à? Lẽ nào? Nhưng con nghịch lắm phải không?
Tôi ngập ngừng, nhưng rồi tôi đáp: Vâng. Thầy giáo và giáo sĩ nói rất nhiều để chứng tỏ rằng lời thú nhận của tôi là đúng. Giám mục nghe họ, nhìn xuống, rồi thở dài nói:
− Các thầy nói về con thế đấy, con nghe thấy chứ? Nào, lại gần đây!
Giám mục đặt tay lên đầu tôi − bàn tay thoang thoảng mùi hương gỗ bách và hỏi tôi:
− Tại sao con nghịch ngợm?
− Con chán học lắm.
− Chán à? Không hẳn thế đâu, chú bé ạ. Con mà chán học thì con sẽ học kém, nhưng các thầy đều bảo con học khá. Như vậy là ở đây có nguyên nhân gì khác.
Ông ta rút ở trong ngực ra một cuốn vở con, viết:
− Pê-xcốp A-lếch-xây. Nhưng dù sao con cũng bớt nghịch đi nhé, đừng nghịch nhiều quá. Ít thôi thì được, còn nghịch quá thì mọi người bực mình! Ta nói đúng không các con?
Có tiếng lao xao, vui vẻ trả lời:
− Đúng ạ.
− Chính các con cũng nghịch ít ít thôi phải không?
Những thằng bé tủm tỉm cười, thốt lên:
− Không. Cũng nghịch nhiều ạ! Nghịch nhiều ạ!
Giám mục ngả người lên lưng ghế, ôm chặt tôi vào lòng, nói với vẻ ngạc nhiên, làm cho cả lớp − ngay cả thầy giáo và cha đạo − cũng phải bật cười:
− Quả có thế, các con ạ, hồi bằng tuổi các con, ta cũng nghịch gớm lắm! Vì sao thế, các con nhỉ?
Những đứa trẻ cười, giám mục hỏi chúng, lôi cuốn cả lớp một cách khéo léo, khiến đứa nọ phản đối đứa kia, làm cho không khí mỗi lúc một vui thêm. Cuối cùng, ông đứng lên và nói:
− Ở đây với các con thú lắm, các chú bé nghịch ngợm ạ, nhưng đến lúc ta phải đi rồi!
Ông giơ một tay lên, tay áo tụt tới vai, khoá rộng tay làm dấu và ban phước:
− Nhân danh Cha và Con và Thánh thần, ta ban cho các con mọi sự tấn tới! Tạm biệt.
Tất cả lớp đều thét lên:
− Tạm biệt Đức ông! Mong Đức ông lại tới.
Giám mục gật gật cái mũ cao, nói:
− Ta sẽ đến, thế nào ta cũng đến! Ta sẽ đem sách đến cho các con!
Và khi ra khỏi lớp, ông nói với thầy giáo:
− Cho các trò về đi!
Ông dắt tay tôi ra phòng ngoài và ở đấy, ông cúi xuống gần tôi, khẽ nói:
− Thế con bớt nghịch đi nhé, được không? Ta thì ta hiểu tại sao con nghịch ngợm! Thôi, tạm biệt, chú bé.
Tôi rất xúc động, một tình cảm đặc biệt rộn rực trong ngực tôi, và ngay cả khi thầy giáo đã cho cả lớp về nhưng giữ tôi lại và nói rằng bây giờ tôi phải lặng hơn nước, thấp hơn cỏ thì tôi vui lòng, chăm chú nghe từ đầu đến cuối.
Giáo sĩ vừa mặc áo choàng vừa cất giọng ồm ồm, dịu dàng nói với tôi:
− Từ nay con phải học các giờ của ta! Đúng. Phải học. Nhưng phải ngồi yên. Đúng. Ngồi yên.
[...]
Tôi biết đọc một cách có ý thức năm lên mười bốn tuổi. Trong những năm ấy, tôi đã không chỉ say mê tình tiết của sách − tức là sự phát triển ít nhiều lí thú của những biến cố được đưa ra − mà tôi đã bắt đầu hiểu được vẻ đẹp của những đoạn văn miêu tả, bắt đầu suy nghĩ về tính cách các nhân vật, lờ mờ đoán được mục đích của tác giả cuốn sách và lo ngại cảm thấy sự khác nhau giữa cái mà sách nói đến với cái mà cuộc sống khuyên bảo.
[...]
Phải thương hại con người thật là đau lòng, bao giờ tôi cũng muốn gửi gắm tình yêu sung sướng vào một người nào đó, nhưng chẳng có ai để mà yêu. Tôi càng yêu sách nồng nàn hơn.
Còn có nhiều cái bỉ ổi, tàn bạo, làm tôi chán ghét ghê gớm. Tôi sẽ không nói về điều đó, chính các bạn cũng biết cuộc sống địa ngục ấy, sự nhạo báng không ngớt ấy của người đối với người, niềm say mê bệnh tật ấy, niềm say mê làm khổ nhau, thứ khoái lạc của những kẻ nô lệ. Và chính trong hoàn cảnh đáng nguyền rủa như thế, lần đầu tiên tôi bắt đầu đọc sách hay, nghiêm túc của văn học nước ngoài.
Có lẽ tôi sẽ không truyền đạt đủ rõ và đáng tin cậy để các bạn thấy sự ngạc nhiên của tôi lớn lao như thế nào khi tôi cảm thấy hầu như mỗi cuốn sách đều mở ra trước mắt tôi cánh cửa sổ nhìn vào một thế giới mới chưa từng biết, đều kể với tôi về những con người, những tình cảm, ý nghĩ và những quan hệ mà tôi chưa từng biết, chưa từng thấy. Thậm chí, tôi còn có cảm giác rằng cuộc đời xung quanh tôi, tất cả những khắc nghiệt, bẩn thỉu và tàn bạo hằng ngày diễn ra trước mắt tôi đều không phải là cái có thực, đều là thừa. Cái có thực và cần thiết chỉ ở trong sách, ở đó mọi cái đều hợp lí hơn, đẹp hơn, nhân đạo hơn. Trong các cuốn sách cũng có nói về sự thô bạo, về sự ngu xuẩn của người đời, về những nỗi đau khổ của họ, cũng miêu tả những kẻ độc ác và đê tiện, nhưng bên cạnh có những người khác, những người mà tôi chưa từng thấy, thậm chí chưa từng nghe nói đến: những người chính trực, cương nghị, chân thật, lập nên chiến công đẹp đẽ, dù có phải hi sinh tính mạng.
Thời gian đầu, say sưa vì cái mới và vì giá trị tinh thần lớn lao của cái thế giới mà sách đã mở ra trước mắt tôi, tôi bắt đầu coi sách tốt đẹp hơn, lí thú hơn, gần gũi hơn với mọi người, và dường như hơi bị quáng loà, tôi nhìn cuộc đời thực qua sách. Nhưng cuộc sống khôn ngoan, khắc nghiệt đã quan tâm chữa cho tôi cái bệnh mù dễ chịu ấy.
[...]
Tôi càng đọc nhiều thì sách càng làm cho tôi gắn bó với thế giới, cuộc đời cũng đối với tôi càng trở nên rực rỡ có ý nghĩa. Tôi thấy rằng có những người sống khổ cực hơn, khó khăn hơn tôi, điều đó an ủi tôi phần nào, tuy vẫn không làm tôi thoả hiệp với cái hiện thực ô nhục. Tôi cũng thấy rằng có những người không biết sống một cách vui thú và sung sướng mà không một người nào xung quanh tôi biết sống như thế. Và hầu như trong mỗi quyển sách đều có cái gì đáng lo ngại, như một tiếng chuông nhè nhẹ lôi cuốn tôi đi, đi tìm cái chưa biết, cái làm tôi xúc động tâm tình. Mọi người đều không bằng lòng với cuộc sống, đều tìm kiếm một cái gì tốt đẹp hơn, và họ trở nên gần gũi hơn, dễ hiểu hơn. Sách làm cho khắp Trái Đất, khắp thế giới tràn ngập nỗi buồn nhớ cái tốt đẹp hơn, và mỗi cuốn sách dường như đều là tâm hồn được ghi lại trên giấy bằng những dấu hiệu và những từ, những dấu hiệu và những từ ấy lập tức trở nên sống động, hễ mắt tôi, trí tuệ tôi tiếp xúc với chúng.
Nhiều lần tôi khóc khi đọc sách, sách kể chuyện hay biết bao về con người, họ trở nên đáng yêu và gần gũi biết bao. Là một thằng bé bị công việc ngu độn làm cho kiệt sức, luôn luôn phải hứng lấy những lời chửi mắng đần độn, tôi trịnh trọng hứa với mình là lớn lên, tôi sẽ giúp đỡ mọi người, hết lòng phục vụ họ.
Như những con chim kì diệu trong truyện cổ tích, sách ca hát về việc cuộc sống đa dạng và phong phú như thế nào, con người táo bạo như thế nào trong khát vọng đạt tới cái thiện và cái đẹp. Và càng đọc, trong lòng tôi càng tràn đầy tinh thần lành mạnh và hăng hái. Tôi trở nên điềm tĩnh hơn, tin ở mình hơn, làm việc hợp lí hơn và ngày càng ít để ý đến vô số những chuyện bực bội trong cuộc sống.
Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ đưa tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con người, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống ấy. [...]
(In trong Tuyển tập truyện ngắn M. Go-rơ-ki, tập hai, NXB Đà Nẵng, 2001, tr. 346 − 363)
Giám mục Cri-xan-phơ đã phát hiện, đánh thức và ghi nhận những yếu tố gì ở Pê-xcốp? (Chọn 3 đáp án)
TÔI ĐÃ HỌC TẬP NHƯ THẾ NÀO?
(Trích)
M. Go-rơ-ki (M. Gorki)
(Lược dẫn: Được ông ngoại dạy đọc từ năm sáu tuổi, cậu bé Pê-xcốp A-lếch-xây (M. Go-rơ-ki lúc nhỏ) ban đầu học chữ rất nhanh. Nhưng ông của cậu, vì sự nóng vội, cáu kỉnh và thiếu phương pháp, đã khiến cậu bé sinh ra chán học. Sau đó, cậu được gửi đến học tại một ngôi trường của nhà thờ.)
Tôi đến trường với đôi giày của mẹ, với chiếc áo bành tô nhỏ may lại bằng chiếc áo ngoài của bà, với chiếc áo sơ mi màu vàng và chiếc quần "buông chùng". Tất cả những cái đó lập tức bị chế nhạo, vì chiếc sơ mi vàng mà tôi có biệt hiệu "thằng tù khổ sai". Tôi dàn xếp với những thằng bé một cách nhanh chóng, nhưng thầy giáo và cha cố không ưa tôi.
(Lược một đoạn: Pê-xcốp đến lớp thường bị một số ông giáo khó tính không ưa và phân biệt đối xử. Tình trạng này kéo dài khiến cậu bé bị tổn thương nặng nề. Pê-xcốp đã bày ra nhiều trò nghịch ngợm để trả đũa các ông giáo này. Về sau, khi đã lớn khôn và hiểu biết, Pê-xcốp xem đó là những trò "man rợ", đáng phải hối hận.)
Mặc dù tôi học khá, ít lâu sau, người ta bảo rằng tôi bị đuổi khỏi trường vì hạnh kiểm xấu. Tôi chán nản, điều đó sẽ gây cho tôi những chuyện rầy rà lớn.
Nhưng cứu tinh chợt xuất hiện: Giám mục Cri-xan-phơ (Crixanfo) đột nhiên tới trường.
Ông ta người nhỏ bé, mặc bộ áo đen rộng thùng thình, đến ngồi bên bàn, rút tay ra khỏi ống tay áo và nói:
"Nào, ta nói chuyện với nhau đi, các con!". Không khí trong lớp lập tức trở nên ấm áp, vui vẻ, mọi người đều cảm thấy dễ chịu khác thường.
Ông gọi tôi đến gần bàn, sau khi đã gọi nhiều đứa khác và hỏi một cách nghiêm trang:
− Con lên mấy? Có thế thôi à? Sao dài người thế, chú bé? Hay bêu mưa lắm, phải không?
Ông đặt bàn tay khô gầy, với những móng tay to và nhọn lên bàn, nắm lấy chòm râu thưa, nhìn chằm chằm vào mặt tôi bằng đôi mắt hiền từ, và bảo tôi:
− Nào kể cho ta nghe một đoạn trong thánh sử, con thích đoạn nào?
Khi tôi nói rằng tôi không có sách và tôi không học thánh sử, ông sửa lại chiếc mũ giáo sĩ và hỏi:
− Sao lại thế? Cái đó cần phải học chứ! Nhưng có thể con cũng biết đôi chút chăng, có nghe nói đến không? Có biết thánh thi không? Thế thì tốt! Cả những bài cầu nguyện nữa à? Đấy, thấy chưa! Lại còn sự tích các thánh nữa à? Bằng thơ à? Chú bé của ta biết nhiều đấy.
Giáo sĩ của chúng tôi tới, mặt đỏ, thở hổn hển. Giám mục ban phước cho ông ta, nhưng khi ông ta bắt đầu nói về tôi thì giám mục giơ tay nói:
− Xin cha một lát... Nào, kể về A-lếch-xây người của Chúa đi.
− Những vần thơ tuyệt diệu phải không, chú bé? Giám mục nói khi tôi dừng lại vì quên một câu thơ nào đó. Còn gì nữa không?... Về vua Đa-vít (David) hả? Ta chú ý nghe đây.
Tôi thấy rằng quả thực ông ta nghe và ông ta thích thơ. Ông ta hỏi tôi một lúc lâu, rồi bỗng ngăn tôi lại, hỏi nhanh:
− Con học theo thánh thi à? Ai dạy? Ông có hiền không? Ác à? Lẽ nào? Nhưng con nghịch lắm phải không?
Tôi ngập ngừng, nhưng rồi tôi đáp: Vâng. Thầy giáo và giáo sĩ nói rất nhiều để chứng tỏ rằng lời thú nhận của tôi là đúng. Giám mục nghe họ, nhìn xuống, rồi thở dài nói:
− Các thầy nói về con thế đấy, con nghe thấy chứ? Nào, lại gần đây!
Giám mục đặt tay lên đầu tôi − bàn tay thoang thoảng mùi hương gỗ bách và hỏi tôi:
− Tại sao con nghịch ngợm?
− Con chán học lắm.
− Chán à? Không hẳn thế đâu, chú bé ạ. Con mà chán học thì con sẽ học kém, nhưng các thầy đều bảo con học khá. Như vậy là ở đây có nguyên nhân gì khác.
Ông ta rút ở trong ngực ra một cuốn vở con, viết:
− Pê-xcốp A-lếch-xây. Nhưng dù sao con cũng bớt nghịch đi nhé, đừng nghịch nhiều quá. Ít thôi thì được, còn nghịch quá thì mọi người bực mình! Ta nói đúng không các con?
Có tiếng lao xao, vui vẻ trả lời:
− Đúng ạ.
− Chính các con cũng nghịch ít ít thôi phải không?
Những thằng bé tủm tỉm cười, thốt lên:
− Không. Cũng nghịch nhiều ạ! Nghịch nhiều ạ!
Giám mục ngả người lên lưng ghế, ôm chặt tôi vào lòng, nói với vẻ ngạc nhiên, làm cho cả lớp − ngay cả thầy giáo và cha đạo − cũng phải bật cười:
− Quả có thế, các con ạ, hồi bằng tuổi các con, ta cũng nghịch gớm lắm! Vì sao thế, các con nhỉ?
Những đứa trẻ cười, giám mục hỏi chúng, lôi cuốn cả lớp một cách khéo léo, khiến đứa nọ phản đối đứa kia, làm cho không khí mỗi lúc một vui thêm. Cuối cùng, ông đứng lên và nói:
− Ở đây với các con thú lắm, các chú bé nghịch ngợm ạ, nhưng đến lúc ta phải đi rồi!
Ông giơ một tay lên, tay áo tụt tới vai, khoá rộng tay làm dấu và ban phước:
− Nhân danh Cha và Con và Thánh thần, ta ban cho các con mọi sự tấn tới! Tạm biệt.
Tất cả lớp đều thét lên:
− Tạm biệt Đức ông! Mong Đức ông lại tới.
Giám mục gật gật cái mũ cao, nói:
− Ta sẽ đến, thế nào ta cũng đến! Ta sẽ đem sách đến cho các con!
Và khi ra khỏi lớp, ông nói với thầy giáo:
− Cho các trò về đi!
Ông dắt tay tôi ra phòng ngoài và ở đấy, ông cúi xuống gần tôi, khẽ nói:
− Thế con bớt nghịch đi nhé, được không? Ta thì ta hiểu tại sao con nghịch ngợm! Thôi, tạm biệt, chú bé.
Tôi rất xúc động, một tình cảm đặc biệt rộn rực trong ngực tôi, và ngay cả khi thầy giáo đã cho cả lớp về nhưng giữ tôi lại và nói rằng bây giờ tôi phải lặng hơn nước, thấp hơn cỏ thì tôi vui lòng, chăm chú nghe từ đầu đến cuối.
Giáo sĩ vừa mặc áo choàng vừa cất giọng ồm ồm, dịu dàng nói với tôi:
− Từ nay con phải học các giờ của ta! Đúng. Phải học. Nhưng phải ngồi yên. Đúng. Ngồi yên.
[...]
Tôi biết đọc một cách có ý thức năm lên mười bốn tuổi. Trong những năm ấy, tôi đã không chỉ say mê tình tiết của sách − tức là sự phát triển ít nhiều lí thú của những biến cố được đưa ra − mà tôi đã bắt đầu hiểu được vẻ đẹp của những đoạn văn miêu tả, bắt đầu suy nghĩ về tính cách các nhân vật, lờ mờ đoán được mục đích của tác giả cuốn sách và lo ngại cảm thấy sự khác nhau giữa cái mà sách nói đến với cái mà cuộc sống khuyên bảo.
[...]
Phải thương hại con người thật là đau lòng, bao giờ tôi cũng muốn gửi gắm tình yêu sung sướng vào một người nào đó, nhưng chẳng có ai để mà yêu. Tôi càng yêu sách nồng nàn hơn.
Còn có nhiều cái bỉ ổi, tàn bạo, làm tôi chán ghét ghê gớm. Tôi sẽ không nói về điều đó, chính các bạn cũng biết cuộc sống địa ngục ấy, sự nhạo báng không ngớt ấy của người đối với người, niềm say mê bệnh tật ấy, niềm say mê làm khổ nhau, thứ khoái lạc của những kẻ nô lệ. Và chính trong hoàn cảnh đáng nguyền rủa như thế, lần đầu tiên tôi bắt đầu đọc sách hay, nghiêm túc của văn học nước ngoài.
Có lẽ tôi sẽ không truyền đạt đủ rõ và đáng tin cậy để các bạn thấy sự ngạc nhiên của tôi lớn lao như thế nào khi tôi cảm thấy hầu như mỗi cuốn sách đều mở ra trước mắt tôi cánh cửa sổ nhìn vào một thế giới mới chưa từng biết, đều kể với tôi về những con người, những tình cảm, ý nghĩ và những quan hệ mà tôi chưa từng biết, chưa từng thấy. Thậm chí, tôi còn có cảm giác rằng cuộc đời xung quanh tôi, tất cả những khắc nghiệt, bẩn thỉu và tàn bạo hằng ngày diễn ra trước mắt tôi đều không phải là cái có thực, đều là thừa. Cái có thực và cần thiết chỉ ở trong sách, ở đó mọi cái đều hợp lí hơn, đẹp hơn, nhân đạo hơn. Trong các cuốn sách cũng có nói về sự thô bạo, về sự ngu xuẩn của người đời, về những nỗi đau khổ của họ, cũng miêu tả những kẻ độc ác và đê tiện, nhưng bên cạnh có những người khác, những người mà tôi chưa từng thấy, thậm chí chưa từng nghe nói đến: những người chính trực, cương nghị, chân thật, lập nên chiến công đẹp đẽ, dù có phải hi sinh tính mạng.
Thời gian đầu, say sưa vì cái mới và vì giá trị tinh thần lớn lao của cái thế giới mà sách đã mở ra trước mắt tôi, tôi bắt đầu coi sách tốt đẹp hơn, lí thú hơn, gần gũi hơn với mọi người, và dường như hơi bị quáng loà, tôi nhìn cuộc đời thực qua sách. Nhưng cuộc sống khôn ngoan, khắc nghiệt đã quan tâm chữa cho tôi cái bệnh mù dễ chịu ấy.
[...]
Tôi càng đọc nhiều thì sách càng làm cho tôi gắn bó với thế giới, cuộc đời cũng đối với tôi càng trở nên rực rỡ có ý nghĩa. Tôi thấy rằng có những người sống khổ cực hơn, khó khăn hơn tôi, điều đó an ủi tôi phần nào, tuy vẫn không làm tôi thoả hiệp với cái hiện thực ô nhục. Tôi cũng thấy rằng có những người không biết sống một cách vui thú và sung sướng mà không một người nào xung quanh tôi biết sống như thế. Và hầu như trong mỗi quyển sách đều có cái gì đáng lo ngại, như một tiếng chuông nhè nhẹ lôi cuốn tôi đi, đi tìm cái chưa biết, cái làm tôi xúc động tâm tình. Mọi người đều không bằng lòng với cuộc sống, đều tìm kiếm một cái gì tốt đẹp hơn, và họ trở nên gần gũi hơn, dễ hiểu hơn. Sách làm cho khắp Trái Đất, khắp thế giới tràn ngập nỗi buồn nhớ cái tốt đẹp hơn, và mỗi cuốn sách dường như đều là tâm hồn được ghi lại trên giấy bằng những dấu hiệu và những từ, những dấu hiệu và những từ ấy lập tức trở nên sống động, hễ mắt tôi, trí tuệ tôi tiếp xúc với chúng.
Nhiều lần tôi khóc khi đọc sách, sách kể chuyện hay biết bao về con người, họ trở nên đáng yêu và gần gũi biết bao. Là một thằng bé bị công việc ngu độn làm cho kiệt sức, luôn luôn phải hứng lấy những lời chửi mắng đần độn, tôi trịnh trọng hứa với mình là lớn lên, tôi sẽ giúp đỡ mọi người, hết lòng phục vụ họ.
Như những con chim kì diệu trong truyện cổ tích, sách ca hát về việc cuộc sống đa dạng và phong phú như thế nào, con người táo bạo như thế nào trong khát vọng đạt tới cái thiện và cái đẹp. Và càng đọc, trong lòng tôi càng tràn đầy tinh thần lành mạnh và hăng hái. Tôi trở nên điềm tĩnh hơn, tin ở mình hơn, làm việc hợp lí hơn và ngày càng ít để ý đến vô số những chuyện bực bội trong cuộc sống.
Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ đưa tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con người, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống ấy. [...]
(In trong Tuyển tập truyện ngắn M. Go-rơ-ki, tập hai, NXB Đà Nẵng, 2001, tr. 346 − 363)
Khi phát hiện những yếu tố đặc biệt ở Pê-xcốp, Đức Giám mục Cri-xan-phơ đã
TÔI ĐÃ HỌC TẬP NHƯ THẾ NÀO?
(Trích)
M. Go-rơ-ki (M. Gorki)
(Lược dẫn: Được ông ngoại dạy đọc từ năm sáu tuổi, cậu bé Pê-xcốp A-lếch-xây (M. Go-rơ-ki lúc nhỏ) ban đầu học chữ rất nhanh. Nhưng ông của cậu, vì sự nóng vội, cáu kỉnh và thiếu phương pháp, đã khiến cậu bé sinh ra chán học. Sau đó, cậu được gửi đến học tại một ngôi trường của nhà thờ.)
Tôi đến trường với đôi giày của mẹ, với chiếc áo bành tô nhỏ may lại bằng chiếc áo ngoài của bà, với chiếc áo sơ mi màu vàng và chiếc quần "buông chùng". Tất cả những cái đó lập tức bị chế nhạo, vì chiếc sơ mi vàng mà tôi có biệt hiệu "thằng tù khổ sai". Tôi dàn xếp với những thằng bé một cách nhanh chóng, nhưng thầy giáo và cha cố không ưa tôi.
(Lược một đoạn: Pê-xcốp đến lớp thường bị một số ông giáo khó tính không ưa và phân biệt đối xử. Tình trạng này kéo dài khiến cậu bé bị tổn thương nặng nề. Pê-xcốp đã bày ra nhiều trò nghịch ngợm để trả đũa các ông giáo này. Về sau, khi đã lớn khôn và hiểu biết, Pê-xcốp xem đó là những trò "man rợ", đáng phải hối hận.)
Mặc dù tôi học khá, ít lâu sau, người ta bảo rằng tôi bị đuổi khỏi trường vì hạnh kiểm xấu. Tôi chán nản, điều đó sẽ gây cho tôi những chuyện rầy rà lớn.
Nhưng cứu tinh chợt xuất hiện: Giám mục Cri-xan-phơ (Crixanfo) đột nhiên tới trường.
Ông ta người nhỏ bé, mặc bộ áo đen rộng thùng thình, đến ngồi bên bàn, rút tay ra khỏi ống tay áo và nói:
"Nào, ta nói chuyện với nhau đi, các con!". Không khí trong lớp lập tức trở nên ấm áp, vui vẻ, mọi người đều cảm thấy dễ chịu khác thường.
Ông gọi tôi đến gần bàn, sau khi đã gọi nhiều đứa khác và hỏi một cách nghiêm trang:
− Con lên mấy? Có thế thôi à? Sao dài người thế, chú bé? Hay bêu mưa lắm, phải không?
Ông đặt bàn tay khô gầy, với những móng tay to và nhọn lên bàn, nắm lấy chòm râu thưa, nhìn chằm chằm vào mặt tôi bằng đôi mắt hiền từ, và bảo tôi:
− Nào kể cho ta nghe một đoạn trong thánh sử, con thích đoạn nào?
Khi tôi nói rằng tôi không có sách và tôi không học thánh sử, ông sửa lại chiếc mũ giáo sĩ và hỏi:
− Sao lại thế? Cái đó cần phải học chứ! Nhưng có thể con cũng biết đôi chút chăng, có nghe nói đến không? Có biết thánh thi không? Thế thì tốt! Cả những bài cầu nguyện nữa à? Đấy, thấy chưa! Lại còn sự tích các thánh nữa à? Bằng thơ à? Chú bé của ta biết nhiều đấy.
Giáo sĩ của chúng tôi tới, mặt đỏ, thở hổn hển. Giám mục ban phước cho ông ta, nhưng khi ông ta bắt đầu nói về tôi thì giám mục giơ tay nói:
− Xin cha một lát... Nào, kể về A-lếch-xây người của Chúa đi.
− Những vần thơ tuyệt diệu phải không, chú bé? Giám mục nói khi tôi dừng lại vì quên một câu thơ nào đó. Còn gì nữa không?... Về vua Đa-vít (David) hả? Ta chú ý nghe đây.
Tôi thấy rằng quả thực ông ta nghe và ông ta thích thơ. Ông ta hỏi tôi một lúc lâu, rồi bỗng ngăn tôi lại, hỏi nhanh:
− Con học theo thánh thi à? Ai dạy? Ông có hiền không? Ác à? Lẽ nào? Nhưng con nghịch lắm phải không?
Tôi ngập ngừng, nhưng rồi tôi đáp: Vâng. Thầy giáo và giáo sĩ nói rất nhiều để chứng tỏ rằng lời thú nhận của tôi là đúng. Giám mục nghe họ, nhìn xuống, rồi thở dài nói:
− Các thầy nói về con thế đấy, con nghe thấy chứ? Nào, lại gần đây!
Giám mục đặt tay lên đầu tôi − bàn tay thoang thoảng mùi hương gỗ bách và hỏi tôi:
− Tại sao con nghịch ngợm?
− Con chán học lắm.
− Chán à? Không hẳn thế đâu, chú bé ạ. Con mà chán học thì con sẽ học kém, nhưng các thầy đều bảo con học khá. Như vậy là ở đây có nguyên nhân gì khác.
Ông ta rút ở trong ngực ra một cuốn vở con, viết:
− Pê-xcốp A-lếch-xây. Nhưng dù sao con cũng bớt nghịch đi nhé, đừng nghịch nhiều quá. Ít thôi thì được, còn nghịch quá thì mọi người bực mình! Ta nói đúng không các con?
Có tiếng lao xao, vui vẻ trả lời:
− Đúng ạ.
− Chính các con cũng nghịch ít ít thôi phải không?
Những thằng bé tủm tỉm cười, thốt lên:
− Không. Cũng nghịch nhiều ạ! Nghịch nhiều ạ!
Giám mục ngả người lên lưng ghế, ôm chặt tôi vào lòng, nói với vẻ ngạc nhiên, làm cho cả lớp − ngay cả thầy giáo và cha đạo − cũng phải bật cười:
− Quả có thế, các con ạ, hồi bằng tuổi các con, ta cũng nghịch gớm lắm! Vì sao thế, các con nhỉ?
Những đứa trẻ cười, giám mục hỏi chúng, lôi cuốn cả lớp một cách khéo léo, khiến đứa nọ phản đối đứa kia, làm cho không khí mỗi lúc một vui thêm. Cuối cùng, ông đứng lên và nói:
− Ở đây với các con thú lắm, các chú bé nghịch ngợm ạ, nhưng đến lúc ta phải đi rồi!
Ông giơ một tay lên, tay áo tụt tới vai, khoá rộng tay làm dấu và ban phước:
− Nhân danh Cha và Con và Thánh thần, ta ban cho các con mọi sự tấn tới! Tạm biệt.
Tất cả lớp đều thét lên:
− Tạm biệt Đức ông! Mong Đức ông lại tới.
Giám mục gật gật cái mũ cao, nói:
− Ta sẽ đến, thế nào ta cũng đến! Ta sẽ đem sách đến cho các con!
Và khi ra khỏi lớp, ông nói với thầy giáo:
− Cho các trò về đi!
Ông dắt tay tôi ra phòng ngoài và ở đấy, ông cúi xuống gần tôi, khẽ nói:
− Thế con bớt nghịch đi nhé, được không? Ta thì ta hiểu tại sao con nghịch ngợm! Thôi, tạm biệt, chú bé.
Tôi rất xúc động, một tình cảm đặc biệt rộn rực trong ngực tôi, và ngay cả khi thầy giáo đã cho cả lớp về nhưng giữ tôi lại và nói rằng bây giờ tôi phải lặng hơn nước, thấp hơn cỏ thì tôi vui lòng, chăm chú nghe từ đầu đến cuối.
Giáo sĩ vừa mặc áo choàng vừa cất giọng ồm ồm, dịu dàng nói với tôi:
− Từ nay con phải học các giờ của ta! Đúng. Phải học. Nhưng phải ngồi yên. Đúng. Ngồi yên.
[...]
Tôi biết đọc một cách có ý thức năm lên mười bốn tuổi. Trong những năm ấy, tôi đã không chỉ say mê tình tiết của sách − tức là sự phát triển ít nhiều lí thú của những biến cố được đưa ra − mà tôi đã bắt đầu hiểu được vẻ đẹp của những đoạn văn miêu tả, bắt đầu suy nghĩ về tính cách các nhân vật, lờ mờ đoán được mục đích của tác giả cuốn sách và lo ngại cảm thấy sự khác nhau giữa cái mà sách nói đến với cái mà cuộc sống khuyên bảo.
[...]
Phải thương hại con người thật là đau lòng, bao giờ tôi cũng muốn gửi gắm tình yêu sung sướng vào một người nào đó, nhưng chẳng có ai để mà yêu. Tôi càng yêu sách nồng nàn hơn.
Còn có nhiều cái bỉ ổi, tàn bạo, làm tôi chán ghét ghê gớm. Tôi sẽ không nói về điều đó, chính các bạn cũng biết cuộc sống địa ngục ấy, sự nhạo báng không ngớt ấy của người đối với người, niềm say mê bệnh tật ấy, niềm say mê làm khổ nhau, thứ khoái lạc của những kẻ nô lệ. Và chính trong hoàn cảnh đáng nguyền rủa như thế, lần đầu tiên tôi bắt đầu đọc sách hay, nghiêm túc của văn học nước ngoài.
