Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề thi thử tốt nghiệp THPT năm 2026 (Sở GD và ĐT An Giang) SVIP
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
(1)... Thật ra, trưởng thành không phải là một thành tích có thể đạt được qua một đêm, mà là một quá trình diễn ra suốt cuộc đời. Chúng ta đạt đến sự trưởng thành ở từng khía cạnh khác nhau vào một thời điểm khác nhau trong cuộc sống. Có thể bạn trưởng thành trong chi tiêu ở tuổi lên mười, khi đã biết trân trọng từng đồng bạc mẹ cho. Có thể bạn trưởng thành trong ứng xử ở tuổi mười lăm, khi biết tôn trọng người đối diện. Nhưng có thể đến năm ba mươi tuổi, bạn vẫn chưa trưởng thành về tình cảm, nếu còn tin rằng tình yêu không thể chỉ được cảm nhận mà luôn cần phải được chứng minh. [...]
(2) Bạn có biết, cũng như tuổi già, trưởng thành là một quá trình không thể ngăn cản, trước hay sau, nhanh hay chậm chúng ta cũng buộc phải trưởng thành. Trưởng thành là kết quả của những biến cố, vấp ngã, va chạm, kiến thức và cảm nghiệm mà ta thu nhặt được trên đường đời. Nhưng cũng vì vậy mà sự trưởng thành có thể bị trì hoãn, cũng như có thể được thúc đẩy... một cách khách quan hay chủ quan. [...]
(3) Ở Mỹ, trẻ vị thành niên trên mười bốn tuổi có thể trình Thỉnh nguyện thư lên thẩm phán để xin hưởng quyền trưởng thành. Người hưởng quyền trưởng thành được hưởng một số quyền pháp lý của người lớn như ký hợp đồng, tự chọn nơi sinh sống, định đoạt tài sản riêng và tự ghi danh đi học...Tuy nhiên, người đó sẽ phải tự lo liệu tài chính cho bản thân, tự mua bảo hiểm y tế, nha khoa, xe cộ, tự trả các hóa đơn của mình. Một người bạn của tôi tâm sự rằng, khi cha anh mất vào năm anh mười ba tuổi, một phần con người anh đã chết theo ông, và phần còn lại trưởng thành gần như ngay lập tức khi anh phải đối diện và xử lý tất cả việc còn lại của gia đình, thay cha chăm sóc mẹ và hai cô em gái nhỏ. Không còn chọn lựa, vào năm mười ba tuổi, anh buộc phải trưởng thành. Bạn hỏi rằng làm sao để biết mình đã trưởng thành hay chưa ư? Tôi sẽ nói bạn nghe điều tôi nghĩ: Bạn trưởng thành khi bạn đủ mạnh mẽ để trở thành một điểm tựa, dù là điểm tựa của bất cứ ai, kể cả chính bản thân mình.
(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn, Phạm Lữ Ân, NXB Hội Nhà văn, 2018, tr 61 – 62)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định luận đề của văn bản trên.
Câu 2. (0,5 điểm) Nêu 02 quan niệm về sự trưởng thành được trình bày trong đoạn (1) và đoạn (2).
Câu 3. (1,0 điểm) Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ lặp cấu trúc trong các câu văn sau:
“Có thể bạn trưởng thành trong chi tiêu ở tuổi lên mười, khi đã biết trân trọng từng đồng bạc mẹ cho. Có thể bạn trưởng thành trong ứng xử ở tuổi mười lăm, khi biết tôn trọng người đối diện. Nhưng có thể đến năm ba mươi tuổi, bạn vẫn chưa trưởng thành về tình cảm, nếu còn tin rằng tình yêu không thể chỉ được cảm nhận mà luôn cần phải được chứng minh”.
Câu 4. (1,0 điểm) Phân tích hiệu quả của việc sử dụng bằng chứng ở những câu in đậm trong đoạn văn (3).
Câu 5. (1,0 điểm) Trong hành trình trưởng thành, người trẻ cần làm gì để trở thành điểm tựa của chính mình? (Viết trong khoảng 5 – 7 dòng).
Hướng dẫn giải:
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1. (0,5 điểm)
Luận đề của văn bản: sự trưởng thành/ bản chất và quy luật của sự trưởng thành.
Câu 2. (0,5 điểm)
Nêu 02 quan niệm về sự trưởng thành được trình bày trong đoạn (1) và đoạn (2).
Trình bày 02 trong 03 quan niệm được trích dẫn bên dưới:
– Trưởng thành là một quá trình diễn ra suốt cuộc đời.
– Chúng ta đạt đến sự trưởng thành ở từng khía cạnh khác nhau vào một thời điểm khác nhau trong cuộc sống.
– Trưởng thành là kết quả của những biến cố, vấp ngã, va chạm, kiến thức và cảm nghiệm mà ta thu nhặt được trên đường đời.
