Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Tác gia Nguyễn Du (Phần 1) SVIP
I. TIỂU SỬ
1. Giai đoạn ấu thơ
– Nguyễn Du (1765 – 1820), tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh nhưng sinh ra ở Thăng Long.
– Dòng họ, gia đình Nguyễn Du vừa có truyền thống khoa bảng, đỗ đạt làm quan vừa có truyền thống văn hoá, văn học. Họ Nguyễn ở Tiên Điền là dòng họ có danh vọng lớn đương thời, nhiều người thành đạt trên con đường khoa bảng và công danh:
+ Cha Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm (1708 – 1775), đỗ tiến sĩ, làm quan to trong triều đình nhà Lê.
+ Mẹ ông tên là Trần Thị Tần, người Bắc Ninh, có tài hát xướng.
+ Anh cùng cha khác mẹ của ông là Nguyễn Khản, đỗ tiến sĩ, làm quan to trong phủ Chúa, giỏi văn chương Nôm và say mê sáng tác âm nhạc. Sau khi cha mẹ ông qua đời, Nguyễn Du đã được anh trai nuôi nấng.
Câu hỏi:
@206849627459@
2. Giai đoạn trưởng thành
– Thời đại của Nguyễn Du là thời đại có những biến cố lịch sử to lớn. Đây là giai đoạn sụp đổ của triều đình vua Lê – chúa Trịnh, là thời kì bão táp của phong trào nông dân khởi nghĩa mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn. Tuy nhiên, triều đại Tây Sơn quá ngắn ngủi, triều Nguyễn được vua Gia Long (Nguyễn Ánh) thiết lập và tiếp đến là công cuộc hưng thịnh trở lại của vương triều nhà Nguyễn.
– Nguyễn Du sớm phải trải qua những tháng ngày đau thương li tán. Từ cậu công tử đại quý tộc "màn lan trướng huệ" trở thành kẻ phiêu bạt trong cảnh "mười năm gió bụi"; khi là người ẩn cư tại quê nhà, lúc làm quan cho triều đình nhà Nguyễn, từng được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc.
Câu hỏi:
@206859584436@
– Triều Nguyễn, năm 1820, Gia Long qua đời, Minh Mạng nối ngôi, lại cử Nguyễn Du làm Chánh sứ nhưng chưa kịp khởi hành thì ông lâm bệnh nặng và qua đời.
II. SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC
1. Sáng tác chữ Hán
Câu hỏi:
@206860070276@
a. Thanh Hiên thi tập
– Gồm 78 bài thơ, các bài được chép không theo một thứ tự nào.
– Nhóm biên soạn do GS. Lê Thước và GS. Trương Chính chủ biên đã dựa vào đời sống và tâm sự của nhà thơ để sắp xếp, phân chia chúng thành ba giai đoạn:
+ Mười năm gió bụi (Từ năm 1786 đến khoảng cuối năm 1795 đầu năm 1796).
+ Dưới chân núi Hồng (Từ năm 1796 đến năm 1802).
+ Làm quan Bắc Hà (Từ năm 1802 đến năm 1804).
Câu hỏi:
@206860917586@
b. Nam trung tạp ngâm
– Gồm 40 bài thơ, mở đầu tập là bài Phượng hoàng lộ thượng tảo hành (Trên đường Phượng Hoàng) và cuối tập là bài Đại tác cửu tư quy (Làm thay người đi thú lâu năm mong về).
– Nội dung chính:
+ Thể hiện những suy tư, sầu muộn cá nhân của Nguyễn Du khi làm quan.
+ Phản ánh nỗi cô đơn, buồn chán và bất mãn của nhà thơ trước hiện thực xã hội rối ren, đen tối, thối nát.
+ Bộc lộ niềm thương xót sâu sắc với nhân dân nghèo khổ, sống lay lắt trong cảnh lầm than.
c. Bắc hành tạp lục
– Gồm 132 bài thơ, được sáng tác trong khoảng thời gian từ năm 1813 đến năm 1814.
– Nội dung chính:
+ Thể hiện niềm cảm thương sâu sắc và nỗi trăn trở, day dứt trước số phận con người, đặc biệt là những kiếp tài hoa bạc mệnh.
+ Hướng ngòi bút về những phận người nhỏ bé, khổ đau như mẹ con người ăn mày, người hát rong mù, dân đói nổi loạn,...
+ Thể hiện lòng trân trọng, ngưỡng mộ và cảm thương đối với các bậc tài hoa, chính trực như Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Nhạc Phi,...
Câu hỏi:
@206861740904@
Bạn có thể đăng câu hỏi về bài học này ở đây