Có lẽ tôi sẽ không truyền đạt đủ rõ và đáng tin cậy để các bạn thấy sự ngạc nhiên của tôi lớn lao như thế nào khi tôi cảm thấy hầu như mỗi cuốn sách đều mở ra trước mắt tôi cánh cửa sổ nhìn vào một thế giới mới chưa từng biết, đều kể với tôi về những con người, những tình cảm, ý nghĩ và những quan hệ mà tôi chưa từng biết, chưa từng thấy. Thậm chí, tôi còn có cảm giác rằng cuộc đời xung quanh tôi, tất cả những khắc nghiệt, bẩn thỉu và tàn bạo hằng ngày diễn ra trước mắt tôi đều không phải là cái có thực, đều là thừa. Cái có thực và cần thiết chỉ ở trong sách, ở đó mọi cái đều hợp lí hơn, đẹp hơn, nhân đạo hơn. Trong các cuốn sách cũng có nói về sự thô bạo, về sự ngu xuẩn của người đời, về những nỗi đau khổ của họ, cũng miêu tả những kẻ độc ác và đê tiện, nhưng bên cạnh có những người khác, những người mà tôi chưa từng thấy, thậm chí chưa từng nghe nói đến: những người chính trực, cương nghị, chân thật, lập nên chiến công đẹp đẽ, dù có phải hi sinh tính mạng.
Thời gian đầu, say sưa vì cái mới và vì giá trị tinh thần lớn lao của cái thế giới mà sách đã mở ra trước mắt tôi, tôi bắt đầu coi sách tốt đẹp hơn, lí thú hơn, gần gũi hơn với mọi người, và dường như hơi bị quáng loà, tôi nhìn cuộc đời thực qua sách. Nhưng cuộc sống khôn ngoan, khắc nghiệt đã quan tâm chữa cho tôi cái bệnh mù dễ chịu ấy.
[...]
Tôi càng đọc nhiều thì sách càng làm cho tôi gắn bó với thế giới, cuộc đời cũng đối với tôi càng trở nên rực rỡ có ý nghĩa. Tôi thấy rằng có những người sống khổ cực hơn, khó khăn hơn tôi, điều đó an ủi tôi phần nào, tuy vẫn không làm tôi thoả hiệp với cái hiện thực ô nhục. Tôi cũng thấy rằng có những người không biết sống một cách vui thú và sung sướng mà không một người nào xung quanh tôi biết sống như thế. Và hầu như trong mỗi quyển sách đều có cái gì đáng lo ngại, như một tiếng chuông nhè nhẹ lôi cuốn tôi đi, đi tìm cái chưa biết, cái làm tôi xúc động tâm tình. Mọi người đều không bằng lòng với cuộc sống, đều tìm kiếm một cái gì tốt đẹp hơn, và họ trở nên gần gũi hơn, dễ hiểu hơn. Sách làm cho khắp Trái Đất, khắp thế giới tràn ngập nỗi buồn nhớ cái tốt đẹp hơn, và mỗi cuốn sách dường như đều là tâm hồn được ghi lại trên giấy bằng những dấu hiệu và những từ, những dấu hiệu và những từ ấy lập tức trở nên sống động, hễ mắt tôi, trí tuệ tôi tiếp xúc với chúng.
Nhiều lần tôi khóc khi đọc sách, sách kể chuyện hay biết bao về con người, họ trở nên đáng yêu và gần gũi biết bao. Là một thằng bé bị công việc ngu độn làm cho kiệt sức, luôn luôn phải hứng lấy những lời chửi mắng đần độn, tôi trịnh trọng hứa với mình là lớn lên, tôi sẽ giúp đỡ mọi người, hết lòng phục vụ họ.
Như những con chim kì diệu trong truyện cổ tích, sách ca hát về việc cuộc sống đa dạng và phong phú như thế nào, con người táo bạo như thế nào trong khát vọng đạt tới cái thiện và cái đẹp. Và càng đọc, trong lòng tôi càng tràn đầy tinh thần lành mạnh và hăng hái. Tôi trở nên điềm tĩnh hơn, tin ở mình hơn, làm việc hợp lí hơn và ngày càng ít để ý đến vô số những chuyện bực bội trong cuộc sống.
Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ đưa tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con người, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống ấy. [...]
(In trong Tuyển tập truyện ngắn M. Go-rơ-ki, tập hai, NXB Đà Nẵng, 2001, tr. 346 − 363)
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.
Sau khi được Đức Giám mục Cri-xan-phơ ghi nhận và , Pê-xcốp cũng tự phát hiện ra phần không phải "" trong chính bản thân mình.
TÔI ĐÃ HỌC TẬP NHƯ THẾ NÀO?
(Trích)
M. Go-rơ-ki (M. Gorki)
(Lược dẫn: Được ông ngoại dạy đọc từ năm sáu tuổi, cậu bé Pê-xcốp A-lếch-xây (M. Go-rơ-ki lúc nhỏ) ban đầu học chữ rất nhanh. Nhưng ông của cậu, vì sự nóng vội, cáu kỉnh và thiếu phương pháp, đã khiến cậu bé sinh ra chán học. Sau đó, cậu được gửi đến học tại một ngôi trường của nhà thờ.)
Tôi đến trường với đôi giày của mẹ, với chiếc áo bành tô nhỏ may lại bằng chiếc áo ngoài của bà, với chiếc áo sơ mi màu vàng và chiếc quần "buông chùng". Tất cả những cái đó lập tức bị chế nhạo, vì chiếc sơ mi vàng mà tôi có biệt hiệu "thằng tù khổ sai". Tôi dàn xếp với những thằng bé một cách nhanh chóng, nhưng thầy giáo và cha cố không ưa tôi.
(Lược một đoạn: Pê-xcốp đến lớp thường bị một số ông giáo khó tính không ưa và phân biệt đối xử. Tình trạng này kéo dài khiến cậu bé bị tổn thương nặng nề. Pê-xcốp đã bày ra nhiều trò nghịch ngợm để trả đũa các ông giáo này. Về sau, khi đã lớn khôn và hiểu biết, Pê-xcốp xem đó là những trò "man rợ", đáng phải hối hận.)
Mặc dù tôi học khá, ít lâu sau, người ta bảo rằng tôi bị đuổi khỏi trường vì hạnh kiểm xấu. Tôi chán nản, điều đó sẽ gây cho tôi những chuyện rầy rà lớn.
Nhưng cứu tinh chợt xuất hiện: Giám mục Cri-xan-phơ (Crixanfo) đột nhiên tới trường.
Ông ta người nhỏ bé, mặc bộ áo đen rộng thùng thình, đến ngồi bên bàn, rút tay ra khỏi ống tay áo và nói:
"Nào, ta nói chuyện với nhau đi, các con!". Không khí trong lớp lập tức trở nên ấm áp, vui vẻ, mọi người đều cảm thấy dễ chịu khác thường.
Ông gọi tôi đến gần bàn, sau khi đã gọi nhiều đứa khác và hỏi một cách nghiêm trang:
− Con lên mấy? Có thế thôi à? Sao dài người thế, chú bé? Hay bêu mưa lắm, phải không?
Ông đặt bàn tay khô gầy, với những móng tay to và nhọn lên bàn, nắm lấy chòm râu thưa, nhìn chằm chằm vào mặt tôi bằng đôi mắt hiền từ, và bảo tôi:
− Nào kể cho ta nghe một đoạn trong thánh sử, con thích đoạn nào?
Khi tôi nói rằng tôi không có sách và tôi không học thánh sử, ông sửa lại chiếc mũ giáo sĩ và hỏi:
− Sao lại thế? Cái đó cần phải học chứ! Nhưng có thể con cũng biết đôi chút chăng, có nghe nói đến không? Có biết thánh thi không? Thế thì tốt! Cả những bài cầu nguyện nữa à? Đấy, thấy chưa! Lại còn sự tích các thánh nữa à? Bằng thơ à? Chú bé của ta biết nhiều đấy.
Giáo sĩ của chúng tôi tới, mặt đỏ, thở hổn hển. Giám mục ban phước cho ông ta, nhưng khi ông ta bắt đầu nói về tôi thì giám mục giơ tay nói:
− Xin cha một lát... Nào, kể về A-lếch-xây người của Chúa đi.
− Những vần thơ tuyệt diệu phải không, chú bé? Giám mục nói khi tôi dừng lại vì quên một câu thơ nào đó. Còn gì nữa không?... Về vua Đa-vít (David) hả? Ta chú ý nghe đây.
Tôi thấy rằng quả thực ông ta nghe và ông ta thích thơ. Ông ta hỏi tôi một lúc lâu, rồi bỗng ngăn tôi lại, hỏi nhanh:
− Con học theo thánh thi à? Ai dạy? Ông có hiền không? Ác à? Lẽ nào? Nhưng con nghịch lắm phải không?
Tôi ngập ngừng, nhưng rồi tôi đáp: Vâng. Thầy giáo và giáo sĩ nói rất nhiều để chứng tỏ rằng lời thú nhận của tôi là đúng. Giám mục nghe họ, nhìn xuống, rồi thở dài nói:
− Các thầy nói về con thế đấy, con nghe thấy chứ? Nào, lại gần đây!
Giám mục đặt tay lên đầu tôi − bàn tay thoang thoảng mùi hương gỗ bách và hỏi tôi:
− Tại sao con nghịch ngợm?
− Con chán học lắm.
− Chán à? Không hẳn thế đâu, chú bé ạ. Con mà chán học thì con sẽ học kém, nhưng các thầy đều bảo con học khá. Như vậy là ở đây có nguyên nhân gì khác.
Ông ta rút ở trong ngực ra một cuốn vở con, viết:
− Pê-xcốp A-lếch-xây. Nhưng dù sao con cũng bớt nghịch đi nhé, đừng nghịch nhiều quá. Ít thôi thì được, còn nghịch quá thì mọi người bực mình! Ta nói đúng không các con?
Có tiếng lao xao, vui vẻ trả lời:
− Đúng ạ.
− Chính các con cũng nghịch ít ít thôi phải không?
Những thằng bé tủm tỉm cười, thốt lên:
− Không. Cũng nghịch nhiều ạ! Nghịch nhiều ạ!
Giám mục ngả người lên lưng ghế, ôm chặt tôi vào lòng, nói với vẻ ngạc nhiên, làm cho cả lớp − ngay cả thầy giáo và cha đạo − cũng phải bật cười:
− Quả có thế, các con ạ, hồi bằng tuổi các con, ta cũng nghịch gớm lắm! Vì sao thế, các con nhỉ?
Những đứa trẻ cười, giám mục hỏi chúng, lôi cuốn cả lớp một cách khéo léo, khiến đứa nọ phản đối đứa kia, làm cho không khí mỗi lúc một vui thêm. Cuối cùng, ông đứng lên và nói:
− Ở đây với các con thú lắm, các chú bé nghịch ngợm ạ, nhưng đến lúc ta phải đi rồi!
Ông giơ một tay lên, tay áo tụt tới vai, khoá rộng tay làm dấu và ban phước:
− Nhân danh Cha và Con và Thánh thần, ta ban cho các con mọi sự tấn tới! Tạm biệt.
Tất cả lớp đều thét lên:
− Tạm biệt Đức ông! Mong Đức ông lại tới.
Giám mục gật gật cái mũ cao, nói:
− Ta sẽ đến, thế nào ta cũng đến! Ta sẽ đem sách đến cho các con!
Và khi ra khỏi lớp, ông nói với thầy giáo:
− Cho các trò về đi!
Ông dắt tay tôi ra phòng ngoài và ở đấy, ông cúi xuống gần tôi, khẽ nói:
− Thế con bớt nghịch đi nhé, được không? Ta thì ta hiểu tại sao con nghịch ngợm! Thôi, tạm biệt, chú bé.
Tôi rất xúc động, một tình cảm đặc biệt rộn rực trong ngực tôi, và ngay cả khi thầy giáo đã cho cả lớp về nhưng giữ tôi lại và nói rằng bây giờ tôi phải lặng hơn nước, thấp hơn cỏ thì tôi vui lòng, chăm chú nghe từ đầu đến cuối.
Giáo sĩ vừa mặc áo choàng vừa cất giọng ồm ồm, dịu dàng nói với tôi:
− Từ nay con phải học các giờ của ta! Đúng. Phải học. Nhưng phải ngồi yên. Đúng. Ngồi yên.
[...]
Tôi biết đọc một cách có ý thức năm lên mười bốn tuổi. Trong những năm ấy, tôi đã không chỉ say mê tình tiết của sách − tức là sự phát triển ít nhiều lí thú của những biến cố được đưa ra − mà tôi đã bắt đầu hiểu được vẻ đẹp của những đoạn văn miêu tả, bắt đầu suy nghĩ về tính cách các nhân vật, lờ mờ đoán được mục đích của tác giả cuốn sách và lo ngại cảm thấy sự khác nhau giữa cái mà sách nói đến với cái mà cuộc sống khuyên bảo.
[...]
Phải thương hại con người thật là đau lòng, bao giờ tôi cũng muốn gửi gắm tình yêu sung sướng vào một người nào đó, nhưng chẳng có ai để mà yêu. Tôi càng yêu sách nồng nàn hơn.
Còn có nhiều cái bỉ ổi, tàn bạo, làm tôi chán ghét ghê gớm. Tôi sẽ không nói về điều đó, chính các bạn cũng biết cuộc sống địa ngục ấy, sự nhạo báng không ngớt ấy của người đối với người, niềm say mê bệnh tật ấy, niềm say mê làm khổ nhau, thứ khoái lạc của những kẻ nô lệ. Và chính trong hoàn cảnh đáng nguyền rủa như thế, lần đầu tiên tôi bắt đầu đọc sách hay, nghiêm túc của văn học nước ngoài.
Có lẽ tôi sẽ không truyền đạt đủ rõ và đáng tin cậy để các bạn thấy sự ngạc nhiên của tôi lớn lao như thế nào khi tôi cảm thấy hầu như mỗi cuốn sách đều mở ra trước mắt tôi cánh cửa sổ nhìn vào một thế giới mới chưa từng biết, đều kể với tôi về những con người, những tình cảm, ý nghĩ và những quan hệ mà tôi chưa từng biết, chưa từng thấy. Thậm chí, tôi còn có cảm giác rằng cuộc đời xung quanh tôi, tất cả những khắc nghiệt, bẩn thỉu và tàn bạo hằng ngày diễn ra trước mắt tôi đều không phải là cái có thực, đều là thừa. Cái có thực và cần thiết chỉ ở trong sách, ở đó mọi cái đều hợp lí hơn, đẹp hơn, nhân đạo hơn. Trong các cuốn sách cũng có nói về sự thô bạo, về sự ngu xuẩn của người đời, về những nỗi đau khổ của họ, cũng miêu tả những kẻ độc ác và đê tiện, nhưng bên cạnh có những người khác, những người mà tôi chưa từng thấy, thậm chí chưa từng nghe nói đến: những người chính trực, cương nghị, chân thật, lập nên chiến công đẹp đẽ, dù có phải hi sinh tính mạng.
Thời gian đầu, say sưa vì cái mới và vì giá trị tinh thần lớn lao của cái thế giới mà sách đã mở ra trước mắt tôi, tôi bắt đầu coi sách tốt đẹp hơn, lí thú hơn, gần gũi hơn với mọi người, và dường như hơi bị quáng loà, tôi nhìn cuộc đời thực qua sách. Nhưng cuộc sống khôn ngoan, khắc nghiệt đã quan tâm chữa cho tôi cái bệnh mù dễ chịu ấy.
[...]
Tôi càng đọc nhiều thì sách càng làm cho tôi gắn bó với thế giới, cuộc đời cũng đối với tôi càng trở nên rực rỡ có ý nghĩa. Tôi thấy rằng có những người sống khổ cực hơn, khó khăn hơn tôi, điều đó an ủi tôi phần nào, tuy vẫn không làm tôi thoả hiệp với cái hiện thực ô nhục. Tôi cũng thấy rằng có những người không biết sống một cách vui thú và sung sướng mà không một người nào xung quanh tôi biết sống như thế. Và hầu như trong mỗi quyển sách đều có cái gì đáng lo ngại, như một tiếng chuông nhè nhẹ lôi cuốn tôi đi, đi tìm cái chưa biết, cái làm tôi xúc động tâm tình. Mọi người đều không bằng lòng với cuộc sống, đều tìm kiếm một cái gì tốt đẹp hơn, và họ trở nên gần gũi hơn, dễ hiểu hơn. Sách làm cho khắp Trái Đất, khắp thế giới tràn ngập nỗi buồn nhớ cái tốt đẹp hơn, và mỗi cuốn sách dường như đều là tâm hồn được ghi lại trên giấy bằng những dấu hiệu và những từ, những dấu hiệu và những từ ấy lập tức trở nên sống động, hễ mắt tôi, trí tuệ tôi tiếp xúc với chúng.
Nhiều lần tôi khóc khi đọc sách, sách kể chuyện hay biết bao về con người, họ trở nên đáng yêu và gần gũi biết bao. Là một thằng bé bị công việc ngu độn làm cho kiệt sức, luôn luôn phải hứng lấy những lời chửi mắng đần độn, tôi trịnh trọng hứa với mình là lớn lên, tôi sẽ giúp đỡ mọi người, hết lòng phục vụ họ.
Như những con chim kì diệu trong truyện cổ tích, sách ca hát về việc cuộc sống đa dạng và phong phú như thế nào, con người táo bạo như thế nào trong khát vọng đạt tới cái thiện và cái đẹp. Và càng đọc, trong lòng tôi càng tràn đầy tinh thần lành mạnh và hăng hái. Tôi trở nên điềm tĩnh hơn, tin ở mình hơn, làm việc hợp lí hơn và ngày càng ít để ý đến vô số những chuyện bực bội trong cuộc sống.
Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ đưa tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con người, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống ấy. [...]
(In trong Tuyển tập truyện ngắn M. Go-rơ-ki, tập hai, NXB Đà Nẵng, 2001, tr. 346 − 363)
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.
Khi thuật lại cuộc trò chuyện giữa Giám mục với Pê-xcốp cùng các học sinh trong lớp, − người kể chuyện hầu như chỉ kể lại lời của , nhưng vẫn thể hiện được tiếng nói, của Pê-xcốp và các bạn cùng lớp.
TÔI ĐÃ HỌC TẬP NHƯ THẾ NÀO?
(Trích)
M. Go-rơ-ki (M. Gorki)
(Lược dẫn: Được ông ngoại dạy đọc từ năm sáu tuổi, cậu bé Pê-xcốp A-lếch-xây (M. Go-rơ-ki lúc nhỏ) ban đầu học chữ rất nhanh. Nhưng ông của cậu, vì sự nóng vội, cáu kỉnh và thiếu phương pháp, đã khiến cậu bé sinh ra chán học. Sau đó, cậu được gửi đến học tại một ngôi trường của nhà thờ.)
Tôi đến trường với đôi giày của mẹ, với chiếc áo bành tô nhỏ may lại bằng chiếc áo ngoài của bà, với chiếc áo sơ mi màu vàng và chiếc quần "buông chùng". Tất cả những cái đó lập tức bị chế nhạo, vì chiếc sơ mi vàng mà tôi có biệt hiệu "thằng tù khổ sai". Tôi dàn xếp với những thằng bé một cách nhanh chóng, nhưng thầy giáo và cha cố không ưa tôi.
(Lược một đoạn: Pê-xcốp đến lớp thường bị một số ông giáo khó tính không ưa và phân biệt đối xử. Tình trạng này kéo dài khiến cậu bé bị tổn thương nặng nề. Pê-xcốp đã bày ra nhiều trò nghịch ngợm để trả đũa các ông giáo này. Về sau, khi đã lớn khôn và hiểu biết, Pê-xcốp xem đó là những trò "man rợ", đáng phải hối hận.)
Mặc dù tôi học khá, ít lâu sau, người ta bảo rằng tôi bị đuổi khỏi trường vì hạnh kiểm xấu. Tôi chán nản, điều đó sẽ gây cho tôi những chuyện rầy rà lớn.
Nhưng cứu tinh chợt xuất hiện: Giám mục Cri-xan-phơ (Crixanfo) đột nhiên tới trường.
Ông ta người nhỏ bé, mặc bộ áo đen rộng thùng thình, đến ngồi bên bàn, rút tay ra khỏi ống tay áo và nói:
"Nào, ta nói chuyện với nhau đi, các con!". Không khí trong lớp lập tức trở nên ấm áp, vui vẻ, mọi người đều cảm thấy dễ chịu khác thường.
Ông gọi tôi đến gần bàn, sau khi đã gọi nhiều đứa khác và hỏi một cách nghiêm trang:
− Con lên mấy? Có thế thôi à? Sao dài người thế, chú bé? Hay bêu mưa lắm, phải không?
Ông đặt bàn tay khô gầy, với những móng tay to và nhọn lên bàn, nắm lấy chòm râu thưa, nhìn chằm chằm vào mặt tôi bằng đôi mắt hiền từ, và bảo tôi:
− Nào kể cho ta nghe một đoạn trong thánh sử, con thích đoạn nào?
Khi tôi nói rằng tôi không có sách và tôi không học thánh sử, ông sửa lại chiếc mũ giáo sĩ và hỏi:
− Sao lại thế? Cái đó cần phải học chứ! Nhưng có thể con cũng biết đôi chút chăng, có nghe nói đến không? Có biết thánh thi không? Thế thì tốt! Cả những bài cầu nguyện nữa à? Đấy, thấy chưa! Lại còn sự tích các thánh nữa à? Bằng thơ à? Chú bé của ta biết nhiều đấy.
Giáo sĩ của chúng tôi tới, mặt đỏ, thở hổn hển. Giám mục ban phước cho ông ta, nhưng khi ông ta bắt đầu nói về tôi thì giám mục giơ tay nói:
− Xin cha một lát... Nào, kể về A-lếch-xây người của Chúa đi.
− Những vần thơ tuyệt diệu phải không, chú bé? Giám mục nói khi tôi dừng lại vì quên một câu thơ nào đó. Còn gì nữa không?... Về vua Đa-vít (David) hả? Ta chú ý nghe đây.
Tôi thấy rằng quả thực ông ta nghe và ông ta thích thơ. Ông ta hỏi tôi một lúc lâu, rồi bỗng ngăn tôi lại, hỏi nhanh:
− Con học theo thánh thi à? Ai dạy? Ông có hiền không? Ác à? Lẽ nào? Nhưng con nghịch lắm phải không?
Tôi ngập ngừng, nhưng rồi tôi đáp: Vâng. Thầy giáo và giáo sĩ nói rất nhiều để chứng tỏ rằng lời thú nhận của tôi là đúng. Giám mục nghe họ, nhìn xuống, rồi thở dài nói:
− Các thầy nói về con thế đấy, con nghe thấy chứ? Nào, lại gần đây!
Giám mục đặt tay lên đầu tôi − bàn tay thoang thoảng mùi hương gỗ bách và hỏi tôi:
− Tại sao con nghịch ngợm?
− Con chán học lắm.
− Chán à? Không hẳn thế đâu, chú bé ạ. Con mà chán học thì con sẽ học kém, nhưng các thầy đều bảo con học khá. Như vậy là ở đây có nguyên nhân gì khác.
Ông ta rút ở trong ngực ra một cuốn vở con, viết:
− Pê-xcốp A-lếch-xây. Nhưng dù sao con cũng bớt nghịch đi nhé, đừng nghịch nhiều quá. Ít thôi thì được, còn nghịch quá thì mọi người bực mình! Ta nói đúng không các con?
Có tiếng lao xao, vui vẻ trả lời:
− Đúng ạ.
− Chính các con cũng nghịch ít ít thôi phải không?
Những thằng bé tủm tỉm cười, thốt lên:
− Không. Cũng nghịch nhiều ạ! Nghịch nhiều ạ!
Giám mục ngả người lên lưng ghế, ôm chặt tôi vào lòng, nói với vẻ ngạc nhiên, làm cho cả lớp − ngay cả thầy giáo và cha đạo − cũng phải bật cười:
− Quả có thế, các con ạ, hồi bằng tuổi các con, ta cũng nghịch gớm lắm! Vì sao thế, các con nhỉ?
Những đứa trẻ cười, giám mục hỏi chúng, lôi cuốn cả lớp một cách khéo léo, khiến đứa nọ phản đối đứa kia, làm cho không khí mỗi lúc một vui thêm. Cuối cùng, ông đứng lên và nói:
− Ở đây với các con thú lắm, các chú bé nghịch ngợm ạ, nhưng đến lúc ta phải đi rồi!
Ông giơ một tay lên, tay áo tụt tới vai, khoá rộng tay làm dấu và ban phước:
− Nhân danh Cha và Con và Thánh thần, ta ban cho các con mọi sự tấn tới! Tạm biệt.
Tất cả lớp đều thét lên:
− Tạm biệt Đức ông! Mong Đức ông lại tới.
Giám mục gật gật cái mũ cao, nói:
− Ta sẽ đến, thế nào ta cũng đến! Ta sẽ đem sách đến cho các con!
Và khi ra khỏi lớp, ông nói với thầy giáo:
− Cho các trò về đi!
Ông dắt tay tôi ra phòng ngoài và ở đấy, ông cúi xuống gần tôi, khẽ nói:
− Thế con bớt nghịch đi nhé, được không? Ta thì ta hiểu tại sao con nghịch ngợm! Thôi, tạm biệt, chú bé.
Tôi rất xúc động, một tình cảm đặc biệt rộn rực trong ngực tôi, và ngay cả khi thầy giáo đã cho cả lớp về nhưng giữ tôi lại và nói rằng bây giờ tôi phải lặng hơn nước, thấp hơn cỏ thì tôi vui lòng, chăm chú nghe từ đầu đến cuối.
Giáo sĩ vừa mặc áo choàng vừa cất giọng ồm ồm, dịu dàng nói với tôi:
− Từ nay con phải học các giờ của ta! Đúng. Phải học. Nhưng phải ngồi yên. Đúng. Ngồi yên.
[...]
Tôi biết đọc một cách có ý thức năm lên mười bốn tuổi. Trong những năm ấy, tôi đã không chỉ say mê tình tiết của sách − tức là sự phát triển ít nhiều lí thú của những biến cố được đưa ra − mà tôi đã bắt đầu hiểu được vẻ đẹp của những đoạn văn miêu tả, bắt đầu suy nghĩ về tính cách các nhân vật, lờ mờ đoán được mục đích của tác giả cuốn sách và lo ngại cảm thấy sự khác nhau giữa cái mà sách nói đến với cái mà cuộc sống khuyên bảo.
[...]
Phải thương hại con người thật là đau lòng, bao giờ tôi cũng muốn gửi gắm tình yêu sung sướng vào một người nào đó, nhưng chẳng có ai để mà yêu. Tôi càng yêu sách nồng nàn hơn.
Còn có nhiều cái bỉ ổi, tàn bạo, làm tôi chán ghét ghê gớm. Tôi sẽ không nói về điều đó, chính các bạn cũng biết cuộc sống địa ngục ấy, sự nhạo báng không ngớt ấy của người đối với người, niềm say mê bệnh tật ấy, niềm say mê làm khổ nhau, thứ khoái lạc của những kẻ nô lệ. Và chính trong hoàn cảnh đáng nguyền rủa như thế, lần đầu tiên tôi bắt đầu đọc sách hay, nghiêm túc của văn học nước ngoài.
Có lẽ tôi sẽ không truyền đạt đủ rõ và đáng tin cậy để các bạn thấy sự ngạc nhiên của tôi lớn lao như thế nào khi tôi cảm thấy hầu như mỗi cuốn sách đều mở ra trước mắt tôi cánh cửa sổ nhìn vào một thế giới mới chưa từng biết, đều kể với tôi về những con người, những tình cảm, ý nghĩ và những quan hệ mà tôi chưa từng biết, chưa từng thấy. Thậm chí, tôi còn có cảm giác rằng cuộc đời xung quanh tôi, tất cả những khắc nghiệt, bẩn thỉu và tàn bạo hằng ngày diễn ra trước mắt tôi đều không phải là cái có thực, đều là thừa. Cái có thực và cần thiết chỉ ở trong sách, ở đó mọi cái đều hợp lí hơn, đẹp hơn, nhân đạo hơn. Trong các cuốn sách cũng có nói về sự thô bạo, về sự ngu xuẩn của người đời, về những nỗi đau khổ của họ, cũng miêu tả những kẻ độc ác và đê tiện, nhưng bên cạnh có những người khác, những người mà tôi chưa từng thấy, thậm chí chưa từng nghe nói đến: những người chính trực, cương nghị, chân thật, lập nên chiến công đẹp đẽ, dù có phải hi sinh tính mạng.
Thời gian đầu, say sưa vì cái mới và vì giá trị tinh thần lớn lao của cái thế giới mà sách đã mở ra trước mắt tôi, tôi bắt đầu coi sách tốt đẹp hơn, lí thú hơn, gần gũi hơn với mọi người, và dường như hơi bị quáng loà, tôi nhìn cuộc đời thực qua sách. Nhưng cuộc sống khôn ngoan, khắc nghiệt đã quan tâm chữa cho tôi cái bệnh mù dễ chịu ấy.
[...]
Tôi càng đọc nhiều thì sách càng làm cho tôi gắn bó với thế giới, cuộc đời cũng đối với tôi càng trở nên rực rỡ có ý nghĩa. Tôi thấy rằng có những người sống khổ cực hơn, khó khăn hơn tôi, điều đó an ủi tôi phần nào, tuy vẫn không làm tôi thoả hiệp với cái hiện thực ô nhục. Tôi cũng thấy rằng có những người không biết sống một cách vui thú và sung sướng mà không một người nào xung quanh tôi biết sống như thế. Và hầu như trong mỗi quyển sách đều có cái gì đáng lo ngại, như một tiếng chuông nhè nhẹ lôi cuốn tôi đi, đi tìm cái chưa biết, cái làm tôi xúc động tâm tình. Mọi người đều không bằng lòng với cuộc sống, đều tìm kiếm một cái gì tốt đẹp hơn, và họ trở nên gần gũi hơn, dễ hiểu hơn. Sách làm cho khắp Trái Đất, khắp thế giới tràn ngập nỗi buồn nhớ cái tốt đẹp hơn, và mỗi cuốn sách dường như đều là tâm hồn được ghi lại trên giấy bằng những dấu hiệu và những từ, những dấu hiệu và những từ ấy lập tức trở nên sống động, hễ mắt tôi, trí tuệ tôi tiếp xúc với chúng.
Nhiều lần tôi khóc khi đọc sách, sách kể chuyện hay biết bao về con người, họ trở nên đáng yêu và gần gũi biết bao. Là một thằng bé bị công việc ngu độn làm cho kiệt sức, luôn luôn phải hứng lấy những lời chửi mắng đần độn, tôi trịnh trọng hứa với mình là lớn lên, tôi sẽ giúp đỡ mọi người, hết lòng phục vụ họ.
Như những con chim kì diệu trong truyện cổ tích, sách ca hát về việc cuộc sống đa dạng và phong phú như thế nào, con người táo bạo như thế nào trong khát vọng đạt tới cái thiện và cái đẹp. Và càng đọc, trong lòng tôi càng tràn đầy tinh thần lành mạnh và hăng hái. Tôi trở nên điềm tĩnh hơn, tin ở mình hơn, làm việc hợp lí hơn và ngày càng ít để ý đến vô số những chuyện bực bội trong cuộc sống.
Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ đưa tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con người, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống ấy. [...]
(In trong Tuyển tập truyện ngắn M. Go-rơ-ki, tập hai, NXB Đà Nẵng, 2001, tr. 346 − 363)
Để tạo ưu thế riêng làm cho hình tượng Giám mục với Pê- xcốp cùng các bạn học sinh trong lớp trở nên thân thiết, tác giả đã sử dụng điểm nhìn của người kể chuyện
TÔI ĐÃ HỌC TẬP NHƯ THẾ NÀO?