Câu 3. (1,0 điểm) Hiệu quả của biện pháp lặp cấu trúc trong các câu văn đã dẫn.
– Biện pháp lặp cấu trúc: lặp lại cấu trúc “có thể...”.
– Tác dụng:
+ Tạo nhịp điệu, tăng sự liên kết giữa các câu văn, tăng sức thuyết phục, khiến cho lập luận chặt chẽ.
+ Nhấn mạnh những khía cạnh khác nhau ở những thời điểm khác nhau của sự trưởng thành; góp phần làm sáng tỏ vấn đề: trưởng thành là một quá trình diễn ra trong suốt cuộc đời con người.
+ Nhắc nhở mỗi cá nhân luôn nỗ lực hoàn thiện bản thân để thực sự trưởng thành trong suốt cuộc đời.
Câu 4. (1,0 điểm) Phân tích hiệu quả của việc sử dụng bằng chứng.
– Nêu/ tóm lược bằng chứng:
+ Bằng chứng 1: Trẻ vị thành niên trên 14 tuổi ở Mĩ có thể đệ trình nguyện thư xin hưởng quyền trưởng thành. Quyền này đi kèm nghĩa vụ/ trách nhiệm đối với chính mình.
+ Bằng chứng 2: câu chuyện gia đình người bạn của tác giả. Người này từ năm 13 tuổi buộc phải trưởng thành do biến cố cha qua đời, anh trở thành chỗ dựa cho những người ở lại.
– Hiệu quả:
+ Tạo sự sinh động cho diễn đạt, tăng sức thuyết phục cho lập luận
+ Làm nổi bật ý lẽ: bạn chỉ thực sự trưởng thành khi đủ mạnh mẽ làm điểm tựa cho bất cứ ai, kể cả cho chính mình. Từ đó, khơi gợi con đường/ cách thức về lối sống trách nhiệm với bản thân và người khác để mỗi cá nhân thực sự trưởng thành.
Câu 5. (1,0 điểm) Trong hành trình trưởng thành, người trẻ cần làm gì để trở thành điểm tựa của chính mình?
– Nhận thức sâu sắc về tính tất yếu và tầm quan trọng trước nhất của việc trở thành điểm tựa của chính mình. Trưởng thành không phải là một cột mốc tuổi tác hay một tấm bằng, mà là trách nhiệm, trước nhất với chính mình.
– Nghiêm túc và kiên định thực hiện lối sống trách nhiệm với chính mình, vượt thoát khỏi vùng ảnh hưởng/ kiềm toả có tính phụ thuộc từ người khác.
– Nỗ lực học tập để phát triển bản thân; rèn luyện kĩ năng và kỉ luật như: quản trị sức khoẻ, tài chính, học tập, mối quan hệ, cuộc sống; xây dựng kỉ luật tự thân; cách tự giải quyết vấn đề; cách tạo lập con đường/ giá trị riêng.
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Trưởng thành là kết quả của những biến cố, vấp ngã, va chạm, kiến thức và cảm nghiệm mà ta thu nhặt được trên đường đời. Từ nội dung trên, anh/ chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về mối quan hệ giữa trải nghiệm và sự trưởng thành.
Câu 2. (4,0 điểm) Viết bài nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá tình cảm của nhân vật trữ tình trong hai đoạn trích dưới đây:
Mẹ
(Bằng Việt)
Con bị thương, nằm lại một mùa mưa
Nhớ dáng mẹ ân cần mà lặng lẽ
Nhà yên ắng, tiếng chân đi rất nhẹ,
Gió từng hồi trên mái lá ùa qua.
[...]
Con xót lòng, mẹ hái trái bưởi đào
Con nhạt miệng, có canh tôm nấu khế
Khoai nướng, ngô bung, ngọt lòng đến thế
Mỗi ban mai tỏa khói ấm trong nhà.
Ba con đầu đi chiến đấu nơi xa
Tình máu mủ mẹ dồn con hết cả,
Con nói mơ những núi rừng xa lạ
Tỉnh ra rồi, có mẹ, hóa thành quê!
(Trích Mẹ, Bằng Việt, in trong Tác phẩm chọn lọc, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2010)
Khói bếp chiều ba mươi
(Nguyễn Trọng Hoàn)
Con đi xa vẫn nhớ nao lòng
khói bếp nồng thơm mái rạ
Chiều ba mươi quây quần bên bếp lửa
nồi bánh chưng nghi ngút trước giao thừa
Ba mươi này mẹ gói bánh chưng chưa
mâm cỗ tất niên hương tỏa ấm
Ba mươi này... mẹ ra vào trông ngóng
khói bếp xanh quấn quyện trước hiên nhà
Ba mươi này... mẹ biết đứa con xa
lòng canh cánh nhớ quê biết mấy
Khói bếp của chiều xưa thức dậy
thuở ấu thơ vĩnh viễn đã qua rồi!...