(Trích)
M. Go-rơ-ki (M. Gorki)
(Lược dẫn: Được ông ngoại dạy đọc từ năm sáu tuổi, cậu bé Pê-xcốp A-lếch-xây (M. Go-rơ-ki lúc nhỏ) ban đầu học chữ rất nhanh. Nhưng ông của cậu, vì sự nóng vội, cáu kỉnh và thiếu phương pháp, đã khiến cậu bé sinh ra chán học. Sau đó, cậu được gửi đến học tại một ngôi trường của nhà thờ.)
Tôi đến trường với đôi giày của mẹ, với chiếc áo bành tô nhỏ may lại bằng chiếc áo ngoài của bà, với chiếc áo sơ mi màu vàng và chiếc quần "buông chùng". Tất cả những cái đó lập tức bị chế nhạo, vì chiếc sơ mi vàng mà tôi có biệt hiệu "thằng tù khổ sai". Tôi dàn xếp với những thằng bé một cách nhanh chóng, nhưng thầy giáo và cha cố không ưa tôi.
(Lược một đoạn: Pê-xcốp đến lớp thường bị một số ông giáo khó tính không ưa và phân biệt đối xử. Tình trạng này kéo dài khiến cậu bé bị tổn thương nặng nề. Pê-xcốp đã bày ra nhiều trò nghịch ngợm để trả đũa các ông giáo này. Về sau, khi đã lớn khôn và hiểu biết, Pê-xcốp xem đó là những trò "man rợ", đáng phải hối hận.)
Mặc dù tôi học khá, ít lâu sau, người ta bảo rằng tôi bị đuổi khỏi trường vì hạnh kiểm xấu. Tôi chán nản, điều đó sẽ gây cho tôi những chuyện rầy rà lớn.
Nhưng cứu tinh chợt xuất hiện: Giám mục Cri-xan-phơ (Crixanfo) đột nhiên tới trường.
Ông ta người nhỏ bé, mặc bộ áo đen rộng thùng thình, đến ngồi bên bàn, rút tay ra khỏi ống tay áo và nói:
"Nào, ta nói chuyện với nhau đi, các con!". Không khí trong lớp lập tức trở nên ấm áp, vui vẻ, mọi người đều cảm thấy dễ chịu khác thường.
Ông gọi tôi đến gần bàn, sau khi đã gọi nhiều đứa khác và hỏi một cách nghiêm trang:
− Con lên mấy? Có thế thôi à? Sao dài người thế, chú bé? Hay bêu mưa lắm, phải không?
Ông đặt bàn tay khô gầy, với những móng tay to và nhọn lên bàn, nắm lấy chòm râu thưa, nhìn chằm chằm vào mặt tôi bằng đôi mắt hiền từ, và bảo tôi:
− Nào kể cho ta nghe một đoạn trong thánh sử, con thích đoạn nào?
Khi tôi nói rằng tôi không có sách và tôi không học thánh sử, ông sửa lại chiếc mũ giáo sĩ và hỏi:
− Sao lại thế? Cái đó cần phải học chứ! Nhưng có thể con cũng biết đôi chút chăng, có nghe nói đến không? Có biết thánh thi không? Thế thì tốt! Cả những bài cầu nguyện nữa à? Đấy, thấy chưa! Lại còn sự tích các thánh nữa à? Bằng thơ à? Chú bé của ta biết nhiều đấy.
Giáo sĩ của chúng tôi tới, mặt đỏ, thở hổn hển. Giám mục ban phước cho ông ta, nhưng khi ông ta bắt đầu nói về tôi thì giám mục giơ tay nói:
− Xin cha một lát... Nào, kể về A-lếch-xây người của Chúa đi.
− Những vần thơ tuyệt diệu phải không, chú bé? Giám mục nói khi tôi dừng lại vì quên một câu thơ nào đó. Còn gì nữa không?... Về vua Đa-vít (David) hả? Ta chú ý nghe đây.
Tôi thấy rằng quả thực ông ta nghe và ông ta thích thơ. Ông ta hỏi tôi một lúc lâu, rồi bỗng ngăn tôi lại, hỏi nhanh:
− Con học theo thánh thi à? Ai dạy? Ông có hiền không? Ác à? Lẽ nào? Nhưng con nghịch lắm phải không?
Tôi ngập ngừng, nhưng rồi tôi đáp: Vâng. Thầy giáo và giáo sĩ nói rất nhiều để chứng tỏ rằng lời thú nhận của tôi là đúng. Giám mục nghe họ, nhìn xuống, rồi thở dài nói:
− Các thầy nói về con thế đấy, con nghe thấy chứ? Nào, lại gần đây!
Giám mục đặt tay lên đầu tôi − bàn tay thoang thoảng mùi hương gỗ bách và hỏi tôi:
− Tại sao con nghịch ngợm?
− Con chán học lắm.
− Chán à? Không hẳn thế đâu, chú bé ạ. Con mà chán học thì con sẽ học kém, nhưng các thầy đều bảo con học khá. Như vậy là ở đây có nguyên nhân gì khác.
Ông ta rút ở trong ngực ra một cuốn vở con, viết:
− Pê-xcốp A-lếch-xây. Nhưng dù sao con cũng bớt nghịch đi nhé, đừng nghịch nhiều quá. Ít thôi thì được, còn nghịch quá thì mọi người bực mình! Ta nói đúng không các con?
Có tiếng lao xao, vui vẻ trả lời:
− Đúng ạ.
− Chính các con cũng nghịch ít ít thôi phải không?
Những thằng bé tủm tỉm cười, thốt lên:
− Không. Cũng nghịch nhiều ạ! Nghịch nhiều ạ!
Giám mục ngả người lên lưng ghế, ôm chặt tôi vào lòng, nói với vẻ ngạc nhiên, làm cho cả lớp − ngay cả thầy giáo và cha đạo − cũng phải bật cười:
− Quả có thế, các con ạ, hồi bằng tuổi các con, ta cũng nghịch gớm lắm! Vì sao thế, các con nhỉ?
Những đứa trẻ cười, giám mục hỏi chúng, lôi cuốn cả lớp một cách khéo léo, khiến đứa nọ phản đối đứa kia, làm cho không khí mỗi lúc một vui thêm. Cuối cùng, ông đứng lên và nói:
− Ở đây với các con thú lắm, các chú bé nghịch ngợm ạ, nhưng đến lúc ta phải đi rồi!
Ông giơ một tay lên, tay áo tụt tới vai, khoá rộng tay làm dấu và ban phước:
− Nhân danh Cha và Con và Thánh thần, ta ban cho các con mọi sự tấn tới! Tạm biệt.
Tất cả lớp đều thét lên:
− Tạm biệt Đức ông! Mong Đức ông lại tới.
Giám mục gật gật cái mũ cao, nói:
− Ta sẽ đến, thế nào ta cũng đến! Ta sẽ đem sách đến cho các con!
Và khi ra khỏi lớp, ông nói với thầy giáo:
− Cho các trò về đi!
Ông dắt tay tôi ra phòng ngoài và ở đấy, ông cúi xuống gần tôi, khẽ nói:
− Thế con bớt nghịch đi nhé, được không? Ta thì ta hiểu tại sao con nghịch ngợm! Thôi, tạm biệt, chú bé.
Tôi rất xúc động, một tình cảm đặc biệt rộn rực trong ngực tôi, và ngay cả khi thầy giáo đã cho cả lớp về nhưng giữ tôi lại và nói rằng bây giờ tôi phải lặng hơn nước, thấp hơn cỏ thì tôi vui lòng, chăm chú nghe từ đầu đến cuối.
Giáo sĩ vừa mặc áo choàng vừa cất giọng ồm ồm, dịu dàng nói với tôi:
− Từ nay con phải học các giờ của ta! Đúng. Phải học. Nhưng phải ngồi yên. Đúng. Ngồi yên.
[...]
Tôi biết đọc một cách có ý thức năm lên mười bốn tuổi. Trong những năm ấy, tôi đã không chỉ say mê tình tiết của sách − tức là sự phát triển ít nhiều lí thú của những biến cố được đưa ra − mà tôi đã bắt đầu hiểu được vẻ đẹp của những đoạn văn miêu tả, bắt đầu suy nghĩ về tính cách các nhân vật, lờ mờ đoán được mục đích của tác giả cuốn sách và lo ngại cảm thấy sự khác nhau giữa cái mà sách nói đến với cái mà cuộc sống khuyên bảo.
[...]
Phải thương hại con người thật là đau lòng, bao giờ tôi cũng muốn gửi gắm tình yêu sung sướng vào một người nào đó, nhưng chẳng có ai để mà yêu. Tôi càng yêu sách nồng nàn hơn.
Còn có nhiều cái bỉ ổi, tàn bạo, làm tôi chán ghét ghê gớm. Tôi sẽ không nói về điều đó, chính các bạn cũng biết cuộc sống địa ngục ấy, sự nhạo báng không ngớt ấy của người đối với người, niềm say mê bệnh tật ấy, niềm say mê làm khổ nhau, thứ khoái lạc của những kẻ nô lệ. Và chính trong hoàn cảnh đáng nguyền rủa như thế, lần đầu tiên tôi bắt đầu đọc sách hay, nghiêm túc của văn học nước ngoài.
Có lẽ tôi sẽ không truyền đạt đủ rõ và đáng tin cậy để các bạn thấy sự ngạc nhiên của tôi lớn lao như thế nào khi tôi cảm thấy hầu như mỗi cuốn sách đều mở ra trước mắt tôi cánh cửa sổ nhìn vào một thế giới mới chưa từng biết, đều kể với tôi về những con người, những tình cảm, ý nghĩ và những quan hệ mà tôi chưa từng biết, chưa từng thấy. Thậm chí, tôi còn có cảm giác rằng cuộc đời xung quanh tôi, tất cả những khắc nghiệt, bẩn thỉu và tàn bạo hằng ngày diễn ra trước mắt tôi đều không phải là cái có thực, đều là thừa. Cái có thực và cần thiết chỉ ở trong sách, ở đó mọi cái đều hợp lí hơn, đẹp hơn, nhân đạo hơn. Trong các cuốn sách cũng có nói về sự thô bạo, về sự ngu xuẩn của người đời, về những nỗi đau khổ của họ, cũng miêu tả những kẻ độc ác và đê tiện, nhưng bên cạnh có những người khác, những người mà tôi chưa từng thấy, thậm chí chưa từng nghe nói đến: những người chính trực, cương nghị, chân thật, lập nên chiến công đẹp đẽ, dù có phải hi sinh tính mạng.
Thời gian đầu, say sưa vì cái mới và vì giá trị tinh thần lớn lao của cái thế giới mà sách đã mở ra trước mắt tôi, tôi bắt đầu coi sách tốt đẹp hơn, lí thú hơn, gần gũi hơn với mọi người, và dường như hơi bị quáng loà, tôi nhìn cuộc đời thực qua sách. Nhưng cuộc sống khôn ngoan, khắc nghiệt đã quan tâm chữa cho tôi cái bệnh mù dễ chịu ấy.
[...]
Tôi càng đọc nhiều thì sách càng làm cho tôi gắn bó với thế giới, cuộc đời cũng đối với tôi càng trở nên rực rỡ có ý nghĩa. Tôi thấy rằng có những người sống khổ cực hơn, khó khăn hơn tôi, điều đó an ủi tôi phần nào, tuy vẫn không làm tôi thoả hiệp với cái hiện thực ô nhục. Tôi cũng thấy rằng có những người không biết sống một cách vui thú và sung sướng mà không một người nào xung quanh tôi biết sống như thế. Và hầu như trong mỗi quyển sách đều có cái gì đáng lo ngại, như một tiếng chuông nhè nhẹ lôi cuốn tôi đi, đi tìm cái chưa biết, cái làm tôi xúc động tâm tình. Mọi người đều không bằng lòng với cuộc sống, đều tìm kiếm một cái gì tốt đẹp hơn, và họ trở nên gần gũi hơn, dễ hiểu hơn. Sách làm cho khắp Trái Đất, khắp thế giới tràn ngập nỗi buồn nhớ cái tốt đẹp hơn, và mỗi cuốn sách dường như đều là tâm hồn được ghi lại trên giấy bằng những dấu hiệu và những từ, những dấu hiệu và những từ ấy lập tức trở nên sống động, hễ mắt tôi, trí tuệ tôi tiếp xúc với chúng.
Nhiều lần tôi khóc khi đọc sách, sách kể chuyện hay biết bao về con người, họ trở nên đáng yêu và gần gũi biết bao. Là một thằng bé bị công việc ngu độn làm cho kiệt sức, luôn luôn phải hứng lấy những lời chửi mắng đần độn, tôi trịnh trọng hứa với mình là lớn lên, tôi sẽ giúp đỡ mọi người, hết lòng phục vụ họ.
Như những con chim kì diệu trong truyện cổ tích, sách ca hát về việc cuộc sống đa dạng và phong phú như thế nào, con người táo bạo như thế nào trong khát vọng đạt tới cái thiện và cái đẹp. Và càng đọc, trong lòng tôi càng tràn đầy tinh thần lành mạnh và hăng hái. Tôi trở nên điềm tĩnh hơn, tin ở mình hơn, làm việc hợp lí hơn và ngày càng ít để ý đến vô số những chuyện bực bội trong cuộc sống.
Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ đưa tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con người, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống ấy. [...]
(In trong Tuyển tập truyện ngắn M. Go-rơ-ki, tập hai, NXB Đà Nẵng, 2001, tr. 346 − 363)
Nối các chi tiết dưới đây với ý nghĩa tương ứng.
TÔI ĐÃ HỌC TẬP NHƯ THẾ NÀO?
(Trích)
M. Go-rơ-ki (M. Gorki)
(Lược dẫn: Được ông ngoại dạy đọc từ năm sáu tuổi, cậu bé Pê-xcốp A-lếch-xây (M. Go-rơ-ki lúc nhỏ) ban đầu học chữ rất nhanh. Nhưng ông của cậu, vì sự nóng vội, cáu kỉnh và thiếu phương pháp, đã khiến cậu bé sinh ra chán học. Sau đó, cậu được gửi đến học tại một ngôi trường của nhà thờ.)
Tôi đến trường với đôi giày của mẹ, với chiếc áo bành tô nhỏ may lại bằng chiếc áo ngoài của bà, với chiếc áo sơ mi màu vàng và chiếc quần "buông chùng". Tất cả những cái đó lập tức bị chế nhạo, vì chiếc sơ mi vàng mà tôi có biệt hiệu "thằng tù khổ sai". Tôi dàn xếp với những thằng bé một cách nhanh chóng, nhưng thầy giáo và cha cố không ưa tôi.
(Lược một đoạn: Pê-xcốp đến lớp thường bị một số ông giáo khó tính không ưa và phân biệt đối xử. Tình trạng này kéo dài khiến cậu bé bị tổn thương nặng nề. Pê-xcốp đã bày ra nhiều trò nghịch ngợm để trả đũa các ông giáo này. Về sau, khi đã lớn khôn và hiểu biết, Pê-xcốp xem đó là những trò "man rợ", đáng phải hối hận.)
Mặc dù tôi học khá, ít lâu sau, người ta bảo rằng tôi bị đuổi khỏi trường vì hạnh kiểm xấu. Tôi chán nản, điều đó sẽ gây cho tôi những chuyện rầy rà lớn.
Nhưng cứu tinh chợt xuất hiện: Giám mục Cri-xan-phơ (Crixanfo) đột nhiên tới trường.
Ông ta người nhỏ bé, mặc bộ áo đen rộng thùng thình, đến ngồi bên bàn, rút tay ra khỏi ống tay áo và nói:
"Nào, ta nói chuyện với nhau đi, các con!". Không khí trong lớp lập tức trở nên ấm áp, vui vẻ, mọi người đều cảm thấy dễ chịu khác thường.
Ông gọi tôi đến gần bàn, sau khi đã gọi nhiều đứa khác và hỏi một cách nghiêm trang:
− Con lên mấy? Có thế thôi à? Sao dài người thế, chú bé? Hay bêu mưa lắm, phải không?
Ông đặt bàn tay khô gầy, với những móng tay to và nhọn lên bàn, nắm lấy chòm râu thưa, nhìn chằm chằm vào mặt tôi bằng đôi mắt hiền từ, và bảo tôi:
− Nào kể cho ta nghe một đoạn trong thánh sử, con thích đoạn nào?
Khi tôi nói rằng tôi không có sách và tôi không học thánh sử, ông sửa lại chiếc mũ giáo sĩ và hỏi:
− Sao lại thế? Cái đó cần phải học chứ! Nhưng có thể con cũng biết đôi chút chăng, có nghe nói đến không? Có biết thánh thi không? Thế thì tốt! Cả những bài cầu nguyện nữa à? Đấy, thấy chưa! Lại còn sự tích các thánh nữa à? Bằng thơ à? Chú bé của ta biết nhiều đấy.
Giáo sĩ của chúng tôi tới, mặt đỏ, thở hổn hển. Giám mục ban phước cho ông ta, nhưng khi ông ta bắt đầu nói về tôi thì giám mục giơ tay nói:
− Xin cha một lát... Nào, kể về A-lếch-xây người của Chúa đi.
− Những vần thơ tuyệt diệu phải không, chú bé? Giám mục nói khi tôi dừng lại vì quên một câu thơ nào đó. Còn gì nữa không?... Về vua Đa-vít (David) hả? Ta chú ý nghe đây.
Tôi thấy rằng quả thực ông ta nghe và ông ta thích thơ. Ông ta hỏi tôi một lúc lâu, rồi bỗng ngăn tôi lại, hỏi nhanh:
− Con học theo thánh thi à? Ai dạy? Ông có hiền không? Ác à? Lẽ nào? Nhưng con nghịch lắm phải không?
Tôi ngập ngừng, nhưng rồi tôi đáp: Vâng. Thầy giáo và giáo sĩ nói rất nhiều để chứng tỏ rằng lời thú nhận của tôi là đúng. Giám mục nghe họ, nhìn xuống, rồi thở dài nói:
− Các thầy nói về con thế đấy, con nghe thấy chứ? Nào, lại gần đây!
Giám mục đặt tay lên đầu tôi − bàn tay thoang thoảng mùi hương gỗ bách và hỏi tôi:
− Tại sao con nghịch ngợm?
− Con chán học lắm.
− Chán à? Không hẳn thế đâu, chú bé ạ. Con mà chán học thì con sẽ học kém, nhưng các thầy đều bảo con học khá. Như vậy là ở đây có nguyên nhân gì khác.
Ông ta rút ở trong ngực ra một cuốn vở con, viết:
− Pê-xcốp A-lếch-xây. Nhưng dù sao con cũng bớt nghịch đi nhé, đừng nghịch nhiều quá. Ít thôi thì được, còn nghịch quá thì mọi người bực mình! Ta nói đúng không các con?
Có tiếng lao xao, vui vẻ trả lời:
− Đúng ạ.
− Chính các con cũng nghịch ít ít thôi phải không?
Những thằng bé tủm tỉm cười, thốt lên:
− Không. Cũng nghịch nhiều ạ! Nghịch nhiều ạ!
Giám mục ngả người lên lưng ghế, ôm chặt tôi vào lòng, nói với vẻ ngạc nhiên, làm cho cả lớp − ngay cả thầy giáo và cha đạo − cũng phải bật cười:
− Quả có thế, các con ạ, hồi bằng tuổi các con, ta cũng nghịch gớm lắm! Vì sao thế, các con nhỉ?
Những đứa trẻ cười, giám mục hỏi chúng, lôi cuốn cả lớp một cách khéo léo, khiến đứa nọ phản đối đứa kia, làm cho không khí mỗi lúc một vui thêm. Cuối cùng, ông đứng lên và nói:
− Ở đây với các con thú lắm, các chú bé nghịch ngợm ạ, nhưng đến lúc ta phải đi rồi!
Ông giơ một tay lên, tay áo tụt tới vai, khoá rộng tay làm dấu và ban phước:
− Nhân danh Cha và Con và Thánh thần, ta ban cho các con mọi sự tấn tới! Tạm biệt.
Tất cả lớp đều thét lên:
− Tạm biệt Đức ông! Mong Đức ông lại tới.
Giám mục gật gật cái mũ cao, nói:
− Ta sẽ đến, thế nào ta cũng đến! Ta sẽ đem sách đến cho các con!
Và khi ra khỏi lớp, ông nói với thầy giáo:
− Cho các trò về đi!
Ông dắt tay tôi ra phòng ngoài và ở đấy, ông cúi xuống gần tôi, khẽ nói:
− Thế con bớt nghịch đi nhé, được không? Ta thì ta hiểu tại sao con nghịch ngợm! Thôi, tạm biệt, chú bé.
Tôi rất xúc động, một tình cảm đặc biệt rộn rực trong ngực tôi, và ngay cả khi thầy giáo đã cho cả lớp về nhưng giữ tôi lại và nói rằng bây giờ tôi phải lặng hơn nước, thấp hơn cỏ thì tôi vui lòng, chăm chú nghe từ đầu đến cuối.
Giáo sĩ vừa mặc áo choàng vừa cất giọng ồm ồm, dịu dàng nói với tôi:
− Từ nay con phải học các giờ của ta! Đúng. Phải học. Nhưng phải ngồi yên. Đúng. Ngồi yên.
[...]
Tôi biết đọc một cách có ý thức năm lên mười bốn tuổi. Trong những năm ấy, tôi đã không chỉ say mê tình tiết của sách − tức là sự phát triển ít nhiều lí thú của những biến cố được đưa ra − mà tôi đã bắt đầu hiểu được vẻ đẹp của những đoạn văn miêu tả, bắt đầu suy nghĩ về tính cách các nhân vật, lờ mờ đoán được mục đích của tác giả cuốn sách và lo ngại cảm thấy sự khác nhau giữa cái mà sách nói đến với cái mà cuộc sống khuyên bảo.
[...]
Phải thương hại con người thật là đau lòng, bao giờ tôi cũng muốn gửi gắm tình yêu sung sướng vào một người nào đó, nhưng chẳng có ai để mà yêu. Tôi càng yêu sách nồng nàn hơn.
Còn có nhiều cái bỉ ổi, tàn bạo, làm tôi chán ghét ghê gớm. Tôi sẽ không nói về điều đó, chính các bạn cũng biết cuộc sống địa ngục ấy, sự nhạo báng không ngớt ấy của người đối với người, niềm say mê bệnh tật ấy, niềm say mê làm khổ nhau, thứ khoái lạc của những kẻ nô lệ. Và chính trong hoàn cảnh đáng nguyền rủa như thế, lần đầu tiên tôi bắt đầu đọc sách hay, nghiêm túc của văn học nước ngoài.
Có lẽ tôi sẽ không truyền đạt đủ rõ và đáng tin cậy để các bạn thấy sự ngạc nhiên của tôi lớn lao như thế nào khi tôi cảm thấy hầu như mỗi cuốn sách đều mở ra trước mắt tôi cánh cửa sổ nhìn vào một thế giới mới chưa từng biết, đều kể với tôi về những con người, những tình cảm, ý nghĩ và những quan hệ mà tôi chưa từng biết, chưa từng thấy. Thậm chí, tôi còn có cảm giác rằng cuộc đời xung quanh tôi, tất cả những khắc nghiệt, bẩn thỉu và tàn bạo hằng ngày diễn ra trước mắt tôi đều không phải là cái có thực, đều là thừa. Cái có thực và cần thiết chỉ ở trong sách, ở đó mọi cái đều hợp lí hơn, đẹp hơn, nhân đạo hơn. Trong các cuốn sách cũng có nói về sự thô bạo, về sự ngu xuẩn của người đời, về những nỗi đau khổ của họ, cũng miêu tả những kẻ độc ác và đê tiện, nhưng bên cạnh có những người khác, những người mà tôi chưa từng thấy, thậm chí chưa từng nghe nói đến: những người chính trực, cương nghị, chân thật, lập nên chiến công đẹp đẽ, dù có phải hi sinh tính mạng.
Thời gian đầu, say sưa vì cái mới và vì giá trị tinh thần lớn lao của cái thế giới mà sách đã mở ra trước mắt tôi, tôi bắt đầu coi sách tốt đẹp hơn, lí thú hơn, gần gũi hơn với mọi người, và dường như hơi bị quáng loà, tôi nhìn cuộc đời thực qua sách. Nhưng cuộc sống khôn ngoan, khắc nghiệt đã quan tâm chữa cho tôi cái bệnh mù dễ chịu ấy.
[...]
Tôi càng đọc nhiều thì sách càng làm cho tôi gắn bó với thế giới, cuộc đời cũng đối với tôi càng trở nên rực rỡ có ý nghĩa. Tôi thấy rằng có những người sống khổ cực hơn, khó khăn hơn tôi, điều đó an ủi tôi phần nào, tuy vẫn không làm tôi thoả hiệp với cái hiện thực ô nhục. Tôi cũng thấy rằng có những người không biết sống một cách vui thú và sung sướng mà không một người nào xung quanh tôi biết sống như thế. Và hầu như trong mỗi quyển sách đều có cái gì đáng lo ngại, như một tiếng chuông nhè nhẹ lôi cuốn tôi đi, đi tìm cái chưa biết, cái làm tôi xúc động tâm tình. Mọi người đều không bằng lòng với cuộc sống, đều tìm kiếm một cái gì tốt đẹp hơn, và họ trở nên gần gũi hơn, dễ hiểu hơn. Sách làm cho khắp Trái Đất, khắp thế giới tràn ngập nỗi buồn nhớ cái tốt đẹp hơn, và mỗi cuốn sách dường như đều là tâm hồn được ghi lại trên giấy bằng những dấu hiệu và những từ, những dấu hiệu và những từ ấy lập tức trở nên sống động, hễ mắt tôi, trí tuệ tôi tiếp xúc với chúng.
Nhiều lần tôi khóc khi đọc sách, sách kể chuyện hay biết bao về con người, họ trở nên đáng yêu và gần gũi biết bao. Là một thằng bé bị công việc ngu độn làm cho kiệt sức, luôn luôn phải hứng lấy những lời chửi mắng đần độn, tôi trịnh trọng hứa với mình là lớn lên, tôi sẽ giúp đỡ mọi người, hết lòng phục vụ họ.
Như những con chim kì diệu trong truyện cổ tích, sách ca hát về việc cuộc sống đa dạng và phong phú như thế nào, con người táo bạo như thế nào trong khát vọng đạt tới cái thiện và cái đẹp. Và càng đọc, trong lòng tôi càng tràn đầy tinh thần lành mạnh và hăng hái. Tôi trở nên điềm tĩnh hơn, tin ở mình hơn, làm việc hợp lí hơn và ngày càng ít để ý đến vô số những chuyện bực bội trong cuộc sống.
Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ đưa tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con người, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống ấy. [...]
(In trong Tuyển tập truyện ngắn M. Go-rơ-ki, tập hai, NXB Đà Nẵng, 2001, tr. 346 − 363)
Nối các chi tiết dưới đây với nhóm tương ứng.
TÔI ĐÃ HỌC TẬP NHƯ THẾ NÀO?
(Trích)
M. Go-rơ-ki (M. Gorki)
(Lược dẫn: Được ông ngoại dạy đọc từ năm sáu tuổi, cậu bé Pê-xcốp A-lếch-xây (M. Go-rơ-ki lúc nhỏ) ban đầu học chữ rất nhanh. Nhưng ông của cậu, vì sự nóng vội, cáu kỉnh và thiếu phương pháp, đã khiến cậu bé sinh ra chán học. Sau đó, cậu được gửi đến học tại một ngôi trường của nhà thờ.)
Tôi đến trường với đôi giày của mẹ, với chiếc áo bành tô nhỏ may lại bằng chiếc áo ngoài của bà, với chiếc áo sơ mi màu vàng và chiếc quần "buông chùng". Tất cả những cái đó lập tức bị chế nhạo, vì chiếc sơ mi vàng mà tôi có biệt hiệu "thằng tù khổ sai". Tôi dàn xếp với những thằng bé một cách nhanh chóng, nhưng thầy giáo và cha cố không ưa tôi.
(Lược một đoạn: Pê-xcốp đến lớp thường bị một số ông giáo khó tính không ưa và phân biệt đối xử. Tình trạng này kéo dài khiến cậu bé bị tổn thương nặng nề. Pê-xcốp đã bày ra nhiều trò nghịch ngợm để trả đũa các ông giáo này. Về sau, khi đã lớn khôn và hiểu biết, Pê-xcốp xem đó là những trò "man rợ", đáng phải hối hận.)
Mặc dù tôi học khá, ít lâu sau, người ta bảo rằng tôi bị đuổi khỏi trường vì hạnh kiểm xấu. Tôi chán nản, điều đó sẽ gây cho tôi những chuyện rầy rà lớn.
Nhưng cứu tinh chợt xuất hiện: Giám mục Cri-xan-phơ (Crixanfo) đột nhiên tới trường.
Ông ta người nhỏ bé, mặc bộ áo đen rộng thùng thình, đến ngồi bên bàn, rút tay ra khỏi ống tay áo và nói:
"Nào, ta nói chuyện với nhau đi, các con!". Không khí trong lớp lập tức trở nên ấm áp, vui vẻ, mọi người đều cảm thấy dễ chịu khác thường.
Ông gọi tôi đến gần bàn, sau khi đã gọi nhiều đứa khác và hỏi một cách nghiêm trang:
− Con lên mấy? Có thế thôi à? Sao dài người thế, chú bé? Hay bêu mưa lắm, phải không?
Ông đặt bàn tay khô gầy, với những móng tay to và nhọn lên bàn, nắm lấy chòm râu thưa, nhìn chằm chằm vào mặt tôi bằng đôi mắt hiền từ, và bảo tôi:
− Nào kể cho ta nghe một đoạn trong thánh sử, con thích đoạn nào?
Khi tôi nói rằng tôi không có sách và tôi không học thánh sử, ông sửa lại chiếc mũ giáo sĩ và hỏi:
− Sao lại thế? Cái đó cần phải học chứ! Nhưng có thể con cũng biết đôi chút chăng, có nghe nói đến không? Có biết thánh thi không? Thế thì tốt! Cả những bài cầu nguyện nữa à? Đấy, thấy chưa! Lại còn sự tích các thánh nữa à? Bằng thơ à? Chú bé của ta biết nhiều đấy.
Giáo sĩ của chúng tôi tới, mặt đỏ, thở hổn hển. Giám mục ban phước cho ông ta, nhưng khi ông ta bắt đầu nói về tôi thì giám mục giơ tay nói:
− Xin cha một lát... Nào, kể về A-lếch-xây người của Chúa đi.
− Những vần thơ tuyệt diệu phải không, chú bé? Giám mục nói khi tôi dừng lại vì quên một câu thơ nào đó. Còn gì nữa không?... Về vua Đa-vít (David) hả? Ta chú ý nghe đây.
Tôi thấy rằng quả thực ông ta nghe và ông ta thích thơ. Ông ta hỏi tôi một lúc lâu, rồi bỗng ngăn tôi lại, hỏi nhanh:
− Con học theo thánh thi à? Ai dạy? Ông có hiền không? Ác à? Lẽ nào? Nhưng con nghịch lắm phải không?
Tôi ngập ngừng, nhưng rồi tôi đáp: Vâng. Thầy giáo và giáo sĩ nói rất nhiều để chứng tỏ rằng lời thú nhận của tôi là đúng. Giám mục nghe họ, nhìn xuống, rồi thở dài nói:
− Các thầy nói về con thế đấy, con nghe thấy chứ? Nào, lại gần đây!
Giám mục đặt tay lên đầu tôi − bàn tay thoang thoảng mùi hương gỗ bách và hỏi tôi:
− Tại sao con nghịch ngợm?
− Con chán học lắm.
− Chán à? Không hẳn thế đâu, chú bé ạ. Con mà chán học thì con sẽ học kém, nhưng các thầy đều bảo con học khá. Như vậy là ở đây có nguyên nhân gì khác.
Ông ta rút ở trong ngực ra một cuốn vở con, viết:
− Pê-xcốp A-lếch-xây. Nhưng dù sao con cũng bớt nghịch đi nhé, đừng nghịch nhiều quá. Ít thôi thì được, còn nghịch quá thì mọi người bực mình! Ta nói đúng không các con?
Có tiếng lao xao, vui vẻ trả lời:
− Đúng ạ.
− Chính các con cũng nghịch ít ít thôi phải không?
Những thằng bé tủm tỉm cười, thốt lên:
− Không. Cũng nghịch nhiều ạ! Nghịch nhiều ạ!
Giám mục ngả người lên lưng ghế, ôm chặt tôi vào lòng, nói với vẻ ngạc nhiên, làm cho cả lớp − ngay cả thầy giáo và cha đạo − cũng phải bật cười:
− Quả có thế, các con ạ, hồi bằng tuổi các con, ta cũng nghịch gớm lắm! Vì sao thế, các con nhỉ?
Những đứa trẻ cười, giám mục hỏi chúng, lôi cuốn cả lớp một cách khéo léo, khiến đứa nọ phản đối đứa kia, làm cho không khí mỗi lúc một vui thêm. Cuối cùng, ông đứng lên và nói:
− Ở đây với các con thú lắm, các chú bé nghịch ngợm ạ, nhưng đến lúc ta phải đi rồi!
Ông giơ một tay lên, tay áo tụt tới vai, khoá rộng tay làm dấu và ban phước:
− Nhân danh Cha và Con và Thánh thần, ta ban cho các con mọi sự tấn tới! Tạm biệt.
Tất cả lớp đều thét lên:
− Tạm biệt Đức ông! Mong Đức ông lại tới.
Giám mục gật gật cái mũ cao, nói:
− Ta sẽ đến, thế nào ta cũng đến! Ta sẽ đem sách đến cho các con!
Và khi ra khỏi lớp, ông nói với thầy giáo:
− Cho các trò về đi!
Ông dắt tay tôi ra phòng ngoài và ở đấy, ông cúi xuống gần tôi, khẽ nói:
− Thế con bớt nghịch đi nhé, được không? Ta thì ta hiểu tại sao con nghịch ngợm! Thôi, tạm biệt, chú bé.
Tôi rất xúc động, một tình cảm đặc biệt rộn rực trong ngực tôi, và ngay cả khi thầy giáo đã cho cả lớp về nhưng giữ tôi lại và nói rằng bây giờ tôi phải lặng hơn nước, thấp hơn cỏ thì tôi vui lòng, chăm chú nghe từ đầu đến cuối.
Giáo sĩ vừa mặc áo choàng vừa cất giọng ồm ồm, dịu dàng nói với tôi:
− Từ nay con phải học các giờ của ta! Đúng. Phải học. Nhưng phải ngồi yên. Đúng. Ngồi yên.
[...]
Tôi biết đọc một cách có ý thức năm lên mười bốn tuổi. Trong những năm ấy, tôi đã không chỉ say mê tình tiết của sách − tức là sự phát triển ít nhiều lí thú của những biến cố được đưa ra − mà tôi đã bắt đầu hiểu được vẻ đẹp của những đoạn văn miêu tả, bắt đầu suy nghĩ về tính cách các nhân vật, lờ mờ đoán được mục đích của tác giả cuốn sách và lo ngại cảm thấy sự khác nhau giữa cái mà sách nói đến với cái mà cuộc sống khuyên bảo.
[...]
Phải thương hại con người thật là đau lòng, bao giờ tôi cũng muốn gửi gắm tình yêu sung sướng vào một người nào đó, nhưng chẳng có ai để mà yêu. Tôi càng yêu sách nồng nàn hơn.
Còn có nhiều cái bỉ ổi, tàn bạo, làm tôi chán ghét ghê gớm. Tôi sẽ không nói về điều đó, chính các bạn cũng biết cuộc sống địa ngục ấy, sự nhạo báng không ngớt ấy của người đối với người, niềm say mê bệnh tật ấy, niềm say mê làm khổ nhau, thứ khoái lạc của những kẻ nô lệ. Và chính trong hoàn cảnh đáng nguyền rủa như thế, lần đầu tiên tôi bắt đầu đọc sách hay, nghiêm túc của văn học nước ngoài.
Có lẽ tôi sẽ không truyền đạt đủ rõ và đáng tin cậy để các bạn thấy sự ngạc nhiên của tôi lớn lao như thế nào khi tôi cảm thấy hầu như mỗi cuốn sách đều mở ra trước mắt tôi cánh cửa sổ nhìn vào một thế giới mới chưa từng biết, đều kể với tôi về những con người, những tình cảm, ý nghĩ và những quan hệ mà tôi chưa từng biết, chưa từng thấy. Thậm chí, tôi còn có cảm giác rằng cuộc đời xung quanh tôi, tất cả những khắc nghiệt, bẩn thỉu và tàn bạo hằng ngày diễn ra trước mắt tôi đều không phải là cái có thực, đều là thừa. Cái có thực và cần thiết chỉ ở trong sách, ở đó mọi cái đều hợp lí hơn, đẹp hơn, nhân đạo hơn. Trong các cuốn sách cũng có nói về sự thô bạo, về sự ngu xuẩn của người đời, về những nỗi đau khổ của họ, cũng miêu tả những kẻ độc ác và đê tiện, nhưng bên cạnh có những người khác, những người mà tôi chưa từng thấy, thậm chí chưa từng nghe nói đến: những người chính trực, cương nghị, chân thật, lập nên chiến công đẹp đẽ, dù có phải hi sinh tính mạng.
Thời gian đầu, say sưa vì cái mới và vì giá trị tinh thần lớn lao của cái thế giới mà sách đã mở ra trước mắt tôi, tôi bắt đầu coi sách tốt đẹp hơn, lí thú hơn, gần gũi hơn với mọi người, và dường như hơi bị quáng loà, tôi nhìn cuộc đời thực qua sách. Nhưng cuộc sống khôn ngoan, khắc nghiệt đã quan tâm chữa cho tôi cái bệnh mù dễ chịu ấy.
[...]
Tôi càng đọc nhiều thì sách càng làm cho tôi gắn bó với thế giới, cuộc đời cũng đối với tôi càng trở nên rực rỡ có ý nghĩa. Tôi thấy rằng có những người sống khổ cực hơn, khó khăn hơn tôi, điều đó an ủi tôi phần nào, tuy vẫn không làm tôi thoả hiệp với cái hiện thực ô nhục. Tôi cũng thấy rằng có những người không biết sống một cách vui thú và sung sướng mà không một người nào xung quanh tôi biết sống như thế. Và hầu như trong mỗi quyển sách đều có cái gì đáng lo ngại, như một tiếng chuông nhè nhẹ lôi cuốn tôi đi, đi tìm cái chưa biết, cái làm tôi xúc động tâm tình. Mọi người đều không bằng lòng với cuộc sống, đều tìm kiếm một cái gì tốt đẹp hơn, và họ trở nên gần gũi hơn, dễ hiểu hơn. Sách làm cho khắp Trái Đất, khắp thế giới tràn ngập nỗi buồn nhớ cái tốt đẹp hơn, và mỗi cuốn sách dường như đều là tâm hồn được ghi lại trên giấy bằng những dấu hiệu và những từ, những dấu hiệu và những từ ấy lập tức trở nên sống động, hễ mắt tôi, trí tuệ tôi tiếp xúc với chúng.
Nhiều lần tôi khóc khi đọc sách, sách kể chuyện hay biết bao về con người, họ trở nên đáng yêu và gần gũi biết bao. Là một thằng bé bị công việc ngu độn làm cho kiệt sức, luôn luôn phải hứng lấy những lời chửi mắng đần độn, tôi trịnh trọng hứa với mình là lớn lên, tôi sẽ giúp đỡ mọi người, hết lòng phục vụ họ.
Như những con chim kì diệu trong truyện cổ tích, sách ca hát về việc cuộc sống đa dạng và phong phú như thế nào, con người táo bạo như thế nào trong khát vọng đạt tới cái thiện và cái đẹp. Và càng đọc, trong lòng tôi càng tràn đầy tinh thần lành mạnh và hăng hái. Tôi trở nên điềm tĩnh hơn, tin ở mình hơn, làm việc hợp lí hơn và ngày càng ít để ý đến vô số những chuyện bực bội trong cuộc sống.
Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ đưa tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con người, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống ấy. [...]
(In trong Tuyển tập truyện ngắn M. Go-rơ-ki, tập hai, NXB Đà Nẵng, 2001, tr. 346 − 363)
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.
Trong văn bản "Tôi đã học tập như thế nào?", Pê-xcốp quan niệm:
− Phần "thú": Những thấp kém, ích kỉ như , chống đối.
− Phần "người": Những tốt đẹp như , hướng thiện, khát vọng vươn lên.
− Cuộc đấu tranh giữa phần "thú" và phần "người": Quá trình Pê-xcốp , vượt lên cái xấu để khẳng định, nuôi dưỡng phần tốt đẹp trong mình (đặc biệt nhờ sự thức tỉnh từ và tình người).
(Kéo thả hoặc click vào để điền)
TÔI ĐÃ HỌC TẬP NHƯ THẾ NÀO?
(Trích)
M. Go-rơ-ki (M. Gorki)
(Lược dẫn: Được ông ngoại dạy đọc từ năm sáu tuổi, cậu bé Pê-xcốp A-lếch-xây (M. Go-rơ-ki lúc nhỏ) ban đầu học chữ rất nhanh. Nhưng ông của cậu, vì sự nóng vội, cáu kỉnh và thiếu phương pháp, đã khiến cậu bé sinh ra chán học. Sau đó, cậu được gửi đến học tại một ngôi trường của nhà thờ.)
Tôi đến trường với đôi giày của mẹ, với chiếc áo bành tô nhỏ may lại bằng chiếc áo ngoài của bà, với chiếc áo sơ mi màu vàng và chiếc quần "buông chùng". Tất cả những cái đó lập tức bị chế nhạo, vì chiếc sơ mi vàng mà tôi có biệt hiệu "thằng tù khổ sai". Tôi dàn xếp với những thằng bé một cách nhanh chóng, nhưng thầy giáo và cha cố không ưa tôi.
(Lược một đoạn: Pê-xcốp đến lớp thường bị một số ông giáo khó tính không ưa và phân biệt đối xử. Tình trạng này kéo dài khiến cậu bé bị tổn thương nặng nề. Pê-xcốp đã bày ra nhiều trò nghịch ngợm để trả đũa các ông giáo này. Về sau, khi đã lớn khôn và hiểu biết, Pê-xcốp xem đó là những trò "man rợ", đáng phải hối hận.)
Mặc dù tôi học khá, ít lâu sau, người ta bảo rằng tôi bị đuổi khỏi trường vì hạnh kiểm xấu. Tôi chán nản, điều đó sẽ gây cho tôi những chuyện rầy rà lớn.
Nhưng cứu tinh chợt xuất hiện: Giám mục Cri-xan-phơ (Crixanfo) đột nhiên tới trường.
Ông ta người nhỏ bé, mặc bộ áo đen rộng thùng thình, đến ngồi bên bàn, rút tay ra khỏi ống tay áo và nói:
"Nào, ta nói chuyện với nhau đi, các con!". Không khí trong lớp lập tức trở nên ấm áp, vui vẻ, mọi người đều cảm thấy dễ chịu khác thường.
Ông gọi tôi đến gần bàn, sau khi đã gọi nhiều đứa khác và hỏi một cách nghiêm trang:
− Con lên mấy? Có thế thôi à? Sao dài người thế, chú bé? Hay bêu mưa lắm, phải không?
Ông đặt bàn tay khô gầy, với những móng tay to và nhọn lên bàn, nắm lấy chòm râu thưa, nhìn chằm chằm vào mặt tôi bằng đôi mắt hiền từ, và bảo tôi:
− Nào kể cho ta nghe một đoạn trong thánh sử, con thích đoạn nào?
Khi tôi nói rằng tôi không có sách và tôi không học thánh sử, ông sửa lại chiếc mũ giáo sĩ và hỏi:
− Sao lại thế? Cái đó cần phải học chứ! Nhưng có thể con cũng biết đôi chút chăng, có nghe nói đến không? Có biết thánh thi không? Thế thì tốt! Cả những bài cầu nguyện nữa à? Đấy, thấy chưa! Lại còn sự tích các thánh nữa à? Bằng thơ à? Chú bé của ta biết nhiều đấy.
Giáo sĩ của chúng tôi tới, mặt đỏ, thở hổn hển. Giám mục ban phước cho ông ta, nhưng khi ông ta bắt đầu nói về tôi thì giám mục giơ tay nói:
− Xin cha một lát... Nào, kể về A-lếch-xây người của Chúa đi.
− Những vần thơ tuyệt diệu phải không, chú bé? Giám mục nói khi tôi dừng lại vì quên một câu thơ nào đó. Còn gì nữa không?... Về vua Đa-vít (David) hả? Ta chú ý nghe đây.
Tôi thấy rằng quả thực ông ta nghe và ông ta thích thơ. Ông ta hỏi tôi một lúc lâu, rồi bỗng ngăn tôi lại, hỏi nhanh:
− Con học theo thánh thi à? Ai dạy? Ông có hiền không? Ác à? Lẽ nào? Nhưng con nghịch lắm phải không?
Tôi ngập ngừng, nhưng rồi tôi đáp: Vâng. Thầy giáo và giáo sĩ nói rất nhiều để chứng tỏ rằng lời thú nhận của tôi là đúng. Giám mục nghe họ, nhìn xuống, rồi thở dài nói:
− Các thầy nói về con thế đấy, con nghe thấy chứ? Nào, lại gần đây!
Giám mục đặt tay lên đầu tôi − bàn tay thoang thoảng mùi hương gỗ bách và hỏi tôi:
− Tại sao con nghịch ngợm?
− Con chán học lắm.
− Chán à? Không hẳn thế đâu, chú bé ạ. Con mà chán học thì con sẽ học kém, nhưng các thầy đều bảo con học khá. Như vậy là ở đây có nguyên nhân gì khác.
Ông ta rút ở trong ngực ra một cuốn vở con, viết:
− Pê-xcốp A-lếch-xây. Nhưng dù sao con cũng bớt nghịch đi nhé, đừng nghịch nhiều quá. Ít thôi thì được, còn nghịch quá thì mọi người bực mình! Ta nói đúng không các con?
Có tiếng lao xao, vui vẻ trả lời:
− Đúng ạ.
− Chính các con cũng nghịch ít ít thôi phải không?
Những thằng bé tủm tỉm cười, thốt lên:
− Không. Cũng nghịch nhiều ạ! Nghịch nhiều ạ!
Giám mục ngả người lên lưng ghế, ôm chặt tôi vào lòng, nói với vẻ ngạc nhiên, làm cho cả lớp − ngay cả thầy giáo và cha đạo − cũng phải bật cười:
− Quả có thế, các con ạ, hồi bằng tuổi các con, ta cũng nghịch gớm lắm! Vì sao thế, các con nhỉ?
Những đứa trẻ cười, giám mục hỏi chúng, lôi cuốn cả lớp một cách khéo léo, khiến đứa nọ phản đối đứa kia, làm cho không khí mỗi lúc một vui thêm. Cuối cùng, ông đứng lên và nói:
− Ở đây với các con thú lắm, các chú bé nghịch ngợm ạ, nhưng đến lúc ta phải đi rồi!
Ông giơ một tay lên, tay áo tụt tới vai, khoá rộng tay làm dấu và ban phước:
− Nhân danh Cha và Con và Thánh thần, ta ban cho các con mọi sự tấn tới! Tạm biệt.
Tất cả lớp đều thét lên:
− Tạm biệt Đức ông! Mong Đức ông lại tới.
Giám mục gật gật cái mũ cao, nói:
− Ta sẽ đến, thế nào ta cũng đến! Ta sẽ đem sách đến cho các con!
Và khi ra khỏi lớp, ông nói với thầy giáo:
− Cho các trò về đi!
Ông dắt tay tôi ra phòng ngoài và ở đấy, ông cúi xuống gần tôi, khẽ nói:
− Thế con bớt nghịch đi nhé, được không? Ta thì ta hiểu tại sao con nghịch ngợm! Thôi, tạm biệt, chú bé.
Tôi rất xúc động, một tình cảm đặc biệt rộn rực trong ngực tôi, và ngay cả khi thầy giáo đã cho cả lớp về nhưng giữ tôi lại và nói rằng bây giờ tôi phải lặng hơn nước, thấp hơn cỏ thì tôi vui lòng, chăm chú nghe từ đầu đến cuối.
Giáo sĩ vừa mặc áo choàng vừa cất giọng ồm ồm, dịu dàng nói với tôi:
− Từ nay con phải học các giờ của ta! Đúng. Phải học. Nhưng phải ngồi yên. Đúng. Ngồi yên.
[...]
Tôi biết đọc một cách có ý thức năm lên mười bốn tuổi. Trong những năm ấy, tôi đã không chỉ say mê tình tiết của sách − tức là sự phát triển ít nhiều lí thú của những biến cố được đưa ra − mà tôi đã bắt đầu hiểu được vẻ đẹp của những đoạn văn miêu tả, bắt đầu suy nghĩ về tính cách các nhân vật, lờ mờ đoán được mục đích của tác giả cuốn sách và lo ngại cảm thấy sự khác nhau giữa cái mà sách nói đến với cái mà cuộc sống khuyên bảo.
[...]
Phải thương hại con người thật là đau lòng, bao giờ tôi cũng muốn gửi gắm tình yêu sung sướng vào một người nào đó, nhưng chẳng có ai để mà yêu. Tôi càng yêu sách nồng nàn hơn.
Còn có nhiều cái bỉ ổi, tàn bạo, làm tôi chán ghét ghê gớm. Tôi sẽ không nói về điều đó, chính các bạn cũng biết cuộc sống địa ngục ấy, sự nhạo báng không ngớt ấy của người đối với người, niềm say mê bệnh tật ấy, niềm say mê làm khổ nhau, thứ khoái lạc của những kẻ nô lệ. Và chính trong hoàn cảnh đáng nguyền rủa như thế, lần đầu tiên tôi bắt đầu đọc sách hay, nghiêm túc của văn học nước ngoài.
Có lẽ tôi sẽ không truyền đạt đủ rõ và đáng tin cậy để các bạn thấy sự ngạc nhiên của tôi lớn lao như thế nào khi tôi cảm thấy hầu như mỗi cuốn sách đều mở ra trước mắt tôi cánh cửa sổ nhìn vào một thế giới mới chưa từng biết, đều kể với tôi về những con người, những tình cảm, ý nghĩ và những quan hệ mà tôi chưa từng biết, chưa từng thấy. Thậm chí, tôi còn có cảm giác rằng cuộc đời xung quanh tôi, tất cả những khắc nghiệt, bẩn thỉu và tàn bạo hằng ngày diễn ra trước mắt tôi đều không phải là cái có thực, đều là thừa. Cái có thực và cần thiết chỉ ở trong sách, ở đó mọi cái đều hợp lí hơn, đẹp hơn, nhân đạo hơn. Trong các cuốn sách cũng có nói về sự thô bạo, về sự ngu xuẩn của người đời, về những nỗi đau khổ của họ, cũng miêu tả những kẻ độc ác và đê tiện, nhưng bên cạnh có những người khác, những người mà tôi chưa từng thấy, thậm chí chưa từng nghe nói đến: những người chính trực, cương nghị, chân thật, lập nên chiến công đẹp đẽ, dù có phải hi sinh tính mạng.
Thời gian đầu, say sưa vì cái mới và vì giá trị tinh thần lớn lao của cái thế giới mà sách đã mở ra trước mắt tôi, tôi bắt đầu coi sách tốt đẹp hơn, lí thú hơn, gần gũi hơn với mọi người, và dường như hơi bị quáng loà, tôi nhìn cuộc đời thực qua sách. Nhưng cuộc sống khôn ngoan, khắc nghiệt đã quan tâm chữa cho tôi cái bệnh mù dễ chịu ấy.
[...]
Tôi càng đọc nhiều thì sách càng làm cho tôi gắn bó với thế giới, cuộc đời cũng đối với tôi càng trở nên rực rỡ có ý nghĩa. Tôi thấy rằng có những người sống khổ cực hơn, khó khăn hơn tôi, điều đó an ủi tôi phần nào, tuy vẫn không làm tôi thoả hiệp với cái hiện thực ô nhục. Tôi cũng thấy rằng có những người không biết sống một cách vui thú và sung sướng mà không một người nào xung quanh tôi biết sống như thế. Và hầu như trong mỗi quyển sách đều có cái gì đáng lo ngại, như một tiếng chuông nhè nhẹ lôi cuốn tôi đi, đi tìm cái chưa biết, cái làm tôi xúc động tâm tình. Mọi người đều không bằng lòng với cuộc sống, đều tìm kiếm một cái gì tốt đẹp hơn, và họ trở nên gần gũi hơn, dễ hiểu hơn. Sách làm cho khắp Trái Đất, khắp thế giới tràn ngập nỗi buồn nhớ cái tốt đẹp hơn, và mỗi cuốn sách dường như đều là tâm hồn được ghi lại trên giấy bằng những dấu hiệu và những từ, những dấu hiệu và những từ ấy lập tức trở nên sống động, hễ mắt tôi, trí tuệ tôi tiếp xúc với chúng.
Nhiều lần tôi khóc khi đọc sách, sách kể chuyện hay biết bao về con người, họ trở nên đáng yêu và gần gũi biết bao. Là một thằng bé bị công việc ngu độn làm cho kiệt sức, luôn luôn phải hứng lấy những lời chửi mắng đần độn, tôi trịnh trọng hứa với mình là lớn lên, tôi sẽ giúp đỡ mọi người, hết lòng phục vụ họ.
Như những con chim kì diệu trong truyện cổ tích, sách ca hát về việc cuộc sống đa dạng và phong phú như thế nào, con người táo bạo như thế nào trong khát vọng đạt tới cái thiện và cái đẹp. Và càng đọc, trong lòng tôi càng tràn đầy tinh thần lành mạnh và hăng hái. Tôi trở nên điềm tĩnh hơn, tin ở mình hơn, làm việc hợp lí hơn và ngày càng ít để ý đến vô số những chuyện bực bội trong cuộc sống.
Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ đưa tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con người, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống ấy. [...]
(In trong Tuyển tập truyện ngắn M. Go-rơ-ki, tập hai, NXB Đà Nẵng, 2001, tr. 346 − 363)
Nối các yếu tố dưới đây với ý nghĩa tương ứng trong việc thể hiện cuộc đấu tranh giữa phần "thú" và phần "người" theo quan niệm của Pê-xcốp.
TÔI ĐÃ HỌC TẬP NHƯ THẾ NÀO?
(Trích)
M. Go-rơ-ki (M. Gorki)
(Lược dẫn: Được ông ngoại dạy đọc từ năm sáu tuổi, cậu bé Pê-xcốp A-lếch-xây (M. Go-rơ-ki lúc nhỏ) ban đầu học chữ rất nhanh. Nhưng ông của cậu, vì sự nóng vội, cáu kỉnh và thiếu phương pháp, đã khiến cậu bé sinh ra chán học. Sau đó, cậu được gửi đến học tại một ngôi trường của nhà thờ.)
Tôi đến trường với đôi giày của mẹ, với chiếc áo bành tô nhỏ may lại bằng chiếc áo ngoài của bà, với chiếc áo sơ mi màu vàng và chiếc quần "buông chùng". Tất cả những cái đó lập tức bị chế nhạo, vì chiếc sơ mi vàng mà tôi có biệt hiệu "thằng tù khổ sai". Tôi dàn xếp với những thằng bé một cách nhanh chóng, nhưng thầy giáo và cha cố không ưa tôi.
(Lược một đoạn: Pê-xcốp đến lớp thường bị một số ông giáo khó tính không ưa và phân biệt đối xử. Tình trạng này kéo dài khiến cậu bé bị tổn thương nặng nề. Pê-xcốp đã bày ra nhiều trò nghịch ngợm để trả đũa các ông giáo này. Về sau, khi đã lớn khôn và hiểu biết, Pê-xcốp xem đó là những trò "man rợ", đáng phải hối hận.)
Mặc dù tôi học khá, ít lâu sau, người ta bảo rằng tôi bị đuổi khỏi trường vì hạnh kiểm xấu. Tôi chán nản, điều đó sẽ gây cho tôi những chuyện rầy rà lớn.
Nhưng cứu tinh chợt xuất hiện: Giám mục Cri-xan-phơ (Crixanfo) đột nhiên tới trường.
Ông ta người nhỏ bé, mặc bộ áo đen rộng thùng thình, đến ngồi bên bàn, rút tay ra khỏi ống tay áo và nói:
"Nào, ta nói chuyện với nhau đi, các con!". Không khí trong lớp lập tức trở nên ấm áp, vui vẻ, mọi người đều cảm thấy dễ chịu khác thường.
Ông gọi tôi đến gần bàn, sau khi đã gọi nhiều đứa khác và hỏi một cách nghiêm trang:
− Con lên mấy? Có thế thôi à? Sao dài người thế, chú bé? Hay bêu mưa lắm, phải không?
Ông đặt bàn tay khô gầy, với những móng tay to và nhọn lên bàn, nắm lấy chòm râu thưa, nhìn chằm chằm vào mặt tôi bằng đôi mắt hiền từ, và bảo tôi:
− Nào kể cho ta nghe một đoạn trong thánh sử, con thích đoạn nào?
Khi tôi nói rằng tôi không có sách và tôi không học thánh sử, ông sửa lại chiếc mũ giáo sĩ và hỏi:
− Sao lại thế? Cái đó cần phải học chứ! Nhưng có thể con cũng biết đôi chút chăng, có nghe nói đến không? Có biết thánh thi không? Thế thì tốt! Cả những bài cầu nguyện nữa à? Đấy, thấy chưa! Lại còn sự tích các thánh nữa à? Bằng thơ à? Chú bé của ta biết nhiều đấy.
Giáo sĩ của chúng tôi tới, mặt đỏ, thở hổn hển. Giám mục ban phước cho ông ta, nhưng khi ông ta bắt đầu nói về tôi thì giám mục giơ tay nói:
− Xin cha một lát... Nào, kể về A-lếch-xây người của Chúa đi.
− Những vần thơ tuyệt diệu phải không, chú bé? Giám mục nói khi tôi dừng lại vì quên một câu thơ nào đó. Còn gì nữa không?... Về vua Đa-vít (David) hả? Ta chú ý nghe đây.
Tôi thấy rằng quả thực ông ta nghe và ông ta thích thơ. Ông ta hỏi tôi một lúc lâu, rồi bỗng ngăn tôi lại, hỏi nhanh:
− Con học theo thánh thi à? Ai dạy? Ông có hiền không? Ác à? Lẽ nào? Nhưng con nghịch lắm phải không?
Tôi ngập ngừng, nhưng rồi tôi đáp: Vâng. Thầy giáo và giáo sĩ nói rất nhiều để chứng tỏ rằng lời thú nhận của tôi là đúng. Giám mục nghe họ, nhìn xuống, rồi thở dài nói:
− Các thầy nói về con thế đấy, con nghe thấy chứ? Nào, lại gần đây!
Giám mục đặt tay lên đầu tôi − bàn tay thoang thoảng mùi hương gỗ bách và hỏi tôi:
− Tại sao con nghịch ngợm?
− Con chán học lắm.
− Chán à? Không hẳn thế đâu, chú bé ạ. Con mà chán học thì con sẽ học kém, nhưng các thầy đều bảo con học khá. Như vậy là ở đây có nguyên nhân gì khác.
Ông ta rút ở trong ngực ra một cuốn vở con, viết:
− Pê-xcốp A-lếch-xây. Nhưng dù sao con cũng bớt nghịch đi nhé, đừng nghịch nhiều quá. Ít thôi thì được, còn nghịch quá thì mọi người bực mình! Ta nói đúng không các con?
Có tiếng lao xao, vui vẻ trả lời:
− Đúng ạ.
− Chính các con cũng nghịch ít ít thôi phải không?
Những thằng bé tủm tỉm cười, thốt lên:
− Không. Cũng nghịch nhiều ạ! Nghịch nhiều ạ!
Giám mục ngả người lên lưng ghế, ôm chặt tôi vào lòng, nói với vẻ ngạc nhiên, làm cho cả lớp − ngay cả thầy giáo và cha đạo − cũng phải bật cười:
− Quả có thế, các con ạ, hồi bằng tuổi các con, ta cũng nghịch gớm lắm! Vì sao thế, các con nhỉ?
Những đứa trẻ cười, giám mục hỏi chúng, lôi cuốn cả lớp một cách khéo léo, khiến đứa nọ phản đối đứa kia, làm cho không khí mỗi lúc một vui thêm. Cuối cùng, ông đứng lên và nói:
− Ở đây với các con thú lắm, các chú bé nghịch ngợm ạ, nhưng đến lúc ta phải đi rồi!
Ông giơ một tay lên, tay áo tụt tới vai, khoá rộng tay làm dấu và ban phước:
− Nhân danh Cha và Con và Thánh thần, ta ban cho các con mọi sự tấn tới! Tạm biệt.
Tất cả lớp đều thét lên:
− Tạm biệt Đức ông! Mong Đức ông lại tới.
Giám mục gật gật cái mũ cao, nói:
− Ta sẽ đến, thế nào ta cũng đến! Ta sẽ đem sách đến cho các con!
Và khi ra khỏi lớp, ông nói với thầy giáo:
− Cho các trò về đi!
Ông dắt tay tôi ra phòng ngoài và ở đấy, ông cúi xuống gần tôi, khẽ nói:
− Thế con bớt nghịch đi nhé, được không? Ta thì ta hiểu tại sao con nghịch ngợm! Thôi, tạm biệt, chú bé.
Tôi rất xúc động, một tình cảm đặc biệt rộn rực trong ngực tôi, và ngay cả khi thầy giáo đã cho cả lớp về nhưng giữ tôi lại và nói rằng bây giờ tôi phải lặng hơn nước, thấp hơn cỏ thì tôi vui lòng, chăm chú nghe từ đầu đến cuối.
Giáo sĩ vừa mặc áo choàng vừa cất giọng ồm ồm, dịu dàng nói với tôi:
− Từ nay con phải học các giờ của ta! Đúng. Phải học. Nhưng phải ngồi yên. Đúng. Ngồi yên.
[...]
Tôi biết đọc một cách có ý thức năm lên mười bốn tuổi. Trong những năm ấy, tôi đã không chỉ say mê tình tiết của sách − tức là sự phát triển ít nhiều lí thú của những biến cố được đưa ra − mà tôi đã bắt đầu hiểu được vẻ đẹp của những đoạn văn miêu tả, bắt đầu suy nghĩ về tính cách các nhân vật, lờ mờ đoán được mục đích của tác giả cuốn sách và lo ngại cảm thấy sự khác nhau giữa cái mà sách nói đến với cái mà cuộc sống khuyên bảo.
[...]
Phải thương hại con người thật là đau lòng, bao giờ tôi cũng muốn gửi gắm tình yêu sung sướng vào một người nào đó, nhưng chẳng có ai để mà yêu. Tôi càng yêu sách nồng nàn hơn.
Còn có nhiều cái bỉ ổi, tàn bạo, làm tôi chán ghét ghê gớm. Tôi sẽ không nói về điều đó, chính các bạn cũng biết cuộc sống địa ngục ấy, sự nhạo báng không ngớt ấy của người đối với người, niềm say mê bệnh tật ấy, niềm say mê làm khổ nhau, thứ khoái lạc của những kẻ nô lệ. Và chính trong hoàn cảnh đáng nguyền rủa như thế, lần đầu tiên tôi bắt đầu đọc sách hay, nghiêm túc của văn học nước ngoài.