(Tạp chí Văn học tuổi trẻ, NXBGD, số 12, 2019, tr 35)
Chú thích:
1. Tác giả Bằng Việt tên khai sinh Nguyễn Việt Bằng, sinh năm 1941, quê ở Thạch Thất (nay thuộc Hà Nội). Ông làm thơ từ đầu những năm 60 của thế kỉ XX và thuộc thế hệ những nhà thơ trẻ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Thơ Bằng Việt trong trẻo, mượt mà, tràn đầy cảm xúc. Bài thơ Mẹ được nhà thơ sáng tác vào năm 1972, thời điểm ông tham gia công tác ở chiến trường Bình Trị Thiên với tư cách là một phóng viên chiến trường.
2. Tác giả Nguyễn Trọng Hoàn (1963 – 2020) là tiến sĩ Ngữ văn, nhà giáo và nhà thơ nổi tiếng với giọng thơ trữ tình, trong sáng và giàu suy tư. Ông từng công tác tại Bộ Giáo dục và Đào tạo, là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, nổi tiếng với bài thơ "Tạm biệt búp bê" và nhiều tập thơ đặc sắc khác.
Hướng dẫn giải:
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
a. Yêu cầu chung: (0,5 điểm) xác định đúng vấn đề nghị luận; đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn.
– Vấn đề nghị luận: mối quan hệ giữa trải nghiệm và trưởng thành.
– Hình thức: có thể trình bày đoạn văn theo lối diễn dịch, quy nạp, tổng hợp, song song,…
– Dung lượng: khoảng 200 chữ.
b. Yêu cầu cụ thể: (1,5 điểm) thí sinh triển khai đoạn văn theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận; sau đây là gợi ý về cách triển khai và một số nội dung cụ thể:
b1. Hiểu đúng vấn đề nghị luận
– Giải thích: trải nghiệm là tự mình trải qua để có được bài học/ kinh nghiệm; trưởng thành là sự lớn lên về cả thể chất cũng như tâm hồn, trí tuệ, lối sống ở mỗi người.
– Mối quan hệ giữa trải nghiệm và sự trưởng thành là mối quan hệ qua lại, ảnh hưởng chi phối lẫn nhau, có tính cộng hưởng.
b2. Mối quan hệ giữa trải nghiệm và sự trưởng thành
– Trải nghiệm giúp mỗi người: tích lũy vốn sống, nâng cao sự hiểu biết; đúc rút nhiều bài học cảm nghiệm, kinh nghiệm; rèn luyện năng lực thực tiễn,... tạo tiền đề cho sự trưởng thành.
– Sự trưởng thành giúp mỗi người biết chọn lọc trải nghiệm; có phương pháp trải nghiệm phù hợp; biết chuyển hóa trải nghiệm thành giá trị, từ đó có được những trải nghiệm ý nghĩa, tích cực góp phần phát triển bản thân.
b3. Sáng tạo
– Có những ý tưởng riêng của bản thân và được thể hiện một cách thuyết phục.
– Có cách diễn đạt trong sáng, chuẩn mực, tinh tế.
Câu 2. (4,0 điểm)
a. Yêu cầu chung: (1,0 điểm) xác định đúng vấn đề nghị luận; đảm bảo yêu cầu về dung lượng và bố cục bài văn nghị luận.
– Xác định đúng vấn đề nghị luận: so sánh, đánh giá tình cảm của nhân vật trữ tình trong hai đoạn thơ trích từ bài thơ Mẹ (Bằng Việt) và Khói bếp chiều ba mươi (Nguyễn Trọng Hoàn).
– Dung lượng: khoảng 600 chữ.
– Lí lẽ, bằng chứng: trong hai đoạn trích.
Hướng dẫn chấm:
– Xác định đúng và tập trung làm rõ vấn đề nghị luận: 0,5 điểm.
– Đảm bảo yêu cầu về dung lượng: 0,25 điểm.
– Đảm bảo yêu cầu về lí lẽ, bằng chứng: 0,25 điểm.
b. Yêu cầu cụ thể: (3,0 điểm) thí sinh triển khai bài viết theo trình tự hợp lí, đảm bảo kĩ năng của bài văn nghị luận. Sau đây là gợi ý về cách triển khai và một số nội dung cụ thể:
b1. Viết được mở bài và kết bài cho bài văn nghị luận văn học
– Mở bài: giới thiệu được vấn đề nghị luận.