Có lẽ tôi sẽ không truyền đạt đủ rõ và đáng tin cậy để các bạn thấy sự ngạc nhiên của tôi lớn lao như thế nào khi tôi cảm thấy hầu như mỗi cuốn sách đều mở ra trước mắt tôi cánh cửa sổ nhìn vào một thế giới mới chưa từng biết, đều kể với tôi về những con người, những tình cảm, ý nghĩ và những quan hệ mà tôi chưa từng biết, chưa từng thấy. Thậm chí, tôi còn có cảm giác rằng cuộc đời xung quanh tôi, tất cả những khắc nghiệt, bẩn thỉu và tàn bạo hằng ngày diễn ra trước mắt tôi đều không phải là cái có thực, đều là thừa. Cái có thực và cần thiết chỉ ở trong sách, ở đó mọi cái đều hợp lí hơn, đẹp hơn, nhân đạo hơn. Trong các cuốn sách cũng có nói về sự thô bạo, về sự ngu xuẩn của người đời, về những nỗi đau khổ của họ, cũng miêu tả những kẻ độc ác và đê tiện, nhưng bên cạnh có những người khác, những người mà tôi chưa từng thấy, thậm chí chưa từng nghe nói đến: những người chính trực, cương nghị, chân thật, lập nên chiến công đẹp đẽ, dù có phải hi sinh tính mạng.
Thời gian đầu, say sưa vì cái mới và vì giá trị tinh thần lớn lao của cái thế giới mà sách đã mở ra trước mắt tôi, tôi bắt đầu coi sách tốt đẹp hơn, lí thú hơn, gần gũi hơn với mọi người, và dường như hơi bị quáng loà, tôi nhìn cuộc đời thực qua sách. Nhưng cuộc sống khôn ngoan, khắc nghiệt đã quan tâm chữa cho tôi cái bệnh mù dễ chịu ấy.
[...]
Tôi càng đọc nhiều thì sách càng làm cho tôi gắn bó với thế giới, cuộc đời cũng đối với tôi càng trở nên rực rỡ có ý nghĩa. Tôi thấy rằng có những người sống khổ cực hơn, khó khăn hơn tôi, điều đó an ủi tôi phần nào, tuy vẫn không làm tôi thoả hiệp với cái hiện thực ô nhục. Tôi cũng thấy rằng có những người không biết sống một cách vui thú và sung sướng mà không một người nào xung quanh tôi biết sống như thế. Và hầu như trong mỗi quyển sách đều có cái gì đáng lo ngại, như một tiếng chuông nhè nhẹ lôi cuốn tôi đi, đi tìm cái chưa biết, cái làm tôi xúc động tâm tình. Mọi người đều không bằng lòng với cuộc sống, đều tìm kiếm một cái gì tốt đẹp hơn, và họ trở nên gần gũi hơn, dễ hiểu hơn. Sách làm cho khắp Trái Đất, khắp thế giới tràn ngập nỗi buồn nhớ cái tốt đẹp hơn, và mỗi cuốn sách dường như đều là tâm hồn được ghi lại trên giấy bằng những dấu hiệu và những từ, những dấu hiệu và những từ ấy lập tức trở nên sống động, hễ mắt tôi, trí tuệ tôi tiếp xúc với chúng.
Nhiều lần tôi khóc khi đọc sách, sách kể chuyện hay biết bao về con người, họ trở nên đáng yêu và gần gũi biết bao. Là một thằng bé bị công việc ngu độn làm cho kiệt sức, luôn luôn phải hứng lấy những lời chửi mắng đần độn, tôi trịnh trọng hứa với mình là lớn lên, tôi sẽ giúp đỡ mọi người, hết lòng phục vụ họ.
Như những con chim kì diệu trong truyện cổ tích, sách ca hát về việc cuộc sống đa dạng và phong phú như thế nào, con người táo bạo như thế nào trong khát vọng đạt tới cái thiện và cái đẹp. Và càng đọc, trong lòng tôi càng tràn đầy tinh thần lành mạnh và hăng hái. Tôi trở nên điềm tĩnh hơn, tin ở mình hơn, làm việc hợp lí hơn và ngày càng ít để ý đến vô số những chuyện bực bội trong cuộc sống.
Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ đưa tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con người, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống ấy. [...]
(In trong Tuyển tập truyện ngắn M. Go-rơ-ki, tập hai, NXB Đà Nẵng, 2001, tr. 346 − 363)
Nối các phần dưới đây với nội dung tương ứng để làm rõ sự khác nhau về nội dung giữa hai phần văn bản trước và sau câu "Tôi biết đọc một cách có ý thức năm lên mười bốn tuổi".
TÔI ĐÃ HỌC TẬP NHƯ THẾ NÀO?
(Trích)
M. Go-rơ-ki (M. Gorki)
(Lược dẫn: Được ông ngoại dạy đọc từ năm sáu tuổi, cậu bé Pê-xcốp A-lếch-xây (M. Go-rơ-ki lúc nhỏ) ban đầu học chữ rất nhanh. Nhưng ông của cậu, vì sự nóng vội, cáu kỉnh và thiếu phương pháp, đã khiến cậu bé sinh ra chán học. Sau đó, cậu được gửi đến học tại một ngôi trường của nhà thờ.)
Tôi đến trường với đôi giày của mẹ, với chiếc áo bành tô nhỏ may lại bằng chiếc áo ngoài của bà, với chiếc áo sơ mi màu vàng và chiếc quần "buông chùng". Tất cả những cái đó lập tức bị chế nhạo, vì chiếc sơ mi vàng mà tôi có biệt hiệu "thằng tù khổ sai". Tôi dàn xếp với những thằng bé một cách nhanh chóng, nhưng thầy giáo và cha cố không ưa tôi.
(Lược một đoạn: Pê-xcốp đến lớp thường bị một số ông giáo khó tính không ưa và phân biệt đối xử. Tình trạng này kéo dài khiến cậu bé bị tổn thương nặng nề. Pê-xcốp đã bày ra nhiều trò nghịch ngợm để trả đũa các ông giáo này. Về sau, khi đã lớn khôn và hiểu biết, Pê-xcốp xem đó là những trò "man rợ", đáng phải hối hận.)
Mặc dù tôi học khá, ít lâu sau, người ta bảo rằng tôi bị đuổi khỏi trường vì hạnh kiểm xấu. Tôi chán nản, điều đó sẽ gây cho tôi những chuyện rầy rà lớn.
Nhưng cứu tinh chợt xuất hiện: Giám mục Cri-xan-phơ (Crixanfo) đột nhiên tới trường.
Ông ta người nhỏ bé, mặc bộ áo đen rộng thùng thình, đến ngồi bên bàn, rút tay ra khỏi ống tay áo và nói:
"Nào, ta nói chuyện với nhau đi, các con!". Không khí trong lớp lập tức trở nên ấm áp, vui vẻ, mọi người đều cảm thấy dễ chịu khác thường.
Ông gọi tôi đến gần bàn, sau khi đã gọi nhiều đứa khác và hỏi một cách nghiêm trang:
− Con lên mấy? Có thế thôi à? Sao dài người thế, chú bé? Hay bêu mưa lắm, phải không?
Ông đặt bàn tay khô gầy, với những móng tay to và nhọn lên bàn, nắm lấy chòm râu thưa, nhìn chằm chằm vào mặt tôi bằng đôi mắt hiền từ, và bảo tôi:
− Nào kể cho ta nghe một đoạn trong thánh sử, con thích đoạn nào?
Khi tôi nói rằng tôi không có sách và tôi không học thánh sử, ông sửa lại chiếc mũ giáo sĩ và hỏi:
− Sao lại thế? Cái đó cần phải học chứ! Nhưng có thể con cũng biết đôi chút chăng, có nghe nói đến không? Có biết thánh thi không? Thế thì tốt! Cả những bài cầu nguyện nữa à? Đấy, thấy chưa! Lại còn sự tích các thánh nữa à? Bằng thơ à? Chú bé của ta biết nhiều đấy.
Giáo sĩ của chúng tôi tới, mặt đỏ, thở hổn hển. Giám mục ban phước cho ông ta, nhưng khi ông ta bắt đầu nói về tôi thì giám mục giơ tay nói:
− Xin cha một lát... Nào, kể về A-lếch-xây người của Chúa đi.
− Những vần thơ tuyệt diệu phải không, chú bé? Giám mục nói khi tôi dừng lại vì quên một câu thơ nào đó. Còn gì nữa không?... Về vua Đa-vít (David) hả? Ta chú ý nghe đây.
Tôi thấy rằng quả thực ông ta nghe và ông ta thích thơ. Ông ta hỏi tôi một lúc lâu, rồi bỗng ngăn tôi lại, hỏi nhanh:
− Con học theo thánh thi à? Ai dạy? Ông có hiền không? Ác à? Lẽ nào? Nhưng con nghịch lắm phải không?
Tôi ngập ngừng, nhưng rồi tôi đáp: Vâng. Thầy giáo và giáo sĩ nói rất nhiều để chứng tỏ rằng lời thú nhận của tôi là đúng. Giám mục nghe họ, nhìn xuống, rồi thở dài nói:
− Các thầy nói về con thế đấy, con nghe thấy chứ? Nào, lại gần đây!
Giám mục đặt tay lên đầu tôi − bàn tay thoang thoảng mùi hương gỗ bách và hỏi tôi:
− Tại sao con nghịch ngợm?
− Con chán học lắm.
− Chán à? Không hẳn thế đâu, chú bé ạ. Con mà chán học thì con sẽ học kém, nhưng các thầy đều bảo con học khá. Như vậy là ở đây có nguyên nhân gì khác.
Ông ta rút ở trong ngực ra một cuốn vở con, viết:
− Pê-xcốp A-lếch-xây. Nhưng dù sao con cũng bớt nghịch đi nhé, đừng nghịch nhiều quá. Ít thôi thì được, còn nghịch quá thì mọi người bực mình! Ta nói đúng không các con?
Có tiếng lao xao, vui vẻ trả lời:
− Đúng ạ.
− Chính các con cũng nghịch ít ít thôi phải không?
Những thằng bé tủm tỉm cười, thốt lên:
− Không. Cũng nghịch nhiều ạ! Nghịch nhiều ạ!
Giám mục ngả người lên lưng ghế, ôm chặt tôi vào lòng, nói với vẻ ngạc nhiên, làm cho cả lớp − ngay cả thầy giáo và cha đạo − cũng phải bật cười:
− Quả có thế, các con ạ, hồi bằng tuổi các con, ta cũng nghịch gớm lắm! Vì sao thế, các con nhỉ?
Những đứa trẻ cười, giám mục hỏi chúng, lôi cuốn cả lớp một cách khéo léo, khiến đứa nọ phản đối đứa kia, làm cho không khí mỗi lúc một vui thêm. Cuối cùng, ông đứng lên và nói:
− Ở đây với các con thú lắm, các chú bé nghịch ngợm ạ, nhưng đến lúc ta phải đi rồi!
Ông giơ một tay lên, tay áo tụt tới vai, khoá rộng tay làm dấu và ban phước:
− Nhân danh Cha và Con và Thánh thần, ta ban cho các con mọi sự tấn tới! Tạm biệt.
Tất cả lớp đều thét lên:
− Tạm biệt Đức ông! Mong Đức ông lại tới.
Giám mục gật gật cái mũ cao, nói:
− Ta sẽ đến, thế nào ta cũng đến! Ta sẽ đem sách đến cho các con!
Và khi ra khỏi lớp, ông nói với thầy giáo:
− Cho các trò về đi!
Ông dắt tay tôi ra phòng ngoài và ở đấy, ông cúi xuống gần tôi, khẽ nói:
− Thế con bớt nghịch đi nhé, được không? Ta thì ta hiểu tại sao con nghịch ngợm! Thôi, tạm biệt, chú bé.
Tôi rất xúc động, một tình cảm đặc biệt rộn rực trong ngực tôi, và ngay cả khi thầy giáo đã cho cả lớp về nhưng giữ tôi lại và nói rằng bây giờ tôi phải lặng hơn nước, thấp hơn cỏ thì tôi vui lòng, chăm chú nghe từ đầu đến cuối.
Giáo sĩ vừa mặc áo choàng vừa cất giọng ồm ồm, dịu dàng nói với tôi:
− Từ nay con phải học các giờ của ta! Đúng. Phải học. Nhưng phải ngồi yên. Đúng. Ngồi yên.
[...]
Tôi biết đọc một cách có ý thức năm lên mười bốn tuổi. Trong những năm ấy, tôi đã không chỉ say mê tình tiết của sách − tức là sự phát triển ít nhiều lí thú của những biến cố được đưa ra − mà tôi đã bắt đầu hiểu được vẻ đẹp của những đoạn văn miêu tả, bắt đầu suy nghĩ về tính cách các nhân vật, lờ mờ đoán được mục đích của tác giả cuốn sách và lo ngại cảm thấy sự khác nhau giữa cái mà sách nói đến với cái mà cuộc sống khuyên bảo.
[...]
Phải thương hại con người thật là đau lòng, bao giờ tôi cũng muốn gửi gắm tình yêu sung sướng vào một người nào đó, nhưng chẳng có ai để mà yêu. Tôi càng yêu sách nồng nàn hơn.
Còn có nhiều cái bỉ ổi, tàn bạo, làm tôi chán ghét ghê gớm. Tôi sẽ không nói về điều đó, chính các bạn cũng biết cuộc sống địa ngục ấy, sự nhạo báng không ngớt ấy của người đối với người, niềm say mê bệnh tật ấy, niềm say mê làm khổ nhau, thứ khoái lạc của những kẻ nô lệ. Và chính trong hoàn cảnh đáng nguyền rủa như thế, lần đầu tiên tôi bắt đầu đọc sách hay, nghiêm túc của văn học nước ngoài.
Có lẽ tôi sẽ không truyền đạt đủ rõ và đáng tin cậy để các bạn thấy sự ngạc nhiên của tôi lớn lao như thế nào khi tôi cảm thấy hầu như mỗi cuốn sách đều mở ra trước mắt tôi cánh cửa sổ nhìn vào một thế giới mới chưa từng biết, đều kể với tôi về những con người, những tình cảm, ý nghĩ và những quan hệ mà tôi chưa từng biết, chưa từng thấy. Thậm chí, tôi còn có cảm giác rằng cuộc đời xung quanh tôi, tất cả những khắc nghiệt, bẩn thỉu và tàn bạo hằng ngày diễn ra trước mắt tôi đều không phải là cái có thực, đều là thừa. Cái có thực và cần thiết chỉ ở trong sách, ở đó mọi cái đều hợp lí hơn, đẹp hơn, nhân đạo hơn. Trong các cuốn sách cũng có nói về sự thô bạo, về sự ngu xuẩn của người đời, về những nỗi đau khổ của họ, cũng miêu tả những kẻ độc ác và đê tiện, nhưng bên cạnh có những người khác, những người mà tôi chưa từng thấy, thậm chí chưa từng nghe nói đến: những người chính trực, cương nghị, chân thật, lập nên chiến công đẹp đẽ, dù có phải hi sinh tính mạng.
Thời gian đầu, say sưa vì cái mới và vì giá trị tinh thần lớn lao của cái thế giới mà sách đã mở ra trước mắt tôi, tôi bắt đầu coi sách tốt đẹp hơn, lí thú hơn, gần gũi hơn với mọi người, và dường như hơi bị quáng loà, tôi nhìn cuộc đời thực qua sách. Nhưng cuộc sống khôn ngoan, khắc nghiệt đã quan tâm chữa cho tôi cái bệnh mù dễ chịu ấy.
[...]
Tôi càng đọc nhiều thì sách càng làm cho tôi gắn bó với thế giới, cuộc đời cũng đối với tôi càng trở nên rực rỡ có ý nghĩa. Tôi thấy rằng có những người sống khổ cực hơn, khó khăn hơn tôi, điều đó an ủi tôi phần nào, tuy vẫn không làm tôi thoả hiệp với cái hiện thực ô nhục. Tôi cũng thấy rằng có những người không biết sống một cách vui thú và sung sướng mà không một người nào xung quanh tôi biết sống như thế. Và hầu như trong mỗi quyển sách đều có cái gì đáng lo ngại, như một tiếng chuông nhè nhẹ lôi cuốn tôi đi, đi tìm cái chưa biết, cái làm tôi xúc động tâm tình. Mọi người đều không bằng lòng với cuộc sống, đều tìm kiếm một cái gì tốt đẹp hơn, và họ trở nên gần gũi hơn, dễ hiểu hơn. Sách làm cho khắp Trái Đất, khắp thế giới tràn ngập nỗi buồn nhớ cái tốt đẹp hơn, và mỗi cuốn sách dường như đều là tâm hồn được ghi lại trên giấy bằng những dấu hiệu và những từ, những dấu hiệu và những từ ấy lập tức trở nên sống động, hễ mắt tôi, trí tuệ tôi tiếp xúc với chúng.
Nhiều lần tôi khóc khi đọc sách, sách kể chuyện hay biết bao về con người, họ trở nên đáng yêu và gần gũi biết bao. Là một thằng bé bị công việc ngu độn làm cho kiệt sức, luôn luôn phải hứng lấy những lời chửi mắng đần độn, tôi trịnh trọng hứa với mình là lớn lên, tôi sẽ giúp đỡ mọi người, hết lòng phục vụ họ.
Như những con chim kì diệu trong truyện cổ tích, sách ca hát về việc cuộc sống đa dạng và phong phú như thế nào, con người táo bạo như thế nào trong khát vọng đạt tới cái thiện và cái đẹp. Và càng đọc, trong lòng tôi càng tràn đầy tinh thần lành mạnh và hăng hái. Tôi trở nên điềm tĩnh hơn, tin ở mình hơn, làm việc hợp lí hơn và ngày càng ít để ý đến vô số những chuyện bực bội trong cuộc sống.
Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ đưa tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con người, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống ấy. [...]
(In trong Tuyển tập truyện ngắn M. Go-rơ-ki, tập hai, NXB Đà Nẵng, 2001, tr. 346 − 363)
Nối các phần dưới đây với nội dung tương ứng để làm rõ sự khác nhau về nghệ thuật giữa hai phần văn bản trước và sau câu "Tôi biết đọc một cách có ý thức năm lên mười bốn tuổi".
TÔI ĐÃ HỌC TẬP NHƯ THẾ NÀO?
(Trích)
M. Go-rơ-ki (M. Gorki)
(Lược dẫn: Được ông ngoại dạy đọc từ năm sáu tuổi, cậu bé Pê-xcốp A-lếch-xây (M. Go-rơ-ki lúc nhỏ) ban đầu học chữ rất nhanh. Nhưng ông của cậu, vì sự nóng vội, cáu kỉnh và thiếu phương pháp, đã khiến cậu bé sinh ra chán học. Sau đó, cậu được gửi đến học tại một ngôi trường của nhà thờ.)
Tôi đến trường với đôi giày của mẹ, với chiếc áo bành tô nhỏ may lại bằng chiếc áo ngoài của bà, với chiếc áo sơ mi màu vàng và chiếc quần "buông chùng". Tất cả những cái đó lập tức bị chế nhạo, vì chiếc sơ mi vàng mà tôi có biệt hiệu "thằng tù khổ sai". Tôi dàn xếp với những thằng bé một cách nhanh chóng, nhưng thầy giáo và cha cố không ưa tôi.
(Lược một đoạn: Pê-xcốp đến lớp thường bị một số ông giáo khó tính không ưa và phân biệt đối xử. Tình trạng này kéo dài khiến cậu bé bị tổn thương nặng nề. Pê-xcốp đã bày ra nhiều trò nghịch ngợm để trả đũa các ông giáo này. Về sau, khi đã lớn khôn và hiểu biết, Pê-xcốp xem đó là những trò "man rợ", đáng phải hối hận.)
Mặc dù tôi học khá, ít lâu sau, người ta bảo rằng tôi bị đuổi khỏi trường vì hạnh kiểm xấu. Tôi chán nản, điều đó sẽ gây cho tôi những chuyện rầy rà lớn.
Nhưng cứu tinh chợt xuất hiện: Giám mục Cri-xan-phơ (Crixanfo) đột nhiên tới trường.
Ông ta người nhỏ bé, mặc bộ áo đen rộng thùng thình, đến ngồi bên bàn, rút tay ra khỏi ống tay áo và nói:
"Nào, ta nói chuyện với nhau đi, các con!". Không khí trong lớp lập tức trở nên ấm áp, vui vẻ, mọi người đều cảm thấy dễ chịu khác thường.
Ông gọi tôi đến gần bàn, sau khi đã gọi nhiều đứa khác và hỏi một cách nghiêm trang:
− Con lên mấy? Có thế thôi à? Sao dài người thế, chú bé? Hay bêu mưa lắm, phải không?
Ông đặt bàn tay khô gầy, với những móng tay to và nhọn lên bàn, nắm lấy chòm râu thưa, nhìn chằm chằm vào mặt tôi bằng đôi mắt hiền từ, và bảo tôi:
− Nào kể cho ta nghe một đoạn trong thánh sử, con thích đoạn nào?
Khi tôi nói rằng tôi không có sách và tôi không học thánh sử, ông sửa lại chiếc mũ giáo sĩ và hỏi:
− Sao lại thế? Cái đó cần phải học chứ! Nhưng có thể con cũng biết đôi chút chăng, có nghe nói đến không? Có biết thánh thi không? Thế thì tốt! Cả những bài cầu nguyện nữa à? Đấy, thấy chưa! Lại còn sự tích các thánh nữa à? Bằng thơ à? Chú bé của ta biết nhiều đấy.
Giáo sĩ của chúng tôi tới, mặt đỏ, thở hổn hển. Giám mục ban phước cho ông ta, nhưng khi ông ta bắt đầu nói về tôi thì giám mục giơ tay nói:
− Xin cha một lát... Nào, kể về A-lếch-xây người của Chúa đi.
− Những vần thơ tuyệt diệu phải không, chú bé? Giám mục nói khi tôi dừng lại vì quên một câu thơ nào đó. Còn gì nữa không?... Về vua Đa-vít (David) hả? Ta chú ý nghe đây.
Tôi thấy rằng quả thực ông ta nghe và ông ta thích thơ. Ông ta hỏi tôi một lúc lâu, rồi bỗng ngăn tôi lại, hỏi nhanh:
− Con học theo thánh thi à? Ai dạy? Ông có hiền không? Ác à? Lẽ nào? Nhưng con nghịch lắm phải không?
Tôi ngập ngừng, nhưng rồi tôi đáp: Vâng. Thầy giáo và giáo sĩ nói rất nhiều để chứng tỏ rằng lời thú nhận của tôi là đúng. Giám mục nghe họ, nhìn xuống, rồi thở dài nói:
− Các thầy nói về con thế đấy, con nghe thấy chứ? Nào, lại gần đây!
Giám mục đặt tay lên đầu tôi − bàn tay thoang thoảng mùi hương gỗ bách và hỏi tôi:
− Tại sao con nghịch ngợm?
− Con chán học lắm.
− Chán à? Không hẳn thế đâu, chú bé ạ. Con mà chán học thì con sẽ học kém, nhưng các thầy đều bảo con học khá. Như vậy là ở đây có nguyên nhân gì khác.
Ông ta rút ở trong ngực ra một cuốn vở con, viết:
− Pê-xcốp A-lếch-xây. Nhưng dù sao con cũng bớt nghịch đi nhé, đừng nghịch nhiều quá. Ít thôi thì được, còn nghịch quá thì mọi người bực mình! Ta nói đúng không các con?
Có tiếng lao xao, vui vẻ trả lời:
− Đúng ạ.
− Chính các con cũng nghịch ít ít thôi phải không?
Những thằng bé tủm tỉm cười, thốt lên:
− Không. Cũng nghịch nhiều ạ! Nghịch nhiều ạ!
Giám mục ngả người lên lưng ghế, ôm chặt tôi vào lòng, nói với vẻ ngạc nhiên, làm cho cả lớp − ngay cả thầy giáo và cha đạo − cũng phải bật cười:
− Quả có thế, các con ạ, hồi bằng tuổi các con, ta cũng nghịch gớm lắm! Vì sao thế, các con nhỉ?
Những đứa trẻ cười, giám mục hỏi chúng, lôi cuốn cả lớp một cách khéo léo, khiến đứa nọ phản đối đứa kia, làm cho không khí mỗi lúc một vui thêm. Cuối cùng, ông đứng lên và nói:
− Ở đây với các con thú lắm, các chú bé nghịch ngợm ạ, nhưng đến lúc ta phải đi rồi!
Ông giơ một tay lên, tay áo tụt tới vai, khoá rộng tay làm dấu và ban phước:
− Nhân danh Cha và Con và Thánh thần, ta ban cho các con mọi sự tấn tới! Tạm biệt.
Tất cả lớp đều thét lên:
− Tạm biệt Đức ông! Mong Đức ông lại tới.
Giám mục gật gật cái mũ cao, nói:
− Ta sẽ đến, thế nào ta cũng đến! Ta sẽ đem sách đến cho các con!
Và khi ra khỏi lớp, ông nói với thầy giáo:
− Cho các trò về đi!
Ông dắt tay tôi ra phòng ngoài và ở đấy, ông cúi xuống gần tôi, khẽ nói:
− Thế con bớt nghịch đi nhé, được không? Ta thì ta hiểu tại sao con nghịch ngợm! Thôi, tạm biệt, chú bé.
Tôi rất xúc động, một tình cảm đặc biệt rộn rực trong ngực tôi, và ngay cả khi thầy giáo đã cho cả lớp về nhưng giữ tôi lại và nói rằng bây giờ tôi phải lặng hơn nước, thấp hơn cỏ thì tôi vui lòng, chăm chú nghe từ đầu đến cuối.
Giáo sĩ vừa mặc áo choàng vừa cất giọng ồm ồm, dịu dàng nói với tôi:
− Từ nay con phải học các giờ của ta! Đúng. Phải học. Nhưng phải ngồi yên. Đúng. Ngồi yên.
[...]
Tôi biết đọc một cách có ý thức năm lên mười bốn tuổi. Trong những năm ấy, tôi đã không chỉ say mê tình tiết của sách − tức là sự phát triển ít nhiều lí thú của những biến cố được đưa ra − mà tôi đã bắt đầu hiểu được vẻ đẹp của những đoạn văn miêu tả, bắt đầu suy nghĩ về tính cách các nhân vật, lờ mờ đoán được mục đích của tác giả cuốn sách và lo ngại cảm thấy sự khác nhau giữa cái mà sách nói đến với cái mà cuộc sống khuyên bảo.
[...]
Phải thương hại con người thật là đau lòng, bao giờ tôi cũng muốn gửi gắm tình yêu sung sướng vào một người nào đó, nhưng chẳng có ai để mà yêu. Tôi càng yêu sách nồng nàn hơn.
Còn có nhiều cái bỉ ổi, tàn bạo, làm tôi chán ghét ghê gớm. Tôi sẽ không nói về điều đó, chính các bạn cũng biết cuộc sống địa ngục ấy, sự nhạo báng không ngớt ấy của người đối với người, niềm say mê bệnh tật ấy, niềm say mê làm khổ nhau, thứ khoái lạc của những kẻ nô lệ. Và chính trong hoàn cảnh đáng nguyền rủa như thế, lần đầu tiên tôi bắt đầu đọc sách hay, nghiêm túc của văn học nước ngoài.
Có lẽ tôi sẽ không truyền đạt đủ rõ và đáng tin cậy để các bạn thấy sự ngạc nhiên của tôi lớn lao như thế nào khi tôi cảm thấy hầu như mỗi cuốn sách đều mở ra trước mắt tôi cánh cửa sổ nhìn vào một thế giới mới chưa từng biết, đều kể với tôi về những con người, những tình cảm, ý nghĩ và những quan hệ mà tôi chưa từng biết, chưa từng thấy. Thậm chí, tôi còn có cảm giác rằng cuộc đời xung quanh tôi, tất cả những khắc nghiệt, bẩn thỉu và tàn bạo hằng ngày diễn ra trước mắt tôi đều không phải là cái có thực, đều là thừa. Cái có thực và cần thiết chỉ ở trong sách, ở đó mọi cái đều hợp lí hơn, đẹp hơn, nhân đạo hơn. Trong các cuốn sách cũng có nói về sự thô bạo, về sự ngu xuẩn của người đời, về những nỗi đau khổ của họ, cũng miêu tả những kẻ độc ác và đê tiện, nhưng bên cạnh có những người khác, những người mà tôi chưa từng thấy, thậm chí chưa từng nghe nói đến: những người chính trực, cương nghị, chân thật, lập nên chiến công đẹp đẽ, dù có phải hi sinh tính mạng.
Thời gian đầu, say sưa vì cái mới và vì giá trị tinh thần lớn lao của cái thế giới mà sách đã mở ra trước mắt tôi, tôi bắt đầu coi sách tốt đẹp hơn, lí thú hơn, gần gũi hơn với mọi người, và dường như hơi bị quáng loà, tôi nhìn cuộc đời thực qua sách. Nhưng cuộc sống khôn ngoan, khắc nghiệt đã quan tâm chữa cho tôi cái bệnh mù dễ chịu ấy.
[...]
Tôi càng đọc nhiều thì sách càng làm cho tôi gắn bó với thế giới, cuộc đời cũng đối với tôi càng trở nên rực rỡ có ý nghĩa. Tôi thấy rằng có những người sống khổ cực hơn, khó khăn hơn tôi, điều đó an ủi tôi phần nào, tuy vẫn không làm tôi thoả hiệp với cái hiện thực ô nhục. Tôi cũng thấy rằng có những người không biết sống một cách vui thú và sung sướng mà không một người nào xung quanh tôi biết sống như thế. Và hầu như trong mỗi quyển sách đều có cái gì đáng lo ngại, như một tiếng chuông nhè nhẹ lôi cuốn tôi đi, đi tìm cái chưa biết, cái làm tôi xúc động tâm tình. Mọi người đều không bằng lòng với cuộc sống, đều tìm kiếm một cái gì tốt đẹp hơn, và họ trở nên gần gũi hơn, dễ hiểu hơn. Sách làm cho khắp Trái Đất, khắp thế giới tràn ngập nỗi buồn nhớ cái tốt đẹp hơn, và mỗi cuốn sách dường như đều là tâm hồn được ghi lại trên giấy bằng những dấu hiệu và những từ, những dấu hiệu và những từ ấy lập tức trở nên sống động, hễ mắt tôi, trí tuệ tôi tiếp xúc với chúng.
Nhiều lần tôi khóc khi đọc sách, sách kể chuyện hay biết bao về con người, họ trở nên đáng yêu và gần gũi biết bao. Là một thằng bé bị công việc ngu độn làm cho kiệt sức, luôn luôn phải hứng lấy những lời chửi mắng đần độn, tôi trịnh trọng hứa với mình là lớn lên, tôi sẽ giúp đỡ mọi người, hết lòng phục vụ họ.
Như những con chim kì diệu trong truyện cổ tích, sách ca hát về việc cuộc sống đa dạng và phong phú như thế nào, con người táo bạo như thế nào trong khát vọng đạt tới cái thiện và cái đẹp. Và càng đọc, trong lòng tôi càng tràn đầy tinh thần lành mạnh và hăng hái. Tôi trở nên điềm tĩnh hơn, tin ở mình hơn, làm việc hợp lí hơn và ngày càng ít để ý đến vô số những chuyện bực bội trong cuộc sống.
Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ đưa tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con người, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống ấy. [...]
(In trong Tuyển tập truyện ngắn M. Go-rơ-ki, tập hai, NXB Đà Nẵng, 2001, tr. 346 − 363)
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.
− Sự khác nhau về nội dung và hình thức nghệ thuật giữa hai phần văn bản trước và sau câu "Tôi biết đọc một cách có ý thức năm lên mười bốn tuổi." làm mất sự thống nhất trong tính chỉnh thể của tác phẩm.
− Lí giải: Cả hai phần đều xoay quanh quá trình học tập, tự và trưởng thành của Pê-xcốp; phần sau là sự phát triển, từ phần trước.
(Kéo thả hoặc click vào để điền)
TÔI ĐÃ HỌC TẬP NHƯ THẾ NÀO?