– Kết bài: khẳng định được vấn đề nghị luận.
b2. Giới thiệu khái quát tình cảm của nhân vật trữ tình trong hai đoạn trích
Giới thiệu tình cảm của hai nhân vật trữ tình trong hai đoạn trích: tình cảm của những người con hướng về mẹ khi xa mẹ, khi đã có sự trưởng thành nhất định trong cuộc đời; tình cảm có chiều sâu của nghĩ suy và trách nhiệm.
b3. So sánh tình cảm của nhân vật trữ tình trong hai đoạn trích
– Điểm tương đồng:
+ Cả hai nhân vật trữ tình đều hướng về người mẹ của mình với tình yêu thương tha thiết, sâu nặng (biểu hiện qua nỗi nhớ nhung da diết Nhớ dáng mẹ ân cần mà lặng lẽ, nhớ nao lòng; qua mong muốn được trở về bên mẹ kính yêu); tình yêu thương mẹ hòa quyện trong tình yêu quê hương, thấm sâu vào ký ức, mãi trong tâm thức những người con Tỉnh ra rồi, có mẹ, hoá thành quê/ Ba mươi này mẹ biết đứa con xa/ Lòng canh cánh nhớ quê biết mấy.
+ Tình cảm của hai nhân vật trữ tình đều thể hiện đạo lý truyền thống uống nước nhớ nguồn, biết ơn đấng sinh thành, thấm thía ân nghĩa nguồn cội.
+ Tình cảm thiêng liêng được thể hiện bằng ngôn ngữ giản dị mà gợi cảm, giọng thơ tha thiết, nhịp thơ chậm rãi tựa lời thủ thỉ tâm tình của những người con xa quê, xa mẹ.
– Điểm khác biệt:
+ Mẹ (Bằng Việt): Nhân vật trữ tình người con là thương binh nằm lại chiến trường, tình cảm nổi bật là biết ơn và khao khát muốn trở về bên mẹ. Khói bếp chiều ba mươi (Nguyễn Trọng Hoàn): Nhân vật là người con đang ở xa nhà, cảm xúc chủ đạo là nỗi nhớ quê hương, lòng mong muốn trở về gặp mẹ vào dịp Tết Nguyên đán.
+ Mẹ (Bằng Việt): Tình cảm của người con thể hiện tập trung qua hình ảnh người mẹ trong ký ức, gợi cảm giác ấm cúng, yên bình của ngôi nhà có mẹ. Thể thơ tâm tình; giọng điệu trữ tình, tha thiết. Khói bếp chiều ba mươi (Nguyễn Trọng Hoàn): Tình cảm của người con thể hiện nổi bật qua hình ảnh khói bếp chiều ba mươi, vừa cụ thể vừa mang tính biểu tượng, gợi cảm giác thân thuộc về quê hương, về đoàn viên gia đình, về người mẹ thân thương luôn chi chút cho những chiều ba mươi ấm nồng hương vị tinh thần. Thể thơ tự do, giọng điệu buồn man mác.
– Lý giải nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt:
+ Nguyên nhân của sự tương đồng: sự gặp gỡ về đề tài, cảm hứng: đề tài gia đình, tình cảm yêu thương, biết ơn dành cho người mẹ; sự chi phối của thể loại: thể loại thơ trữ tình: tình cảm bộc lộ trực tiếp.
+ Nguyên nhân của sự khác biệt: lựa chọn bối cảnh trữ tình: Bằng Việt viết về mẹ trong tâm thức của người lính ở chiến trường, trong những năm tháng chiến tranh; Nguyễn Trọng Hoàn viết trong tâm tư của người con lập nghiệp nơi xa, mong ngày đoàn viên gia đình; phong cách sáng tác: lối viết của Bằng Việt trong trẻo, mượt mà, giàu cảm xúc; lối viết của Nguyễn Trọng Hoàn hiện đại, giàu ẩn ý, suy tư.
b4. Đánh giá mở rộng vấn đề nghị luận
– Trong đoạn trích Mẹ (Bằng Việt): Tình cảm của người con khẳng định ý nghĩa quan trọng của tình mẫu tử thiêng liêng, sự hi sinh vô bờ bến của người mẹ. Từ đó cho thấy sự hi sinh cao cả của thế hệ cha anh trong cuộc chiến tranh vệ quốc. Đoạn trích Khói bếp chiều ba mươi (Nguyễn Trọng Hoàn): Tình cảm của người con đánh thức tình yêu quê hương, tình cảm gia đình, nhất là tình mẹ con trong mỗi chúng ta.
– Cả hai đoạn trích đều mang đến những cảm xúc sâu sắc về tình mẹ thiêng liêng, tình yêu quê hương, tình cảm gia đình và góp phần khơi gợi những ký ức đẹp đẽ về tuổi thơ và sự ấm áp của ngôi nhà quê hương. Đó là điểm tựa vững chắc cho mỗi người con trong suốt chặng đường đời.
b5. Sáng tạo
– Có những ý tưởng riêng, có tính thuyết phục
– Có cách diễn đạt trong sáng, chuẩn mực, tinh tế.