(Trích)
M. Go-rơ-ki (M. Gorki)
(Lược dẫn: Được ông ngoại dạy đọc từ năm sáu tuổi, cậu bé Pê-xcốp A-lếch-xây (M. Go-rơ-ki lúc nhỏ) ban đầu học chữ rất nhanh. Nhưng ông của cậu, vì sự nóng vội, cáu kỉnh và thiếu phương pháp, đã khiến cậu bé sinh ra chán học. Sau đó, cậu được gửi đến học tại một ngôi trường của nhà thờ.)
Tôi đến trường với đôi giày của mẹ, với chiếc áo bành tô nhỏ may lại bằng chiếc áo ngoài của bà, với chiếc áo sơ mi màu vàng và chiếc quần "buông chùng". Tất cả những cái đó lập tức bị chế nhạo, vì chiếc sơ mi vàng mà tôi có biệt hiệu "thằng tù khổ sai". Tôi dàn xếp với những thằng bé một cách nhanh chóng, nhưng thầy giáo và cha cố không ưa tôi.
(Lược một đoạn: Pê-xcốp đến lớp thường bị một số ông giáo khó tính không ưa và phân biệt đối xử. Tình trạng này kéo dài khiến cậu bé bị tổn thương nặng nề. Pê-xcốp đã bày ra nhiều trò nghịch ngợm để trả đũa các ông giáo này. Về sau, khi đã lớn khôn và hiểu biết, Pê-xcốp xem đó là những trò "man rợ", đáng phải hối hận.)
Mặc dù tôi học khá, ít lâu sau, người ta bảo rằng tôi bị đuổi khỏi trường vì hạnh kiểm xấu. Tôi chán nản, điều đó sẽ gây cho tôi những chuyện rầy rà lớn.
Nhưng cứu tinh chợt xuất hiện: Giám mục Cri-xan-phơ (Crixanfo) đột nhiên tới trường.
Ông ta người nhỏ bé, mặc bộ áo đen rộng thùng thình, đến ngồi bên bàn, rút tay ra khỏi ống tay áo và nói:
"Nào, ta nói chuyện với nhau đi, các con!". Không khí trong lớp lập tức trở nên ấm áp, vui vẻ, mọi người đều cảm thấy dễ chịu khác thường.
Ông gọi tôi đến gần bàn, sau khi đã gọi nhiều đứa khác và hỏi một cách nghiêm trang:
− Con lên mấy? Có thế thôi à? Sao dài người thế, chú bé? Hay bêu mưa lắm, phải không?
Ông đặt bàn tay khô gầy, với những móng tay to và nhọn lên bàn, nắm lấy chòm râu thưa, nhìn chằm chằm vào mặt tôi bằng đôi mắt hiền từ, và bảo tôi:
− Nào kể cho ta nghe một đoạn trong thánh sử, con thích đoạn nào?
Khi tôi nói rằng tôi không có sách và tôi không học thánh sử, ông sửa lại chiếc mũ giáo sĩ và hỏi:
− Sao lại thế? Cái đó cần phải học chứ! Nhưng có thể con cũng biết đôi chút chăng, có nghe nói đến không? Có biết thánh thi không? Thế thì tốt! Cả những bài cầu nguyện nữa à? Đấy, thấy chưa! Lại còn sự tích các thánh nữa à? Bằng thơ à? Chú bé của ta biết nhiều đấy.
Giáo sĩ của chúng tôi tới, mặt đỏ, thở hổn hển. Giám mục ban phước cho ông ta, nhưng khi ông ta bắt đầu nói về tôi thì giám mục giơ tay nói:
− Xin cha một lát... Nào, kể về A-lếch-xây người của Chúa đi.
− Những vần thơ tuyệt diệu phải không, chú bé? Giám mục nói khi tôi dừng lại vì quên một câu thơ nào đó. Còn gì nữa không?... Về vua Đa-vít (David) hả? Ta chú ý nghe đây.
Tôi thấy rằng quả thực ông ta nghe và ông ta thích thơ. Ông ta hỏi tôi một lúc lâu, rồi bỗng ngăn tôi lại, hỏi nhanh:
− Con học theo thánh thi à? Ai dạy? Ông có hiền không? Ác à? Lẽ nào? Nhưng con nghịch lắm phải không?
Tôi ngập ngừng, nhưng rồi tôi đáp: Vâng. Thầy giáo và giáo sĩ nói rất nhiều để chứng tỏ rằng lời thú nhận của tôi là đúng. Giám mục nghe họ, nhìn xuống, rồi thở dài nói:
− Các thầy nói về con thế đấy, con nghe thấy chứ? Nào, lại gần đây!
Giám mục đặt tay lên đầu tôi − bàn tay thoang thoảng mùi hương gỗ bách và hỏi tôi:
− Tại sao con nghịch ngợm?
− Con chán học lắm.
− Chán à? Không hẳn thế đâu, chú bé ạ. Con mà chán học thì con sẽ học kém, nhưng các thầy đều bảo con học khá. Như vậy là ở đây có nguyên nhân gì khác.
Ông ta rút ở trong ngực ra một cuốn vở con, viết:
− Pê-xcốp A-lếch-xây. Nhưng dù sao con cũng bớt nghịch đi nhé, đừng nghịch nhiều quá. Ít thôi thì được, còn nghịch quá thì mọi người bực mình! Ta nói đúng không các con?
Có tiếng lao xao, vui vẻ trả lời:
− Đúng ạ.
− Chính các con cũng nghịch ít ít thôi phải không?
Những thằng bé tủm tỉm cười, thốt lên:
− Không. Cũng nghịch nhiều ạ! Nghịch nhiều ạ!
Giám mục ngả người lên lưng ghế, ôm chặt tôi vào lòng, nói với vẻ ngạc nhiên, làm cho cả lớp − ngay cả thầy giáo và cha đạo − cũng phải bật cười:
− Quả có thế, các con ạ, hồi bằng tuổi các con, ta cũng nghịch gớm lắm! Vì sao thế, các con nhỉ?
Những đứa trẻ cười, giám mục hỏi chúng, lôi cuốn cả lớp một cách khéo léo, khiến đứa nọ phản đối đứa kia, làm cho không khí mỗi lúc một vui thêm. Cuối cùng, ông đứng lên và nói:
− Ở đây với các con thú lắm, các chú bé nghịch ngợm ạ, nhưng đến lúc ta phải đi rồi!
Ông giơ một tay lên, tay áo tụt tới vai, khoá rộng tay làm dấu và ban phước:
− Nhân danh Cha và Con và Thánh thần, ta ban cho các con mọi sự tấn tới! Tạm biệt.
Tất cả lớp đều thét lên:
− Tạm biệt Đức ông! Mong Đức ông lại tới.
Giám mục gật gật cái mũ cao, nói:
− Ta sẽ đến, thế nào ta cũng đến! Ta sẽ đem sách đến cho các con!
Và khi ra khỏi lớp, ông nói với thầy giáo:
− Cho các trò về đi!
Ông dắt tay tôi ra phòng ngoài và ở đấy, ông cúi xuống gần tôi, khẽ nói:
− Thế con bớt nghịch đi nhé, được không? Ta thì ta hiểu tại sao con nghịch ngợm! Thôi, tạm biệt, chú bé.
Tôi rất xúc động, một tình cảm đặc biệt rộn rực trong ngực tôi, và ngay cả khi thầy giáo đã cho cả lớp về nhưng giữ tôi lại và nói rằng bây giờ tôi phải lặng hơn nước, thấp hơn cỏ thì tôi vui lòng, chăm chú nghe từ đầu đến cuối.
Giáo sĩ vừa mặc áo choàng vừa cất giọng ồm ồm, dịu dàng nói với tôi:
− Từ nay con phải học các giờ của ta! Đúng. Phải học. Nhưng phải ngồi yên. Đúng. Ngồi yên.
[...]
Tôi biết đọc một cách có ý thức năm lên mười bốn tuổi. Trong những năm ấy, tôi đã không chỉ say mê tình tiết của sách − tức là sự phát triển ít nhiều lí thú của những biến cố được đưa ra − mà tôi đã bắt đầu hiểu được vẻ đẹp của những đoạn văn miêu tả, bắt đầu suy nghĩ về tính cách các nhân vật, lờ mờ đoán được mục đích của tác giả cuốn sách và lo ngại cảm thấy sự khác nhau giữa cái mà sách nói đến với cái mà cuộc sống khuyên bảo.
[...]
Phải thương hại con người thật là đau lòng, bao giờ tôi cũng muốn gửi gắm tình yêu sung sướng vào một người nào đó, nhưng chẳng có ai để mà yêu. Tôi càng yêu sách nồng nàn hơn.
Còn có nhiều cái bỉ ổi, tàn bạo, làm tôi chán ghét ghê gớm. Tôi sẽ không nói về điều đó, chính các bạn cũng biết cuộc sống địa ngục ấy, sự nhạo báng không ngớt ấy của người đối với người, niềm say mê bệnh tật ấy, niềm say mê làm khổ nhau, thứ khoái lạc của những kẻ nô lệ. Và chính trong hoàn cảnh đáng nguyền rủa như thế, lần đầu tiên tôi bắt đầu đọc sách hay, nghiêm túc của văn học nước ngoài.
Có lẽ tôi sẽ không truyền đạt đủ rõ và đáng tin cậy để các bạn thấy sự ngạc nhiên của tôi lớn lao như thế nào khi tôi cảm thấy hầu như mỗi cuốn sách đều mở ra trước mắt tôi cánh cửa sổ nhìn vào một thế giới mới chưa từng biết, đều kể với tôi về những con người, những tình cảm, ý nghĩ và những quan hệ mà tôi chưa từng biết, chưa từng thấy. Thậm chí, tôi còn có cảm giác rằng cuộc đời xung quanh tôi, tất cả những khắc nghiệt, bẩn thỉu và tàn bạo hằng ngày diễn ra trước mắt tôi đều không phải là cái có thực, đều là thừa. Cái có thực và cần thiết chỉ ở trong sách, ở đó mọi cái đều hợp lí hơn, đẹp hơn, nhân đạo hơn. Trong các cuốn sách cũng có nói về sự thô bạo, về sự ngu xuẩn của người đời, về những nỗi đau khổ của họ, cũng miêu tả những kẻ độc ác và đê tiện, nhưng bên cạnh có những người khác, những người mà tôi chưa từng thấy, thậm chí chưa từng nghe nói đến: những người chính trực, cương nghị, chân thật, lập nên chiến công đẹp đẽ, dù có phải hi sinh tính mạng.
Thời gian đầu, say sưa vì cái mới và vì giá trị tinh thần lớn lao của cái thế giới mà sách đã mở ra trước mắt tôi, tôi bắt đầu coi sách tốt đẹp hơn, lí thú hơn, gần gũi hơn với mọi người, và dường như hơi bị quáng loà, tôi nhìn cuộc đời thực qua sách. Nhưng cuộc sống khôn ngoan, khắc nghiệt đã quan tâm chữa cho tôi cái bệnh mù dễ chịu ấy.
[...]
Tôi càng đọc nhiều thì sách càng làm cho tôi gắn bó với thế giới, cuộc đời cũng đối với tôi càng trở nên rực rỡ có ý nghĩa. Tôi thấy rằng có những người sống khổ cực hơn, khó khăn hơn tôi, điều đó an ủi tôi phần nào, tuy vẫn không làm tôi thoả hiệp với cái hiện thực ô nhục. Tôi cũng thấy rằng có những người không biết sống một cách vui thú và sung sướng mà không một người nào xung quanh tôi biết sống như thế. Và hầu như trong mỗi quyển sách đều có cái gì đáng lo ngại, như một tiếng chuông nhè nhẹ lôi cuốn tôi đi, đi tìm cái chưa biết, cái làm tôi xúc động tâm tình. Mọi người đều không bằng lòng với cuộc sống, đều tìm kiếm một cái gì tốt đẹp hơn, và họ trở nên gần gũi hơn, dễ hiểu hơn. Sách làm cho khắp Trái Đất, khắp thế giới tràn ngập nỗi buồn nhớ cái tốt đẹp hơn, và mỗi cuốn sách dường như đều là tâm hồn được ghi lại trên giấy bằng những dấu hiệu và những từ, những dấu hiệu và những từ ấy lập tức trở nên sống động, hễ mắt tôi, trí tuệ tôi tiếp xúc với chúng.
Nhiều lần tôi khóc khi đọc sách, sách kể chuyện hay biết bao về con người, họ trở nên đáng yêu và gần gũi biết bao. Là một thằng bé bị công việc ngu độn làm cho kiệt sức, luôn luôn phải hứng lấy những lời chửi mắng đần độn, tôi trịnh trọng hứa với mình là lớn lên, tôi sẽ giúp đỡ mọi người, hết lòng phục vụ họ.
Như những con chim kì diệu trong truyện cổ tích, sách ca hát về việc cuộc sống đa dạng và phong phú như thế nào, con người táo bạo như thế nào trong khát vọng đạt tới cái thiện và cái đẹp. Và càng đọc, trong lòng tôi càng tràn đầy tinh thần lành mạnh và hăng hái. Tôi trở nên điềm tĩnh hơn, tin ở mình hơn, làm việc hợp lí hơn và ngày càng ít để ý đến vô số những chuyện bực bội trong cuộc sống.
Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ đưa tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con người, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống ấy. [...]
(In trong Tuyển tập truyện ngắn M. Go-rơ-ki, tập hai, NXB Đà Nẵng, 2001, tr. 346 − 363)
Những chi tiết nào dưới đây thể hiện nhận thức của Pê-xcốp trong quá khứ? (Chọn 2 đáp án)
TÔI ĐÃ HỌC TẬP NHƯ THẾ NÀO?
(Trích)
M. Go-rơ-ki (M. Gorki)
(Lược dẫn: Được ông ngoại dạy đọc từ năm sáu tuổi, cậu bé Pê-xcốp A-lếch-xây (M. Go-rơ-ki lúc nhỏ) ban đầu học chữ rất nhanh. Nhưng ông của cậu, vì sự nóng vội, cáu kỉnh và thiếu phương pháp, đã khiến cậu bé sinh ra chán học. Sau đó, cậu được gửi đến học tại một ngôi trường của nhà thờ.)
Tôi đến trường với đôi giày của mẹ, với chiếc áo bành tô nhỏ may lại bằng chiếc áo ngoài của bà, với chiếc áo sơ mi màu vàng và chiếc quần "buông chùng". Tất cả những cái đó lập tức bị chế nhạo, vì chiếc sơ mi vàng mà tôi có biệt hiệu "thằng tù khổ sai". Tôi dàn xếp với những thằng bé một cách nhanh chóng, nhưng thầy giáo và cha cố không ưa tôi.
(Lược một đoạn: Pê-xcốp đến lớp thường bị một số ông giáo khó tính không ưa và phân biệt đối xử. Tình trạng này kéo dài khiến cậu bé bị tổn thương nặng nề. Pê-xcốp đã bày ra nhiều trò nghịch ngợm để trả đũa các ông giáo này. Về sau, khi đã lớn khôn và hiểu biết, Pê-xcốp xem đó là những trò "man rợ", đáng phải hối hận.)
Mặc dù tôi học khá, ít lâu sau, người ta bảo rằng tôi bị đuổi khỏi trường vì hạnh kiểm xấu. Tôi chán nản, điều đó sẽ gây cho tôi những chuyện rầy rà lớn.
Nhưng cứu tinh chợt xuất hiện: Giám mục Cri-xan-phơ (Crixanfo) đột nhiên tới trường.
Ông ta người nhỏ bé, mặc bộ áo đen rộng thùng thình, đến ngồi bên bàn, rút tay ra khỏi ống tay áo và nói:
"Nào, ta nói chuyện với nhau đi, các con!". Không khí trong lớp lập tức trở nên ấm áp, vui vẻ, mọi người đều cảm thấy dễ chịu khác thường.
Ông gọi tôi đến gần bàn, sau khi đã gọi nhiều đứa khác và hỏi một cách nghiêm trang:
− Con lên mấy? Có thế thôi à? Sao dài người thế, chú bé? Hay bêu mưa lắm, phải không?
Ông đặt bàn tay khô gầy, với những móng tay to và nhọn lên bàn, nắm lấy chòm râu thưa, nhìn chằm chằm vào mặt tôi bằng đôi mắt hiền từ, và bảo tôi:
− Nào kể cho ta nghe một đoạn trong thánh sử, con thích đoạn nào?
Khi tôi nói rằng tôi không có sách và tôi không học thánh sử, ông sửa lại chiếc mũ giáo sĩ và hỏi:
− Sao lại thế? Cái đó cần phải học chứ! Nhưng có thể con cũng biết đôi chút chăng, có nghe nói đến không? Có biết thánh thi không? Thế thì tốt! Cả những bài cầu nguyện nữa à? Đấy, thấy chưa! Lại còn sự tích các thánh nữa à? Bằng thơ à? Chú bé của ta biết nhiều đấy.
Giáo sĩ của chúng tôi tới, mặt đỏ, thở hổn hển. Giám mục ban phước cho ông ta, nhưng khi ông ta bắt đầu nói về tôi thì giám mục giơ tay nói:
− Xin cha một lát... Nào, kể về A-lếch-xây người của Chúa đi.
− Những vần thơ tuyệt diệu phải không, chú bé? Giám mục nói khi tôi dừng lại vì quên một câu thơ nào đó. Còn gì nữa không?... Về vua Đa-vít (David) hả? Ta chú ý nghe đây.
Tôi thấy rằng quả thực ông ta nghe và ông ta thích thơ. Ông ta hỏi tôi một lúc lâu, rồi bỗng ngăn tôi lại, hỏi nhanh:
− Con học theo thánh thi à? Ai dạy? Ông có hiền không? Ác à? Lẽ nào? Nhưng con nghịch lắm phải không?
Tôi ngập ngừng, nhưng rồi tôi đáp: Vâng. Thầy giáo và giáo sĩ nói rất nhiều để chứng tỏ rằng lời thú nhận của tôi là đúng. Giám mục nghe họ, nhìn xuống, rồi thở dài nói:
− Các thầy nói về con thế đấy, con nghe thấy chứ? Nào, lại gần đây!
Giám mục đặt tay lên đầu tôi − bàn tay thoang thoảng mùi hương gỗ bách và hỏi tôi:
− Tại sao con nghịch ngợm?
− Con chán học lắm.
− Chán à? Không hẳn thế đâu, chú bé ạ. Con mà chán học thì con sẽ học kém, nhưng các thầy đều bảo con học khá. Như vậy là ở đây có nguyên nhân gì khác.
Ông ta rút ở trong ngực ra một cuốn vở con, viết:
− Pê-xcốp A-lếch-xây. Nhưng dù sao con cũng bớt nghịch đi nhé, đừng nghịch nhiều quá. Ít thôi thì được, còn nghịch quá thì mọi người bực mình! Ta nói đúng không các con?
Có tiếng lao xao, vui vẻ trả lời:
− Đúng ạ.
− Chính các con cũng nghịch ít ít thôi phải không?
Những thằng bé tủm tỉm cười, thốt lên:
− Không. Cũng nghịch nhiều ạ! Nghịch nhiều ạ!
Giám mục ngả người lên lưng ghế, ôm chặt tôi vào lòng, nói với vẻ ngạc nhiên, làm cho cả lớp − ngay cả thầy giáo và cha đạo − cũng phải bật cười:
− Quả có thế, các con ạ, hồi bằng tuổi các con, ta cũng nghịch gớm lắm! Vì sao thế, các con nhỉ?
Những đứa trẻ cười, giám mục hỏi chúng, lôi cuốn cả lớp một cách khéo léo, khiến đứa nọ phản đối đứa kia, làm cho không khí mỗi lúc một vui thêm. Cuối cùng, ông đứng lên và nói:
− Ở đây với các con thú lắm, các chú bé nghịch ngợm ạ, nhưng đến lúc ta phải đi rồi!
Ông giơ một tay lên, tay áo tụt tới vai, khoá rộng tay làm dấu và ban phước:
− Nhân danh Cha và Con và Thánh thần, ta ban cho các con mọi sự tấn tới! Tạm biệt.
Tất cả lớp đều thét lên:
− Tạm biệt Đức ông! Mong Đức ông lại tới.
Giám mục gật gật cái mũ cao, nói:
− Ta sẽ đến, thế nào ta cũng đến! Ta sẽ đem sách đến cho các con!
Và khi ra khỏi lớp, ông nói với thầy giáo:
− Cho các trò về đi!
Ông dắt tay tôi ra phòng ngoài và ở đấy, ông cúi xuống gần tôi, khẽ nói:
− Thế con bớt nghịch đi nhé, được không? Ta thì ta hiểu tại sao con nghịch ngợm! Thôi, tạm biệt, chú bé.
Tôi rất xúc động, một tình cảm đặc biệt rộn rực trong ngực tôi, và ngay cả khi thầy giáo đã cho cả lớp về nhưng giữ tôi lại và nói rằng bây giờ tôi phải lặng hơn nước, thấp hơn cỏ thì tôi vui lòng, chăm chú nghe từ đầu đến cuối.
Giáo sĩ vừa mặc áo choàng vừa cất giọng ồm ồm, dịu dàng nói với tôi:
− Từ nay con phải học các giờ của ta! Đúng. Phải học. Nhưng phải ngồi yên. Đúng. Ngồi yên.
[...]
Tôi biết đọc một cách có ý thức năm lên mười bốn tuổi. Trong những năm ấy, tôi đã không chỉ say mê tình tiết của sách − tức là sự phát triển ít nhiều lí thú của những biến cố được đưa ra − mà tôi đã bắt đầu hiểu được vẻ đẹp của những đoạn văn miêu tả, bắt đầu suy nghĩ về tính cách các nhân vật, lờ mờ đoán được mục đích của tác giả cuốn sách và lo ngại cảm thấy sự khác nhau giữa cái mà sách nói đến với cái mà cuộc sống khuyên bảo.
[...]
Phải thương hại con người thật là đau lòng, bao giờ tôi cũng muốn gửi gắm tình yêu sung sướng vào một người nào đó, nhưng chẳng có ai để mà yêu. Tôi càng yêu sách nồng nàn hơn.
Còn có nhiều cái bỉ ổi, tàn bạo, làm tôi chán ghét ghê gớm. Tôi sẽ không nói về điều đó, chính các bạn cũng biết cuộc sống địa ngục ấy, sự nhạo báng không ngớt ấy của người đối với người, niềm say mê bệnh tật ấy, niềm say mê làm khổ nhau, thứ khoái lạc của những kẻ nô lệ. Và chính trong hoàn cảnh đáng nguyền rủa như thế, lần đầu tiên tôi bắt đầu đọc sách hay, nghiêm túc của văn học nước ngoài.
Có lẽ tôi sẽ không truyền đạt đủ rõ và đáng tin cậy để các bạn thấy sự ngạc nhiên của tôi lớn lao như thế nào khi tôi cảm thấy hầu như mỗi cuốn sách đều mở ra trước mắt tôi cánh cửa sổ nhìn vào một thế giới mới chưa từng biết, đều kể với tôi về những con người, những tình cảm, ý nghĩ và những quan hệ mà tôi chưa từng biết, chưa từng thấy. Thậm chí, tôi còn có cảm giác rằng cuộc đời xung quanh tôi, tất cả những khắc nghiệt, bẩn thỉu và tàn bạo hằng ngày diễn ra trước mắt tôi đều không phải là cái có thực, đều là thừa. Cái có thực và cần thiết chỉ ở trong sách, ở đó mọi cái đều hợp lí hơn, đẹp hơn, nhân đạo hơn. Trong các cuốn sách cũng có nói về sự thô bạo, về sự ngu xuẩn của người đời, về những nỗi đau khổ của họ, cũng miêu tả những kẻ độc ác và đê tiện, nhưng bên cạnh có những người khác, những người mà tôi chưa từng thấy, thậm chí chưa từng nghe nói đến: những người chính trực, cương nghị, chân thật, lập nên chiến công đẹp đẽ, dù có phải hi sinh tính mạng.
Thời gian đầu, say sưa vì cái mới và vì giá trị tinh thần lớn lao của cái thế giới mà sách đã mở ra trước mắt tôi, tôi bắt đầu coi sách tốt đẹp hơn, lí thú hơn, gần gũi hơn với mọi người, và dường như hơi bị quáng loà, tôi nhìn cuộc đời thực qua sách. Nhưng cuộc sống khôn ngoan, khắc nghiệt đã quan tâm chữa cho tôi cái bệnh mù dễ chịu ấy.
[...]
Tôi càng đọc nhiều thì sách càng làm cho tôi gắn bó với thế giới, cuộc đời cũng đối với tôi càng trở nên rực rỡ có ý nghĩa. Tôi thấy rằng có những người sống khổ cực hơn, khó khăn hơn tôi, điều đó an ủi tôi phần nào, tuy vẫn không làm tôi thoả hiệp với cái hiện thực ô nhục. Tôi cũng thấy rằng có những người không biết sống một cách vui thú và sung sướng mà không một người nào xung quanh tôi biết sống như thế. Và hầu như trong mỗi quyển sách đều có cái gì đáng lo ngại, như một tiếng chuông nhè nhẹ lôi cuốn tôi đi, đi tìm cái chưa biết, cái làm tôi xúc động tâm tình. Mọi người đều không bằng lòng với cuộc sống, đều tìm kiếm một cái gì tốt đẹp hơn, và họ trở nên gần gũi hơn, dễ hiểu hơn. Sách làm cho khắp Trái Đất, khắp thế giới tràn ngập nỗi buồn nhớ cái tốt đẹp hơn, và mỗi cuốn sách dường như đều là tâm hồn được ghi lại trên giấy bằng những dấu hiệu và những từ, những dấu hiệu và những từ ấy lập tức trở nên sống động, hễ mắt tôi, trí tuệ tôi tiếp xúc với chúng.
Nhiều lần tôi khóc khi đọc sách, sách kể chuyện hay biết bao về con người, họ trở nên đáng yêu và gần gũi biết bao. Là một thằng bé bị công việc ngu độn làm cho kiệt sức, luôn luôn phải hứng lấy những lời chửi mắng đần độn, tôi trịnh trọng hứa với mình là lớn lên, tôi sẽ giúp đỡ mọi người, hết lòng phục vụ họ.
Như những con chim kì diệu trong truyện cổ tích, sách ca hát về việc cuộc sống đa dạng và phong phú như thế nào, con người táo bạo như thế nào trong khát vọng đạt tới cái thiện và cái đẹp. Và càng đọc, trong lòng tôi càng tràn đầy tinh thần lành mạnh và hăng hái. Tôi trở nên điềm tĩnh hơn, tin ở mình hơn, làm việc hợp lí hơn và ngày càng ít để ý đến vô số những chuyện bực bội trong cuộc sống.
Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ đưa tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con người, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống ấy. [...]
(In trong Tuyển tập truyện ngắn M. Go-rơ-ki, tập hai, NXB Đà Nẵng, 2001, tr. 346 − 363)
Những chi tiết nào dưới đây thể hiện nhận thức của tác giả tại thời điểm viết tác phẩm? (Chọn 2 đáp án)
TÔI ĐÃ HỌC TẬP NHƯ THẾ NÀO?
(Trích)
M. Go-rơ-ki (M. Gorki)
(Lược dẫn: Được ông ngoại dạy đọc từ năm sáu tuổi, cậu bé Pê-xcốp A-lếch-xây (M. Go-rơ-ki lúc nhỏ) ban đầu học chữ rất nhanh. Nhưng ông của cậu, vì sự nóng vội, cáu kỉnh và thiếu phương pháp, đã khiến cậu bé sinh ra chán học. Sau đó, cậu được gửi đến học tại một ngôi trường của nhà thờ.)
Tôi đến trường với đôi giày của mẹ, với chiếc áo bành tô nhỏ may lại bằng chiếc áo ngoài của bà, với chiếc áo sơ mi màu vàng và chiếc quần "buông chùng". Tất cả những cái đó lập tức bị chế nhạo, vì chiếc sơ mi vàng mà tôi có biệt hiệu "thằng tù khổ sai". Tôi dàn xếp với những thằng bé một cách nhanh chóng, nhưng thầy giáo và cha cố không ưa tôi.
(Lược một đoạn: Pê-xcốp đến lớp thường bị một số ông giáo khó tính không ưa và phân biệt đối xử. Tình trạng này kéo dài khiến cậu bé bị tổn thương nặng nề. Pê-xcốp đã bày ra nhiều trò nghịch ngợm để trả đũa các ông giáo này. Về sau, khi đã lớn khôn và hiểu biết, Pê-xcốp xem đó là những trò "man rợ", đáng phải hối hận.)
Mặc dù tôi học khá, ít lâu sau, người ta bảo rằng tôi bị đuổi khỏi trường vì hạnh kiểm xấu. Tôi chán nản, điều đó sẽ gây cho tôi những chuyện rầy rà lớn.
Nhưng cứu tinh chợt xuất hiện: Giám mục Cri-xan-phơ (Crixanfo) đột nhiên tới trường.
Ông ta người nhỏ bé, mặc bộ áo đen rộng thùng thình, đến ngồi bên bàn, rút tay ra khỏi ống tay áo và nói:
"Nào, ta nói chuyện với nhau đi, các con!". Không khí trong lớp lập tức trở nên ấm áp, vui vẻ, mọi người đều cảm thấy dễ chịu khác thường.
Ông gọi tôi đến gần bàn, sau khi đã gọi nhiều đứa khác và hỏi một cách nghiêm trang:
− Con lên mấy? Có thế thôi à? Sao dài người thế, chú bé? Hay bêu mưa lắm, phải không?
Ông đặt bàn tay khô gầy, với những móng tay to và nhọn lên bàn, nắm lấy chòm râu thưa, nhìn chằm chằm vào mặt tôi bằng đôi mắt hiền từ, và bảo tôi:
− Nào kể cho ta nghe một đoạn trong thánh sử, con thích đoạn nào?
Khi tôi nói rằng tôi không có sách và tôi không học thánh sử, ông sửa lại chiếc mũ giáo sĩ và hỏi:
− Sao lại thế? Cái đó cần phải học chứ! Nhưng có thể con cũng biết đôi chút chăng, có nghe nói đến không? Có biết thánh thi không? Thế thì tốt! Cả những bài cầu nguyện nữa à? Đấy, thấy chưa! Lại còn sự tích các thánh nữa à? Bằng thơ à? Chú bé của ta biết nhiều đấy.
Giáo sĩ của chúng tôi tới, mặt đỏ, thở hổn hển. Giám mục ban phước cho ông ta, nhưng khi ông ta bắt đầu nói về tôi thì giám mục giơ tay nói:
− Xin cha một lát... Nào, kể về A-lếch-xây người của Chúa đi.
− Những vần thơ tuyệt diệu phải không, chú bé? Giám mục nói khi tôi dừng lại vì quên một câu thơ nào đó. Còn gì nữa không?... Về vua Đa-vít (David) hả? Ta chú ý nghe đây.
Tôi thấy rằng quả thực ông ta nghe và ông ta thích thơ. Ông ta hỏi tôi một lúc lâu, rồi bỗng ngăn tôi lại, hỏi nhanh:
− Con học theo thánh thi à? Ai dạy? Ông có hiền không? Ác à? Lẽ nào? Nhưng con nghịch lắm phải không?
Tôi ngập ngừng, nhưng rồi tôi đáp: Vâng. Thầy giáo và giáo sĩ nói rất nhiều để chứng tỏ rằng lời thú nhận của tôi là đúng. Giám mục nghe họ, nhìn xuống, rồi thở dài nói:
− Các thầy nói về con thế đấy, con nghe thấy chứ? Nào, lại gần đây!
Giám mục đặt tay lên đầu tôi − bàn tay thoang thoảng mùi hương gỗ bách và hỏi tôi:
− Tại sao con nghịch ngợm?
− Con chán học lắm.
− Chán à? Không hẳn thế đâu, chú bé ạ. Con mà chán học thì con sẽ học kém, nhưng các thầy đều bảo con học khá. Như vậy là ở đây có nguyên nhân gì khác.
Ông ta rút ở trong ngực ra một cuốn vở con, viết:
− Pê-xcốp A-lếch-xây. Nhưng dù sao con cũng bớt nghịch đi nhé, đừng nghịch nhiều quá. Ít thôi thì được, còn nghịch quá thì mọi người bực mình! Ta nói đúng không các con?
Có tiếng lao xao, vui vẻ trả lời:
− Đúng ạ.
− Chính các con cũng nghịch ít ít thôi phải không?
Những thằng bé tủm tỉm cười, thốt lên:
− Không. Cũng nghịch nhiều ạ! Nghịch nhiều ạ!
Giám mục ngả người lên lưng ghế, ôm chặt tôi vào lòng, nói với vẻ ngạc nhiên, làm cho cả lớp − ngay cả thầy giáo và cha đạo − cũng phải bật cười:
− Quả có thế, các con ạ, hồi bằng tuổi các con, ta cũng nghịch gớm lắm! Vì sao thế, các con nhỉ?
Những đứa trẻ cười, giám mục hỏi chúng, lôi cuốn cả lớp một cách khéo léo, khiến đứa nọ phản đối đứa kia, làm cho không khí mỗi lúc một vui thêm. Cuối cùng, ông đứng lên và nói:
− Ở đây với các con thú lắm, các chú bé nghịch ngợm ạ, nhưng đến lúc ta phải đi rồi!
Ông giơ một tay lên, tay áo tụt tới vai, khoá rộng tay làm dấu và ban phước:
− Nhân danh Cha và Con và Thánh thần, ta ban cho các con mọi sự tấn tới! Tạm biệt.
Tất cả lớp đều thét lên:
− Tạm biệt Đức ông! Mong Đức ông lại tới.
Giám mục gật gật cái mũ cao, nói:
− Ta sẽ đến, thế nào ta cũng đến! Ta sẽ đem sách đến cho các con!
Và khi ra khỏi lớp, ông nói với thầy giáo:
− Cho các trò về đi!
Ông dắt tay tôi ra phòng ngoài và ở đấy, ông cúi xuống gần tôi, khẽ nói:
− Thế con bớt nghịch đi nhé, được không? Ta thì ta hiểu tại sao con nghịch ngợm! Thôi, tạm biệt, chú bé.
Tôi rất xúc động, một tình cảm đặc biệt rộn rực trong ngực tôi, và ngay cả khi thầy giáo đã cho cả lớp về nhưng giữ tôi lại và nói rằng bây giờ tôi phải lặng hơn nước, thấp hơn cỏ thì tôi vui lòng, chăm chú nghe từ đầu đến cuối.
Giáo sĩ vừa mặc áo choàng vừa cất giọng ồm ồm, dịu dàng nói với tôi:
− Từ nay con phải học các giờ của ta! Đúng. Phải học. Nhưng phải ngồi yên. Đúng. Ngồi yên.
[...]
Tôi biết đọc một cách có ý thức năm lên mười bốn tuổi. Trong những năm ấy, tôi đã không chỉ say mê tình tiết của sách − tức là sự phát triển ít nhiều lí thú của những biến cố được đưa ra − mà tôi đã bắt đầu hiểu được vẻ đẹp của những đoạn văn miêu tả, bắt đầu suy nghĩ về tính cách các nhân vật, lờ mờ đoán được mục đích của tác giả cuốn sách và lo ngại cảm thấy sự khác nhau giữa cái mà sách nói đến với cái mà cuộc sống khuyên bảo.
[...]
Phải thương hại con người thật là đau lòng, bao giờ tôi cũng muốn gửi gắm tình yêu sung sướng vào một người nào đó, nhưng chẳng có ai để mà yêu. Tôi càng yêu sách nồng nàn hơn.
Còn có nhiều cái bỉ ổi, tàn bạo, làm tôi chán ghét ghê gớm. Tôi sẽ không nói về điều đó, chính các bạn cũng biết cuộc sống địa ngục ấy, sự nhạo báng không ngớt ấy của người đối với người, niềm say mê bệnh tật ấy, niềm say mê làm khổ nhau, thứ khoái lạc của những kẻ nô lệ. Và chính trong hoàn cảnh đáng nguyền rủa như thế, lần đầu tiên tôi bắt đầu đọc sách hay, nghiêm túc của văn học nước ngoài.
Có lẽ tôi sẽ không truyền đạt đủ rõ và đáng tin cậy để các bạn thấy sự ngạc nhiên của tôi lớn lao như thế nào khi tôi cảm thấy hầu như mỗi cuốn sách đều mở ra trước mắt tôi cánh cửa sổ nhìn vào một thế giới mới chưa từng biết, đều kể với tôi về những con người, những tình cảm, ý nghĩ và những quan hệ mà tôi chưa từng biết, chưa từng thấy. Thậm chí, tôi còn có cảm giác rằng cuộc đời xung quanh tôi, tất cả những khắc nghiệt, bẩn thỉu và tàn bạo hằng ngày diễn ra trước mắt tôi đều không phải là cái có thực, đều là thừa. Cái có thực và cần thiết chỉ ở trong sách, ở đó mọi cái đều hợp lí hơn, đẹp hơn, nhân đạo hơn. Trong các cuốn sách cũng có nói về sự thô bạo, về sự ngu xuẩn của người đời, về những nỗi đau khổ của họ, cũng miêu tả những kẻ độc ác và đê tiện, nhưng bên cạnh có những người khác, những người mà tôi chưa từng thấy, thậm chí chưa từng nghe nói đến: những người chính trực, cương nghị, chân thật, lập nên chiến công đẹp đẽ, dù có phải hi sinh tính mạng.
Thời gian đầu, say sưa vì cái mới và vì giá trị tinh thần lớn lao của cái thế giới mà sách đã mở ra trước mắt tôi, tôi bắt đầu coi sách tốt đẹp hơn, lí thú hơn, gần gũi hơn với mọi người, và dường như hơi bị quáng loà, tôi nhìn cuộc đời thực qua sách. Nhưng cuộc sống khôn ngoan, khắc nghiệt đã quan tâm chữa cho tôi cái bệnh mù dễ chịu ấy.
[...]
Tôi càng đọc nhiều thì sách càng làm cho tôi gắn bó với thế giới, cuộc đời cũng đối với tôi càng trở nên rực rỡ có ý nghĩa. Tôi thấy rằng có những người sống khổ cực hơn, khó khăn hơn tôi, điều đó an ủi tôi phần nào, tuy vẫn không làm tôi thoả hiệp với cái hiện thực ô nhục. Tôi cũng thấy rằng có những người không biết sống một cách vui thú và sung sướng mà không một người nào xung quanh tôi biết sống như thế. Và hầu như trong mỗi quyển sách đều có cái gì đáng lo ngại, như một tiếng chuông nhè nhẹ lôi cuốn tôi đi, đi tìm cái chưa biết, cái làm tôi xúc động tâm tình. Mọi người đều không bằng lòng với cuộc sống, đều tìm kiếm một cái gì tốt đẹp hơn, và họ trở nên gần gũi hơn, dễ hiểu hơn. Sách làm cho khắp Trái Đất, khắp thế giới tràn ngập nỗi buồn nhớ cái tốt đẹp hơn, và mỗi cuốn sách dường như đều là tâm hồn được ghi lại trên giấy bằng những dấu hiệu và những từ, những dấu hiệu và những từ ấy lập tức trở nên sống động, hễ mắt tôi, trí tuệ tôi tiếp xúc với chúng.
Nhiều lần tôi khóc khi đọc sách, sách kể chuyện hay biết bao về con người, họ trở nên đáng yêu và gần gũi biết bao. Là một thằng bé bị công việc ngu độn làm cho kiệt sức, luôn luôn phải hứng lấy những lời chửi mắng đần độn, tôi trịnh trọng hứa với mình là lớn lên, tôi sẽ giúp đỡ mọi người, hết lòng phục vụ họ.
Như những con chim kì diệu trong truyện cổ tích, sách ca hát về việc cuộc sống đa dạng và phong phú như thế nào, con người táo bạo như thế nào trong khát vọng đạt tới cái thiện và cái đẹp. Và càng đọc, trong lòng tôi càng tràn đầy tinh thần lành mạnh và hăng hái. Tôi trở nên điềm tĩnh hơn, tin ở mình hơn, làm việc hợp lí hơn và ngày càng ít để ý đến vô số những chuyện bực bội trong cuộc sống.
Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ đưa tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con người, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống ấy. [...]
(In trong Tuyển tập truyện ngắn M. Go-rơ-ki, tập hai, NXB Đà Nẵng, 2001, tr. 346 − 363)
Xác định những lí do dẫn đến sự khác biệt giữa nhận thức của tác giả trong quá khứ và ở thời điểm viết tác phẩm. (Chọn 2 đáp án)
TÔI ĐÃ HỌC TẬP NHƯ THẾ NÀO?
(Trích)
M. Go-rơ-ki (M. Gorki)
(Lược dẫn: Được ông ngoại dạy đọc từ năm sáu tuổi, cậu bé Pê-xcốp A-lếch-xây (M. Go-rơ-ki lúc nhỏ) ban đầu học chữ rất nhanh. Nhưng ông của cậu, vì sự nóng vội, cáu kỉnh và thiếu phương pháp, đã khiến cậu bé sinh ra chán học. Sau đó, cậu được gửi đến học tại một ngôi trường của nhà thờ.)
Tôi đến trường với đôi giày của mẹ, với chiếc áo bành tô nhỏ may lại bằng chiếc áo ngoài của bà, với chiếc áo sơ mi màu vàng và chiếc quần "buông chùng". Tất cả những cái đó lập tức bị chế nhạo, vì chiếc sơ mi vàng mà tôi có biệt hiệu "thằng tù khổ sai". Tôi dàn xếp với những thằng bé một cách nhanh chóng, nhưng thầy giáo và cha cố không ưa tôi.
(Lược một đoạn: Pê-xcốp đến lớp thường bị một số ông giáo khó tính không ưa và phân biệt đối xử. Tình trạng này kéo dài khiến cậu bé bị tổn thương nặng nề. Pê-xcốp đã bày ra nhiều trò nghịch ngợm để trả đũa các ông giáo này. Về sau, khi đã lớn khôn và hiểu biết, Pê-xcốp xem đó là những trò "man rợ", đáng phải hối hận.)
Mặc dù tôi học khá, ít lâu sau, người ta bảo rằng tôi bị đuổi khỏi trường vì hạnh kiểm xấu. Tôi chán nản, điều đó sẽ gây cho tôi những chuyện rầy rà lớn.
Nhưng cứu tinh chợt xuất hiện: Giám mục Cri-xan-phơ (Crixanfo) đột nhiên tới trường.
Ông ta người nhỏ bé, mặc bộ áo đen rộng thùng thình, đến ngồi bên bàn, rút tay ra khỏi ống tay áo và nói:
"Nào, ta nói chuyện với nhau đi, các con!". Không khí trong lớp lập tức trở nên ấm áp, vui vẻ, mọi người đều cảm thấy dễ chịu khác thường.
Ông gọi tôi đến gần bàn, sau khi đã gọi nhiều đứa khác và hỏi một cách nghiêm trang:
− Con lên mấy? Có thế thôi à? Sao dài người thế, chú bé? Hay bêu mưa lắm, phải không?
Ông đặt bàn tay khô gầy, với những móng tay to và nhọn lên bàn, nắm lấy chòm râu thưa, nhìn chằm chằm vào mặt tôi bằng đôi mắt hiền từ, và bảo tôi:
− Nào kể cho ta nghe một đoạn trong thánh sử, con thích đoạn nào?
Khi tôi nói rằng tôi không có sách và tôi không học thánh sử, ông sửa lại chiếc mũ giáo sĩ và hỏi:
− Sao lại thế? Cái đó cần phải học chứ! Nhưng có thể con cũng biết đôi chút chăng, có nghe nói đến không? Có biết thánh thi không? Thế thì tốt! Cả những bài cầu nguyện nữa à? Đấy, thấy chưa! Lại còn sự tích các thánh nữa à? Bằng thơ à? Chú bé của ta biết nhiều đấy.
Giáo sĩ của chúng tôi tới, mặt đỏ, thở hổn hển. Giám mục ban phước cho ông ta, nhưng khi ông ta bắt đầu nói về tôi thì giám mục giơ tay nói:
− Xin cha một lát... Nào, kể về A-lếch-xây người của Chúa đi.
− Những vần thơ tuyệt diệu phải không, chú bé? Giám mục nói khi tôi dừng lại vì quên một câu thơ nào đó. Còn gì nữa không?... Về vua Đa-vít (David) hả? Ta chú ý nghe đây.
Tôi thấy rằng quả thực ông ta nghe và ông ta thích thơ. Ông ta hỏi tôi một lúc lâu, rồi bỗng ngăn tôi lại, hỏi nhanh:
− Con học theo thánh thi à? Ai dạy? Ông có hiền không? Ác à? Lẽ nào? Nhưng con nghịch lắm phải không?
Tôi ngập ngừng, nhưng rồi tôi đáp: Vâng. Thầy giáo và giáo sĩ nói rất nhiều để chứng tỏ rằng lời thú nhận của tôi là đúng. Giám mục nghe họ, nhìn xuống, rồi thở dài nói:
− Các thầy nói về con thế đấy, con nghe thấy chứ? Nào, lại gần đây!
Giám mục đặt tay lên đầu tôi − bàn tay thoang thoảng mùi hương gỗ bách và hỏi tôi:
− Tại sao con nghịch ngợm?
− Con chán học lắm.
− Chán à? Không hẳn thế đâu, chú bé ạ. Con mà chán học thì con sẽ học kém, nhưng các thầy đều bảo con học khá. Như vậy là ở đây có nguyên nhân gì khác.
Ông ta rút ở trong ngực ra một cuốn vở con, viết:
− Pê-xcốp A-lếch-xây. Nhưng dù sao con cũng bớt nghịch đi nhé, đừng nghịch nhiều quá. Ít thôi thì được, còn nghịch quá thì mọi người bực mình! Ta nói đúng không các con?
Có tiếng lao xao, vui vẻ trả lời:
− Đúng ạ.
− Chính các con cũng nghịch ít ít thôi phải không?
Những thằng bé tủm tỉm cười, thốt lên:
− Không. Cũng nghịch nhiều ạ! Nghịch nhiều ạ!
Giám mục ngả người lên lưng ghế, ôm chặt tôi vào lòng, nói với vẻ ngạc nhiên, làm cho cả lớp − ngay cả thầy giáo và cha đạo − cũng phải bật cười:
− Quả có thế, các con ạ, hồi bằng tuổi các con, ta cũng nghịch gớm lắm! Vì sao thế, các con nhỉ?
Những đứa trẻ cười, giám mục hỏi chúng, lôi cuốn cả lớp một cách khéo léo, khiến đứa nọ phản đối đứa kia, làm cho không khí mỗi lúc một vui thêm. Cuối cùng, ông đứng lên và nói:
− Ở đây với các con thú lắm, các chú bé nghịch ngợm ạ, nhưng đến lúc ta phải đi rồi!
Ông giơ một tay lên, tay áo tụt tới vai, khoá rộng tay làm dấu và ban phước:
− Nhân danh Cha và Con và Thánh thần, ta ban cho các con mọi sự tấn tới! Tạm biệt.
Tất cả lớp đều thét lên:
− Tạm biệt Đức ông! Mong Đức ông lại tới.
Giám mục gật gật cái mũ cao, nói:
− Ta sẽ đến, thế nào ta cũng đến! Ta sẽ đem sách đến cho các con!
Và khi ra khỏi lớp, ông nói với thầy giáo:
− Cho các trò về đi!
Ông dắt tay tôi ra phòng ngoài và ở đấy, ông cúi xuống gần tôi, khẽ nói:
− Thế con bớt nghịch đi nhé, được không? Ta thì ta hiểu tại sao con nghịch ngợm! Thôi, tạm biệt, chú bé.
Tôi rất xúc động, một tình cảm đặc biệt rộn rực trong ngực tôi, và ngay cả khi thầy giáo đã cho cả lớp về nhưng giữ tôi lại và nói rằng bây giờ tôi phải lặng hơn nước, thấp hơn cỏ thì tôi vui lòng, chăm chú nghe từ đầu đến cuối.
Giáo sĩ vừa mặc áo choàng vừa cất giọng ồm ồm, dịu dàng nói với tôi:
− Từ nay con phải học các giờ của ta! Đúng. Phải học. Nhưng phải ngồi yên. Đúng. Ngồi yên.
[...]
Tôi biết đọc một cách có ý thức năm lên mười bốn tuổi. Trong những năm ấy, tôi đã không chỉ say mê tình tiết của sách − tức là sự phát triển ít nhiều lí thú của những biến cố được đưa ra − mà tôi đã bắt đầu hiểu được vẻ đẹp của những đoạn văn miêu tả, bắt đầu suy nghĩ về tính cách các nhân vật, lờ mờ đoán được mục đích của tác giả cuốn sách và lo ngại cảm thấy sự khác nhau giữa cái mà sách nói đến với cái mà cuộc sống khuyên bảo.
[...]
Phải thương hại con người thật là đau lòng, bao giờ tôi cũng muốn gửi gắm tình yêu sung sướng vào một người nào đó, nhưng chẳng có ai để mà yêu. Tôi càng yêu sách nồng nàn hơn.
Còn có nhiều cái bỉ ổi, tàn bạo, làm tôi chán ghét ghê gớm. Tôi sẽ không nói về điều đó, chính các bạn cũng biết cuộc sống địa ngục ấy, sự nhạo báng không ngớt ấy của người đối với người, niềm say mê bệnh tật ấy, niềm say mê làm khổ nhau, thứ khoái lạc của những kẻ nô lệ. Và chính trong hoàn cảnh đáng nguyền rủa như thế, lần đầu tiên tôi bắt đầu đọc sách hay, nghiêm túc của văn học nước ngoài.
Có lẽ tôi sẽ không truyền đạt đủ rõ và đáng tin cậy để các bạn thấy sự ngạc nhiên của tôi lớn lao như thế nào khi tôi cảm thấy hầu như mỗi cuốn sách đều mở ra trước mắt tôi cánh cửa sổ nhìn vào một thế giới mới chưa từng biết, đều kể với tôi về những con người, những tình cảm, ý nghĩ và những quan hệ mà tôi chưa từng biết, chưa từng thấy. Thậm chí, tôi còn có cảm giác rằng cuộc đời xung quanh tôi, tất cả những khắc nghiệt, bẩn thỉu và tàn bạo hằng ngày diễn ra trước mắt tôi đều không phải là cái có thực, đều là thừa. Cái có thực và cần thiết chỉ ở trong sách, ở đó mọi cái đều hợp lí hơn, đẹp hơn, nhân đạo hơn. Trong các cuốn sách cũng có nói về sự thô bạo, về sự ngu xuẩn của người đời, về những nỗi đau khổ của họ, cũng miêu tả những kẻ độc ác và đê tiện, nhưng bên cạnh có những người khác, những người mà tôi chưa từng thấy, thậm chí chưa từng nghe nói đến: những người chính trực, cương nghị, chân thật, lập nên chiến công đẹp đẽ, dù có phải hi sinh tính mạng.
Thời gian đầu, say sưa vì cái mới và vì giá trị tinh thần lớn lao của cái thế giới mà sách đã mở ra trước mắt tôi, tôi bắt đầu coi sách tốt đẹp hơn, lí thú hơn, gần gũi hơn với mọi người, và dường như hơi bị quáng loà, tôi nhìn cuộc đời thực qua sách. Nhưng cuộc sống khôn ngoan, khắc nghiệt đã quan tâm chữa cho tôi cái bệnh mù dễ chịu ấy.
[...]
Tôi càng đọc nhiều thì sách càng làm cho tôi gắn bó với thế giới, cuộc đời cũng đối với tôi càng trở nên rực rỡ có ý nghĩa. Tôi thấy rằng có những người sống khổ cực hơn, khó khăn hơn tôi, điều đó an ủi tôi phần nào, tuy vẫn không làm tôi thoả hiệp với cái hiện thực ô nhục. Tôi cũng thấy rằng có những người không biết sống một cách vui thú và sung sướng mà không một người nào xung quanh tôi biết sống như thế. Và hầu như trong mỗi quyển sách đều có cái gì đáng lo ngại, như một tiếng chuông nhè nhẹ lôi cuốn tôi đi, đi tìm cái chưa biết, cái làm tôi xúc động tâm tình. Mọi người đều không bằng lòng với cuộc sống, đều tìm kiếm một cái gì tốt đẹp hơn, và họ trở nên gần gũi hơn, dễ hiểu hơn. Sách làm cho khắp Trái Đất, khắp thế giới tràn ngập nỗi buồn nhớ cái tốt đẹp hơn, và mỗi cuốn sách dường như đều là tâm hồn được ghi lại trên giấy bằng những dấu hiệu và những từ, những dấu hiệu và những từ ấy lập tức trở nên sống động, hễ mắt tôi, trí tuệ tôi tiếp xúc với chúng.
Nhiều lần tôi khóc khi đọc sách, sách kể chuyện hay biết bao về con người, họ trở nên đáng yêu và gần gũi biết bao. Là một thằng bé bị công việc ngu độn làm cho kiệt sức, luôn luôn phải hứng lấy những lời chửi mắng đần độn, tôi trịnh trọng hứa với mình là lớn lên, tôi sẽ giúp đỡ mọi người, hết lòng phục vụ họ.
Như những con chim kì diệu trong truyện cổ tích, sách ca hát về việc cuộc sống đa dạng và phong phú như thế nào, con người táo bạo như thế nào trong khát vọng đạt tới cái thiện và cái đẹp. Và càng đọc, trong lòng tôi càng tràn đầy tinh thần lành mạnh và hăng hái. Tôi trở nên điềm tĩnh hơn, tin ở mình hơn, làm việc hợp lí hơn và ngày càng ít để ý đến vô số những chuyện bực bội trong cuộc sống.
Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ đưa tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con người, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống ấy. [...]
(In trong Tuyển tập truyện ngắn M. Go-rơ-ki, tập hai, NXB Đà Nẵng, 2001, tr. 346 − 363)
Sắp xếp các nội dung dưới đây theo trình tự thời gian để làm rõ sự trải nghiệm thực tế đời sống của Pê-xcốp.
- Từ những sự việc xảy ra và quá trình tự học tập, dần dần tự nhận thức và biết phân biệt đúng − sai.
- Hoàn cảnh bị ghẻ lạnh, phân biệt.
- Sau này nhận thức được hành động trong quá khứ là đáng xấu hổ.
- Bày ra nhiều trò nghịch ngợm trả đũa thầy giáo.
TÔI ĐÃ HỌC TẬP NHƯ THẾ NÀO?
(Trích)
M. Go-rơ-ki (M. Gorki)
(Lược dẫn: Được ông ngoại dạy đọc từ năm sáu tuổi, cậu bé Pê-xcốp A-lếch-xây (M. Go-rơ-ki lúc nhỏ) ban đầu học chữ rất nhanh. Nhưng ông của cậu, vì sự nóng vội, cáu kỉnh và thiếu phương pháp, đã khiến cậu bé sinh ra chán học. Sau đó, cậu được gửi đến học tại một ngôi trường của nhà thờ.)
Tôi đến trường với đôi giày của mẹ, với chiếc áo bành tô nhỏ may lại bằng chiếc áo ngoài của bà, với chiếc áo sơ mi màu vàng và chiếc quần "buông chùng". Tất cả những cái đó lập tức bị chế nhạo, vì chiếc sơ mi vàng mà tôi có biệt hiệu "thằng tù khổ sai". Tôi dàn xếp với những thằng bé một cách nhanh chóng, nhưng thầy giáo và cha cố không ưa tôi.
(Lược một đoạn: Pê-xcốp đến lớp thường bị một số ông giáo khó tính không ưa và phân biệt đối xử. Tình trạng này kéo dài khiến cậu bé bị tổn thương nặng nề. Pê-xcốp đã bày ra nhiều trò nghịch ngợm để trả đũa các ông giáo này. Về sau, khi đã lớn khôn và hiểu biết, Pê-xcốp xem đó là những trò "man rợ", đáng phải hối hận.)
Mặc dù tôi học khá, ít lâu sau, người ta bảo rằng tôi bị đuổi khỏi trường vì hạnh kiểm xấu. Tôi chán nản, điều đó sẽ gây cho tôi những chuyện rầy rà lớn.
Nhưng cứu tinh chợt xuất hiện: Giám mục Cri-xan-phơ (Crixanfo) đột nhiên tới trường.
Ông ta người nhỏ bé, mặc bộ áo đen rộng thùng thình, đến ngồi bên bàn, rút tay ra khỏi ống tay áo và nói:
"Nào, ta nói chuyện với nhau đi, các con!". Không khí trong lớp lập tức trở nên ấm áp, vui vẻ, mọi người đều cảm thấy dễ chịu khác thường.
Ông gọi tôi đến gần bàn, sau khi đã gọi nhiều đứa khác và hỏi một cách nghiêm trang:
− Con lên mấy? Có thế thôi à? Sao dài người thế, chú bé? Hay bêu mưa lắm, phải không?
Ông đặt bàn tay khô gầy, với những móng tay to và nhọn lên bàn, nắm lấy chòm râu thưa, nhìn chằm chằm vào mặt tôi bằng đôi mắt hiền từ, và bảo tôi:
− Nào kể cho ta nghe một đoạn trong thánh sử, con thích đoạn nào?
Khi tôi nói rằng tôi không có sách và tôi không học thánh sử, ông sửa lại chiếc mũ giáo sĩ và hỏi:
− Sao lại thế? Cái đó cần phải học chứ! Nhưng có thể con cũng biết đôi chút chăng, có nghe nói đến không? Có biết thánh thi không? Thế thì tốt! Cả những bài cầu nguyện nữa à? Đấy, thấy chưa! Lại còn sự tích các thánh nữa à? Bằng thơ à? Chú bé của ta biết nhiều đấy.
Giáo sĩ của chúng tôi tới, mặt đỏ, thở hổn hển. Giám mục ban phước cho ông ta, nhưng khi ông ta bắt đầu nói về tôi thì giám mục giơ tay nói:
− Xin cha một lát... Nào, kể về A-lếch-xây người của Chúa đi.
− Những vần thơ tuyệt diệu phải không, chú bé? Giám mục nói khi tôi dừng lại vì quên một câu thơ nào đó. Còn gì nữa không?... Về vua Đa-vít (David) hả? Ta chú ý nghe đây.
Tôi thấy rằng quả thực ông ta nghe và ông ta thích thơ. Ông ta hỏi tôi một lúc lâu, rồi bỗng ngăn tôi lại, hỏi nhanh:
− Con học theo thánh thi à? Ai dạy? Ông có hiền không? Ác à? Lẽ nào? Nhưng con nghịch lắm phải không?
Tôi ngập ngừng, nhưng rồi tôi đáp: Vâng. Thầy giáo và giáo sĩ nói rất nhiều để chứng tỏ rằng lời thú nhận của tôi là đúng. Giám mục nghe họ, nhìn xuống, rồi thở dài nói:
− Các thầy nói về con thế đấy, con nghe thấy chứ? Nào, lại gần đây!
Giám mục đặt tay lên đầu tôi − bàn tay thoang thoảng mùi hương gỗ bách và hỏi tôi:
− Tại sao con nghịch ngợm?
− Con chán học lắm.
− Chán à? Không hẳn thế đâu, chú bé ạ. Con mà chán học thì con sẽ học kém, nhưng các thầy đều bảo con học khá. Như vậy là ở đây có nguyên nhân gì khác.
Ông ta rút ở trong ngực ra một cuốn vở con, viết:
− Pê-xcốp A-lếch-xây. Nhưng dù sao con cũng bớt nghịch đi nhé, đừng nghịch nhiều quá. Ít thôi thì được, còn nghịch quá thì mọi người bực mình! Ta nói đúng không các con?
Có tiếng lao xao, vui vẻ trả lời:
− Đúng ạ.
− Chính các con cũng nghịch ít ít thôi phải không?
Những thằng bé tủm tỉm cười, thốt lên:
− Không. Cũng nghịch nhiều ạ! Nghịch nhiều ạ!
Giám mục ngả người lên lưng ghế, ôm chặt tôi vào lòng, nói với vẻ ngạc nhiên, làm cho cả lớp − ngay cả thầy giáo và cha đạo − cũng phải bật cười:
− Quả có thế, các con ạ, hồi bằng tuổi các con, ta cũng nghịch gớm lắm! Vì sao thế, các con nhỉ?
Những đứa trẻ cười, giám mục hỏi chúng, lôi cuốn cả lớp một cách khéo léo, khiến đứa nọ phản đối đứa kia, làm cho không khí mỗi lúc một vui thêm. Cuối cùng, ông đứng lên và nói:
− Ở đây với các con thú lắm, các chú bé nghịch ngợm ạ, nhưng đến lúc ta phải đi rồi!
Ông giơ một tay lên, tay áo tụt tới vai, khoá rộng tay làm dấu và ban phước:
− Nhân danh Cha và Con và Thánh thần, ta ban cho các con mọi sự tấn tới! Tạm biệt.
Tất cả lớp đều thét lên:
− Tạm biệt Đức ông! Mong Đức ông lại tới.
Giám mục gật gật cái mũ cao, nói:
− Ta sẽ đến, thế nào ta cũng đến! Ta sẽ đem sách đến cho các con!
Và khi ra khỏi lớp, ông nói với thầy giáo:
− Cho các trò về đi!
Ông dắt tay tôi ra phòng ngoài và ở đấy, ông cúi xuống gần tôi, khẽ nói:
− Thế con bớt nghịch đi nhé, được không? Ta thì ta hiểu tại sao con nghịch ngợm! Thôi, tạm biệt, chú bé.
Tôi rất xúc động, một tình cảm đặc biệt rộn rực trong ngực tôi, và ngay cả khi thầy giáo đã cho cả lớp về nhưng giữ tôi lại và nói rằng bây giờ tôi phải lặng hơn nước, thấp hơn cỏ thì tôi vui lòng, chăm chú nghe từ đầu đến cuối.
Giáo sĩ vừa mặc áo choàng vừa cất giọng ồm ồm, dịu dàng nói với tôi:
− Từ nay con phải học các giờ của ta! Đúng. Phải học. Nhưng phải ngồi yên. Đúng. Ngồi yên.
[...]
Tôi biết đọc một cách có ý thức năm lên mười bốn tuổi. Trong những năm ấy, tôi đã không chỉ say mê tình tiết của sách − tức là sự phát triển ít nhiều lí thú của những biến cố được đưa ra − mà tôi đã bắt đầu hiểu được vẻ đẹp của những đoạn văn miêu tả, bắt đầu suy nghĩ về tính cách các nhân vật, lờ mờ đoán được mục đích của tác giả cuốn sách và lo ngại cảm thấy sự khác nhau giữa cái mà sách nói đến với cái mà cuộc sống khuyên bảo.
[...]
Phải thương hại con người thật là đau lòng, bao giờ tôi cũng muốn gửi gắm tình yêu sung sướng vào một người nào đó, nhưng chẳng có ai để mà yêu. Tôi càng yêu sách nồng nàn hơn.
Còn có nhiều cái bỉ ổi, tàn bạo, làm tôi chán ghét ghê gớm. Tôi sẽ không nói về điều đó, chính các bạn cũng biết cuộc sống địa ngục ấy, sự nhạo báng không ngớt ấy của người đối với người, niềm say mê bệnh tật ấy, niềm say mê làm khổ nhau, thứ khoái lạc của những kẻ nô lệ. Và chính trong hoàn cảnh đáng nguyền rủa như thế, lần đầu tiên tôi bắt đầu đọc sách hay, nghiêm túc của văn học nước ngoài.
Có lẽ tôi sẽ không truyền đạt đủ rõ và đáng tin cậy để các bạn thấy sự ngạc nhiên của tôi lớn lao như thế nào khi tôi cảm thấy hầu như mỗi cuốn sách đều mở ra trước mắt tôi cánh cửa sổ nhìn vào một thế giới mới chưa từng biết, đều kể với tôi về những con người, những tình cảm, ý nghĩ và những quan hệ mà tôi chưa từng biết, chưa từng thấy. Thậm chí, tôi còn có cảm giác rằng cuộc đời xung quanh tôi, tất cả những khắc nghiệt, bẩn thỉu và tàn bạo hằng ngày diễn ra trước mắt tôi đều không phải là cái có thực, đều là thừa. Cái có thực và cần thiết chỉ ở trong sách, ở đó mọi cái đều hợp lí hơn, đẹp hơn, nhân đạo hơn. Trong các cuốn sách cũng có nói về sự thô bạo, về sự ngu xuẩn của người đời, về những nỗi đau khổ của họ, cũng miêu tả những kẻ độc ác và đê tiện, nhưng bên cạnh có những người khác, những người mà tôi chưa từng thấy, thậm chí chưa từng nghe nói đến: những người chính trực, cương nghị, chân thật, lập nên chiến công đẹp đẽ, dù có phải hi sinh tính mạng.
Thời gian đầu, say sưa vì cái mới và vì giá trị tinh thần lớn lao của cái thế giới mà sách đã mở ra trước mắt tôi, tôi bắt đầu coi sách tốt đẹp hơn, lí thú hơn, gần gũi hơn với mọi người, và dường như hơi bị quáng loà, tôi nhìn cuộc đời thực qua sách. Nhưng cuộc sống khôn ngoan, khắc nghiệt đã quan tâm chữa cho tôi cái bệnh mù dễ chịu ấy.
[...]
Tôi càng đọc nhiều thì sách càng làm cho tôi gắn bó với thế giới, cuộc đời cũng đối với tôi càng trở nên rực rỡ có ý nghĩa. Tôi thấy rằng có những người sống khổ cực hơn, khó khăn hơn tôi, điều đó an ủi tôi phần nào, tuy vẫn không làm tôi thoả hiệp với cái hiện thực ô nhục. Tôi cũng thấy rằng có những người không biết sống một cách vui thú và sung sướng mà không một người nào xung quanh tôi biết sống như thế. Và hầu như trong mỗi quyển sách đều có cái gì đáng lo ngại, như một tiếng chuông nhè nhẹ lôi cuốn tôi đi, đi tìm cái chưa biết, cái làm tôi xúc động tâm tình. Mọi người đều không bằng lòng với cuộc sống, đều tìm kiếm một cái gì tốt đẹp hơn, và họ trở nên gần gũi hơn, dễ hiểu hơn. Sách làm cho khắp Trái Đất, khắp thế giới tràn ngập nỗi buồn nhớ cái tốt đẹp hơn, và mỗi cuốn sách dường như đều là tâm hồn được ghi lại trên giấy bằng những dấu hiệu và những từ, những dấu hiệu và những từ ấy lập tức trở nên sống động, hễ mắt tôi, trí tuệ tôi tiếp xúc với chúng.
Nhiều lần tôi khóc khi đọc sách, sách kể chuyện hay biết bao về con người, họ trở nên đáng yêu và gần gũi biết bao. Là một thằng bé bị công việc ngu độn làm cho kiệt sức, luôn luôn phải hứng lấy những lời chửi mắng đần độn, tôi trịnh trọng hứa với mình là lớn lên, tôi sẽ giúp đỡ mọi người, hết lòng phục vụ họ.
Như những con chim kì diệu trong truyện cổ tích, sách ca hát về việc cuộc sống đa dạng và phong phú như thế nào, con người táo bạo như thế nào trong khát vọng đạt tới cái thiện và cái đẹp. Và càng đọc, trong lòng tôi càng tràn đầy tinh thần lành mạnh và hăng hái. Tôi trở nên điềm tĩnh hơn, tin ở mình hơn, làm việc hợp lí hơn và ngày càng ít để ý đến vô số những chuyện bực bội trong cuộc sống.
Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ đưa tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con người, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống ấy. [...]
(In trong Tuyển tập truyện ngắn M. Go-rơ-ki, tập hai, NXB Đà Nẵng, 2001, tr. 346 − 363)
Đâu là những trạng thái, phản ứng, suy nghĩ của Pê-xcốp khi đọc sách? (Chọn 3 đáp án)
TÔI ĐÃ HỌC TẬP NHƯ THẾ NÀO?
(Trích)
M. Go-rơ-ki (M. Gorki)
(Lược dẫn: Được ông ngoại dạy đọc từ năm sáu tuổi, cậu bé Pê-xcốp A-lếch-xây (M. Go-rơ-ki lúc nhỏ) ban đầu học chữ rất nhanh. Nhưng ông của cậu, vì sự nóng vội, cáu kỉnh và thiếu phương pháp, đã khiến cậu bé sinh ra chán học. Sau đó, cậu được gửi đến học tại một ngôi trường của nhà thờ.)
Tôi đến trường với đôi giày của mẹ, với chiếc áo bành tô nhỏ may lại bằng chiếc áo ngoài của bà, với chiếc áo sơ mi màu vàng và chiếc quần "buông chùng". Tất cả những cái đó lập tức bị chế nhạo, vì chiếc sơ mi vàng mà tôi có biệt hiệu "thằng tù khổ sai". Tôi dàn xếp với những thằng bé một cách nhanh chóng, nhưng thầy giáo và cha cố không ưa tôi.
(Lược một đoạn: Pê-xcốp đến lớp thường bị một số ông giáo khó tính không ưa và phân biệt đối xử. Tình trạng này kéo dài khiến cậu bé bị tổn thương nặng nề. Pê-xcốp đã bày ra nhiều trò nghịch ngợm để trả đũa các ông giáo này. Về sau, khi đã lớn khôn và hiểu biết, Pê-xcốp xem đó là những trò "man rợ", đáng phải hối hận.)
Mặc dù tôi học khá, ít lâu sau, người ta bảo rằng tôi bị đuổi khỏi trường vì hạnh kiểm xấu. Tôi chán nản, điều đó sẽ gây cho tôi những chuyện rầy rà lớn.
Nhưng cứu tinh chợt xuất hiện: Giám mục Cri-xan-phơ (Crixanfo) đột nhiên tới trường.
Ông ta người nhỏ bé, mặc bộ áo đen rộng thùng thình, đến ngồi bên bàn, rút tay ra khỏi ống tay áo và nói:
"Nào, ta nói chuyện với nhau đi, các con!". Không khí trong lớp lập tức trở nên ấm áp, vui vẻ, mọi người đều cảm thấy dễ chịu khác thường.
Ông gọi tôi đến gần bàn, sau khi đã gọi nhiều đứa khác và hỏi một cách nghiêm trang:
− Con lên mấy? Có thế thôi à? Sao dài người thế, chú bé? Hay bêu mưa lắm, phải không?
Ông đặt bàn tay khô gầy, với những móng tay to và nhọn lên bàn, nắm lấy chòm râu thưa, nhìn chằm chằm vào mặt tôi bằng đôi mắt hiền từ, và bảo tôi:
− Nào kể cho ta nghe một đoạn trong thánh sử, con thích đoạn nào?
Khi tôi nói rằng tôi không có sách và tôi không học thánh sử, ông sửa lại chiếc mũ giáo sĩ và hỏi:
− Sao lại thế? Cái đó cần phải học chứ! Nhưng có thể con cũng biết đôi chút chăng, có nghe nói đến không? Có biết thánh thi không? Thế thì tốt! Cả những bài cầu nguyện nữa à? Đấy, thấy chưa! Lại còn sự tích các thánh nữa à? Bằng thơ à? Chú bé của ta biết nhiều đấy.
Giáo sĩ của chúng tôi tới, mặt đỏ, thở hổn hển. Giám mục ban phước cho ông ta, nhưng khi ông ta bắt đầu nói về tôi thì giám mục giơ tay nói:
− Xin cha một lát... Nào, kể về A-lếch-xây người của Chúa đi.
− Những vần thơ tuyệt diệu phải không, chú bé? Giám mục nói khi tôi dừng lại vì quên một câu thơ nào đó. Còn gì nữa không?... Về vua Đa-vít (David) hả? Ta chú ý nghe đây.
Tôi thấy rằng quả thực ông ta nghe và ông ta thích thơ. Ông ta hỏi tôi một lúc lâu, rồi bỗng ngăn tôi lại, hỏi nhanh:
− Con học theo thánh thi à? Ai dạy? Ông có hiền không? Ác à? Lẽ nào? Nhưng con nghịch lắm phải không?
Tôi ngập ngừng, nhưng rồi tôi đáp: Vâng. Thầy giáo và giáo sĩ nói rất nhiều để chứng tỏ rằng lời thú nhận của tôi là đúng. Giám mục nghe họ, nhìn xuống, rồi thở dài nói:
− Các thầy nói về con thế đấy, con nghe thấy chứ? Nào, lại gần đây!
Giám mục đặt tay lên đầu tôi − bàn tay thoang thoảng mùi hương gỗ bách và hỏi tôi:
− Tại sao con nghịch ngợm?
− Con chán học lắm.
− Chán à? Không hẳn thế đâu, chú bé ạ. Con mà chán học thì con sẽ học kém, nhưng các thầy đều bảo con học khá. Như vậy là ở đây có nguyên nhân gì khác.
Ông ta rút ở trong ngực ra một cuốn vở con, viết:
− Pê-xcốp A-lếch-xây. Nhưng dù sao con cũng bớt nghịch đi nhé, đừng nghịch nhiều quá. Ít thôi thì được, còn nghịch quá thì mọi người bực mình! Ta nói đúng không các con?
Có tiếng lao xao, vui vẻ trả lời:
− Đúng ạ.
− Chính các con cũng nghịch ít ít thôi phải không?
Những thằng bé tủm tỉm cười, thốt lên:
− Không. Cũng nghịch nhiều ạ! Nghịch nhiều ạ!
Giám mục ngả người lên lưng ghế, ôm chặt tôi vào lòng, nói với vẻ ngạc nhiên, làm cho cả lớp − ngay cả thầy giáo và cha đạo − cũng phải bật cười:
− Quả có thế, các con ạ, hồi bằng tuổi các con, ta cũng nghịch gớm lắm! Vì sao thế, các con nhỉ?
Những đứa trẻ cười, giám mục hỏi chúng, lôi cuốn cả lớp một cách khéo léo, khiến đứa nọ phản đối đứa kia, làm cho không khí mỗi lúc một vui thêm. Cuối cùng, ông đứng lên và nói:
− Ở đây với các con thú lắm, các chú bé nghịch ngợm ạ, nhưng đến lúc ta phải đi rồi!
Ông giơ một tay lên, tay áo tụt tới vai, khoá rộng tay làm dấu và ban phước:
− Nhân danh Cha và Con và Thánh thần, ta ban cho các con mọi sự tấn tới! Tạm biệt.
Tất cả lớp đều thét lên:
− Tạm biệt Đức ông! Mong Đức ông lại tới.
Giám mục gật gật cái mũ cao, nói:
− Ta sẽ đến, thế nào ta cũng đến! Ta sẽ đem sách đến cho các con!
Và khi ra khỏi lớp, ông nói với thầy giáo:
− Cho các trò về đi!
Ông dắt tay tôi ra phòng ngoài và ở đấy, ông cúi xuống gần tôi, khẽ nói:
− Thế con bớt nghịch đi nhé, được không? Ta thì ta hiểu tại sao con nghịch ngợm! Thôi, tạm biệt, chú bé.
Tôi rất xúc động, một tình cảm đặc biệt rộn rực trong ngực tôi, và ngay cả khi thầy giáo đã cho cả lớp về nhưng giữ tôi lại và nói rằng bây giờ tôi phải lặng hơn nước, thấp hơn cỏ thì tôi vui lòng, chăm chú nghe từ đầu đến cuối.
Giáo sĩ vừa mặc áo choàng vừa cất giọng ồm ồm, dịu dàng nói với tôi:
− Từ nay con phải học các giờ của ta! Đúng. Phải học. Nhưng phải ngồi yên. Đúng. Ngồi yên.
[...]
Tôi biết đọc một cách có ý thức năm lên mười bốn tuổi. Trong những năm ấy, tôi đã không chỉ say mê tình tiết của sách − tức là sự phát triển ít nhiều lí thú của những biến cố được đưa ra − mà tôi đã bắt đầu hiểu được vẻ đẹp của những đoạn văn miêu tả, bắt đầu suy nghĩ về tính cách các nhân vật, lờ mờ đoán được mục đích của tác giả cuốn sách và lo ngại cảm thấy sự khác nhau giữa cái mà sách nói đến với cái mà cuộc sống khuyên bảo.
[...]
Phải thương hại con người thật là đau lòng, bao giờ tôi cũng muốn gửi gắm tình yêu sung sướng vào một người nào đó, nhưng chẳng có ai để mà yêu. Tôi càng yêu sách nồng nàn hơn.
Còn có nhiều cái bỉ ổi, tàn bạo, làm tôi chán ghét ghê gớm. Tôi sẽ không nói về điều đó, chính các bạn cũng biết cuộc sống địa ngục ấy, sự nhạo báng không ngớt ấy của người đối với người, niềm say mê bệnh tật ấy, niềm say mê làm khổ nhau, thứ khoái lạc của những kẻ nô lệ. Và chính trong hoàn cảnh đáng nguyền rủa như thế, lần đầu tiên tôi bắt đầu đọc sách hay, nghiêm túc của văn học nước ngoài.
Có lẽ tôi sẽ không truyền đạt đủ rõ và đáng tin cậy để các bạn thấy sự ngạc nhiên của tôi lớn lao như thế nào khi tôi cảm thấy hầu như mỗi cuốn sách đều mở ra trước mắt tôi cánh cửa sổ nhìn vào một thế giới mới chưa từng biết, đều kể với tôi về những con người, những tình cảm, ý nghĩ và những quan hệ mà tôi chưa từng biết, chưa từng thấy. Thậm chí, tôi còn có cảm giác rằng cuộc đời xung quanh tôi, tất cả những khắc nghiệt, bẩn thỉu và tàn bạo hằng ngày diễn ra trước mắt tôi đều không phải là cái có thực, đều là thừa. Cái có thực và cần thiết chỉ ở trong sách, ở đó mọi cái đều hợp lí hơn, đẹp hơn, nhân đạo hơn. Trong các cuốn sách cũng có nói về sự thô bạo, về sự ngu xuẩn của người đời, về những nỗi đau khổ của họ, cũng miêu tả những kẻ độc ác và đê tiện, nhưng bên cạnh có những người khác, những người mà tôi chưa từng thấy, thậm chí chưa từng nghe nói đến: những người chính trực, cương nghị, chân thật, lập nên chiến công đẹp đẽ, dù có phải hi sinh tính mạng.
Thời gian đầu, say sưa vì cái mới và vì giá trị tinh thần lớn lao của cái thế giới mà sách đã mở ra trước mắt tôi, tôi bắt đầu coi sách tốt đẹp hơn, lí thú hơn, gần gũi hơn với mọi người, và dường như hơi bị quáng loà, tôi nhìn cuộc đời thực qua sách. Nhưng cuộc sống khôn ngoan, khắc nghiệt đã quan tâm chữa cho tôi cái bệnh mù dễ chịu ấy.
[...]
Tôi càng đọc nhiều thì sách càng làm cho tôi gắn bó với thế giới, cuộc đời cũng đối với tôi càng trở nên rực rỡ có ý nghĩa. Tôi thấy rằng có những người sống khổ cực hơn, khó khăn hơn tôi, điều đó an ủi tôi phần nào, tuy vẫn không làm tôi thoả hiệp với cái hiện thực ô nhục. Tôi cũng thấy rằng có những người không biết sống một cách vui thú và sung sướng mà không một người nào xung quanh tôi biết sống như thế. Và hầu như trong mỗi quyển sách đều có cái gì đáng lo ngại, như một tiếng chuông nhè nhẹ lôi cuốn tôi đi, đi tìm cái chưa biết, cái làm tôi xúc động tâm tình. Mọi người đều không bằng lòng với cuộc sống, đều tìm kiếm một cái gì tốt đẹp hơn, và họ trở nên gần gũi hơn, dễ hiểu hơn. Sách làm cho khắp Trái Đất, khắp thế giới tràn ngập nỗi buồn nhớ cái tốt đẹp hơn, và mỗi cuốn sách dường như đều là tâm hồn được ghi lại trên giấy bằng những dấu hiệu và những từ, những dấu hiệu và những từ ấy lập tức trở nên sống động, hễ mắt tôi, trí tuệ tôi tiếp xúc với chúng.
Nhiều lần tôi khóc khi đọc sách, sách kể chuyện hay biết bao về con người, họ trở nên đáng yêu và gần gũi biết bao. Là một thằng bé bị công việc ngu độn làm cho kiệt sức, luôn luôn phải hứng lấy những lời chửi mắng đần độn, tôi trịnh trọng hứa với mình là lớn lên, tôi sẽ giúp đỡ mọi người, hết lòng phục vụ họ.
Như những con chim kì diệu trong truyện cổ tích, sách ca hát về việc cuộc sống đa dạng và phong phú như thế nào, con người táo bạo như thế nào trong khát vọng đạt tới cái thiện và cái đẹp. Và càng đọc, trong lòng tôi càng tràn đầy tinh thần lành mạnh và hăng hái. Tôi trở nên điềm tĩnh hơn, tin ở mình hơn, làm việc hợp lí hơn và ngày càng ít để ý đến vô số những chuyện bực bội trong cuộc sống.
Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ đưa tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con người, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống ấy. [...]
(In trong Tuyển tập truyện ngắn M. Go-rơ-ki, tập hai, NXB Đà Nẵng, 2001, tr. 346 − 363)
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.
Qua văn bản "Tôi đã học tập như thế nào?", tác giả M. Go-rơ-ki đã gửi gắm nhiều thông điệp sâu sắc, có ý nghĩa vượt . Thứ nhất, sách có sức mạnh mở ra những chân trời mới, giúp con người mở rộng và hoàn thiện ; vì vậy, mỗi người cần chủ động tự học, tự bồi dưỡng tri thức từ sách cũng như từ cuộc sống. Thứ hai, tình yêu thương và sự thấu hiểu trong giáo dục có thể , thức tỉnh con người, giúp họ nhận ra và nuôi dưỡng phần "người" tốt đẹp, phần "thú" thấp kém trong bản thân. Cuối cùng, tác phẩm khẳng định rằng dù hoàn cảnh có khắc nghiệt, con người vẫn có thể vươn lên để sống và ý nghĩa hơn.
TÔI ĐÃ HỌC TẬP NHƯ THẾ NÀO?
(Trích)
M. Go-rơ-ki (M. Gorki)
(Lược dẫn: Được ông ngoại dạy đọc từ năm sáu tuổi, cậu bé Pê-xcốp A-lếch-xây (M. Go-rơ-ki lúc nhỏ) ban đầu học chữ rất nhanh. Nhưng ông của cậu, vì sự nóng vội, cáu kỉnh và thiếu phương pháp, đã khiến cậu bé sinh ra chán học. Sau đó, cậu được gửi đến học tại một ngôi trường của nhà thờ.)
Tôi đến trường với đôi giày của mẹ, với chiếc áo bành tô nhỏ may lại bằng chiếc áo ngoài của bà, với chiếc áo sơ mi màu vàng và chiếc quần "buông chùng". Tất cả những cái đó lập tức bị chế nhạo, vì chiếc sơ mi vàng mà tôi có biệt hiệu "thằng tù khổ sai". Tôi dàn xếp với những thằng bé một cách nhanh chóng, nhưng thầy giáo và cha cố không ưa tôi.
(Lược một đoạn: Pê-xcốp đến lớp thường bị một số ông giáo khó tính không ưa và phân biệt đối xử. Tình trạng này kéo dài khiến cậu bé bị tổn thương nặng nề. Pê-xcốp đã bày ra nhiều trò nghịch ngợm để trả đũa các ông giáo này. Về sau, khi đã lớn khôn và hiểu biết, Pê-xcốp xem đó là những trò "man rợ", đáng phải hối hận.)
Mặc dù tôi học khá, ít lâu sau, người ta bảo rằng tôi bị đuổi khỏi trường vì hạnh kiểm xấu. Tôi chán nản, điều đó sẽ gây cho tôi những chuyện rầy rà lớn.
Nhưng cứu tinh chợt xuất hiện: Giám mục Cri-xan-phơ (Crixanfo) đột nhiên tới trường.
Ông ta người nhỏ bé, mặc bộ áo đen rộng thùng thình, đến ngồi bên bàn, rút tay ra khỏi ống tay áo và nói:
"Nào, ta nói chuyện với nhau đi, các con!". Không khí trong lớp lập tức trở nên ấm áp, vui vẻ, mọi người đều cảm thấy dễ chịu khác thường.
Ông gọi tôi đến gần bàn, sau khi đã gọi nhiều đứa khác và hỏi một cách nghiêm trang:
− Con lên mấy? Có thế thôi à? Sao dài người thế, chú bé? Hay bêu mưa lắm, phải không?
Ông đặt bàn tay khô gầy, với những móng tay to và nhọn lên bàn, nắm lấy chòm râu thưa, nhìn chằm chằm vào mặt tôi bằng đôi mắt hiền từ, và bảo tôi:
− Nào kể cho ta nghe một đoạn trong thánh sử, con thích đoạn nào?
Khi tôi nói rằng tôi không có sách và tôi không học thánh sử, ông sửa lại chiếc mũ giáo sĩ và hỏi:
− Sao lại thế? Cái đó cần phải học chứ! Nhưng có thể con cũng biết đôi chút chăng, có nghe nói đến không? Có biết thánh thi không? Thế thì tốt! Cả những bài cầu nguyện nữa à? Đấy, thấy chưa! Lại còn sự tích các thánh nữa à? Bằng thơ à? Chú bé của ta biết nhiều đấy.
Giáo sĩ của chúng tôi tới, mặt đỏ, thở hổn hển. Giám mục ban phước cho ông ta, nhưng khi ông ta bắt đầu nói về tôi thì giám mục giơ tay nói:
− Xin cha một lát... Nào, kể về A-lếch-xây người của Chúa đi.
− Những vần thơ tuyệt diệu phải không, chú bé? Giám mục nói khi tôi dừng lại vì quên một câu thơ nào đó. Còn gì nữa không?... Về vua Đa-vít (David) hả? Ta chú ý nghe đây.
Tôi thấy rằng quả thực ông ta nghe và ông ta thích thơ. Ông ta hỏi tôi một lúc lâu, rồi bỗng ngăn tôi lại, hỏi nhanh:
− Con học theo thánh thi à? Ai dạy? Ông có hiền không? Ác à? Lẽ nào? Nhưng con nghịch lắm phải không?
Tôi ngập ngừng, nhưng rồi tôi đáp: Vâng. Thầy giáo và giáo sĩ nói rất nhiều để chứng tỏ rằng lời thú nhận của tôi là đúng. Giám mục nghe họ, nhìn xuống, rồi thở dài nói:
− Các thầy nói về con thế đấy, con nghe thấy chứ? Nào, lại gần đây!
Giám mục đặt tay lên đầu tôi − bàn tay thoang thoảng mùi hương gỗ bách và hỏi tôi:
− Tại sao con nghịch ngợm?
− Con chán học lắm.
− Chán à? Không hẳn thế đâu, chú bé ạ. Con mà chán học thì con sẽ học kém, nhưng các thầy đều bảo con học khá. Như vậy là ở đây có nguyên nhân gì khác.
Ông ta rút ở trong ngực ra một cuốn vở con, viết:
− Pê-xcốp A-lếch-xây. Nhưng dù sao con cũng bớt nghịch đi nhé, đừng nghịch nhiều quá. Ít thôi thì được, còn nghịch quá thì mọi người bực mình! Ta nói đúng không các con?
Có tiếng lao xao, vui vẻ trả lời:
− Đúng ạ.
− Chính các con cũng nghịch ít ít thôi phải không?
Những thằng bé tủm tỉm cười, thốt lên:
− Không. Cũng nghịch nhiều ạ! Nghịch nhiều ạ!
Giám mục ngả người lên lưng ghế, ôm chặt tôi vào lòng, nói với vẻ ngạc nhiên, làm cho cả lớp − ngay cả thầy giáo và cha đạo − cũng phải bật cười:
− Quả có thế, các con ạ, hồi bằng tuổi các con, ta cũng nghịch gớm lắm! Vì sao thế, các con nhỉ?
Những đứa trẻ cười, giám mục hỏi chúng, lôi cuốn cả lớp một cách khéo léo, khiến đứa nọ phản đối đứa kia, làm cho không khí mỗi lúc một vui thêm. Cuối cùng, ông đứng lên và nói:
− Ở đây với các con thú lắm, các chú bé nghịch ngợm ạ, nhưng đến lúc ta phải đi rồi!
Ông giơ một tay lên, tay áo tụt tới vai, khoá rộng tay làm dấu và ban phước:
− Nhân danh Cha và Con và Thánh thần, ta ban cho các con mọi sự tấn tới! Tạm biệt.
Tất cả lớp đều thét lên:
− Tạm biệt Đức ông! Mong Đức ông lại tới.
Giám mục gật gật cái mũ cao, nói:
− Ta sẽ đến, thế nào ta cũng đến! Ta sẽ đem sách đến cho các con!
Và khi ra khỏi lớp, ông nói với thầy giáo:
− Cho các trò về đi!
Ông dắt tay tôi ra phòng ngoài và ở đấy, ông cúi xuống gần tôi, khẽ nói:
− Thế con bớt nghịch đi nhé, được không? Ta thì ta hiểu tại sao con nghịch ngợm! Thôi, tạm biệt, chú bé.
Tôi rất xúc động, một tình cảm đặc biệt rộn rực trong ngực tôi, và ngay cả khi thầy giáo đã cho cả lớp về nhưng giữ tôi lại và nói rằng bây giờ tôi phải lặng hơn nước, thấp hơn cỏ thì tôi vui lòng, chăm chú nghe từ đầu đến cuối.
Giáo sĩ vừa mặc áo choàng vừa cất giọng ồm ồm, dịu dàng nói với tôi:
− Từ nay con phải học các giờ của ta! Đúng. Phải học. Nhưng phải ngồi yên. Đúng. Ngồi yên.
[...]
Tôi biết đọc một cách có ý thức năm lên mười bốn tuổi. Trong những năm ấy, tôi đã không chỉ say mê tình tiết của sách − tức là sự phát triển ít nhiều lí thú của những biến cố được đưa ra − mà tôi đã bắt đầu hiểu được vẻ đẹp của những đoạn văn miêu tả, bắt đầu suy nghĩ về tính cách các nhân vật, lờ mờ đoán được mục đích của tác giả cuốn sách và lo ngại cảm thấy sự khác nhau giữa cái mà sách nói đến với cái mà cuộc sống khuyên bảo.
[...]
Phải thương hại con người thật là đau lòng, bao giờ tôi cũng muốn gửi gắm tình yêu sung sướng vào một người nào đó, nhưng chẳng có ai để mà yêu. Tôi càng yêu sách nồng nàn hơn.
Còn có nhiều cái bỉ ổi, tàn bạo, làm tôi chán ghét ghê gớm. Tôi sẽ không nói về điều đó, chính các bạn cũng biết cuộc sống địa ngục ấy, sự nhạo báng không ngớt ấy của người đối với người, niềm say mê bệnh tật ấy, niềm say mê làm khổ nhau, thứ khoái lạc của những kẻ nô lệ. Và chính trong hoàn cảnh đáng nguyền rủa như thế, lần đầu tiên tôi bắt đầu đọc sách hay, nghiêm túc của văn học nước ngoài.
Có lẽ tôi sẽ không truyền đạt đủ rõ và đáng tin cậy để các bạn thấy sự ngạc nhiên của tôi lớn lao như thế nào khi tôi cảm thấy hầu như mỗi cuốn sách đều mở ra trước mắt tôi cánh cửa sổ nhìn vào một thế giới mới chưa từng biết, đều kể với tôi về những con người, những tình cảm, ý nghĩ và những quan hệ mà tôi chưa từng biết, chưa từng thấy. Thậm chí, tôi còn có cảm giác rằng cuộc đời xung quanh tôi, tất cả những khắc nghiệt, bẩn thỉu và tàn bạo hằng ngày diễn ra trước mắt tôi đều không phải là cái có thực, đều là thừa. Cái có thực và cần thiết chỉ ở trong sách, ở đó mọi cái đều hợp lí hơn, đẹp hơn, nhân đạo hơn. Trong các cuốn sách cũng có nói về sự thô bạo, về sự ngu xuẩn của người đời, về những nỗi đau khổ của họ, cũng miêu tả những kẻ độc ác và đê tiện, nhưng bên cạnh có những người khác, những người mà tôi chưa từng thấy, thậm chí chưa từng nghe nói đến: những người chính trực, cương nghị, chân thật, lập nên chiến công đẹp đẽ, dù có phải hi sinh tính mạng.
Thời gian đầu, say sưa vì cái mới và vì giá trị tinh thần lớn lao của cái thế giới mà sách đã mở ra trước mắt tôi, tôi bắt đầu coi sách tốt đẹp hơn, lí thú hơn, gần gũi hơn với mọi người, và dường như hơi bị quáng loà, tôi nhìn cuộc đời thực qua sách. Nhưng cuộc sống khôn ngoan, khắc nghiệt đã quan tâm chữa cho tôi cái bệnh mù dễ chịu ấy.
[...]
Tôi càng đọc nhiều thì sách càng làm cho tôi gắn bó với thế giới, cuộc đời cũng đối với tôi càng trở nên rực rỡ có ý nghĩa. Tôi thấy rằng có những người sống khổ cực hơn, khó khăn hơn tôi, điều đó an ủi tôi phần nào, tuy vẫn không làm tôi thoả hiệp với cái hiện thực ô nhục. Tôi cũng thấy rằng có những người không biết sống một cách vui thú và sung sướng mà không một người nào xung quanh tôi biết sống như thế. Và hầu như trong mỗi quyển sách đều có cái gì đáng lo ngại, như một tiếng chuông nhè nhẹ lôi cuốn tôi đi, đi tìm cái chưa biết, cái làm tôi xúc động tâm tình. Mọi người đều không bằng lòng với cuộc sống, đều tìm kiếm một cái gì tốt đẹp hơn, và họ trở nên gần gũi hơn, dễ hiểu hơn. Sách làm cho khắp Trái Đất, khắp thế giới tràn ngập nỗi buồn nhớ cái tốt đẹp hơn, và mỗi cuốn sách dường như đều là tâm hồn được ghi lại trên giấy bằng những dấu hiệu và những từ, những dấu hiệu và những từ ấy lập tức trở nên sống động, hễ mắt tôi, trí tuệ tôi tiếp xúc với chúng.
Nhiều lần tôi khóc khi đọc sách, sách kể chuyện hay biết bao về con người, họ trở nên đáng yêu và gần gũi biết bao. Là một thằng bé bị công việc ngu độn làm cho kiệt sức, luôn luôn phải hứng lấy những lời chửi mắng đần độn, tôi trịnh trọng hứa với mình là lớn lên, tôi sẽ giúp đỡ mọi người, hết lòng phục vụ họ.
Như những con chim kì diệu trong truyện cổ tích, sách ca hát về việc cuộc sống đa dạng và phong phú như thế nào, con người táo bạo như thế nào trong khát vọng đạt tới cái thiện và cái đẹp. Và càng đọc, trong lòng tôi càng tràn đầy tinh thần lành mạnh và hăng hái. Tôi trở nên điềm tĩnh hơn, tin ở mình hơn, làm việc hợp lí hơn và ngày càng ít để ý đến vô số những chuyện bực bội trong cuộc sống.
Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ đưa tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con người, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống ấy. [...]
(In trong Tuyển tập truyện ngắn M. Go-rơ-ki, tập hai, NXB Đà Nẵng, 2001, tr. 346 − 363)
Xác định những đặc trưng nghệ thuật của văn bản "Tôi đã học tập như thế nào?". (Chọn 3 đáp án)
Bạn có thể đăng câu hỏi về bài học này ở đây